Nhắc đến văn chương chữ Hán, chúng ta không thể không nhắc đến thơ ca — một thể loại thành công nhất của văn chương chữ Hán và tập thơ Ngực trung nhật ký của Hồ Chí Minh là một trong nhữ
Trang 1TRONG “NGUC TRUNG NHAT KY” CUA
HO CHI MINH TRONG SACH NGU VAN
Trang 2DE CUONG TONG QUAT
5 Phương pháp nghiên cứu
B PHAN NOI DUNG
CHUONG 1: DOI NET VE TAC GIA HO CHi MINH VA TAP THO “NGUC TRUNG NHAT KY”
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ chí Minh
1.1.1 Đôi nét về cuộc đời Hồ Chí Minh
1.1.2 Sự nghiệp văn chương
1.1.3.1 Văn chính luận
1.1.3.2 Truyện và ký
1.1.3.3 Thơ ca
1.1.3 Quan điểm sáng tác văn học
1.2 Giới thiệu tập thơ “Ngực trung nhật ký ”
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
1.2.2 Giá trị tập thơ “NWgục trung nhật ký ”
1.2.3 Vài nét về công trình biên địch “Ngực trung nhật ký”
2.1.2 Vai trò của việc dịch thơ chữ Hán sang chữ Việt
2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc dịch thành thơ từ chữ Hán sang chữ Việt 2.2.1 Thuận lợi
2.2.2 Khó khăn
2.3 Nguyên nhân bản dịch thơ thoát nghĩa so với nguyên tác
2.3.1 Nguyên nhân khách quan
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Trang 32.4 Những tiêu chi chung đề nhận xét một tác phẩm dịch
Trang 4A, PHAN MO DAU
1 Ly do chon dé tai
Ngày nay thơ văn chữ Hán không còn giữ được vị trí độc tôn như trước, nhưng những giá trị mà nó để lại cho nền văn học dân tộc là vô cùng to lớn Văn chương chữ Hán là nơi lưu giữ rất nhiều những trang sử hào hùng, những nét đẹp truyền thống của dân tộc, phản ánh những chặng đường đấu tranh và đi lên của đất nước Việt Nam
Nhắc đến văn chương chữ Hán, chúng ta không thể không nhắc đến thơ ca — một thể loại thành công nhất của văn chương chữ Hán và tập thơ Ngực trung nhật ký của Hồ Chí Minh là một trong những tập thơ được đánh giá cao không những về nội dung mà còn về nghệ thuật Tập thơ này là cả một kho tàng về biết bao khía cạnh của con người, cuộc đời, nghệ thuật mà sự phong phú còn cần được tiếp tục nghiên cứu Trong đó, tìm hiểu việc dịch các bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trong Ngực /rung nhật ký là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa và cần thiết đối với việc dạy và học môn Văn ở các bậc Trung học cơ sở và Trung học phô thông
Việc dịch một tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác là một công việc cực
kì khó khăn, phức tạp Dịch tác phẩm thơ ra thơ lại càng khó khăn gấp bội, nhất là tác
phẩm có tầm cỡ lớn như Ngục trung nhật ký Làm sao để nhận ra đâu là một bản dịch thành công là việc không đễ dàng Do đó mãi đến thời điểm hiện tại, thì đây vẫn luôn là một vấn đề quen mà lạ, luôn có sức hấp dẫn đối với bất kỳ những ai có nhu cầu tìm hiểu văn thơ chữ Hán
Với ý nghĩa đó, công việc tìm hiểu vấn đề dịch các bài thơ chữ Hán của Bác trong
tập thơ này là một yêu cầu khá quan trọng cũng không kém phần thiết thực đối với một sinh viên ngành sư phạm Đến với đề tài Khảo sát, đối chiếu nguyên tác với bản dịch thơ một số bài trong “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh trong sách Ngữ văn phổ thông”, một mặt, người viết tích góp, nâng cao kiến thức văn học về thơ văn chữ Hán của Hồ Chí Minh, thuận lợi cho công tác giảng dạy sau này, mặt khác, người viết cũng
hi vọng sau khi luận văn hoàn thành nó sẽ trở thành nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho những ai yêu thích và quan tâm đối với việc nghiên cứu kho tàng văn học Hán Nôm
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tập thơ Ngực trung nhật ký của Hồ Chí Minh được xem là một di sản quý giá trong kho tàng văn học dân tộc Ngay từ khi mới công bó, tác phẩm đã thu hút được sự quan
Trang 5tâm của đông đảo độc gia, giới phê bình, nghiên cứu Tìm hiểu việc dịch các bài thơ chữ
Hán trong tập Ngực trung nhật ký của Hồ Chí Minh đã được khá nhiều người quan tâm
nghiên cứu, đưa ra nhiều ý kiến khác nhau Chúng ta có thể điểm qua một vài ý kiến xoay quanh vấn đề này:
Tạ Ngọc Liễn trong bài Vài suy nghĩ về việc dịch thơ chữ Hán của Hỏ Chủ Tịch đã viết: “phẩn dịch nghĩa và dịch thơ các bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trong bản dịch
Ngục trung nhật ký nói chung là tốt Những bản dịch chính xác chiếm tỉ lệ rất cao Tuy nhiên, nếu đọc kĩ toàn bộ chúng ta thấy còn có những trường hợp cần dịch hoặc cần sửa thêm ” [2 ; tr.219] Qua bài viết này, tác giả đã cho chúng ta thấy được những khó khăn
vô vàn của các dịch giả khi dịch thơ là phải chịu sự gò bó bởi số câu, số chữ, niêm luật, vần nhịp nên thành thử bản dịch không còn giữ được bao nhiêu so với nguyên tác Đồng thời, tác giả đã dẫn ra một số trường hợp trong tập thơ Ngực trung nhật ký mà theo tác gia là chưa dịch sát nghĩa Bên cạnh đó, tác giá cũng có đề xuất một số ý kiến về công tác dịch thơ Hồ Chí Minh nói riêng và công tác dịch thơ chữ Hán nói chung
Cung Văn Lược trong Bước đầu khảo sát tình hình dich thơ đối với các từ song tiết trong tác phẩm Ngục trung nhật ký có viết: “tác phẩm dịch Nhật ký trong tù hầu hết các bài đã giữ nguyên phong cách thơ của nguyên tác Nói một cách khác là có giữ số lượng tiếng của câu, từ trong bài dịch như của câu, từ mà bài thơ nguyên tác vốn có” [2 ; tr.230] Sau quá trình đi vào khảo sát các từ song tiết tiếng Hán mà các dịch giả dịch Ngục trung nhật ký đã thực hiện, tác giả bài viết cũng đã khẳng định công trình dịch
thuật này đã thể hiện một sự cố gắng đầy nhiệt tình của các dịch giả
Tác giả Vũ Ngọc Khánh trong Quyển xưa sách mới bôi thêm ấm — con đường đi đến một bản dịch tron ven Nhat ky trong ti tương xứng với nguyên tác đã từng đánh giá rằng: “để Ngục trung nhật ký trở thành Nhật ký trong tù đúng như thế, diễn ra đúng với
tiễn trình nói trên thì tất không tránh khỏi sự hiện diện song song một tiến trình đánh
giá từng bước trong công tác dịch thuật” [1 ; tr263] Qua bài viết này, tác giả cũng có
đề cập đến các bản dịch 1960, 1990, 1991, giúp chúng ta thấy được những ưu điểm mà các bản dịch này đã đạt được và các khuyết điểm mà các bản dịch này còn mắc phải Sau đó khi bàn về việc dịch cũng như công tác chuyền ngữ tập thơ này, Vũ Ngọc Khánh
đã nêu: “việc thêm chữ (và dễ có khả năng thêm ÿ) trong một văn bản dịch so với nguyên văn có được pháp không và nếu được thì nên ở trong chừng mực nào? Đó cũng
là một van dé quan trọng khi xem xét các bản dịch của Nhật ký trong tù ” [1 ; tr.270]
