1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay

118 542 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 815 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chức năng là một trung gian tài chính kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thương mại đã cung cấp một loạt các dịch vụ quan trọng giúp các chủ thể kinh tế tham gia thanh toán

Trang 1

2.1.1.Sự hình thành và phát triển 462.1.2.Tổ chức bộ máy 472.1.3.Chức năng nhiệm vụ .483.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương, trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ Việt Nam 93

3.2.1.Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Sài Gòn công thương

933.2.2 Nâng cao hiệu quả huy động vốn 983.2.3 Nâng cao HQCV và đầu tư 100

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

SƠ ĐỒ

2.1 Tổng quan về NHTMCP Sài Gòn Công Thương 462.1.1.Sự hình thành và phát triển 462.1.2.Tổ chức bộ máy 47(Nguồn: Phòng hành chính- chi nhánh ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương

Hà Nội) 482.1.3.Chức năng nhiệm vụ .483.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương, trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ Việt Nam 93

3.2.1.Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTMCP Sài Gòn công thương

933.2.2 Nâng cao hiệu quả huy động vốn 983.2.3 Nâng cao HQCV và đầu tư 100Bảng 3.1 Kết quả cho vay của NHTMCP Sài Gòn Công Thương 102

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới, lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại Việt Nam đang đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong sự hưng thịnh của nền kinh tế nước nhà Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới ( WTO), hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại trong những năm qua hết sức sôi động và giàu tính cạnh tranh Với chức năng là một trung gian tài chính kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng thương mại đã cung cấp một loạt các dịch vụ quan trọng giúp các chủ thể kinh tế tham gia thanh toán nhanh chóng, tiết kiệm chi phí trong mua bán hàng hóa, nắm bắt được cơ hội kinh doanh, luân chuyển vốn đảm bảo hoạt động sản xuất được liên tục, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển nói riêng và nền kinh tế nói chung

Tuy nhiên, trong tất cả các sản phẩm dịch vụ tiện ích mà các ngân hàng thương mại đã cung cấp, sản phẩm tín dụng ngân hàng luôn chiếm một tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của ngân hàng thương mạ, bởi tầm quan trọng và những tính năng ưu việt riêng của nó, nhờ có haotj động tín dụng mà vốn được chu chuyển từ những người tạm thòi dư thừa vốn sang những người đang thiếu vốn cần sử dụng để đầu tư mang lại lợi nhuận cho bản thân họ và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế, đồng thời đây cũng là hoạt động chính mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển và hưng thịnh cho các ngân hàng trong thời gian qua.Đặc biệt, trong điều kiện cạnh tranh về vốn giữa các ngân hàng thương mại đang diễn ra vô cùng quyết liệt, chi phí huy động vốn tăng cao, chi phí bình quân đầu vào tăng trong khi đó tình hình cho vay các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh kém hiệu quả Hệ quả là nợ xấu, nợ quá hạn có xu hướng tăng lên

Trang 3

Với tầm quan trọng như vậy, sau một thời gian học tập tìm hiểu nghiên cứu, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại

NHTMCP Sài Gòn Công Thương, trong điều kiện cạnh tranh trên Thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

- Thực trạng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng giữa các NHTM Việt Nam hiện nay

- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá một số chỉ tiêu tín dụng giữa các ngân hàng hiện nay

- Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng của NHTMCP Sài Gòn Công Thương trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm nghiên cứu của đề tài:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu các

giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương trong điều kiện cạnh tranh

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: hoạt động tín dụng của các ngân

hàng trong thị trường tiền tệ của Việt Nam

Đề tài không đi sau vào nghiên cứu các nghiệp vụ khác của các ngân hàng, cũng như chi tiết các nghiệp vụ tín dụng của các ngân hàng mà chỉ quan tâm đến các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương

4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là chủ yếu Cùng với đó là các phương pháp như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống

kê và dự báo… để nghiên cứu đối tượng của đề tài

Trang 4

5 Những đóng góp của luận văn:

- Hệ thống hóa được các lý luận hoạt động tín dụng của các ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh

- Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của các ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung trong điều kiện cạnh tranh trong thị trường tiền tệ của Việt Nam

- Đề xuất các quan điểm nhằm nâng cao hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 phần:

Chương 1: Tổng quan về nghiệp vụ tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM trong điều kiện cạnh tranh giữa các NHTM trên thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.

Chương 2 Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương, trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CẢU CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN CẠNH TRANH TỰ DO GIỮA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƯỜNG VỐN Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY1.1 Khái quát về nghiệp vụ tín dụng của NHTM

Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua các chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò

mà chúng thực hiện trong nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đnag không ngừng thay đổi Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính, bao gồm cả các công ty chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang

cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh ( các tổ chức tài chính phi ngân hàng ) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia các hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ môi giới khác

Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi

“ Hoat động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền vay này để cấp tín dụng số tiền vay này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”Ngân hàng thương mại ( NHTM) được hiểu theo nhiều cách khác nhau

ở các nước trên thế giới thì khái niệm này dùng để chỉ một số tổ chức tài

Trang 6

chính- tiền tệ mà hoạt động kinh doanh chủ yếu của nó là nhận tiền gửi từ các

cá nhân hay các tổ chức kinh tế, cho các tổ chức này vay lại Các ngân hàng không được phép kinh doanh tổng hợp các dịch vụ khác như đầu tư tàic hính, cung caaos dịch vụ cho các nhóm ngành nghề riêng biệt Trong khi đó ở một

số nước khác thì lại cho rằng ngân hàng thương mại là ngân hàng được phép kinh doanh tổng hợp các loại dịch vụ ngân hàng

Do đó, ở Việt Nam các ngân hàng thương mại thường được hiểu như một ngân hàng thực hiện các dịch vụ tổng hợp dề kinh doanh tiền tệ như nhận gửi của khách hàng để cho vay, cung cấp lại vốn đầu tư… và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhà nước

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng, không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất- kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá tình sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế.Ngân hàng thương mại đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại nền kinh tế hàng hóa phát triển đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện

và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được

Theo pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 24/5/1990 ( Điều 1 Khoản 1), định nghĩa NHTM: “ NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửi của khách dưới những hình thức khác nhau với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, để chiết khấu và để làm phương tiện thanh toán”

Trang 7

Như vây, NHTM sẽ tiến hành hoạt động huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức cá nhân chuyển đến những người có nhu cầu về vốn cho đầu tư sản xuất.

