LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam đang trong thời kì hội nhập kinh tế cùng các quốc gia khác trên thế giới, đang dần thay da đổi thịt, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiệt, tăng trưởng kinh tế ổ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kì hội nhập kinh tế cùng các quốc gia khác trên thế giới, đang dần thay da đổi thịt, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiệt, tăng trưởng kinh tế ổn định… Có được kết quả như trên là do sự đoàn kết toàn dân quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Tham gia vào thị trường thương mại quốc tế WTO là cơ hội lớn cho Việt Nam phát triển ngoại thương, tăng trưởng kinh tế ổn định và hội nhập kinh tế quốc tế Từ đó, cả nước phát huy tinh thân dân tộc thực hiên mục tiêu từ nay đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Xuất phát từ lí do trên, học tập và nghiên cứu môn học Kinh tế học vĩ mô
1 (KTHVM1) là một trong những đề tài thiết thực đối với các sinh viên hiện
nay Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam đã bám sát tình hình thực tế khách quan của nền kinh tế và đúc rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, đặc biệt
là KTHVM1 Mục tiêu là thúc đẩy khả năng thâm nhập, tìm hiểu quy luật kinh
tế và những bài học thực tế, “Bài tập lớn môn học: KTHVM1” là thước đo kết quả quá trình nghiên cứu của sinh viên Phạm Tuấn Ngọc - KTB50.DHT3 nói riêng và sinh viên khoa KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN nói chung
Bài tập lớn này tập trung nghiên cứu hai vấn đề chính:
1.Đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ 2000 – 2006
2 Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi ra nhập WTO
Bài tập lớn này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của cô giáo : Nguyễn Thị
Hồng Thu
Em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 2.NỘI DUNG CHÍNH
Chương I: Nền kinh tế Việt Nam với chỉ tiêu xuất nhập khẩu.
a Giới thiệu môn học, vị trí môn học trong chương trình học đại học.
Việc quản lí nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có
tính khan hiếm Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức sử dụng các
nguồn lực khan hiếm nhằm thỏa mãn các nhu cầu không có giới hạn của chúng
ta một cách tốt nhất có thể
Chi phí cơ hội của việc thực hiện một hành động là phương án thay thế
tốt nhất, hay có giá trị nhất, mà bạn phải từ bỏ để thực hiện hành động đó
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về cách
ứng xử nói chung của mọi thành phần kinh tế, cùng với kết quả cộng hưởng của
các quyết định cá nhân trong nền kinh tế đó Loại hình này tương phản với kinh
tế học vi mô chỉ nghiên cứu về cách ứng xử kinh tế của cá nhân người tiêu dùng,
nhà máy, hoặc một loại hình công nghiệp nào đó
Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao
gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại của một
nền kinh tế Phân tích kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như:
Điều gì quyết định giá trị hiện tại của các biến số này? Điều gì quy định những thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn?
Một trong những thước đo quan trọng nhất về thành tựu kinh tế vĩ mô của
một quốc gia là tổng sản phẩm trong nước (GDP) GDP đo lường tổng sản
lượng và tổng thu nhập của một quốc gia Phần lớn các nước trên thế giới đều có
tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Các nhà kinh tế vĩ mô tìm cách giải thích sự
tăng trưởng này Mặc dù tăng trưởng kinh tế là một hiện tượng phổ biến trong dài hạn, nhưng sự tăng trưởng này có thể không ổn định giữa các năm Trên thực tế, GDP có thể giảm trong một số thời kì Những biến động ngắn hạn của
GDP được gọi là chu kì kinh doanh Hiểu biết về chu kì kinh doanh là một mục
tiêu chính của kinh tế học vĩ mô Tại sao các chu kì kinh doanh lại xuất hiện?
