Nhất là khiViệt Nam đã là một thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO, để dũngcảm đối mặt với những thách thức mới cần có những giải pháp của Chính phủ mớimong hoà nhịp với thị tr
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trước đây khi nhắc đến Việt Nam người ta nghĩ ngay đến một đất nước nhỏ bénằm trên bán đảo Đông Dương, mật độ dân số đông nhất nhì thế giới, nền kinh tếlạc hậu do xuất phát điểm của chúng ta quá thấp Nhưng giờ đã khác xưa, chỉ trongvòng 20 năm đổi mới cái đất nước nhỏ bé ấy đã và đang thay da đổi thịt từng ngày,
từ một nước đói kém lương thực mong viện trợ từ nước ngoài trở thành nước xuấtkhẩu gạo đứng nhất nhì thế giới, đời sống của nhân dân tăng lên rõ rệt Việt Namđang đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp nướcngoài đã biết đến Việt Nam như một điểm sáng đầy hấp dẫn Những thành quả trên
là sự đóng góp, lao động không ngừng của nhân dân Việt Nam và sự lãnh đạo tàitình của Đảng và Nhà nước ta
Trong nền kinh tế thị trường như ở nước ta, sự quản lý của Nhà nước tới cáchoạt động kinh tế ở trong nước cũng như ngoài nước là rất quan trọng Đây là quátrình đòi hỏi một sự kết hợp hoàn hảo giữa Khoa học và Nghệ thuật Nhất là khiViệt Nam đã là một thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO, để dũngcảm đối mặt với những thách thức mới cần có những giải pháp của Chính phủ mớimong hoà nhịp với thị trường thế giới sôi động và đầy những biến cố như hiện nay.Việt Nam phải nhanh chóng chớp lấy những cơ hội và phải tạo ra một thị trườngcạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước, thu hút đầu
tư, mở rộng thị trường, đưa nền kinh tế đạt đến tốc độ tăng trưởng cao và bềnvững Nhưng cùng với đó nhất thiết phải bảo vệ môi trường, chống phân hoá giàunghèo, chống lạm phát, giảm tỉ lệ thất nghiệp Để thực hiện được điều đó Chínhphủ phải làm những gì? Và sử dụng những công cụ gì? Khi nghiên cứu môn Kinh
tế vĩ mô chúng ta sẽ trả lời được những câu hỏi đó
Để tìm hiểu về môn học Kinh tế vĩ mô em được giao đề tài:
Tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2002-2007?
Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO?
Bao gồm 2 chương:
Chương 1: Nền kinh tế vĩ mô với chỉ tiêu xuất nhập khẩu
Chương 2: Tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn
2002 – 2007
Trang 2Chương 1: Nền kinh tế vĩ mô với chỉ tiêu xuất nhập khẩu
a Giới thiệu môn học, vị trí môn học trong chương trình đại học.