Trang 6Lê Trí Viễn trong bài viết Thử đi tìm chỗ tỉnh vì của nguyên tác và bản dịch đã “đi sâu vào từng bài, chữ nghĩa cái tỉnh vi, ẩn náo của chất thơ” [§ ; tr.580] Tác giả đã chỉ
ra được cái hay của bản dịch còn đối với những bản dịch chưa tốt thì tác giả đem ra bàn bạc Đồng thời, tác giả còn dẫn ra được những bài thơ, những câu thơ mà ông cho là
“toàn bích” Ngoài ra, tác giả còn cho chúng ta thấy được mặc dù thơ của Bác là thơ chữ Hán nhưng cũng “cãng chẳng có hình ảnh gì tan ki, độc đáo, mà chỉ là những chỉ tiết chân thật, thông thường của cuộc sống thế mà hiểu được cái sâu sắc bình dị ấy,
ngẫm cho kĩ thật không dễ [§ ; tr.570]
“Dịch từ chữ Hán sang chữ Việt — một khoa học, một nghệ thuật”, cuốn sách đã
giới thiệu rất nhiều những vấn đề liên quan đến dịch thuật nói chung và dịch thơ chữ
Hán nói riêng Đáng lưu ý nhất là ý kiến của ông Bùi Văn Nguyên Ông đã có nêu một vài điểm lý luận rút ra từ quá trình dịch thuật thơ văn chữ Hán của người Việt sang tiếng Việt Theo ông dịch thuật thơ văn nói chung và cũng như dịch thuật thơ văn chữ Hán của người Việt sang tiếng Việt nói riêng vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Nói
về dịch thơ văn cổ của các bậc tiền bối nước ta ra tiếng Việt hiện đại, thì chính là chuyển đạt mã số từ phạm vi cổ mang tính lịch đại sang phạm vi hiện đại mang tính dân tộc Tôi
nghĩ rằng (tức ông Bùi Văn Nguyên): “cái chìa khóa để đạt tới tiêu chuẩn “chân, thiện,
mĩ” hay “tín, đạt, nhã” thì người dịch cần phải có kiến thức, ý chí và cả năng khiếu, có
như thể thì tác phẩm dịch mới thành công” [2 ; tr.45]
Chung quanh việc dich thuật tập thơ Ngực trung nhật ký còn có một số bài góp ý
kiến của các tác giả, đáng lưu ý là về những ý kiến đóng góp dịch tập thơ Nhật ký trong
tù của Nam Trân (tạp chí văn học số 9, 1961); bản dịch Ngục trung nhật ký xuất hiện ở
Pháp của Phan Nhuận (tạp chí văn học số 5, 1964); đọc lại bản dịch Nhật ký trong tù
của Lê Trí Viễn (tác phẩm mới số 8, 1970); chưng quanh việc dịch thơ chữ Hán của Hỗ
Chủ Tịch của tác giả Hoàng xuân Nhị (tạp chí ngôn ngữ số 2, 1980); thử nhận diện lại
bản dịch Nhật ký trong tà của Nguyễn Huệ Chi (tạp chí văn nghệ số 4, 1984), về bản
dịch mới Nhật ký trong t của Ngô Đức Quyền (văn nghệ số 20, 1986); Nhật ký trong từ
cần được dịch và giới thiệu đây di (văn nghệ số 45, 1990) của Hà Minh Đức; xuất bản
toàn bộ Nhật ký trong tù của Trần Văn Mỹ (nhân dân, 15 — 09 — 1990)
Nhìn chung, tình hình góp ý kiến bản dịch Ngực trung nhật ký rất đa dạng với những cách nhìn dưới các góc độ khác nhau, độ nông sâu khác nhau Tuy nhiên, các tác giả đều thống nhất cho rằng Ngực trung nhật ký của Hồ Chí Minh rất khó dịch, sâu sắc
Trang 7về ý, bình dị về lời nên bản dịch tuy rất công phu, người đọc vẫn mong mỏi có những bản địch tốt hơn, hay hơn Nam Trân — người chủ chốt trong việc dịch tập thơ cũng cho rằng: ban phụ trách dịch Ngực trung nhật ký đã làm việc rất nghiêm túc và mặc dù có nhiều cố gắng nhưng bản dịch còn chưa theo kịp nguyên tác
Như vậy, chúng ta có thé khang dinh rằng việc đọc, tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát các bản địch Ngực trưng nhật ký với nguyên tác từ lâu đã là niềm khao khát say sưa của
nhiều thế hệ Tat nhiên, không phái thế là đã hết chuyện bàn, bởi lẽ với những tác phẩm lớn thì việc khai thác các giá trị không bao giờ kết thúc Với đề tài “khảo sát, đối chiếu nguyên tác với bản dịch thơ một số bài trong “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh
trong sách Ngữ Văn phổ thông” người viết muốn góp ý kiến nhỏ vào việc tìm hiểu vấn
đề dịch một số bài thơ chữ Hán trong tập thơ này của Bác Kế thừa từ những thành quả,
từ việc khảo sát, đối chiếu bản dịch với nguyên tác, người viết phát huy, mở rộng phạm
vi khảo sát, đối chiếu Tất cả góp phần làm cho Wgực trung nhật ký ngày càng hoàn
thiện hơn, tôn vinh giá trị bất hủ của Ngục trung nhật ký
3 Mục đích nghiên cứu
Đến với đề tài “Khảo sát, đối chiếu nguyên tác với bản dịch thơ một số bài trong
“Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh trong sách Ngữ văn phổ thông”, người viết giải
quyết các vấn đề như sau:
- Một là, tìm hiểu đôi nét về tác giả Hồ Chí Minh và tác phẩm Ngực trung nhật ký
để có được những hiểu biết cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp văn chương của tác giả cũng như khái quát về giá trị tập thơ Mgực ứrung nhật ký vĩ đại
- Hai là, người viết đi vào tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về vấn đề dịch thuật cũng như một số vấn để về văn học so sánh và nghiên cứu văn học dịch, vấn đề dịch thuật ở Việt Nam, những vấn đề mới đặt ra trong việc dịch từ chữ Hán sang chữ Việt ngày nay Chính phần này là cơ sở lý thuyết giúp người viết đễ đàng hơn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát, các bài thơ dịch trong tập thơ Ngực trung nhật ký của chủ
tịch Hồ Chí Minh
- Ba là, khảo sát, đối chiếu năm bài thơ chữ Hán trong tập Wgực trưng nhật ký của
Hồ Chí Minh trong chương trình sách giáo khoa, nhận xét bản dịch có sát hay chưa sát
so với nguyên tác Thông qua bài nghiên cứu, người viết hi vọng rằng sẽ góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu và khảo sát thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh với bản dịch thơ Người viết sẽ có cái nhìn đúng đắn hơn, khách quan hơn về nguyên tác chữ Hán với bản dịch
Trang 8thơ khi giảng dạy Ngoài ra, người viết cũng muốn góp một phần tài liệu, giúp cho các
em học sinh thuận lợi hơn khi nghiên cứu về Ngực frung nhật ký của chủ tịch Hồ Chí Minh
4 Phạm vỉ nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ gói gọn trong một số các bài thơ chữ Hán của
Hồ Chí Minh có trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông Phạm vi khảo sát và đối chiếu gồm có năm bài tho sau:
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đến với đề tài này, người viết tiến hành sưu tầm các tài liệu có liên quan trên các sách vở, Internet và các tạp chí văn học Sau đó sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh đề thấy được ưu điểm mà bản dịch đã đạt được và hạn chế mà bản dịch mắc phải
Sau đó, người viết tiến hành, tổng hợp, khái quát lại các vấn đề đã nghiên cứu và nhận
xét về bản dịch thơ so với nguyên tác chữ Hán đã được giới thiệu trong chương trình sách giáo khoa
Trang 9B PHAN NOI DUNG CHUONG 1: DOI NET VE TAC GIA HO CHI MINH 34 & AA VA
TAP THO “NGUC TRUNG NHAT KY” Jat # @ ic
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ chí Minh
