1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh

104 625 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN THỊ DIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TSKH NGUYỄN KẾ HÀO

THÁI NGUYÊN – 2013

Trang 3

Thực hiện mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục quy định tại NQ 40/2000/QH 10 của Quốc hội: “ Xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”

Ở nước ta, kế hoạch dạy học trong trường THPT được ban hành kèm theo Quyết định số 04/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 8 tháng 3 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu “…đưa vào các tiết học tự chọn, một phần dành cho việc bám sát, nâng cao kiến thức, kĩ năng của các môn phân hoá, phần khác dành cho việc cung cấp một số nội dung mới theo nhu cầu của người học và yêu cầu của cộng đồng” Như vậy, dạy học tự chọn đã trở thành hình thức dạy học có tính pháp quy và từ năm học 2007-2008 triển khai đại trà

ở khối THPT dành 4 tiết/ tuần ở ban cơ bản( chương trình chuẩn), 1,5 tiết/tuần

ở ban nâng cao (chương trình nâng cao) cho tất cả các khối lớp

Trang 4

Đến nay, dạy học tự chọn ở các trường THPT tỉnh Bắc Ninh nói chung, huyện Thuận Thành nói riêng đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng cũng còn nhiều hạn chế, chưa đạt được mục tiêu dạy học tự chọn ở THPT của nước ta: Giáo viên lúng túng về phương pháp, hình thức tổ chức, chọn nội dung phù hợp, trong khi thời lượng cho dạy tự chọn tương đối nhiều tới 4 tiết/tuần; Các điều kiện đáp ứng dạy học tự chọn tuy có tăng cường song còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa cập nhật với nhu cầu đổi mới nội dung giáo dục phổ thông là phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học Mặt khác các thầy giáo, cô giáo mới chú

ý nhiều đến những nội dung nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản cho mọi học sinh mà chưa chú trọng đến nội dung nâng cao ở một số môn học, những kỹ năng sống cần rèn để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh Nhiều giáo viên còn ngại khó, ngại khổ khi phải chuẩn bị những tiết dạy tự chọn, đặc biệt là ngại cải tiến phương pháp, chọn nội dung Như vậy, nhu cầu dạy học tự chọn để đáp ứng sự phát triển và hứng thú học tập của các đối tượng học sinh khác nhau ; Việc đầu tư tiếp tục bổ sung các nội dung, các chủ đề tự chọn, tổ chức biên soạn tài liệu giáo khoa, tài liệu hướng dẫn triển khai dạy học tự chọn, phân phối chương trình chi tiết, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, quản lý dạy học tự chọn sao cho có hiệu quả càng trở nên cấp thiết

Hiện nay, một số nơi có điều kiện kinh tế phát triển đã thực hiện dạy học

tự chọn đạt hiệu quả Tuy nhiên, để những vùng còn gặp nhiều khó khăn cũng

có thể tổ chức DHTC đạt chất lượng thì cần có những công trình nghiên cứu thực trạng và các giải pháp, biện pháp quản lí dạy học tự chọn phù hợp nhằm thực hiện được mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục trung học phổ thông nói riêng và giáo dục phổ thông nói chung trong giai đoạn mới

Trang 5

Với những cơ sở về lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi nhận thấy: Việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở trường THPT Thuận Thành, Bắc Ninh có ý nghĩa thiết thực, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông Nó không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học tự chọn trong các trường THPT Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nói riêng mà còn cho các trường THPT nói chung Vì vậy, chúng tôi chọn đề

tài: “ Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường

THPT Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sĩ

2.Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học tự chọn trong nhà trường THPT để nâng cao kiến thức, kỹ năng một số môn học và hoạt động giáo dục góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, hướng nghiệp cho học sinh

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý dạy học ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT

4 Giả thuyết khoa học

Dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

sẽ có hiệu quả hơn nếu người hiệu trưởng có được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn phù hợp với điều kiện phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận quản lý dạy học ở trường THPT

- Điều tra phân tích thực trạng DHTC và thực trạng quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT Thuận Thành Bắc Ninh sau những năm đầu triển khai đại trà chương trình THPT mới;

Trang 6

- Đề xuất một số biện pháp quản lý DHTC ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung khảo sát các khách thể sau: 11 cán bộ quản lý nhà trường, 17 tổ trưởng chuyên môn, 70 giáo viên, 180 học sinh các trường THPT Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (THPT Thuận Thành số 1, THPT Thuận Thành số

2, THPT Thuận Thành số 3) trong thời gian 2 năm học ( 2010- 2011; 2012)

2011 Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động

DHTC của Hiệu trưởng các trường THPT công lập trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong điều kiện phát triển của các nhà trường hiện nay (2010-2020)

7 Phương pháp nghiên cứu:

7 1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc, phát hiện, thu thập thông

tin các tài liệu liên quan nhằm làm rõ cơ sở lí luận dạy học các môn và các chủ

đề tự chọn

7 2 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu, xin ý kiến trực tiếp từ các chuyên viên, trưởng các phòng, ban, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo nhằm đánh giá về chất lượng DHTC tại các nhà trường; Xin ý kiến của chuyên gia thuộc lĩnh vực QLGD trong việc triển khai nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý DHTC ở bậc THPT

7.3 Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi

- Sử dụng các bộ phiếu hỏi điều tra thực trạng chất lượng dạy học tự chọn ở các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận thành, Bắc Ninh qua các đối tượng: CBQL trường THPT Thuận Thành 1, Thuận Thành 2, Thuận Thành

Trang 7

3; Giáo viên và học sinh của ba trường THPT trong huyện Thuận Thành (2/3 số giáo viên và mỗi khối 1 lớp học sinh/1 trường)

Trang 8

7.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Nghiên cứu các báo cáo tổng kết nhiệm vụ GDTrH của các nhà trường, của Sở GD & ĐT và các tài liệu tổng kết, đánh giá những ưu điểm, tồn tại, bài học kinh nghiệm liên quan đến DHTC

7.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Bằng một số thuật toán của toán học thống kê áp dụng trong nghiên cứu giáo dục, phương pháp này được sử dụng với mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của

phương pháp điều tra

8 Cấu trúc Luận văn

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở THPT

Chương 2: Thực trạng DHTC và quản lý hoạt động DHTC ở các trường

THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động DHTC ở các trường

THPT Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Kết luận và khuyến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

1.1.1.Dạy học ở trung học phổ thông trong các nghiên cứu nước ngoài

Dạy học tự chọn là một phương thức và xu thế trong giáo dục, xuất hiện

từ khá lâu trên thế giới Xu thế này xuất phát từ mục đích giáo dục phải hướng tới sự phát triển cao nhất của cá nhân học sinh, khai thác và tạo điều kiện năng lực, sở trường, năng khiếu cá nhân được bộc lộ, nuôi dưỡng và hoàn thiện trí tuệ cùng nhân cách học sinh trong suốt quá trình giáo dục

Mặt khác, DHTC còn là một xu thế nhằm tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của mỗi nhà trường Phương thức DHTC, cho đến nay, được người

ta tổng kết gồm có ba loại hình: học ở nhà, trường tự chọn và chương trình tự chọn Riêng chương trình tự chọn lại có hai cấp độ khác nhau: đó là môn học tự chọn và chủ đề tự chọn

- Học ở nhà: là một xu thế xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh mẽ ở

Mỹ vì lí do tôn giáo (cha mẹ không muốn cho con tới trường công vì muốn gìn giữ, bảo vệ các giá trị truyền thống) Hiện nay, xu hướng này vẫn tồn tại và khá phổ biến Tại nước Mỹ, năm 1993, loại hình tự chọn học ở nhà được công nhận

và hợp pháp hoá tại 50 bang, với 1,5 triệu học sinh đang học tại nhà, gấp năm lần so với năm 1990 và vượt quá số học sinh đang học tại trường công của thành phố New York Nhiều chuyên gia giáo dục dự báo, học ở nhà sẽ là loại hình tự chọn phát triển mạnh trong tương lai, nhất là với gia đình kinh tế khá giả, có điều kiện

Trang 10

- Trường tự chọn: Loại hình trường tự chọn còn xuất hiện sớm hơn, từ đầu thập kỷ 90, ở bang Virginia (Mỹ) và ngày càng phổ biến Cũng như học ở nhà, trường tự chọn sẽ là kiểu học tập của tương lai Với loại hình trường tự chọn, học sinh có thể lựa chọn cách thức học tập phù hợp nguyện vọng và thời lượng mỗi môn học

- Chương trình tự chọn: Sự khác biệt của loại hình học theo chương trình

tự chọn, là nó diễn ra ngay trong nhà trường truyền thống, dựa trên một chương trình cốt lõi gồm những chủ đề các môn học, tự chọn ở đây đi theo hai cấp độ khác nhau, bao gồm môn học tự chọn và chủ đề tự chọn

Môn học tự chọn: do giáo viên lựa chọn (có sự tham khảo ý kiến của các bậc cha mẹ) Theo các chuyên gia giáo dục, ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, mục đích của môn học tự chọn là nhằm phát huy sở trường, hứng thú của học sinh, nâng cao trình độ văn hoá, thúc đẩy sự phát triển về thể chất, tâm hồn và các kỹ năng tư duy, hành động, khả năng giải quyết vấn đề của học sinh