Trang 3Các lực lượng kinh tế nào gây ra sự suy giảm tạm thời trong mức sản xuất, các lực lượng nào làm cho nền kinh tế phục hồi? Phải chăng các chu kì kinh doanh gây ra bởi các sự kiện không dự tính được hay chúng bắt nguồn từ các lực lượng
nội tại có thể dự tính trước được? Liệu chính sách của chính phủ có thể sử
dụng để làm dịu bớt hay triệt tiêu những biến động ngắn hạn trong nền kinh tế hay không? Đây là những vấn đề lớn đã được đưa ra và ít nhất cũng đã được giải đáp một phần bởi kinh tế học vĩ mô hiện đại
Tỷ lệ thất nghiệp, 1 thước đo cơ bản về cơ hội tìm việc làm và hiện trạng
của thị trường lao động, cho chúng ta một thước đo khác về hoạt động của nền kinh tế Sự biến động ngắn hạn của tỉ lệ thất nghiệp liên quan đến những dao động theo chu kì kinh doanh Những thời kì sản lượng giảm thường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại Một mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản đối với mọi quốc gia là đảm bảo trạng thái đầy đủ việc làm, sao cho mọi lao động sẵn sàng
và có khả năng làm việc tại mức tiền lương hiện hành đều có việc làm
Biến số then chốt thứ ba mà các nhà kinh tế vĩ mô đề cập đến là lạm phát
Lạm phát là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới trong những thập kỉ gần đây Vấn đề đặt ra là điều gì quyết định tỉ lệ lạm phát dài hạn và những dao động ngắn hạn của lạm phát trong một nền kinh tế? Sự thay đổi tỉ lệ lạm phát có liên quan như thé nào đến chu kì kinh doanh? Lạm phát có tác động đến nền kinh tế như thế nào và phải chăng ngân hàng trung ương nên theo đuổi mục tiêu lạm phát bằng không?
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trong những
xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ
bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế qua, làm cho việc trao đổi hàng hóa, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kĩ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, một vấn đề được kinh tế học vĩ mô hiện đại quan tâm nghiên
cứu là cán cân thương mại Để hiểu cán cân thương mại vấn đề then chốt cần
nhận thức là mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển
Trang 4vốn quốc tế Như vậy, nghiên cứu về mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với việc xem xét tại sao các công dân một nước lại đi vay hoặc cho vay các công dân nước khác vay tiền.
Cũng như các lĩnh vực nghiên cứu khác, kinh tế học nói chung và kinh tế học vĩ mô nói riêng có những cách nói và tư duy riêng Điều cần thiết là phải học được các thuật ngữ của kinh tế học bởi vì nắm dược các thuật ngữ này sẽ giúp cho bạn trao đổi với những người khác về các vấn đề kinh tế một cách chính xác Việc nghiên cứu kinh tế học có một đóng góp rất lớn vào nhận thức của bạn về thế giới và nhiều vấn đề xã hội của nó Tiếp cận nghiên cứu với một
tư duy mở sẽ giúp bạn hiểu được các sự kiện mà bạn chưa từng biết trước đó
b Giới thiệu chung về nền kinh tế từ sau đổi mới đến nay.
Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ
sở vật chất và tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đó là hai trong số năm thành tự mà Việt Nam đạt được qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006)
Theo ông Trần Đức Khiển, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 20 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu
tư cho phát triển và cải thiện đời sống của người dân Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai đoạn Nhưng cơ bản, Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bước xây dựng được vai trò của mình trong hội nhập khu vực và quốc tế
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần đầu tiên, hầu
Trang 5hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 1991-1995 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất
1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trình trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quân năm tăng 8,2% Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước
Từ năm 1996 - 2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm
Năm 2000 - 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5% Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, nước ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu
Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là 46,3%, năm 2005 còn 20,9% Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng trọt
và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có
Trang 6năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu.
Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích ngày một tăng lên Trong kế hoạch 5 năm
2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng 5,5%/năm, giá trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm
Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục Năm 1988 là 21,6%, năm 2005 lên 41% Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm đã khai thác được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu Ngành công nghiệp chế tác chiếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp Công nghiệp xây dựng phát triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại
Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong những thị trường lớn Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm
Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1% năm
2005 Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống Ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ nhanh Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý
có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả
Trong 20 năm qua, công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Từ năm 2000 đến năm 2005, tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn 5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80% Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng
640 USD năm 2005 Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống dưới 7% năm 2005 Theo chuẩn quốc tế (1 USD/người/ngày) thì tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9%
Trang 7năm 2002.
Chỉ số phát triển con người được nâng lên, từ mức dưới trung bình (0,498) năm
1990, tăng lên mức trên trung bình (0,688) năm 2002; năm 2005 Việt Nam xếp thứ 112 trên 177 nước được điều tra;
Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứng dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 nâng lên 71,3 tuổi vào năm 2005
Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ lệ lao động trong sản xuất thuần nông, tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Năm 1990, lao động nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 73,02% trong tổng số lao động xã hội, năm 2000 còn 56,8%
Trong khi đó,Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng tương ứng từ 19,7% lên 25,3%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh
tế Số doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm từ 12.084 doanh nghiệp năm 1990 xuống còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 670 công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ năm
2005 Qua đổi mới, doanh nghiệp Nhà nước năm 2005 đóng góp 38,5% GDP và khoảng 50% tổng ngân sách Nhà nước
Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội Năm 2005 chiếm 46% GDP Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng, hoạt động ngày càng có hiệu quả, năm 2005, kinh tế hợp tác đóng góp
Trang 8Năm 2005, khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, trên 17,1% tổng vốn đầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí); đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp.
