1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020

110 861 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020 Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020 Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020 Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020 Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Vĩnh Phúc, ngày 03 tháng 8 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Bá Kiên

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong quá trình giảng dạy, đã trang bị cho tôi những kiến thức khoa học Đặc

biệt là TS Phí Vĩnh Tường - người trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian nghiên cứu và học tập

Tôi xin chân thành cám ơn các ban ngành nơi tôi công tác và nghiên cứu luận văn, cùng toàn thể các đồng nghiệp học viên lớp cao học quản lý kinh tế khóa 9, gia đình bạn bè đã tạo điều kiện, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành chương trình học của mình và góp phần thực hiện tốt hơn cho công tác thực tế sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vĩnh Phúc, ngày 03 tháng 8 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Bá Kiên

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận văn 4

6 ủa luận văn 5

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN 6

1.1 Lý luận về tăng trưởng kinh tế và phát triển 6

1.1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 6

1.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 7

1.1.3 Khái niệm phát triển 10

1.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế 12

1.1.5 Đo lường phát triển 12

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế 14

1.2.1 Các hình thái tăng trưởng kinh tế 14

1.2.2 Vai trò của các yếu tố sản xuất đối với tăng trưởng kinh tế 15

1.3 Nhà nước với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển 19

1.4 Vai trò của một số chủ thể trong phát triển kinh tế cấp huyện 21

1.4.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng 21

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4.2 Chính quyền địa phương với phát triến kinh tế 22

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ 24

2.1 C âu hỏi nghiên cứu 24

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 25

2.2.2 Phương pháp thống kê 25

2.2.3 Ma trận SWOT 29

2.3 Các tiêu chí phân tích 30

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 2005-2013 31

3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của huyện Bình Xuyên 31

3.1.1 Vị trí địa lý 31

3.1.2 Địa hình 31

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 32

3.1.4 Tài nguyên đất 32

3.1.5 Tài nguyên nước 34

3.1.6 Tài nguyên rừng 35

3.1.7 Tài nguyên khoáng sản 35

3.1.8 Tài nguyên du lịch và nhân văn 35

3.2 Dân số và nguồn lao động 36

3.2.1 Dân số 36

3.2.2 Lao động 37

3.3 Thực trạng phát triển kinh tế huyện Bình Xuyên 38

3.3.1 Tổng quan về phát triển kinh tế huyện Bình Xuyên 38

3.3.2 Thực trạng phát triển của các ngành kinh tế 45

3.4 Đánh giá chung 63

3.4.1 Những kết quả đã đạt được 63

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.4.2 Những mặt hạn chế 65

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 67

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂ 2020 68

4.1 Bối cảnh và dự báo 68

4.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực đến năm 2020 68

4.1.2 Tầm nhìn phát triển kinh tế Vĩnh Phúc đến năm 2020 70

4.2 Quan điểm, Mục tiêu và định hướng phát triển của huyện Bình Xuyên 73

4.2.1 Quan điểm 73

4.2.2 Mục tiêu 74

4.3 Các giải pháp phát triển kinh tế huyện 75

4.3.1 Định hướng giải pháp 75

4.3.2 Mô hình ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên 75

4.3.3 Giải pháp cụ thể 77

4.4 Một số kiến nghị 97

4.4.1 Đối với cấp Trung ương và cấp tỉnh 97

4.4.2 Đối với huyện và các cấp cơ sở địa phương 97

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài (GDP) :Tổng sản phẩm quốc nội (GNI) : Tổng thu nhập quốc dân (GNP) :Tổng sản phẩm quốc dân GTSX : Giá trị sản xuất

(GO) : Giá trị tổng sản lượng (HDI) : Các chỉ số phát triển con người HĐND : Hội đồng nhân dân

KHKT : Khoa học kỹ thuật KTTĐ : Kinh tế trọng điểm KTXH : Kinh tế xã hội (MDGs) : Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ NGTK : Niên giám thống kê

(NEW) : Phúc lợi kinh tế ròng ODA : Viện trợ phát triển chính thức

TCTK : Tổng cục thống kê (TFP) : Năng suất nhân tố tổng hợp TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

(UNDP) : Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc WHO : Tổ chức y tế thế giới

WTO : Tổ chức thương mại thế giới XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Bình Xuyên, năm 2013 33Bảng 3.2 Dân số huyện Bình Xuyên giai đoạn 2005 - 2013 36Bảng 3.3 Lao động làm việc trong các ngành kinh tế giai đ 2005-2013 37Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu phát triển KT-XH giai đoạn 2005-2013 43Bảng 3.5 Kết quả phát triển ngành nông nghiệp giai đoạn 2005-2013 46Bảng 3.6 So sánh năng suất và sản lượng một số loại cây trồng của Bình

Xuyên với các huyện khác trong tỉnh năm 2013 50Bảng 3.7 Kết quả phát triển ngành công nghiệp-xây dựng 2005-2013 55Bảng 4.1 Dự báo các chỉ tiêu phát triển kinh tếtỉnh Vĩnh Phúc 2015-2020 72Bảng 4.2 Ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên 76

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập ngày 01 tháng 9 năm

1998 Sau khi tách ra từ huyện Tam Đảo, huyện Bình Xuyên có 14 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn Quá trình phát triển từ lúc tái lập đến năm 2001, dựa trên định hướng phát triển theo quy hoạch của huyện Tam Đảo (cũ), cơ cấu kinh tế huyện Bình Xuyên vẫn mang tính chất thuần nông, với đặc điểm tăng trưởng kinh tế thấp, kết cấu hạ tầng lạc hậu, ảnh hưởng đến cơ hội phát triển kinh tế và do đó đến phục lợi của người dân trong huyện

Là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, một trong những địa phương phát triển năng động, huyện Bình Xuyên có những lợi thế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển, đóng góp vào quá trình tăng trưởng nhanh của tỉnh Vĩnh Phúc Huyện Bình Xuyên có vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, nằm gần tam giác phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội - Bắc Ninh - Hải Phòng) và gần sân bay Quốc tế Nội Bài Huyện Bình Xuyên còn nằm trên trục đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai, trục quốc lộ số 2, tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, là những huyết mạch giao thông kết nối vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc với thị trường tiêu thụ hàng hóa to lớn của Trung Quốc

Trong bối cảnh tỉnh Vĩnh Phúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những cải cách chính sách của tỉnh đã tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đứng trước các cơ hội phát triển to lớn, do cải cách thể chế của Tỉnh mang lại cũng như

do những lợi thế địa lý, kinh tế của Huyện, chính quyền huyện Bình Xuyên đã nhận thức được sự cần thiết phải chuẩn bị, nâng cao năng lực để nắm bắt được các cơ hội phát triển

Đảng bộ, chính quyền huyện Bình Xuyên đã thông qua định hướng phát triển với mục tiêu đến năm 2020 trở thành một huyện có tốc độ tăng

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trưởng kinh tế cao của tỉnh Vĩnh Phúc Đây là thách thức phát triển đối với huyện Bình Xuyên, với xuất phát điểm còn thấp Trong bối cảnh đó, bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư do tỉnh Vĩnh Phúc tạo ra, huyện Bình Xuyên cũng đang phải đối mặt với thách thức cải thiện môi trường chính sách, góp phần không những thu hút đầu tư vì mục tiêu tăng trưởng mà còn tạo điều kiện để những người dân trong huyện có đủ năng lực để hưởng thụ các cơ hội đầu tư do Tỉnh và Huyện mang lại

Để đạt được mục tiêu nói trên, huyện Bình Xuyên cần chủ động ban hành những chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển Những chính sách đó cần có những luận chứng khoa học, đánh giá đúng tiềm năng, thế mạnh của Huyện cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tình hình phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng những vấn đề riêng có của huyện Bình Xuyên chưa được quan tâm nghiên cứu Chưa có nhiều nghiên cứu đề xuất chính sách cho huyện Bình Xuyên, đặc biệt nghiên cứu những vấn đề phát triển trong giai đoạn vừa qua với những hàm ý chính sách để đạt được mục tiêu đến năm

2020 trở thành huyện tăng trưởng kinh tế cao và có năng lực duy trì được tốc

độ tăng trưởng cao

Là một người trực tiếp ở huyện Bình Xuyên, tôi có những điều kiện thuận lợi trong việc nh chính sách phát triển của