Các nước trên thế giới, cấp trung học phổ thông kéo dài trong 3 năm(một

số nước là 2 năm dành cho độ tuổi từ 15 đến 18 Nhìn chung trên thế giới giáo dục trung học phổ thông đều hướng vào mục tiêu chủ yếu là hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, do đó hiện nay giáo dục trung học phổ thông đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, phấn đấu để ngày càng có nhiều học sinh được hưởng một nền giáo dục trung học có chất lượng được nâng cao, chuẩn bị nguồn lực cho con người thế kỷ XXI, thế

kỷ của đỉnh cao trí tuệ Nội dung chương trình dạy học ở các nước chủ yếu vẫn

Trang 11

là học nhiều môn, bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến đời sống hàng ngày của trẻ và các kiến thức về khoa học cơ bản Một số nước đã chú ý rèn luyện khả năng thực hành, tính tự tin, khả năng tự khám phá và kỹ năng sống cho học sinh Về thời lượng học, phần lớn các nước đều tổ chức học cả ngày (dạy học 2 buổi/ngày) Để hình thức dạy học 2 buổi/ngày không lãng phí về thời gian mà mang lại hiệu quả dạy học cao thì cần phải có chương trình DHTC

ở buổi thứ hai, do đó ngoài các môn học bắt buộc thuộc chương trình chính khoá các nước đã tăng số lượng các môn học dưới hình thức DHTC được tiến hành hết sức nhẹ nhàng, vừa sức với học sinh

 Giáo dục Trung học phổ thông Thái Lan

GDTrH ở Thái Lan thực hiện bắt buộc 3 năm đối với mọi trẻ em từ 15 đến 18 tuổi Nội dung chương trình trung học phổ thông ở Thái Lan gồm 4 lĩnh vực:

Từ năm 2000 học sinh được tự lựa chọn các môn học yêu thích Sự thay đổi này đã biến lối học vẹt truyền thống thành những hình thức học sáng tạo và kích thích trí tuệ của các bạn học sinh hơn Các trường trung học phổ thông ở Thái Lan đã chú trọng đến nội dung chương trình DHTC, đưa các môn tự chọn

và chủ đề tự chọn vào dạy cho học sinh ngoài chương trình dạy học các môn học bắt buộc

Về cơ sở vật chất, mỗi trường học đều có đầy đủ 1 phòng học/1 lớp, với

đủ bàn ghế 1 đến 2 chỗ ngồi, có đủ phòng học chuyên biệt, phòng chức năng, thư viện, phòng thiết bị thí nghiệm, phòng học tiếng, phòng học vi tính, phòng họp, sân chơi rộng rãi Đổi mới giáo dục ở Thái Lan thực hiện từng công đoạn dựa theo điều kiện và sự phát triển của mỗi vùng

 Giáo dục Trung học phổ thông Nhật Bản

Ở Nhật Bản, học 3 năm trung học phổ thông Mỗi trường trung học phổ thông, kế hoạch giảng dạy căn cứ vào khung chương trình của Bộ, điều kiện cụ thể của địa phương, của trường và đặc điểm nhân cách của học sinh Nhà

Trang 12

trường tự chọn trong những bộ sách giáo khoa được biên soạn dưới sự kiểm duyệt của Bộ GD - Khoa học - Văn hoá Nhà trường chú trọng đưa vào chương trình một số môn học dưới hình thức tự chọn tạo điều kiện cho những năng lực,

sở trường, năng khiếu cá nhân được bộc lộ và phát triển

Về mục tiêu, GDTrH Nhật Bản: thúc đẩy sự phát triển tư duy và các năng lực khác thông qua các hoạt động giáo dục để học sinh được sống, hoạt động theo đúng độ tuổi, tương ứng với từng nội dung của môn học, nhận thức được vai trò quan trọng của các hình thức cơ bản cần thiết cho mỗi công dân Nhật Bản để tự nâng cao học vấn, phát triển nhân cách, lĩnh hội các hình thức của tất cả các môn học ở các bậc phổ thông Nhật Bản sớm đưa công nghệ vào học vấn phổ thông nhằm giúp học sinh sớm tiếp cận với công nghệ tiên tiến và

có thể theo kịp với sự phát triển của xã hội Có như vậy mới tạo được một lực lượng lao động trong tương lai giỏi hơn

 Giáo dục Trung học phổ thông ở Trung Quốc

Giáo dục trung học gồm Giáo dục phổ thông và Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp Giáo dục phổ thông được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục sơ trung và cao trung (tương đương với cấp 2 và cấp 3) mỗi giai đoạn 3 năm Các môn học gồm Ngữ văn, toán, ngoại ngữ, chính trị, lịch sử, địa, lý, hoá, sinh học, kỹ thuật lao động Bên cạnh các môn bắt buộc trong chương trình chính khoá, HS còn được tham gia lựa chọn các môn học, các chủ đề tự chọn mà mình thích, HS được học chương trình DHTC Qua đó nhằm đạt các yêu cầu: tính ổn định của chương trình, chú ý hơn đến việc học phát hiện, làm việc độc lập và hợp tác, tập giải quyết vấn đề và các nội dung cần lựa chọn để học tập, đưa vào các cấp những cơ sở đầu tiên của KHTN và KHXH cũng như toán học hiện đại và ngôn ngữ, coi trọng các nhiệm vụ đặc trưng cho môn học trong giờ Nghệ thuật, Âm nhạc và giờ học ở xưởng trường

Trang 13

 Giáo dục Trung học phổ thông Australia

Nội dung chương trình GDTrH của Australia bao gồm 8 lĩnh vực: Tiếng Anh, Toán, Khoa học, Công nghệ, Nghiên cứu xã hội và Môi trường, Nghệ thuật, GD thể chất và Sức khoẻ, Ngoại ngữ nhằm đạt mục tiêu “phát triển toàn diện về các mặt: tri thức, thể chất, tình cảm nhân cách và tinh thần” Trường THPT Australia không đơn thuần là nơi cung cấp tri thức mà còn là nơi đáp ứng nhu cầu của tất cả học sinh Nhà trường cũng tạo điều kiện giúp học sinh sớm phát triển năng khiếu bằng việc đưa vào dạy các nội dung tự chọn như:

Âm nhạc, Kịch, Thể thao Một số các trường còn tổ chức ban nhạc học sinh Chương trình DHTC ở Australia còn chú trọng đến nội dung mang tính địa phương Các trường đã dành thời gian nhất định trong DHTC cho việc dạy những kiến thức địa phương

 Giáo dục Trung học phổ thông Hoa Kỳ

Cũng như các nước khác Hoa Kỳ thực hiện GDTrH bắt buộc 3 năm, bên cạnh những môn cốt lõi được dạy trong chương trình như Tiếng mẹ đẻ, Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Thể dục thì những môn học khác như Môi trường, Tôn giáo cũng như nội dung đặc thù của một số môn học cốt lõi được đưa vào dạy trong nhà trường trung học phổ thông dưới hình thức tự chọn Các trưòng THPT ở Mỹ đã đưa vào dạy các nội dung tự chọn như: Âm nhạc, Kịch, Thể thao nhằm giúp học sinh phát triển năng khiếu cá nhân Các trường còn tổ chức các ban nhạc học sinh, các đội đồng ca hợp xướng sinh hoạt ngoài giờ lên lớp,

ở những lớp này còn tổ chức dạy sử dụng nhạc cụ cho những học sinh có nhu cầu, có nguyện vọng

Ngoài ra, một số trường THPT ở Hoa Kỳ cũng đưa một số nội dung tự chọn khác tạo điều kiện cho học sinh có thể trang bị cho bản thân những kiến thức, kỹ năng tối thiểu và cần thiết cho cuộc sống sau này như: các kiến thức về phòng chống tội phạm, kỹ năng người tiêu dùng, kỹ năng sống dưới hình thức DHTC

Trang 14

Như vậy, một số nước trên thế giới đã tổ chức đa dạng các nội dung và hình thức dạy học và giáo dục, ngoài việc tăng thời gian học tập còn tăng số lượng các môn học dưới hình thức tự chọn đã trở thành xu thế chung và tất yếu

Qua các thông tin trên có thể rút ra một số nhận xét sau:

Ở hầu hết các nước, số năm học bậc trung học phổ thông là 2 hoặc 3 năm (tuỳ theo điều kiện và truyền thống GD) Hầu như các nước đều có chương trình quốc gia thống nhất Số môn học: khoảng 10 đến 12 môn, một số nước phân chia thành môn cốt lõi (Tiếng mẹ đẻ, Toán và Khoa học) và môn nền tảng (các môn còn lại) Giáo viên nói chung phải dạy đủ tất cả các môn, cũng có nước bố trí được GV dạy các môn chuyên biệt như: Hoạ - Nhạc, Thể dục, Ngoại ngữ và Tin học nên nhiều trường đã tổ chức hình thức DHTC, học sinh ngoài việc học các môn bắt buộc còn được học chương trình DHTC, nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, tạo điều kiện, năng lực, sở trường, năng khiếu cá nhân được bộc lộ và phát triển