Kinh tế học là môn học nghiên cứu hoạt động của con người trong sản xuất vàtiêu thụ hàng hoá Kinh tế học được chia thành hai phân ngành lớn: Kinh tế vi mô
và Kinh tế vĩ mô Kinh tế vĩ mô nghiên cứu hoạt động của toàn bộ tổng thể rộnglớn của nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, sự biến động của giá cả và việc làmcủa cả nước, cán cân thanh toán và tỷ giá hối đoái… Trong khi đó Kinh tế vi môlại nghiên cứu sự hoạt động của các tế bào trong nền kinh tế là các doanh nghiệphoặc gia đình, nghiên cứu những yếu tố quyết định giá cả trong các thị trườngriêng lẻ…
Kinh tế học vĩ mô cho chúng ta cách nhìn toàn diện về bức tranh kinh tế củamột quốc gia Nếu kinh tế học vi mô xem xét các hoạt động của các doanh nghiệp
tư nhân và người tiêu dùng thì kinh tế học vĩ mô quan tâm đến toàn bộ xu hướngcủa nền kinh tế như là: mức độ sử dụng lao động, sự tăng trưởng kinh tế, cán cânthanh toán và lạm phát…
Chúng ta hãy hình dung, tốc độ của một động cơ hoạt động nhanh hay chậmphụ thuộc vào bộ phận cung cấp nhiên liệu, cũng giống như vậy kinh tế vĩ mô chịu
sự ảnh hưởng và chi phối của chính sách tiền tệ - kiểm soát việc cung tiền của mộtquốc gia, chính sách tài khoá - kiểm soát, điều chỉnh thu chi của chính phủ Sựkiểm soát toàn bộ nền kinh tế là chủ yếu trong tay của Ngân hàng Trung ương vàChính phủ bới vì họ kiểm soát tiền - bộ phận cung cấp nhiên liệu cho nền kinh tếhoạt động bình thường, ổn định và điều khiển nền kinh tế đi đúng đến mục tiêu đề
ra Cũng giống như người lái xe sử dụng chân ga để tăng hoặc giảm tốc độ của xeChính phủ sử dụng chính sách tài khoá thông qua hai phương tiện là thuế T và chitiêu Chính phủ G để kiềm chế lạm phát do tốc độ tăng trưởng kinh tế quá nhanhChính phủ sẽ quyết định tăng thuế T và giảm chi tiêu G, còn khi nền kinh tế lâm
Trang 3vào tình trạng suy thoái, tỉ lệ thất nghiệp cao phải thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vàgiảm tỉ lệ thất nghiệp bằng cách giảm thuế T hoặc tăng chi tiêu G.
Môn kinh tế vĩ mô là một môn học quan trọng trong hệ thống các môn họctrong chương trình đại học có thể nói là không thể thiếu được, nó có mối quan hệchặt chẽ với nhiều môn học khác Kinh tế vĩ mô còn là nền móng hay bước đệm đểsinh viên có thể tiếp thu, trau dồi các môn học khác Nó cung cấp cho sinh viênnhững kiến thức tổng quát về nền kinh tế, những giải pháp và phương thức quản lýđiều hành nền kinh tế của Chính phủ Qua đó môn Kinh tế vĩ mô sẽ trang bị chosinh viên hành trang để tự tin bước vào cuộc sống xã hội sau này
Môn Kinh tế vĩ mô bao gồm các chương quan trọng sau:
- Tổng sản phẩm và thu nhập quốc dân
-Tổng cầu và chính sách tài khoá
-Tiền tệ và chính sách tiền tệ
-Tổng cung và chi kỳ kinh doanh
-Lạm phát và thất nghiệp
-Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở
b.Giới thiệu chung về nền kinh tế từ sau đổi mới đến nay.
Quá trình Đổi Mới về kinh tế
đường nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa
kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là Khoán 10)
Trang 4 24 Tháng Năm, 1988: 19 tỉnh miền Bắc đói to Chính quyền chính thức yêucầu Liên Hiệp Quốc viện trợ nhân đạo khẩn cấp
để tăng gia sản xuất
tiếp tục Đổi mới theo con đường đã chọn và vẫn thực hiện chủ nghĩa xã hội
thức chuyển ngân hàng từ một cấp sang hai cấp
mại Thế giới
Thành tựu:
Chỉ một năm sau khi thực hiện Đổi Mới, Việt Nam từ một nước thiếu đói đã
phát phi mã đã được chặn đứng
