1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình hình lạm phát của việt nam trong giai đoạn 2004-2008

31 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 428 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tỉ lệ lạm phát và các chính sách kinh tế vĩ mô thích ứng của Chính phủ để chống lạm phát cũng được xem như là một trong những vấn đề quan trọng hàngđầu tác động đến nền kinh tế

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Kinh tế học vĩ mô là một môn học nghiên cứu toàn bộ hoạt động của nền kinh tế

Nó giúp chúng ta lý giải được những câu hỏi có liên quan đến đời sống kinh tế củamột quốc gia Chẳng hạn, điều gì quyết định mức sống và tốc độ tăng trưởng củamột đất nước? Những nhân tố nào dẫn đến lạm phát và thất nghiệp? Tại sao nềnkinh tế lại thường xuyên biến động? Chính phủ đóng vai trò trong việc thúc đẩytăng trưởng, kiềm chế lạm phát và ổn định thất nghiệp ở mức hợp lý

Hiện nay, tỉ lệ lạm phát và các chính sách kinh tế vĩ mô thích ứng của Chính phủ

để chống lạm phát cũng được xem như là một trong những vấn đề quan trọng hàngđầu tác động đến nền kinh tế của 1 quốc gia Vì vậy, nhờ có sự hướng dẫn của côgiáo cùng với thời gian học tập, tim hiểu về tình hình lạm phát của Việt Namtrong giai đoạn 2004-2008, Bài tập lớn KTVM đã được hoàn thành với nội dung:

- Chương 1: Lạm phát và tác hại của lạm phát

- Chương 2: Đánh giá mức độ lạm phát ở Việt Nam thời kỳ 2004-2008

Sinh viên:

Hoàng Thị Thương

Trang 2

CHƯƠNG 1: LẠM PHÁT VÀ TÁC HẠI CỦA LẠM PHÁT

A Giới thiệu môn học, vị trí của môn học trong ch ương trình học đại học:

I Giới thiệu môn học:

1 Khái niệm:

- Kinh tế học là môn học nghiên cứu hoạt động của con người trong sản xuất vàtiêu thụ hàng hoá Kinh tế học có quan hệ chặt chẽ với nhiều môn khoa học xã hộikhác như: Triết học, kinh tế chính trị học, sử học, xã hội học…`

- Kinh tế học thường được chia làm hai phân ngành lớn: Kinh tế vĩ mô và kinh tế

vi mô Kinh tế vĩ mô nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộng lớn của nềnkinh tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động giá cả và việc làm của cả nước; cáncân thanh toán và tỷ giá hối đoái…Trong khi đó, Kinh tế vi mô lại nghiên cứu sựhoạt động của các tế bào trong nền kinh tế là các doanh nghiệp hoặc gia đình,nghiên cứu những yếu tố quyết định giá cả trong các thị trường riêng lẻ

2 Hệ thống kinh tế vĩ mô:

Có nhiều cách mô tả hoạt động của nền kinh tế Theo cách tiếp cận hệ thống, nềnkinh tế được xem như là một hệ thống được gọi là hệ thống vĩ mô Hệ thống nàyđược đặc trưng bởi 3 yếu tố: Đầu vào, đầu ra, và hộp đen kinh tế vĩ mô

* Tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:

- Tổng cung bao gồm tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các doanh nghiệp sẽsản xuất và bán ra trong thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất và chi phísản xuát đã cho

- Tổng cầu là tổng khối lượng hàng hoá và dịch vụ mà các tác nhân trong nền kinh

tế sẽ sử dụng tương ứng với mức giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế khác đãcho

3 Mục tiêu và công cụ trong kinh tế vĩ mô:

* Các mục tiêu kinh tế vĩ mô:

Trang 3

- Mục tiêu sản lượng: đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sảnlượng tiềm năng, tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc.