Tìm hiểu xu thế tổ chức DHTC trên thế giới cho thấy các môn học tự chọn ở nhiều nước có nhiều sự khác biệt Tuy nhiên, xu thế chung là tỉ lệ thời lượng dành cho các môn học tự chọn tăng dần từ THCS tới THPT, thường từ 10% ở THCS tăng lên đến 40% ở THPT Tại một số nước như Hoa Kỳ, Đức, Newzeland, sau khi kết thúc chương trình cơ bản (Basis Curriculum), chương trình của 2 lớp cuối cấp hoàn toàn chỉ bao gồm các khóa học tự chọn Việc phân chia các môn học tự chọn diễn ra khác nhau ở các nước

Từ kinh nghiệm DHTC của các nước Mỹ, Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Trung Quốc… đã rút ra nhận định: Để tổ chức DHTC thực

sự có ý nghĩa và hiệu quả thì chương trình phải bao gồm 2 hệ thống Đó là chương trình các môn học bắt buộc và chương trình các môn học tự chọn; việc học tập được thực hiện theo chế độ tín chỉ ; các học trình thường được xây dựng ở nhiều cấp độ khác nhau; tỉ lệ thời lượng DHTC cao, thường từ 30% trở

Trang 15

lên và có xu hướng ngày càng tăng; để tổ chức DHTC có hiệu quả, cần phải có những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất; hình thức DHTC đòi hòi GV phải sáng tạo và đầu tư nhiều công sức Chương trình THPT mới của Việt Nam đã tiếp cận với những xu thế chung của thế giới là: bảo đảm tính toàn diện và cân đối, tính phát triển, tính thiết thực và cập nhật Tuy nhiên chương trình THPT chỉ mới có nội dung các môn học bắt buộc, đa số các trường mới chỉ thực hiện dạy học các môn bắt buộc trong chương trình, môn có chủ đề DHTC giáo viên vẫn phải chọn, biên soạn nội dung cho phù hợp, các nội dung dạy học đáp ứng nhu cầu, hứng thú học tập và tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng khiếu thì chưa được các nhà trường chú trọng đưa vào dạy cho HS

1.1.2 Dạy học tự chọn ở trung học phổ thông trong các nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, vấn đề dạy học tự chọn đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Theo tác giả Trần Luận (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam), DHTC nhằm mục đích phân hoá học sinh cũng như góp phần giáo dục toàn diện, phát triển năng lực cá nhân trong một số lĩnh vực học tập, góp phần bồi dưỡng tài năng theo đặc điểm của cấp Trung học và của địa phương, đạt được mục tiêu của giáo dục THPT Chương trình DHTC là sự phát triển theo chiều sâu của các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong chương trình THPT hiện hành ở các lớp 10, 11, 12 (trừ môn nghề phổ thông và ngoại ngữ 2 có chương trình độc lập) Tăng cường khả năng vận dụng, thực hành các kiến thức, kỹ năng cơ bản để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội… gần gũi với đời sống của học sinh Theo định hướng của nội dung DHTC ở trung học mà Viện Chiến lược và chương trình GD đưa ra thì tất cả các môn bắt buộc trong chương trình THPT hiện hành đều được đưa vào nội dung DHTC Đối với môn Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý thì nhằm phát triển các kỹ năng thực hành giải quyết các tình huống có vấn đề trong đời sống gần gũi với học sinh Các môn Âm

Trang 16

nhạc, Thể dục nhằm phát triển các kiến thức, kỹ năng cơ bản gắn với bản sắc, truyền thống của dân tộc, phát triển năng khiếu cá nhân của học sinh

Riêng đối với những trường tổ chức dạy 2 buổi/ngày, ngoài thời gian học chính khoá bắt buộc phải tuân thủ kiến thức của chương trình khung thì học sinh có quyền tự do lựa chọn môn học mình yêu thích, nhưng tối đa là 3 môn học Mục tiêu của DHTC là không biến buổi học phụ kia thành học thêm, nhồi nhét kiến thức mà tập trung phát triển năng khiếu cho học sinh, phối hợp “học

mà chơi, chơi mà học”, tạo ra hứng thú và năng lực sáng tạo cho học sinh Một

số thuật ngữ cơ bản và vấn đề liên quan như sau: Phân hóa; Giáo dục; Dạy

học; Phân hóa trong giáo dục; Năng lực; Tích hợp trong giáo dục; Học vấn phổ thông và các lĩnh vực học tập; Chương trình GD phổ thông (xét theo mức

độ có các loại: cơ bản, mở rộng, nâng cao, chuyên sâu; xét về tính phổ biến có chương trình GD bắt buộc; tự chọn với tự chọn bắt buộc và tự chọn tuỳ ý) Việc phát triển chương trình GD của nhiều quốc gia trên thế giới đang chuyển

từ “định hướng đầu vào”sang “định hướng đầu ra” - còn được gọi là quan

điểm phát triển chương trình dựa vào năng lực người học; Hình thức tổ chức

phân hoá trong giáo dục (Phân ban; Phân luồng; Dạy học tự chọn; Phân ban

kết hợp với dạy học tự chọn; Phân luồng kết hợp với dạy học tự chọn)

Những căn cứ của phân hoá trong giáo dục bao gồm:

Triết lí giáo dục: Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, đề tài cho rằng triết

lý GD Việt Nam trong giai đoạn tới phải tiếp cận được triết lý GD chung của thế

kỷ XXI, vì vậy, GD Việt Nam phải là nền GD đại chúng, cho mọi người trong

xã hội; GD suốt đời, để mọi người ở mọi lúc, mọi nơi đều được hưởng phúc lợi GD,… chú ý tới năng lực riêng tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Cơ sở tâm lý học lứa tuổi: Những sự khác biệt về mặt tâm lý tạo nên sự phong phú đa dạng của cuộc sống xã hội, đồng thời còn là những cơ sở quan trọng để tiến hành phân hoá trong GD Vào những năm 60 – 70 của thế kỷ XX,

Trang 17

những nghiên cứu về các giai đoạn phát triển tâm lí của trẻ em của một số nhà

tâm lí học nước ngoài như J Piaget (Lý thuyết Phát triển nhận thức), Howard

Gardner (Lý thuyết đa trí tuệ),… đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện phân

hoá GD ở các nước

Những lý thuyết hiện đại về sinh lý học và đặc biệt là tâm lý nhận thức của trẻ vị thành niên cho thấy muốn phát triển những khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người cần tổ chức thực hiện phân hoá trong GD và cần có sự phân chia mức độ thực hiện phân hoá đối với từng cấp, bậc học sao cho vừa đảm bảo nền học vấn phổ cập, bắt buộc đối với mọi đối tượng, vừa tạo điều kiện phát huy tối

đa tiềm năng của mỗi con người

Cơ sở giáo dục học: Dựa vào nhóm năng lực, hứng thú hoặc nhu cầu học tập của người học và mục tiêu GD của xã hội tạo ra những khác biệt nhất định trong hệ thống GD, trong việc tổ chức các loại hình trường/ lớp, các nội dung

GD và phương thức GD theo nhiều hướng khác nhau

GD học đưa ra một số nguyên tắc thực hiện phân hoá trong GD: Tính đa dạng của chương trình GD; Tính khác biệt của quá trình và kết quả học tập; Tối

đa hóa các cơ hội học tập; Tính công bằng về cơ hội học tập; Tính linh hoạt của các cơ hội và điều kiện học tập; Tính thích ứng của quản lí chương trình

Cơ sở kinh tế - xã hội: Phân tích mối quan hệ cung cầu giữa nền kinh tế -

xã hội và GD cho thấy nền kinh tế càng phát triển thì bắt buộc GD phải hình thành nhiều phương thức đào tạo, ngành nghề đào tạo khác nhau và phân hoá trong GD tất yếu phải thực hiện

Phân hoá trong GD phải tính tới các điều kiện nhằm đảm bảo quyền học tập và công bằng xã hội, bình đẳng về cơ hội học tập của trẻ em thuộc các nhóm

xã hội, các giai tầng xã hội khác nhau Như vậy, cần xây dựng một chương trình

GD phổ thông theo đúng nghĩa là “phổ thông”, để tất cả trẻ em đều được đi học, học được đồng thời xây dựng những chương trình GD lựa chọn để trẻ em nào có điều kiện đều có thể tự do tham gia học tập

Trang 18

Sơ lƣợc lịch sử phát triển GD và việc thực hiện phân hoá giáo dục Việt Nam theo các thời kỳ nhƣ sau:

Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950-1956):

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, cơ cấu giáo dục phổ thông gồm: tiểu học 5 năm, trung học phổ thông 4 năm, và trung học chuyên khoa 3 năm Dựa vào kinh nghiệm phân ban thời Pháp thuộc, thời kì này đã thực hiện phân hoá theo hình thức phân ban sớm từ bậc trung học phổ thông (tương đương với THCS ngày nay) và rộng (có 2 ban) Đến bậc Trung học chuyên khoa, thì phân ban hẹp hơn với 4 ban Cơ cấu hệ thống này tồn tại đến năm 1950

Từ năm 1950 đế năm 1956, giáo dục phổ thông được cải cách thành 9 năm: cấp I có 4 năm (không kể lớp vỡ lòng), cấp II có 3 năm, và cấp III có 2 năm Về cơ bản không còn mô hình phân ban ở miền Bắc nữa Tuy nhiên ở các vùng tạm chiếm, học sinh vẫn học theo hệ thống 12 năm như cũ, có phân ban ở bậc trung học phổ thông và trung học chuyên khoa như mô tả trên

