1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1

102 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Tác giả Ngô Anh Tuấn
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Bá Dương
Trường học Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 857,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với các doanh nghiệp góp phần nâ

Trang 1

Ngô Anh Tuấn

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN KẾT VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ CÔNG TRÌNH 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Thái Nguyên - năm 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Ngô Anh Tuấn

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN KẾT VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ CÔNG TRÌNH 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 4

MỞ ĐẦU 5

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 5

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6

3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ ĐIỀU TRA 6

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 7

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 7

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7

7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 9

CHƯƠNG1-CƠSỞLÝLUẬNCỦAVẤNĐỀQUẢNLÝĐÀOTẠOLIÊNKẾT GIỮANHÀTRƯỜNGVỚIDOANHNGHIỆP 10

1.1 Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

1.1.1 Khái quát một số nghiên cứu ở nước ngoài 10

1.1.2 Ở Việt Nam 12

1.2 Một số khái niệm cơ bản 13

1.2.1 Khái niệm quản lý 13

1.2.2 Khái niệm đào tạo nghề 16

1.2.3 Khái niệm về nhà trường và doanh nghiệp 22

1.3 Liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp 23

1.3.1 Vai trò của liên kết đào tạo 23

1.3.2 Nội dung của liên kết đào tạo nghề 28

1.3.3 Các loại hình liên kết giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề 29

1.4 Quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp 37

1.4.1 Quản lý đào tạo và những đặc trưng của nó 37

1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo liên kết 39

1.4.3 Biện pháp quản lý đào tạo liên kết 41

CHƯƠNG2-THỰCTRẠNGQUẢNLÝĐÀOTẠOLIÊNKẾTGIỮATRƯỜNG TRUNGCẤPNGHỀCÔNGTRÌNH1VỚICÁCDOANHNGHIỆP 43

2.1 Trường Trung cấp nghề Công trình 1 và quá trình thực hiện liên kết đào tạo với các doanh nghiệp 43

2.1.1 Khái quát về trường Trung cấp nghề Công trình 1 43

2.1.2 Quá trình thực hiện đào tạo liên kết với các doanh nghiệp: 45

2.2 Thực trạng đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với các doanh nghiệp trong những năm qua 46

Trang 4

2.2.1 Tiến hành khảo sát 46

2.2.2 Kết quả khảo sát 47

2.3 Đánh giá, phân tích nguyên nhân của kết quả đạt được và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế về quản lý đào tạo liên kết 60

CHƯƠNG3- BIỆNPHÁPQUẢNLÝĐÀOTẠOLIÊNKẾTGIỮATRƯỜNG TRUNGCẤPNGHỀCÔNGTRÌNH1VỚICÁCDOANHNGHIỆP 64

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 64

3.2 Các biện pháp quản lý đào tạo liên kết 65

3.2.1 Biện pháp khai thác và xử lý thông tin nhằm tăng cường đào tạo liên kết với doanh nghiệp 65

3.2.2 Biện pháp quản lý các phương thức, hình thức đào tạo liên kết 66

3.2.3 Biện pháp quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp 68

3.2.4 Biện pháp quản lý bồi dưỡng nâng cao kỹ năng sư phạm cho cán bộ giáo viên phù hợp với thực tiễn sản xuất của các doanh nghiệp 70

3.2.5 Biện pháp quản lý đầu tư bổ sung cơ sở vật chất trang thiết bị đào tạo phù hợp với thực tiễn sản xuất ở các doanh nghiệp 71

3.2.6 Biện pháp quản lý liên kết với trung tâm giới thiệu việc làm 73

3.2.7 Xây dựng quy chế nội bộ về đào tạo liên kết với các doanh nghiệp; đề xuất khuyến nghị với cơ quan quản lý cấp trên để được tạo cơ chế liên kết thuận lợi 74

3.2.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp 76

3.3 Khảo nghiệm về tính khả thi, hiệu quả của các biện pháp 77

3.3.1 Khách thể khảo nghiệm: 77

3.3.2 Kết quả thăm dò ý kiến về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp quản lý 78

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80

1 KẾT LUẬN 80

2 KHUYẾN NGHỊ 82

2.1 Về vấn đề mất cân đối trong mạng lưới đào tạo nghề 82

2.2 Về vấn đề xây dựng chương trình đào tạo 82

2.3 Về vấn đề đào tạo giáo viên dạy nghề 82

2.4 Về vấn đề quản lý 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 5

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Stt Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường trường ĐHSP Thái Nguyên, của các cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, của các phòng ban chức năng trường ĐHSP Thái Nguyên, quí thầy cô trường ĐHSP Thái Nguyên, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Bá Dương đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin cảm ơn quí anh, chị và ban lãnh đạo sở Lao động Thương binh Xã hội

Hà Nội, Tổng Công ty Xây dựng công trình Giao thông 1 (CIENCO1) – Bộ Giao thông vận tải, các công ty thành viên của CIENCO1, Trường Trung cấp nghề Công trình 1… đã tạo điều kiện cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệu quý báu viết luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, Kính mong các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp chỉ dẫn

và góp ý

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2011

Tác giả luận văn

Ngô Anh Tuấn

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Để nước ta nhanh chóng hội nhập với thế giới, chúng ta phải có nguồn nhân lực có chất lượng cao, đủ sức đương đầu với cạnh tranh và hội nhập Giáo dục đào tạo có vai trò then chốt trong đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người Nhận thức được vấn đề đó, vài thập kỷ trở lại đây, chúng ta đã chú trọng xây dựng, phát triển mạnh hệ thống các nhà trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề với mục đích tăng cường nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nâng cao khả năng cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, từng bước đạt chuẩn khu vực và quốc tế

Mỗi năm, hệ thống cơ sở dạy nghề trong cả nước đã đào tạo ra trên dưới một triệu lao động có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Căn cứ "kế hoạch tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2008 - 2020" thì tổng số tuyển sinh của cao đẳng, trung cấp nghề và dạy nghề dưới 1 năm như sau: năm 2008 là 1.482.000, năm 2009 là 1.700.000, năm 2010 là 2.000.000, năm 2015 là 2.430.000, năm 2020 là 2.550.000

Về mặt số lượng tuy khá dồi dào, nhưng năng lực của người lao động sau đào tạo không phải lúc nào cũng đáp ứng, đặc biệt nguồn nhân lực có trình độ cao đang ở trong tình trạng cung thấp xa so với cầu Qua tìm hiểu bước đầu, có không ít người lao động sau khi tốt nghiệp chưa thích ứng ngay được với sản xuất, phải đào tạo lại

Hệ quả là lãng phí nguồn ngân sách đào tạo của nhà nước; cơ hội tìm kiếm được việc làm phù hợp với trình độ đã được đào tạo của người lao động thấp; nhiều doanh nghiệp để có nguồn nhân lực theo mong muốn, sau khi tuyển lao động phải

tổ chức đào tạo lại

Kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, kết luận của Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương khóa IX đã chỉ rõ: "Các bất hợp lý trong cơ cấu đào tạo chưa được khắc phục, chưa sát nhu cầu sử dụng và mục tiêu đào tạo, chất lượng và hiệu quả đào tạo thấp Phát triển giáo dục chưa gắn chặt với

Trang 8

quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương" Một trong những nguyên nhân của yếu kém này là: "Việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường với gia đình, xã hội với lao động sản xuất, đời sống, học đi đôi với hành còn rất hạn chế Nội dung giảng dạy còn quá cũ về mặt lý thuyết"

Trường trung cấp nghề Công trình 1 được thành lập theo Quyết định số: 2059/QĐ-BGTVT ngày 03/07/2007 của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải trên cơ

sở trường Kỹ thuật nghiệp vụ công trình giao thông (thành lập từ năm 1971) Qua gần 4 thập kỷ xây dựng và phát triển, Trường đã đào tạo gần 20.000 công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật cung cấp cho ngành giao thông vận tải và toàn xã hội Với thành tích đã đạt được, nhà trường đã được Nhà nước và các cấp, ngành khen tặng nhiều phần thưởng cao quý

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác đào tạo nghề của nhà trường cũng còn nhiều khó khăn bất cập thể hiện ở một số nét chính: Chất lượng kỹ năng tay nghề của học sinh chưa cao do chưa có điều kiện thực tập với thiết bị tiên tiến; chương trình đào tạo của nhà trường, trình độ giáo viên chưa cập nhật kịp với công nghệ sản xuất mới; những năm gần đây trường gặp khó khăn về công tác tuyển sinh, đầu ra cho học sinh chưa ổn định Đó cũng là thực trạng khó khăn chung của hầu hết các trường dạy nghề trong cả nước