- Mục tiêu việc làm: tạo được nhiều việc làm tốt, hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp, và duytrì ở mức thất nghiệp tự nhiên

- Mục tiêu ổn định giá cả: hạ thấp và kiềm chế lạm phát trong điều kiện thị trường

tự do

- Mục tiêu kinh tế đối ngoại: ổn định tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân thanh toán

- Phân phối công bằng: một số nước coi mục tiêu phân phối công bằng là mộttrong các mục tiêu quan trọng

* Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu:

- Chính sách tài khoá: chính sách này nhằm điều chỉnh thu nhập và chi tiêu củachính phủ để hướng nền kinh tế vào một mức sản lượng và việc làm mong muốn

- Chính sách tiền tệ: Chủ yếu nhằm tác động đđến đầu tư tư nhân, hướng nền kinh tếvào một mức sản lượng và việc làm mong muốn Chính sách tiền tệ có tác độngquan trọng đến GNP thực tế về mặt ngắn hạn, song do tác động đến đầu tư, nên nócũng ảnh hưởng lớn đến GNP tiềm năng về mặt dài hạn

- Chính sách thu nhập: Bao gồm hàng loạt các biện pháp mà Chính phủ sử dụngnhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát

- Chính sách kinh tế đối ngoại: trong các nước thị trường mở là nhằm ổn định tỷgiá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhận được

4 Một số khái niệm và mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản:

* Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế:

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ màmột quốc gia sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định Tổng sản phẩm quốc dân làthước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế

- Tổng sản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa

- Tổng sản phẩm tính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế

* Chu kỳ kinh tế và sự thiếu hụt sản lượng:

- Chu kỳ kinh tế là sự giao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tăng lêncủa sản lượng tiềm năng

Trang 4

- Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụt sảnlượng

- Nghiên cứu sự thiếu hụt sản lượng giúp cho việc tìm ra những biện pháp chốnglại chu kỳ kinh tế- nhằm ổn định kinh tế

* Tăng trưởng và thất nghiệp:

Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhânquan trọng là đđã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động Như vậy, tăng trưởng nhanhthì thất nghiệp có xu hướng giảm đi

* Tăng trưởng và lạm phát:

Muốn giảm lạm phát trong thời kì ngắn thì các chính sách kinh tế đều hướng vàoviệc thắt chặt chi tiêu, giảm tổng cầu và do đó nền kinh tế phải trải qua một thời kỳđình đốn, suy thoái và thất nghiệp

II Vị trí của môn học:

- Trong chương trình ĐH, kinh tế vĩ mô là môn học rất quan trọng, nó cung cấpcho sinh viên những kiến thức cơ bản giúp SV hiểu được một số vấn đề kinh tế cơbản như: Tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu hàng hoá và

tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phối thu nhập giưa các thánh viên trong xãhội

- Môn học này, còn cung cấp kiến thức giúp sinh viên hiểu biết sâu sắc những hoạtđộng mang tính khách quan của cả hệ thống kinh tế

B.Phân tích các vấn đề về lạm phát:khái niệm, cách tính tỉ lệ lạm phát, phân loại lạm phát, tác hại của lạm phát.

Trang 5

1 Khái niệm:

1.1 Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung

- Điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hoá và dịch vụ đồng thờiphải tăng lên theo cùng một tỉ lệ mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Một nềnkinh tế vẫn có thể phải trải qua lạm phát khi giá cả của một số hàng hoá giảm,nếunhư giá cả của các hàng hoá và dịch vụ khác tăng đủ mạnh

- Lạm phát cũng có thể được ĐN là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nộitệ

- Trong bối cảnh lạm phát , thì một đv tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng íthàng hoá và dịch vụ hơn

- Một điều quan trọng mà chúng ta cần nhận thức được là lạm phát không chỉ đơnthuần là sự gia tăng cảu mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá

* Giảm phát: diễn ra khi mức giá chung liên tục giảm Khi đó sức mua trong nướccủa đồng nội tệ liên tục tăng

1.2 Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số lạm phát:

D= 100 %

Pr

GN GNPn

* chỉ số điều chỉnh D: Đo lường mức giá trung bình của tất cả các hàng hoá ,dịch

vụ được tính vào GDP

- thông thường người ta thay thế D bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI hoặc chỉ số bánbuôn PPI.CPI phản ánh sự biến động giá cả của 1 giỏ hàng hoá và dịch vụ tiêu biểucho cơ cấu tiêu dùng của xã hội:

CPI=

1

.

n p i

PPI: Phản ánh sự biến động giá cả đầu vào có cách tính tương tự CPI

2.Cách tính tỉ lệ lạm phát:

Các nhà thống kê kinh tế sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ lạm phát được tính bằng % thay đổicủa mức giá chung Tỉ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính theo CT:

Trang 6

pt:mức giá của thời kì t

pt1:mức giá của thời kì trước đó

Người ta thường sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP(DGDP)và chỉ số giá tiêudùng(CPI) để đo lường nức giá chung

Tuy nhiên,nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phát đến mức sống,thì rõràng chỉ số giá tiêu dùng tỏ ra thích hợp hơn

3 Phân loại lạm phát:

3.1 Chúng ta sẽ phân loại lạm phát theo mức độ của tỉ lệ lạm phát

Theo tiêu thức này các nhà KT thường phân biệt 3 loại lạm phát : Lạm phát vừaphải,lạm phát phi mã và siêu lạm phát

* Lạm phát vừa phải: Được đặc trưng bởi giá cả tăng chậm và có thể dự đoán đượcđối với các nước đang phát triển Lạm phát ở mức 1 con số thường được coi là lạmphát vừa phải,có tỉ lệ lạm phát dưới 10% /1 năm.Đó là mức lạm phát mà binhthường nền KT nào cũng phải trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế

* Lạm phát phi mã: Lạm phát trong phạm vi 2 con số hoặc 3 con số 1 năm thưòngđược gọi là lạm phát phi mã Việt Nam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế

kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tể thị trường đều phải đối mặt với lạm phátphi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách

Nhìn chung lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biếndạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền bị mất giá rất nhanh, chonên mọi người chỉ gĩư lượng tiền tối thiểu vưà đủ cho các giao dịch hàng ngày

* Siêu lạm phát: Là trường hợp lạm phát đặc biệt cao

Định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế người Mỹ PhiLipCagan đưa ra

là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên

-Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát Thứ nhất các hiện tượng nàychỉ xuất hiện trong các hình thái sử dụng tiền pháp định

Trang 7

- Thứ 2 ,nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sauchiến tranh,nội chiến hoặc cm,do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ.

3.2 Nhiều nhà kinh tế dựa vào 3 loại lạm phát trên kết hợp với độ dài thời gian lạmphát để chia lạm phát ở các nước này thành 3 loại:

* Lạm phát kinh niên: Thường kéo dài trên 3 năm với tỉ lệ lạm phát đến 50% 1năm

* Lạm phát nghiêm trọng : Thường kéo dài trên 3 năm , với tỷ lệ lạm phát trên50% 1 năm

* Siêu lạm phát : Kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% 1 năm

4 Tác hại của lạm phát:

Tác hại chủ yếu của lạm phát không phải ở chỗ giá cả tăng lên mà ở chỗ giá cảtương đối dã thay đổi Những tác hại đó là:

- Phân phối lại thu nhập và của cải 1 cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân , tập đoàn

và các giai tầng xã hội , đặc biệt đối với những ai giữ nhiều tài sản có giá trị danhnghĩa cố định

- Có những doanh nghiệp ,nghành ngề có thể “phất lên” và trái lại có những doanhnghiệp và nghành nghề suy sụp, thậm chí phải chuyển hướng sản xuất kinh doanh

- Tác hại của lạm phát được đo bởi sự phản ứng mạnh mẽ của tầng lớp dân cư( hậuquả tâm lí xã hội ) thông qua các cuộc điều tra xã hội học

Để hiểu rõ hơn về tác hại của lạm phát cần chia chúng thành hai loại: Lạm phátthấy trước và lạm phát không thấy trước

* Lạm phát thấy trước: Còn gọi là lạm phát dự kiến Mọi người đã dự tính kháchính xác sự tăng giá đều đặn của nó Loại này ít gây tổn hại cho nền kinh tế màgây ra những phiền toái đòi hỏi các hoạt động giao dịch phải thường xuyên dượcđiều chỉnh( điều chỉnh các thông tin kinh tế,chỉ số hoá các hợp đồng mua, bán ,tiềnlương…)

_ Thứ nhất :Lạm phát hoạt động giống như một loại thuế đánh vào những ngườigiữ tiền và được gọi là thuế lạm phát Tuy nhiên ,chúng ta cần thận trọng phân biệtthuế lạm phát với thuế đúc tiền

- Thứ 2: Lạm phát gây ra chi phí thực đơn

Trang 8

- Thứ 3: Lạm phát có thể tạo ra những thay đổi không mong muốn trong giá tươngđối.