Cải cách giáo dục lần thứ hai (1956-1981):

Từ năm 1956 miền Bắc tiến hành cải cách hệ thống giáo dục gồm 10 năm với 3 cấp: cấp I có 4 năm (không kể lớp vỡ lòng); cấp II có 3 năm; và cấp III có 3 năm Hệ thống này cũng không thực hiện phân ban Trong giai đoạn này, đã bắt đầu thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường phổ thông: trường

gắn với việc chuẩn bị nghề cho HS (cấp III nông nghiệp, cấp III công nghiệp,

thanh niên vừa học vừa làm); trường cho HS có năng lực chuyên môn vượt trội; trường cho HS dân tộc ít người

Riêng miền Nam, cho tới trước ngày 30/4/1975, học sinh vẫn học theo hệ thống giáo dục 12 năm như cũ

Cải cách giáo dục lần thứ ba (1981-2001):

Ngày 11/1/1979 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết cải cách giáo dục phổ thông gồm 12 năm, chia thành 2 bậc: phổ thông cơ sở 9 năm; phổ thông trung học 3 năm Và vẫn không tiến hành phân ban ở phổ thông trung học Song

Trang 19

chính trong giai đoạn này, Bộ Giáo dục đã tổ chức thí điểm phân hóa theo hình thức phân ban bậc PTHT:

Thí điểm lần thứ nhất (1989-1991): phân ban hẹp từ lớp 10 với 5 ban; Thí điểm lần thứ hai (1993-2000): phân ban rộng từ lớp 10 với 3 ban

Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (từ năm 2002 đến nay):

Ở lần này, cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông vẫn giữ nguyên và việc đổi mới tập trung vào mục tiêu, nội dung phương pháp và chương trình giáo dục phổ thông Từ năm học 2002-2003, triển khai chương trình tiểu học và THCS mới ở lớp 1 và lớp 6 Đồng thời, phân hóa giáo dục cấp THPT được thí điểm theo hình thức phân thành 2 ban kết hợp với tự chọn từ lớp 10 ở năm học 2003-2004 Sau một năm thí điểm, phương án phân hóa này tỏ ra bất cập Cuối

cùng, mô hình phân hoá giáo dục THPT theo hình thức “phân thành ba ban kết

hợp với tự chọn từ lớp 10” đã được Chính phủ cho phép triển khai thực hiện

trên toàn quốc từ năm học 2006-2007

Theo đó, học sinh THPT cả nước cùng học một chương trình chuẩn thống nhất Đồng thời, có thể phát triển sở trường, năng khiếu, năng lực của cá nhân thông qua hệ thống các môn nâng cao (Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ) và hệ thống các chủ đề tự chọn của tất cả các môn học

: Dân số

và nhu cầu đối với giáo dục Nguồn nhân

khác biệt cá nhân và xu hướng phân hoá người học sau năm 2015

2015 : Khả năng nhận thức của HS và khả năng giảng

dạy của GV; Khả năng xây dựng chương trình

Trang 20

Định hướng thực hiện phân hoá trong giáo dục phổ thông sau năm 2015: 1/ Điều chỉnh GD tiểu học và GD THCS từ phổ cập thành bắt buộc GD THPT được chia thành hai giai đoạn 2/ Chương trình GD phổ thông với mục tiêu: hình thành và phát triển cho HS năng lực nhận thức, thực hành, xã hội và cá nhân; Nội dung học vấn: bắt buộc với 8 lĩnh vực học tập; tự chọn với nhiều trình độ 3/ Hình thức tổ chức phân hoá: thực hiện phân luồng sau THCS và THPT một cách triệt để; thực hiện tự chọn bắt buộc và tùy ý

Điều kiện thực hiện phân hoá trong giáo dục phổ thông Việt Nam là phát triển chương trình GD phổ thông; Đào tạo, bồi dưỡng GV; Cơ sở vật chất, thiết

bị dạy học; Chính sách GD

Lộ trình thực hiện phân hóa trong GD phổ thông sau năm 2015: 1/ Từ nay đến năm 2012, điều chỉnh việc thực hiện phân hoá trong GD hiện hành 2/

Từ năm 2010 đến năm học 2019 triển khai các hoạt động chuẩn bị cho thực

hiện phân hoá giáo dục phổ thông: xây dựng chương trình GD; biên soạn SGK; thẩm định chương trình và SGK; thí điểm và triển khai chương trình GD mới ở mỗi cấp học

Qua tham khảo tài liệu về Khảo sát của Viện CL&CTGD năm

2006-2007 và phân tích các kết quả Khảo sát đánh giá tình hình Chương trình và SGK lớp 10, 11, 12 năm học 2008-2009 do Ban chỉ đạo xây dựng chương trình

và SGK THPT tiến hành năm 2009, đề tài đã rút ra nhận xét: Tổ chức DHTC ở các trường chủ yếu là phù hợp với điều kiện đội ngũ GV, cơ sở vật chất nhà trường chứ chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng, sở thích của

HS Càng ngày HS và các trường lại càng có xu hướng chọn ban cơ bản “thuần túy” và dạy các chủ đề tự chọn bám sát là chính Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do CSVC của các trường còn thiếu thốn, biên chế GV ở một số trường còn thiếu, chưa đủ để đáp ứng được nguyện vọng học tự chọn, quy chế thi không thể hiện lợi thế gì khi HS học theo chương trình nâng cao, tâm lí

Trang 21

nặng nề về khoa cử cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn môn học hoặc chủ đề tự chọn

Theo PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào: Trong giáo dục, trước hết là giáo dục phổ thông có nguyên lý( quy luật gốc) có thể hình dung qua công thức:

Giáo dục = Kế thừa - Ổn định – Đổi mới = Phát triển bền vững

“Dấu gạch nối(-) ở đây không phải là dấu trừ, mà nói về mối quan hệ giữa các thành tố trong công thức Vấn đề là xác định rõ xem cần kế thừa những thành tựu nào, giữ ổn định ra sao(giữ và dựa vào cái ổn định để xử lý cái thay đổi) và đổi mới cái gì, đổi mới như thế nào để không làm thất thoát cái đã đạt được, cái hoàn toàn có thể đạt được và cái mới có thể đạt được để nâng lên trình độ cao hơn, để tạo lập được thế và lực, tạo được sự phát triển bền vững” [10, tr 97]

Các tài liệu trên dù mang tính khái quát hay chỉ đề cập tới một khía cạnh nào đó trong QL giáo dục nói chung và quản lý HĐDH nói riêng Đó là những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của các tác giả trong việc thực hiện chức trách Hiệu trưởng trường THPT, đồng thời cũng giúp các Hiệu trưởng khác tham khảo để vận dụng trong công tác QL của mình

Qua quá trình học tập và nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả, chúng tôi thấy chưa thể bao quát hết được các đặc thù riêng của từng khu vực, từng vùng miền Thuận Thành là một huyện thuần nông, kinh tế còn khó khăn, chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về vấn đề quản lý hoạt động dạy học tự chọn của Hiệu trưởng trong bối cảnh thực hiện công việc đổi mới giáo dục hiện nay Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này sẽ đi sâu hơn

về cơ sở lý luận của công tác quản lý HĐDH để tìm hiểu thực trạng quản lý HĐ DHTC của Hiệu trưởng các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý HĐDHTC nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông

Trang 22

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý giáo dục

Về nội dung khái niệm quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau

- Theo tác giả M.I Kônđacốp cho rằng: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hoá, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng” [17, Tr 93]

- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực luợng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”.[1, tr 31]

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lí (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đuờng lối và nguyên lý giáo dục của đảng, thực hiện đuợc các tính chất của nhà truờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất”.[9, tr 61]

Như vậy, quản lý giáo dục chính là những tác động có hệ thống, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục đến hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học-giáo dục, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

* Chức năng của quản lý giáo dục

Chức năng quản lí là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chỉ thể quản lí nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lí nhằm thực hiện mục tiêu

Trang 23

Chức năng QL xác định khối luợng các công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình QL, mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể, là quá trình liên tục của các bước công việc tất yếu phải thực hiện

Các nhà nghiên cứu cho rẳng QL có 4 chức năng cơ bản liên quan mật thiết với nhau bao gồm: Chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra

Sơ đồ chức năng QL:

- Chức năng kế hoạch: là quá trình xác đinh các mục tiêu phát triển

giáo dục và quyêtd idnhj những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó Khi tiến hành các chức năng kế hoạch, nguời QL cần hoàn thành nhiệm vụ là xác định đúnh các mục tiêu cần để phát triển giáo dục và quyết định đuợc các biện pháp có tính khả thi Chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên của một quá trình QL, nó có vai trò khởi đầu, định huớng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình QL và là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu và là căn cứ cho việc kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu nhiệm vụ cả tổ chức, đơn vị và từng cá nhân

- Chức năng tổ chức thực hiện: là quá trình phân phối và sắp xếp

nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt nhất các mục tiêu đã đề ra Chức năng tổ chức là chức năng thứ hai trong quá trình QL