Qua 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng
bộ Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản, theo cơ chế mới Thị trường hàng hoá phát triển với quy mô lớn, tốc độ nhanh Các thị trường dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản đang được hình thành
Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Tiềm lực tài chính ngày càng được tăng cường, thu ngân sách tăng trên 18%/năm; chi cho đầu tư phát triển bình quân chiếm khoảng 30% tổng chi ngân sách
Xuất khẩu, nhập khẩu tăng rất nhanh cả về quy mô và tốc độ Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trước thời kỳ đổi mới chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD/năm, đến nay tổng kim ngạch xuất khẩu đã vượt hơn 50% GDP, tức là trên 25 tỷ USD/năm
Trang 9Một số sản phẩm của Việt Nam đã có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới với những thương hiệu có uy tín Đáng chú ý là xuất khẩu dịch vụ tăng rất nhanh, tăng 15,7%/năm, bằng 19% tổng kim ngạch xuất khẩu Thị trường xuất khẩu được mở rộng sang những nền kinh tế lớn.
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ năm 2000 đến 2005 tăng khoảng 19%/năm, nhập siêu khoảng 4 tỷ USD/năm, bằng 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu Nhập siêu tuy còn cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát và có xu hướng
Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển biến theo hướng tích cực Tỷ trọng hàng công nghiệp nặng và khoáng sản giảm từ 37,2% năm 2000 xuống còn 36% năm 2005, hàng nông, lâm thuỷ sản giảm từ 29% xuống 24%; hàng công nghiệp nh‹ và tiểu thủ công nghiệp tăng từ 38,8% lên 39,8%
Quá trình Đổi Mới về kinh tế
* Giai đoạn, đầu thập niên 1980, khủng hoảng kinh tế-xã hội nổ ra, lạm phát tăng lên mức phi mã đặc biệt sau hai cuộc tổng điều chỉnh giá-lương-tiền
* Từ 12 đến 19 tháng 7 năm 1983, lúc Lê Duẩn đi nghỉ ở Liên Xô cũ;
ba vị lãnh đạo cấp cao của Việt Nam là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Chí Công đang nghỉ ở Đà Lạt, Nguyễn Văn Linh (lúc đó là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh) đã tổ chức “Hội nghị Đà Lạt” - Ông và một số Giám đốc các cơ sở kinh doanh sản xuất làm ăn có lãi đã trực tiếp gặp gỡ các vị lãnh đạo cấp cao (từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 7) để báo cáo tình hình sản xuất, kinh doanh và đề đạt nguyện vọng Ngày 17 tháng 7, Nguyễn Văn Linh mời các
vị lãnh đạo thăm cơ sở chế biến tơ tằm và xí nghiệp chè của Thành phố Hồ Chí Minh tại Bảo Lộc Ngày 19 tháng 7, Nguyễn Văn Linh có buổi làm việc riêng với các vị lãnh đạo này, ông đã báo cáo tất cả tâm tư mà cá nhân mình đang nung nấu “Hội nghị Đà Lạt” diễn ra trong thời gian vừa đúng một tuần lễ Nội dung tư tưởng của các cuộc gặp trong sự kiện này đã được Nguyễn Văn Linh
Trang 10vận dụng vào việc chuẩn bị văn kiện Đại hội Đảng VI của Đảng Cộng sản Việt Nam - Khởi xướng công cuộc Đổi mới của Việt Nam [2]
* 1986: Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức thực hiện Đổi Mới, bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa
* 1/3/1987: giải thể các trạm kiểm soát hàng hóa trên các tuyến đường nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hóa
* 18/5/1987: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười sang thăm Liên Xô Gorbachyov giục Việt Nam cải cách kể cả thông thương với các nước tư bản
* 5/4/1988: Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10/NQ về Đổi Mới quản lý kinh
tế nông nghiệp (hay còn gọi là Khoán 10)