- Thứ 4: Lạm phát có thể làm thay đổi nghíã vụ nộp thuế của các cá nhân

* Lạm phát không thấy trước: Còn gọi là lạm phát không dự kiến được Con ngườiluôn bị bất ngờ về tốc độ của nó Nó không những gây ra sự phiền toái (không hiệuquả) như loại trên mà còn tác động đến việc phân phối lại của cải…

- Lạm phát cao thường có xu hướng biến động mạnh và khó dự đoán trước,gây ranhững bất định cho hoạt động tiết kiệm và đầu tư,và do đó không có lợi cho tăngtrưởng kinh tế dài hạn Chính vì vậy , phần lớn các chính phủ thường có mục tiêu

ổn định lạm phát ở mức thấp

C.Phân Tích Các Chính Sách KT Vĩ Mô Chống Lạm Phát

* Chính sách tài chính, tiền tệ là công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô, hay nóirộng ra, công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm chính sách tài chính, chínhsách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại, giúp việc điều hoạt động kinh tế vĩ mô

- Trong đó chính sách tài chính liên quan tới thuế và chi tiêu chính phủ, còn chínhsách tiền tệ chú trọng tới cung tiền ( tiền cơ bản cộng với tiền kí gửi theo yêu cầucủa ngân hàng thương mại) và lãi suất bao gồm năm mặt quan trọng nhất đó làchính sách cung ứng tiền, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng, chính sách ngoạihối và chính sách đối với ngân sách nhà nước )

- Chính sách tài chính, tiền tệ được coi là chính sách của chính sách, mỗi bộ phậncủa chính sách lại là hệ thống của nhiều chính sách khác nhau Hai chính sách nàytồn tại độc lập và bổ sung hỗ trợ cho nhau Chính sách tài chính, tiền tệ tác độngnhiều tới đời sống xã hội và hoạt động kinh tế của quốc gia, chúng thường đượcchính phủ các nước phát triển sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu về tăng trưởngsản lượng, việc làm và ổn định giá cả

- Khi có lạm phát cao chính phủ các nước phát triển thường tăng lãi suất, thu hẹptín dụng ngân hàng, đặt thuế suất cao hơn, giảm chi tiêu chính phủ và thậm chí cònkhốn chế tiền lương và giá, nhằm giảm tổng chi tiêu

Trang 9

- Trong lịch sử của mình các nước trên thế giới đều phải trải qua lạm phát vớinhững mức độ khác nhau Nhưng mỗi nước lại có những đặc điểm riêng biệt nênlạm phát ở mỗi nước lại mang tính chất trầm trọng và phức tạp khác nhau Để thoátkhỏi lạm phát, chiến lược chống lạm phát của mỗi quốc gia không thể không xétđến những đặc điểm riêng biệt của mình Giải pháp chung được lựa chọn là:

* Đối với mọi cuộc siêu lạm phát và lạm phát phi mã,hầu như đều gắn chặt với sựtăng trưởng nhanh chóng về tiền tệ,có mức độ thâm hụt cao ngày càng lớn về ngânsách và có tốc độ tăng lương danh nghĩa cao

- Vì vây,giảm mạnh mẽ tốc độ tăng cung tiền, cắt giảm mạnh mẽ chi tiêu ngânsách và kiểm soát có hiệu quả việc tăng lương danh nghĩa, chắc chắn sẽ chặn đứng

* Đối với lạm phát vừa phải, kiềm chế và đẩy từ từ xuống mức thấp hơn cũng đòihỏi áp dụng các chính sách trên Tuy nhiên,vì biện pháp trên kéo theo sự suy thoái

và thất nghiệp-1 cái giá đắt- nên việc kiểm soátchính sách tài khoá và chính sáchtiền tệ trở nên phức tạp và đòi hỏi phải thận trọng

Đặc biệt đối với các nước đang phát triển,không chỉ cần kiềm chế lạm phát mà đòihỏi có sự tăng trưởng nhanh Trong điều kiện đó, việc kiểm soát chặt chẽ các chínhsách tài khoá và tiền tệ vẫn là những biện pháp cần thiết nhưng cần có sự phốihợp ,tính toán ,tỉ mỉ với mức thận trọng cao hơn

- Về lâu dài, ở các nước này chăm lo mở rộng sản lượng tiềm năng bằng các nguồnvốn trong và ngoài nước cũng là một trong những hướng quan trọng nhất để đảmbảo vừa nâng cao sản lượng ,mức sống , vừa ổn định giá cả một cách bền vững

Trang 10

- Các quốc gia thường chấp nhận lạm phát ở mức thấp và xử lý ảnh hưởng của nóbằng việc chỉ số hoá các yếu tố chi phí như tiền lương, lãi suất và vật tư…Đó làcách làm cho sự thiệt hại của lạm phát là it nhất

D.