KẾ HOẠCH

CHỈ ĐẠO

Trang 24

nó có vai trò hiện thực hoá các mục tiêu của tổ chức và đặc biệt là chức năng tổ chức có khả năng tạo ra sức mạnh mới của tổ chức, cơ quan đơn vị thậm chí của cả hệ thống nếu việc phân phối, sắp xếp nguồn nhân lực đuợc khoa học và hợp lý

- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tác động ảnh huởng tới hành vi, thái

độ của những nguời khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất luợng cao Chức năng chỉ đạo là chức năng thứ ba trong quá trình QL nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để hiện thực hoá các mục tiêu Chức năng chỉ đạo đuợc xác định từ việc điều hành và huớng dẫn các hoạt động nhằm đạt đuợc các mục tiêu

có chất luợng và hiệu quả Thực chất của chức năng chỉ đạo là quá trình tác động và ảnh huởng của chủ thể quản lý tới những nguời khác nhằm biến những yêu cầu chung của tổ chức, hệ thống giáo dục và nhà truờng thành nhu cầu của mọi nguời, trên cơ sở đó mọi nguời tích cực, tự giác và mang hết khả năng để làm việc

- Chức năng kiểm tra: là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm

bảo cho các hoạt động đạt tới các mục tiêu của tổ chức Chức năng kiểm tra là chức năng cuối cùng của một quá trình QL nó có vai trò giúp cho chủ thể QL biết được mọi nguời thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ tốt, vừa, xấu như thế nào, đồng thời cũng biết được những quyết định QL ban hành có phù hợp với thực tế không, trên những cơ sở đó điều chỉnh các hoạt động, giúp đõ hay thúc đẩy cá nhân, tập thể đạt tới các mục tiêu đã đề ra Như vậy, chức năng kiểm tra thể hiện rõ vai trò cung cấp thông tin và trợ giúp các cá nhân và đơn vị hoành thành nhiệm vụ theo mục tiêu và kế hoạch đã xác định

Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình

tự nhất định, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau,ảnh huởng qua lại nhau, làm tiền đề cho nhau, khi thực hiện hoạt động QL trong quá trình QL thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đọng với vai trò vừa là điều kiện vừa

Trang 25

là phuơng tiện để tạo điều kiện cho chủ thể QL thực hiện các chức năng QL và đưa ra đuợc các quyết định QL

1.2.2 Quản lý nhà truờng

1.2.2.1 Nhà truờng

Nhà truờng là một tổ chức chuyên biệt đặc thù của xã hội, đuợc hình thành từ nhu cầu mang tính tất yếu khách quan của xã hội, nhằm thực hiện chức năng truyền thụ kinh nghiệm xã hộ cần thiết cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng xã hội Việc tổ chức các hoạt động nói trên đuợc thông qua quá trình sư phạm, đuợc tổ chức một cách khoa học, nhằm xâu dựng và hoàn thiện nhân cách nguời học, mà nhân cách đó là những tiêu chuẩn về đạo đức và năng lực của nguời học đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mà không một dạng tổ chức naog trong xã hội khác với tổ chức nhà truờng có thể thay thế

nó đuợc

Ngày nay, nhà truờng được thành lập và hoạt động duới sự điều chỉnh của các qui tắc xã hội; nó có tính chất và nguyên lý hoạt động rõ ràng và có nhiệm vụ cụ thể, có nội dung giáo dục đuợc chọn lọc, có tổ chức bộ máy và đội ngũ đuợc đào tạo, có kế hoạch hoạt động và đuợc hoạt động trong một môi truờng nhất định, có sự đầu từ của nguời học, cộng đồng, các cơ quan QL trong

xã hội

Như vậy, nhà truờng là cơ quan giáo dục chuyên biệt, có đội ngũ các nhà giáo đuợc đào tạo, nội dung chuơng trình đuợc chọn lọc, phuơng pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, có phuơng tiện kỹ thuật phục vụ cho giáo dục Nhà truờng là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội, thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho duy trì và phát triển của xã hội Truờng học là một

tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nuớc, xã hội, là nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ

1.2.2.2 Quản lý nhà truờng

Trang 26

Theo Phạm Minh Hạc “ Quản lý nhà truờng là thực hiện đuờng lối cảu đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà truờng vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục- đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [9, tr 71]

Theo tác giả Trần Hồng Quân “ Quản lý nhà truờng phổ thông là quản lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục” [29, tr 43]

Như vậy QL nhà truờng là những hoạt động của chủ thể QL nhà truờng ( Hiệu Truởng ) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực luợng xã hội trong và ngoài nhà truờng nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà truờng

1.2.3 Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường

1.2.3.1 Khái niệm về dạy học

Nhiều nhà khoa học đã tiếp cận khái niệm dạy học từ cơ sở của lý luận của quá trình giáo dục tổng thể Mặt khác, xét quan hệ giữa các thành tố cấu trúc của hoạt động, một số tác giả đã luận giải về nội hàm của khái niệm dạy học từ những góc độ khoa học khác nhau như: giáo dục học, tâm lý học, điều khiển học,…duới đây:

- Tiếp cận dạy học từ góc độ giáo dục học “ Dạy học – một trong các bộ phận của quá trình tổng thế giáo dục nhân cách toàn vẹn – là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, những kỹ năng và kỹ xảo hoạt dộng nhận thức và thực tiễn, để trên cơ sở

đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phát triển các phẩm chất của nhân cách nguời học theo mục đích giáo dục”.[6, tr 22]

Như vậy, dạy học là khái niệm chỉ quá trình hoạt động chung của nguời dạy và nguời học

Trang 27

- Tiếp cận dạy học từ góc độ tâm lý học: Dạy học đuợc hiểu là sự biến đổi hợp lý hoạt động và hành vi của nguời học trên cơ sở cộng tác hoạt động và hành vi của nguời dạy và nguời học

- Tiếp cận dạy học từ góc độ điều khiển học: “ Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò nhằm điều khiển – truyền đạt và tự điều khiển – lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm thực hiện mục đích giáo dục” [6, tr 51]

1.2.3.2 Hai thành tố của hoạt động dạy học

a Hoạt động dạy

HĐDH là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh, giúp họ nắm đuợc kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ HĐDH có chức năng kép truyền đạt và điều khiển Nội dung dạy học được thực hiện trong một môi trường thuận lợi, chính là nhà trường, ở đó được thực hiện một nội dung chương trình qui định, phù hợp với từng lứa tuổi

Hoạt động dạy của giáo viên thực chất gồm 2 hoạt động:

- Giáo viên nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, trình độ học sinh, điều kiện của giáo viên, tài liệu tham khảo, nắm vững các phương pháp dạy, lựa chọn phương pháp dạy phù hợp với các điều kiện trên Trên cơ sở đó giáo viên xây dựng một phương án thích hợp nhất để dạy từng bài cụ thể cho từng lớp

- Giáo viên phối hợp hoạt động với học sinh trên lớp, đây là quá trình giảng dạy của giáo viên Giáo viên nêu vấn đề, giảng dạy kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng, củng cố kiến thức, hướng dẫn học sih tự học Trong quá trình giảng dạy, các hoạt động của giáo viên được phối hợp nhịp nhàng với hoạt động của học sinh Giáo viên càng tăng cường việc hướng dẫn chỉ đạo thì học sinh càng có nhiều thời gian hoạt động tìm hiểu kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành

Trang 28

Theo tác giả Nguyễn Kế Hào: “Giáo viên là nhân vật giữ vị trí then chốt,

là người giữ vai trò có tính quyết định chất lượng giáo dục, hay nói cách khác

là người quyết định sự thành bại của giáo dục phổ thông Hoạt động dạy của giáo viên tuân theo quy luật, trước hết là nội dung và cách học, là đặc điểm tâm sinh lý và điều kiện học tập của học sinh” [10, tr.97]

b Hoạt động học

Hoạt động học là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện Vai trò tự điều khiển hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cự tự lực và sáng tạo dưới sự điều khiển của thầy, nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực, sáng tạo của học sinh để đạt được 3 mục đích: tri thưc- kỹ năng- thái độ

Hoạt động học có hai chức năng thống nhất là lĩnh hội và tự điều khiển Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm khoa học của từng bộ môn, với phương pháp phù hợp để biến kiến thức nhân loại thành học vấn của bản thân

Hoạt động học của học sinh bao gồm:

- Phối hợp hoạt động với giáo viên trên lớp, học sinh tiếp thu các kiến thức, kỹ năng mới

- Học sinh tự học ở nhà để hiểu sâu, mở rộng kiến thức, vận dụng kiến thức mới để giải các bài tập Học sinh ghi nhớ các kiến thức, kỹ năng cơ bản để

có thể biểu đạt lại thành lời nói, chữ viết cho giáo viên và người khác hiểu được

Quá trình học là quá trình học sinh biến kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người thành kiến thức, kinh nghiệm của bản thân, từ đó mà hình thành và phát triển nhân cách

