1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ

111 5,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 24,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ  Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng châu thổ sông Mê Kông. Nơi đây mưa thuận gió hòa, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, thích hợp cho nhiều loài cây phát triển, đặc biệt là cây lúa. ĐBSCL được mệnh danh là vựa lúa của cả nước, đóng góp 50% sản lượng lúa cả nước và 80% gạo xuất khẩu (Nguồn: Viện lúa ĐBSCL). Cần Thơ cũng nằm trong vùng ĐBSCL nên chọn cho mình cây lúa là cây lương thực chính. Quận Ninh Kiều là trung tâm của thành phố Cần Thơ, mặc dù mức độ đô thị hóa ngày càng cao nhưng câu ca dao ông bà ta để lại vẫn còn trong câu nói của người dân, cho thấy cây lúa vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng: “Cần Thơ gạo trắng, nước trong Ai đi đến đó, lòng không muốn về.” Từ khi khai hoang lập địa, dân di cư đã mang theo tập quán trồng lúa đến vùng đất này. Quanh năm người dân sống với nghề làm ruộng là chính, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia nên nông dân ta có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng lúa. Chẳng hạn như câu: “Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn.” Đúng vậy, từ rất lâu nông dân đã thấy được cỏ dại làm giảm năng suất lúa, làm tốn hao nhiều công sức khi làm ruộng. Cỏ dại gây hại cho lúa mà không biểu hiện liền, đến khi lúa lớn và thu hoạch mới thấy cây lúa không vững, ít bông hoặc hột lép hoặc hột không mẩy. Nó làm giảm năng suất, sản lượng và tăng chi phí sản xuất. Theo thống kê ở các nước trồng lúa châu Á, cỏ dại có thể làm giảm tới 60% năng suất lúa. Nhìn chung trên thế giới, cỏ dại làm giảm 15% tổng sản lượng lúa gạo hằng năm. Theo FAO (Cơ quan lương thực của Liên hiệp quốc) thì thiệt hại do cỏ dại gây ra trên thế giới hằng năm có thể nuôi sống 100 triệu ngườinăm. Nhìn chung, nông dân đã nhận thấy cỏ dại ảnh hưởng nghiêm trọng đến cây lúa. Họ và những nhà khoa học tìm cách để phòng trừ cỏ dại. Tuy nhiên sự hiểu biết của họ về cỏ dại đã đầy đủ chưa ? Họ có biết hết tên các loài cỏ trong ruộng của mình hoặc đã nắm được tác hại của cỏ dại và cơ sở của những tác hại đó hay chưa ? Vì lẽ đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Điều tra các loài cỏ dại và ảnh hưởng của chúng đến cây lúa trên ruộng lúa ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” với mục đích: Nhận biết và phân loại được các loài cỏ dại trên ruộng lúa ở quận Ninh Kiều. Tìm hiểu ảnh hưởng của cỏ dại lên sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây lúa, cùng những biện pháp phòng trừ các loài cỏ dại. Là một nguồn tài liệu cho môn Phân loại học Thực vật, Cỏ dại học, Bảo vệ thực vật,... và là tài liệu tham khảo ban đầu cho những nghiên cứu sâu hơn về cỏ dại. PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU  1. ĐỊNH NGHĨA CỎ DẠI Không có một định nghĩa chính xác dành cho “cỏ dại”, tùy theo quan điểm khi đánh giá vấn đề mà người ta có thể có những định nghĩa khác nhau về cỏ dại Phến, 2005. Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng 2000: “Cỏ dại là tất cả những cây không được trồng mà lại có trên ruộng. “Dại” ở đây không có nghĩa là độc hay nguy hiểm cho người mà có nghĩa là mọc bừa bãi, mọc ở những nơi mà người ta không muốn chúng mọc.” Như vậy “cỏ dại” không chỉ là những cây có hại cho cây trồng như Cỏ lồng vực (Echinochloa crusgalli L.), cỏ Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.), Cỏ chác (Fimbristylis miliacea L.),… mà kể cả những cây có ích như Rau ngổ (Enydra fluctuans Lour.), Rau muống (Ipomoea aquatica Forsk),… nếu mọc xen vào ruộng (không do con người trồng) thì vẫn bị xem là cỏ dại. Trần Vũ Phến 2005 tạm đưa ra một vài định nghĩa dựa theo những quan niệm đánh giá khác nhau: Cỏ dại là những loài thực vật mọc hoang trong tự nhi

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ



Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng châu thổ sông Mê Kông Nơi đâymưa thuận gió hòa, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, thíchhợp cho nhiều loài cây phát triển, đặc biệt là cây lúa ĐBSCL được mệnh danh là vựa lúa

của cả nước, đóng góp 50% sản lượng lúa cả nước và 80% gạo xuất khẩu (Nguồn: Viện lúa ĐBSCL) Cần Thơ cũng nằm trong vùng ĐBSCL nên chọn cho mình cây lúa là cây

lương thực chính Quận Ninh Kiều là trung tâm của thành phố Cần Thơ, mặc dù mức độ

đô thị hóa ngày càng cao nhưng câu ca dao ông bà ta để lại vẫn còn trong câu nói củangười dân, cho thấy cây lúa vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng:

“Cần Thơ gạo trắng, nước trong

Ai đi đến đó, lòng không muốn về.”

Từ khi khai hoang lập địa, dân di cư đã mang theo tập quán trồng lúa đến vùng đấtnày Quanh năm người dân sống với nghề làm ruộng là chính, thế hệ này nối tiếp thế hệkia nên nông dân ta có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng lúa Chẳng hạn như câu:

“Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn.”

Đúng vậy, từ rất lâu nông dân đã thấy được cỏ dại làm giảm năng suất lúa, làm tốnhao nhiều công sức khi làm ruộng Cỏ dại gây hại cho lúa mà không biểu hiện liền, đếnkhi lúa lớn và thu hoạch mới thấy cây lúa không vững, ít bông hoặc hột lép hoặc hộtkhông mẩy Nó làm giảm năng suất, sản lượng và tăng chi phí sản xuất Theo thống kê ởcác nước trồng lúa châu Á, cỏ dại có thể làm giảm tới 60% năng suất lúa Nhìn chungtrên thế giới, cỏ dại làm giảm 15% tổng sản lượng lúa gạo hằng năm Theo FAO (Cơquan lương thực của Liên hiệp quốc) thì thiệt hại do cỏ dại gây ra trên thế giới hằng năm

có thể nuôi sống 100 triệu người/năm

Trang 2

về cỏ dại đã đầy đủ chưa ? Họ có biết hết tên các loài cỏ trong ruộng của mình hoặc đãnắm được tác hại của cỏ dại và cơ sở của những tác hại đó hay chưa ? Vì lẽ đó, chúng tôithực hiện đề tài “Điều tra các loài cỏ dại và ảnh hưởng của chúng đến cây lúa trên ruộnglúa ở quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ” với mục đích:

Nhận biết và phân loại được các loài cỏ dại trên ruộng lúa ở quận Ninh Kiều.Tìm hiểu ảnh hưởng của cỏ dại lên sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của câylúa, cùng những biện pháp phòng trừ các loài cỏ dại

Là một nguồn tài liệu cho môn Phân loại học Thực vật, Cỏ dại học, Bảo vệ thực vật, và là tài liệu tham khảo ban đầu cho những nghiên cứu sâu hơn về cỏ dại.

Trang 3

PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU



1 ĐỊNH NGHĨA CỎ DẠI

Không có một định nghĩa chính xác dành cho “cỏ dại”, tùy theo quan điểm khiđánh giá vấn đề mà người ta có thể có những định nghĩa khác nhau về cỏ dại [Phến,2005] Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000]: “Cỏ dại là tất cả nhữngcây không được trồng mà lại có trên ruộng “Dại” ở đây không có nghĩa là độc hay nguyhiểm cho người mà có nghĩa là mọc bừa bãi, mọc ở những nơi mà người ta không muốnchúng mọc.” Như vậy “cỏ dại” không chỉ là những cây có hại cho cây trồng như Cỏ lồng

vực (Echinochloa crus-galli L.), cỏ Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.), Cỏ chác (Fimbristylis miliacea L.),… mà kể cả những cây có ích như Rau ngổ (Enydra fluctuans Lour.), Rau muống (Ipomoea aquatica Forsk),… nếu mọc xen vào ruộng (không do con

người trồng) thì vẫn bị xem là cỏ dại Trần Vũ Phến [2005] tạm đưa ra một vài địnhnghĩa dựa theo những quan niệm đánh giá khác nhau:

- Cỏ dại là những loài thực vật mọc hoang trong tự nhiên, ở những nơi và vàonhững thời điểm mà con người không mong muốn có sự hiện diện của chúng

- Cỏ dại cũng có thể được định nghĩa như là những thực vật mà các đặc điểm conngười không mong muốn nhiều hơn các đặc điểm được mong muốn

- Cỏ dại cũng có thể là những loài thực vật mà ở thời điểm này, ở nơi này nhữngtính hữu ích của chúng chưa được phát hiện, hoặc những loài thực vật mà tính năng gâyhại của chúng cho con người lớn hơn những lợi ích mà nó đem lại

Tuy nhiên, có một số loài cỏ lúc nào cũng được xem là cỏ dại như Cỏ lồng vực

(Echinochloa crus-galli L.), cỏ Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.),…

Nói chung: “Cỏ dại là những thực vật mọc ở một nơi ngoài ý muốn của con

Trang 4

Trong đề tài này, chúng tôi xem cỏ dại là những cây không được người trồng mà

tự mọc ở trong ruộng lúa và trên bờ ruộng

2 PHÂN LOẠI CỎ DẠI

Tùy theo mục tiêu mà người ta có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại TheoTrần Vũ Phến [2005]: “Nguyên tắc của việc phân loại cỏ là xếp những loại cỏ có nhiềuđặc tính tương tự hơn là khác biệt vào cùng một nhóm” Các tiêu chuẩn phân loại thườngđược sử dụng là:

- Phân loại theo Hệ thống phân loại Thực vật

- Phân loại theo thời gian sống của cỏ

- Phân loại dựa theo hình dạng lá

- Phân loại dựa theo cấu trúc cơ thể và tập tính tăng trưởng

- Phân loại dựa trên tập tính sinh sống

- Phân loại theo một số tiêu chuẩn phân loại khác

Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tra khảo và phân loại các cây cỏ theo tài liệu “Cây

cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ [2000] và “Cỏ dại phổ biến tại Việt Nam” của DươngVăn Chín [2000]

2.1 Phân loại theo Hệ thống phân loại Thực vật

Cách phân loại này thường được áp dụng trong nghiên cứu cơ bản Người ta dựavào những đặc điểm giống nhau và khác nhau về hình thái, giải phẩu để phân loại chúng.Mức phân loại căn bản nhất là loài (species), nhiều loài giống nhau hợp thành chi(genus), nhiều chi hợp thành họ (familia), nhiều họ giống nhau hợp thành bộ (ordo), cứnhư vậy lên đến những mức phân loại cao dần là lớp (classis), ngành (divisio), giới(regnum) [Chinh và Phụng, 2000; Phến, 2005]

Ví dụ: Các loài Cỏ mực (Eclipta alba L.), Cỏ chân vịt (Sphaeranthus africanus L.), cỏ Cúc áo (Spilanthes paniculata Wall.)… hợp thành họ Cúc (Asteraceae).