Từ thập niên 1990, làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu đổ vào ViệtNam Việt Nam trở thành một trong những nước tăng trưởng nhanh nhất thế giớivới tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 8%/năm
Việt Nam được đánh giá cao về việc thực hiện phúc lợi xã hội, xóa đói giảm
Trang 5GDP Việt Nam đến cuối 2006 là khoảng trên 650 USD/người (GDP năm
2006 là 55532 triệu USD, dân số ước tính khoàng trên 84 triệu người)
Hạn chế:
ô nhiễm môi trường và các tệ nạn xã hội
gây lãng phí tài nguyên
quả
trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ Một số thể chếpháp luật và hành chính cần thiết cho nền kinh tế thị trường vẫn chưa được quyđịnh hay đã được quy định nhưng không được thực hiện, gây ra tình trạng tham
Sau 20 năm Đổi Mới, tuy thế, đồng tiền Việt Nam vẫn là đồng tiền không cókhả năng chuyển đổi và nhiều quốc gia, tổ chức vẫn không công nhận Việt Nam cónền kinh tế thị trường
Kinh tế đối ngoại, phát triển mạnh, mở rộng hơn trước cả về quy mô và hìnhthức Các doanh nghiệp Việt Nam từng bước mở rộng đầu tư ra nước ngoài Đếnnăm 2000, đã có trên 40 dự án đầu tư vào 12 nước và vùng lãnh thổ, nước ta cóquan hệ thương mại với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều nguồn
vốn đầu tư nước ngoài, có 100% tỉnh, thành phố đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục
Tuy nhiên công cuộc đổi mới còn nhiều khó khăn, yếu kém: Nền kinh tế cònmất cân đối, lạm phát vẫn ở mức cao, còn nhiều lao động thiếu việc làm, tình trạngtham nhũng, nhận hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội và nhiều hiện tượng tiêucực khác chưa được khắc phục Lực lượng sản xuất còn nhỏ bé , cơ sở vật chất - kĩ
Trang 6thuật còn lạc hậu, kinh tế Nhà nước chưa được củng cố tương xứng với vai trò chủđạo Kinh tế tập thể chưa mạnh.
Từ chiến thắng trên mặt trận kinh tế
Theo TS Đinh Hoàng Thắng - Bộ Ngoại giao Việt Nam , trong những nămqua, Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn về ngoại giao như: phá thế bịbao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạnghóa
Tất cả các nước đều coi trọng vai trò của Việt Nam ở Đông Nam á Từ chỗđột ngột bị mất hết các thị trường truyền thống, Việt Nam đã từng bước thiết lập
và mở rộng đáng kể thị trường xuất nhập khẩu và đối tác thương mại theo phươngchâm đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại Đến nay, Việt Nam đã ký kết gần
70 hiệp định thương mại song phương, kim ngạch thương mại tăng ở mức kỷ lục,đạt 43,5 tỷ USD Trong đó, xuất khẩu đạt 31,5 tỷ USD (dự kiến năm 2005) và nhậpkhẩu năm 2004 đạt 24 tỷ USD Tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩuhiện đạt hơn 90% GDP Như vậy, nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một trongnhững nền kinh tế mở và hội nhập ở mức độ cao
Đánh giá về quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam , ông Jorn Dosch - Khoanghiên cứu Đông á, Đại học tổng hợp Leeds, Vương quốc Anh cho rằng: Việt Nam
đã xem ASEAN như "một công cụ đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa và hội tụ kinh
tế với khu vực đầy năng động này" Việt Nam đã giảm tất cả thuế quan nhập khẩuxuống mức 0 - 5% trừ các sản phẩm trong diện loại trừ và có tính nhạy cảm theoHiệp định CEPT/AFTA Thực tế, khi tham gia ASEAN, Việt Nam đã sử dụng hiệphội này như một động lực thúc đẩy sự tiếp cận nhanh hơn đến các tổ chức quốc tếkhác
Chính vì vậy, theo một chuyên gia kinh tế nhận định: Muốn cạnh tranh thànhcông trong tương lai, Việt Nam không chỉ chạy mà phải chạy nhanh hơn các đốithủ, tức là phải mở cửa, cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh hơn nữa