Để khắc phục tình trạng trên, những năm gần đây nhà trường đã có sự liên kết đào tạo với một số doanh nghiệp trong nước Bên cạnh những kết quả đạt được,

trong quá trình đào tạo liên kết nảy sinh nhiều vấn đề trong đó nổi bật là vấn đề quản lý đào tạo liên kết Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đã

chọn vấn đề: “Biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường Trung cấp nghề Công trình 1” làm đề tài nghiên cứu

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với các doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường

3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU, KHÁCH THỂ ĐIỀU TRA

Trang 9

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp trong đào tạo của trường Trung cấp nghề Công trình 1

3.2 Khách thể nghiên cứu: Quá trình quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với các doanh nghiệp trong đào tạo nghề

3.3 Khách thể điều tra: Bao gồm 60 người, trong đó cán bộ quản lý nhà trường, cán bộ quản lý đào tạo 10 người; cán bộ chuyên môn và giáo viên là 40 người; các giám đốc, phó giám đốc, trưởng phòng tổ chức của các doanh nghiệp với

số lượng khách thể là 10 người

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với các doanh nghiệp trong những năm qua có những hạn chế nhất định: nội dung và hình thức liên kết còn nghèo nàn, mức độ liên kết chưa cao, công tác đào tạo nghề chưa thực

sự gắn với cơ sở sản xuất, đào tạo chưa gắn với sử dụng, v.v Nếu nghiên cứu, đề xuất được các biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với các doanh nghiệp hợp lý sẽ khắc phục được những hạn chế nêu trên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, đào tạo nghề, liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, biện pháp quản lý nhằm tăng cường đào tạo liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp

5.2 Khảo sát thực trạng đào tạo liên kết giữa trường trung cấp nghề Công trình

1 với các doanh nghiệp, một số hoạt động quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, đồng thời phát hiện các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này 5.3 Đề xuất biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với doanh nghiệp

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Trong điều kiện cho phép, luận văn chỉ tìm hiểu thực trạng đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với một số doanh nghiệp; các yếu tố hưởng đến quá trình đào tạo liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp; một số hoạt

Trang 10

động quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong một số năm gần đây

Đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề

7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu:

7.1.1 Quan điểm tiếp cận thị trường: Chất lượng đào tạo phải đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất, đào tạo nhân lực phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động, của doanh nghiệp

7.1.2 Quan điểm hệ thống - cấu trúc và quan điểm lịch sử - thực tiễn được vận dụng trong việc xác định một số biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp

7.2 Các phương pháp cụ thể:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Nghiên cứu (phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa), các văn bản, tài liệu thể hiện quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, những tác phẩm kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề, liên kết đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp ở trong và ngoài nước để hình thành cơ sở lý luận của đề tài

7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.2.2.1 Phương pháp quan sát:

Tiếp cận, quan sát tổng thể, theo dõi những mặt biểu hiện trong quá trình đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với doanh nghiệp; phát hiện yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo liên kết đó

7.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:

Tìm hiểu thực trạng về đào tạo kết giữa trường Trung cấp nghề Công trình 1 với các doanh nghiệp và các yếu tố có liên quan; thu thập thông tin về tính khả thi của các biện pháp được đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề 7.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu và sản phẩm hoạt động: Thông qua

Trang 11

các tài liệu lưu trữ của nhà trường, hiểu quá trình tổ chức đào tạo liên kết giữa nhà trường và các doanh nghiệp nhằm tổng kết kinh nghiệm để rút ra các nhận định khoa học

7.2.2.4 Phương pháp đàm thoại: Tiến hành trò chuyện, trao đổi trực tiếp với một số khách thể có uy tín và kinh nghiệm trong công tác quản lý nhằm thu thập thêm thông tin cho việc nghiên cứu

7.2.2.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến của chuyên gia về công tác quản lý đào tạo nói chung và các biện pháp quản lý đào tạo nghề nói riêng 7.2.2.6 Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích các số liệu, kết quả điều tra, đồng thời để xác định mức độ tin cậy của việc điều tra và kết quả nghiên cứu

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, kết quả nghiên cứu được trình bày trong 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận của việc quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường và

doanh nghiệp

Chương II: Thực trạng quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề

Công trình 1 với các doanh nghiệp

Chương III: Biện pháp quản lý đào tạo liên kết giữa trường Trung cấp nghề

Công trình 1 với các doanh nghiệp

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN KẾT

GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Khái quát một số nghiên cứu ở nước ngoài

Liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp từ lâu đã được nhiều nước quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động

Vào giữa thế kỷ XIX (1894) do sự phát triển của công nghiệp, ở Pháp xuất hiện nhiều cuốn sách viết về sự phát triển đa dạng của nghề nghiệp Người ta đã ý thức được rằng hệ thống nghề trong xã hội rất đa dạng và phức tạp, sự chuyên môn hóa được chú trọng Do vậy, nội dung các cuốn sách khẳng định tính cấp thiết phải hướng nghiệp, trang bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất, có nghề nghiệp phù hợp với năng lực của mình và phù hợp với yêu cầu của xã hội

Các nước phát triển trên thế giới từ lâu đã chú trọng công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi còn học phổ thông Ở Nhật,

Mỹ, Đức người ta xây dựng các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có sự định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm Giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chủ ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh

kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội

Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại học Cambridge với 700 năm lịch sử đã thử thử nghiệm mô hình "Công ty đại học" Ngày nay, xu thế các trường đại học liên kết với các xí nghiệp trong đào tạo ngày càng nhiều, nhất là ở

Mỹ và một số nước Châu Âu "Công ty đại học" đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp Các "Công ty đại học" này có một số đặc điểm sau:

1 Dùng phương thức thị trường để thu hút sinh viên, mời các học giả nổi tiếng

Trang 13

đến giảng dạy

2 Việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học trực tiếp hướng về sản xuất, về quản lý kinh doanh, có thể làm gia tăng thu nhập tài chính và nhân đó không ngừng cải thiện điều kiện xây dựng trường, nâng cao địa vị của trường

3 Mối quan hệ giữa nhà trường với DN ngày càng mật thiết, trường học và xí nghiệp tương hỗ, tương lợi, bình đẳng về lợi ích trên phương tiện dịch vụ kỹ thuật,

do vậy mà tăng cường liên kết giữa các bên

Do những ưu điểm như vậy mà các "Công ty đại học" mọc lên như nấm, từ nước Mỹ đến Châu Âu, rồi đến toàn thế giới "Công ty đại học" với những hình thức khác nhau và sự ra đời của xí nghiệp hóa trường học, báo trước sự phát triển quan trọng của sự phát triển giáo dục

Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO khi phân tích "những trụ cột của giáo dục" đã viết: "Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại" Theo ông, vấn đề học nghề của học sinh là không thể thiếu được trong những trụ cột của giáo dục, đồng thời đã tổ chức các hội thảo, nghiên cứu về vấn đề "gắn đào tạo với sử dụng" trong đào tạo nghề Ở Nhật và Mỹ, nhiều nhà trường được thành lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực cho chính công ty đó và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng Mô hình này có ưu điểm là chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt và có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp

"Ba trong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề ở Inđônêxia từ năm 1993 đã được nghiên cứu và phát triển mạnh Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường với DN được quan tâm đặc biệt

Năm 1999, ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thống liên

Trang 14

kết đào tạo nghề" (Cosperative training system) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai

Trong xu thế toàn cầu và hội nhập hiện nay, việc tổng kết kinh nghiệm quản lý đào tạo nghề của các nước trên thế giới nhằm vận dụng vào thực tiễn đào tạo nghề ở Việt Nam là thực sự cần thiết và cấp bách nhằm đào tạo nguồn nhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và liên kết

Đảng và Nhà nước ta từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới càng quan tâm tạo điều kiện để cho nhà trường liên kết đào tạo với DN nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự liên kết này được thuận lợi Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trung cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm 2007 v.v… Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ liên kết giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này Năm

1993, PGS - TS Trần Khánh Đức có đề tài cấp bộ "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp" Đề tài tập trung nghiên cứu các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất trong lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ với luận văn tốt nghiệp: "Cơ sở lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và cơ sở sản xuất" Năm 2004, trường Trung học kỹ