1.1.1 Nghiệp vụ huy động vốn.

Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ thu hút, huy động toàn bộ các nguồn tiền tệ trong nền kinh tế, số vốn huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng.

Huy động vốn là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh khác và được làm vốn để kinh doanh

Huy động vốn là hoạt động tạo vốn cho NHTM, nó đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng

Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá ra công chứng, vay từ các tổ chức khác, tài trợ bằng vốn chủ sở hữu của ngân hàng

Tuy nhiên, dưới bất kỳ hình thức huy động nào thì NHTM đều phải trả một chi phí nhất định, đó là chi phí huy động vốn hay gọi là chi phí đầu vào của NHTM Các chi phí này được bù đắp thông qua việc cho vay và đầy tư của ngân hàng thương mại

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay đầu tư

và cung cấp các dịch vụ khác Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hang thương mại đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi đến kỳ hạn ( đối với tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu

Trang 8

rút vốn để chi trả ( đối với tiền gửi không có kỳ hạn) Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.

Hoạt động huy động vốn luôn biến động, nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp

lý để đảm bảo khả năng thanh toán Huy động vốn bao gồm các nguồn:

1.1.1.1 Huy động vốn từ tiền gửi

Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác nhau cho khách hàng lựa chọn Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng đưa ra đều có những đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán Căn

cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các NHTM bao gồm tiền gửi của tổ chức kinh tế, tiền gửi dân cư và tiền gửi khác

- Tiền gửi của tổ chức kinh tế

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một

bộ phận vốn nhàn dỗi tạm thời như: khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử dụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương, các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến…Để đảm bảo an toàn tài sản và đồng vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn, đơn vị

có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác Khi đó họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng Tổ chức kinh tế có thể gửi vốn vào ngân hàng dưới hình thức: Tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau Đồng thời ngân hàng sẽ mở cho các đơn vị các tài khoản tương ứng để thuận tiện trong việc sử dụng

+ Tiền gửi không kỳ hạn

Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút tiền ra bất

kỳ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thỏa mãn các nhu cầu đó Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán

Trang 9

Đối với tiền gửi không kỳ hạn, mặc dù việc gửi và rút tiền có thể thực hiện vào bất kỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước, nhưng trên thực tế luôn có sự chênh lệch về thời gian và số lượng giữa việc gửi và rút tiền, cho nên tại mỗi ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho vay Lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp, thậm chí có những khoản tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi Cho nên nguồn vốn này giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh

và đầu tư

+ Tiền gửi có kỳ hạn

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền

Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thỏa thuận, nhưng trên thực tế để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạn dài, các ngân hàng thường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng lãi suất tương ứng theo loại kỳ hạn nhất định

do ngân hàng quy định

Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình

sử dụng Vì vậy có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân hàng thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn nhàn rỗi

ở các đơn vị, mỗi kỳ hạn có một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài lãi xuất càng cao

- Tiền gửi dân cư

Tiền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân

cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán Tiền gửi của dân cư bao gồm hai loại : tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán

+ Tiền gửi tiết kiệm

Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng Với loại tiền gửi này, người gửi được ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thời gian

Trang 10

gửi tiền, sổ tiết kiêm có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn ngân hàng.

Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn với các chuy kỳ khác nhau

- Tiền gửi thanh toán

Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phép thanh toán qua ngân hàng Khi đó họ cũng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng nhu cầu thanh toán cũng như để

sử dụng những tiện ích khác cí liên quan của ngân hàng

Giống như tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm ( kể cả không kỳ hạn và có kỳ hạn) và tiền gửi thanh toán của dân cư tạo nên nguồn vốn hoạt động của NHTM

- Tiền gửi khác

Ngoài hai loại tiền gửi trên tại các ngân hàng thương mại còn có thêm các khoản tiền gửi khác như:

Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác

Tiền gửi của Kho bạc nhà nước

Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội…

1.1.1.2 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá

Trái phiếu ngân hàng: Là một cam kết xác nhận nghĩa vụ trả nợ ( cả gốc

và lãi) của ngan hàng phát hành đối với người chủ sở hữu trái phiếu Mục đích của ngân hàng khi phát hành trái phiếu là nhằm huy động vốn trung và dài hạn Việc phát hành trái phiếu, các NHTM chịu sự quản lý trên thị trường chứng khoán và có thể bị chi phối bởi uy tín của ngân hàng

Kỳ phiếu ngân hàng: Đây là loại giấy tờ có giá ngắn hạn ( trong 1 năm)

Nó có đặc điểm giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu,

vì vậy nó được sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng

Trang 11

Phát hành chứng chỉ tiền gửi: Nó là những giấy tờ xác nhận tiền gửi định

kỳ ở một ngân hàng, người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo

kỳ và nhậ đủ vốnkhi đến hạn Chứng chỉ tiền gửi sau khi phát hành được lưu thông trên thị trường

Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là các

tổ chức, cá nhân Ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là kênh đầu tư của người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư trực tiếp Các kỳ phiếu, trái phiếu này có khả năng chyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết bằng cách bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại ngân hàng

Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng Hinh thức này thường được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp nhậ được những dự án vay vốn lớn với thời gian giải ngân nhanh của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong toàn hệ thống

mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc ngân hàng nhà nước

Tổng huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi trái phiếu ngân hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi xuất huy động Nghiệp vụ này chỉ được tiến hành khi gặp ngân hàng thiếu vốn mà vốn

tự có và vốn huy động không đủ trang trải Như vây, khi huy động vốn dưới hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất và thời hạn, phương pháp huy động, khi đã huy động đủ khối lượng theo dự kiến các ngân hàng sẽ dừng việc huy động kỳ phiếu, trái phiếu

1.1.1.3 Mua trên thị trường liên ngân hàng – vốn vay của ngân hàng trung ương

Trong quá trình kinh doanh của các NHTM luôn có tình trạng tạm thời thừa, thiếu vốn, đó là huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi khách

Trang 12

hành có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoăc người gửi rút tiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi Khi đó các NHTM có thể gửi vào các tổ chức tín dụng ( TCTD) khác để hưởng lãi, hay đi vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán NHTM có thể vay vốn ở các TCTD khác hoặc vay vốn ở ngân hàng trung ương.