* 24/5/1988: 19 tỉnh miền Bắc đói to Chính quyền chính thức yêu cầu Liên Hiệp Quốc viện trợ nhân đạo khẩn cấp
* 12/6/1988: Nghị quyết bỏ hẳn chính sách hợp tác hóa nông nghiệp để tăng gia sản xuất
* 1989 Việt Nam đã xuất khấu gạo đứng thư 3 thế giới(sau Thái Lan và Hoa Kì)
* 1989: Trung Quốc xảy ra sự kiện Thiên An Môn Năm 1991, Liên Xô sụp đổ Tuy nhiên, đánh giá về các sự kiện này, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định tiếp tục Đổi mới theo con đường đã chọn và vẫn thực hiện chủ nghĩa xã hội
Trang 11* 1990: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân ra đời nhằm thể chế hóa chính thức và đầy đủ hơn chủ trương phát triển kinh tế tư nhân[3] Bắt đầu
có chủ trương thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
* Tháng 5 năm 1990: pháp lệnh ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh ngân hàng chính thức chuyển ngân hàng từ một cấp sang hai cấp
* 1993: bình thường hóa quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính quốc tế
* 2000: Luật Doanh nghiệp ra đời
* 2001: ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
* 2002: tự do hóa lãi suất cho vay VND cho các tổ chức tín dụng
* 2005: Luật Cạnh tranh chính thức có hiệu lực
* 2006: Đại hội đại biểu toàn quốc lần X của Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận cho đảng viên làm kinh tế tư nhân
* 7/11/2006: Việt Nam là thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới
C.Một số chỉ tiêu đo lường sản lượng quan trọng
1 Tổng sản phẩm quốc dân ( GNP: Gross national product )
a) Khái niệm:
GNP là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kì ( thường lấy là một năm ) bằng các yếu tố sản xuât của mình
Như vậy, GNP đánh giá kết quả của hàng triệu giao dịch và hoạt đọng kinh tế do công dân một nước tiến hành trong một thời kì nhất định
Đó chính là con số đạt được khi dùng thước đo tiền tệ tính toán giá trị của các hàng hóa khác nhau mà các hộ gia đinh, các hãng kinh doanh, Chính phủ mua sắm và tiêu dùng trong một khoảng thời gian đa cho Lạm phát thường xuyên
Trang 12đẩy mức giá chung lên cao.Do vậy, GNP tính
bằng tiền có thể tăng lên nhanh chóng khi giá trị thực của tổng sản phẩm tính bằng hiện vật có thể không tăng hoặc tăng rất ít Để khắc phục nhược điểm này, các nhà kinh tế thường sử dụng cặp khái niệm:
trong một thời kì theo giá cả hiện hành, tức là giá cả của cùng thời ki đó
+) GNP thực tế ( GNPr ) đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ratrong một thời kì theo giá cả cố định của một thời kì được lấy làm gốc
× hay GNPr = D
GNPn
Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế được dùng cho các mục tiêuphân tích khác nhau Chẳn hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính,ngân hàng, người ta thường dùng GNP danh nghĩa ; khi cần phân tích tốc độtăng trưởng kinh tế người ta thường dung GNP thực tế
c) Đo lường tổng sản phẩm quốc dân
* GNP = GDP + Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài
* GNP = NNP + khấu hao
* GNP = Y + Khấu hao + Thuế gián thu
Trong đó - GNP : Tổng sản phẩm quốc dân
- GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
- NNP : Sản phẩm quốc dân ròng
- Y : Thu nhập quốc dânTrong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, mặc dù thu nhập kiếm được
Trang 13của người Việt Nam ở nước ngoài có tăng lên song do khu vực kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài khá lớn nên GDP của Việt Nam thường lớn hơn GNP Tỷ lệGDP so với GNP của Việt Nam là khoảng 98%.