Trong quá trình tổng kết 20 năm đổi mới, các ngành và địa phương trong cảnước đã đánh giá toàn diện và sâu sắc những thành quả đạt được cũng như nhữnghạn chế, yếu kém và nguyên nhân, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý
Trang 7Thành quả nổi bật của những năm qua là duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bìnhquân đạt 7,5%/ năm trong 5 năm 2001 - 2005 và 8,17% năm 2006, thế và lực củaViệt Nam đã mạnh lên so với các năm trước Đó là những tiền đề vật chất rất quantrọng, là yếu tố thuận lợi cơ bản để các ngành, các cấp thực hiện các chỉ tiêu kếhoạch năm 2007
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaWTO và thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất khẩu mởrộng, các rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏhoặc hạn chế Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua Hộinghị cấp cao APEC năm 2006 Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinh tế,đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu được củng cố và tăng cường thông qua cáccuộc thăm cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng với sự tham gia của các nhàdoanh nghiệp Tình hình chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng bảo đảm, đã tạomôi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các doanh nghiệptrong nước
Thị trường và giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam diễn biến theohướng cầu lớn hơn cung như dầu thô, gạo, cà phê, chè, thủy sản Do đó, giá cảcác mặt hàng này tăng cao, có lợi cho hoạt động xuất khẩu
Bộ máy lãnh đạo các ngành, các cấp được hoàn thiện sau Đại hội Đảng X,Quốc hội khóa XII Nhiều chủ trương, chính sách và giải pháp kinh tế, tài chínhđược ban hành, bổ sung, hoàn thiện Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh,đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý nhiều bộ ngành, địa phương được tăng cường
cả số lượng và chất lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tạo điều kiện giảiphóng mạnh mẽ sức sản xuất, mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài
Bối cảnh trên đây đã tác động trực tiếp, toàn diện đến quá trình và kết quả sảnxuất, kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp và xu thế biến động thị trường,giá cả trong nước trên cả 2 mặt thành tựu và hạn chế, bất cập của nền kinh tế năm2007
c Giới thiệu về GDP và GNP
Trang 81 GNP.
Tổng sản phẩm quốc dân -GNP (Gross National Product)
Tổng sản phẩm quốc dân là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền củacác hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ(thường lấy là một năm) bằng các yếu tố sản xuất của mình
Tổng sản phẩm quốc dân hay Tổng sản phẩm quốc gia là một chỉ tiêu kinh tếđánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước nó được tính là tổng giá trị bằngtiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ratrong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kểlàm ra ở đâu (trong hay ngoài nước)
Sản phẩm cuối cùng là hàng hóa được tiêu thụ cuối cùng bởi những người tiêudùng chứ không phải là những sản phẩm được sử dụng như là sản phẩm trung giantrong sản xuất những sản phẩm khác Ví dụ, một chiếc ô tô bán cho người tiêudùng là một sản phẩm cuối cùng; các thành phần như lốp được bán cho nhà sảnxuất ô tô là sản phẩm trung gian Cũng chiếc lốp đó, nếu bán cho người tiêu dùngthì nó lại là sản phẩm cuối cùng Chỉ có sản phẩm cuối cùng mới được tính trongthu nhập quốc gia, do việc đưa cả sản phẩm trung gian vào sẽ dẫn tới việc tính kép làm tăng ảo giá trị thực sự của thu nhậpquốc gia