Trang 5

2.2 Phân loại theo thời gian sống của cỏ

“Chu kỳ sống được tính từ lúc cỏ nẩy mầm - tạo ra thế hệ mới và chết” Kiểu phânloại này thường được dùng để xem xét áp dụng các biện pháp hóa học hoặc thủ công.[Chinh và Phụng, 2000; Phến, 2005]

2.2.1 Cỏ hằng niên (hàng niên) hay nhất niên

Thời gian chu kỳ đời sống là một năm Chu kỳ sống của nhóm cỏ này thườngtrùng vời thời vụ Sinh sản và phát tán chủ yếu bằng hột Cũng có một số ít cây sinh sảnbằng đốt thân có rễ để lại cho năm sau tiếp tục mọc lên

Phần lớn cỏ dại trong ruộng thuộc nhóm cỏ hằng niên Nhóm cỏ này tương đối dễtrị và ít tốn kém Tốt nhất là diệt khi mới nẩy mầm hoặc trước khi ra hoa bằng biện pháphóa học và biện pháp khác kết hợp Nhưng do sự tạo hột rất nhiều nên cần kiểm soátchúng liên tục qua nhiều vụ

Ví dụ: Cỏ chác (Fimbristylis miliacea L.), Rau trai (Commelina diffusa Burm.f.), Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.), Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.),…

Trần Vũ Phến [2005] phân chia ra cỏ hằng niên, cỏ nhị niên, cỏ đa niên, nên nhóm

cỏ đa niên là những loài cỏ có chu kỳ đời sống từ hai năm trở lên Còn với Nguyễn MạnhChinh và Mai Thành Phụng [2000] chỉ phân chia thành cỏ hằng niên và cỏ đa niên nênnhóm cỏ đa niên có chu kỳ sống trên một năm Nhóm cỏ này sinh sản và phát tán cả bằnghột (hữu tính) lẫn bằng cơ quan sinh dưỡng (vô tính)

Do một năm thường trồng nhiều vụ, mỗi vụ đều có khâu làm đất và liên tục cónước nên nhóm cỏ này thường hiện diện ít hơn cỏ hằng niên Tuy nhiên, việc phòng trừ

Trang 6

giúp cỏ tồn tại Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000] đã nêu lên biện phápphòng trừ cỏ đa niên tốt nhất là cày bừa nhiều lần, nhặt bỏ cây cỏ hoặc phun các loạithuốc không chọn lọc trước khi làm đất gieo cấy hoặc ngâm nước một thời gian dài.

Ví dụ: Cỏ chỉ (Cynodon dactylon L.), Cỏ lông (Brachiaria mutica F.),…

2.3 Phân loại dựa theo hình dạng lá [Chinh và Phụng, 2000; Phến, 2005].

Dựa vào hình dạng của lá, người dân thường phân ra cỏ lá rộng, cỏ lá hẹp Cóngười còn phân thêm một dạng trong cỏ lá hẹp đó là nhóm cỏ lác Phân loại theo hìnhdạng lá có ý nghĩa khi sử dụng các biện pháp trừ cỏ, biện pháp thủ công…

Ví dụ: Rau mác bao (Monochoria vaginalis Burm.f.), Cỏ xà bông (Sphenoclea

zeylanica Gaertn.),…

2.4 Phân loại dựa theo cấu trúc cơ thể và tập tính tăng trưởng [Phến, 2005]

- Thân thảo: Cây có thân mềm, không có cơ cấu hậu lập Ví dụ: Cỏ lồng vực

(Echinochloa crus-galli L.), Rau mác bao (Monochoria vaginalis Burm.f.), …

- Dây leo: Thân dạng dây leo hoặc có tua cuốn Ví dụ: Dây bò như Rau muống

(Ipomoea aquatica Forsk), dây leo quấn như Bìm bìm (Ipomoea triloba L.), thân trườn như Biện lý (Quisqualis indica L.).

Trang 7

- Thân mộc: Thân cứng, có cơ cấu hậu lập, có nhánh Ví dụ: Đậu điều (Phaseolus

lathyroides L.),…

2.5 Phân loại dựa trên tập tính sinh sống

Theo Trần Vũ Phến [2005] cách phân loại này dựa vào tập tính sinh sống trên giáthể cần thiết nào mà cỏ được chia ra:

- Cỏ mọc trên đất: Cỏ sống ở trên cạn, rễ ở dưới đất và thân, cành, lá trên không.

- Cỏ biểu sinh: Sống bám trên cây khác, có thể sống kí sinh như dây Tơ hồng

(Cuscuta spp Tourn.) hay bán ký sinh như Striga asiatica L

- Cỏ thủy sinh:

+ Thủy sinh nổi: Rễ trên đất, thân trên mặt nước

+ Thủy sinh ngập trong nước: Các bộ phận của cây nằm trong nước

+ Thủy sinh trôi nổi trong nước: Rễ không tiếp xúc với đất

Trong đề tài này, chúng tôi phân loại các loài cỏ dại tìm được dựa vào Hệ thốngphân loại Thực vật, đồng thời xếp chúng vào 3 nhóm dựa theo môi trường sống của cây:

- Nhóm cỏ dại sống trong ruộng

- Nhóm cỏ dại sống trên bờ ruộng

- Nhóm cỏ dại sống cả trong ruộng lẫn trên bờ ruộng

3 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CỎ DẠI

Để có thể áp dụng các biện pháp phòng trừ cỏ tốt, ta cũng cần biết một số đặcđiểm của chúng Trần Vũ Phến [2005] cho rằng “Cỏ dại là những thực vật được tồn tạiqua quá trình chọn lọc tự nhiên, không như cây trồng là do con người Do đó, bên cạnhnhững đặc điểm sinh học của các loài thực vật nói chung, chúng còn có những đặc điểmkhác mà cây trồng không có hoặc ít có”

Trang 8

Miên trạng giúp cho cỏ sống sót qua điều kiện khí hậu khắc nghiệt nên nó cũng làmột trong những nguyên nhân khiến cho cỏ dại khó trị Muốn áp dụng các biện phápphòng trừ cỏ được hiệu quả thì cần phải phá vỡ sự miên trạng này Sau đây là một vàibiện pháp giúp phá vỡ sự miên trạng:

- Hoạt động của vi sinh vật hay xử lý với acid đối với hột có vỏ không thấm nước

- Có những loài cỏ lớp vỏ cứng bị vỡ trong điều kiện ẩm ướt hoặc khô liên tục

- Phương pháp nhân tạo: Xử lý với KNO3, Gibberellic acid, chất có tác động giốngCytokinin và Auxin hoặc xử lý ánh sáng và nhiệt độ Benzyladenine có thể làm giảm khả

năng đâm chồi từ thân củ Cỏ cú (Cyperus rotundus L.) và phá vỡ tác động hưu miên của chồi ngọn ở Cỏ năng (Scirpus maritimus).

3.2 Sự nẩy mầm của cỏ dại

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000] mặc dầu cỏ có khả năngthích ứng cao, nhưng để nẩy mầm thì vẫn cần những điều kiện nhất định như nước, ánhsáng, oxy… Trong đó điều kiện quan trọng nhất là nước Ruộng quá khô hoặc thườngxuyên ngập nước hột cỏ đều không nẩy mầm Phần lớn cây hằng niên đều nẩy mầm vàođầu mùa mưa để rồi cho ra hột giống vào mùa nắng

Khi nẩy mầm, hột cỏ trải qua các quá trình: hấp thu nước và thủy phân tinh bột,hoạt động trao đổi chất nhanh, rễ hình thành và mọc dài ra, hình thành chồi mầm, tăngtrưởng độc lập Có 2 kiểu nẩy mầm là nẩy mầm thượng địa (nẩy mầm trên mặt đất) ở câyhai lá mầm và nẩy mầm hạ địa (nẩy mầm dưới mặt đất) ở cây một lá mầm

Đặc điểm của cỏ dại là thời gian mọc mầm không đều Sau khi làm đất gieo cấy,

Trang 9

phần lớn mới mọc hết, còn lại một số ít tiếp tục mọc về sau, chậm nhất là khoảng 15ngày Nguyên nhân là do thời gian miên trạng khác nhau, thời gian chín không đều, độsâu chôn vùi khác nhau Tuy nhiên, do đặc điểm canh tác nên mặc dù thời gian cỏ mọckhông đều nhưng cũng tương đối tập trung (nẩy mầm từ 3 - 5 ngày và thành cây từ 7 - 10ngày) Đây cũng là một thuận lợi cho việc phòng trừ

3.3 Sự tăng trưởng và phát triển của cỏ dại

Cỏ dại tăng trưởng qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn cây non: Là giai đoạn tích lũy chất dinh dưỡng và lớn lên Nó bắt đầu

cạnh tranh với cây trồng dưỡng chất và nước Tuy nhiên đây là giai đoạn dễ bị tổn thươngnên các biện pháp phòng trừ thường được áp dụng khi cây còn non và dễ đạt được kếtquả Hiệu quả nhất là biện pháp hóa học, sử dụng thuốc diệt cỏ tiền nẩy mầm, hậu nẩymầm sớm

- Giai đoạn cây trưởng thành: Là giai đoạn cỏ đã phát triển đầy đủ rễ, thân, lá.