Trang 15

thuật xây dựng Hà Nội có đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng" có nêu ra các giải pháp thiết lập quan hệ giữa nhà trường và DN Năm 2005 Hoàng Ngọc Trí với luận án tiến sĩ "Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật xây dựng ở thủ đô Hà Nội" có đề cập đến mối quan hệ giữa các nhà trường và đơn vị sản xuất Năm 2006, Nguyễn Văn Tuấn với luận văn thạc sĩ "Một số biện pháp tăng cường quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học Công nghiệp Hà Nội" có đi sâu phân tích mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề; những nhân tố tác động đến quản lý quá trình đào tạo nghề Năm 2007, Nguyễn Anh Tuấn có luận văn tốt nghiệp "Hoàn thiện và đổi mới các biện pháp quản lý đào tạo nghề của trường trung học công nghiệp quốc phòng trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007 đến năm 2015)" đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo nghề theo quan điểm hệ thống: Quản lý mục tiêu, quản lý nội dung, quản lý phương pháp đào tạo nghề, quản lý kết quả và chất lượng đào tạo nghề

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động (HĐ) đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn Sự phân công, liên kết trong lao động giúp đạt năng suất cao trong công việc, điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra tức là phải có người đứng đầu HĐ quản lý được nảy sinh từ nhu cầu đó Theo C.Mác, quản lý (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua

HĐ của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người) Ông coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội, theo ông: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những HĐ cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát

Trang 16

sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng"

Như vậy, HĐ quản lý là tất yếu tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, mọi xã hội Khái niệm quản lý đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau:

Theo Harol Koontz: Quản lý là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của các

cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức

Theo F.W.Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

Theo Thomas.J.Robbins - Wayned Morrison: Quản lý là một nghề nhưng cũng là một nghệ thuật, một khoa học

Theo Aunapu F.F: Quản lý là khoa học và là một nghệ thuật tác động vào một

hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục tiêu xác định Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao gồm nhiều thành phần có tác động qua lại lẫn nhau

Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:

Theo từ điển Tiếng Việt: Quản lý là tổ chức và điều hành các HĐ theo những yêu cầu nhất định

Theo GS Mai Hữu Khuê: Quản lý là tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện chuyển biến của môi trường

Theo tác giả Nguyễn Văn Bình: Quản lý là một nghệ thuật đạt được những mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác

Trang 17

Có thể nhận thấy những khái niệm nêu trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác, dù tiếp cận ở góc độ nào, lĩnh vực nào đi chăng nữa; ở cấp vĩ mô hay vi mô đều có điểm chung thống nhất là coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý; giữa chúng có mối quan hệ với nhau thông qua những tác động quản lý Do vậy, chúng tôi có thể biểu thị sơ đồ khái niệm quản lý như sau:

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về khái niệm quản lý

Qua sơ đồ khái niệm quản lý, tiếp cận theo quan điểm hệ thống thì "quản lý" là một quá trình bao gồm các thành tố cấu trúc như: chủ thể quản lý, đối trượng quản

lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý v.v Nếu tiếp cận theo quan điểm HĐ thì

"quản lý" là HĐ có ý thức của chủ thể quản lý

Từ việc phân tích các khái niệm và quan điểm tiếp cận khác nhau về quản lý,

chúng tôi hiểu: Quản lý là HĐ có ý thức của chủ thể quản lý nhằm điều khiển tác động lên đối tượng, khách thể quản lý để đạt được mục tiêu của quản lý

Toàn bộ HĐ quản lý đều được thực hiện thông qua các chức năng của nó, như chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá Nếu không xác định được chức năng quản lý thì chủ thể quản lý không thể điều hành được hệ thống quản lý

Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Trải qua tiến trình lịch sử phát

Trang 18

triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, trình độ sản xuất, tổ chức điều hành xã hội cũng phát triển theo, đó là tất yếu lịch sử Ngược lại khi trình độ tổ chức điều hành xã hội phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của trình độ sản xuất, của nền văn minh xã hội Như vậy, quản lý trở thành nhân tố của sự phát triển xã hội Quản lý trở thành một HĐ phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến con người Quản lý có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội tùy theo trình độ quản lý cao hay thấp

1.2.2 Khái niệm đào tạo nghề

1.2.2.1 Khái niệm nghề

Nghề là một loại hình HĐ mang tính chất riêng, đặc thù của con người, nó được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người Đó là một dạng lao động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính cá nhân, trong đó con người với

tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi thỏa mãn những yêu cầu nhất định của xã hội, của cá nhân

Theo tiếng La tinh "Professio" - nghề có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào

đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại

Theo E.A Climôv thì: "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công xã hội mà có) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển"

Theo từ điển Tiếng Việt, "Nghề là công việc chuyên môn làm theo sự phân công lao động xã hội" [tr.676] Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, muốn hành nghề tốt, mỗi người phải trải qua quá trình đào tạo theo một chương trình quy định với những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết theo yêu cầu của thị trường lao động để có thể hành nghề

Như vậy, theo chúng tôi, nghề là một dạng lao động đòi hỏi con người phải

trải qua một quá trình đào tạo chuyên biệt để có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo

Trang 19

ra sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội

1.2.2.2 Đào tạo nghề

* Phát triển nguồn nhân lực: Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 -

2010 đã định hướng cho sự phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với mục tiêu: Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Ngày nay khi đề cập tới nguồn lực quyết định nhất đến sự phát triển kinh tế -

xã hội, người ta thường chỉ ra đó là vốn con người, là nguồn nhân lực chứ không phải là nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, tiền bạc

- Nguồn nhân lực là chỉ những người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động xã hội đa dạng và phong phú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và CĐ, đại học Nói đến nguồn nhân lực, mới chỉ đề cập đến tiềm lực; còn khi tiến hành đào tạo, sử dụng, phát huy, phát triển nguồn nhân lực, nó mới trở thành lực tác động đến phát triển kinh tế - xã hội

- Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là làm gia tăng giá trị của con

người về mọi mặt, trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ; làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mới, cao hơn

Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của 5 yếu tố: Giáo dục đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người Trong đó, giáo dục là nhân tố cốt lõi, là cơ sở của các nhân tố khác và đồng thời cũng là cơ sở quan trọng nhất cho sự phát triển nền kinh tế - xã hội bền vững

- Nhân lực là chỉ người lao động kỹ thuật được đào tạo trong nguồn nhân lực ở một trình độ nào đó để có năng lực tham gia vào lao động xã hội Năng lực của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi các yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ

và thói quen làm việc

Cơ cấu nhân lực thường được hình thành và phát triển theo dạng hình tháp với các trình độ: đại học và sau đại học, CĐ - TC kỹ thuật; công nhân kỹ thuật ở 3 cấp:

Trang 20

bán lành nghề (semi - skilled worker), lành nghề (skilled worker) và lành nghề trình

độ cao (highly skilled worker)

* Đào tạo nghề thực chất là nhằm phát triển nguồn nhân lực Hiện nay, các cơ

sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo ra hai loại hình cơ bản: công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ Sản phẩm đào tạo là nhân cách hay nói cách khác là phẩm chất và năng lực của người lao động ở một tiêu chuẩn quy định của nghề đào tạo Nghề đào tạo là những nghề mà người lao động cần được đào tạo theo một chương trình quy định với những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết theo yêu cầu của thị trường lao động để có thể hành nghề

Như vậy, theo chúng tôi: Đào tạo nghề là quá trình truyền thụ và lĩnh hội một

hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp nhất định đã được khái quát hóa trong nghề đào tạo; là quá trình rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo, thái độ và năng lực nghề nghiệp ở người học để hình thành nhân cách nghề nghiệp Quá trình này được thực hiện chủ yếu thông qua việc giảng dạy theo chuẩn mực của các nghề đào tạo

1.2.2.3 Chất lượng đào tạo nghề

* Chất lượng: Mỗi một lĩnh vực khác nhau, một góc nhìn khác nhau sẽ có các

khái niệm khác nhau về chất lượng:

Theo từ điển tiếng việt, "Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, mỗi sự vật, mỗi sự việc" [tr.144]

Có rất nhiều định nghĩa về chất lượng:

"Thỏa mãn nhu cầu của khách hàng" theo W Edwards Deming

Hay "thích hợp để sử dụng" theo J M Juran

Hoặc "làm đúng theo yêu cầu" theo Philip B Crosby

Theo ISO 8402 -86: Chất lượng của sản phẩm là tổng thể những đặc điểm, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định và phù hợp với công dụng, tên gọi của sản phẩm

Tiêu chuẩn ISO9000:2000 đưa ra định nghĩa về chất lượng: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” Các đặc tính ở đây muốn ám chỉ tới các đặc tính vốn có của sản phẩm hay dịch vụ