1 Trình bày ý nghĩa của việc xác định tỷ lệ lạm phát

- Chỉ số giá tiêu dùng(CPI): Đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hoá và dịch

vụ mà người tiêu dùng điển hình mua

- Chỉ số giá tiêu dùng là 1 chỉ tiêu tương đối phản ánh xu thế và mức độ biến độngcủa giá bán lẻ hàng hoá và dịch vụdùng trong sinh hoạt dân cư và hộ gia đình vìvậy nó được dùng để theo dõi thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian

* Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng:

1.1 Chọn năm cơ sở và xác định giỏ hàng hoá cho năm cơ sở(qt i)

Trong đó: t: biểu thị năm hay thời kỳ thứ t

t=0 ở năm cơ sở,i:dạng viết gọn của mặt hàng tiêu dùng thứ i trong giỏhàng cơ sở

1.2 Xác định giá của từng mặt hàng trong giỏ hàng cố định cho các năm( pt i)

1.3 Tính chi phí mua giỏ hàng cố định theo giá thay đổi ở các năm

Chi phí giỏ hàng hoá ở năm t. 0

t p q

1.4 Tính chỉ số giá tiêu dùng cho các năm:

Sau khi có số liệu về chi phí cho giỏ hàng hoá của từng năm ,chúng ta có thể tính

Trang 11

* Vậy ý nghĩa của việc xác định tỷ lệ lạm phát :ta sẽ tính được chỉ số giá tiêudùng(CPI) của giỏ hàng của thời kì nghiên cứu và trước đó.

- Tính được mức giá chung CPI là để so sánh giả trị của đồng tiền đã thay đổi nhưthế nào qua thời gian khi xem xét một chi tiêu được đánh giá bằng đồng trong quákhứ và hiện tại

- Cho thấy tốc độ tăng giá và tăng lương :

- Trên thế giới có những điều luật và hợp đồng tư nhân dung chi số CPI để điềuchỉnh ảnh hưởng của lạm phát Tuy nhiên, ở Việt Nam việc điều chỉnh các biếnkinh tế để loại trừ ảnh hưởng của lạm phát chưa được áp dụng phổ biến trongnhiều lĩnh vực

Qua đó thấy được quy mô và xu hướng của lạm phát

2 Ý nghĩa của việc thực hiện các chính sách chống lạm phát:

- Nếu không kiềm chế được lạm phát, chẳng những sẽ ảnh hưởng đến phát triểnsản xuất và đời sống của nhân dân, đến ổn định kinh tế vĩ mô mà còn ảnh hưởngđến tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn, việc làm cũng giảm sút, môi trườngđầu tư kinh doanh cũng sẽ trở nên xấu hơn Nói kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưutiên hàng đầu, có nghĩa là không chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng đã đặt ra mà phảitập trung để kiềm chế bằng được lạm phát, phấn đấu bảo đảm tốc độ tăng giá giảmdần

- Tỉ lệ lạm phát cao đã đưa đến rất nhiều tác hại với đời sống kinh tế xã hội và điêùhành kinh tế Tuy nhiên, đối với đặc thù của Việt Nam thì 1 số hệ quả nổi bật nhưsau:

Trang 12

* Ảnh hưởng tiêu cực đối với đời sống kinh tế xã hội Mức lạm phát cao,đã tácđộng xấu tới đời sống xã hội và niềm tin của người dân đối với điều hành nền kinh

tế Việt Nam Đặc biệt, tốc độ tăng giá lương thực liên tục tăng cao theo thời gian.Điều này , tác động tới khu vực hưởng lương ngân sách và người có thu nhập thấp