Cây cứng cáp hơn, khả năng cạnh tranh gay gắt hơn, nhất là lúc trước khi bước vào sinhsản Giai đoạn này cỏ có sức chống chịu tốt hơn nên việc quản lý chúng cũng khó hơn.Một số loài, khi điều kiện môi trường quá khắc nghiệt, chúng sẽ chuyển sang sinh sảnsớm hơn

Trong 2 giai đoạn tăng trưởng và phát triển của cỏ dại thì giai đoạn cây non là giaiđoạn được Trần Vũ Phến [2005] đánh giá là “giai đoạn quan trọng nhất cho việc tác độngcác biện pháp quản lý cỏ dại”

3.4 Sự sinh sản của cỏ dại

Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000] cho biết sự sinh sản của cỏ dại

có những đặc điểm:

- Có nhiều hình thức sinh sản: “Các loài cỏ dại càng có khả năng sinh sản với

nhiều hình thức thì việc quản lý chúng càng khó khăn” [Phến, 2005] Đa số các loài cỏ

Trang 10

môi trường trở nên bất lợi, hoặc rụng hột trước khi ruộng được thu hoạch Một số khácsinh sản bằng bào tử, bằng hình thức trinh sản Ngoài ra, có nhiều loài cỏ sinh sản bằngcác cơ quan sinh dưỡng như thân rễ, thân củ, căn hành, đốt thân,… Các hình thức nàythường thấy ở cỏ đa niên.

- Khả năng sinh sản nhanh và nhiều: “Từ một hột Cỏ lồng vực (Echinochloa

crus-galli L.) mọc thành cây chỉ sau 3 tháng có thể sinh ra từ 200 - 300 hột cỏ mới Một cây Rau dền (Amaranthus sp.) có thể sinh ra hàng triệu hột Steven (1932) điều tra 101

cây cỏ mỗi năm sản sinh 20.832 hột (trung bình 206 hột/cây), 61 cây cỏ đa niên sản sinh16.629 hột (trung bình 272 hột/cây)” Hoa của các loài cỏ sinh sản bằng hột thườngkhông mọc riêng lẻ, nếu mọc riêng lẻ thì trên một cây có rất nhiều hoa

- Có nhiều hình thức tồn tại: Hột cỏ khi chín thường rụng xuống đất Đến mùa

sau, khi gặp điều kiện thuận lợi lại tiếp tục mọc lên Hoặc nó được gặt hái cùng với lúa

khi thu hoạch, đặc biệt là Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.) tồn tại lẫn trong hột

giống vì chín cùng lúc với lúa và có kích thước tương đương Ngoài ra, cỏ còn có thể tồntại nhờ đốt thân, thân củ,…

3.5 Sự phát tán của cỏ dại

Cỏ dại có nhiều hình thức phát tán, lan truyền Các tác nhân thường gặp là:

- Phát tán nhờ gió: Các hột cỏ nhỏ, nhẹ, có cơ quan phụ dạng cánh khi chín được

gió phát tán đi xa

- Phát tán nhờ nước: Đây là tác nhân quan trọng nhất trong ruộng lúa Cỏ thủy

sinh, nổi nhờ cấu trúc phao, hột nhỏ, nhẹ, vỏ hột không thấm nước khi rơi xuống nướcđược nước mang đi theo kênh mương từ ruộng này sang ruộng khác Ở ĐBSCL, hằngnăm có lũ tràn ngập, khi nước rút có thể để lại nhiều mầm cỏ, làm mật độ cỏ tăng lên

- Phát tán nhờ người và động vật: Một số hột cỏ, vỏ của chúng có độ dính, có

lông hoặc có gai móc… dính vào quần áo của người, vào lớp lông hoặc da của động vật.Như vậy cỏ vô tình được phát tán đi khi người và động vật di chuyển từ nơi này đến nơikhác [Chinh và Phụng, 2000; Phến, 2005]

Trang 11

3.6 Sự lưu tồn và khả năng sống sót của giống mầm cỏ dại

Hột cỏ dại có khả năng tồn tại trong đất trong thời gian rất dài Nhiều thí nghiệmcho thấy hột cỏ bị chôn vùi dưới đất có khả năng tồn tại từ vài năm đến hàng chục năm

Hột của Lục bình (Eichhornia crassipes Mart.) có thể sống khoảng 15 năm Thời gian

sống của cỏ chịu ảnh hưởng bởi loại đất và hàm lượng nước trong đất

Cỏ dại có khả năng chịu đựng và thích ứng cao hơn so với cây trồng nên nó tồn tại

ở khắp nơi, cả ở những nơi khắc nghiệt đối với cây trồng “Trong ruộng thiếu phân bón

và nước, cây cỏ vẫn sống tốt hơn hẳn so với cây lúa Phạm vi nhiệt độ thích hợp của cây

cỏ cũng rộng hơn cây lúa Ở nhiệt độ thấp 10 - 120C cây lúa có thể bị chết nhưng cây cỏvẫn ít bị ảnh hưởng [Chinh và Phụng, 2000] Thấy được đặc tính này của cỏ, một số nhàkhoa học đang tìm cách để chuyển gen chống chịu tốt cho cây trồng, bao gồm cả lúa

4 TÁC HẠI CỦA CỎ DẠI TRÊN RUỘNG LÚA

Theo F.A.O (Cơ quan lương thực của Liên hiệp quốc) thì thiệt hại do cỏ dại gây ra

hàng năm trên thế giới có thể nuôi sống 100 triệu người/năm và sự thiệt hại này xảy ranặng nề hơn ở vùng nhiệt đới, theo thống kê ở các nước trồng lúa châu Á, cỏ dại có thểlàm giảm tới 60% năng suất lúa [Chinh và Phụng, 2000]

Năng suất giảm do cỏ dại gây ra có thể được đánh giá qua một số quốc gia Tại Ấn

Độ sản lượng lúa giảm 10% do cỏ dại Philippines, thiệt hại này vào khoảng 11% trongmùa khô và 13% trong mùa mưa Nhật Bản, sản lượng giảm 8,6% do cỏ dại Bình quânmỗi năm trên thế giới, người ta ước tính có khoảng 10% tổng sản lượng lúa gạo bị mất đi

do cỏ dại

Sự hiện diện của cỏ dại trên ruộng lúa ngoài việc làm giảm sản lượng và chấtlượng lúa gạo, nó còn phát sinh nhiều chi phí cho các biện pháp phòng trừ cỏ dại như:biện pháp canh tác, biện pháp vật lý, cơ giới, biện pháp hóa học, biện pháp sinh học Cácchi phí trên ước tính vào khoảng 5% sản lượng lúa gạo thế giới Như vậy, nhìn chungtrên thế giới cỏ dại làm giảm 15% tổng sản lượng lúa gạo hàng năm

Các thí nghiệm gần đây cho thấy sự giảm sút năng suất lúa tỷ lệ với mật độ cỏ dại

Trang 12

từ 4 - 6% Tác hại của cỏ không chỉ trên số lượng mà còn tùy thuộc vào loài cỏ và sự sinhtrưởng của từng cây cỏ.

Thành phần cỏ dại luôn thay đổi theo địa hình, đất đai, chế độ nước, mùa vụ và kỹ

thuật thâm canh cây lúa Nhìn chung, ở Việt Nam các loài Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.) được xem là các đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất trên ruộng lúa.

[Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

Nguyên nhân của những tác hại trên là do:

4.1 Cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, dưỡng chất và nước đối với lúa

Hình 1: Cỏ dại cạnh tranh, ánh sáng, dưỡng chất và ẩm độ với lúa

4.1.1 Cạnh tranh về ánh sáng

Ánh sáng quyết định đến 90 - 95% năng suất lúa Quá trình quang hợp của cây lúanhờ vào 100% nguồn năng lượng từ ánh sáng mặt trời Vì vậy cỏ dại mọc trong lúa sẽche bớt ánh sáng của lúa nên quang hợp giảm dẫn đến năng suất lúa giảm

4.1.2 Sự tranh cướp nước và dưỡng chất

Khi cỏ dại có mặt trên ruộng lúa thì chúng hút một lượng đáng kể nước và muốikhoáng trong đất, làm lúa thiếu nước và dinh dưỡng nên sinh trưởng chậm năng suất

Trang 13

Hầu hết các loài cỏ dại sinh trưởng, phát triển mạnh hơn lúa nên sự cạnh tranh nước vàdưỡng chất diễn ra rất quyết liệt Sự cạnh tranh càng gay gắt khi lúa thiếu phân bón vànước, lúc này cây lúa bị ảnh hưởng rất lớn [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

Thực nghiệm cho thấy tỷ lệ phần trăm các chất dinh dưỡng quan trọng trong cây

cỏ bằng hoặc cao hơn trong cây lúa Vì vậy việc bón phân có thể không làm tăng năngsuất trên ruộng lúa có hiện diện cỏ dại, vì cỏ dại hấp thu chất dinh dưỡng (đặc biệt là đạm

và lân) mạnh hơn lúa [Reissing và ctv, 1993]

Hình 2: Sự hấp thu đạm giữa lúa và cỏ

Nếu trên ruộng lúa có những cỏ thấp cây (Cây vảy ốc Rotala indica Willd., ),

lượng đạm do lúa hấp thu được chỉ bằng 70% so với ruộng lúa không có cỏ Còn nếu trên

ruộng lúa có những cỏ cao cây (Cỏ lồng vực Echinochloa crus-galli L., Lác mỡ Cyperus

difformis L., ) thì lúa chỉ hấp thu đạm 50% so với ruộng lúa sạch cỏ

Nhìn chung ánh sáng, nước và dưỡng chất là 3 yếu tố rất cần thiết đối với cây lúa,nếu thiếu một trong ba yếu tố này, các yếu tố khác sẽ không được cây lúa sử dụng hiệuquả Vì vậy cần phải diệt cỏ sớm và triệt để [Benito S.V.,1998]

4.2 Cỏ dại là ký chủ trung gian cho côn trùng, các đối tượng gây bệnh cho lúa và là nơi trú ẩn của chuột [Chinh và Phụng, 2000]

Các loài cỏ cùng họ, bộ hay có những đặc tính giống cây lúa sẽ làm ký chủ cho

Trang 14

Ruộng có nhiều cỏ dại thì ẩm độ và nhiệt độ tăng làm cho sâu bệnh tăng Mặt khác

cỏ dại tranh cướp các điều kiện sống làm lúa sinh trưởng kém, tính đề kháng sâu bệnhgiảm đi, tác hại của sâu bệnh càng thêm nghiêm trọng [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

Hình 3: Cỏ dại là ký chủ trung gian cho côn trùng và chuột phá hại lúa

Bọ rầy xanh đuôi đen (Nephotettix nigropictus) mang virus gây bệnh vàng lụi cho

lúa trong những điều kiện nhất định, thường ẩn náu và sống trên cỏ dại

Các loài nấm bệnh đạo ôn, khô vằn, sâu cuốn lá lúa, bọ xít sinh sống được trên

nhiều loài cỏ Hòa bản như Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.), Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.), Cỏ chỉ (Cynodon dactylon L.),…

Riêng Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.) là nơi trú ẩn của Sâu xám (Agrotis ypsilon Rott ) và là nơi đẻ trứng của Bọ xít đen (Scotinophara coartata).