Trang 21

Theo quan niệm của Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu âu: Chất lượng của sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng

Theo tiêu chuẩn Pháp - NFX 50, tr109, chất lượng là "Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng"

Theo J.Juran (Mỹ): Chất lượng là tiềm năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất

Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814 - 94: "Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn"

Các định nghĩa trên đều chỉ ra rằng đạt chất lượng đồng nghĩa với việc đáp ứng được các yêu cầu Các yêu cầu ở đây tất nhiên là các yêu cầu của khách hàng, các yêu cầu của khách hàng là khởi nguồn của các vấn đề chất lượng, và là trọng tâm khi xác định các vấn đề chất lượng

Như vậy, chất lượng được phản ánh trước hết ở sự thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng, thứ đến là tính hiệu quả, tức phí thấp nhất song vẫn thỏa mãn được nhu cầu của thị trường Chất lượng được thể hiện qua kết quả định tính và kết quả định lượng Kết quả định tính là giá trị của sản phẩm, nó không thể đo đếm nhưng

có thể nhận xét được Kết quả định lượng là các giá trị biểu hiện ở mặt con số, ở đại lượng và nó có thể cân, đong, đo, đếm Số lượng là cái tạo nên chất lượng, song nếu chỉ có số lượng thì chưa phản ánh được chất lượng, cho nên khi nhìn nhận về chất lượng phải phân tích ở trên cả hai mặt định tính và định lượng

* Chất lượng đào tạo nghề

Điều kiện để nước ta thành công trên trường quốc tế trong bối cảnh gia nhập

tổ chức thương mại thế giới (WTO) là phải có một đội ngũ nhân lực đủ sức đương đầu với cạnh tranh và liên kết Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng là nhiệm vụ cấp bách Trình độ nguồn nhân lực đạt được phù hợp với yêu cầu và nhu cầu của thị trường lao động chính là thước đo của chất lượng đào tạo Tăng cường liên kết giữa nhà trường và DN là một giải pháp tối

ưu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong cơ chế thị trường và hội nhập hiện

Trang 22

nay Chất lượng đào tạo của mỗi ngành, mỗi nghề là khác nhau, song dù có khác nhau như thế nào thì sự phù hợp với yêu cầu, nhu cầu của thị trường lao động là tiêu chí quan trọng nhất

Theo quan niệm chất lượng đầu ra của sản phẩm đào tạo thì chất lượng đào tạo nghề dựa vào các tiêu chí sau:

+ Phẩm chất xã hội nghề nghiệp (đạo đức, ý thức, trách nhiệm);

+ Sức khỏe;

+ Kiến thức, kỹ năng;

+ Năng lực hành nghề;

+ Khả năng thích ứng với thị trường lao động;

+ Năng lực nghiên cứu và khả năng phát triển nghề nghiệp của người lao động sau khi tốt nghiệp

Chất lượng đào tạo nghề, quan niệm theo năng lực hành nghề, được xác định bởi các mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ và thói quen làm việc Theo Benjamin Bloom, kiến thức, kỹ năng, thái độ có các cấp độ như sau:

Bảng 1: Mức chất lượng đào tạo nghề theo Benjamin Bloom

Kiến thức Kỹ năng Thái độ

Ghi nhớ, nhận ra, tái hiện

Bắt chước

Quan sát và rập khuân

Quan sát và thực hiện như hướng dẫn

Hưởng ứng

Có thể lắng nghe và phản ứng hiệu quả

Ứng

dụng

Vận dụng vào các tình huống khác nhau và vào thực tiễn

Chính xác

Quan sát và thực hiện một cách chính xác như hướng dẫn

Đánh giá

Lắng nghe và phản ứng với quan điểm của mình

Phân tích

Chia tách các thành tố của một kiến thức Biến

hóa

Quan sát và thực hiện một loạt các kỹ năng nhanh và chính xác

Tổ chức lại hệ thống giá trị mới

Có thể đưa ra quan điểm về chính mình

Trang 23

Tổng hợp

Khái quát từ nhiều thành tố thành một vấn đề Thuần thục

Tốc độ và sự chính xác trở thành thói quen, kỹ năng,

kỹ xảo

Hành động theo giá trị mới

Thực hiện các đặc trưng của thực tế trong các quan điểm của mình

Đánh

Giá

Xem xét toàn bộ quá trình, đưa ra nhận định tổng quát

Theo quan điểm hiện đại, chất lượng đào tạo có hai phần: "Phần cứng": kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học tiếp thu trong quá trình đào tạo (chiếm 1/3 giá trị); "Phần mềm": là năng lực sáng tạo và sự thích ứng (chiếm khoảng 2/3 giá trị) Như vậy, khi đánh giá chất lượng đào tạo của trường dạy nghề không nên chỉ nhìn nhận ở "phần cứng", tức là kiến thức, kỹ năng, thái độ và thói quen làm việc ở người tốt nghiệp đã phù hợp với mục tiêu đào tạo hay chưa, phù hợp ở mức nào mà điều quan trọng hơn là đặt trọng tâm vào giá trị "phần mềm" - năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng, dựa trên cơ sở đó tổ chức quá trình đào tạo nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Cần tăng cường liên kết với các doanh nghiệp để cho học sinh

có cơ hội tiếp cận và thích ứng nhanh với công nghệ sản xuất mới, có khả năng sáng tạo trong điều kiện biến động của nền kinh tế thị trường, trong đó có thị trường sức lao động Trong cơ chế thị trường và hội nhập, quá trình đào tạo nghề luôn bị chi phối bởi quy luật: cung - cầu Chất lượng sản phẩm đào tạo có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của nhà trường trong cơ chế cạnh tranh Sản phẩm đào tạo chính là người tốt nghiệp Điểm lưu ý trong chất lượng đào tạo nghề hiện nay đó là phải quan tâm tới nhu cầu của thị trường để điều tiết kế hoạch phát triển của mỗi ngành nghề đào tạo Việc nắm thông tin, công tác dự báo nhu cầu thị trường lao động, kể cả thị trường quốc tế của mỗi nhà trường phải được chú trọng, nếu đào tạo nhiều quá thì thừa, mà ít quá thì thiếu so với nhu cầu nhân lực thực tế cho dù sản phẩm đào tạo đã đạt yêu cầu của thị trường tuyển dụng

Như vậy, theo chúng tôi chất lượng đào tạo nghề là mức độ đạt được ở người

học nghề phù hợp với các mục tiêu đào tạo đã đề ra, đồng thời phải phù hợp và đáp

Trang 24

ứng yêu cầu và nhu cầu của sản xuất, của thị trường lao động

Sơ đồ 1.2: Chất lượng đào tạo nghề

1.2.2.4 Đảm bảo chất lượng đào tạo nghề

Quan niệm về đảm bảo chất lượng: Đó là sự đáp ứng và duy trì được các tiêu chuẩn về chất lượng theo yêu cầu và nhu cầu của thị trường - xã hội và cam kết sẽ nâng cao chất lượng theo sự biến động của thị trường Như vậy, đảm bảo chất lượng đào tạo nghề cũng phải được tiếp cận trên 2 tiêu chí: một là, xác định được nhu cầu của thị trường và những yêu cầu đặt ra đối với sản phẩm đào tạo (nhân cách của người được đào tạo nghề); hai là, phát triển quy trình đào tạo để luân đáp ứng được nhu cầu, yêu cầu của thị trường

Theo cách tiếp cận này thì việc liên kết đào tạo giữa trường dạy nghề với DN

là một tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề

1.2.3 Khái niệm về trường nghề và doanh nghiệp

1.2.3.1 Trường dạy nghề: Theo Điều 36 Luật giáo dục năm 2005 thì :

"1 Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm:

Kết quả đào tạo phù hợp nhu cầu, yêu cầu sử dụng  Đạt chất lượng ngoài

Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo  Đạt chất lượng trong

Trang 25

Ngoài ra, hiện nay các trường đại học, CĐ, TC chuyên nghiệp; các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước có đủ điều kiện, được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép cho tổ chức hoạt động dạy nghề được gọi chung là các cơ sở có tham gia HĐ dạy nghề Các cơ sở có tham gia HĐ dạy nghề này, ở phạm vi (chức năng) dạy nghề cũng được chúng tôi quan niệm là "trường dạy nghề"

1.2.3.2 Doanh nghiệp: Theo từ điển Tiếng việt: DN được hiểu là "Đơn vị kinh

doanh, như xí nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất, v.v." Ví dụ: DN nhà nước DN tư nhân