1.1.1 Đôi nét về cuộc đời Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc còn bé có tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấy tên
là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng đổi tên là Nguyễn Ái
Quốc), sinh ngày 19 — 5 — 1890 ở quê ngoại làng Hoàng Trù; sau về quê nội ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Song thân của Người là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc và cụ Hoàng Thị Loan Thời trẻ, Người đã học chữ Hán trong gia đình, sau đó học
trường Quốc học Huế và có thời gian học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) với tên gọi
là Nguyễn Tắt thành Năm 1911, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước tại bến cảng
nhà Rồng Kế từ đó, Người bôn ba khắp nơi qua nhiều nước trên thế giới Tháng 1 —
1919, Người đưa bản yêu sách của nhân dân An Nam về quyền bình đăng tự do đến hội nghị Vecxay (Pháp) Năm 1920, Người dự đại hội Tua và là một trong những thành viên đầu tiên tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp Hồ Chí Minh đã tham gia thành lập nhiều tổ chức cách mạng Việt Nam như Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925), Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (1925) và chủ tọa hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước tại Hương Cảng, thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam (03 — 02 — 1930) Thang 02 —- 1941, Người về nước hoạt động và thành lập Mặt
trận Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở trong nước giành thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 Ngày 02 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngày 06 — 01 — 1946, cả nước tiến hành cuộc tổng tuyển cử đầu tiên và Người
được bầu làm chủ tịch nước Từ đó, Người luôn đảm nhiệm những chức vụ cao nhất của
Đảng và nhà nước Người lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược Ngày 02 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh qua
đời để lại bao nhiêu nỗi thương tiếc trong lòng người dân đất Việt
Năm 1990, nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (Unesco) đã ghi nhận và suy tôn Người là anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là người chiến sĩ kiên
Trang 10cường trên suốt nửa thế kỉ tham gia đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong sự nghiệp lớn lao của Người có một di sản để lại cho dân tộc, đó là những tác phẩm văn học
1.1.2 Sự nghiệp văn chương
Cùng với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Người chiến sĩ cách mạng ưu
tú Hồ Chí Minh còn để lại cho dân tộc cả một di sản văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và phong cách nghệ thuật Các tác phẩm văn học của Hồ Chí
Minh được viết bằng nhiều thứ tiếng như: tiếng Pháp, Hán văn và tiếng Việt Có thé hiểu
sự nghiệp văn học của người ở ba lĩnh vực: văn chính luận, truyện và ký, thơ ca
1.1.3.1 Văn chính luận
Những tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra chủ yếu với mục
đích đấu tranh chính trị nhằm tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ
cách mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử Qua những thập niên đầu của thé ki XX, các bài văn chính luận với bút danh là Nguyễn Ái Quốc đăng trên các tờ báo
Người cùng khổ (le paria), Nhân đạo (L Hmanite), Doi séng tho thuyén (La vie
ouvriere) đã có tác động và ảnh hưởng lớn đến công chúng Pháp và các nước thuộc địa Kiêu gọi thức tỉnh những nô lệ bị áp bức liên hiệp lại trong một mặt trận đấu tranh là những nội dung chủ yếu trong các tác phẩm chính luận của Nguyễn Ái Quốc “Bản án
chế độ thực dân Pháp ” đã kết tình và hội tụ tỉnh thần trên và trở thành một trong những
tác phẩm lớn nhất của Người
®Tuyên ngôn độc lập ” cũng là một văn kiện chính trị có giá trị lịch sử lớn, phản
ánh khát vọng độc lập, tự do và cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ của dân tộc đã gianh được thắng lợi, tuyên bố hùng hồn về quyền độc lập của dân tộc Việt Nam trước nhân dân trong nước và thế giới Áng văn nay con thể hiện giá trị nhân bản sâu sắc, nó khẳng định quyền con người, con người tham gia làm chủ đất nước và thật sự phải được giải phóng Bên cạnh đó, các tác phẩm chính luận nổi tiếng như: Lời kiêu gọi toàn quốc
kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966) đều thê hiện sâu sắc
tiếng gọi của non sông đất nước trong những giờ phút đặc biệt của dân tộc Những áng
văn chính luận tiêu biểu của Hồ Chí Minh cho thấy tác giả viết không chỉ bằng lí trí sáng
suốt, trí tuệ sắc sáo mà còn bằng cả tắm lòng yêu nồng nàn và căm thù giặc sâu sắc
1.1.3.2 Truyện và ký
Tập “?uyện và ký” là tập hợp những truyện ngắn và ký của Nguyễn Ái Quốc
Trang 11viết trong khoảng từ năm 1922 dén 1925 Cac truyén ngan nhw Pari (1922), Loi than
vấn của bà Trưng Trắc (1922), Con người biết mùi hun khói (1922), Đẳng tâm nhất trí
(1922), Vĩ hành (1923), Những trò lỗ hay là Varen và Phan Bội Châu (1925) thường được dựa trên sự kiện, một câu chuyện có thật và được người viết vận dụng hư cấu, tái tạo để thực hiện dụng ý của mình Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, truyện ngắn
Giác ngủ mười năm (1949) với bút danh Trần Lực là một sáng tác tỉnh thần lạc quan
cách mạng Ngoài truyện ngắn Hồ Chí Minh còn có những tác phẩm ký: Nhật ký chìm tàu (1931), Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963)
1.1.3.3 Thơ ca
Đây là lĩnh vực nổi bật nhất trong sáng tác văn chương của Hồ Chí Minh Có thé
kế đến ba tập thơ của Người đã được tuyển chọn qua các thời kì: gục trung nhật ký
(được viết từ năm 1942 đến 1943), Thơ Hé Chi Minh (1967), Thơ chữ Hán Hỗ Chí Minh
(1990)
Trên 250 bài thơ, đó là một con số có ý nghĩa đối với một đời thơ Thơ của Hồ Chí Minh được viết ra vào nhiều thời điểm và hoàn cánh lịch sử khác nhau Trong đó
tiêu biểu hơn cả là Ngục trung nhật ký — một tập thơ được viết ra trong thời gian Người
bị tù ở Quảng Tây - Trung Quốc Tập thơ có giá trị lớn lao, chứa đựng những bài học về nhân sinh, đạo lí cho hôm nay và cho cả ngày mai
Tóm lại, văn thơ Hồ Chí Minh thể hiện sâu sắc tắm lòng giàu yêu thương và tâm hồn cao cả Đó là tiếng nói nhân danh người cùng khổ đấu tranh đòi quyền sống, nhân
danh một dân tộc bảo vệ quyền độc lập tự do, là tiếng nói của một người cần lao, “người
đi dép lop cao su” va “nha chiến lược ” (KatepYaxin, Angieri) luôn lạc quan tin vào sức
mạnh của chân lí, của con người đang vươn tới “chân — thiện — mĩ” Qua di san van