1.2.3.3 Quản lý hoạt động dạy học trung học phổ thông

a Quản lý mục tiêu, xây dựng kế hoạch dạy học

Trang 29

Việc xây dựng kế hoạch của giáo viên và tổ chuyên môn là một việc làm tất yếu Trên cơ sở yêu cầu chung của công tác giáo dục và yêu cầu riêng của từng bộ môn, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp quản lý và tình hình cụ thể của nhà trường mà mỗi giáo viên và tổ trưởng chuyên môn phải xây dựng kế hoạch phù hợp

Hiệu trưởng phải là người hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết xác định mục tiêu đúng đắn và tìm ra các biện pháp để thực hiện mục tiêu đó

b Quản lý thực hiện chương trình giáo dục

Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, là căn cứ pháp lý để Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo tiến hành chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt động giảng dạy trong nhà trường Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để Hiệu trưởng quản lý giáo viên theo yêu cầu mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra cho từng cấp học

Quản lý việc thực hiện chương trình là: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn chỉ đạo tổ chuyên môn theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chương trình đủ và đúng tiến độ thời gian, không được cắt xén, thêm bớt hoặc làm sai lệch nội dung chương trình Cán bộ quản lý cần theo dõi nắm tình hình thực hiện chương trình dạy học qua sổ ghi đầu bài, sổ báo giảng, sổ sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, qua tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn

c Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

- Quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp bằng cách cùng tổ chuyên môn kiểm tra định kỳ, đột xuất việc soạn bài và chuẩn bị phương tiện cho bài lên lớp của giáo viên, xây dựng kế hoạch tự kiểm tra, tránh đối phó, hình thức…

d Quản lý việc thực hiện nền nếp dạy học

Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức lên lớp, mỗi giờ dạy là cơ sở tạo nên chất lượng dạy học Vì vậy, Hiệu trưởng cần giáo viên phải tập trung mọi cố gắng nâng cao chất lượng

Trang 30

toàn diện giờ lên lớp Hiệu trưởng cần xây dựng thời khoá biểu một cách khoa học hợp lý, dự giờ, trao đổi về kết quả học tập của học sinh để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý tối ưu

e Quản lý việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học có thể hiểu là một hệ thống tác động của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh, để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đã đinh

Quản lý phương pháp dạy học trong nhà trường là quản lý việc lựa chọn

và thực hiện phương pháp dạy học của giáo viên sao cho phù hợp với nội dung chương trình và đặc trưng từng bộ môn, kiểu bài lên lớp

Người hiệu trưởng cần cập nhật thông tin, bồi dưỡng cho giáo viên thấy

rõ sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay Lập

kế hoạch chi tiết bồi dưỡng giáo viên từng bộ môn trước khi bước vào năm học mới

1.3 Dạy học tự chọn ở trung học phổ thông

1.3.1 Trường trung học phổ thông

Trường THPT là cơ sở giáo dục nối tiếp cấp trung học cơ sở thuộc bậc trung học của hệ thống giáo dục quốc dân Cấp THPT gồm 3 năm học từ lớp 10 đến lớp 12 Đây là cấp học mà theo Luật Giáo dục hiện hành, Điều 27 quy định mục tiêu của giáo dục THPT là: Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố

và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông

và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Nội dung giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học

ở THCS, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh

Trang 31

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với dặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

Như vậy, trong trường phổ thông, học sinh là nhân vật trung tâm, là chủ thể thực hiện hoạt động học với sự dẫn dắt của giáo viên và chính các em được hưởng thụ thành quả giáo dục Là nhân vật trung tâm vì học sinh là mục tiêu giáo dục (trong Luật giáo dục của Nhà nước ta có quy định Mục tiêu khái quát dành cho học sinh từng cấp học)

„‟Phổ thông có 3 cấp học có thể coi như 2 bậc: tiểu học và trung học (THCS và THPT- hai cấp học này có phương thức về cơ bản giống nhau) Ở bậc trung học, học sinh có phương thức học tập chủ đạo là Học – Hành(học về

lý thuyết cần được thực hành và thực hành là học, là để nắm vững lý thuyết và vận dụng những điều học được)‟‟ [10, tr 97]

1.3.2 Dạy học tự chọn

DHTC là một phương thức và xu thế trong giáo dục, xuất hiện từ khá lâu trên thế giới Xu thế này xuất phát từ mục đích giáo dục phải hướng tới sự phát triển cao nhất của cá nhân học sinh, khai thác và tạo điều kiện năng lực, sở trường, năng khiếu cá nhân học sinh được bộc lộ, nuôi dưỡng và hoàn thiện trí tuệ cùng nhân cách học sinh trong suốt quá trình giáo dục

Mặt khác DHTC còn là một xu thế nhằm tăng cường tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của mỗi nhà trường

Dạy học tự chọn nhằm bốn mục đích:

- Phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng và hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện, sáng tạo

- Bổ sung và khai thác sâu hơn kiến thức

- Rèn luyện tính tích cực học tập của học sinh

Trang 32

- Hình thành các nhóm đối tượng: học sinh năng khiếu, học sinh giỏi và học sinh kém để có cách dạy và cách học phù hợp

Mục tiêu của DHTC ở trung học phổ thông là nhằm mục đích phân hoá học sinh cũng như giáo dục toàn diện, cụ thể là giúp học sinh: Phát triển năng lực cá nhân trong một số lĩnh vực học tập, góp phần bồi dưỡng tài năng theo đặc điểm cấp học và của địa phương, đạt được mục tiêu giáo dục trung học

Như vậy, DHTC là một hình thức dạy học phân hoá cho phép mỗi học sinh ngoài việc học theo một chương trình chung còn có thể chọn học một số môn học, nội dung học khác nhau phù hợp với sở trường của mình

1.3.3 Chất lượng và chất lượng dạy học tự chọn

- Chất lượng “là sự phù hợp với mục tiêu” (mục tiêu ở đây được hiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng, các mục đích…, còn phù hợp với mục tiêu có thể là đáp ứng mong muốn của những người quan tâm, là đạt được hay vượt qua các tiêu chuẩn đặt ra ) Tuy nhiên ý nghĩa thực tế của định nghĩa trên là ở chỗ xem xét chất lượng chính là xem xét sự phù hợp với mục tiêu

- Chất lượng “là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho đối tượng (thực thể) đó khả năng thoã mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”

Như vậy, nói đến chất lượng là nói đến cái làm nên giá trị của con người,

sự vật với tư cách là sản phẩm của hoạt động, phù hợp với mục tiêu đã đề ra từ trước

Khái niệm chất lượng, theo nghĩa triệt để của nó bao hàm cả khái niệm hiệu quả

Trang 33

1.3.3.2 Chất lượng dạy học tự chọn

Theo quan điểm trên về chất lượng, chúng tôi cho rằng:

- Chất lượng dạy - học là mức độ giá trị của kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra của quá trình dạy học

- Chất lượng DHTC là kết quả đạt được của quá trình dạy và học các môn tự chọn, chủ đề tự chọn của các môn học so với mục tiêu đặt ra của hình thức DHTC trong nhà trường phổ thông

- Chất lượng DHTC ở bậc trung học phổ thông là kết quả đạt được của quá trình dạy và học môn tự chọn và nội dung các chủ đề tự chọn của các môn học trong chương trình THPT so với mục tiêu của hình thức DHTC ở THPT

Cụ thể kết quả về các kỹ năng như: Hoạt động tập thể, kỹ năng sống và phương pháp tự học Giúp học sinh phát triển năng lực cá nhân trong một số lĩnh vực học tập, góp phần bồi dưỡng tài năng theo đặc điểm cấp THPT

Chất lượng DHTC ở THPT là kết quả phức hợp của một loạt những yếu

tố chủ quan và khách quan khác nhau Vì vậy, để đánh giá chất lượng DHTC cần phải dựa vào mục tiêu của chương trình DHTC ở THPT, dựa vào các tiêu chí đánh giá về các yếu tố như:

+ Về giáo viên: Phải đảm bảo các yêu cầu về trình độ đào tạo, phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng sư phạm

+ Về học sinh: Đảm bảo về điều kiện học tập, khả năng nhận thức, ý thức học tập, nhu cầu, hứng thú học tập, năng lực, sở trường của từng học sinh

+ Về công tác quản lý: Cần thực hiện tốt, có hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động DHTC, hoạt động chuyên môn theo định kỳ, họp tổ chuyên môn, phân công giáo viên dạy học môn tự chọn và các chủ đề tự chọn,v v

+ Về nội dung DHTC: Ngoài môn tự chọn có chương trình độc lập là nghề phổ thông và ngoại ngữ 2 thì chương trình DHTC ở THPT mở rộng ở các môn học như: Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Kỹ

Trang 34

năng sống, Âm nhạc, Thể dục Mỗi học sinh căn cứ vào nguyện vọng, sở trường, hứng thú, sức khoẻ, điều kiện của cá nhân mà có thể lựa chọn một số chủ đề, môdun thích hợp để học

+ Về phương pháp DHTC: Phương pháp DHTC phải phát huy tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo, tư duy phê phán, tinh thần tự học của học sinh, phát huy thế mạnh, truyền thống của địa phương, của đất nước, từng bước tiến kịp trình độ GDTrH của các quốc gia phát triển trong khu vực và trên thế giới