Theo định nghĩa của luật DN, đã được Quốc hội Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các

HĐ kinh doanh

1.3 Liên kết đào tạo giữa nhà trường với doanh nghiệp

1.3.1 Vai trò của liên kết đào tạo

Chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó liên kết đào tạo giữa nhà trường với DN có một vai trò rất quan trọng, nhất là trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt Vai trò của sự liên kết này nhằm tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo và được biểu hiện ở các khía cạnh sau:

a Mục tiêu và nội dung đào tạo phù hợp với yêu cầu của sản xuất

Trang 26

Cần xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu và nhu cầu của thị trường lao động Phải cụ thể hóa mục tiêu và nội dung đào tạo từng nghề vào trong từng hợp đồng liên kết đào tạo với các DN trên nền tảng mục tiêu đào tạo mà Bộ GD - ĐT, Tổng cục dạy nghề đã ban hành

Khi sự liên kết giữa hai bên đã đạt ở mức độ cao thì phải cùng nhau tổ chức biên soạn nội dung, xác định mục tiêu đào tạo nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn sản xuất ở DN Thực hiện dạy cái gì mà thị trường cần, người học cần chứ không dạy cái gì mà nhà trường sẵn có giúp người lao động đáp ứng được những yêu cầu của các công nghệ sản xuất hiện đại sau khi tốt nghiệp Bên cạnh mục tiêu và nội dung đào tạo theo quy định của Nhà nước, cần bổ sung một số yêu cầu về cập nhật

kỹ thuật mới, về tác phong công nghiệp của người lao động trong một nền sản xuất lớn, kỹ năng giao tiếp, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng hòa nhập cộng đồng,

kể cả phong tục tập quán ở các nơi người công nhân sẽ làm việc,v.v Tuy nhiên, việc bổ sung mục tiêu, nội dung chương trình phải đảm bảo nguyên tắc không vượt quá 30% chương trình khung được cho phép

b Góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý

Trong cơ chế cũ, người giáo viên thường có xu hướng khép mình ở trong khuôn viên nhà trường, kiến thức mà họ có mang nặng tính hàn lâm, hàng năm không nhất thiết phải cập nhật và thay đổi Để quá trình liên kết với DN thực sự đạt hiệu quả cao, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý phải có sự chuyển biến tích cực Muốn vậy, cần lên kế hoạch cử giáo viên ban nghề đi tham quan, tập huấn thường xuyên tại DN, đi đào tạo chuyên sâu về công nghệ mới theo xu thế của thị trường

và yêu cầu của DN Chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng, mời chuyên gia DN hoặc giáo viên có kiến thức công nghệ mới tham gia bồi dưỡng cho giáo viên Đây sẽ là

cơ hội tốt để người giáo viên, cán bộ quản lý có điều kiện tiếp cận những tri thức,

kỹ thuật, công nghệ hiện đại, phương pháp quản lý mới của DN, nhờ đó tự nâng cao năng lực của bản thân, góp phần quyết định chất lượng giờ giảng và hướng dẫn thực hành cho học sinh

c Tranh thủ cơ sở vật chất, tài chính của DN đầu tư cho đào tạo

Trang 27

Để tăng sức mạnh cạnh tranh, DN luôn cải tiến, đầu tư những công nghệ sản xuất hiện đại, họ có thể cung cấp cho nhà trường các tài liệu về công nghệ, kỹ thuật mới nhất, phù hợp với trình độ kỹ thuật, công nghệ của thực tiễn sản xuất, đây là nguồn tư liệu quý để thày và trò cùng tham khảo và học tập Cần tranh thủ sự đầu tư của DN về trang thiết bị, hoặc nhờ trang thiết bị để học sinh được thực tập trên mô hình có thực với các công nghệ sản xuất tiên tiến, đắt tiền mà trường dạy nghề không thể mua sắm nổi

Về tài chính, thông qua các hợp đồng đào tạo, cần tận dụng nguồn kinh phí của DN với tư cách là đơn vị tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp để họ đóng góp kinh phí cho nhà trường; hoặc các DN trả tiền cho nhà trường vì học sinh của trường đã làm ra sản phẩm cho họ trong quá trình thực tập sản xuất tại DN Nguồn kinh phí này sử dụng để phục vụ đào tạo cũng như nâng cao phúc lợi, đời sống vật chất và tinh thần cho thày và trò

d- Thúc đẩy đổi mới về công tác quản lý đào tạo

Sự liên kết giữa nhà trường với DN sẽ tác động đến việc sắp xếp, hoàn thiện lại tổ chức bộ máy của nhà trường, đòi hỏi phải xuất hiện các bộ phận làm nhiệm vụ

tư vấn, điều hành, kiểm tra, duy trì mối quan hệ, đồng thời cũng có các bộ phận bị thu hẹp lại để phù hợp với nhiệm vụ được giao Sự liên hệ qua lại giữa các bộ phận, phòng ban, tổ bộ môn trong trường do vậy cần khăng khít hơn, tạo điều kiện thống nhất đoàn kết nội bộ

Cũng do có sự liên kết với các DN, cơ chế quản lý cần phải "thoáng" hơn, dân chủ hơn, người hiệu trưởng phải thâm nhập thực tế, học hỏi, trao đổi, bàn bạc, suy nghĩ để dẫn dắt nhà trường phát triển Tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên học tập, sáng tạo, phát huy quyền dân chủ của mình để xây dựng nhà trường Đối với học sinh cũng cần được tham gia, góp ý kiến vào những kế hoạch đào tạo, thực tập sản xuất của nhà trường, v.v

đ- Cải tiến công tác kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo

Công cụ và phương pháp để tổ chức kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo cần phải khách quan và chính xác; vì lợi ích của mình DN sẽ quan tâm đến việc kết hợp

Trang 28

với nhà trường trong xây dựng mục tiêu, biên soạn nội dung chương trình cũng như nội dung kiểm tra, thi hết môn và thi tốt nghiệp

Việc thi thực hành nên tổ chức tại doanh nghiệp, kết quả thi là các sản phẩm

có thể tiêu thụ được, học sinh sẽ rất phấn khởi, hào hứng; mặt khác, Ban giám khảo trong đó có đại diện DN là phó chủ tịch hội đồng sẽ đánh giá nghiêm túc, khách quan và chính xác kết quả học tập của học sinh Học sinh sau khi tốt nghiệp có thể tham gia sản xuất được ngay

Cuối cùng, nhà trường nên căn cứ vào kết quả khảo sát, dự báo về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình học sinh tốt nghiệp đang làm việc tại các DN để có định hướng về sự phát triển của các ngành, nghề trong thời gian tới, từ đó quyết định đến số lượng, chủng loại máy móc, thiết bị cần đầu tư, xây dựng mục tiêu giảng dạy, bồi dưỡng giáo viên, chuẩn bị các điều kiện cho công tác đào tạo những năm sau Như vậy, việc xác lập sự liên kết giữa nhà trường với DN sẽ có tác dụng tích cực, to lớn quyết định đến chất lượng đào tạo đội ngũ người lao động hiện nay theo hướng phù hợp với nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động trong xu thế toàn cầu và hội nhập

e- Nâng cao chất lượng đào tạo

- Chất lượng trong của đào tạo:

Nhờ nắm bắt được yêu cầu đào tạo thể hiện ở đơn đặt hàng của các doanh nghiệp mà nhà trường có kế hoạch chỉ đạo việc mua sắm các thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành phù hợp với mục tiêu và nội dung chương trình đề ra, như vậy đạt hiệu quả về đầu tư kinh phí

Theo phương thức này, tại thời điểm tuyển sinh, nhà trường và DN có thể tổ chức cho người học ký quỹ một số tiền "đặt cọc" nhất định để giữ chỗ làm việc của mình cho đến khi tốt nghiệp Đây là một hình thức góp vốn để đầu tư cho sự đổi mới công nghệ tại DN và cũng góp phần tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật phục

vụ đào tạo

Người học nghề theo hợp đồng đào tạo sẽ yên tâm vì đã xác định được địa chỉ làm việc trong tương lai của mình ở DN nên cố gắng trong học tập, có động cơ, mục

Trang 29

đích học tập đúng đắn Kết quả học tập thực chất, đáp ứng được những yêu cầu khách quan của DN

- Chất lượng ngoài của đào tạo

Năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng với đời sống xã hội và thị trường lao động, những giá trị sử dụng và đóng góp thực tế cho xã hội của người tốt nghiệp đã được rèn luyện qua phương thức liên kết giữa nhà trường và DN trong đào tạo, do vậy, tỷ lệ học sinh sau khi tốt nghiệp có việc làm sẽ được tăng lên