Huyện Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Phát triển kinh tế huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020” làm luận văn tốt nghiệp Đề tài này sẽ góp

phần luận giải những vấn đề phát triển của huyện Bình Xuyên hiện nay và những yêu cầu chính sách cần có để đạt được mục tiêu phát triển đã được đề

ra trên cơ sở khai thác tốt các thế mạnh, tiềm năng vốn có của Huyện

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở hệ thống lý luận tăng trưởng kinh tế, đánh giá đúng thực

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trạng phát triển của Huyện, luận giải những vấn đề phát triển để đề xuất những chính sách góp phần giúp huyện Bình Xuyên đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và có năng lực duy trì mục tiêu này

2.2

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tăng trưởng kinh tế và phát triển ở cấp huyện Xác định đúng vai trò, vị thế của chính quyền cấp huyện đối với quá trình hoạch định chính sách phát triển trong tình hình mới

- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển của huyện Bình Xuyên từ

2005 đến nay, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm mạnh điểm yếu và những chính sách cần có để khắc phục các điểm yếu này cũng như khai thác các thế mạnh của địa phương

- Đề xuất các giải pháp chính sách, trên cơ sở đánh giá đúng cơ hội và thách thức phát triển đối với Huyện, hướng tới các giải pháp chính sách góp phần chuyển dịch cơ cấu từ một huyện thuần nông sang huyện công nghiệp Những giải pháp chính sách này sẽ là một trong những căn cứ cho việc đề xuất giải pháp chính sách của các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm của địa phương trong giai đoạn 2016-2020

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Kết quả tăng trưởng kinh tế của huyện Bình Xuyên và các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng kinh tế của huyện

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chính sách từ nay đến 2015 cũng như cho giai đoạn 2016-2020

3.2.3 Phạm vi ngành, lĩnh vực: Đề tài đánh giá tổng quan vấn đề ở cấp ngành

vốn có trong cơ cấu kinh tế huyện Bình Xuyên

4 Phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của kinh tế học phát triển, cũng như dựa trên các định hướng phát triển của Đảng, Chính phủ và của chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc Những định hướng phát triển đó được thể hiện trong các văn bản như các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Vĩnh Phúc, của Huyện ủy- UBND huyện Bình Xuyên

* Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sẽ sử dụng phương pháp phân tích định tính làm cơ sở Những phân tích định tính được hỗ trợ bởi các phương pháp phân tích thống kê phù hợp Bên cạnh đó, đề tài sẽ sử dụng phương pháp SWOT để đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu cũng như những cơ hội và thách thức phát triển của địa phương

Các số liệu để phục vụ cho phương pháp phân tích định tính sẽ là các

số liệu sơ cấp và thứ cấp, được lấy từ cơ quan thống kê của Huyện, cũng như

từ các báo cáo phát triển kinh tế xã hội, các qui hoạch phát triển kinh tế xã hội của Huyện và của Tỉnh

5 Đóng góp của luận văn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong giai đoạn 2005 đến nay, làm rõ những vấn đề phát triển trong mối quan

hệ với việc điều hành chính sách của các cấp Huyện và Tỉnh Điều này rất cần thiết cho cấp uỷ, chính quyền Huyện trong việc hoạch định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới

Góp phần cung cấp những luận cứ cho việc xây dựng các giải pháp chính sách phát triển trong giai đoạn đến năm 2015 và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện Bình Xuyên giai đoạn 2016-2020

Góp phần gợi ý các giải pháp thực hiện để đạt được mục tiêu phát triển của huyện trong thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế

Là tài liệu tham khảo giúp cấp ủy, chính quyền huyện Bình Xuyên nắm được tình hình chung về phát triển của Huyện trong thời gian qua, để có những định hướng phát triển phù hợp cho những năm tiếp theo

6 của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 04 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế và

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN 1.1 Lý luận về tăng trưởng kinh tế và phát triển

1.1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế

và phát triển Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần của sự phát triển Muốn phát triển, trước hết phải tạo được thêm của cải, vật chất, tức là phải cải thiện được năng lực sản xuất của nền kinh tế Đây là lý do tại sao các nền kinh tế kém phát triển, đang phát triển lại đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế

là mục tiêu ưu tiên hàng đầu

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân Khi sản phẩm hoặc thu nhập

quốc dân của một nền kinh tế tăng lên cùng với quá trình sản xuất hàng hóa

và dịch vụ, nền kinh tế đó đạt được sự tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế là phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt số lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ của nền kinh tế Nền kinh tế có tốc

độ tăng trưởng cao, liên tục sẽ có điều kiện nâng cao thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, có tích luỹ để tái đầu tư, mở rộng sản xuất, thu hút lao động, có khả năng đầu tư cho giáo dục, y tế để nâng cao chất lượng lao động, có điều kiện để phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và có điều kiện thực hiện chính sách xã hội Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa đề cập đến mối quan hệ của sự gia tăng khối lượng của cải với các vấn đề xã hội phát sinh từ quá trình gia tăng của cải đó

Như vậy, bản chất của tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

bền vững hay nói cách khác, người ta quan tâm đến cả chất và lượng của kết quả tăng trưởng kinh tế Từ quan điểm này, bên cạnh yếu tố tốc độ mở rộng qui mô của cải vật chất xã hội, người ta nhấn mạnh hơn đến năng lực duy trì tốc độ đó

Tăng trưởng kinh tế hiện đại là thuật ngữ được nhà kinh tế học đoạt giải Nobel, Simon Kuznets, sử dụng để phân biệt giai đoạn hiện tại với các giai đoạn trước đây như chủ nghĩa tư bản trọng thương hoặc giai đoạn phong kiến Giai đoạn tăng trưởng kinh tế hiện đại vẫn đang trong quá trình định hình và do đó tất cả các đặc điểm của nó còn chưa được thể hiện rõ nét Tuy nhiên các nhân tố chủ chốt bao gồm việc ứng dụng khoa học vào giải quyết các vấn đề của sản xuất kinh tế, dẫn đến quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa

và cả bùng nổ dân số

1.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế

Vấn đề tăng trưởng kinh tế và phát triển, trước hết liên quan đến vấn đề

đo lường thu nhập của người dân Có hai thước đo cơ bản được sử dụng phổ

biến ở cấp độ nền kinh tế là Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tổng sản phẩm quốc nội là tổng giá trị hàng hóa và

dịch vụ cuối cùng được một xã hội tạo ra trong thời gian một năm GNP loại trừ hàng hóa trung gian, hàng hóa được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa, ví

dụ như thép để xây dựng, hay ví dụ như rau quả để làm nguyên liệu cho nhà máy đóng hộp Ngân Hàng Thế Giới và nhiều tổ chức đa phương khác sử dụng một khái niệm tương tự là Tổng thu nhập quốc dân (GNI)

Tổng sản phẩm quốc nội, là tất cả các sản lượng được tạo ra trong lãnh thổ của một quốc gia, không phân biệt sản lượng đó được tạo ra bởi người trong nước hay người ngoại quốc Tuy nhiên nó không bao gồm giá trị sản lượng được tạo ra bởi người trong nước nhưng đang hoạt động ở nước ngoài Các giá trị GNP và GDP đó chia cho dân số của một quốc gia sẽ được thước

đo bình quân đầu người

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Một trong những hạn chế của hai thước đo trên là việc đo lường phải dựa trên việc tính toán thông qua thước đo giá trị Việc tập trung vào các hàng hóa, dịch vụ được trao đổi trên thị trường trước hết gây ra vấn đề bỏ sót, bởi

có rất nhiều các hoạt động có giá trị đối với xã hội đã bị loại ra khỏi quá trình tính toán trong tổng sản phẩm quốc nội Nguyên nhân căn bản là các thước đo này là sản phẩm của một nền kinh tế thị trường đã phát triển, nơi có sự phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa cao, nơi các chi phí cơ hội đều được nhận thức đầy đủ và minh bạch

Khi công việc nội trợ, trông giữ trẻ được thực hiện thông qua việc sử dụng các dịch vụ của xã hội, như dịch vụ người giúp việc được Việt Nam sử dụng với thuật ngữ Ô-sin, các chi phí cho dịch vụ đó sẽ được tính trong GDP

vì những dịch vụ đó đã được “giao dịch trên thị trường” Tuy nhiên, khi các dịch vụ tương tự như thế được một hay một số thành viên trong gia đình thực hiện, nó sẽ không được trả phí dịch vụ dưới dạng tiền lương và do đó không được tính trong cấp phần của GDP