2 Tổng sản phẩm quốc nội ( GDP : Gross domestic product )
% 100
× = GDPr
GDPn
% 100
×
c) Đo lường tổng sản phẩm quốc nội
+) Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm
Theo phương pháp luồng sản phẩm, GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trường của các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đinh, các hãng kinh doanh và Chính phủ mua; và các khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong một đơn vị thời gian ( một năm)
Trang 14- G : Chi tiêu của Chính phủ ( bao gồm các khoản chi tiêu của Chính phủ cho việc xây dựng đường xá, trường học, an ninh quốc phòng, trả lương cho
bộ máy hành chính của nhà nước…)
- NX : Xuất khẩu ròng về hàng hóa và dịch vụ ( bằng giá trị xuất khẩu trừ đi giá trị nhập khẩu)
+) Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập hoặc chi phí
Theo phương pháp luồng thu nhập hoặc chi phí, GDP đươc tính là tổng chi phí các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp phải thanh toán, chi phí này trở thành thu nhập của công chúng, và khoản thuế mà Chính phủ đánh vào hành hóa tiêu dùng thu qua doanh nghiệp ( Thuế gián thu : Te ), khấu hao tài sản cố định
GDP = w + i + r + π + Te + Khấu hao
Trong đó: w : Chi phí tiền công, tiền lương
i : Chi phí thuê vốn, lãi suất
r : Chi phí thuê nhà, thuê đất
π : Lợi nhuận
Te : Thuế gián thu
Trang 15+) Phương pháp xác định GDP theo giá trị gia tăng
Khái niệm giá trị gia tăng: Giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa giá
trị sản lượng của một doanh nghiệp với khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác, mà đa được dùng hết trong việc sản xuất ra sản lượng đó
GDP = Σ giá trị gia tăng của các công đoạn sản xuất
Trang 16Chương 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn 2000-2006
a Số liệu về GDP và GNP Việt Nam giai đoạn 2000-2006
Năm 2000 tốc độ tăng đã bắt đầu nhích lên nhưng vẫn ở mức dưới 7% Bình quân năm thời kỳ 1996-2000 tăng 6,95%, thấp hơn tốc độ tăng giai đoạn 1991-1995 là 1,23%;
- Thời kỳ 2001-2003 đã chấm dứt được xu thế giảm mạnh của thời kỳ trước
và GDP đã tăng dần qua các năm, song tốc độ tăng ở những năm này không lớn, năm sau chỉ nhích hơn năm trước từ 0,1 đến 0,2% làm cho tốc độ tăng bình quân năm giai đoạn 2001-2003 mới đạt 7,06%, thấp hơn mức tăng bình quân chung
13 năm (1991-2003) là 0,39% và thấp hơn mức tăng bình quân của 5 năm đầu (1991-1995) là 1,12%
Liên hệ mục tiêu về tốc độ tăng GDP bình quân trong kế hoạch 5 năm (2001
- 2005) do Đại hội IX xác định là 7,5%/năm, 3 năm qua mới thực hiện được 7,06% tức là thấp hơn 0,44% (7,06 – 7,50) Vì vậy để hoàn thành chỉ tiêu GDP tăng bình quân năm theo mức 7,5% đòi hỏi 2 năm 2004 và 2005 phải có tốc độ tăng bình quân mỗi năm đạt trên 8%
Xét tốc độ tăng của GDP thuộc các khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thuỷ sản, khu vực công nghiệp và xây dựng và khu vực Dịch vụ, ta thấy so với tốc độ tăng chung của cả 3 khu vực thì khu vực công nghiệp và xây dựng cả 13 năm đều tăng cao hơn; khu vực dịch vụ có 4 năm tăng cao hơn và 9 năm tăng thấp hơn; còn riêng khu vực nông nghiệp chỉ có 1 năm cao hơn (1999: 5,23% so với 4,77%), còn lại 12 năm đều tăng thấp hơn
Tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 12,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng tương ứng từ 19,7% lên 25,3%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh
Trang 17tế Số doanh nghiệp Nhà nước qua sắp xếp đổi mới, cổ phần hoá đã giảm từ 12.084 doanh nghiệp năm 1990 xuống còn 2.980 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và 670 công ty cổ phần do Nhà nước chi phối trên 51% vốn điều lệ năm
2005 Qua đổi mới, doanh nghiệp Nhà nước năm 2005 đóng góp 38,5% GDP và khoảng 50% tổng ngân sách Nhà nước
Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội Năm 2005 chiếm 46% GDP Trong đó, kinh tế hợp tác phát triển ngày càng đa dạng, hoạt động ngày càng có hiệu quả, năm 2005, kinh tế hợp tác đóng góp khoảng 7% GDP
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế
Năm 2005, khu vực này đóng góp 15,5% GDP, trên 7,5% tổng thu ngân sách, trên 17,1% tổng vốn đầu tư xã hội, trên 23% kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu khí); đạt trên 35% giá trị sản xuất công nghiệp; thu hút hơn nửa triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp
Qua 20 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng
bộ Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