Vốn vay của tổ chức tín dụng khác

Hầu hết các NHTM được tổ chức thành hệ thống gồm nhiều chi nhánh

và hạch toán kinh doanh toàn ngành, thực hiện điều chuyển vốn giữa các chi nhánh qua hội sở chính, khi thiếu vốn các chi nhánh nhận được vốn điều chuyển từ hội sớ chính Vì vậy việc vay vốn của TCTD khác trong và ngoài nước thường chỉ thực hiện ở ngân hàng trung ương của từng hệ thống

Vốn vay của ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng và là ngân hàng cho vay cuối cùng trong nền kinh tế Vì vậy, các NHTM có thể được ngân hàng trung ương cho vay vốn khi cần thiết Ở Việt Nam hiện nay ngân hàng nhà nước ( NHNN) cho các NHTM vay vốn ngắn hạn dưới hình thức sau:

- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và cá giấy tờ có giá trị ngắn hạn

- Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác

Ngoài ra, HNNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ Trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, NHNN tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho

hệ thống

Vốn vay của TCTD khác là vay của ngân hàng trung ương thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng vốn kinh doanh của NHTM, cho nên ngoài tác dụng góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng, nó

Trang 13

còn có ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của NHTM.

Tóm lại nghiệp vụ huy động vốn là công cụ chính đối với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, NHTM tuân thủ theo quy luật về mức vốn huy động tối đa không được vượt quá 20 lần vốn tự có, đồng thời mở tài khoản tiền gửi tại NHNN để duy tri ở đó khối lượng dự trữ bắt buộc

1.1.2 Nghiệp vụ cho vay vốn đầu tư

1.1.2.1 Nghiệp vụ cho vay

a/ Khái niệm về nghiệp vụ cho vay: Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời giá trị người sử hữu ( HNTM) sang người sử dụng ( người vay),sau một thời gian nhất định thu về với lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu

Hoạt động cho vay là hoạt động các NHTM cho khách hàng vay một số tiền đế sử dụng trong một thời gian nhất định, khi hết thời hạn vay khách hàng phải trả lại ngân hàng một khoản tiền bao gồm cả phần gốc và phần lãi vay Đây là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang lại nguồn thu chủ yếu cho NHTM Hoạt động cho vay của NHTM được phân loại theo nhiều cách khác nhau

b/ Phân loại cho vay của ngân hàng thương mại

- Phân loại theo thời hạn cho vay

+ Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn không quá 12 tháng được dùng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu thanh toán cho sinh hoạt cá nhân Với loại cho vay này ít rủi roc ho ngân hàng

vì trong thời gian ngắn ít có biến động sảy ra, nếu có thì ngân hàng có thể dự tính được

+ Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60

Trang 14

tháng thường được dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình quy mô nhỏ của các doanh nghiệp, cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân Loại cho vay này có độ rủi ro không cao vì ngân hàng có thể tính toán được những biến động có thể xảy ra.

+ Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng

để cho vay các dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy

mô lớn Loại cho vay này có độ rủi ro cao vì ngân hàng không thể dự đoán được hết những biến động xảy ra trong một thời gian dài thực hiện dự án

- Phân loại theo chủ thể cho vay

+ Cho vay thương mại: Là hoạt động cho vay mà NHTM cung cấp vốn cho khách hàng, doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh donah của các doanh nghiệp Cho vay thương mại là hoạt động ra đời tương đối sớm Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã triết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối những người bán ( người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước) Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng ( là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm

mở rộng sản xuất kinh doanh

+ Cho vay ngân hàng: Là hình thức cho vay thể hiện mối quan hệ cho vay giữa ngân hàng với doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội…

+ Cho vay Nhà nước: Là hình thức cho vay thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội….Nhà nước vừa là người vay vừa là người cho vay

- Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay

+ Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay mà các NHTM cung cấp vốn cho đối tượng khách hàng là các cá nhân và các hộ gia đình nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm sinh hoạt hàng ngày Khác với cho vay kinh doanh, ở đây

Trang 15

người đi vay sử dụng tiền vay vào các hoạt động không sinh lời, nguồn trả nợ độc lập so với việc sử dụng tiền vay, vì thế nó có đặc điểm sau:

Lãi suất của các khoản cho vay tiên dùng cao hơn cho vay kinh doanh Điều này xuất phát từ các khoản cho vay tiêu dùng có rủi ro và chi phí cao hơn Cho vay tiêu dùng thường nhạy cảm theo chu kỳ, tăng lên khi nền kinh

tế tăng trưởng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái, mặt khác người tiêu dùng ít nhạy cảm so với lãi suất, họ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng cho vay

Cho vay tiêu dùng thường có tài sản bảo đảm Do người vay không sử dụng khoản vay trong hoạt động kinh doanh nên việc trả nợ của khách hàng phụ thuộc vào các nguồn thu nhập khác, sự kiểm soát các nguồn này nhiều khi gặp khó khăn hơn

+ Cho vay sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại cho vay các doanh nghiệp và chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Nguồn trả nợ từ hoạt động này là kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì vậy ngân hàng phải có đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng của mình, về phương án sản xuất của khách hàng

- Phân loại theo đối tượng cho vay

+ Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại cho vay được sử dụng nhằm bù đắp vốn lưu động tạm thời thiếu hụt cho doanh nghiệp hoặc các chủ thể kinh tế khác Đây là loại cho vay có độ rủi ro thấp

vì vốn lưu động là loại vốn luân chuyển trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh nên ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồi vốn

+ Cho vay để bù đắp về yêu cầu tài sản cố định: Là loại cho vay để mua sắm tài sản cố định, đổi mới và cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các công trình của doanh nghiệp hoặc chủ thể kinh tế khác Loại vay này

Trang 16

được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn Hình thức cho vay này có mức độ rủi ro cao, khả năng thu hổi vốn chậm.

- Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay

+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Cho vay có bảo đảm là việc cho vay vốn của NHTM mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết thực hiện bằng tài sản thế chấp, cầm cố, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Việc cho vay có tài sản bảo đảm áp dụng đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng

+ Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: NHTM cho vay dựa vào uy tín của khách hàng, đó là người trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính lành mạnh, có tín nhiệm với ngân hàng trong việc sử dụng vốn vay, hoàn trả nợ vay…

- Phân loại cho vay theo lãnh thổ hoạt động

+ Cho vay nội địa: Là loại cho vay phát sinh trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

+ Cho vay quốc tế: Là loại cho vay phát sinh giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với tổ chức tài chính cho vay quốc tế

- Ngoài các cách phân loại trên còn có các loại cho vay sau:

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi:

Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt quá số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán với một hạn mức nhất đinh và trong một thời hạn quy định

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng là việc ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sang cho khách hàng vay vốn trong một hạn mức nhất định, trong một khoản thời gian nhất định Khách hàng phải trả chi phí cam kết cho ngân hàng trên cơ sở hạn mức tín dụng đang sử dụng

Trang 17

+ Cho vay nghiệp vụ phát hành va sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vu hạn mức tín dụng của thẻ để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động.