chương quý giá đó, các thế hệ hôm nay và mai sau có thể tìm thấy những bài học và giá trị tỉnh thần cao quý cho mình
1.1.3 Quan điểm sáng tác văn học
Chưa bao giờ Hồ Chí Minh tự nhận mình là nhà thơ hay nhà văn mặc dù suốt đời cây bút của Người không bao giờ ngừng hoạt động Người đã đề lại cho đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị thuộc nhiều thể loại Hồ Chí Minh am hiểu quy luật và đặc trưng của hoạt động văn nghệ từ tư tưởng chính trị đến nghệ thuật biểu hiện Điều này trước hết được thể hiện trực tiếp trong hệ thống quan điểm văn chương của Người Thứ nhất, Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và
Trang 12phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng Nhà văn cũng phải ở giữa cuộc đời góp
phần vào nhiệm vụ đấu tranh phát triển xã hội Bài thơ “Cảm tưởng đọc thiên gia thi”
được viết ra với tỉnh thần đó:
“Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong ”
Chất thép ở đây chính là xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, là cảm
hứng đấu tranh xã hội tích cực của thi ca Sau này trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, qua Tư gởi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, Người lại khẳng
định “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận
đó”
Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân
thật Phát biểu trong buổi khai mạc triển lãm về hội họa trong năm đầu cách mạng, Người nhận xét một số tác phẩm “chát mơ mộng nhiều quá mà chất thật của sự sinh hoạt rất í£” Người yêu cầu văn nghệ sĩ phải “miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hôn” những đề tài phong phú của hiện thực cách mạng, phải chú ý nêu gương “øgười tốt việc tốt”, uỗn nắn và phê phán cái xấu Tính chân thật vốn là cái gốc của văn chương xưa và nay Nhà văn phải chú ý đến hình thức thể hiện, tránh lối viết cầu kì, xa lạ, nặng
nề Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Theo Người, tác phẩm văn chương phải thể hiện được tỉnh than của dân tộc của nhân đân và được nhân dân yêu thích
Cuối cùng, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức văn chương trong thời đại cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ Người luôn tự đặt câu hỏi: “viết cho ai?” (đối tượng), “viết để làm øì?” (mục đích), sau đó
mới quyết định “viếr cái gì?” (nội dung), “cách viết như thế nào?” (hình thức) Đó
chính là sự tự ý thức và trách nhiệm của người cầm bút
1.2 Giới thiệu tập thơ “NÑgục trung nhật ký”
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Ngày 13 — 8 — 1942 lấy tên là Hồ Chí Minh, Người mang danh nghĩa là đại biểu Việt Nam Độc Lập Đồng Minh và phân bộ quốc tế phản xâm lược Việt Nam từ địa điểm
cơ quan bí mật đóng ở Cao Bằng đã lên đường sang Trung Quốc đề tranh thủ sự viện trợ
quốc tế và liên lạc với các lực lượng chống Nhật của người Việt ở đó Sau nửa tháng đi
bộ vào đến thị trấn Túc Vinh thuộc huyện Tĩnh Tây — Quáng Tây, Người bị chính quyền
Trang 13địa phương bắt giữ và bị giam cầm hơn 13 tháng, bị giải tới giải lui gần 30 nhà lao của
13 huyện tĩnh Tây — Quảng Tây Chính trong thời gian bị tù đày vô cùng cực khổ đó, Hồ Chí Minh đã viết Ngục rrung nhật ký ÄÄ FP OA id
1.2.2 Giá trị tập thơ “Ngục trung nhật ký”
Tập thơ Ngực trung nhật ký của Hồ Chí Minh có những giá trị cơ bản sau đây:
Trước hết, tập tho nay đã phản ánh hiện thực hết sức chân thực và cụ thể Bác đã đi
nhiều nơi và ở nhiều nhà lao khác nhau Ở mỗi địa điểm, tâm tư tình cảm của Bác, của những người xung quanh hay những sự kiện diễn ra tương ứng với địa điểm đó như thé nào? đều được Bác ghi lại Ở Túc Vinh thì “để ta mang nhục ” do:
“Bia chuyện tình nghỉ là gián điệp, Cho người vô cớ mắt thanh danh ”
(Bị bắt giữ ở phố Túc Vĩnh)
còn khi “Vào nhà ngục huyện Tĩnh Tây”, Bác nghĩ minh là “khách” chứ không phải là
tù nhân “7úc Vinh” hay “Tĩnh Tây” đều là những địa danh có thật trên đất nước Trung
Quốc Lúc bấy giờ
Bên cạnh đó, Ngực trung nhật ký còn là bản cáo trạng “tô cáo hiện thực tàn bạo và
mục nát của nhà tà Quốc dân Đảng Trung Quốc” [1 ; tr.24] Một cháu bé mới được sáu tháng tuổi thì làm gì biết đến chuyện “sưng quản”, đến chuyện “cứu nước nhà” mà
phải vào tù và một người vợ có chồng trốn lính mà phải chịu liên lụy Từ đó, chúng ta thấy được sự vô nhân đạo của một chế độ nhà tù vạn ác và mục rỗng, bắt giam người vô toi va Mac di, tap tho Nguc trung nhật ký được viết dưới hình thức là thơ, mỗi bài thơ
là những câu thơ rất ngắn gọn nhưng đã vẽ nên được một bức tranh xã hội Trung Quốc đương thời Đó là một xã hội ấn chứa sự mục nát, bất công, phi lí và tàn bạo Những người thực thi pháp luật lại là những người phạm pháp, chúng khoác lên mình chiếc áo đạo đức để tư lợi, làm việc riêng “chuyên đánh bạc” làm cho cán cân công lí bị lệch
sang một bên mà xã hội “vấn thdi bình ” Trong cách đối xử, người tù còn thua một con
vật, họ phải hứng chịu nỗi đau cả về vật chất lẫn tỉnh thần: đói ăn, thiếu mặc, bệnh tật, hành hạ tù nhân hết ngày này qua ngày khác, cho đến chỗ tàn phế Dù cho hiện thực có
tàn khốc đến đâu đi chăng nữa nhưng tâm hồn của Bác cũng “khó hững hờ” với “cảnh đẹp ” đêm nay Đó chính là sự giao cảm giữa tâm hồn Bác với thiên nhiên Từ đó, chúng
ta thấy thiên nhiên trong thơ Bác không đượm màu sắc bi quan mà là thiên nhiên ấm tình đời, tình người thể hiện một tỉnh thần lạc quan rất nên thơ và đạt dào sức sống
Trang 14Ngoài ra, tập thơ này còn tỏ ra một ánh sáng khác thường Đó là ánh sáng của một tình cảm lớn, một trí tuệ lớn, một khí phách của một bậc đại nhân, đại chí, đại đũng Lúc nào, lòng Bác cũng canh cánh nỗi lo về vận mệnh của non sông đất nước Tình cảm đó
thể hiện thể hiện ở mọi không gian, thời gian: lúc thức thì “tran trọc băn khoăn” đến khi ngủ thì “sao vàng năm cánh mộng hôn quanh” Tuy nhiên, điều đáng nói là lòng
yêu thương của Bác không dừng lại ở người Việt Nam mà dù đó là: “cô em xóm núi xay ngô tối” trên đất Trung Hoa cũng được Bác quan tâm Từ đó, ta thấy được sự hài hòa cao độ giữa chủ nghĩa nhân đạo cộng sản và tỉnh thần quốc tế vô sản ở Bác Ngoài thể hiện một tình cảm lớn, Ngực irung nhật ky con thé hiện một trí tuệ lớn Ở trong nguc “ti tứng” nên mới “đem cờ bạc đánh chơi” nhưng ở người chiến sĩ cách mạng ấy đã từng
“trằn trọc băn khoăn giấc chẳng lành” thì đâu có việc “đánh chơi được ” Qua bài thơ
này, Bác đã thể hiện một trí tuệ sáng suốt, sắc sảo của một nhà chiến lược, chiến thuật