Ở Việt Nam, nhiều người đã xác nhận Lục bình (Eichhornia crassipes Mart.) là

nơi tồn tại lan truyền nấm bệnh khô vằn rất quan trọng

Cỏ dại cũng là nơi trú ẩn và sinh đẻ rất tốt của chuột

Cỏ dại

Lúa

Trang 15

4.3 Cỏ dại làm giảm phẩm chất và năng suất lúa gạo

Những tác hại trên do cỏ dại gây ra không chỉ làm cho cây lúa sinh trưởng, pháttriển kém, năng suất lúa giảm mà còn làm giảm chất lượng của lúa gạo như làm hột lúa bịlem vỏ, không mẩy, hột gạo bị đục và gãy, đồng thời hột cỏ (nhất là Cỏ lồng vực) lẫntrong lúa làm giảm giá trị của lúa gạo, đặc biệt là hột lúa làm giống và xuất khẩu [Chinh

- Cỏ dại làm tăng thêm chi phí về làm đất: Làm đất không chỉ tạo trạng thái vật

lý, hóa học, sinh học cho việc gieo cấy và sinh trưởng của cây lúa mà còn để phòng trừ

cỏ dại

- Cỏ dại làm tăng chi phí về thu hoạch: Ruộng nhiều cỏ, máy móc thu hoạch

chậm hoặc không thu hoạch được

Tuy nhiên cỏ dại hiện diện trên ruộng lúa cũng có những mặt có lợi nhất định:

- Tích lũy vào tầng đất cày những chất dinh dưỡng như: N, P, K có ở những lớpđất sâu và trong nước mưa

- Với khối lượng chất hữu cơ lớn, cỏ dại làm tăng thêm chất hữu cơ và mùn chođất

- Giữ đất khỏi bị xói mòn, đất và dinh dưỡng khỏi bị trôi đi

- Tận thu làm chất đốt: Sử dụng cỏ làm nhiên liệu đồng thời là cách trị cỏ có hiệuquả và tận thu những tro mà cỏ đã tích lũy được

* Các yếu tố chi phối tác hại của cỏ dại đối với lúa

Trang 16

Lúa và cỏ dại có mối liên quan rất chặt chẽ với các điều kiện sống, đặc biệt vớiđiều kiện nước trong đất Lúa vùng khô hạn có các loài cỏ chịu khô hạn Lúa vùng ngậpnước cũng có những loài cỏ chịu ngập nước hoặc sống trong nước để cạnh tranh với lúa.

Vì vậy cỏ dại làm giảm năng suất lúa cả mùa mưa lẫn mùa khô

Năng suất giảm nhiều hay ít là tùy thuộc vào loại hình canh tác Ở Nhật, lúa gieo

sạ mà không làm cỏ thì năng suất giảm 70 - 90 %, còn lúa cấy giảm 20 - 40 %

Giống lúa khác nhau thì thiệt hại do cỏ dại gây ra cũng khác nhau [Chinh, Tuyền

và Trường, 1978] Nhóm tác giả này tiến hành thí nghiệm năm 1973, đã thu được kết quả

về tỷ lệ (%) năng suất lúa giữa làm cỏ và không làm cỏ như sau:

Bảng 1: Tỷ lệ % năng suất lúa giữa làm cỏ và không làm cỏ

100 %19,46 %

100 %39,47 %

- Thành phần cỏ và số lượng cỏ trên ruộng lúa

Tác hại của cỏ dại trên ruộng lúa sẽ tùy thuộc vào thành phần cỏ, số lượng cây cỏtrên một m2 và sự sinh trưởng của từng cây cỏ Số lượng cỏ càng nhiều năng suất lúacàng giảm [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]:

Bảng 2: Tỷ lệ (%) năng suất lúa ở số lượng cỏ khác nhau

Năm thí nghiệm Số lượng cỏ/m 2 Năng suất lúa (Tỷ lệ % so với có trừ cỏ)

1971

1973

1974

366081008

84,719,4621,75

Trang 17

Có nhiều loài cỏ trong ruộng lúa, các loài cỏ khác nhau ảnh hưởng đến lúa khác

nhau Riêng Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.) là loài cỏ rất giống lúa, sinh trưởng

mạnh hơn lúa, làm giảm năng suất lúa khá nhiều [Reissing và ctv,1993] và [Chinh,Tuyền và Trường, 1978]

Làm thí nghiệm trên lúa cấy năm 1970, cứ 1 khóm lúa có 1 cây Cỏ lồng vực, trên

2 nền phân khác nhau 0N (không có đạm) và 80N (có 80 % đạm) cho kết quả sau:

Bảng 3: Tỷ lệ năng suất lúa có cỏ ở 2 nền phân khác nhau

Nền phân 0N 80N

Lúa không cỏLúa có lẫn cỏ

100%

59,7%

100%

40,6%

Qua bảng cho thấy năng suất lúa bằng nhau ở 2 nền phân khi ruộng không có cỏ

Và năng suất lúa đều giảm ở 2 nền phân khi ruộng có cỏ Ta thấy cứ 1 khóm lúa có 1 cây

Cỏ lồng vực thì năng suất giảm 50%, đặc biệt lượng đạm càng cao thì năng suất lúa cànggiảm [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền, Lê Trường, làm thí nghiệm năm 1976,xác định số lượng cỏ trên một m2 và năng suất lúa đã thu được kết quả:

Bảng 4: Số lượng cỏ và tỷ lệ năng suất lúa

Số lượng cỏ trên 1 m 2 Tỷ lệ(%) năng suất lúa

Không có cỏ

100 cây cỏ200300400500

10083,273,169,465,563,0

Trang 18

Với số lượng 100 cây cỏ/m2, năng suất lúa giảm 17% Từ 100 cây cỏ tăng lên 200cây cỏ, năng suất giảm thêm 10%, nhưng từ 200 cây về sau, cứ tăng 100 cây cỏ thì năngsuất cũng chỉ giảm thêm từ 4 - 6 %.

Nhiều tác giả còn đánh giá trọng lượng cỏ /m2 để xác định tác hại của cỏ dại và đề

ra biện pháp phòng trừ Zakharenco đề nghị khi có 200 g cỏ /m2, thì cần thiết phải trừ cỏ [Chinh, Tuyền và Trường, 1978] Theo dõi về mối tương quan giữa trọng lượng tươi của

cỏ và năng suất lúa được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 5: Trọng lượng tươi của cỏ và tỷ lệ (%) năng suất lúa

Năm thí nghiệm

82,4

45,8100,0

0

59,7100,0

Bảng cho thấy trọng lượng cỏ càng cao thì năng suất lúa càng giảm.

- Thời gian làm cỏ

Để giảm bớt thiệt hại do cỏ dại gây ra cần tiến hành làm cỏ sớm Trừ cỏ càngmuộn thì lúa đẻ nhánh kém, tích lũy chất khô ít dẫn đến số bông ít, số hột trên bông thấp,năng suất lúa giảm

Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền và Lê Trường đã làm thí nghiệm năm

1976, về ảnh hưởng của các thời kỳ diệt cỏ đến năng suất lúa và thu được kết quả :

Trang 19

Bảng 6: Tỷ lệ năng suất lúa khi làm cỏ ở các thời kỳ khác nhau

Thời kỳ để cỏ

trên ruộng lúa

Số lượng cỏ (cây/m 2 )

Trọng lượng khô của cỏ (g/m 2 )

Số bông lúa trên m 2

Tỷ lệ (%) năng suất

012,50122,36181,66183,86188,61202,20

477,0468,5411,0405,0386,0379,0350,0

100,099,786,883,079,176,368,9

Bảng cho thấy thời gian làm cỏ càng muộn thì năng suất lúa càng giảm Nếu để cỏđến khi lúa 3 lá, hầu như không ảnh hưởng gì vì lúc đó cỏ còn nhỏ, sự cạnh tranh giữa lúa

và cỏ không đáng kể Nếu để cỏ đến lúc lúa đẻ nhánh tối đa, cỏ đã lớn, vừa hút mất nhiềudinh dưỡng, vừa che khuất ánh sáng làm cho khả năng đẻ nhánh của lúa giảm, sốbông/1m2 đất giảm nhiều Nếu để cỏ đến lúa đứng cái, so với để cỏ đến lúc lúa đẻ tối đacũng chênh lệch ít vì giai đoạn từ lúa đẻ tối đa đến đứng cái ngắn, cỏ không ảnh hưởngnhiều đến các yếu tố tạo thành năng suất lúa Càng về sau, cỏ càng ảnh hưởng đến khảnăng làm đòng, tạo hột và trọng lượng hột của lúa Cho nên, làm cỏ tốt nhất là trước khilúa đẻ nhánh, để đảm bảo điều kiện tốt cho lúa đẻ nhiều, tăng số bông và cũng không ảnhhưởng đến số lượng hột và trọng lượng hột sau này [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