Hệ quả là chi thường xuyên cho lương từ ngân sách sẽ phải lên liên tục để đảm bảothu nhập thực tế và tỉ lệ đói nghèo sẽ cao hơn ở khu vực thành thị và nông thôn.Không chỉ vậy, việc phá vỡ vòng xoáy thu nhập và lạm phát sẽ ngày càng trở nênkhó khăn hơn trong quá trình phát triển

- Các mối quan hệ cân bằng trong nền kinh tế đang bị ảnh hưởng, đặc biệt là đốivới kinh tế đối ngoại Thâm hụt thương mại gia tăng rất nhanh qua các năm đạtmức báo động như 12 tỷ USD (16%GDP) năm 2007 và dự kiến còn cao hơn nữa

17 tỷ USD (20%GDP) trong năm 2008 là một vấn đề đáng báo động

- Dòng chảy quá lớn của vốn bên ngoài chảy vào trong thời gian quá ngắn gây rakhông chỉ sức ép đối với cung tiền mà còn tác động đến phân bố và biến dạngnguồn lực quốc gia tại các TTCK và bất động sản

- Ảnh hưởng đến uy tín quốc tế: Hiện nay tác động tiêu cực của lạm phát vẫn đượccoi như trong tầm kiểm soát và Việt Nam vẫn là địa điểm thu hút vốn đầu tư quốc

tế, đặc biệt sau sự kiện gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO năm 2007.Song trong dài hạn, nếu không giảm được mức lạm phát cao thì khi những bất ổnkinh tế vĩ mô xảy ra do thất bại trong điều hành sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đánhgiá của thế giới đối với không chỉ kinh tế mà còn các lĩnh vực khác của đời sống

xã hội như văn hoá…

Chương 2: Đánh giá mức độ lạm phát của Việt Nam thời kỳ 2004-2008

A Nhận xét chung tình hình kinh tế xã hội Việt Nam trong giai đoạn 2008:

Trong giai đoạn 2004-2008 nước ta có thuận lợi là nước ta đổi mới được hơn

20 năm và hội nhập quốc tế, thế và lực của nước ta cũng như kinh nghiệm quản lýcủa nước ta đã tăng lên đáng kể Đây là thuận lợi đối với nước ta để thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, nước ta cũng gặp rất nhiều khó khănnhư giá cả của nhiều mặt hàng tăng nhanh ảnh hưởng đến nền kinh tế nước ta như

Trang 13

xăng dầu, sắt thép, phân bón…, thiên tai dịch bệnh tiếp tục xảy ra trên diện rộng.Hơn nữa, còn có sự chống phá của các đối tượng thù địch đang nhòm ngó nước talàm cho quá trính xây dựng đất nước tiến lên XHCN của nước ta gặp khó khăn.

I Những thành tựu:

1 Tình hình kinh tế:

Trong giai đoạn 2004-2008 nước ta có nền kinh tế tăng trưởng khá với lạm pháttương đối cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá

1.1: Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ khá cao vượt qua thời kỳ suy giảm về tốc

độ tăng trưởng, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Năm 2004, tăng trưởng kinh tế GDP khá và ổn định, năm sau cao hơn năm trướcđạt 7,6% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, từng bước gắn với thịtrường trong nước và xuất khẩu, giá trị công nghiệp tăng 15,6%, trong đó giá trịtăng thêm đạt 10,6%, cao nhất từ nhiều năm nay đã góp phần vào tăng trưởngchung của nền kinh tế

- Năm 2005, tăng trưởng GDP đạt từ 7% Trong đó, nông nghiệp tăng 3,5%- 9%,công nghiệp và xây dựng tăng từ 7,5%, dịch vụ 7,8%, xuất khẩu phát triển mạnh,kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đầu năm 48,6 tỷ USD tăng 39% so với cùng kỳ nămtrước

- Năm 2006, tổng sản phẩm trong nước GDP đạt 8,2%( kế hoạch là 8%), GDP bìnhquân đầu người đạt 720 USD/ năm.; giá trị tăng thêm của nghành nông nghiệp, lâmnghiệp và thuỷ sản là 3,4%, công nghiệp và xây dựng là 10,4%, dịch vụ 8,2%, tổngkim nghạch xuất khẩu tăng 20%

- Năm 2007, tăng trưởng GDP tiếp tục giữ vững bình quân thu nhập 835USD/người/năm

- Năm 2008, do những biến động không thuận lợi của kinh tế thế giới, những khókhăn trong nước và những hạn chế yếu kém trong việc chỉ đạo điều hành đã ảnhhưởng xấu đến sản xuất và đời sống đe doạ nghiêm trọng ổn định khinh tế vĩ mô

Trang 14

vào cuối năm 2007 Nên duy trì ở mức tăng trưởng khá, lạm phát cao, tăng trưởngGDP bình quân đầu người ước đạt 1000USD/người/tháng.