Ví dụ, trong trường hợp chiếc lốp được bán cho nhà sản xuất ôtô, giá trị của nó đã
được tính khi nó được nhà sản xuất lốp bán cho nhà sản xuất ô tô, nếu sau đó mộtlần nữa được tính trong giá trị chiếc ô tô khi nhà sản xuất ô tô bán cho người tiêudùng thì sẽ làm cho giá trị GNP tăng lên
Thu nhập được tính như là một phần của GNP, phụ thuộc vào ai là chủ sở hữucác yếu tố sản xuất chứ không phải là việc sản xuất diễn ra ở đâu Ví dụ, một nhàmáy sản xuất ô tô do chủ sở hữu là công dân Mỹ đầu tư tại Việt Nam thì lợi nhuậnsau thuế từ nhà máy sẽ được tính là một phần của GNP của Mỹ chứ không phảicủa Việt Nam bởi vì vốn sử dụng trong sản xuất (nhà xưởng, máy móc, v.v.) làthuộc sở hữu của người Mỹ Lương của công nhân người Việt là một phần của
Trang 9GNP của Việt Nam, trong khi lương của công nhân Mỹ làm việc tại đó là một phầncủa GNP của Mỹ Có nhiều cách tính tổng sản phẩm quốc dân, dưới đây là cáchtính theo quan điểm chi tiêu xã hội:
GNP = C+ I + G + (X - M) + NR
Trong đó:
•C = Chiphí tiêudùngcá nhân
•I = Tổng đầu tư cá nhân quốc nội
•G = Chi phí tiêu dùng của nhà nước
•X = Kim ngạch xuất khẩu ròng các hàng hóa và dịch vụ
•M = Kim ngạch nhập khẩu ròng của hàng hóa và dịch vụ
•NR= Thu nhập ròng từ các tài sản ở nước ngoài (thu nhập ròng)
Còn một chỉ số khác hay được nhắc kèm với GNP đó là chỉ số GNI_GrossNational Income, tức Tổng thu nhập quốc gia hay Tổng thu nhập quốc dân Giá trịcủa nó tương đương với giá trị của GNP Tuy nhiên, người ta phân biệt chúng, docách thức tiếp cận vấn đề là dựa trên các cơ sở khác nhau GNP dựa trên cơ sở sảnxuất ra sản phẩm mới, còn GNI dựa trên cơ sở thu nhập của công dân Điều này làquan trọng để tiếp cận các khái niệm NNP và NNI Khi đó phải tính đến khấu hao
và các loại thuế gián tiếp, và NNI sẽ luôn luôn nhỏ hơn NNP một lượng bằng giátrị của thuế gián tiếp
Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là thuận lợi và thông quagiá cả thị trường chúng ta có thể cộng giá trị của các loại hàng hoá có hình thức vànội dung vật chất khác nhau như cam, chuối, xe hơi, tàu du hành vũ trụ, dịch vụ dulịch, y tế, giáo dục Nhờ vậy có thể đo lường kết quả sản xuất của toàn bộ nềnkinh tế chỉ bằng một con số, một tổng lượng duy nhất Nhưng giá cả lại là mộtthước đo co dãn Lạm phát thường xuyên đưa mức giá chung lên cao Do vậy GNPtính bằng tiền có thể tăng nhanh trong khi giá trị thực của tổng sản phẩm tính bằnghiện vật có thể khônh tăng hoặc tăng rất ít
Để khắc phục nhược điểm này các nhà kinh tế thường sử dụng cặp khái niệm:
Trang 10- GNP danh nghĩa
- GNP thực tế
một thời kỳ, theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó
thời kỳ, theo giá cả cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc
Cầu nối giữaGNP danh nghĩa và GNP thực tế là chỉ số giá cả, còn gọi là chỉ sốlạm phát tính theo GNP(D):
Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế thường được dùng cho các mục tiêuphân tích khác nhau Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính, ngânhàng người ta thường dùng GNP danh nghĩa, khi cần phân tích tốc độ tăng trưởngkinh tế người ta thường dùng GNP thực tế
GNP không phải là thước đo hoàn hảo về thành tựu cũng như phúc lợi kinh tếcủa đất nước do:
đỡ nhau và đơn giản là không đưa ra thị trường và không báo cáo
cáo nhằm trốn thuế cũng được tính vào GNP
giao thông gây thiệt hại cho sức khoẻ và môi trường sống cũng không được điềuchỉnh khi tính vào GNP
mái về tâm lí
Trang 11Tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product.)