+ Về hình thức tổ chức DHTC: Sử dụng linh hoạt các hình thức tổ chức DHTC phù hợp với điều kiện dạy học, phương pháp DHTC v v Đối với những môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ, Âm nhạc, Sinh học, thể dục có thể tổ chức theo hình thức câu lạc bộ, học sinh nào yêu thích thì có thể tham gia vào câu lạc bộ này để đến đó được vui chơi, mở mang kiến thức, phát huy năng khiếu, sở trường, định hướng nghề nghiệp

+ Về đánh giá chất lượng DHTC: kiểm tra, đánh giá kết quả DHTC, thực hiện đánh giá bằng nhận xét của giáo viên đối với các môn tự chọn, các chủ đề

tự chọn

+ Đảm bảo các điều kiện cho DHTC: Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tốt cho DHTC như: máy vi tính, hệ thống phòng chức năng, phòng chuyên biệt và các điều kiện thiết yếu phục vụ cho DHTC

Như vậy, để nâng cao chất lượng DHTC ở THPT cần phải có những biện pháp tác động tích cực tới các yếu tố đó

1 3.4 Dạy học tự chọn ở cấp trung học phổ thông

1.3.4.1.Đối tượng, nội dung, tài liệu dạy học tự chọn ở cấp trung học

Trang 35

Nội dung DHTC bao gồm các môn học, hoạt động giáo dục tự chọn (sau đây gọi chung là môn học) và các chủ đề tự chọn Các môn học tự chọn có trong Kế hoạch giáo dục của cấp học Các chủ đề tự chọn gồm các chủ đề nâng cao và chủ đề bám sát (trong những năm trước mắt, do điều kiện về giáo viên, CSVC và tổ chức quản lý, tạm thời chưa thực hiện chủ đề tự chọn đáp ứng)

Tài liệu dạy tự chọn do Bộ GD & ĐT ban hành và một số chủ đề tự chọn

do các Sở GD & ĐT biên soạn theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT (tổ chức biên soạn, thẩm định và sử dụng sau khi được Bộ chấp thuận

1.3.4.2 Phương pháp dạy học tự chọn

Phương pháp dạy các môn học tự chọn như các môn học khác Phương pháp dạy các chủ đề tự chọn nâng cao hướng vào bổ sung, nâng cao kiến thức, khai thác sâu chương trình, rèn kỹ năng và năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh Phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn bám sát hướng vào củng cố, hệ thống hóa, khắc sâu kiến thức, kỹ năng (không bổ sung kiến thức nâng cao mới)

1.3.4.3 Hướng dẫn học sinh lựa chọn môn học, chủ đề và tổ chức dạy

1.3.4.4.Thời lượng dạy học tự chọn

- Cấp THPT: 4 tiết/tuần đối với ban Cơ bản; 1,5 tiết/tuần đối với ban KHTN và ban KHXH-NV

- Các môn học tự chọn và chủ đề tự chọn

+ Đối với THPT Thực hiện dạy học tự chọn theo hướng dẫn tại công văn 8227/BGD ĐT-GDTrH ngày 06/8/2007 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2007-2008 của Bộ GD & ĐT:

Trang 36

Thực hiện dạy học tự chọn ở lớp 10 và lớp 11:

+ Đối với ban KHTN và ban KHXH-NV: Toàn bộ thời lượng dạy học tự

chọn trong Kế hoạch giáo dục được sử dụng để dạy học chủ đề tự chọn bám sát

nhằm ôn tập, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kỹ năng cho HS

+ Đối với ban CB, sử dụng thời lượng dạy học tự chọn theo một trong hai cách sau đây:

Cách 1: Dạy học từ 1 đến 3 môn nâng cao trong số 8 môn có nội dung nâng cao (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ) Các môn này có thể dạy theo SGK nâng cao hoặc SGK chương trình chuẩn kết hợp với các chủ đề tự chọn nâng cao Thời lượng dạy học tự chọn còn lại dành để dạy các chủ đề bám sát

Cách 2: Dạy tất cả các môn theo SGK chương trình chuẩn và chủ đề bám sát của các môn học có trong Kế hoạch giáo dục

Bố trí lớp cho HS chuyển ban, chuyển hình thức học tập phân hoá trong ban CB và HS lưu ban các lớp 10, 11:

- Xem xét, giải quyết nguyện vọng chuyển ban, chuyển hình thức học tập phân hoá trong ban CB cho những HS lên lớp 11 có đơn đề nghị trước khi khai giảng năm học 2007-2008 theo nguyên tắc sắp xếp theo năng lực học tập và bảo đảm sự ổn định tổ chức dạy học của nhà trường

- Sắp xếp HS lưu ban lớp 10, lớp 11 phù hợp với năng lực học tập của HS Sau gần 3 năm thử nghiệm chương trình này sẽ tiếp tục được triển khai DHTC mở rộng ở các môn học như: Kĩ năng sống, nghề phổ thông, chủ đề tự chọn như dạy Lịch sử địa phương, học hát dân ca

Với chương trình DHTC mới, học sinh có thể chọn một số chủ đề, môđun thích hợp để học nhưng tối đa là 2-3 môn học (hoặc nội dung) tự chọn Ngay trong nội dung tự chọn của một môn học, học sinh có thể lựa chọn một số chủ đề, môđun thích hợp của từng lớp và không quá 4 tiết/tuần

Trang 37

Như vậy, theo định hướng nội dung DHTC đối với THPT mà Viện chiến lược và chương trình GD đưa ra thì tất cả các nội dung bắt buộc trong chương trình THPT hiện hành đều được đưa vào nội dung dạy học tự chọn

Về nguyên tắc thì học sinh là người được lựa chọn nội dung học tự chọn Nhưng hiện nay, không phải trường THPT nào cũng đáp ứng được nhu cầu rất

đa dạng của học sinh, nên việc lựa chọn nội dung và thời lượng DHTC có thể thực hiện như sau:

- Hiệu trưởng căn cứ vào điều kiện cụ thể của nhà trường để chọn một số nội dung, tài liệu, thời lượng DHTC

- Mỗi học sinh căn cứ vào nguyện vọng, sở trường, hứng thú, sức khoẻ, điều kiện của cá nhân mà lựa chọn một số trong các nội dung tự chọn do hiệu trưởng đã chọn Hết sức tránh những nặng nề, “quá tải” khi chọn các nội dung

tự chọn

- Sau khi cân đối các nguyện vọng tự chọn của học sinh, hiệu trưởng lập

kế hoạch DHTC trong kế hoạch giáo dục chung của nhà trường

Tổ chức DHTC ở từng trường, từng địa phương theo sự thoả thuận của

cơ quan chỉ đạo giáo dục và cơ quan chính quyền, ban đại diện cha mẹ học sinh

ở địa phương trường đóng, theo nguyên tắc tự nguyện và phù hợp với hoàn cảnh cu thể của địa phương

Khuyến khích sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội, của cha mẹ học sinh, của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương… cho DHTC ở từng trường THPT

Đối với các lớp học trong chương trình và SGK mới nên tổ chức cho học sinh tham gia học chương trình DHTC nhưng việc tổ chức cần xét đến các điều kiện thiết yếu và nhu cầu cũng như sự tự nguyện của HS, không được ép buộc khi các điều kiện này chưa đáp ứng Việc DHTC không nhất thiết phải toàn bộ

HS trong một lớp hay trong khối Đối với những nơi có nhu cầu học chương trình DHTC thấp, những HS có nhu cầu và nguyện vọng tham gia học các môn

Trang 38

tự chọn, các chủ đề tự chọn thì GV cho HS đăng kí ngay từ đầu năm học, sau

đó sắp xếp, tổ chức, phân chia các nhóm, các lớp có cùng sở thích, hứng thú nhu cầu về một môn học, chủ đề lựa chọn Các nhóm, các lớp này được hình thành là học sinh của các lớp trong một khối cùng tham gia hoạt động về một chủ đề tự chọn nhất định

1.3.5 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học phổ thông liên quan đến việc dạy học tự chọn

Hứng thú nhận thức là xu hướng lựa chọn của cá nhân nhằm vào việc nhận thức một hoặc vài lĩnh vực khoa học (trong nhận thức là các môn học) nhằm vào mặt nội dung của nó cũng như nhằm vào quá trình hoạt đông Trong

đó cá nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng mà có xu thế đi sâu vào cái bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng

Như vậy, sự phát triển tâm, sinh lí học sinh trung học phát triển theo quy luật không đồng đều: trong cùng một lứa tuổi sự phát triển trí tuệ, hứng thú, nhu cầu, năng lực và động cơ học tập…cũng khác nhau, đó là chưa kể đến sự khác biệt về môi trường xã hội, gia đình và điều liện học tập Sự khác nhau này tạo nên bộ mặt riêng trong từng đời sống tâm lí học sinh trung học

Từ những đặc điểm trên cho thấy khi thiết kế nội dung DHTC, lựa chọn các phương pháp và hình thức tổ chức DHTC phải phù hợp với thú nhu cầu, động cơ học tập của mỗi học sinh, tạo ra những điều kiện thuận lợi để lôi cuốn

và tích cực hoá các hoạt động học tập ở học sinh

Để biến nghị quyết của Đảng thành hiện thực, phục vụ sự nghiệp CNH

và HĐH đất nước Trước hết cần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng nền giáo dục bền vững, lành mạnh, đạt trình độ tiên tiến ở các bậc học trong đó có bậc trung học, trong đó cấp THPT chuẩn bị thi vào các trường đại học theo các khối khác nhau tủy theo năng lực và nguyện vọng của học sinh Đáp ứng nhu cầu học tập của những học sinh có năng khiếu, góp phần chuẩn bị cho những học sinh không có điều kiện học lên bước vào cuộc sống lao động