Khi ký kết hợp đồng đào tạo, DN đã có kế hoạch giao việc cho từng học sinh sau khi tốt nghiệp, nếu DN không còn nhu cầu tuyển dụng một số học sinh nào đó thì với kiến thức, kỹ năng và khả năng thích ứng cao, các em có thể tham gia lao động ở DN khác hoặc tự mình đi tìm kiếm việc làm Khoảng thời gian phải đi tìm việc làm được rút ngắn Như vậy chất lượng đào tạo ngoài cũng được nâng lên Người lao động được đào tạo theo phương thức này sau khi tốt nghiệp tuổi đời còn rất trẻ, nắm được công nghệ tiên tiến, có phản xạ nhanh, có sức khỏe, khả năng thích ứng tốt, họ sẽ khẳng định được mình trong công việc, đó là cơ sở để các chủ DN cân nhắc đề bạt Họ có thể thành đạt ngay cả khi tham gia vào các DN tư nhân, thậm chí tự mình đứng ra thành lập và điều hành DN Tóm lại, muốn nâng cao được mặt chất lượng, đào tạo nghề phải gắn với sản xuất, với nhu cầu và yêu cầu thị trường lao động thì các trường đào tạo phải liên kết với các doanh nghiệp Mặt khác chất lượng đào tạo ngày một nâng lên sẽ làm cho mối quan hệ liên kết giữa nhà trường với DN phát triển từ mức độ liên kết thấp chuyển dần lên mức độ liên kết cao (từ kết hợp, phối hợp đến tích hợp), từ liên kết một mặt sang quan hệ nhiều mặt: đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng nâng bậc thợ cho công nhân, nhà trường trở thành "đại lý bán hàng" cho DN, là nơi thực nghiệm những công nghệ, vật liệu mới trước khi đưa vào sản xuất đại trà Phát triển từ liên kết song phương sang liên kết đa phương, tức liên kết với nhiều doanh nghiệp với những mối quan hệ khác nhau Chất lượng đào tạo được đảm bảo giúp cho nhà trường tăng uy tín, là điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ liên kết với nhiều DN, do đó mở rộng quy mô, loại hình đào tạo

Trang 30

1.3.2 Nội dung của liên kết đào tạo nghề

Do cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường và hội nhập, các DN rất cần đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, thích ứng nhanh với yêu cầu của sản xuất, họ thực sự kỳ vọng ở các nhà trường Với tư cách là đơn vị cung cấp nguồn nhân lực, nhà trường cũng luôn phải cạnh tranh về chất lượng sản phẩm đào tạo Sự liên kết giữa nhà trường với DN bởi vậy là tất yếu khách quan, nó diễn ra theo quy luật cung - cầu

* Trong thực tế, mối quan hệ liên kết này có thể diễn ra rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt:

- Sự liên kết giữa nhà trường với DN trong việc triển khai xây dựng mục tiêu

và nội dung đào tạo theo quy chế của Bộ GD - ĐT và Tổng cục dạy nghề ban hành Mặt khác khi xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo phải xét đến tính đặc thù của DN

là nơi sẽ tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp;

- Tuyển sinh và tổ chức thi tốt nghiệp cuối khóa cho học sinh;

- Đánh giá chất lượng đào tạo nghề;

- DN đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo như: Kinh phí, tài liệu, máy móc thiết bị, các chuyên gia, thợ bậc cao, v.v

- Liên kết trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng lao động qua việc hoạch định chiến lược phát triển của nhà trường với DN để từ đó xác định nhu cầu đào tạo: số lượng, cơ cấu ngành nghề, bậc thợ, hình thức đào tạo (đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng bậc, v.v.)

* Để liên kết nhà trường với DN hiệu quả cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

- Liên kết đào tạo đảm bảo mục tiêu đào tạo đề ra, không làm ảnh hưởng đến quy trình đào tạo của nhà trường cũng như tiến độ sản xuất của DN, mà trái lại nó góp phần vào sự phát triển của hai đơn vị, có lợi cho cả hai đơn vị;

- Quá trình liên kết đào tạo phải đảm bảo tính giáo dục, nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh, không quá thiên về lợi ích kinh tế mà bỏ qua tính giáo dục

- Nội dung liên kết đào tạo phải đảm bảo yếu tố vừa sức với giáo viên và học

Trang 31

sinh trong quá trình đào tạo: Vừa sức về trình độ nhận thức công nghệ, về sức khỏe, v.v

* Những điều kiện đảm bảo liên kết đào tạo giữa nhà trường với DN:

- Điều kiện về mặt pháp lý: Phải quán triệt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường mối quan hệ liên kết giữa nhà trường với DN; cần hình thành một hệ thống chỉ đạo tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương và các bộ, ngành để kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng và sắp xếp việc làm hợp lý

Các quy định của Nhà nước đối với DN liên quan đến đào tạo như: Thuế liên quan đế chi phí đào tạo, tỷ lệ công nhân kỹ thuật trên tổng số người lao động, cung cấp thông tin về nguồn nhân lực, v.v.; Thành lập các đơn vị sản xuất trong các nhà trường như Nghị quyết TW2 khóa VIII đã đề ra; chính sách đầu tư cho các nhà trường

- Điều kiện về tổ chức: Đổi mới bộ máy và phương thức điều hành nhằm tăng cường sự liên kết như: Thành lập tổ tiếp thị, các quy định, chế độ đối với phương thức liên kết

1.3.3 Các loại hình liên kết giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề

Sự liên kết giữa nhà trường với DN đã được áp dụng phổ biến ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam và luôn thu được những kết quả nhất định Có khá nhiều phương thức liên kết giữa nhà trường với DN Dựa trên một số tiêu chí, tác giả phân loại các loại hình liên kết giữa nhà trường với DN ở Việt Nam

Trang 32

* Phân loại trên cơ sở pháp lý

- Phương thức nhà trường nằm ngoài DN

Sơ đồ 1.3: Nhà trường nằm ngoài DN

Theo mô hình trên thì trường dạy nghề không nằm trong các công ty, xí nghiệp mà trực thuộc các Bộ, Sở chủ quản, nhà trường và DN là hai đơn vị độc lập nhau Chương trình đào tạo, phần "cứng" theo quy định chương trình khung của Bộ LĐTB&XH chiếm khoảng 70 - 80%; phần "mềm" chiếm tỷ lệ khoảng 20 - 30% dành để nhà trường bổ sung nội dung kiến thức và công nghệ mới; nghề đào tạo theo danh mục do Nhà nước quy định, hiện bộ LĐTB&XH mới ban hành tạm thời danh mục 48 nghề đào tạo Giáo viên chủ yếu là của nhà trường, trong thời gian thực tập sản xuất có kết hợp với cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề của DN để giảng dạy Địa điểm học lý thuyết và thực hành cơ bản thường ở tại trường, thời gian thực tập sản xuất tại DN

Ưu điểm của phương thức này là nhà trường không bị lệ thuộc vào cơ sở sản xuất của DN, quá trình đào tạo đảm bảo được tiến độ chương trình, học sinh có lý thuyết chuyên môn rộng, đáp ứng linh hoạt hơn với sự chuyển đổi của ngành nghề sau khi tốt nghiệp, cũng như có thể công tác ở nhiều loại hình sản xuất ở các DN khác nhau

Nhược điểm của phương thức này là mối quan hệ giữa nhà trường với các

Trang 33

doanh nghiệp khó thiết lập hoặc thiết lập ở mức thấp, đào tạo khó gắn với sử dụng Hình thức liên kết để tổ chức quá trình đào tạo giữa nhà trường và DN chủ yếu

là hình thức đào tạo tuần tự, chỉ có một phần nhỏ tổ chức theo hình thức đào tạo luân phiên Mức độ liên kết của phương thức này thường có giới hạn và rời rạc, tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp, sự liên kết giữa nhà trường với DN ở mức độ toàn diện

- Phương thức nhà trường nằm trong DN

Sơ đồ 1.4: Nhà trường nằm trong DN

Theo mô hình này, trường dạy nghề nằm trong DN như các tổng công ty, nhà máy, các hãng, tập đoàn sản xuất Hiện nay mô hình này đã phổ biến ở trên thế giới, nhất là các nước phát triển Tại Việt Nam, nhiều trường thuộc các DN đã đào tạo nghề cho DN của mình khá tốt như các trường của tập đoàn VINASHIN (13 cơ

sở đào tạo), tập đoàn LILAMA, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam v.v Theo báo cáo tổng quan về dạy nghề của Bộ LĐTB&XH, đến tháng 5/2008 cả nước có gần 150 nhà trường thuộc các DN