Trong kinh tế, tổng sản phẩm nội địa hay GDP (viết tắt của Gross DomesticProduct) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sảnxuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là mộtnăm Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩmquốc nội GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tếcủa một vùng lãnhthổ nàođó
Tổng sản phẩm quốc nội đo lường tổng giá trị của các hàng hoá và dịch vụ cuốicùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định(thường là một năm)
Như vậy, GDP là kết quả của hàng triệu triệu hoạt động kinh tế xảy ra bêntrong lãnh thổ của đất nước Những hoạt động này có thể do công ty, doanh nghiệpcủa công dân nước đó hay công dân nước ngoài sản xuất ra tại nước đó NhưngGDP không bao gồm kết quả hoạt động của công dân nước sở tại tiến hành ở nướcngoài Đây là một phân biệt có ý nghĩa
Có ba cách tính GDP đó là tính theo tổng giá trị tiêu dùng, tổng các khoản chitiêu hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế
Các phương pháp xác định GDP:
1.Theo luồng sản phẩm cuối cùng:
Theo phương pháp này bao gômg toàn bộ giá trị của các hàng hoá và dịch vụcuối cùng mà các tác nhân kinh tế mua sắm
GDP = C + I + G + NX
•C: là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế
•I: là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh Đây được coi là tiêudùng của các nhà đầu tư Cần phân biệt rõ đầu tư này với các đầu tư mang tính đầu
cơ tích trữ vàothị trường chứng khoán và trái phiếu
•G: là tổng chi tiêu của chính phủ (tiêu dùng của chính phủ) Quan hệ của phần này
Trang 12đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng (có thể đem
đi tiêu)
NX: là "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nềnkinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sảnxuất) - nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sản phẩm
và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất)
2.Theo luồng thu nhập hoặc chi phí:
Theo phương pháp này GDP bao gồm : Chi phí cho các yếu tố đầu vào của sảnxuất mà các doanh nghiệp phải thanh toán, tổng chi phí của doanh nghiệp trở thànhthu nhập của quần chúng
Trong trường hợp nền kinh tế chỉ bao gồm các hộ gia đình và các doanhnghiệp:
GDP = w + i + r + Π
Trong đó:
w = Chi phí tiền công, tiền lương
i = Chi phí thuê vốn (lãi suất)
r = Chi phí thuê nhà, thuê đất
nó không tương ứng với bất kì khoản thu nhập mà các hộ gia đình nhưng nó lại làmột trong những khoản chi phí của doanh nghiệp:
GDP = w + i + r + Π+ Te + khâú hao
3 Xác định theo giá trị gia tăng:
Giá trị gia tăng là một khoản chênh lệch giữa giá trị sản lượng của một doanhnghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác mà đãđược dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó
Trang 13GTGT = tổng giá trị sản xuất – chi phí trung gian
phục vụ cho quá trình sản xuất theo thời gian (thường là 1 năm)
công cụ sản xuất nhỏ, máy móc thiết bị nhỏ
quảng cáo, cước phí vận chuyển, du lịch, bảo hiểm và các dịch vụ khác phục vụcho sản xuất
cuối cùng và sản phẩm trung gian
GDP cũng không cho ta sự phản ánh trung thực của sự phân chia lợi ích trongphạm vi đất nước Có thể có những nhóm người không thu được lợi ích gì từ lợiích kinh tế chung GDP cao có thể là kết quả của một số người giàu có đem lại chonền kinh tế trong khi phần lớn dân chúng sống dưới mức nghèo khổ