1.1.2.2 Nghiệp vụ đầu tư:

Khái niệm về đầu tư: Đầu tư là nghiệp vụ theo đó NHTM bỏ vốn kinh doanh vào các lĩnh vực, NHTM sẽ trở thành người sở hữu các tài sản theo tỷ

lệ góp vốn Các lĩnh vự đầu tư:

- Đầu tư chứng khoán

- Góp vốn vào doanh nghiệp

- Đầu tư vào các dự án

Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay,

nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới hình thức như:

- Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty, hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng

- Mua trái phiếu Chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty…Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng

sẽ được phân tán, đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro rất thấp.Các nguyên tắc của tín dụng đầu tư:

+ Tín dụng đầu tư phải bám sát phương hướng mục tiêu kế hoạch nhà nước và có hiệu quả

Đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và tín dụng đầu tư nói riêng đều nhằm mục đích tăng cường cơ sở vật chất của nền kinh tế xã hội, làm tăng năng lực sản xuất của các tổ chức kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Trong điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị

Trang 18

trường có sự điều tiết của nhà nước thì hoạt động đầu tư nói chung đều có thể tiến hành theo quy luật của thị trường Nhưng đầu tư của nhà nước và đầu tư qua tín dụng phải là đầu tư có định hướng, để đảm bảo cho các ngành, các thành phần kinh tế, các vùng, các địa phương có điều kiện để phát triển Vì vậy có thể coi đây là nguyên tắc quan trọng của tín dụng đầu tư.

- Nghiệp vụ bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng là một dạng dịch vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ Sau đó được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng ( bên bảo lãnh) với bên có quyền ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện khong đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hnag phải nhận nợi và hoàn trả nợ cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay

Nghiệp vụ bảo lãnh bao gồm các loại sau: Bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…

- Nghiệp vụ mua bán ngoại tệ

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ( mua bán ngoại tệ): mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác, và hưởng phí dịch vụ Các NHTM không chi mua bán ngoại tệ ở trong nước mà con kinh doanh mua bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế để hưởng chênh lệch

tỷ giá, tại những thị trường khác nhau và thời điểm khác nhau

- Nghiệp vụ cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán.Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản

mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng

đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức à người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền

1.1.2.3 Các nghiệp vụ sử dụng vốn khác

Trang 19

- Nghiệp vụ ủy thác và tư vấn

Do tính chuyên môn hóa cao, đội ngũ cán bộ có trình độ cao và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính nên các NHTM được các doanh nghiệp nhờ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính của mình Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác đầu tư…thậm chí được ủy thác ngay cả trong di chúc Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính cho họ

- Nghiệp vụ bảo hiểm

NHTM bán bảo hiểm cho khách hàng, đảm bảo hoàn trả cho khách hàng trong trường hợp khách hàng bị rủi ro như chết, tai nạn, bệnh hiểm nghèo…

- Nghiệp vụ đại lý

NHTM quy mô lớn, với các chi nhánh rộng khắp, cung cấp dịch vụ đại

lý cho các ngân hàng nhỏ chưa có điều kiện thiết lập chi nhánh Khi đó, các NHTM lớn hơn sẽ tiến hành các hoạt động thay các ngân hàng nhỏ như thanh toán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi…

1.1.3 Vai trò của nghiệp vụ tín dụng trong các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM

1.1.3.1 Tín dụng ngân hàng giống như kênh bơm vốn cho các doanh nghiệp

và là công cụ chủ yếu để tài trợ, đầu tư cho các ngành, các vùng kinh kế kém phát triển

Để tồn tại và phát triển được trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới….Những hoạt động này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp Giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp tìm đến ngân hàng xin vay vốn để thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình Thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất Từ đó các

Trang 20

doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất một cách thích hợp, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.

1.1.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM Điều đó buộc các NHTM càng phải thực hiện đúng nguyên tắc đi vay để cho vay Thông qua chức năng phân phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trả tín dụng, các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được đưa vào luân chuyển và sử dụng hợp lý trong quá trình sản xuất, các nguồn lực của nền kinh tế được đưa vào vận động và di chuyển đến những nơi mà chúng

có thể sử dụng hiệu quả hơn Khi khối lượng sản xuất tăng lên, nhu cầu về vốn theo đó cũng tăng lên và nhu cầu đó được thỏa mãn một phần qua các hình thức tín dụng

1.1.3.3 Tín dụng ngân hàng là một công cụ để Nhà nước tiến hành điều hòa, lưu thông tiền tệ và từ đó điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế

Ngân hàng bằng các nghiệp vụ của mình có thể huy động vốn hoặc cung cấp vốn cho nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế nên có thể điều hòa lượng tiền tệ trong lưu thông góp phần thực hiện chính sách tài chính quốc gia Hơn nữa ngân hàng với các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt cũng góp phần ổn định lưu thồng tiền tệ Nhà nước cũng sử dụng chính sách tín dụng như một đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển thực hiện kiểm soát và phân công kinh tế, điều chỉnh sự phát triển và cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

1.1.3.4 Tín dụng ngân hàng có tác dụng quan trọng trong việc tổ chức quản

lý, sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất

Nhờ kênh tín dụng ngân hàng mà nhu cầu vốn khả năng tự có của chủ đầu tư được đáp ứng kịp thời Do tín dụng là quan hệ vay mượn có lợi tức trả thêm nên nó đòi hỏi người sử dụng vốn phải hoạt động kinh doanh có hiệu

Trang 21

quả cao nhất có thể Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp buộc phải chú ý đến việc tích cực giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng nhanh quay vòng vốn …để có doanh lợi cao, sau khi hoàn trả cho ngân hàng vốn đã vay cùng lãi vay vẫn còn lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.1.3.5 Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế

Ngày nay, trong các mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa các tổ chức kinh tế, cac nước trên thế giới và cả trong khu vực đang phát triển rất đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức Đây là nhân tố quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng trong đó vốn là nhân tố quyết định cho sự thành công Nhưng không thể có một tổ chức hay cá nhân nòa tự mình có thể đảm bảo đủ vốn cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động tín dụng sẽ hỗ trợ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu thông qua tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh, thanh toán

1.2 Hiệu quả tín dụng và các tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Hiệu quả huy động vốn và các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.