thiên tài, đặc biệt là trong nghệ thuật năm bắt thời cơ Hơn nữa, muốn chiến thắng thì
phải “nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, vạch đường đi nước bước cho rõ ràng Ngoài ra, tập thơ này còn thể hiện khí phách kiên cường của một bậc anh hùng luôn xem thường mọi gian khổ đọa đày mà thể xác đang phải hứng chịu Chỉ có Hồ Chí Minh mới có thể xem
“đây trói” là “rồng dài”, “ghé lở” là “hoa gắm” còn “gấy ngứa ” là “gấy đàn ” Những
điều này đã góp phần thể hiện thái độ cười cợt với mọi gian khé va tinh than “uy vit bat năng khuất” của Bác
Chúng ta sẽ không phải cần đi đâu xa hoặc tìm đọc một loại tài liệu nào để thấy được chế độ nhà tù Trung Hoa thời Tưởng Giới Thạch mà chỉ cần đọc Ngục trung nhật ký của
Hồ chí Minh là đủ Đây không những là một văn kiện lịch sử vô giá mà còn là một tác phẩm văn học lớn, vì nó vừa có nội dung phong phú, sâu sắc, vừa có giá trị nghệ thuật cao Bởi vậy, trên văn đàn Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 — 1945, Nguc Trung Nhat
Ký xứng đáng là một tác phẩm tiêu biểu và xuất sắc nhất
1.2.3 Vài nét về công trình biên dịch “Ngục trung nhật ký”
Mặc dù đã có những cống hiến nhất định cho nền văn học nước nhà nhưng lúc sinh thời Bác không bao giờ tự nhận mình là nhà thơ, nhà văn Tuy nhiên, vốn mang sẵn tâm hồn thi sĩ rơi vào hoàn cảnh tù đày, Bác đã ghi lại những tâm tư tình cảm, những
điều mắt thấy tai nghe dưới hình thức là thơ Đây là quyền nhật ký, Bác đã tự ghi cho
chính mình Thi phẩm “được ghỉ trong một cuốn số nhật ký bìa màu vàng nhạt Trang bìa đầu của cuốn số nhật ký có ghỉ bốn chữ “Nhật ký trong tù, còn vẽ hai bàn tay bị
Trang 15xiéng xích” [7 ; tr.16] thể hiện cho tỉnh thần bất khuất của người chiến sĩ cách mạng Sau này, bán gốc của tập thơ được viện bảo tàng bảo quản Các bài trong quyền nhật ký được Viện văn học Việt Nam phụ trách chỉnh lý Trong giai đoạn đầu, các bài thơ trong Ngục trung nhật ký chưa đến với người đọc một cách đầy đủ mà mãi đến sau này lần
lượt các bài thơ mới được công bố Ngực trung nhật ký có tất cá là 133 bài thơ (kế cả bài
mở đầu và bài Tân xuất ngục học đăng sơn), phần lớn các bài thơ đều được làm theo thể
tứ tuyệt
Tập thơ Ngực trung nhật ký ra đời đúng vào lúc đất nước ta xảy ra nhiều biến động nên nó cũng nhanh chóng chìm vào giữa bộn bề lịch sứ Vì vậy tập thơ vẫn chưa được dịch một cách công phu, nghiêm túc mà mãi đến năm 1959 mới được Viện văn học
Việt Nam bắt đầu tổ chức dịch Đầu năm 1960, Viện văn học Việt Nam đã chỉnh lí và
biên dịch xong Wgựục trung nhật ký Sau đó, tập thơ được hai Nhà xuất bản Văn Học và
Ngoại Văn xuất bản Tuy nhiên cả hai Nhà xuất bản năm ấy chỉ chọn xuất bản 100 bài thơ trong tông số 114 bài thơ của Ngực trung nhật ký Đặc biệt “bản của Nhà xuất bản
Văn Học có dịch âm Hán Việt, dịch nghĩa, dịch thành thơ và có một số chú thích” [1 ; tr.16] Năm 1977, Ngục trung nhật ký đã được Viện nghiên cứu, biên dịch, chỉnh lý lại
và bổ sung một số bài thơ trong Nguc trung nhật ký mà trước đó chưa được công bó
Đến tháng 5 - 1983, Nhà xuất bản Văn học Việt Nam cho xuất bản Ngục trung nhật ký
của Hồ Chí Minh, so với bán dịch năm 1960 tăng lên 13 bài Ngày 19 — 5 — 1990 nhân địp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, Viện văn học Việt Nam đã tiễn hành chỉnh lý, biên dịch các bài thơ trong Nguc trung nhật ký trên cơ so lần xuất bản năm 1983 b6 sung 21 bài thơ mà trước đó chưa được công bố
Năm 2002, bản dịch trọn vẹn năm 1990 được nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho in vào tập III Hồ Chí Minh toàn tập và đến năm 2003 trong cuốn Ngực frung nhật ký cũng nhà xuất bản này lai cho in cả bản chụp nguyên tác và bản dịch thơ trọn vẹn của Viện văn học có bỗ sung cả phần dịch những trang nhật ký văn xuôi nhân địp 60 năm ra
đời tác phẩm
Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh đã được dịch ra nhiều thứ tiếng của nhiều
nước trên thế giới đến với đông đảo người đọc nước ngoài như: Liên Xô, Ba Lan,
Hungari, Trung Quốc, Tiệp Khắc (cũ), Bungari, Miến Điện, Nhật Bản, Mĩ, A Rap, Thuy
Điển, Đan Mạch
Những công trình biên dịch tác phẩm trong và ngoài nước chứng tỏ tập thơ có giá
Trang 16trị đặc biệt Sinh thời, Hồ Chí Minh dứt khoác không nhận mình là nhà thơ nhưng sự thật hiển nhiên với Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh đã là một nhà thơ lớn của dân tộc
Trang 17CHUONG 2: MOT SO VAN DE CHUNG TRONG CONG TAC DICH TỪ CHỮ HÁN SANG CHỮ VIỆT
2.1 Những lý thuyết chung trong việc dịch từ chữ Hán sang chữ Việt
Theo ông Bùi Văn Nguyên “djch thuật thơ văn nói chung, cũng như dịch thuật
thơ văn chữ Hán của người Việt, ra tiếng Việt, vừa là một khoa học, vừa là một nghệ
cơ bản cách nói đó không có gì khác biệt Muốn có “chân”, “thiện”, “mỹ” hay “tín”,
“dat”, “nhã” thì tất nhiên phải bao gồm tính khoa học và tính nghệ thuật
Nói về tính khoa học trong dịch thuật: trước hết phải “chân” hay “tín” rồi mới bàn đến “?hiện”, “mỹ” hay “đạt”, “nhã” Yêu cầu trước hết khi dịch là phái đúng với nguyên văn và nếu cần phải qua khâu hiệu đính văn bản để tránh võ đoán, tránh xuyên tạc Có khi dịch hay nhưng quá xa nguyên văn, phạm đến “chán” hay “?ín” là cũng không chấp nhận được và chỉ “chân” hay “2n” mà không “?hiện”, “mỹ” hay “đạt”,
“nhã” cũng không được
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác dịch thuật cũng rất phd
biến Tuy nhiên, đù máy dịch có dịch hay đến đâu đi chăng nữa cũng không thể toát lên
cái cái thần sắc, cái “thiện”, “mỹ” hay “đạt”, “nhã” từ chính tâm hồn con người mà
đối với thơ văn vô cùng quan trọng
Mỗi thế ki, mỗi thời đại đều có những tư đuy dich với những đặc trưng tương ứng liên quan đến cách quan niệm của thời đại về quyền tác giả, quyền của người dịch Do
đó, chúng ta không thể đem những chuẩn mực của quá khứ đề ràng buộc hiện tại Chúng
ta — những con người của thời đại mới vừa kế thừa đầy đủ tỉnh hoa của nền dịch cổ truyền vừa có những sáng tạo táo bạo Chính điều đó đã tạo điều kiện để chúng ta ngày càng có thêm nhiều bản dịch mới
Khi đứng về phương diện phát triển của một đất nước, người dịch nhiều khi còn quan trọng hơn người sáng tác Người đọc “cjj¿ ơn” người dịch hơn là “ehju ơn” những người sáng tác tầm thường nhiều khi chỉ “đẻ” ra những tác phẩm mờ nhạt chỉ sống được vài giờ sau khi sinh
Tom lai, trong viéc dich chữ Hán, nhat 1a dịch thơ chữ Hán, những khó khăn từ