Đối với các nền kinh tế kém phát triển và đang phát triển, con người có

xu hướng tận dụng sức lao động của các thành viên trong gia đình hơn là thuê các dịch vụ xã hội Có rất nhiều nguyên nhân giải thích cho xu hướng này Thứ nhất, do cơ cấu nền kinh tế vẫn còn nặng tính chất của nền kinh tế nông nghiệp, nơi thiếu sự phân công lao động xã hội, những người lao động vẫn có

xu hướng sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp Thứ hai, do năng suất thấp dẫn tới thu nhập thấp và ngân sách có khả năng thanh toán cho việc sử dụng một số dịch vụ của xã hội trở nên đắt đỏ tương đối và vì thế người lao động buộc phải

tự làm một số dịch vụ

Như vậy, với những nền kinh tế còn nặng tính nông nghiệp, và do đó,

với các vùng kinh tế còn mang tính thuần nông như Huyện Bình Xuyên, thước đo GDP có những hạn chế nhất định Nó không thể nói chính xác sự thay đổi trong đóng góp của sản xuất nông nghiệp trong GDP mà chỉ tính

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được sự thay đổi trong đóng góp của sản lượng nông nghiệp được giao dịch trên thị trường vào GDP mà thôi

Vì cách định nghĩa chặt trẽ của GDP sẽ hạn chế tính hữu ích của việc

so sánh kết quả giữa các quốc gia, các địa phương có nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Một thông lệ chung là các nhà thống kê sẽ tính cả sản lượng nông sản được người sản xuất tự tiêu dùng, ước tính tại mức giá cả thị trường vào trong giá trị của GDP Dù vậy, đây cũng không phải là giải pháp triệt để Khi nền kinh tế tăng trưởng và do đó có thêm nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn được trao đổi trên thị trường, thì kết quả ước lượng giá trị của GDP có thể khuyếch đại sự tăng trưởng trong hoạt động kinh tế, chỉ đơn giản bởi đó là sự chuyển đổi sản xuất từ khu vực hộ gia đình sang khu vực thị trường

Bên cạnh đó, GDP là thước đo những hàng hóa và dịch vụ “tốt” được tạo ra trong nền kinh tế Những điều “xấu” do những hàng hóa và dịch vụ tạo

ra đến nay mới bắt đầu được cân nhắc và đưa vào trong việc tính toán giá trị GDP Ví dụ nhà máy sản xuất giấy và gây ô nhiễm nguồn nước Giá trị của giấy, tính theo giá trị thị trường được tính vào GDP Tuy nhiên, giá trị của sự

ô nhiễm, được tính bằng tổng chi phí xã hội phải bỏ ra để xử lý nguồn nước thải bị ô nhiễm do nhà máy giấy tạo ra lại không được tính toán (khấu trừ)

vào trong giá trị của GDP Mặc dù có thể tính toán được giá trị này, nhưng với những quốc gia và những địa phương còn nặng chủ nghĩa thành tích, người ta dễ dàng bỏ qua việc khấu trừ giá trị do ô nhiễm và những tổn hại xã hội khác do quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ tạo ra

Bên cạnh đó, nền kinh tế luôn tồn tại hai khu vực Đó là khu vực kinh

tế chính thức và khu vực kinh tế ngầm Những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được tạo ra bởi khu vực kinh tế ngầm, ở nhiều quốc gia đã phát triển như Mỹ, hay một số nước tư bản khác, có thể tương đương hoặc lớn hơn giá trị của nền kinh tế chính thức Các hàng hóa và dịch vụ đó cũng được giao dịch trên thị

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trường nhưng không thể và không được tính toán vào trong giá trị của GDP của nền kinh tế đó

Trong nền kinh tế hiện đại, phúc lợi kinh tế ròng (NEW) đã cố gắng khấu trừ chi phí của sự ô nhiễm, phạm pháp, tắc nghẽn giao thông và những

“điều xấu khác”, được các nhà kinh tế đưa ra như là một đơn vị đo lường thu nhập quốc dân tốt hơn Tuy nhiên, nó không được chấp nhận sử dụng rộng rãi Mặc dù còn những điểm khiếm khuyết, đối với nền kinh tế quốc dân, GDP vẫn được sử dụng rộng rãi

Đối với nền kinh tế của một địa phương, giá trị GDP có những hạn chế nhất định trong việc ước tính, cả về giá trị tuyệt đối và cả về tốc độ tăng trưởng Những vấn đề trong tính toán giá trị tuyệt đối đã được trình bầy ở trên

Và để khắc phục, một số nhà thống kê đã đề nghị thay thế việc tính kết quả tăng trưởng kinh tế dựa trên GDP của địa phương bằng việc tính toán dựa trên giá trị tổng sản lượng (GO) Tuy nhiên, bản thân giá trị tổng sản lượng cũng vẫn còn nhiều hạn chế mà đề tài sẽ không bàn đến do vượt qua phạm vi đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó, với địa phương có qui mô kinh tế nhỏ, một

sự thay đổi nhỏ về giá trị có thể dẫn tới những thay đổi lớn về kết quả tăng trưởng Chính vì vậy trong luận văn này sẽ luôn phân tích dựa trên sự kết hợp của cả giá trị tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng

1.1.3 Khái niệm phát triển

Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần nhưng không đủ để cải thiện được mức sống của phần lớn dân số trong những nền kinh tế đang phát triển hoặc trong các địa phương có nền kinh tế đang phát triển Nó cần thiết, vì không có tăng trưởng kinh tế thì giá trị tài sản không được tạo mới và tăng trưởng giá trị tài sản chỉ có thể có được nhờ sự chuyển giao tài sản từ cá nhân này sang

cá nhân khác

Tăng trưởng kinh tế không phải là điều kiện đủ của phát triển Tăng trưởng kinh tế không đảm bảo chắc chắn người dân có thu nhập cao hơn, đặc

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

biệt là đại bộ phận người dân lao động Cơ bản nguyên nhân như (1) thành quả tăng trưởng được tái sử dụng vào những dịch vụ, sản phẩm có chi phí tốn kém nhưng ít có tính thiết thực với đa số nhân dân lao động; (2) tăng trưởng đạt được với các khoản đầu tư để đảm bảo cho tăng trưởng trong tương lai; (3) tăng trưởng vì người giàu, theo cách bất bình đẳng tiếp tục doãng ra lớn hơn

Phát triển có nội hàm rộng hơn Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, phát triển còn đề cập đến những cải thiện trong vấn đề giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe và những vấn đề liên quan đến phúc lợi của người dân Một vài

n n kinh tế trên thế giới đã trải qua những giai đoạn ở đó thu nhập quốc dân tăng nhưng không có những cải thiện về phúc lợi của người dân, đặc biệt là tuổi thọ, sức khỏe và vì thế không đạt được Theo A Sen, phát triển kinh tế đòi hỏi phải thủ tiêu các nguyên nhân dẫn tới “tình trạng túng quẫn về năng lực” để bảo vệ con người, để họ được tự do sống cuộc sống mà mình mong ước

Sự phát triển thường đi kèm với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách đáng kể Ngày nay, càng có nhiều người chuyển từ lao động trong lĩnh

vực nông nghiệp sang lao động trong những lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ

Họ di chuyển từ nông thôn ra các khu vực thành thị, nơi có những công việc được trả lương cao hơn Nếu tăng trưởng kinh tế mà không tạo ra được sự chuyển dịch cơ cấu thì nó phản ánh sự tập trung nguồn thu trong một nhóm dân cư của nền kinh tế Mặc dù tăng trưởng kinh tế không đi kèm với phát triển rất hiếm khi gặp phải, và không mang tính qui luật, nhưng nó không phải

là điều không thể xảy ra Kinh nghiệm của Ghine Xích đạo là một ví dụ minh chứng cho trường hợp có tăng trưởng kinh tế nhưng không có phát triển

Các nền kinh tế trên thế giới theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển với các xuất phát điểm hết sức đa dạng, phong phú và những đặc điểm riêng này ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn phát triển của họ Tuy nhiên, kinh nghiệm phát triển đa dạng và phong phú cho thấy mỗi quốc gia ngày nay không nhất thiết phải rập khuôn theo đúng tiến trình phát triển mà các nước phát triển đã trải qua Với mỗi cái gọi là điều kiện tiên quyết cho sự

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phát triển diễn ra thì thường có một số lựa chọn chiến lược thay thế khác nhau