Đặc điểm của mô hình này là trình độ đào tạo từ SC đến CĐ, thời gian đào tạo

Trang 34

từ 1 đến 3 năm, tùy theo nghề cụ thể mà đơn vị sản xuất yêu cầu Nghề đào tạo theo chuyên ngành hẹp của DN Mục tiêu, nội dung chương trình cũng theo chương trình chuẩn quốc gia, tuy nhiên tỷ lệ phần "mềm" được mở rộng hơn, chiếm khoảng 30% dành để bổ sung kiến thức và công nghệ mới trong thực tiễn sản xuất Mô hình này cần sự liên kết giữa giáo viên nhà trường và giáo viên kiêm chức của DN gồm các cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề tham gia giảng dạy Kinh phí chủ yếu do DN cung cấp, phần còn lại có thể do ngân sách Nhà nước bổ sung, hoặc do học sinh đóng góp

Ưu điểm của phương thức này là gắn đào tạo với sử dụng, đáp ứng nhu cầu nhân lực của chính các cơ sở sản xuất thuộc DN Nội dung chương trình đào tạo thường xuyên được bổ sung, cải tiến nhằm cập nhật những kiến thức mới về công nghệ, thiết bị hiện đại Tận dụng được máy móc, thiết bị của DN phục vụ dạy nghề; huy động đội ngũ kỹ sư của DN tham gia giảng dạy về chuyên môn, về công nghệ mới, phương pháp hạch toán và quản lý của DN

Hình thức đào tạo này phù hợp với đặc điểm sản xuất cũng như công nghệ của

DN, do vậy tiết kiệm được thời gian đào tạo của người lao động và tiết kiệm chi phí cho DN

Nhược điểm, học sinh của các loại trường này dễ bị động bởi các yêu cầu sản xuất nên các khóa học khó tiến hành được theo trình tự và bài bản, học sinh sau khi tốt nghiệp khi cần chuyển đổi nghề sẽ gặp khó khăn vì họ chỉ được đào tạo theo một chuyên ngành hẹp

Tuy vậy, về lâu dài, khi sản xuất ổn định và phát triển, các DN làm ăn có lãi, đầu tư dây truyền công nghệ, trang thiết bị hiện đại thì hình thức đào tạo này là phù hợp hơn cả Trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế trên thế giới đang bị khủng hoảng, Việt Nam chúng ta không thể không bị ảnh hưởng, Nhà nước nên có những giải pháp tình thế để duy trì đào tạo ở một số trường gặp khó khăn do Tổng công ty làm ăn kém hiệu quả

Trang 35

- Phương thức DN sản xuất nằm trong nhà trường

Sơ đồ 1.5: DN sản xuất nằm trong nhà trường

Đặc điểm của phương thức này là nhà trường vừa quản lý cơ sở đào tạo, vừa quản lý DN sản xuất Đối với học sinh không chỉ được trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn cần thiết về nghề mà còn được trang bị kiến thức về DN và kinh doanh giúp họ tự biết cách thành lập doanh nghiệp để có thể trở thành ông chủ, tự giải quyết công việc làm ăn cho mình và tạo công ăn việc làm cho những người lao động khác Theo phương thức liên kết này những năm 90 trên thế giới, như ở Mỹ có làn sóng thành lập công ty giáo dục kinh doanh, mục đích cuối cùng của nó là thực hiện giảm chi, tăng thành quả, nâng cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng cho học sinh có nhiều năng lực cạnh tranh, giành được sự tán đồng ủng hộ của công chúng Ở Việt Nam cũng có một số trường thành lập đơn vị sản xuất trong nhà trường như Trường công nhân cơ giới và xây dựng Quảng Ninh và trường Mỏ Hữu Nghị Quảng Ninh đều có DN khai thác, vận chuyển và tiêu thụ than Năm 1993, chính phủ đã có quy định cấm các trường dạy nghề mở cơ sở sản xuất thì DN sản xuất của các trường

HSPT Cơ sở đào tạo

(nơi tổ chức quá trình đào tạo)

Trang 36

này đã giải thể hoặc chuyển hướng hoạt động sang hình thức tiếp thị, nhận đảm bảo phần nhân công cho các DN Nghị quyết TW2 khóa VIII đã cho phép thành lập lại đơn vị sản xuất ở trong các trường dạy nghề Đến nay, Điều lệ trường CĐ nghề, Điều lệ trường TC nghề, quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề do Bộ LĐTB&XH ban hành đã cho phép các trường nghề được thành lập DN hoặc cơ sở sản xuất, dịch vụ

Ưu điểm của mô hình này là nhà trường chuẩn bị hiện trường cho học sinh thực hành cơ bản, thực tập sản xuất, học phương pháp tổ chức và quản lý sản xuất

để có thể trở thành chủ nhân của các DN vừa và nhỏ

Nhược điểm là khả năng thành lập và duy trì các DN sản xuất trong nhà trường gặp nhiều khó khăn Yêu cầu năng lực quản lý về lĩnh vực kinh doanh và giáo dục của người lãnh đạo phải toàn diện Đây là một thách thức không nhỏ nên tính hiệu quả của mô hình này chưa cao Trên thế giới phương thức này được áp dụng ở một số nước như Australia, Mỹ, v.v song kết quả đạt được chỉ ở mức độ nhất định Ở Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay khi mà trình độ, năng lực điều hành kinh doanh và quản lý đào tạo nghề của cán bộ còn hạn chế, chúng ta nên thận trọng khi duy trì phương thức đào tạo này

Như vậy, mỗi phương thức liên kết và hình thức tổ chức quá trình đào tạo của các mô hình trên đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau Dù có khác nhau như thế nào thì ở mỗi mô hình đều đem lại những ảnh hưởng tích cực đến chất lượng đào tạo nghề và lợi ích cho cả hai bên đối tác nhà trường và DN Hiệu quả và chất lượng cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực quản lý của mỗi chủ thể khác nhau

Trang 37

* Phân loại theo hình thức liên kết đào tạo

- Hình thức liên kết đào tạo song hành

Nhà trường LT + THCB Thi

Sơ đồ 1.6: Hình thức liên kết đào tạo song hành

Hình thức liên kết này, quá trình đào tạo được tổ chức ở nhà trường và DN như sơ đồ trên Thời gian học lý thuyết, thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được diễn ra song song với nhau ở cả nhà trường và DN

- Hình thức liên kết đào tạo luân phiên

Nhà trường

Lý thuyết

Sơ đồ 1.7: Hình thức liên kết đào tạo luân phiên

Quá trình đào tạo được tổ chức tại nhà trường và ở DN Học lý thuyết, tổ chức tại trường; Thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tổ chức luôn phiên nhau, xen kẽ tại hai địa điểm: nhà trường và DN

Trang 38

- Hình thức liên kết đào tạo tuần tự

Sơ đồ 1.8: Hình thức liên kết đào tạo tuần tự

Theo hình thức này thì quá trình đào tạo cũng được tổ chức tại hai địa điểm, ở nhà trường và DN; quá trình đào tạo được tiến hành tuần tự, học song lý thuyết mới đến thực hành rồi đến thực tập sản xuất; ở giai đoạn học lý thuyết và thực hành cơ bản, học sinh học ở lớp, xưởng trường; giai đoạn cuối cùng, thực tập sản xuất được

tổ chức tại doanh nghiệp

Ba hình thức tổ chức quá trình đào tạo trên phản ánh các mức độ liên kết giữa nhà trường và DN trong đào tạo nghề: Hình thức đào tạo song hành là mức độ cao nhất, thấp nhất là hình thức liên kết đào tạo tuần tự

* Phân loại theo mức độ liên kết

- Mức độ liên kết toàn diện: Cả nhà trường và DN đều có trách nhiệm nhiệm ngang nhau trong quá trình đào tạo người lao động Sự liên kết này thể hiện ở tất cả các khâu: tuyển sinh, biên soạn nội dung chương trình, tổ chức quá trình đào tạo, đóng góp kinh phí đào tạo, tổ chức thi tốt nghiệp và tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiêp, v.v

- Mức độ liên kết có giới hạn: Nhà trường và DN có sự liên kết ở mức độ thấp hơn so với mức kết hợp toàn diện Sự liên kết này thể hiện ở việc DN có bổ sung nội dung chương trình đào tạo, cho học sinh thực tập sản xuất, hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo, tiếp nhận một số học sinh đã thực tập tại DN