1.2.1.1 Khái niệm về hiệu quả huy động vốn

Hiệu quả huy động vốn của NHTM là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ sự gia tăng ổn định của nguồn vốn, cơ cấu hợp lý, chi phí huy động vốn thấp, tỷ lệ vốn được sử dụng cao và rủi ro thấp nhất

Hiệu quả huy động vốn: là việc lượng vốn của ngân hàng huy động từ các nguồn, được ngân hàng kinh doanh bằng các hình thức kinh doanh bằng các hình thức kinh doanh đảm bảo chi trả đủ phần lãi suất huy động, đủ chi

Trang 22

phí kinh doanh thu lợi nhuận cho ngân hàng, đáp ứng yêu cầu kinh doanh của ngân hàng.

Về phía xã hội: Để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cầm một lượng vốn rất lớn làm tiền để vật chất, vốn để xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng, cơ sở kinh doanh

Về phía ngân hàng: Để tiến hành kinh doanh có hiệu quả, đa dạng các hình thức kinh doanh để nâng cao sức cạnh tranh và lợi nhuận ngân hàng cần

có 1 lượng vốn lớn huy động từ các nguồn trong nước

Vốn trong nước phần lớn nằm trong các hộ gia đình dưới dạng tiết kiệm

dự phòng Hơn nữa vốn của các tổ chức kinh tế xã hội không phải lúc nào cũng được sử dụng theo mùa vụ, theo chu kỳ kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Do đó lượng vốn nhàn rỗi trong khu vực này cũng rất lớn Nhiệm vụ

to lướn của mỗi ngân hàng là phải tập trung và thu hút các nguồn vốn lớn này

để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, các công trình kinh tế xã hội, biến chúng thành những đồng vốn mang lại hiệu quả kinh tế xã hội

Để đạt được điều đó thì ngân hàng phải có công tác huy động vốn phù hợp

và có hiệu quả Hiệu quả của công tác huy động vốn phải xuất phát từ nhu cầu kinh doanh của ngân hàng Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng,

ổn định về số lượng để có thể thỏa mãn các nhu cầu cho vay, thanh toán cũng như hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng

Tuy nhiên vốn huy động phải được ổn định về mặt thời gian Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn mà không ổn định về mặt thời gian, thường xuyên có một lượng tiền lớn có khả năng bị rút ra thì lượng vốn dành cho vay, cho đầu tư sẽ không lớn Như vậy hiệu quả sử dụng sẽ không cao và ngân hàng phải thường xuyên đối đầu với vốn để thanh khoản và ngược lại.1.2.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM

Để công tác huy động vốn ngày càng hiệu quả cao đòi hỏi lãnh đạo ngân

Trang 23

hàng phải có chiến lược huy động vốn đúng đắn, có nghĩa là: lãi suất huy động hợp lý để kích thích khách hàng gửi tiền, đồng thời cũng phải xác định chính xác kỳ hạn của nguồn tiền đó Thực hiện tốt các yêu cầu trên nguồn vốn huy động sẽ được sử dụng có hiệu quả cao hơn, mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng Hiệu quả huy động vốn là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay Hiệu quả huy động vốn được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:

a Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn

Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn được tính bằng tỷ lệ giữa hiệu số của huy động vốn trong năm n với vốn huy động trong năm n-1 chia cho vốn huy động trong năm n

c/ Tỷ lệ vốn được sử dụng:

Tỷ lệ vốn được sử dụng tính bằng tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay và tổng vốn đầu tư trên tổng vốn huy động

Trang 24

cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp quyết định đến quy mô và cơ cấu tín dụng của NHTM Các ngân hàng không thể cho vay dài hạn với quy mô lớn trong khi vốn huy động nhỏ và thời hạn ngắn.

Thông qua hoạt động huy động vốn cũng thể hiện uy tín, quy mô, sức cạnh tranh của NHTM trên thị trường Bởi vốn huy động trên tổng nguồn vốn

là một trong những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng Một

Trang 25

ngân hàng có nguồn vốn ngày càng gia tăng (đặc biệt là vốn dài hạn) khẳng định uy tín và sức cạnh tranh của mình Khách hàng có tin tưởng mới gửi tiền vào ngân hàng và nguồn vốn gia tăng thể hiện ngân hàng đó có vị thế trên thị trường Và điều này cũng sẽ tạo điều kiện tốt cho ngân hàng trong các lĩnh vực khác như nghiệp vụ cho vay, phát triển các sản phẩm mới,…

Huy động vốn giúp tăng cường mở rộng mối quan hệ giữa ngân hàng với ngân hàng và với các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế Sự liên kết, điều hòa vay mượn các nguồn vốn lẫn nhau sẽ làm gia tăng vòng quay của đồng tiền, tăng hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế Các ngân hàng dư thừa vốn tạm thời sẽ có cơ hội cho các ngân hàng thiếu vốn tạm thời vay để lấy lãi Không những thế nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng có thể liên kết, thỏa thuận với nhau mức lãi suất trần, sàn các phương thức huy động để tránh xảy ra các cuộc chạy đua về lãi suất, các cuộc cạnh tranh gây thiệt hại về kinh tế lẫn nhau

- Đối với khách hàng

Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng giảm được chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt.Thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng người gửi tiền có thể gửi tiền nhàn dỗi, không sử dụng đến vào ngân hàng để thu lợi nhuận

bằng việc chi trả lãi suất từ phía ngân hàng.Hoạt động tín dụng của ngân hàng

đã tạo cho người tiêu dùng một kênh đầu tư cho danh mục đầu tư của mình Hoạt động đầu tư, gửi tiếp kiệm qua ngân hàng được coi là một kênh đầu tư ít rủi ro nhất Khi nền kinh tế gặp khó khăn, các kênh đầu từ khác như đầu tư bất động sản, đầu tư vàng, ngoại tệ, đầu tư chứng khoán đều không có hiệu quả thì tín dụng ngân hàng được coi là an toàn và hiệu quả nhất

Tóm lại, hoạt động huy động vốn là cơ sở, tiền đề nó tạo ra nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM Nó tác động không chỉ cho vay, đầu tư

và các nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến

Trang 26

nền kinh tế quốc dân Nguồn vốn huy động của NHTM gia tăng thể hiện sự tích lũy tập trung vốn đạt hiệu quả cao tạo điều kiện để phát triển kinh tế đất nước Nhưng điều này sẽ hạn chế việc phát triển các cơ sở sản xuất, kinh doanh của tư nhân Lãi suất gia tăng sẽ thúc đẩy nguồn vốn huy động gia tăng nhưng sẽ hạn chế đầu tư dân cư Như vậy có thể nói huy động vốn phù hợp với mục tiêu kinh doanh của ngân hàng và đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thực sự là một vấn đề quan trọng không chỉ đối với các nhà ngân hàng mà còn đối với các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế của quốc gia.