để mỗi nước sử dụng

1.1.4 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế

Các chỉ tiêu đo lường mức tăng trưởng kinh tế được sử dụng làm thước

đo trình độ phát triển nền kinh tế một cách cụ thể Ở một góc độ nào đó tăng trưởng kinh tế không phản ảnh được chính xác phúc lợi của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội, chênh lệch giàu nghèo có thể tăng lên, chênh lệch giữa nông thôn và thành thị có thể tăng cao và bất bình đẳng xã hội cũng có thể tăng Tăng trưởng có thể cao nhưng chất lượng cuộc sống có thể không tăng, môi trường có thể bị hủy hoại, tài nguyên bị khai thác quá mức, cạn kiệt, nguồn lực có thể sử dụng không hiệu quả, lãng phí

Như vậy giữa tăng trưởng và phát triển có mối quan hệ mật thiết với nhau Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển và ngược lại sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

1.1.5 Đo lường phát triển

Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã giới thiệu thước

đo phát triển trong nhiều ấn phẩm của mình Trong đó có các báo cáo thường niên về phát triển con người Mặc dù khái niệm phát triển con người và phát triển có những điểm khác nhau nhưng về nội hàm nó giống nhau Đó là sự phản ánh mong muốn nhận thức về sự phát triển để bao hàm không chỉ có sự gia tăng về thu nhập bình quân đầu người mà cả các nhân

tố khác như giáo dục, y tế…

Bên cạnh ba chiều cạnh cơ bản trong chỉ số phát triển con người, là kinh tế, tuổi thọ bình quân và giáo dục, ngày nay, UNDP còn tính toán thêm các chỉ số thành phần phản ánh bất bình đẳng và đói nghèo, các vấn đề về giới

Bên cạnh một thước đo tổng hợp về phát triển con người là thước đo tổng hợp về phát triển, người ta còn sử dụng một tập hợp các chỉ số được biết với tên gọi “Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Thay vì khái niệm rõ ràng, bộ chỉ số trong “các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” là những thước đo tốt để các nhà hoạch định chính sách hiểu được vấn đề, thách thức của sự phát triển Bộ chỉ số này phản ánh 8 mục tiêu của phát triển là:

Mục tiêu 1: Xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực

Mục tiêu 2: Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học

Mục tiêu 3: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ Mục tiêu 4: Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em

Mục tiêu 5: Cải thiện sức khỏe bà mẹ

Mục tiêu 6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các dịch bệnh khác Mục tiêu 7: Đảm bảo bền vững môi trường

Mục tiêu 8: Tạo lập quan hệ đối tác toàn cầu vì sự phát triển

Có thể thấy rằng, để đánh giá được các thành tựu của nền kinh tế cần có những khái niệm và thước đo Mặc dù còn nhiều hạn chế, GDP bình quân đầu người và do đó tăng trưởng GDP bình quân đầu người vẫn là chỉ tiêu phổ dụng ở cấp độ quốc gia Tuy nhiên, như đã lý luận ở trên, đối với các vùng kinh tế thuộc một nền kinh tế, đặc biệt theo địa giới hành chính, còn nhiều hạn chế và GDP không được đo lường một cách chính xác Thay vào đó, giá trị tổng sản lượng có thể là một chỉ tiêu tốt Tuy nhiên trong đề tài này, việc

sử dụng các chỉ tiêu thay thế tốt hơn sẽ không được thực hiện do những hạn chế về năng lực, về tính sẵn có của số liệu

Mặc dù tăng trưởng kinh tế là thước đo tương đối khách quan về năng lực kinh tế Phát triển, đôi khi còn được dùng là phát triển kinh tế lại là khái niệm mang tính chuẩn tắc Các chỉ số phát triển con người (HDI) hay các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) có thể là những chỉ tiêu tốt nhất đến nay

có được để phản ánh sự phát triển của mỗi nền kinh tế Tuy nhiên vẫn còn những thách thức đối với việc áp dụng vào một địa phương Mặc dù vậy, nó vẫn có những giá trị trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách cấp địa

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phương trong quá trình ra quyết định, như xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Mặc dù phần thứ nhất đã bàn về tăng trưởng kinh tế và đo lường tăng trưởng kinh tế, nên đáng lẽ việc trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế cũng phải trình bày trong phần một Tuy nhiên do tầm quan trọng của việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng, với ý nghĩa là

cơ sở phân tích thực trạng phát triển và hàm ý chính sách, đề tài quyết định tách riêng việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như

là một phần độc lập

1.2.1 Các hình thái tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế và phát triển không phải là hai khái niệm đồng nghĩa Tăng trưởng kinh tế là trung tâm của quá trình phát triển Những vấn

đề như phát triển bền vững hay giảm nghèo không thể có được nếu không có tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào hai quá trình cơ bản là quá trình tích lũy vốn sản xuất và quá trình tăng năng suất Tích lũy vốn đòi hỏi các chủ thể của nền kinh tế phải tiết kiệm, theo nghĩa hạn chế tiêu dùng hiện tại để đầu tư vào sản xuất và hướng tới gia tăng tiêu dùng trong tương lai Tăng năng suất gắn liền với quá trình nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ hay đổi mới các công nghệ sản xuất

Lịch sử phát triển cho thấy có bốn hình thái tăng trưởng đã diễn ra Một nhóm quốc gia có thu nhập thấp và tăng trưởng âm Ví dụ nền kinh tế Dăm-bi-a, châu Phi, có mức thu nhập bình quân thấp và xu hướng giảm thu nhập bình quân (tăng trưởng âm 0,6%/năm) trong giai đoạn 1960-2003 Cùng trong nhóm này này các nước Madagasca, Vê-nê-duê-la…

Nhóm thứ hai, tuy không gặp phải tình trạng như nhóm một, nhưng có mức tăng trưởng thấp Ví dụ Peru, châu Mỹ La tinh là một nền kinh tế có xuất

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phát điểm thấp và có mức tăng trưởng rất thấp, bình quân 1% /năm trong giai đoạn 1960-2003 Trong giai đoạn này còn có 9 quốc gia khác cũng ở chung tình trạng với Peru

Nhóm thứ ba là các nền kinh tế có sự thành công, với mức tăng trưởng kinh tế vừa phải Đại hiện cho nhóm này là Ai-cập, với mức tăng trưởng bình quân 2,6% trong cùng giai đoạn so sánh Tuy mức tăng trưởng đó thấp, nhưng

nó đủ giúp cho thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp ba lần sau 40 năm Tuy nhiên cũng thấy rằng tăng trưởng này không phải là yếu tố quyết định đến phát triển, đặc biệt những biến động chính trị đối với chính quyền Mubarak và cách mạng Ai-cập năm 2011 Trong nhóm này có khoảng 8 quốc gia khác

Nhóm thứ tư làm được nhiều hơn thế Trong cùng giai đoạn 1960-2003, các nước này đã đẩy thu nhập bình quân đầu người tăng trưởng với mức lớn hơn 3%/năm Một số nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng 5% năm như Singapore, Hàn Quốc Đây là mốc tăng trưởng cao của thế giới trong 4 thập kỷ phát triển Ví dụ Singapore đạt mức tăng trưởng 10,7%/năm hay Hàn Quốc đạt mức tăng trưởng 11,36% năm trong giai đoạn 1960-2003 Các mức tăng trưởng này tạo ra sự khác biệt rất lớn Với mức tăng trưởng bình quân 1%/năm thì phải sau 70 năm thu nhập bình quân đầu người mới tăng gấp đôi Trong khi đó, với mức tăng trưởng bình quân đầu người 7%/năm, quá trình tăng gấp đôi thu nhập bình quân đầu người rút xuống chỉ còn 7 năm

1.2.2 Vai trò của các yếu tố sản xuất đối với tăng trưởng kinh tế

Các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã nỗ lực tìm hiểu các yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế Trong các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, đó là mối quan hệ giữa các yếu tố vốn và lao động với yếu tố tổng sản lượng của nền kinh tế

Một số nền kinh tế được thiên nhiên ưu đãi, ban tặng các nguồn vốn tự

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

nhiên nhu dầu mỏ, vàng, kim cương, cao su … và có thể khai thác để phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế Thông qua việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, các nền kinh tế đó đẩy nhanh được quá trình tích lũy vốn trong tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển

Theo các mô hình tăng trưởng kinh tế, tổng sản lượng là một hàm số của sự tổng các nhân tố vốn và lao động mà quốc gia đó có (với các hệ số co dãn nhất định) và mức độ hiệu quả sử dụng các nguồn lực vốn và lao động này Như vậy, tăng trưởng kinh tế có thể được đóng góp bởi: (1) sự mở rộng một trong những nhân tố sản xuất; hoặc (2) sự mở rộng đồng thời của cả hai nhân tố sản xuất vốn và lao động; hoặc (3) sự gia tăng hiệu quả của việc sử dụng của một trong những nhân tố đầu vào hoặc vốn hoặc lao động; hoặc (4)

sự gia tăng hiệu quả kết hợp của tất cả các nhân tố đầu vào

Từ một chiều cạnh khác, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào các quá trình sau:

Sự tích lũy của các yếu tố sản xuất: Được xác định bởi sự gia tăng qui

mô của tổng lượng vốn hay sự gia tăng tổng lực lượng lao động trong nền kinh tế Nguyên nhân căn bản là trong một số mô hình sản xuất, muốn gia tăng sản lượng hàng hóa và dịch vụ phải gia tăng thêm máy móc, nhà xưởng (vốn vật chất) và lao động

Tăng trưởng năng suất: là quá trình gia tăng sản lượng của người lao động trong điều kiện các yếu tố khác, như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào, không thay đổi Năng suất tăng lên nhờ tay nghề của người lao động tăng lên, và do đó số lượng sản phẩm hỏng giảm đi, số lượng các sản phẩm đạt tiêu chuẩn tăng lên Năng suất cũng có thể tăng lên nhờ việc cải tiến công nghệ sản xuất, giúp cho người lao động tối ưu hóa quá trình tổ chức sản xuất theo hướng chuyên môn hóa cao hơn

Như vậy, có thể thấy tăng trưởng kinh tế phụ thuộc căn bản vào quá trình tích lũy các yếu tố sản xuất Tích lũy các yếu tố vốn và lao động vừa cho

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phép mở rộng qui mô sản xuất vừa cho phép thực hiện các biện pháp nghiên cứu và phát triển để tìm ra những phương thức sản xuất mới, góp phần nâng cao hiệu quả của bản thân các yếu tố vốn và lao động, tức là nâng cao năng suất sử dụng các yếu tố đầu vào

Có nhiều mô hình giải thích sự tăng trưởng kinh tế trong mối quan hệ với sự tích lũy các yếu tố sản xuất cũng như các yếu tố tác động đến quá trình tích lũy các yếu tố sản xuất này Một trong những mô hình tăng trưởng căn bản, được các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách sử dụng, nhất là trong công tác qui hoạch, dự báo phát triển, là mô hình tăng trưởng Solow Đương nhiên, như sẽ phân tích ở dưới, mô hình này cũng có những điểm hạn chế, thể hiện ở tư tưởng trọng vốn Các mô hình mới đã có những điều chỉnh

bổ sung yếu tố con người, nhưng không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

Ý tưởng chính của mô hình Solow và của nhiều mô hình khác có những điểm chính sau:

Đầu tư mới làm tăng quĩ vốn Đầu tư vào máy móc, nhà xưởng thiết bị trực tiếp gia tăng quĩ vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất

Để tăng quĩ vốn, giá trị của các khoản đầu tư mới phải lớn hơn giá trị khấu hao lượng vốn hiện có Các nhà máy và máy móc thường hao mòn dần theo thời gian, và một lượng nhất định trong phần đầu tư mới là cần thiết để duy trì qui mô vốn như cũ Đầu tư lớn hơn phần khấu hao trực tiếp sẽ bổ sung quĩ vốn Đầu tư phải lớn hơn mức khấu hao và mức tăng trưởng của lực lượng lao động để có sự gia tăng vốn trên mỗi công nhân

Đầu tư được hình thành từ tiết kiệm Một trong những phương trình cơ bản của tài khoản quốc gia là đầu tư bằng tiết kiệm Điều này hàm ý nhân tố tiết kiệm chính là một trong những nhân tố quyết định việc tích lũy vốn cho nền kinh tế

Nguồn gốc của tiết kiệm: Được hình thành từ những khoản thu nhập hiện tại Tiết kiệm được hình thành từ các cấu phần như tiết kiệm của hộ gia

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

đình - tức là phần thu nhập không sử dụng để chi tiêu, tiết kiệm của doanh nghiệp - tức là phần lợi nhuận được giữa lại để tái đầu tư vào quá trình sản xuất, tiết kiệm của chính phủ - dựa trên việc tăng số lượng và hiệu quả các khoản thu từ thuế hoặc dựa trên việc tiết kiệm chi tiêu hoặc dựa trên cả hai

Đối với nguồn thu của chính quyền địa phương, bên cạnh các nguồn thu nói trên, còn có các khoản chuyển nhượng của chính phủ Đó là các khoản chuyển nhượng từ chính quyền trung ương xuống chính quyền địa phương và

từ chính quyền địa phương cấp cao hơn xuống chính quyền địa phương cấp thấp hơn dựa trên những nguyên tắc căn bản về phân cấp quản lý nhà nước về ngân sách Đây là phần quan trọng đối với tiết kiệm của chính quyền địa phương, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế địa phương kém phát triển và các nguồn thu dựa trên thuế không thể và không nên gia tăng

Như đã trình bày ở trên, nguồn gốc của tăng trưởng không chỉ dựa vào

sự tích lũy các yếu tố sản xuất mà còn dựa vào việc nâng cao hiệu quả của các yếu tố sản xuất Một trong những cách thức để hiểu được vai trò, sự đóng góp của hiệu quả đến tăng trưởng kinh tế là việc sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng hay phân tích nguồn gốc tăng trưởng của Solow

Trên cơ sở của một hàm sản xuất chuẩn, Solow tích hợp thêm yếu tố để

đo lường mức độ đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) Mặc dù còn rất nhiều tranh cãi về ý nghĩa, tính chính xác của TFP theo phương thức hạch toán tăng trưởng, nhưng không thể không thừa nhận vai trò của yếu tố này đối với các đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu vào cũng như trong việc hoạch định chiến lược phát triển hướng tới việc nâng cao hiệu quả của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là vốn và lao động

Nhiều nghiên cứu chứng thực dựa trên mô hình này bổ sung thêm trong kiến thức nghiên cứu và quản lý về vai trò và mức độ đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và hiệu quả tổng hợp (TFP) đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Solow cho thấy, trong kết quả tăng trưởng kinh tế Mỹ, tăng

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trưởng về vốn trên lao động chỉ đóng góp được 12% của tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, tăng trưởng của nhân tố năng suất tổng hợp đóng góp đến 88% trong tăng trưởng của nền kinh tế Đã có nhiều nghiên cứu sau đó cố gắng làm rõ hơn và chính xác hơn mức độ đóng góp của cá nhân tố này đối với tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên có thể kết luận rằng các phân tích về nguồn gốc tăng trưởng cho thấy tích lũy vốn là động lực chính cho tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển và điều này là nhất quán với mô hình tăng trưởng của Solow Năng suất nhân tố tổng hợp có thể giữ một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng trong bối cảnh có cơ cấu và chính sách thích hợp Đối với nền kinh tế tăng trưởng nhanh, cả hai nhân tố đều giữ vai trò quan trọng Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, tầm quan trọng của nhân tố TFP

sẽ ngày một lớn hơn

Ngay ở tầm một địa phương, trong bối cảnh nền kinh tế còn chậm phát triển, cơ cấu kinh tế còn mang nặng tính nông nghiệp, những lý luận về tăng trưởng đã hàm ý sự cần thiết của quá trình tích lũy vốn Bên cạnh việc nhận được những khoản chuyển nhượng từ chính quyền cấp cao hơn, cần thiết có những cải cách chính sách để thúc đẩy tích lũy của doanh nghiệp và của tư nhân trong địa phương, thông qua đó thúc đẩy sự đầu tư cho nền kinh tế

1.3 Nhà nước với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển

Trong quá trình phát triển, đã có nhiều lập luận ủng hộ mạnh mẽ việc

để cho các hoạt động kinh tế diễn ra dưới sự điều tiết của cơ chế thị trường hơn là để cho các chỉnh phủ điều tiết Tuy nhiên, đôi khi thị trường cũng gặp những thất bại và những thất bại đó lại có xu hướng diễn ra thường xuyên, liên tục ở những nền kinh tế kém phát triển

Những quan điểm ủng hộ cho sự vận hành của nền kinh tế dựa trên sự điều tiết của cơ chế thị trường dựa trên những lập luận căn bản như: (1) việc phân phối và do đó là sử dụng hiệu quả các nguồn lực chỉ có thể thực hiện