Trang 18ngữ không nhiều lắm vì phần lớn là những từ thông thường dễ hiểu Cái khó là ở ấn ý thơ, mạch ngầm của thơ được tác giả biểu hiện qua hình hài vật chất từ ngữ, chỉ cần lơ đễnh một chút, chủ quan một chút, thâm nhập không đầy đủ chỉ cần như vậy, ban dich
thơ có thể “sai một l¡ đi một dặm ”, ít nhất cũng làm thiệt hại đến nguyên tác và đến bản
dịch của chính mình Như vậy ở đây nói về dịch thuật thơ văn cổ chữ Hán của các bậc tiền bối nước ta ra tiếng Việt hiện đại, thì chính là sự chuyển đạt mã số từ phạm vi cổ điển mang tính lịch đại sang phạm vi hiện đại mang tính dân tộc
2.1.1 Cách dịch một bài thơ chữ Hán
Để làm tốt công tác dịch thuật nói chung và dịch một bài thơ chữ Hán nói riêng,
người dịch cần có một vốn kiến thức nhất định Kiến thức được nói tới ở đây là “kiến
thức chuyên ngành” [2 ; tr41] Điều này đòi hỏi người dịch phải có khả năng vận dụng thành thạo qua lại cả hai ngôn ngữ: Hán văn và Quốc văn Bên cạnh đó, người dịch còn phải am tường được các thể loại văn học, nội dung các sách sử cổ như: Tir tho, Ngũ
kinh, Bách gia chư tử Bên cạnh “kiến thức văn học” [2 ; tr41] thì “kiến thức bổ trợ”
[2 : tr.42] càng có ý nghĩa trong công tác dich thuật Sự hiểu biết về các loại tư tưởng
nho, phật, lão cũng như kiến thức về các lĩnh vực như: lịch sử, thiên văn, địa lí Sẽ
giúp cho người dịch có cơ sở vững chắc để chuyền tải hết tỉnh thần của nguyên tác Tóm lại nếu yêu cầu về kiến thức, trình độ là nặng tính khoa học thiên về vấn đề “chân, tín”, thì yêu cầu về năng khiếu và kĩ thuật dịch là mang tính nghệ thuật, đảm bảo cho
vẫn đề “thiện, mỹ” hay “đạt, nhã”
Trước khi bắt đầu dịch, người dịch cần phải tiến hành kiểm tra văn bản để xem đây là văn bản chính hay văn bản chép Sau đó, người dịch sẽ xác định văn bản này thuộc thể loại nào? dịch để làm gì? cho đối tượng nào? chẳng hạn, văn bản này dịch ra chỉ mang tính dùng để tham khảo hay xuất bản, nếu là xuất bản thì theo yêu cầu nào: phổ thông hay nghiên cứu Từ đó, người dịch sẽ xác định được mức độ của việc dịch,
chú thích, so sánh cho phù hợp “nếu nhanh thì dùng máy tốt hơn, tức nhanh thì không
cân nghệ thuật cao” Nói như vậy để nói rằng dịch văn theo kiểu thông báo khoa học là
khác với dịch văn theo kiểu nghệ thuật, trong chừng mực tâm hồn dịch giả Cân có chiêu
hướng thông cảm với tâm hỗn tác giả” [2 : tr.40]
Đối với mọi văn bản dịch, người dịch cần đưa vào phần sao lại nguyên bản của
văn bản gốc, phần phiên âm chữ Hán Điều này tạo thuận lợi cho người đọc đối chiếu
với phần dịch nghĩa và dịch thơ Vì như vậy chúng ta sẽ biết được người dịch có chuyền
Trang 19tái hết tinh thần nguyên tác hay không? thông thường bản dịch thơ không lột ta hết mà chỉ có bản dịch nghĩa mới cho người đọc thấy hết thần thái của nguyên tác Tốt nhất khi
dịch người dịch nên dịch theo đúng thể thơ của văn bản gốc Trong trường hợp, thể loại
thơ của nguyên tác khó đem vào bản dịch thì người dịch có thể thay bằng một thể loại khác, nhưng thể loại đó phái thích hợp hay “gân gũi nhất với văn bản Hán văn” [2 ;
tr.131]
2.1.2 Vai trò của việc dịch thơ chữ Hán sang chữ Việt
Trong nhiều năm trở lại đây, công tác dịch thuật nói chung và việc phiên dịch các tài liệu Hán Văn ra Việt văn nói riêng ngày càng được chú trọng Điều này đã tạo ra một
số lượng bản dịch rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và xây dựng nền văn hóa
Đầu tiên, chúng ta cần khẳng định những tư liệu Hán Việt chiếm một vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam Trước kia, tư liệu thành văn của nước ta tồn tại dưới hai dạng: văn Nôm và văn Hán Cả hai dạng này đều ghi lại một cách chân thật tâm tư tình cảm của con người Việt Nam một thời Tuy nhiên tư liệu văn Nôm không nhiều bằng văn Hán vì trong quá khứ dân tộc ta đã chịu sự đô hộ khá lâu của phương Bắc, chữ nho cũng theo đó mà du nhập vào và đần chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa — xã hội; những sự kiện, cảm xúc, suy tư đều ghi lại dưới dạng chữ Hán Ngày nay, thế hệ trẻ lại có xu hướng tìm hiểu đất nước ta thời cổ xưa nên họ đã tiến hành một số công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, số người giỏi về chữ Hán không còn nhiều nữa, phần còn lại biết ít hoặc không biết nên một bản dịch tốt đối với họ thật có ích Lúc này, nhiệm vụ đẻ nặng lên vai người làm công tác dịch thuật vì họ cần phải làm đủ mọi cách để chuyền tải hết tinh thần nguyên tác bằng một ngôn ngữ khác, giúp cho công việc nghiên cứu được thuận lợi va dé dang hon
2.2 Những thuận lợi và khó khăn trong việc dịch thành thơ từ chữ Hán sang chữ Việt
2.2.1 Thuận lợi
Thật ra đối với công tác dịch thuật nói chung và việc dịch thành thơ từ chữ Hán sang chữ Việt nói riêng không phải đến giai đoạn này mới có mà đã có từ trước, ít ra là hàng mấy trăm năm Chính điều này đã để lại nhiều kinh nghiệm quý báu giúp ích rất nhiều cho thế hệ sau
Trong tiếng Hán và tiếng Việt có nhiều từ và bộ phận câu mà khi nói thì giống
Trang 20nhau, chúng ta không cần thay đổi mà chỉ cần chuyên đổi qua lại mà người nghe vẫn
hiểu Từ Hán Việt thường có sắc thái biểu cảm dương tính, mang ý nghĩa trừu tượng
khái quát nên tĩnh tại còn từ thuần Việt thường có sắc thái biểu cảm trung tính hoặc âm tính, mang ý nghĩa cụ thể nên sinh động, gợi hình Tuy nhiên khi dịch từ chữ Hán sang chữ Việt lại có nhiều từ thông dụng có nghĩa tương đương, dịch giả có thể lựa chọn
nhiều tuyến từ thuần Việt hay Hán Việt cho phù hợp Song, đề tạo nên một ban dịch có
giá trị thì điều quan trọng chính là sự tính tế trong cảm nhận để lựa chọn tuyến từ Xét về mặt ngôn ngữ, cả tiếng Việt và tiếng Hán đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập nên sẽ có chung một số đặc điểm như: không có phần thay đổi tự dang; khong
có giống số; không có các thì; không có loại nhất định Nhờ vậy, người dịch sẽ thuận lợi trong việc chuyên ngữ từ chữ Hán sang chữ Việt
Ngoài ra thể điệu, thi cách của thơ chữ Hán và chữ Việt tương đối giống nhau hoặc gần nhau, đó cũng là điều kiện thuận lợi cho việc dịch từ chữ Hán sang chữ Việt Nhờ vào những điều kiện thuận lợi như vậy mà chúng ta thấy rằng kho văn dịch nước ta ngày càng phong phú và đa dạng
2.2.2 Khó khăn
Chữ Hán có rất nhiều đồng âm nên đòi hỏi người dịch cần phải có vốn kiến thức
về chữ Hán tương đối vững để khi địch mà không xa rời với nguyên tác
Khác với văn tiếng Việt có dấu câu rõ ràng, văn chữ Hán thường viết liền mạch, không ngưng nghỉ Nếu dịch giả không quen được với điều này thì sẽ gặp rất nhiều khó