Tùy theo loại hình canh tác, kỹ thuật canh tác và trình độ thâm canh mà trên các ruộng lúa sẽ có các thành phần cỏ dại khác nhau Từ đó, để có biện pháp trừ cỏ tốt nhất, hiệu quả diệt cỏ cao, nâng cao năng suất lúa, muốn vậy cần phải điều tra

Trang 20

5 BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CỎ DẠI

5.1 Các biện pháp phòng ngừa cỏ dại hại lúa

Theo Hà Thị Hiến [2000]; Phùng Đăng Chinh, Dương Hữu Tuyền và Lê Trường[1978] có các biện pháp sau:

5.1.1 Loại bỏ cỏ dại khỏi hột giống

Các cơ quan sinh sản có thể tồn tại trong hột giống lúa đặc biệt là các hột cỏ Khigieo sạ hột thì chúng có điều kiện nẩy mầm và gây hại cho lúa Vì vậy để hạn chế cỏ trênruộng lúa thì phải làm cho hột giống sạch cỏ Có các biện pháp sau:

- Phơi khô quạt sạch: Hột cỏ thường nhẹ hơn hột lúa nên khi phơi khô, quạt, sảy,

hột cỏ sẽ bị loại khỏi hột giống

- Chọn ruộng lúa làm giống không có cỏ, hoặc loại bỏ cỏ trước khi thu hoạch lúalàm giống

- Dùng nước có tỷ trọng lớn (nước bùn hoặc nước muối) ngâm hột giống vào đểloại bỏ hột lép, hột lửng và các cơ quan sinh sản của cỏ

5.1.2 Trừ cỏ ở bờ mương

Các loài cỏ sống trên bờ ruộng có thể phát tán cơ quan sinh sản xuống ruộng Đểlàm mất nguồn duy trì cỏ dại trên đồng ruộng cần phải trừ cỏ trên bờ Ở các nước tiêntiến, người ta xây dựng bờ ruộng theo hướng giảm diện tích hoặc dùng các loại thuốc diệt

cỏ trên bờ

5.1.3 Dọn sạch cỏ ở mương, ao hồ hoặc làm sạch nguồn nước tưới

Nước tưới cho lúa được lấy từ sông, ao, hồ là những nơi có nhiều mầm móng cỏdại hại lúa Nước được dẫn qua hệ thống mương máng khá dài, có thể cuốn đi rất nhiều

cơ quan sinh sản của cỏ đưa vào ruộng lúa nếu mương máng đó không được tu sửa,không làm sạch cỏ Vì vậy để ngăn chặn cỏ dại thì phải thường xuyên tu sửa mương

Trang 21

Ở Nhật, người ta xây dựng một hệ thống lọc hột cỏ và các cơ quan sinh sản của cỏtrước khi đưa vào ruộng lúa.Ở các nước tiên tiến, người ta xây dựng bằng xi măng hoặcdùng ni-lông lót đáy và thành mương để ngăn cỏ Đồng thời dùng các loại thuốc diệt cỏtan chậm thả dưới đáy mương, hoặc dùng thuốc thả lơ lửng trong nước để diệt cỏ Ngoài

ra ở Liên Xô, Mỹ, dùng Cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) để diệt cỏ ở sông,

mương máng dẫn nước

5.1.4 Làm sạch cỏ có ở phân bón

Phân chuồng có thể chứa nhiều mầm sống của cỏ (quả, hột…) Hột cỏ sau khi qua

hệ tiêu hóa của gia súc, chúng chỉ mòn đi một lớp vỏ vững chắc Nên khi gặp điều kiệnthuận lợi sẽ nẩy mầm càng mạnh

Những chất độn chuồng như: rơm, rạ, cỏ dại cũng chứa nhiều cơ quan sinh sản của

cỏ Chính vì vậy muốn giảm số lượng cỏ dại trên đồng ruộng thì cần phải tiêu diệt cỏ dạitrong phân chuồng trước khi bón bằng cách ủ phân kỹ trước khi bón vào ruộng hoặc dùngthuốc hóa học trộn vào phân chuồng để diệt mầm cỏ

5.2 Các biện pháp trừ cỏ cho lúa

5.2.1 Biện pháp vật lý, cơ giới

5.2.1.1 Làm cỏ bằng tay

Đây là phương pháp cổ truyền, đơn giản và trực tiếp nhất trong việc diệt cỏ dạitrên ruộng lúa, vẫn được nhiều nông dân áp dụng cho cả ruộng lúa sạ và lúa cấy.[Reissing và ctv, 1993]

Trang 22

thường kết hợp với tỉa dặm lúa để ổn định và phân bổ mật độ đồng đều trên ruộng Saukhi tỉa cấy dặm và nhổ cỏ khoảng 5 - 7 ngày tiến hành bón phân thúc đợt 2 làm cho lúa đẻnhánh mạnh và tập trung, tăng sức cạnh tranh lấn át số cỏ còn sót lại Nhổ cỏ lần 2 lúc 40

- 45 ngày trước khi bón phân thúc lần cuối Đến khi lúa trổ xong cũng là lúc Cỏ lồng vực

(Echinochloa crus-galli L.), cỏ Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.) và Lúa cỏ (Oryza sativa L.) sắp chín, cần cắt bỏ các bông cỏ để không cho hột cỏ chín rụng xuống hoặc lẫn

vào hột lúa khi thu hoạch [Chinh và Phụng, 2000]

- Kỹ thuật làm cỏ [Reissing và ctv, 1993]

Đối với các loài cỏ đa niên, có thể mọc lại từ các điểm sinh trưởng ở dưới mặt đất

Vì vậy muốn diệt chúng triệt để cần phải diệt cỏ nhiều lần

Dùng tay cào sâu trong đất để nhổ cả rễ đối với cỏ còn non khó nắm lấy

Nên nhổ và chuyển cỏ khỏi ruộng hoặc chôn trong bùn ở ruộng lúa nước hoặc bỏgiữa hàng trên các ruộng cao để phơi khô

- Ưu và khuyết điểm của biện pháp làm cỏ bằng tay:

+ Ưu điểm:

 Đơn giản, dễ làm, không tốn chi phí

 Có hiệu quả trong việc diệt cỏ còn non

 Những cây cỏ mọc lẫn trong bụi và giữa hàng lúa có thể được nhổ đi màkhông hại đến cây lúa

+ Khuyết điểm:

 Tốn nhiều thời gian và công sức

 Cỏ mới mọc không thể phân biệt được với lúa vào đầu vụ khi mà việc nhổ

cỏ bằng tay có hiệu quả cao nhất

Trang 23

Hình 4: Cào cỏ có bàn răng xoay

- Sử dụng dụng cụ diệt cỏ bằng cơ giới, lúa phải được cấy thẳng hàng, khoảngcách trồng không nhỏ hơn 20 x 20 cm Đất phải mềm và tơi xốp [Reissing và ctv, 1993]

- Tuy nhiên cũng gặp những trở ngại [Reissing và ctv, 1993]:

+ Nếu đất quá khô, dụng cụ làm cỏ sẽ lăn khơi trên mặt đất và cỏ

+ Dụng cụ làm cỏ không thể làm cỏ được trong ruộng ngập nước, cỏ nổitrên mặt nước và có thể mọc lại

+ Dụng cụ có trục lăn không thể đi sát cây lúa để nhổ hết cỏ dại, vì vậycũng cần nhổ thêm bằng tay

Sau thu hoạch, dùng rơm rạ để đốt ruộng cũng có hiệu quả phòng trừ cỏ tốt Biệnpháp này không những làm chết gốc rạ mà phần lớn gốc thân và hột cỏ cũng bị chết ỞĐBSCL ruộng sạ chay (không làm đất), đốt ruộng là biện pháp rất cần thiết [Chinh vàPhụng, 2000]

Trang 24

(ngâm đất trong nước), cày lật đất, chôn vùi cỏ dại vào đất và ngâm nước trong thời giandài thì nhiều loài cỏ ưa ẩm sinh sản vô tính hoặc chịu ngập nước trong thời gian ngắn bị

vi sinh vật phân hủy tạo nguồn hữu cơ cho đất, đồng thời cỏ bị tiêu diệt Tuy nhiên làm ải

đất thì sau này một số loài cỏ như: Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.), Cỏ chác (Fimbristylis miliacea L.), nhiều hơn so với đất làm dầm [Chinh, Tuyền và Trường,

Gieo hột lúa đã nẩy mầm trước, tạo điều kiện cho lúa sinh trưởng nhanh, phủ kínđất sớm, cỏ dại không đủ ánh sáng thì không thể nẩy mầm được hoặc mọc mầm đượcnhưng sinh trưởng yếu dễ bị chết [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

Kết hợp với các biện pháp chăm sóc lúa và diệt cỏ khác, ruộng vẫn ít cỏ và năngsuất cao Nếu cấy thì nên cấy với mật độ khoảng 40 - 50 khóm/m2 [Chinh và Phụng,2000]

5.2.2.3 Chăm sóc ruộng lúa

Đảm bảo chế độ nước và phân bón thích hợp có tác dụng hạn chế cỏ, đồng thời tạođiều kiện cho cây lúa phát triển đủ sức cạnh tranh với cây cỏ

Tạo điều kiện cho lúa phát triển tốt , tăng sức cạnh tranh với cỏ bằng cách bónphân kịp thời, đầy đủ và cân đối N, P, K Đợt bón thúc đầu tiên tốt nhất lúc lúa 2 - 3 lá(sau sạ 10 - 15 ngày) lúc này hết chất dinh dưỡng dự trữ, cây lúa bắt đầu cần chất dinhdưỡng từ đất [Chinh và Phụng, 2000]

Nước là một trong những yếu tố không thể thiếu trong đời sống của cây lúa Vìvậy điều chỉnh mực nước thích hợp vừa có tác dụng giúp lúa sinh trưởng phát triển tốt

Trang 25

Giữ nước trên ruộng lúa phải đảm bảo [Reissing và ctv,1993]:

Hình 5: Độ sâu mực nước trên ruộng có tác dụng hạn chế cỏ dại

+ Thời gian ngập nước:

Lúa cấy nên cho ngập nước từ 3 - 4 ngày sau khi cấy, khi cây lúa phát triển, mựcnước có thể nâng lên từ 5 - 10 cm

Hình 6: Thời gian cho ngập nước và mực nước trên ruộng lúa cấy

Lúa sạ có thể cho ngập nước sau khi hột giống nẩy mầm và cây lúa trở nên ổnđịnh, thường từ 5 - 7 ngày sau sạ Việc cho ngập nước không hoàn toàn có hiệu quả trongphương thức gieo trồng này, vì một số loài cỏ mọc cùng lúc với cây lúa non

Trang 26

Tuy nhiên việc khống chế cỏ bằng biện pháp cho ngập nước cũng gặp những trởngại và có thể không kiểm soát được cỏ dại [Reissing và ctv,1993] nếu:

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000] thì:

Mỗi loài cỏ dại thích nghi với môi trường sống nhất định Vì vậy để hạn chế cỏ dạicho cả ruộng lúa và ruộng cây trồng cạn cần phải luân canh lúa nước với cây trồng cạnnhư Ngô, Khoai và nhất là cây họ Đậu

Sau khi thu hoạch lúa, làm đất trồng hoa màu Hột cỏ trong ruộng lúa mọc mầm,sau đó không thích hợp trong ruộng khô cạn và đất thường xuyên xới xáo nên cỏ bị chết.Các hột cỏ trên ruộng cây trồng cạn lại không phát triển được trong ruộng lúa có nước

Vì vậy vụ sau mật độ cỏ giảm rất nhiều

Các biện pháp canh tác có tác dụng trong việc phòng trừ cỏ dại chủ yếu là làm chocây lúa sinh trưởng nhanh, phát triển tốt, để đủ sức cạnh tranh, lấn át cỏ dại

5.2.3 Biện pháp hóa học

5.2.3.1 Định nghĩa thuốc diệt cỏ

Thuốc diệt cỏ là một hóa chất dùng để diệt hoặc ngăn cản sự phát triển của cỏ.Thuốc diệt cỏ có hiệu quả cao nhất khi áp dụng cùng lúc với các phương pháp khác.[Reissing và ctv, 1985]

Trang 27

5.2.3.2 Ưu và khuyết điểm của thuốc diệt cỏ

- Ưu điểm của thuốc diệt cỏ:

+ Hiệu quả diệt cỏ cao và tương đối triệt để, thuốc có phổ tác dụng rộng diệtđược hầu hết các loại cỏ lá hẹp và lá rộng chủ yếu trong ruộng lúa mà lại rất an toàn vớilúa

+ Sử dụng ở thời gian đầu khi mới gieo cấy lúa, diệt cỏ ngay từ khi mới nẩymầm và còn nhỏ trước khi chúng phát triển và cạnh tranh với lúa nên hạn chế tác hại của

- Khuyết điểm của thuốc diệt cỏ:

+ Dùng liên tục một loại thuốc trừ cỏ dẫn đến việc gia tăng cỏ dại, đặc biệtđối với các loài cỏ đa niên khó có thể kiểm soát bằng thuốc diệt cỏ [Reissing và ctv,1993]

+ Dùng nhiều lần một loại thuốc để trừ nhóm cỏ này thì nhóm cỏ khác pháttriển lên Ví dụ: Khi dùng 2,4 D trừ cỏ Lác (Cyperaceae) và cỏ lá rộng đã làm cho cỏ Hòabản (Poaceae) phát triển nhiều hơn [Chinh và Phụng, 2000]

+ Hiệu quả của thuốc trừ cỏ sẽ giảm hoặc mất hẳn khi mưa gió thất thường,biện pháp canh tác không đúng kỹ thuật [Chinh, Tuyền và Trường, 1978]

+ Nếu dùng thuốc không theo nguyên tắc sẽ gây ra những ảnh hưởng nhấtđịnh đến lúa [Benito S.V ,1998]

Trang 28

5.2.3.3 Thời điểm sử dụng thuốc diệt cỏ

Theo Reissing và ctv [1993] có các thời điểm sau:

- Trước khi gieo trồng: Diệt cỏ ở khâu làm đất.

- Tiền nẩy mầm (trước khi hột cỏ mọc): Diệt cỏ trước khi cỏ nẩy mầm, dùng sớm

ngay sau khi làm đất hoặc sau sạ 1 - 5 ngày

- Hậu nẩy mầm (sau khi hột cỏ và lúa mọc): Tác động khi hột cỏ đã mọc thành

cây, thường dùng sau khi gieo cấy lúa từ 10 - 20 ngày, khi cây cỏ được 2 - 4 lá

5.2.3.4 Các đặc tính chủ yếu của thuốc diệt cỏ

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000] thuốc trừ cỏ có các đặctính sau:

- Phương thức tác động của thuốc diệt cỏ:

+ Thuốc diệt cỏ tiếp xúc:

Hình 9: Tác động của thuốc diệt cỏ tiếp xúc

 Chỉ diệt phần cây bị phun thuốc

 Thuốc diệt cỏ tiếp xúc thường có hiệu quả cao nhất đối với các loài cỏ lárộng và chồi của cỏ đa niên

 Thuốc diệt cỏ tiếp xúc không diệt được các loài cỏ đa niên đã trưởngthành

Trang 29

+ Thuốc diệt cỏ lưu dẫn hoặc chuyển vị:

Hình 10: Tác động của thuốc diệt cỏ lưu dẫn

 Thuốc diệt cỏ lưu dẫn di chuyển trong thân cây để diệt những phần không

Trang 30

- Cơ chế tác động của thuốc đối với cỏ:

Khi vào trong cây cỏ thuốc có thể tác động theo nhiều cách để diệt cỏ Qua nghiêncứu phát hiện một số cách tác động sau:

+ Kích thích sự phát triển quá mức của tế bào, làm biến đổi các phản ứngsinh học trong cây cỏ và hủy diệt các điểm sinh trưởng, cây cỏ sẽ chết Nhóm thuốc tácđộng theo cơ chế này là nhóm Phenoxy như 2,4 D, MCPA

+ Ức chế quá trình tổng hợp chất diệp lục: Không có diệp lục cỏ khôngquang hợp được nên cỏ chết Chất ức chế Oxadiazon có trong thuốc trừ cỏ Ronstar

+ Ức chế sự tổng hợp chất lipid: Lipid là một trong 3 thành phần cơ bản cấutạo nên tế bào Thiếu lipid tế bào không được tạo thành, cây cỏ chết Chất ức chế như:Butachlor có trong thuốc Butoxim, Echo, Michelle; Fenoxaprop có trong Whip-SQuinclorac có trong Facet

+ Ức chế sự tổng hợp Aminoacid: Đơn phân của protein, thành phần quantrọng trong tế bào, thiếu nó cây cỏ chết Chất ức chế Pyrazosulfuron có trong Siriuss,Star

- Tính chọn lọc của thuốc trừ cỏ:

Tính chọn lọc của thuốc trừ cỏ tức là khi phun trên ruộng có cả lúa và cỏ thì thuốcchỉ diệt cỏ mà không hại lúa Ở nước ta hiện nay hầu hết các loại thuốc diệt cỏ được sửdụng đều có tính chọn lọc

Tính chọn lọc theo 3 cơ chế:

+ Chọn lọc sinh lý:

Khi phun lên ruộng cả cây lúa và cây cỏ đều hấp thu thuốc Nhưng đối vớicây lúa thì không bị hại Vì trong cây lúa hình thành các chất phân giải hoặc cô lập cácthuốc trừ cỏ khi xâm nhập vào Còn trong cây cỏ thì thuốc phân giải chậm và vận chuyểntrong cây cỏ, nhất là tới các điểm sinh trưởng làm cây cỏ bị hại và chết

Ví dụ: Khi dùng Propamin trong ruộng lúa, năng lực đề kháng của cây lúa

cao hơn nhiều so với Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.) Trong thân cây lúa có một

loại enzym phân giải Propamin Trong thân Cỏ lồng vực tuy có enzym đó nhưng tính

Trang 31

chuyển hóa của enzym trong cây cỏ và cây lúa khác nhau, enzym trong Cỏ lồng vựckhông phân giải được Propamin.

+ Chọn lọc không gian:

Rễ lúa thường sâu hơn rễ cỏ Thuốc phun lên ruộng thường tập trung ở tầngtrên mặt đất, khoảng 1 - 2 cm Nên khả năng tiếp xúc của hột cỏ và rễ cỏ sẽ cao hơn sovới tiếp xúc với rễ cây

Trang 32

Hình 13: Chọn lọc hình thái của thuốc diệt cỏ

Tuy nhiên khả năng chọn lọc cũng khác nhau giữa các loại thuốc Một số thuốc cótính chọn lọc cao không gây hại gì cho lúa, một số thuốc chọn lọc ảnh hưởng đến lúatrong thời gian ngắn sau đó hồi phục lại Khả năng chọn lọc này cũng có tính tương đốinghĩa là nếu sử dụng quáliều hướng dẫn hoặc không đảm bảo theo yêu cầu cần thiết củatừng loại thuốc cũng có thể làm hại lúa

Một số thuốc trừ cỏ không có tính chọn lọc như chất Glyphosate trong các thuốcLyphoxim, Round up, Viphosate diệt hầu hết các loài cây kể cả lúa Vì vậy chỉ phunnhững loại thuốc này cho ruộng lúa trước khi gieo cấy

- Phổ tác dụng của thuốc trừ cỏ:

Phổ tác dụng là số lượng các loài hoặc nhóm cỏ mà thuốc có thể diệt được

Các loại thuốc được chia làm 2 nhóm: phổ tác dụng rộng và phổ tác dụng hẹp

+ Thuốc có phổ tác dụng rộng gồm các chất Oxadiazon, Pretilachlor,Btachlor, Thiobencarb, Propanil là thuốc diệt được cả 3 nhóm cỏ (Hòa bản Poaceae, LácCyperaceae và lá rộng) trong ruộng lúa

+ Thuốc có phổ tác dụng hẹp là thuốc chỉ diệt được 1 hoặc 2 nhóm cỏ trênnhư Fenoxaprop, Quinonclorac, chỉ diệt được cỏ Hòa bản Bensulfuron Methyl,Metsulfuron Methyl, Ethoxy sulfuron, 2,4 D… chỉ diệt cỏ Lác và lá rộng