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

dưới sự vận hành của cơ chế thị trường Những nỗ lực phân phối của nhà nước, như trường hợp của mô hình Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa là minh chứng cho sự thất bại thảm hại; (2) thị trường linh hoạt hơn chính phủ

và có khả năng thích ứng nhanh chóng trong việc đưa ra các động lực khuyến khích sáng tạo, khuyến khích đầu tư kinh doanh để thay đổi cơi cấu Đây là điều chính phủ không làm được hoặc có làm được thì cần thời gian dài hơn; (3) Thị trường thúc đẩy cạnh tranh và điều này kích thích các chủ thể của hoạt động kinh tế không ngừng tìm tòi phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động, thông qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh Những qui định của chính phủ, theo hướng tạo ra những lợi ích cục bộ cho một nhóm đối tượng doanh nghiệp

sẽ bóp méo cơ chế thị trường, triệt tiêu cạnh tranh và do đó cũng triệt tiêu các động lực cải cách, động lực của tăng trưởng; (4) Cơ chế thị trường còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Cùng với yêu cầu phát triển kinh tế, công tác quản lý nhà nước cần có những điều chỉnh để nhanh chóng thích ứng với các yêu cầu của thị trường, ví dụ như cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng cạnh tranh để cơ chế giá thị trường có thể hoạt động linh hoạt Chính điều này dẫn tới các yêu cầu phân cấp quản lý, trao nhiều quyền hơn cho các cấp lãnh đạo địa phương

Tuy nhiên, không phải lúc nào những luận điểm trên cũng đúng và cũng có tác dụng đối với một nền kinh tế đang phát triển hoặc một địa phương đang phát triển Đặc biệt với một số địa phương có những lợi thế nhất định đang trong tình trạng kém phát triển không có điều kiện nội lực để phát triển, nhưng nếu phát triển được thì sẽ mang lại nhiều tác động lan tỏa tích cực thì những can thiệp của chính quyền trung ương hoặc chính quyền cấp trên lại là điều cần thiết

Ở tầm quốc gia, những thất bại thị trường dẫn tới sự can thiệp của nhà nước như là tất yếu bao gồm: (1) Những vấn đề độc quyền, độc quyền nhóm, tình trạng một số ít doanh nghiệp kiểm soát và thao túng được giá cả thị

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trường; (2) tính kinh tế ngoại sinh, khi lợi ích của một dự án (như xây dựng đường xá của địa phương) mang lại lợi ích cho những người không liên quan đến dự án Sẽ có nhiều người dân qua lại trên những trục đường quốc lộ nhưng việc thu phí là khó thực hiện do nó ngăn cản quyền được tiếp cận đến

cơ hội phát triển không chỉ của người dân địa phương mà còn của nhiều người dân khác, và vì thế tư nhân có ít động lực để đầu tư nếu không có can thiệp của chính phủ; (3) tính phi kinh tế ngoại sinh, là những chi phí mà doanh nghiệp chối bỏ khi không bị điều tiết, ví dụ chi phí xử lý ô nhiễm không khí, nguồn nước mà tác nhân là các doanh nghiệp; (4) vấn đề phát triển các ngành công nghiệp non trẻ; (5) sự tồn tại của những thể chế yếu kém mà nếu không

có những can thiệp của nhà nước thì không thể cải cách được; (6) Tính linh hoạt của các thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường lao động, thị trường vốn bị mất đi hoặc bị lệch pha trong ngắn hạn; (7) những mục tiêu quốc gia cần được đặt cao hơn mục tiêu tăng trưởng kinh tế

1.4 Vai trò của một số chủ thể trong phát triển kinh tế cấp huyện

1.4.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng

Sau ba mươi năm đổi mới theo mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ngày càng thể hiện tầm quan trọng trong những thành tựu đổi mới cũng như trong những sai lầm, khuyết điểm đã vấp phải Vì vậy để chủ động giải quyết mối quan hệ này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả cả về kinh tế và chính trị

Hiện nay, nền kinh tế đang đứng trước bước ngoặt với những thách thức và cần các giải pháp sau đây

1- Phải chuyển từ quá trình phát triển về lượng (chỉ mở rộng các nhân

tố sản xuất thông qua quá trình tích lũy) sang quá trình phát triển về chất (gia tăng mức độ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp)

2- Sớm chuyển từ hướng phát triển phiến diện hiện nay (dẫn tới nảy sinh nhiều vấn đề xã hội và môi trường) sang định hướng phát triển đồng thuận giữa kinh tế với xã hội và môi trường (phát triển bền vững, vì mục tiêu

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

phát triển con người)

3- Thúc đẩy hình thành tổ chức và thể chế nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân để đảm bảo nội hàm “định hướng XHCN” có tính khả thi

4- Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các hội trong thực hiện chiến lược phát triển, nhằm thực hiện mục tiêu “Nhân dân làm chủ” của Đảng

đã đề ra

Những thách thức này có thể được thực hiện dưới sự lãnh đạo, sự đổi mới nhận thức về các yêu cầu phát triển, về bối cảnh phát triển, về tư duy phát triển của Đảng lãnh đạo

1.4.2 Chính quyền địa phương với phát triến kinh tế

Có thể thấy chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cấp chính quyền (trung ương cũng như địa phương) bao gồm:

Tạo lập môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển kinh tế

Bằng quyền lực và sức mạnh tổ chức của mình, Nhà nước bảo đảm bằng môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi, bình đẳng cho cho hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm môi trường chính trị, pháp luật, kinh

tế, xã hội… Đây là những điều kiện cần thiết để giới kinh doanh yên tâm đầu

tư vốn và kinh doanh thuận lợi, góp phần có hiệu quả kinh tế đất nước Nhà nước tạo ra các dịch vụ công về môi trường chính trị, pháp lý an ninh, thủ tục quản lý, điều kiện kinh doanh, thông tin an toàn xã hội phục vụ cho xã hội Đảm bảo các quyền cơ bản như quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh những lĩnh vực, ngành nghề không bị pháp luật cấm

Định hướng và hướng dẫn phát triển kinh tế trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước có chức năng định hướng phát triển kinh tế bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch Quy hoạch, kế hoạch phải phát huy tối đa mọi lợi thế của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội

Bảo đảm phát triển bền vững và ổn định của các cân đối vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường

Nhà nước bằng các công cụ điều tiết của mình, cần bảo đảm sự bền vững của các cân đối vĩ mô, tạo xu hướng phát triển tích cực để khuyến khích kinh tế phát triển Ngoài ra nhà nước có nhiệm vụ xắp xếp tổ chức lại các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất, nhằm tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý, xắp xếp lại hệ thống quản lý, các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế từ trung ương đến cơ sở, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, xắp xếp cán bộ công chức quản lý Nhà nước và doanh nghiệp, thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nước

và tổ chức quốc tế …

Hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế–

xã hội quan trọng, phát triển hệ thống an sinh xã hội

Trong điều kiện hạ tầng kinh tế - xã hội còn kém phát triển, xây dựng

hạ tầng yêu cầu chi phí đầu tư lớn, chậm thu hồi vốn, lãi suất thấp, trong khi vốn tích luỹ đầu tư của các doanh nghiệp còn nhỏ bé thì Nhà nước chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là rất cần thiết, bảo đảm kinh tế phát triển ổn định và có hiệu quả

Chức năng kiểm tra

Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật

tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát hiện ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhân dân, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và từng bước thực hiện công bằng xã hội

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 C âu hỏi nghiên cứu

Để làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu, thực trạng phát triển của Huyện Bình Xuyên, luận giải những vấn đề phát triển để đề xuất những giải pháp chính sách, luận văn đặt ra những câu hỏi nghiên cứu sau:

- Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và phát triển sẽ cần có những điều chỉnh gì khi áp dụng ở cấp địa phương? Ví dụ như cấp tỉnh hoặc cấp huyện, theo địa giới hành chính ở Việt Nam

- Vai trò, vị thế của chính quyền cấp huyện đối với quá trình hoạch định chính sách phát triển trong tình hình mới sẽ được xác định như thế nào?

- Thực trạng phát triển của huyện Bình Xuyên từ 2005 đến nay và những vấn đề đặt ra để tiếp tục duy trì đà phát triển?

- Những giải pháp chính sách từ nay đến 2020 nên ưu tiên như thế nào đối với các yêu cầu phát triển của Huyện Bình Xuyên?