1.2.2 Hiệu quả cho vay và các tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay

1.2.2.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay

Hiệu quả cho vay là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra

Tuy nhiên trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì khái niệm về hiệu quả được phản ánh khác nhau

HQCV là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ sự gia tăng của dư nợ cho vay với sản phẩm cho vay đa dạng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của nền kinh tế với rủi ro cho vay thấp nhất.

1.2.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay của NHTM

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của bất cứ tổ chức kinh doanh nào cũng phải mang lại hiệu quả, nếu đơn vị đó không mang lại hiệu quả thì đơn vị đó sẽ không tồn tại lâu được và việc giải thể là điều không thể tránh khỏi Không chỉ riêng Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận mà ngay cả Ngân hàng cũng hoạt động trên cơ

sở này Bởi vì đó là điều kiện quyết định sự phát triển lâu dài của của đơn vị

Để thấy được hiệu quả ta cần phân tích một số chỉ tiêu tài chính làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả cho vay của Ngân hàng

Trang 27

b/ Rủi ro cho vay

Rủi ro cho vay là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại

Rủi ro cho vay là loại rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng Nguyên nhân gây nên rủi ro thường do:

- Người vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tài chính nên không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng

- Do thiếu thông tin về khách hàng nên ngân hàng đã cho khách hàng kinh doanh kém hiệu quả vay vốn, nên việc thi nợ gặp nhiều khó khăn đến hạn khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng

- Cán bộ ngân hàng bất cập về trình độ, vi phạm đạo đức trong kinh doanh, dẫn đến cho vay khống , cho vay không đúng mục đích kinh doanh…

- Giá trị đảm bảo tiền vay không đáp ứng được yêu cầu thu nợ của ngân hàng…

c/ Rủi ro lãi suất

Lãi suất là giá cả của sản phẩm ngân hàng, nên có tác dụng trực tiếp đến giá trị tài sản Có, tài sản Nợ của ngân hàng Mọi sự thay đổi của lãi suất đều có thể tác động đến việc tăng, giảm thu nhập, chi phí và lợi nhuận của ngân hàng

Rủi ro lãi suất là rủi ro do sự biến động của lãi suất gây lên Nếu ngân hàng có tài sản Nợ nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản Có nhạy cảm với lãi suất, thì khi lãi suất tăng thì lợi nhuận cỉa ngân hàng sẽ bị giảm Ngược lại lãi

Trang 28

suất giảm sẽ làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng.

d/ Rủi ro hối đoái

Rủi ro hối đoái là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hổi đoái gây nên Những rủi ro này có thể phát sinh trong tất cả cac nghiệp vụ có liên quan đến ngoại tệ của ngân hàng như: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ…

Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay ở năm tài chính nói trên người ta còn sử dụng đến một số chỉ tiêu khác khi xem xét mặt hoạt động này trong một quá trình nhiều năm đến thời điểm nghiên cứu, cụ thể là:

Phân tích tình hình nợ quá hạn để biết thêm chất lượng tín dụng, khả năng rủi ro, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng, từ đó có biện pháp khắc phục trong tương lai

Tỷ lệ nợ quá hạn = nợ quá hạn

Tổng dư nợ

Tỷ lệ thu hổi nợ quá hạn trong kỳ: Tỷ lệ này cho ta biết mức độ quản

lý nội bộ của ngân hàng đối với nợ quá hạn

Trang 29

Tỷ lệ thu hồi nợ

quá hạn =

Doanh số thu nợ quá hạn trong kỳ

Dư nợ quá hạn đầu kỳ+ DS chuyển nợ

Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn: Chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa tổng dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn huy động

1.2.2.3 Ý nghĩa nâng cao hiệu quả cho vay vủa NHTM

- Đối với ngân hàng

Nâng cao hiệu quả cho vay ngân hàng sẽ làm tăng uy tín của mình, từ đó thu hút được nhiều khách hàng, tăng nguồn vốn tín dụng và khả năng cung cấp dịch vụ của ngân hàng Hơn thế nữa nâng cao hiệu quả tín dụng còn giúp ngân hàng thực hiện tốt hai mục tiêu đặt ra là lợi nhuận và an toàn

Nâng cao hiệu quả cho vay giúp ngân hàng nâng cao trình độ nghiệp vụ,

có thêm kinh nghiệm quý trong việc xử lý tình huống, có óc phán đoán tốt từ

đó nâng cao uy tín của ngân hàng, mở rộng môi trường hoạt động của mình

Trang 30

Nâng cao hiệu quả cho vay giúp cho ngân hàng thực hiện tố nhiệm vụ cấp trên giao, góp phần thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế đất nước.

- Đối với đơn vị vay vốn ngân hàng

Nâng cao hiệu quả cho vay sẽ giúp doanh nghiệp, hộ kinh doanh …mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tăng lợi nhuận doanh nghiệp và tiếp tục được ngân hàng cấp vốn với mức lãi suất ưu đãi hơn

Nâng cao hiệu quả cho vay đối với các đơn vị vay vốn ngân hàng để sản xuất kinh doanh như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, các công ty chế biến nông sản…hoặc các doanh nghiệp có vòng vốn quay vốn lưu động thậm chí các khoản vốn vay nhận được từ ngân hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp cho quá tình sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị gián đoạn

- Đối với nền kinh tế xã hội

Nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng góp phần hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế xã hội như ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, thay đổi cơ cấu và tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm cho dân cư trong cộng đồng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng của nhtm trong điều kiện cạnh tranh tự do trên thị trường vốn.