Mối quan hệ giữa GDP và GNP:
GNP = GDP + thu nhập ròng từ tài sản nước ngoài
Phân biệt giữa GDP và GNP:
GDP khác với tổng sản phẩm quốc dân (GNP) ở chỗ loại bỏ việc chuyển đổi thunhập giữa các quốc gia, nó được quy theo lãnh thổ mà sản phẩm được sản xuất ở
đó hơn là thu nhập nhận được ở đó
Để dễ hiểu hơn, ta có thể lấy ví dụ như sau: Một nhà máy sản xuất đồ ăn nhanh đặttại Việt Nam do công dân Mỹ đầu tư để tiêu thụ nội địa Khi đó mọi thu nhập từnhà máy này sau khi bán hàng được tính vào GDP của Việt Nam, tuy nhiên lợinhuận ròng thu được (sau khi khấu trừ thuế phải nộp và trích nộp các quỹ phúc lợi)cũng như lương của các công nhân Mỹ đang làm việc trong nhà máy được tính làmột bộ phận trong GNP của Mỹ
Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GN P:
Chỉ tiêu GNP hay GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế của một đấtnước
Trang 14GNP hay GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượngcủa một đất nước trong thời gian khác nhau
Các chỉ tiêu GNP và GDP còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi mứcsống của dân cư
GNP bình quân đầu người = dân số
Trang 15Chương 2: Tìm hiểu tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn
2002 – 2007
a Tìm hiểu số liệu về GDP và GNP của nước ta giai đoạn 2002 - 2007
Tốc độ tăng GDP bình quân trong thời kỳ 2002-2007 là 7,8%
Ngày 7/3/2008, Chính phủ đã trình Ủy ban thường vụ Quốc hội Báo cáocông tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2002-2007 Theo Báocáo trên, giai đoạn 2002-2007, tất cả các nhiệm vụ phát triển kinh tế đều đượchoàn thành, hầu hết các chỉ tiêu đều hoàn thành vượt mức đề ra, trong đó điểmnổi bật về phát triển kinh tế trong 5 năm qua là tăng trưởng kinh tế gắn kết chặtchẽ với ổn định kinh tế vĩ mô
Cả 3 lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ đều đạt mứctăng trưởng cao, liên tục với tốc độ khá ổn định Tốc độ tăng GDP bình quân trongthời kỳ 2002-2007 là 7,8% Khu vực nông nghiệp tăng trưởng cao liên tục và đạtmức bình quân 5,4%/năm; sản xuất công nghiệp tăng khoảng 16,5%/năm; giá trịtăng thêm của ngành dịch vụ 5 năm 2002-2006 tăng bình quân 7,4%/năm Năm
2005 và 2006, mức tăng trưởng dịch vụ đã cao hơn tăng trưởng GDP Liên tục từnăm 2002 cho đến năm 2007 chúng ta đều duy trì được sự tăng trưởng GDP liêntục với tốc độ khá cao và tương đối ổn định Cụ thể là: 2002 (7,08%); 2003(7,34%); 2004 (7,79%); 2005 (8,44%); 2006 (8,17%) và năm 2007 vừa qua đã là8,48% Điều cần thấy là cũng vì sự liên tục tăng trưởng GDP với tốc độ khá cao vàtương đối ổn định trên đây đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam đã trở thành nềnkinh tế đứng thứ hai khu vực Đông Á và kể cả trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc)
về thành tựu tốc độ tăng trưởng GDP trong suốt hơn hai thập niên vừa qua Đánglưu ý là GDP - chỉ số kinh tế cơ bản nhất của nước ta đã đạt tới 1.114 tỷ đồng (tănghơn 71 tỷ đồng so với năm 2006, khiến cho GDP bình quân đầu người năm 2007
đã đạt tới 13,4 triệu đồng, tương đương 835 USD nhưng tính theo sức mua tươngđương thì đã đạt khoảng hơn 3000 USD, gấp hai lần năm 2001 và bằng 92% so với
Trang 16ngưỡng của các nước có thu nhập trung bình, tín hiệu tốt cho các bước phát triểntiếp theo.