1.2: Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:

- Về cơ cấu nghành, tăng dần tỷ trọng về công nghiệp và xây dựng GDP tăng

- Về cơ cấu vùng có bước điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từngvùng; các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu kinh tế và vùng chuyênmôn hoá cây trồng, vật nuôi đang phát triển khá nhanh, tuy có xảy ra một số dịchbệnh nhưng vẫn đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế

- Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với chuyển dịch cơ cấukinh tế theo hướng tăng tỷ trọng lao động trong nghành công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ, và giảm dần tỷ trọng trong nghành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồngthuỷ sản Tỷ trọng đã qua đào tạo tăng lên đáng kể

- Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiếm năngcủa các thành phần kinh tế và đan xen hình thức sở hữu Khu vực kinh tế nhà nướcđang được tổ chức lại, đổi mới chi phối vào nhiều nghành then chốt và được tậptrung chủ yếu của nền kinh tế Kinh tế tư nhân phát triển khá nhanh, hoạt động cóhiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế- xã hội,nhất là giải quyết việc làm và nâng cao mức sống của dân cư Kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng cao, là cầu nối quan trọng với thế giới vềchuyển giao công nghệ, ngoại thương với quốc tế

- Do đầu tư phát triển trực tiếp làm tăng tài sản cố định, tài sản lưu động, tài sản trítuệ và số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời góp phần quantrọng vào các mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao mức sống dân cư và mặt bằng dântrí, bảo vệ môi trường…Vì vậy, trong nhiều năm qua đã có nhiều chính sách vàgiải pháp khơi dậy nguồn lực trong và ngoài nước để huy động vốn đầu tư pháttriển

2 Đời sống dân cư, văn hoá, giáo dục, y tế:

- Đời sống các tầng lớp dân cư tiếp tục được cải thiện, sư nghiệp văn hoá giáo dục,chăm sóc sức khoẻ dân cư và một số lĩnh vực khác có những tiến bộ đáng kể Do

Trang 15

tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc điều chỉnh mức lương tối thiểu trong các năm từnăm 2004-2008 cùng với việc thực hiện nhiều chương trình tạo việc làm, phát triểnnông nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo…nên đời sống dân cư ở cả thành thị

và nông thôn đã được cải thiện đáng kể,

- Sự nghiệp văn hoá giáo dục đã có nhiều tién bộ, chất lượng dạy nghề có nhữngchuyển biến tích cực, bước đầu đã hình thành mạng lưới dạy nghề cho lao độngnông thôn, thanh niên lao động thiểu số, người tàn tật, gắn dạy nghề với xoá đóigiảm nghèo Đầu tư cho giáo dục tăng lên đáng kể

- Công tác y tế chăm lo sức khoẻ cộng đồng không ngừng được mở rộng mạng lướidịch vụ Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em đã giảm đáng kể

- Các hoạt động văn hoá thông tin triển khai tương đối rộng khắp, nhất là phongtrào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư Việc bảo tồn tônvinh, văn hoá truyền thống, nhất là văn hoá truyền thống của các đồng bào dân tộc

- Một số tệ nạn xã hội vẫn chưa được chặn đứng

- Tình trạng ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn và tai nạn giao thông vẫn còntiếp tục xảy ra nghiêm trọng

B.thu thập và trình bày các số liệu về biến động chỉ số giá cả, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam thời kỳ 2004-2008:

1

Biến đ ộng chỉ số giá cả :

Bảng tình hình lạm phát ở Việt Nam

Ngày đăng: 06/10/2014, 02:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tốc độ tăng cung tiền M2 qua các năm - tình hình lạm phát của việt nam trong giai đoạn 2004-2008
Bảng t ốc độ tăng cung tiền M2 qua các năm (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w