1.3.1 Cạnh tranh giữa các NHTM trên thị trường vốn Việt Nam hiện nay

1.3.1.1 Khái niệm cạnh tranh

Cạnh tranh là điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trường Bất kỳ doanh nghiệp nào khi tham gia kinh doanh cũng đều đối mặt với cạnh tranh Trong xu thế nền kinh tế ngày càng phát triển, thì cạnh tranh

đã trở thành một vấn đề trọng tâm trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Bởi chỉ có khả năng cạnh tranh thì mới có thể đứng vững được trên thị trường

Từ khi nền kinh tế vận hành, cạnh tranh đã trở thành vấn đề được nhiều nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu quan tâm Đến nay, khái niệm “cạnh tranh” được tiếp cận theo nhiều góc độ, được đứng trên nhiều quan điểm khác nhau

Trang 31

Trước đây, khi mới bắt đầu nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã quan niệm một cách máy móc và cho rằng cạnh tranh là một thuộc tính cố hữu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Cách hiểu này chỉ phản ánh được một cách phiến diện của khái niệm cạnh tranh, bởi lúc đó, người ta đã bỏ ngỏ cạnh tranh dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, và cho rằng dưới chế độ đó, thay vào cạnh tranh chỉ có thi đua xã hội chủ nghĩa Theo thời gian cùng với sự trưởng thành về mặt lý luận và nhận thức, người ta đã dần bổ sung và hoàn thiện khái niệm cạnh tranh.

Trong lý thuyết cổ điển, vấn đề cạnh tranh được tiếp cận theo cách nhìn nhận của nhà kinh tế học Adam Smith là: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Khi bàn về chủ nghĩa tư bản, theo quan điểm của Các Mác, “cạnh tranh

tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự phấn đấu gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

để thu lợi nhuận siêu ngạch” Trong khái niệm này, Các Mác đã nêu ra vấn đề cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cạnh tranh diễn ra trong nền kinh tế với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất

Theo định nghĩa trong cuốn từ điển kinh doanh được xuất bản năm 1992

ở Anh thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường chính là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”

Dưới góc độ kinh tế thuần tuý, cạnh tranh có thể được hiểu là “sự tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”, nói cách khác là “sự đấu tranh giữa các doanh nghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để kiếm lời”

Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, khái niệm cạnh tranh được đề cập “là

Trang 32

sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia và nó nảy sinh khi hai hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được”.

Theo cách tiếp cận trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu, khái niệm

“cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của GDP trên đầu người theo thời gian”

Dưới góc nhìn của Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của tổng thống Mỹ, khái niệm cạnh tranh với một quốc gia được hiểu là: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tề đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”

Theo quan điểm của các nhà kinh tế Việt Nam thì khái niệm cạnh tranh được cho là “vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ, đó là con đưòng cũng như là phương thức để giành lấy lợi nhuận cao cho các chủ thể nền kinh tế”

Với khái niệm canh tranh, có quan điểm lại cho rằng: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đã đạt được những thành quả nhanh

và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”

Ngoài ra, còn có khái niệm khác về cạnh tranh là” Cạnh tranh có thể định nghĩa như một khả năng của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài và

có lợi nhuận” Nhiều nhà nghiên cứ đã cho rằng, một doanh nghiệp sẽ cạnh

Trang 33

tranh thành công khi sở hữu những lợi thế mà đối thủ của họ không có được Tuy nghiên, lợi thế đó có thể bị lu mờ dần theo thời gian, và trong điều kiện biến đổi liên tục của thị trường, thì dù sớm hay muộn, doanh nghiệp đó cũng

bị mất dần đi lợi thế cạnh tranh đó

Như vậy, khái niệm cạnh tranh được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm, nhiều giác độ và tùy theo phạm vi, mục đích và lĩnh vực nghiên cứu Nhưng nhìn chung có thể hiểu một cách chung nhất là “sự ganh đua, đấu tranh gay gắt và quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá nào đó nhằm giành giật thị trường và khách hàng, thông qua đó tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao”

Thực chất của cạnh tranh chính là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia vào một thị trường Các chủ thể khi tham gia vào thị trường luôn muốn tối đa hoá lợi ích của mình Với các doanh nghiệp, lợi nhuận luôn là mục tiêu quan trọng, là kết quả mong đợi sau quá trình kinh doanh Còn với khách hàng, hàng hoá chất lượng tốt, giá cả hợp lý, nhiều tiện ích, giá trị sử dụng cao lại luôn là sự lựa chọn tối ưu Đây là quá trình mà các chủ thể kinh tế sử dụng các biện pháp để giành và chi phối thị trường, thu hút

và giữ khách hàng, đồng thời đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất, để nâng cao vị thế của mình.Có thể nói rằng, cạnh tranh là một phương thức vận động của thị trường Thị trường và cạnh tranh luôn gắn liền với nhau Không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường, và nói đến thị trường cũng đồng nghĩa nói tới sự cạnh tranh Chính vì vậy, khi kinh doanh trên bất cứ thị trường nào, thì dưới các phương thức khác nhau, tuỳ theo các mức độ khác nhau, cạnh tranh luôn xuất hiện và diễn ra ngày càng mạnh mẽ

Như vậy, cạnh tranh được tiếp cận theo nhiều góc độ, phạm vi và mục đích nghiên cứu Nhìn chung, có thể thống nhất các khái niệm đó ở một số điểm đó là:

Trang 34

- Về mục tiêu của cạnh tranh: Tối đa hoá lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao mức sống của quốc gia,

- Phương pháp thực hiện: Tận dụng và khai thác lợi thế so sánh của mình trong việc cung ứng sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh

- Thời gian: Cạnh tranh là một quá tình, vì thế nó đòi hỏi sự liên tục, bất kỳ sự gián đoạn nào cũng để tuột mất vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế

1.3.1.2.Các loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

Cạnh tranh được tiếp cận theo nhiều quan điểm và theo nhiều lĩnh vực,

và theo nhiều mục đích khác nhau Chính vì thế, việc phân loại hoạt động cạnh tranh cũng rất đa dạng, được chia thành nhiều căn cứ khác nhau

Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

− Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là hoạt động cạnh tranh trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong cùng một lĩnh vực, về cùng một loại sản phẩm, dịch vụ

− Cạnh tranh giữa các ngành: là hoạt động cạnh tranh trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau ở các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, các ngành kinh tế khác nhau

Căn cứ vào hình thái cạnh tranh:

− Cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh tự do, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tham gia sản xuất, kinh doanh các sản phẩm tương tự nhau về phẩm chất, quy cách, mẫu mã trên thị trường

− Cạnh tranh không hoàn hảo là loại cạnh tranh trong đó một hoặc một vài tập đoàn thống trị độc quyền sản xuất và kinh doanh sản phẩm trong các lĩnh vực như ô tô, dầu khí…Ngày nay, loại cạnh tranh này ngày càng trở nên phổ biến Trong thị trường này, phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau Một loại sản phẩm nhưng được phân thành nhiều cấp độ chất lượng

Trang 35

khác nhau.