khăn trong việc xác định các ý, có khi phải tốn thời gian đọc đi đọc lại nhiều lần thì mới hiểu được
Để đảm bảo cho tính cô đọng, hàm súc, các tác giả thường dùng rất nhiều điển có cộng với câu văn không có chủ ngữ, đại từ, liên từ, trợ từ nên người dịch sẽ gặp trở ngại trong việc dùng những từ có nghĩa tương đương để diễn tả hết thần thái của nguyên tác Điều này dẫn đến hiện tượng bản dịch thoát nghĩa so với văn bản góc
Trong công tac dịch thuật vì quá quen thuộc với một số từ cứ dịch đi dịch lại nên dịch giá đã bỏ qua, không dịch mà giữ đúng nguyên tác Dần về sau, nó lại trở thành lạ
lẫm đối với lớp trẻ
Trong tiếng Việt danh từ riêng thường được viết hoa nhưng trong chữ Hán thì
không, điều này gây khó khăn cho người dịch vì rất khó phân biệt tên riêng với từ
chung Đôi khi, nó là tên riêng mà chúng ta không nhận ra cứ tra cứu như từ chung làm
Trang 21mắt thời gian dẫn đến sai phương hướng
Thông thường, người dịch Hán văn là người rất thông thạo chữ Hán Tuy nhiên
để dịch tốt một tác phẩm, người dịch cần phải có những kiến thức nhất định về thời đại, tiểu sử tác giả
Muốn dịch tốt một tác phẩm, người dịch cần phải dịch đúng tinh thần và ý tứ, văn
dịch hạn chế rườm rà hơn nguyên tác Điều này đối với các ngành khác đã khó, với văn
học lại càng khó hơn vì đòi hỏi người dịch phải diễn đạt rõ cả ý lẫn tứ, giọng thơ của nguyên tác Vì vậy việc dịch thơ chữ Hán sang chữ Việt là việc làm rất khó khăn, nó đòi hỏi lòng yêu thích say mê cao đối với dịch giả
2.3 Nguyên nhân bản dịch thơ thoát nghĩa so với nguyên tác
Thông thường khi khảo sát một tác phẩm văn học, đặc biệt là thơ, chúng ta thường căn cứ vào bản dịch nghĩa Điều này chứng tỏ độ tin cậy vào bản dịch thơ chưa cao Thực tế đã chứng minh có nhiều bản dịch quá xa rời nguyên tác cũng có trường hợp tác phẩm dịch lại trở thành một tác phâm độc lập Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này rất nhiều nhưng tụ chung lại, người viết chia làm hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
2.3.1 Nguyên nhân khách quan
Ngày nay, số người thông thạo về chữ Hán còn lại rất ít và chữ Hán cũng không còn được thông dụng như trước, có thể nói: thời vàng son của chữ Hán đã lùi vào quá khứ nhường chỗ cho những ngôn ngữ khác đăng quang Chẳng hạn như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga , đặc biệt là tiếng Anh nên dẫn đến tình trạng chữ nho dần đi vào mai
một
Văn thơ chữ Hán mang đặc trưng là cô đọng, hàm súc chỉ cần một từ cũng toát lên ý nghĩa của toàn bài, vì vậy nó mang tính cố định Trong khi đó, do sự hạn chế của vốn từ tiếng Việt người dịch lại rất khó khăn để tìm ra một từ nào có nghĩa tương đương
dé thay thế Cho nên dẫn đến việc tác phẩm dịch không được sát nghĩa
Bên cạnh đó, việc chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, đặc biệt là văn học thì lại càng gặp nhiều khó khăn, người dịch cần tuân thủ đúng thể loại và số lượng tiếng trong mỗi câu thơ của nguyên tác “7” được lựa chọn đề dịch có đôi khi không đáp ứng được đặc trưng cô đọng, hàm súc của nguyên tác, điều này dẫn đến hiện tượng bản dich tho mat chit, mat ngữ và thoát nghĩa so với văn bản góc
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Trang 22Hiện nay các văn ban dịch tồn tại rất nhiều chỗ sai sót, điều này do trình độ văn ngôn của người địch còn hạn chế “không nắm được ngữ pháp câu văn, không hiểu được kết cấu câu văn cổ” [2 ; tr 269] Văn phong của người dịch còn khá lỏng lẻo, chưa
chuyền tải hết đặc thù của từng thể loại Trong quá trình dịch, người dịch chưa tuân thủ đúng quy tắc, tự tiện thêm bớt một vài ý làm sai lệch đi tính chất của chánh văn
2.4 Những tiêu chí chung để nhận xét một tác phẩm dịch
Khi muốn nhận xét một tác phẩm văn học thuần Việt hay nước ngoài, chúng ta
thường dựa vào nghệ thuật và nội dung Đối với một tác phẩm dịch, người viết cũng đựa
vào hai yếu tố đó Ở đây, người viết cũng xin được nói thêm rằng: về mặt nghệ thuật,
người viết xét thấy người dịch khó mà chuyền tái hết nghệ thuật của nguyên tác Giữa
những người sáng tác và giữa dịch giả với tác giả có thể cùng viết về một thể loại như: thất ngôn bát cú đường luật, tứ tuyệt nhưng giọng thơ, nhịp thơ thì hoàn toàn khác
nhau Người làm công tác dịch thuật nếu giữ được thể thơ thì các yếu tô còn lại có thể
mat va ngược lại Do vậy, người ta hay căn cứ vào mặt nội dung có nghĩa là một tác phẩm dịch sát với ý nghĩa của nguyên tác được coi là một tác phẩm dịch thành công
2.4.1 Về hình thức nghệ thuật
2.4.1.1 Thế thơ
Hơn 1000 năm Bắc thuộc, văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Quốc Cho nên văn chương chữ Hán của Việt Nam cũng mang âm hưởng của Trung Quốc Vì Vậy, ngoài các thé tho dân tộc như: luc bat, song thất lục bát người dịch có
thể dịch theo đúng thể loại của nguyên tác hoặc lựa chọn một thể loại khác để dịch
nhưng đòi hỏi đặc trưng của thể loại đó phải diễn tả được nội hàm của nguyên tác Song, theo chúng tôi trường hợp này chỉ xảy ra khi mọi cố gắng của dịch giả đều vô hiệu và họ thực sự đã rơi vào bề tắt Dịch giả có thể chuyền dịch một vài thể tho sau: thé lực ngôn,
thể song thất lục bát, thể lục bát, thể ngũ ngôn Bên cạnh đó, người dịch cũng có thể sử dụng một số thể loại thơ mới tám chữ và thể hát nói
2.4.1.2 Vần thơ
Trong tiếng Việt, chúng ta có các loại vần phổ biến như: vần lưng, van thông, vẫn chân, vẫn ôm Ö mỗi thể thơ đều có cách gieo vần riêng và tác giả phải tuân thủ
nghiêm túc đúng những luật lệ nghiêm khắc mà thể thơ đó yêu cầu Vần thơ được xem
như là một yếu tố quan trọng trong thơ Thứ nhất, nó giúp cho các dòng thơ có sự hài hòa và gắn kết chặt chẽ với nhau Thứ hai, nó tạo cho thơ có tính nhạc Nếu trong bản
Trang 23dich thay đổi vần gốc thì những yếu tố đó sẽ bị ánh hưởng Điều này được xem là một việc làm hết sức khó khăn vì có khi trong tiếng Việt dịch giả lại không tìm được từ nào
có nghĩa tương đương để gieo đúng vị trí mà nguyên tác đã gieo hoặc có thể tìm được nhưng những từ đó lại không phù hợp với phong cách ngôn ngữ văn chương
2.4.1.3 Nhịp thơ
Luật thơ không đặt ra quy định cách ngắt nhịp cho mỗi thể loại nhưng thông thường ở từng thể loại tự nó đã tạo cho mình một nhịp điệu riêng Chang han trong tho lục bát thường ngắt nhịp chẵn, câu lục thường ngắt nhịp 2/2/2 nhưng cũng có lúc là ngắt nhịp 3/3, cách ngắt nhịp đó mang đầy dụng ý nghệ thuật của tác giả Vì vậy khi dịch thì