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Giả thiết nghiên cứu của tác giả là: Tăng trưởng kinh tế và phát triển của huyện Bình Xuyên trong những năm qua đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng chưa xứng đáng với tiềm năng, với lợi thế vốn có - gần tam giác phát triển của vùng kinh tế trong điểm phía bắc - vì những nguyên nhân chính sách và vì năng lực, chiến lược đầu tư của Huyện cũng như của Tỉnh Vĩnh Phúc

Tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích định tính để khẳng định giả thiết trên, xác định rõ các nguyên nhân ảnh hướng đến việc tiềm năng phát triển không được phát huy Trên cơ sở đó, tác giả sẽ dùng phương pháp SWOT để đi tìm những giải pháp chính sách đáp ứng mục tiêu phát triển của Huyện đến 2020

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Dữ liệu

Các phương pháp thống kê và phân tích định tính sẽ được thực hiện dựa trên các số liệu kinh tế vĩ mô của Huyện Các số liệu thống kê sơ cấp được lấy từ cơ quan thống kê của Huyện Các số liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo định kỳ của cơ quan thống kê, của ủy ban nhân dân Huyện, của các ban ngành đoàn thể hoạt động trên địa bàn

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do người khác thu thập, sử dụng cho các mục dích có thể là khác với mục đích nghiên cứu của tác giả Dữ liệu thứ cấp không phải do người nghiên cứu trực tiếp thu thập Dựa trên những nguồn số liệu có sẵn của địa phương để phục vụ việc nghiên cứu đề tài, tác giả lấy số liệu từ các nguồn sau:

Cơ quan thống kê Huyện Bình Xuyên Đó là báo cáo thống kê về các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản của Huyện, như tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh

tế ngành, lao động, đầu tư hay chuyển dịch cơ cấu

Các báo cáo năm về tình hình kinh tế xã hội của huyện Bình Xuyên Thông tin từ qui hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Bình Xuyên Thông tin từ qui hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.2 Phương pháp thống kê

* Khái niệm

Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau

* Ý nghĩa

Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống

kê Bởi vì ta sẽ không thể hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu điều tra nếu không sử dụng phương pháp này

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Là một trong những phương pháp quan trọng của phân tích thống kê, đồng thời là cơ sở để vận dụng các phương pháp phân tích thống kê Chỉ sau khi đã phân tổng thể nghiên cứu thành các tổ có quy mô và đặc điểm khác nhau thì việc tính các chỉ tiêu phản ánh mức độ, tình hình biến động, mối liên

hệ giữa các hiện tượng mới có ý nghĩa đúng đắn

Phân tổ thống kê còn được vận dụng ngay trong giai đoạn điều tra thống kê, nhằm phân tổ đối tượng điều tra thành các bộ phận có đặc điểm tính chất khác nhau từ đó chọn các đơn vị điều tra sao cho có tính đại biểu cho tổng thể chung

* Nhiệm vụ

Phân tổ thống kê có những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Thứ nhất, phân chia loại hình kinh tế - xã hội của hiện tượng nghiên cứu

- Thứ hai, phân tổ thống kê có nhiệm vụ biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu

- Thứ ba, phân tổ thống kê có nhiệm vụ biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức

Phân loại phân tổ thống kê

Căn cứ vào nhiệm vụ phân tổ thống kê được chia thành 3 loại: Phân tổ phân loại, phân tổ kết cấu, phân tổ liên hệ

Căn cứ vào số lượng tiêu thức phân tổ thì phân tổ thống kê gồm: Phân

tổ theo một tiêu thức và phân tổ theo nhiều tiêu thức

Những vấn đề cơ bản của phân tổ thống kê

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

được, song mỗi tiêu thức có ý nghĩa khác nhau Nhưng cùng một nguồn tài liệu, nếu chọn tiêu thức phân tổ khác nhau có thể đưa đến kết luận khác nhau, hoặc chọn tiêu thức phân tổ không đúng với mục đích nghiên cứu thì sẽ có những nhận xét khác nhau, không đúng về thực tế của hiện tượng

Nguyên tắc xác định đúng tiêu thức phân tổ

- Thứ nhất: Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc, nắm vững bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội cần nghiên cứu để chọn ra tiêu nêu rõ bản chất của hiện tượng, phản ánh đặc trưng

cơ bản của hiện tượng trong hoàn cảnh thời gian và địa điểm cụ thể

Ví dụ: Điểm thi là tiêu thức phản ánh bản chất kết quả học của sinh viên, chứ còn thời gian tự học chỉ phản ánh một phần nguyên nhân của kết quả học

- Thứ hai: Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để lựa chọn tiêu thức phân tổ thích hợp Bởi vì cùng một hiện tượng nhưng ở các điều kiện lịch sử khác nhau thì tiêu thức phân tổ cũng mang ý nghĩa khác nhau

Ví dụ về kết quả học tập: Khi sinh viên còn đang học ở trường thì tiêu thức phản ánh đúng đắn nhất kết quả học tập là điểm thi trung bình Còn khi sinh viên đã làm việc thì điểm thi không phản ánh đúng kết quả làm việc

- Thứ ba: Phải tùy vào mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu thực tế

mà quyết định phân tổ hiện tượng theo một hay nhiều tiêu thức

- Phân loại theo tiêu thức thuộc tính

Tiêu thức thuộc tính là loại tiêu thức không có biểu hiện cụ thể bằng con số như: Dân tộc, giới tính, ngành kinh tế… Các tổ được hình thành không phải do sự khác nhau về lượng biến của tiêu thức mà thường do các loại hình khác nhau tạo thành

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Một số trường hợp, số tổ gần như đã được hình thành sẵn trên thực tế: Phân tổ dân số theo giới tính, phân tổ diện tích trồng lúa trong năm theo thời

vụ gieo trồng…

- Một số trường hợp phân tổ khá phức tạp như: Phân tổ lao động theo nghề thì có rất nhiều ngành nhề khác nhau, phân loại cây trồng, nếu coi mỗi loại cây trồng là một tổ thì có rất nhiều tổ

Phân tổ cho tiêu thức số lượng

Tiêu thức số lượng là loại tiêu thức mà biểu hiện cụ thể là những con số như độ tuổi, tiền lương, số lương công nhân…Trong phân tổ này phải căn cứ vào các lượng biến khác nhau của tiêu thức mà xác định số tổ khác nhau về tính chất

- Khi lượng biến của tiêu thức thay đổi ít, tức là sự biến thiên về mặt lượng giữa các đơn vị không chênh lệch nhiều lắm, biến động rời rạc và số lượng các biến ít như: Số người trong gia đình, bậc thợ của công nhân, số máy dệt cho một công nhân phụ trách… thì số tổ có giới hạn nhất định, mỗi lượng biến là cơ sở hình thành một tổ

- Khi lượng biến của tiêu thức biến thiên lớn ta xét cụ thể xem lượng biến thay đổi đến một mức độ nào thì làm chất của hiện tượng biến đổi và làm nảy sinh ra một tổ khác để phân tổ có khoảng cách tổ Khoảng cách tổ có thể đều hoặc không đều

- Chỉ tiêu giải thích nói rõ đặc trưng của từng tổ và toàn bộ tổng thể

- Nó là căn cứ để so sánh các tổ với nhau và tính một số chỉ tiêu phân tích khác

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trình bày kết quả phân tổ

Kết quả phân tổ thống kê thường được đưa ra dưới dạng bảng thống kê hoặc đồ thị thống kê

Bảng thống kê

Khái niệm

Bảng thống kê là một hình thức biểu hiện các tài liệu thống kê một cách

có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu

Tác dụng bảng thống kê

- Phản ánh đặc trưng cơ bản của từng tổ và cả tổng thể

- Mô tả mối quan hệ mật thiết giữa các số liệu thống kê

- Là cơ sở áp dụng phương pháp phân tích thống kê cho phù hợp

Cấu thành bảng thống kê

Về mặt hình thức: Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề và số liệu Hàng và cột phản ánh quy mô của mỗi bảng, còn tiêu đề phản ánh nội dung của bảng và từng chi tiết trong bảng, số liệu được ghi vào trong các ô của bảng, mỗi con số phản ánh đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu

Về mặt nôi dung: Bảng thống kê gồm phần chủ từ và phần giải thích Phần chủ từ nêu lên tổng thể hiện tượng được trình bày trong bảng, phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu

Các loại bảng thống kê

- Bảng giản đơn: Là bảng biểu thị kết quả của phân tổ chỉ theo 1 tiêu thức

- Bảng kết hợp: Là bảng biểu thị kết quả của phân tổ từ hai tiêu thức trở lên

- Bảng phân tổ: Là bảng biểu thị đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ đề được phân chia thành các tổ theo một tiêu thức nào đó