Trang 39

- Mức độ liên kết rời rạc: Nhà trường đảm nhiệm quá trình đạo tạo trên tất cả các khâu, nội dung chương trình hầu như không thay đổi, DN chỉ tạo điều kiện về địa điểm cho học sinh thực tập ở giai đoạn cuối trước khi thi tốt nghiệp, không hỗ trợ kinh phí đào tạo và chỉ tiếp nhận số lượng nhỏ học sinh sau khi tốt nghiệp

Có thể nói nhà trường luân cần được quan tâm đầu tư trọng điểm vì đây chính

là những "lò" đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mặc dù vậy, chỉ với nguồn ngân sách của nhà nước thì không thể thỏa mãn được nhu cầu của các cơ sở dạy nghề, cho nên bản thân nhà trường cũng phải tự tạo ra những nguồn lực cho chính mình

để tồn tại và phát triển theo cơ chế thị trường Việc nghiên cứu để vận dụng các biện pháp quản lý nhằm tăng cường sự liên kết với DN là đáp số cho bài toán huy động các nguồn lực phục vụ đào tạo

1.4 Quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp

1.4.1 Quản lý đào tạo và những đặc trưng của nó

1.4.1.1 Quản lý hoạt động đào tạo

Chất lượng đào tạo trong các nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố song cơ bản vẫn là phụ thuộc vào hiệu quả quản lý của hoạt động đào tạo

Khái niệm quản lý hoạt động đào tạo được hiểu là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đào tạo ở các cấp khác nhau đến các yếu tố, các khâu của quy trình đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

1.4.1.2 Đặc trưng của hoạt động quản lý đào tạo liên kết

Quản lý hoạt động đào tạo về cơ bản bao gồm các thành tố cơ bản sau đây:

- Quản lý mục tiêu đào tạo

- Quản lý nội dung đào tạo

- Quản lý phương thức đào tạo

- Quàn lý giáo viên

- Quản lý học sinh học nghề

- Quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ đào tạo

Quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp là quá trình phối

Trang 40

hợp của chủ thể quản lý thuộc các bên liên kết đào tạo nhằm xác định nhu cầu, mục tiêu, nội dung, trách nhiệm và cách thức tác động có hướng đích

1.4.1.3 Chu trình quản lý đào tạo liên kết

Quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với DN là toàn bộ quá trình xác định nhu cầu, đề ra mục tiêu, nội dung, trách nhiệm, vv và được tác động bởi các biện pháp phù hợp Là quá trình cải tiến liên tục mọi khâu trong chu trình liên kết theo sơ

đồ dưới đây Mỗi khâu đều cần được nghiên cứu kỹ lưỡng và tác động hợp lý, việc thực hiện tốt khâu này sẽ là tiền đề để thực hiện các khâu tiếp theo, ngược lại, thực hiện tốt các khâu tiếp theo sẽ là cơ sở để đánh giá mức độ và chất lượng của các khâu tiền đề Giữa các khâu có mối quan hệ ràng buộc và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Cần phải có thông tin chính xác về trực trạng của các khâu để có các biện pháp điều chỉnh, điều khiển hợp lý để tăng cường liên kết giữa hai bên nhà trường với DN Sẽ đạt được hiệu quả cao nếu như lãnh đạo của cả nhà trường và DN đều ý thức tốt việc quản lý mối quan hệ liên kết cần theo các chu trình bằng các cách thức hợp lý Nghĩa là họ phải thực hiện đúng chức năng của người lãnh đạo, của nhà quản lý

Sơ đồ 1.9: Chu trình quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với DN

Xác định nhu cầu liên kết

Phát triển kế hoạch liên kết

Xây dựng nội dung, chương trình liên kết

Triển khai liên kết

Ngày đăng: 06/10/2014, 06:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15.Hoàng Ngọc Trí (2005), "Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng ở thủ đô Hà Nội", Luận án tiến sĩ, trường Đại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo CNKT xây dựng ở thủ đô Hà Nội
Tác giả: Hoàng Ngọc Trí
Năm: 2005
1.Hồ Chí Minh (1980), Bàn về giáo dục, NXB SGK Mác - Lênin, Hà Nội Khác
2.Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng khóa VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3.Đảng công sản Việt Nam (2002), Văn kiện hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ƣơng khóa IX, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4.Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 - 2010, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002 Khác
5.Nguyễn Văn Bình (1999), Khoa học tổ chức và quản lý, một số lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê Hà Nội Khác
6.Nguyễn Thị Doan (1996), Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
7.Trần Khánh Đức (2002), Sƣ phạm kỹ thuật, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
8.GS - TSKH Nguyễn Văn Hộ (2007), Xu hướng phát triển giáo dục - tài liệu dùng cho học viên cao học QLGD, Thái Nguyên Khác
9.Học viện quản lý giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Quản lý giáo dục và đào tạo, quyển II, phần III, Hà Nội Khác
10.Mai Hữu Khuê (1982), Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý, NXB Lao động, Hà Nội Khác
11.Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo dục Khác
12.Hội nghị dạy nghề đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp (báo cáo tổng quan), Bộ LĐTB&XH, Hà Nội, tháng 5/2008 Khác
13.Tạp chí ĐH và GDCN (tháng 1 năm 2000), Các giải pháp phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam, chuyên mục công trình khoa học Khác
14.Đỗ Hoàng Toàn (1995), Lý thuyết quản lý, Trường ĐH KTQD Hà Nội Khác
16.Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐTB&XH) (2007), Văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề, NXB Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ về khái niệm quản lý - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ về khái niệm quản lý (Trang 17)
Bảng 1: Mức chất lượng đào tạo nghề theo Benjamin Bloom - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Bảng 1 Mức chất lượng đào tạo nghề theo Benjamin Bloom (Trang 22)
Sơ đồ 1.2: Chất lượng đào tạo nghề - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.2 Chất lượng đào tạo nghề (Trang 24)
Sơ đồ 1.3: Nhà trường nằm ngoài DN - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.3 Nhà trường nằm ngoài DN (Trang 32)
Hình thức liên kết để tổ chức quá trình đào tạo giữa nhà trường và DN chủ yếu  là hình thức đào tạo tuần tự, chỉ có một phần nhỏ tổ chức theo hình thức đào tạo  luân phiên - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Hình th ức liên kết để tổ chức quá trình đào tạo giữa nhà trường và DN chủ yếu là hình thức đào tạo tuần tự, chỉ có một phần nhỏ tổ chức theo hình thức đào tạo luân phiên (Trang 33)
Sơ đồ 1.5: DN sản xuất nằm trong nhà trường - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.5 DN sản xuất nằm trong nhà trường (Trang 35)
Sơ đồ 1.6: Hình thức liên kết đào tạo song hành - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.6 Hình thức liên kết đào tạo song hành (Trang 37)
Hình thức liên kết  này, quá  trình đào  tạo được tổ chức ở nhà trường và DN  nhƣ  sơ  đồ  trên - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Hình th ức liên kết này, quá trình đào tạo được tổ chức ở nhà trường và DN nhƣ sơ đồ trên (Trang 37)
Sơ đồ 1.8: Hình thức liên kết đào tạo tuần tự - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.8 Hình thức liên kết đào tạo tuần tự (Trang 38)
Sơ đồ 1.9: Chu trình quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với DN Xác định nhu cầu liên kết - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Sơ đồ 1.9 Chu trình quản lý đào tạo liên kết giữa nhà trường với DN Xác định nhu cầu liên kết (Trang 40)
Bảng  1:  Số  liệu  đào  tạo  liên  kết  với  doanh  nghiệp  của  một  số  nghề  từ  năm  2005-2010 - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
ng 1: Số liệu đào tạo liên kết với doanh nghiệp của một số nghề từ năm 2005-2010 (Trang 50)
Bảng 2. Đánh giá của khách thể điều tra về về chất lượng học sinh được đào tạo tại - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Bảng 2. Đánh giá của khách thể điều tra về về chất lượng học sinh được đào tạo tại (Trang 51)
Bảng 3: Nhận thức của khách thể điều tra về ảnh hưởng của liên kết đào tạo với DN - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Bảng 3 Nhận thức của khách thể điều tra về ảnh hưởng của liên kết đào tạo với DN (Trang 52)
Bảng 4: Nhận thức của CBQL, Giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến - biện pháp quản lý đào tạo liên kết với các doanh nghiệp của trường trung cấp nghề công trình 1
Bảng 4 Nhận thức của CBQL, Giáo viên về các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w