điều quan trọng là dich giả cần phải chuyền tải được dụng ý nghệ thuật đó Việc dịch gia
thay đổi cách ngắt nhịp của nguyên tác sẽ ảnh hưởng đến nội dung của bài thơ có khi làm cho câu thơ thoát nghĩa và xa rời nguyên tác Tuy nhiên chúng tôi cũng bày tỏ thái
độ cảm thông với dịch giả vì trong quá trình địch do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà dịch giả lại không thể giữ nguyên đúng nhịp thơ của nguyên tác
2.4.1.4 Giọng điệu
Trong văn chương nói chung và trong thơ nói riêng giọng điệu là một thành tố chiếm một vị trí rất quan trọng trong việc thể thiện tư tưởng, cảm xúc của tác giả Điều này giúp cho câu văn trở nên có hồn hơn Nhà văn không ngần ngại bộc lộ thái độ của mình qua hệ thống nhân vật và công việc còn lại là ở người đọc có bắt đúng giọng và thé hiện ra được hay không” Trong thực tế giọng điệu không thể hiện ra trực tiếp mà nó còn phụ thuộc các yếu tố nội hàm bên trong: nhịp điệu, gieo van, ding từ người viết nghĩ rằng mỗi một thể loại đều có giọng điệu riêng: giọng điệu trữ tình thì khác hắn với giọng điệu văn xuôi tự sự hay giọng điệu hào hùng sảng khoái thì khác với giọng châm biếm Giọng điệu trong văn chương rất phong phú và đa dạng, ngoài một số giọng được liệt kê
ở trên còn có các loại giọng khác như: suỗng sả, mĩa mái, hờn mát, trữ tình chính trị,
than mt, han hoc, gat gỏng đối với người làm công tác dịch thuật nói chung và dịch
thơ văn nói riêng, dịch sát nguyên tác đã là một việc khó còn giữ được giọng điệu của
nhà văn ở bản dịch lại càng khó hơn
2.4.2 Nội dung
Nội dung là một tiêu chí quan trọng đề nhận xét, đánh giá sự thành công, thất bại, hay đở của một tác phẩm dịch so với nguyên tác Nói như vậy không có nghĩa là người
Trang 24viết phủ nhận tầm quan trọng của nghệ thuật, nhưng chắc hắn ai cũng đồng ý rằng: về mặt nghệ thuật, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, người dịch khó mà bám sát được nguyên tác Cùng một nội dung nhưng có nhiều cách thể hiện khác nhau, tác giả có thể tận dụng tất cả vốn ngôn ngữ và nghệ thuật chỉ cốt làm sao bật lên được nội dung và dù cho dịch giả có sử dụng những thủ pháp nghệ thuật hoặc thể loại khác với nguyên tác thiết nghĩ cũng chẳng phương hại gì đến nội dung vì xét cho tới cùng đó chỉ
là hình thức bên ngoài Điều đáng nói ở đây là nội hàm tác phẩm được dịch giá chuyển tải như thế nào? có đúng với nguyên tác hay không? nội dung tác phẩm là thái độ, quan niệm, tư tưởng, tình cám, xúc cảm đã được tác giả gởi gắm vào trong đó Người dịch nếu không hiểu được và nắm được điều này thì vô tình đã biến tác phẩm dịch trở thành một tác phẩm độc lập Bởi, nó không còn thể hiện được dấu ấn cá nhân của tác giả trong nguyên tác nữa Từ đó, chúng ta thấy được tầm quan trọng của nội dung trong việc đánh
giá một bản dịch Điều này đòi hỏi rất nhiều ở người làm công tác dịch thuật Ngày nay,
khoa học dịch này càng được quan tâm vì nó đã đần có cơ sở lí luận và phương pháp luận đúng đắn dé khang dinh rang cé thé dịch được và dịch trung thành với nguyên tác
* Sơ kết:
Ở chương 2, người viết đã đưa ra cơ sở lí luận của việc dịch từ chữ Hán sang chữ Việt và đã giúp cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của công tác dịch thuật Ngoài
ra, người viết còn nêu lên được những thuận lợi và khó khăn mà người làm công tác
dịch thuật có thể vướng phái Từ đó đã tạo được sự cảm thông của độc giả đối với dịch
giả Căn cứ những ý được đưa vào mục “Những tiêu chí chung để nhận xét một tác phẩm địch ”, người viết sẽ đem ứng dụng vào chương 3 Điều này sẽ tạo được điều kiện
thuận lợi và giúp cho việc khảo sát, đối chiếu được rõ ràng hơn
Trang 25CHUONG 3: KHAO SAT, DOI CHIEU NGUYEN TAC VOI BAN
DICH THO MOT SO BAI TRONG “NGUC TRUNG NHAT KY”
CUA HO CHi MINH TRONG SACH NGU VAN PHO THONG
3.1 Về hình thức nghệ thuật
3.1.1 Thế thơ
Nhìn chung Nam Trân đã cơ bản dịch đúng thể thơ của nguyên tác, đó là thể
thất ngôn tứ tuyệt Đường luật Bố cục của bản dịch thơ tương đối rõ ràng theo trật tự: khai, thừa, chuyền, hop, vi 1a thé tho that ngôn tứ tuyệt Đường luật nên ngoài bố cục
thì chúng còn bị chỉ phối bởi luật, niêm, đối rất chặt chẽ
Về luật thơ: thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật được chia ra làm bốn loại: luật bằng vần bằng, luật trắc vần trắc, luật trắc vần bằng và luật bằng vần trắc Muốn biết bài thơ đó theo luật gì? vần gì? thì chỉ cần căn cứ vào tiếng thứ 2 của dòng thơ đầu tiên
và vần được gieo trong bài thơ là được
Nếu tiếng thứ 2 của bài thơ là thanh trắc và vần được gieo là thanh bằng thì ta
Trang 26Nếu tiếng thứ 2 là thanh bằng va vần được gieo là thanh trắc thì ta có luật bằng
sơn” Nếu tiếng thứ 2 của “M⁄ô” là “điểu”, của “Tảo giải I” là “thứ”, của “Tân xuất
ngục học đăng sơn ” là “ủng” thì sang đến bản dịch thơ của “Chiêu tối” là “mỏi ”, của
“Giải đi som I’ la “gay”, cua “Moi ra tù học leo múi” là “ấp” Kế đến là luật bằng
vần bằng được thể hiện ở các bài “7đo giải II”, “Nạn hữu xuy dich”, “Van cảnh”, nếu tiếng thứ 2 của “Tảo giải II” là “phương”, của “Nạn hữu xuy dịch” là “trung”,
Ass
của “Văn cảnh” là “khôi” thì sang đến “Giải đi sớm II" là “đông”, “Người bạn tà thổi sáo” là “nghe” và “Cảnh chiều hôm ” la “hong”
Về niêm: khi muốn biết một bài thơ có dịch đúng luật hay không thì khi xét
chúng ta cần tuân thủ theo nguyên tắc “nhát tam ngũ bất luật; nhị tứ lục phân mình”
có nghĩa là ở mỗi câu thơ chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải đồng thanh, chữ thứ 4 phải đối thanh với chữ thứ 2 và chữ thứ 6
Đối với phần này, người viết tiến hành so sánh, đối chiếu timg bai tho dé dé dàng nhận ra những ưu điểm đã đạt được cũng như những khuyết điểm mà bản dịch còn vướng phải
MỘ
Phiên âm:
Quyện diéu (T) quy lâm (B) tầm túc (T) thụ,
Cô vân (B) mạn mạn (T) độ thiên (B) không;
Sơn thôn (B) thiếu nữ (T) ma bao (B) túc, Bao túc (T) ma hoàn (B) lô dĩ (T) hồng
Dịch thơ:
Chim mỏi (T) về rừng (B) tìm chốn (T) ngủ,
Trang 27Phiên âm:
Dịch thơ:
Chòm mây (B) trôi nhẹ (T) giữa tầng (B) không;
Cô em (B) xóm núi (T) xay ngô (B) tối, Xay hết (T), lò than (B) đã rực (T) hồng
I
Đông phương (B) bạch sắc (T) dĩ thành (B) hồng,
U ám (T) tan dư (B) tảo nhất (T) khong;
Noãn khí (T) bao la (B) toàn vũ (T) trụ, Hành nhân (B) thi hứng (T) hốt gian (B) nồng
I
Gà gáy (T) một lần (B) đêm chửa (T) tan,
Chom sao (B) nâng nguyệt (T) vượt lên (B) ngàn; Người đi (B) cất bước (T) trên đường (B) thắm, Rát mặt (T) đêm thu (B) trận gió (T) hàn