2.2.3 Ma trận SWOT

* Nội dung

Phân tích ma trận SWOT là phân tích những yếu tố nội bộ của một doanh nghiệp (những điểm mạnh và điểm yếu) cũng như những yếu tố bên

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ngoài (những cơ hội và ) tác động đến đối tượng nghiên cứu Từ đó hình thành nên bốn chiến lược:

Các chiến lược SO (điểm mạnh - cơ hội): Sử dụng những điểm mạnh bên trong để khai thác những cơ hội hội nhập

Các chiến lược ST (điểm mạnh - ): Vượt qua các khó khăn,

đe dọa bằng cách tận dụng những điểm mạnh bên trong

Các chiến lược WO (điểm yếu - cơ hội): Hạn chế các điểm yếu bên trong để tận dụng các cơ hội bên ngoài

Các chiến lược WT (điểm yếu - ): Tối thiểu hóa các điểm yếu bên trong để tránh khỏi các đe dọa bên ngoài

Liệt kê những cơ hội

(T) Liệt kê những nguy cơ ĐIỂM MẠNH (S)

- Tốc độ tăng trưởng: Thể hiện mặt định lượng tăng trưởng kinh tế ở cấp huyện thường được tính theo giá so sánh (1994) một năm cố định gọi

là năm mốc

- Cơ cấu giá trị sản xuất: Thể hiện qui mô và tỷ trọng các ngành, nội

bộ từng ngành, thành phần kinh tế và lãnh thổ trong nền kinh tế cấp huyện

- Năng suất lao động: Năng suất lao động được đo bằng GTSX trên tổng số lao động làm việc theo từng nhóm ngành

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Huyện Bình Xuyên nằm giữa hai trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh là thành phố Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên Huyện có lợi thế gần sân bay quốc tế Nội Bài Nằm trên tuyến đường đường quốc lộ 2 và đường sắt Hà Nội - Lào Cai Ngoài ra, tuyến đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai mới được khánh thành cũng chạy qua địa bàn của Huyện Huyện Bình Xuyên còn gần kề các khu, cụm công nghiệp tập trung của Tỉnh là khu công nghiệp Vĩnh Yên, Phúc Yên Vị trí địa lý của Huyện cũng cách không xa các khu công nghiệp lớn của Hà Nội

Với vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung của tỉnh, nền kinh tế Bình Xuyên bước đầu đã có những thay đổi căn bản Từ một huyện thuần nông, đến nay Huyện Bình xuyên đã và đang chuyển dịch sang một cơ cấu kinh tế hướng tới vai trò chủ đạo của khu vực công nghiệp Sự phát triển của Huyện Bình Xuyên được đặt trong định hướng phát triển của Tỉnh Vĩnh Phúc, trở thành một vùng công nghiệp trọng điểm của Tỉnh trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

3.1.2 Địa hình

Địa hình của huyện Bình Xuyên tương đối đa dạng, thấp dần từ Bắc xuống Nam Điều kiện địa hình chia thành 3 vùng sinh thái rõ rệt là đồng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

bằng, trung du, và miền núi

Địa hình vùng đồng bằng có đất đai bằng phẳng Đây là vùng có tiềm năng phát triển nông nghiệp thâm canh cao Tuy vậy, địa hình có tính chia cắt

do độ chênh lệch giữa các cốt ruộng trong vùng khá lớn Một diện tích đất canh tác lớn nằm trong vùng trũng và nguồn nước từ dãy Tam Đảo thường gây úng lụt cục bộ Đây là điểm hạn chế, diện tích đất thuộc vùng trũng chỉ có thể canh tác được một vụ lúa, vụ chiêm, do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên

Một trong những lợi thế của vùng trung du là quĩ đất đồi phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, cây hoa màu tương đối lớn Diện tích canh tác lớn cho phép phát triển các loại cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa Bên cạnh đó, một trong những thế mạnh của vùng trung du là điều kiện thuận lợi để phát triển công nghi Mặc dù có những lợi thế của một vùng trung du, nhưng đất đai có độ phì kém hơn so với các khu vực khác trong vùng, mức độ chia cắt mạnh có thể hạn chế hoặc gây ảnh hưởng đến việc phát triển các công trình thủy nông và cơ sở hạ tầng nói chung

Đối với vùng miền núi, huyện Bình Xuyên còn quĩ rừng tương đối lớn, mang lại tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng cũng như du lịch sinh thái

3.1.3 Khí hậu, thủy văn

Huyện Bình Xuyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm Lượng mưa trên địa bàn khá cao, ở mức khoảng 1.500-1.700mm/năm Riêng vùng núi, có lúc đạt 3.000 mm/năm Lượng mưa lớn tập trung từ tháng 7 đến tháng 10

Sông Bá Hạ và sông Phan là hai con sông chảy qua địa bàn của huyện, với lưu lượng dòng chảy nhỏ Tuy nhiên, những trận mưa từ dãy Tam Đảo có thể gây nên lũ lớn trên các con sông này, và gây ảnh hưởng đến sinh hoạt cũng như đến sản xuất của người dân trên địa bàn

3.1.4 Tài nguyên đất

Huyện Bình Xuyên có tổng diện tích đất tự nhiên là 14.559,094 ha Trong đó: diện tích đất nông nghiệp chiếm 47,0%, diện tích đất lâm nghiệp có rừng chiếm 19,60%, diện tích đất chuyên dụng chiếm 17,3%,

Ngày đăng: 05/10/2014, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (2005), Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững chất lượng cao ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Văn Ân
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2005
2. Nguyễn Thị Thanh Bình, Kinh tế Mỹ Đức trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Luận văn thạc sĩ, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Mỹ Đức trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3. Cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc, Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 4. Đỗ Hoài Nam, Võ Đại Lược (2005), Một số vấn đề phát triển kinh tế củaViệt Nam hiện nay, Nhà xuất bản thế giới năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đỗ Hoài Nam, Võ Đại Lược
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
Năm: 2005
6. Vũ Ngọc Phùng (chủ biên),Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Lao động - xã hội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế phát triển
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
7. Hoàng Thị Thắm, Phát triển kinh tế huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010, Luận văn thạc sỹ, năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006-2010
9. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
10. Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên, Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội n - Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội n - Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên
Năm: 2010
11. Ủy ban nhân dân huyện Bình Xuyên, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Bình Xuyên, các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội huyện Bình Xuyên
12. Viện chiến lược phát triển, Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 - NXB Chính trị Quốc gia, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
13. Ngô Doãn Vịnh, Bàn về phát triển kinh tế, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về phát triển kinh tế
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
16. Website: http://www.vinhphuc.gov.vn http://baovinhphuc.com.vn/ Link
5. Phòng thống kê huyện Bình Xuyên, Niên giám thống kê huyện Bình Xuyên năm 2012 Khác
8. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1997), Kinh tế phát triển, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội tr.15-28 Khác
14. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010-2015 Khác
15. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bình Xuyên lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2010-2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Bình Xuyên, năm 2013 - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 3.1. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất huyện Bình Xuyên, năm 2013 (Trang 41)
Bảng 3.2. Dân số huyện Bình Xuyên giai đoạn 2005 - 2013 - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 3.2. Dân số huyện Bình Xuyên giai đoạn 2005 - 2013 (Trang 44)
Bảng 3.3. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế    2005-2013 - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 3.3. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế 2005-2013 (Trang 45)
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu phát triển KT-XH giai đoạn 2005-2013 - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu phát triển KT-XH giai đoạn 2005-2013 (Trang 51)
Bảng 3.6. So sánh năng suất và sản lƣợng một số loại cây trồng   của Bình Xuyên với các huyện khác trong tỉnh năm 2013 (tạ/ha) - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 3.6. So sánh năng suất và sản lƣợng một số loại cây trồng của Bình Xuyên với các huyện khác trong tỉnh năm 2013 (tạ/ha) (Trang 58)
Bảng 3.7. Kết quả phát triển ngành công nghiệp-xây dựng 2005-2013 - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 3.7. Kết quả phát triển ngành công nghiệp-xây dựng 2005-2013 (Trang 63)
Bảng 4.1. Dự báo các chỉ tiêu phát triển kinh tế   tỉnh Vĩnh Phúc 2015-2020 (tỷ đồng) - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 4.1. Dự báo các chỉ tiêu phát triển kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc 2015-2020 (tỷ đồng) (Trang 80)
Bảng 4.2. Ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên - Phát triển kinh tế huyện bình xuyên, tỉnh vĩnh phúc đến năm 2020
Bảng 4.2. Ma trận SWOT của huyện Bình Xuyên (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w