Ngoài ra còn có một số thuốc tác động ở giai đoạn hột cỏ sắp nẩy mầm hoặc đangnẩy mầm, loại thuốc này thườngdùng sau khi gieo cấy từ 3 - 7 ngày như Butachlor

Trang 33

Có loại thuốc tác động khi hột cỏ đang nẩy mầm hoặc đã nẩy mầm nhưng cây cònnhỏ dưới 2 lá, gọi là thuốc hậu nẩy mầm sớm Chúng là hỗn hợp giữa thuốc tiền nẩy mầm

và hậu nẩy mầm thường dùng sau khi gieo cấy từ 6 - 10 ngày như: Fortene, Butanil

- Độ độc của thuốc diệt cỏ:

Các loại thuốc trừ cỏ cho lúa hiện nay đều có độ độc thấp đối với người và giasúc, các loài động vật thủy sinh và thiên địch trên ruộng lúa Chúng thuộc nhóm độc III

và IV theo quy định của nhà nước

Nguyên nhân chính là do thuốc trừ cỏ tác động vào cỏ là thực vật có cấu tạo và cáchoạt động sinh lý khác với người và các động vật khác Cấu tạo cơ thể người và động vậtkhông có những phần mà thuốc trừ cỏ tác động vào Nhìn chung các thuốc này có thờigian lưu tồn trong đất và môi trường tương đối ngắn khoảng 7 - 15 ngày

Do thuốc trừ cỏ được sử dụng cách xa ngày thu hoạch và độ độc thấp nên thờigian cách ly thường không đề cập đến

5.2.3.5 Sử dụng thuốc diệt cỏ cho lúa theo nguyên tắc 4 đúng

Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Mai Thành Phụng [2000] có các nguyên tắc sử dụngthuốc diệt cỏ sau:

- Chọn loại thuốc (Đúng loại):

Việc chọn loại thuốc diệt cỏ để sử dụng cho ruộng lúa dựa vào một số tiêu chuẩnsau:

+ Hiệu quả trừ cỏ cao, diệt được những loài cỏ chính trong ruộng lúa

+ Có tính chọn lọc cao, an toàn với cây lúa

+ Điều kiện sử dụng dễ dàng, thích hợp với đặc điểm và khả năng canh táccủa từng ruộng

+ Giá cả vừa phải

Trước hết phải quan sát trên ruộng lúa có những loài cỏ gì, loài nào chiếm đa số vàchiều hướng phát triển ra sao? Để chọn loại thuốc có phổ tác dụng thích hợp

Trường hợp trong ruộng có nhiều Cỏ chác (Fimbristylis miliacea L.), Lác rận

Trang 34

Nếu trong ruộng có Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.), Cỏ chỉ (Cynodon dactylon L.), cỏ Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.) mọc nhiều và xu hướng tranh chấp

mạnh với lúa nên chọn thuốc Clincher, Whip-S,

Có một số thuốc như Echo, Cantamil, Butoxim, Nominee, Meco, Pyanchor, Sofit,Sirriuss, Star, có phổ tác dụng rộng, dùng cho nhiều loại ruộng

Cần xem xét thêm điều kiện của ruộng, nhất là mặt bằng và khả năng chủ độngnước để đáp ứng yêu cầu của loại thuốc sử dụng Một số loại thuốc có hiệu quả trừ cỏ cao

và an toàn với lúa thì trên ruộng phải có nước xăm xắp hoặc tháo cạn nước hoặc giữ mựcnước ruộng thích hợp

Ví dụ: Ronstar phun sau khi gieo 2 - 3 ngày lúa còn rất nhỏ, chỗ nào có vũng nướcngập thì lúa có thể bị hại

Cũng cần xem xét thời gian sử dụng thuốc có thuận lợi cho việc bố trí lao độnghay không Có như vậy mới xác định được loại thuốc dùng phù hợp với thời gian trị

Ví dụ: Các loại thuốc tiền nẩy mầm yêu cầu phải phun sớm sau khi gieo sạ từ 1 - 4ngày Nếu không sắp xếp được lao động kịp thời thì phải chọn loại thuốc có thời gian sửdụng muộn hơn

Cuối cùng nên theo dõi giá cả thuốc trên thị trường để chọn loại thuốc thích hợp,

có hiệu quả cao mà lại đỡ tốn chi phí

- Thời gian dùng thuốc (Đúng lúc):

Phải dùng đúng thời gian đã hướng dẫn với từng loại thuốc, tùy theo thuốc đó làloại tác động tiền hay hậu nẩy mầm Không được tự động dùng sớm hoặc muộn hơn sẽgiảm hiệu quả trừ cỏ hoặc có thể làm hại lúa

Khi chuẩn bị dùng thuốc, cần lưu ý xem lúa và cỏ ở tuổi nào, để đảm bảo diệtđược nhiều cỏ nhất mà không hại lúa

Người ta thường đếm số lá của cây và tính số ngày kể từ khi cày bừa đất hoặc khi

sạ hột giống Sau khi sạ 1 - 3 ngày cần dùng các loại thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm để diệt cỏkhi cỏ đang nẩy mầm Thuốc có hiệu lực cao trong trường hợp này là Sofit

Các loại thuốc Butoxius, Echo, Vibuta, Meco hoặc Butanil, Nominee, Star, là

Trang 35

thuốc sau khi cấy hoặc sạ 4 - 10 ngày là tốt Nếu dùng các loại O-K, Ally, Pyanchor,Sunrice, là các loại có tác động hậu nẩy mầm chậm, thì phun sau khi gieo cấy 15 - 25ngày.

Do khí hậu của hai miền Nam Bắc khác nhau Ở phía Bắc dùng thuốc phải dựavào số lá của cả cỏ và lúa, vì trong vụ Đông - Xuân ở phía Bắc lạnh hơn Còn ở phía Namthì có thể dựa vào số ngày sau khi gieo cấy

Ví dụ: Thuốc Zico, dùng sau khi sạ 15 20 ngày (ở miền Nam) hoặc khi lúa có 4

-5 lá (ở miền Bắc)

- Liều lượng và nồng độ thuốc (Đúng liều):

Liều lượng của từng loại thuốc thường được ghi rõ trên bao bì Khi sử dụng cầnđọc kỹ để sử dụng đúng liều lượng Vì trong đó được hướng dẫn rõ về nồng độ - liềulượng từ thấp đến cao trong phạm vi cho phép, không được dùng vượt quá 2 ngưỡng đó,phạm vi này tương đối rộng, phụ thuộc vào thời gian sử dụng, vào số lượng và thànhphần cỏ

Ví dụ: Thuốc trừ cỏ Star 10WP có thể dùng với liều lượng từ 0,15 - 0,25 kg/hecta.Thời gian dùng từ 5 - 10 ngày sau khi gieo cấy Nếu ruộng ít cỏ hoặc phần lớn là cỏ Lác(Cyperaceae) và lá rộng, thời gian dùng sớm từ 5 - 7 ngày thì cần dùng liều lượng 0,15

kg/hecta Nếu ruộng nhiều cỏ như Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.) nếu dùng

muộn từ 7 - 10 ngày thì phải dùng liều cao 0,2 - 0,25 kg/hecta mới có hiệu quả trừ cỏ tốt

Ngoài liều lượng cần chú ý đến nồng độ thuốc tức là lượng thuốc pha trong nước,thường tính bằng ml (cc) hoặc gam (g), pha cho một bình 8 hoặc 10 lít nước

Liều lượng thuốc phun cho một diện tích ruộng thể hiện qua số lượng thuốc phacho 1 bình và số lượng bình cần phun Phải pha đúng lượng thuốc cho một bình và phun

đủ số bình quy định cho một công, một hecta lúa

Nếu pha thuốc đậm đặc mà phun ít nước tuy liều lượng vẫn đảm bảo nhưng dễ hạilúa và không trải đều trên toàn ruộng, chỗ còn sót không phun thuốc cỏ sẽ mọc nhiều.Lượng nước phun trừ cỏ cho lúa sạ hoặc cấy trung bình từ 320 - 400 lít/hecta tương ứng

4 - 5 bình 8 lít cho 1.000 m2 Cũng không nên pha thuốc loãng quá mà phun nhiều nước

Trang 36

- Cách dùng thuốc (Đúng cách):

Thuốc diệt cỏ có 3 dạng hạt, bột hoặc lỏng Bột thấm nước dùng hòa với nước đểphun Thuốc dạng hạt dùng để rải lên ruộng Khi phun hoặc rải thuốc trước hết cần đảmbảo điều kiện nước ruộng theo yêu cầu của từng loại thuốc đã được hướng dẫn trên nhãnthuốc Nếu thuốc dùng để rải thì bắt buộc ruộng phải có nước xăm xắp để thuốc tan đềutrong ruộng Khi phun thuốc trong ngày mà gặp mưa lớn cần giữ lại nước ruộng từ 8 - 10tiếng đồng hồ rồi hãy tháo, nếu tháo nước sớm thuốc sẽ trôi đi

Hình 14: Các dạng thuốc diệt cỏ

Cần có dụng cụ đong đo chính xác lượng thuốc cần pha một bình Đối với thuốcnước thường dùng nắp chai để đong, nắp chai tương đương 5cc Với thuốc bột hòa nước,nếu liều pha cho một bình quá ít như thuốc Star, Siriuss,… chỉ khoảng 5 - 6 g cho 1 bình,

mà chỉ có gói lớn thì hòa số thuốc cần dùng với ít nước thành dung dịch thuốc đậm đặcrồi từ đó chia đều cho số bình cần phun

Ví dụ: Có mảnh ruộng 2.500 m2 cần dùng thuốc trừ cỏ Star 10 WP và phun 10bình loại 8 lít Trước hết pha 50 g thuốc với 10 ly nước, khuấy cho tan đều, cho vào mỗibình một ly nước thuốc

Trang 37

Nếu trộn thuốc bột với đất hoặc phân để rải, trước hết nên trộn thuốc với một ítđất, phân Sau đó lấy số đất, phân này trộn với số còn lại như vậy sẽ đều hơn.