Trang 39

Bởi vậy, để nâng cao chất lượng toàn diện cấp THPT thì phải tăng quỹ thời gian học tập ở trường cho học sinh tạo điều kiện đổi mới có hiệu quả nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH trong giai đoạn hiện nay

Tăng quỹ thời gian học tập ở trường cho HS trung học là phải tổ chức học 2 buổi/ngày (còn gọi là dạy học cả ngày ở trường) Dạy học 2 buổi/ngày tạo điều kiện đảm bảo dạy học đủ thời gian, chất lượng học tập các môn bắt buộc tốt hơn Học sinh có điều kiện đảm bảo cân đối việc học tập, rèn luyện và tăng cường các hoạt động giáo dục sức khoẻ, thẩm mỹ, thể chất, đồng thời học thêm các môn năng khiếu: Thể dục, hát nhạc, tăng cường phát triển năng lực qua các môn tự chọn Ở những trường dạy học 2 buổi/ngày đã xuất hiện nhu cầu DHTC trong một số bộ phận học sinh Một số trường đã có nhiều sáng kiến

tổ chức dạy học ngoại ngữ, tin học, một số môn thể dục, thể thao (bơi, cờ vua, thể dục nhịp điệu…) v.v Hiện nay, Bộ GD-ĐT đã ban hành chương trình tự chọn môn tiếng anh và môn tin học để dạy học (không bắt buộc) từ lớp 3

Trong khoảng 10 năm gần đây, với sự phát triển của công nghệ thông tin

và truyền thông, điều kiện giao lưu với các nước ngày càng thuận lợi, nhiều đoàn học sinh giỏi ở trung học Việt Nam đi thi đấu trong khu vực và đã đạt được kết quả tốt… Những thông tin về dạy học phân hoá để phát triển năng lực

cá nhân bằng DHTC của các nước trong khu vực và trên thế giới càng thôi thúc nước ta đẩy mạnh DHTC ở bậc trung học để tiến kịp sự phát triển giáo dục trung học ở các nước phát triển trên thế giới

Trang 40

Kết luận chương 1

Để thực hiện dạy và học ở phổ thông theo những quan điểm có tính triết

lý giáo dục thì cần tạo lập được các điều kiện Cần và Đủ ở mức độ nhất định

cho đủ là tối thiểu Cả một hệ thống các yếu tố, các điều kiện để phục vụ cho hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Nói rộng ra thì có

cả 3 môi trường giáo dục, mà từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và

có chủ trương xây dựng ba môi trường giáo dục lành mạnh: Nhà trường, gia đình, Xã hội trên cơ sở “Học để biết, Học để làm, Học để chung sống, Học để

tự khẳng định mình”

Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, chính vì vậy Hiệu trưởng cần tìm ra những biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng dạy học, đặc biệt là dạy học tự chọn đáp ứng được yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông Các biện pháp cụ thể của Hiệu trưởng được xác định trên cơ sở nghiên cứu nắm vững lý luận và thực trạng quản lý HĐDH nói chung, HĐ DHTC ở trường THPT nói riêng Đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả là nội dung cơ bản của hoạt động quản lý

Ngày đăng: 05/10/2014, 22:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Lê Viết Hùng (2007), Biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng trong điều kiện thực hiện chương trình phan ban ở các trường THPT huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội, luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng trong điều kiện thực hiện chương trình phan ban ở các trường THPT huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội
Tác giả: Lê Viết Hùng
Năm: 2007
14. Nguyễn Sinh Huy- Nguyễn Văn Lê (1999), Giáo dục học đại cương, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương, NXBGD
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy- Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
15.Trần Kiểm (2002), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2002
27. Nguyễn Ngọc Quang (1993), Chuyên đề lý luận dạy học (dành cho lớp đào tạo cao học quản lý giáo dục, Trường CBQL GD-ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề lý luận dạy học (dành cho lớp đào tạo cao học quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1993
1. Đặng Quốc Bảo (1997), Những vấn đề cơ bản về quản lí giáo dục, Trường cán bộ quản lí Giáo dục và Đào tạo Hà nội Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Điều lệ trường THPT Khác
3. Nguyễn Bá Dương (1999), Tâm lí học quản lý dùng cho người lãnh đạo. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
4. Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ dạy học, tập 1,2, NXB GD Khác
5.Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cức khoa học, NXB Khoa Học và Kỹ Thuật Khác
6. Đỗ Ngọc Đạt (1997), tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
7. Lê Hoàng Hà (2009), Dạy học phân hoá tại một số trường trung học phổ thông, Tạp chí Giáo dục- số đặc biệt (tháng 3) Khác
8. Trần Thị Thu Hà (1997), Vấn đề quản lí ngân sách giáo dục quốc dân, NXBGD, Hà Nội Khác
9. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, NXB GD Hà Nội Khác
10. Nguyễn Kế Hào (2011), Dạy và học ở phổ thông trong thời kỳ đổi và hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam tập II Khác
11. Nguyễn Thị Hiền(2000), Quản lý hoạt động dạy học, Bài giảng lớp cao học K14, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Hà Nội Khác
12. Bùi Văn Huệ, Tạp chí giáo dục số 12/2001-Đào tạo,bồi dưỡng giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông Khác
17. M.I. Kônđacốp(1984), Cơ sở lí luận của khoa học quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý giáo dục trung ương- Hà Nội Khác
18. Nguyễn Văn Lộc (2007), Một số ý kiến về định hướng viết tài liệu dạy học chủ đề tự chọn môn Toán cho HS phổ thông phân ban, Tạp chí GD số 154 Khác
19. Vũ Quốc Long (2007, chủ biên), giáo trình bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn trường trung học phỏ thông- NXB Hà Nội Khác
20. Mai Văn Nam (2007), Mấy vấn đề suy nghĩ về dạy và học tự chọn - Thế giới trong ta, CĐ 59+60 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ chức năng QL: - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Sơ đồ ch ức năng QL: (Trang 23)
Bảng 2.2. Số liệu  tuyển sinh đầu vào năm học 2011-2012 - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.2. Số liệu tuyển sinh đầu vào năm học 2011-2012 (Trang 45)
Bảng 2.3.1. Kết quả học lực của HS năm học 2010 – 2011 - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.3.1. Kết quả học lực của HS năm học 2010 – 2011 (Trang 46)
Bảng 2.6. Số liệu HS đỗ  tốt nghiệp  năm học; 2010 -2011;2011 -2012 - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.6. Số liệu HS đỗ tốt nghiệp năm học; 2010 -2011;2011 -2012 (Trang 49)
THPT  Thuận  Thành  1  xếp  thứ  3  bảng  A;  THPT  Thuận  2  xếp  thứ  4  bảng  B; - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
hu ận Thành 1 xếp thứ 3 bảng A; THPT Thuận 2 xếp thứ 4 bảng B; (Trang 50)
Bảng 2.7.  Kết quả HS giỏi tỉnh các trường THPT huyện Thuận Thành - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.7. Kết quả HS giỏi tỉnh các trường THPT huyện Thuận Thành (Trang 50)
Bảng 2.9. Đội ngũ cán bộ quản lí và tổ trưởng của các trường THPT - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.9. Đội ngũ cán bộ quản lí và tổ trưởng của các trường THPT (Trang 52)
Bảng 2.10. Đội ngũ giáo viên của các trường THPT - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.10. Đội ngũ giáo viên của các trường THPT (Trang 53)
Bảng 2.11. Chất lượng đội ngũ giáo viên của các trường THPT Thuận  Thành - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.11. Chất lượng đội ngũ giáo viên của các trường THPT Thuận Thành (Trang 54)
Bảng  2.12.  Cơ  sở  vật  chất  và  các  thiết  bị  phục  vụ  DHTC  của  các  trường - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
ng 2.12. Cơ sở vật chất và các thiết bị phục vụ DHTC của các trường (Trang 55)
Bảng  2.13.  Thực  trạng  nhận  thức  của  GV  các  trường  THPT  Thuận  Thành về DHTC - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
ng 2.13. Thực trạng nhận thức của GV các trường THPT Thuận Thành về DHTC (Trang 58)
Bảng 2.16.Thực trạng về hình thức tổ chức DHTC ở các trường THPT  Thuận Thành. - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 2.16. Thực trạng về hình thức tổ chức DHTC ở các trường THPT Thuận Thành (Trang 65)
Bảng 3.1.Tính cần thiết của các biện pháp. - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 3.1. Tính cần thiết của các biện pháp (Trang 91)
Bảng 3.2. Tính khả thi của các biện pháp - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 3.2. Tính khả thi của các biện pháp (Trang 93)
Bảng 3.3. Tương quan giữa mức cần thiết và mức độ khả thi - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT thuận thành bắc ninh
Bảng 3.3. Tương quan giữa mức cần thiết và mức độ khả thi (Trang 94)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w