Số liệu về GNP giai đoạn 2002-2007:
GNP giai đoạn này cũng tăng lên rõ rệt và tương đối ổn định Năm 2002: GNP đạt
527056 tỷ VND, năm 2003 GNP đạt 603688 tỷ VND, năm 2004 GNP đạt 701906
tỷ VND, năm 2005 GNP đạt 822432 tỷ VND, năm 2006 GNP đạt 953232 tỷ VND,năm 2007 đạt 1112892 tỷ VND
Tăng trưởng GDP đạt mức cao nhất trong 8 năm
Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 10%, đóng góp 4,2 điểm phầntrăm vào tăng trưởng GDP, trong khi ngành dịch vụ và nông nghiệp đóng góp lầnlượt 3,4 và 0,8 điểm phần trăm
Tất cả các khu vực kinh tế đều tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn so với nămngoái Riêng sản lượng công nghiệp tăng 17,2%, tốc độ cao nhất trong 5 năm(2001: 14,6%; 2002: 14,8%; 2003: 16,8%; 2004: 16%) Về mặt chủ sở hữu thì khuvực tư nhân (với 30% tổng sản lượng công nghiệp) tăng trưởng mạnh nhất, tăng25%, tiếp theo là khu vực FDI đã tăng 21% (mặc dù sản lượng dầu thô giảm7,7%), trong khi khu vực nhà nước tăng trưởng chậm với mức 8,4% (thấp hơn mức11,8% của năm ngoái) Thành tích yếu kém của các doanh nghiệp quốc doanh (dù
đã được hưởng nhiều ưu đãi) cho thấy sự yếu kém của kinh tế Việt Nam trong khicạnh tranh quốc tế đang tăng dần và yêu cầu cam kết của Chính phủ trong việc đẩymạnh việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước quản lý
Ngành dịch vụ (chiếm 38,1% GDP) đã cải thiện đáng kể so với năm ngoái,tăng 8,5% (7,3% trong năm 2004)
Tổng vốn đầu tư tiếp tục tăng mạnh :
Tăng trưởng kinh tế cũng được tiếp sức bởi mức đầu tư cao (21 tỷ USD),chiếm 38,9% GDP (cao nhất trong những năm gần đây)
Đầu tư từ khu vực tư nhân (chiếm hơn 32% tổng vốn) có tốc độ phát triểnnhanh nhất, tăng 28% Đầu tư của khu vực tư nhân có hiệu quả cao hơn so với khuvực nhà nước và giúp tạo ra nhiều việc làm cho nền kinh tế Vốn đầu tư tăng trong
Trang 17khu vực này là một dấu hiệu đáng mừng, cho thấy tiềm lực trong nước đang tănglên và môi trường kinh doanh đang được cải thiện
Vốn FDI năm nay đã tăng gần 40%, đạt 5,8 tỷ USD, mức cao nhất trong 10năm (trong đó, đầu tư mới là 4 tỷ USD, đầu tư bổ sung là 1,9 tỷ USD) Hiện tại,hơn 3.000 doanh nghiệp FDI đang hoạt động rất tốt Trong năm 2005, khu vực nàyđạt doanh thu 21 tỷ USD (tăng 16.7%); tổng giá trị xuất khẩu của các doanhnghiệp FDI đạt 10,3 tỷ USD (không kể dầu thô) tăng 26.6% Nếu tính cả lĩnh vựckhai thác dầu thô thì tổng xuất khẩu đạt 15,9 tỷ USD, chiếm 56% tổng giá trị xuấtkhẩu cả nước Khu vực FDI do đó có những đóng góp quan trọng trong tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao và chiếm một phần đáng kể trong các ngành công nghiệp thenchốt
Năm 2007, tốc độ tăng GDP của Việt nam là 8,44% đứng thứ 3 châu Á (sauTrung Quốc: 11,3% và Ấn Độ khoảng: 9%
b Bảng thống kê số liệu và đồ thị biểu diễn tốc độ tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2002-2007
Trang 18Bảng 1: Bảng thống kê số liệu một số chỉ tiêu và tổng thu nhập quốc dân GNP.
Nhập khẩu hàng hoá và dịch
Bảng 2: Bảng thống kê số liệu GDP tính theo tỉ đồng Việt Nam.
Trang 19Năm GDP, tỉ đồng VN
(danh nghĩa)
GDP, tỉ đồng VN (đã điều chỉnh)