Phun hoặc rải cần phải đều, không nên phun thuốc khi trời nắng nóng quá, đang cógió to hoặc sắp mưa

5.2.3.6 Những vấn đề cần chú ý khi dùng thuốc diệt cỏ

Theo Nguyễn Mạnh Chinh, Mai Thành Phụng [2000] khi sử dụng thuốc cần chú ý:

- Hỗn hợp thuốc:

Thuốc trừ cỏ hỗn hợp nhằm 3 mục đích chính:

+ Mở rộng phổ tác dụng trừ cỏ: hỗn hợp các loại thuốc có phổ tác dụng

khác nhau để có một loại thuốc có phổ tác dụng rộng

Ví dụ: Thuốc Tiller Super diệt cả 3 nhóm cỏ Hòa bản (Poaceae), họ Lác(Cyperaceae) và lá rộng là hỗn hợp của Whip-S đặc trị cỏ Hòa bản với thuốc 2,4 D vàMCPA chuyên trị cỏ Lác và lá rộng

+ Nâng cao hiệu quả diệt cỏ: Do thời gian hột cỏ nẩy mầm không đều nên

phải dùng hỗn hợp 2 loại thuốc có thời gian tác động khác nhau là tiền nẩy mầm, hậu nẩymầm và dùng ở thời gian thích hợp sẽ diệt được nhiều cỏ hơn hiệu quảcao hơn

+ Có thời gian sử dụng thuận lợi: Hỗn hợp thuốc tiền nẩy mầm với hậu nẩy

mầm để có loại thuốc tác động hậu nẩy mầm sớm, thời gian sử dụng không sớm và cũngkhông muộn, thường từ 7 - 10 ngày sau khi gieo sạ Lúc này cho nước vào ruộng để bónphân thúc đợt đầu, cho nước vào ruộng xăm xắp rồi phun thuốc, sau 2 - 3 ngày rải phân,

cỏ chết lúa cũng sinh trưởng nhanh Thời gian này cây lúa đã bén sâu, cứng cáp, ít bị hạibởi thuốc

Với những mục đích trên trong thực tế nhiều người đã tự pha hỗn hợp thuốc trừ

cỏ, như pha lẫn thuốc Whip-S với 2,4 D hoặc Star với Whip-S

Muốn pha hỗn hợp thuốc có hiệu quả cần hiểu rõ đặc điểm của thuốc như tácdụng, thời gian tác động, độ an toàn với lúa Lượng thuốc mỗi loại khi pha chung có thể

ít hơn so với dùng riêng Cần phun bao nhiêu thì pha chung bấy nhiêu và phun hết ngay,không để sang ngày hôm sau Pha hỗn hợp thuốc trừ cỏ lúa phải rất thận trọng Nếu muốn

Trang 38

diện tích hẹp trước, sau khi đạt yêu cầu và có kinh nghiệm thì mới dùng trên diện tíchrộng.

Việc pha hỗn hợp thuốc trừ cỏ với thuốc trừ sâu, trừ bệnh cũng cần phải xem xét

kỹ càng để có hiệu quả và không hại lúa Tuyệt đối không pha chung hoặc phun cácthuốc trừ sâu, trừ bệnh gốc lân hữu cơ và Carbamat trong vòng 7 ngày trước và sau khiphun thuốc diệt cỏ có chất Propamin để tránh làm hại lúa Vì các chất lân hữu cơ vàCarbamate làm chậm sự phân giải Propamin trong cây lúa, làm lúa dễ bị hại

- Thực hiện các biện pháp an toàn:

+ Để đảm bảo an toàn cho người sử dụng thuốc thì khi phun thuốc cần:

 Tránh hít phải bụi thuốc

 Không để thuốc dính vào da, vào mắt

 Không đổ thuốc thừa xuống ao nuôi cá hoặc nguồn nước sinh hoạt

+ Sau khi phun thuốc xong cần phải:

 Rửa kỹ bình trước và sau khi phun để không lẫn phải các thuốc khác còntrong bình, có thể làm hại lúa và cây trồng khác

 Thay quần áo và tắm rửa sạch sẽ

 Cất giữ thuốc nơi kín đáo, xa tầm với của trẻ em, xa chỗ để thực phẩm

5.2.3.7 Những ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ đến lúa

Như đã đề cập ở trên thì thuốc diệt cỏ có tính chọn lọc cao nên khi sử dụng đúngnguyên tắc thì lúa bị ảnh hưởng không đáng kể Còn ngược lại theo [Benito S.V ,1978]nếu:

- Dùng nhiều thuốc diệt cỏ, bụi lúa mọc xòe

Trang 39

- Dùng nhiều thuốc diệt cỏ, lá bị đốm nâu giống như bệnh cháy lá hoặc bệnh gạchnâu, nhìn kỹ sẽ thấy các đốm này hình tròn Có khi lá lúa giống lá hành và những lá mới

ra cuộn lại giống hình ống tròn

A B

Hình 16: Lá lúa bị đốm nâu (A) và giống lá hành (B) khi dùng nhiều thuốc diệt cỏ

- Dùng nhiều thuốc diệt cỏ cây lúa bị lùn

Hình 17: Chiều cao cây lúa khi sử dụng thuốc diệt cỏ

Trang 40

Dùng sai loại thuốc diệt cỏ thì có thể làm chết cây lúa: Thuốc diệt cỏ có thể làmchết cây lúa vì nó ngăn trở sự tổng hợp chất bột hoặc ảnh hưởng bất lợi đến quá trình tạonăng lượng

Hình 18: Cây lúa bị chết khi dùng sai thuốc diệt cỏ

5.2.4 Biện pháp sinh học

Đây là biện pháp đang nghiên cứu, chưa được ứng dụng rộng rãi

Dùng thiên địch của cỏ dại để phòng trừ cỏ dại:

- Dùng sâu ăn cỏ: Sâu Rhinoccillus conscus [Chinh, Tuyền, Trường,1978]

- Dùng vi sinh vật như nấm Theo Dương Văn Chín [2003] sử dụng nấm

Setosphaeria rostrata diệt Cỏ đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.)

Theo Hồ Xuân Thiện [1998], có 6 chủng nấm diệt Cỏ lồng vực (Echinochloa galli L.) và cỏ Đuôi phụng (Leptochloa chinensis L.).

crus-5.2.4.1 Chủng nấm Helminthosporium He_lc

- Chi nấm: Helminthosporium.

- Ký chủ chính: Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli L.)

Ngày đăng: 06/10/2014, 05:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cỏ dại cạnh tranh, ánh sáng, dưỡng chất và ẩm độ với lúa - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 1 Cỏ dại cạnh tranh, ánh sáng, dưỡng chất và ẩm độ với lúa (Trang 12)
Hình 2: Sự hấp thu đạm giữa lúa và cỏ - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 2 Sự hấp thu đạm giữa lúa và cỏ (Trang 13)
Hình 3: Cỏ dại là ký chủ trung gian cho côn trùng và chuột phá hại lúa - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 3 Cỏ dại là ký chủ trung gian cho côn trùng và chuột phá hại lúa (Trang 14)
Bảng 1: Tỷ lệ % năng suất lúa giữa làm cỏ và không làm cỏ Biện pháp - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Bảng 1 Tỷ lệ % năng suất lúa giữa làm cỏ và không làm cỏ Biện pháp (Trang 16)
Bảng 4: Số lượng cỏ và tỷ lệ năng suất lúa Số lượng cỏ trên 1 m 2 Tỷ lệ(%) năng suất lúa - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Bảng 4 Số lượng cỏ và tỷ lệ năng suất lúa Số lượng cỏ trên 1 m 2 Tỷ lệ(%) năng suất lúa (Trang 17)
Bảng  5: Trọng lượng tươi của cỏ và tỷ lệ (%) năng suất lúa - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
ng 5: Trọng lượng tươi của cỏ và tỷ lệ (%) năng suất lúa (Trang 18)
Bảng cho thấy thời gian làm cỏ càng muộn thì năng suất lúa càng giảm. Nếu để cỏ đến khi lúa 3 lá, hầu như không ảnh hưởng gì vì lúc đó cỏ còn nhỏ, sự cạnh tranh giữa lúa và cỏ không đáng kể - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Bảng cho thấy thời gian làm cỏ càng muộn thì năng suất lúa càng giảm. Nếu để cỏ đến khi lúa 3 lá, hầu như không ảnh hưởng gì vì lúc đó cỏ còn nhỏ, sự cạnh tranh giữa lúa và cỏ không đáng kể (Trang 19)
Hình 5: Độ sâu mực nước trên ruộng có tác dụng hạn chế cỏ dại - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 5 Độ sâu mực nước trên ruộng có tác dụng hạn chế cỏ dại (Trang 25)
Hình 9: Tác động của thuốc diệt cỏ tiếp xúc - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 9 Tác động của thuốc diệt cỏ tiếp xúc (Trang 28)
Hình 11: Tác động của thuốc diệt cỏ biệt tính (A) và không biệt tính (B) - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 11 Tác động của thuốc diệt cỏ biệt tính (A) và không biệt tính (B) (Trang 29)
Hình 10: Tác động của thuốc diệt cỏ lưu dẫn - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 10 Tác động của thuốc diệt cỏ lưu dẫn (Trang 29)
Hình 12: Chọn lọc không gian của thuốc diệt cỏ - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 12 Chọn lọc không gian của thuốc diệt cỏ (Trang 31)
Hình 14: Các dạng thuốc diệt cỏ - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 14 Các dạng thuốc diệt cỏ (Trang 36)
Hình 16: Lá lúa bị đốm nâu (A) và giống lá hành (B) khi dùng nhiều thuốc diệt cỏ - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 16 Lá lúa bị đốm nâu (A) và giống lá hành (B) khi dùng nhiều thuốc diệt cỏ (Trang 39)
Hình 17: Chiều cao cây lúa khi sử dụng thuốc diệt cỏ - ĐỀ TÀI điều TRA các LOÀI cỏ dại và ẢNH HƯỞNG của CHÚNG đến cây lúa TRÊN RUỘNG lúa ở QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ cần THƠ
Hình 17 Chiều cao cây lúa khi sử dụng thuốc diệt cỏ (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w