Căn cứ vào chủ thể kinh tế tham gia.

− Cạnh tranh giữa những người bán với nhau

Đây là cuộc cạnh tranh gay gắt, và chiếm nhiều nhất trên thị trường Khi nền kinh tế càng phát triển, cuộc cạnh tranh này diễn ra càng mạnh mẽ và quyết liệt, với nhiều cấp độ, cách thức và phương pháp khác nhau Để tranh giành thị trường nội địa và quốc tế, các doanh nghiệp đều phải điều chỉnh chiến lược cạnh tranh của mình nhằm giành và giữ được thị trường, từng bước thâm nhập vào thị trường của đối thủ cạnh tranh

− Cạnh tranh giữa những người mua với nhau

Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra khi mà cung nhỏ hơn cầu Chênh lệch cung cầu (cung < cầu) càng lớn, thì mức độ cạnh tranh diễn ra càng gay gắt Điều này làm cho hàng hoá ngày càng trở nên khan hiếm, giá cả tăng vọt Tuy nhiên, người mua thường muốn mua được những sản phẩm hợp với nhu cầu và thị hiếu của mình, và để có được những sản phẩm đó, họ vẫn sẵn sang trả mức giá cao hơn để sở hữu được sản phẩm đó

− Cạnh tranh giữa người bán và người mua

Đây là cạnh tranh trong đó diễn ra việc mua rẻ bán đắt trên thị trường Người mua luôn muốn có sản phẩm phù hợp nhu cầu, thị hiếu của mình với chất lượng tốt, nhưng giá cả thấp nhất có thể Còn người bán, để tối đa hoá lợi nhuận của mình, luôn muốn sản phẩm với giá cao nhất có thể Kết quả của quá trình mua bán đó là giá cả cuối cùng khi hai bên đã thống nhất và thoả thuận với nhau

Căn cứ vào mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế:

− Cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước: là loại cạnh tranh trong đó Nhà nước tham gia vào định hướng, điều chỉnh và giới hạn bằng các thể chế, pháp luật và chính sách

Trang 36

− Cạnh tranh tự do: là loại cạnh tranh trong đó, Nhà nước không tham giao vào điều chỉnh, điều tiết và có các biện pháp giới hạn.

Căn cứ vào phạm vi địa lý

− Cạnh tranh trên phạm vi từng quốc gia

+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước.+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài trên phạm vi một quốc gia

− Cạnh tranh trên phạm vi quốc tế:

+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm nước phát triển với nhau Các doanh nghiệp này có tiềm lực tài chính mạnh, có mạng lưới kinh doanh rộng khắp và trình độ công nghệ rất cao

+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm nước đang phát triển với nhau Trong loại hình cạnh tranh này, các doanh nghiệp thường công có

sự chênh lệch lớn về tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ, tận dụng được lợi thế nguồn nhân công rẻ, và lợi thế về tài nguyên thiên nhiên trong nước mình.+ Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc nhóm nước phát triển và đang phát triển Sự cạnh tranh này được đánh giá là gay gắt nhất bởi sự chênh lệch sâu sắc về trình độ công nghệ giữa các bên

Căn cứ vào chiến lược cạnh tranh

− Cạnh tranh trực diện: Là cạnh tranh trong đó, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trực tiếp, công khai ganh đua, đấu tranh với nhau giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

− Cạnh tranh không trực diện: Là loại cạnh tranh trong đó, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không thể hiện sự ganh đua, đấu tranh công khai với nhau, mà quá trình cạnh tranh diễn ra ngầm nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá

Trang 37

1.3.1.3 Cạnh tranh trong ngành ngân hàng.

- Cạnh tranh từ các ngân hàng mới

Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “ độ cao” rào cản gia nhập Ngành ngân hàng cũng đã có những thay đổi

cơ bản khi các tổ chức nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài

- Cạnh tranh và nguy cơ bị thay thế

Cơ bản mà nói các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam

có thể xếp vào 5 loại:

+ Là nơi nhận các khoản tiền ( lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)

+ Là nới giữ tiền (tiết kiệm…)

+ Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán

+ Là nơi cho vay tiền

+ Là nơi hoạt động kiều hối

Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm, do đối tượng khách hàng này cần rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các sản phầm và dịch vụ của khách hàng

- Cạnh tranh về quyền lực của khách hàng

Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có

lẽ là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận Nhưng không vì thế mà có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngân hàng tại Việt Nam

- Cạnh tranh về quyền lực của các nhà cung cấp

Ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị

Trang 38

trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu.

1.3.2 Ảnh hưởng của cạnh tranh tự do đến hiệu quả tín dụng của NHTM

1.3.2.1 Các nhân tố tác động đến hiệu quả huy động vốn

a/ Các nhân tố khách quan

Sự phát triển của nền kinh tế

Theo các lý thuyết kinh tế thì sự tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh

tế quyết định đến thu nhập của các tổ chức cá nhân, như vậy sẽ có hoặc không

có một khoản tiền nhàn rỗi đưa vào tích lũy bằng cách gửi vào Ngân hàng Đây là yếu tố quyết định khả năng huy động vốn của Ngân hàng

Khi nền kinh tế phát triển ổn định, đảm bảo được giá trị của đồng tiền từ

đó tiền gửi vào Ngân hàng của khách hàng được an toàn, tạo được sự an tâm

về tâm lý cho khách hàng mở ra tiềm năng và mở rộng phạm vi đầu tư, lĩnh vực kinh doanh cho NHTM Ngược lại khi nền kinh tế phát triển không ổn định, sản xuất bị đình trệ,…nhân dân sẽ mất lòng tin vào giá trị của đồng tiền dẫn đến mất an toàn và rủi ro cho đồng vốn kinh doanh của NHTM và khả năng huy động vốn cũng bị thu hẹp

Môi trường pháp lý

Cơ chế chính sách pháp luật của nhà nước rất chặt chẽ, đồng bộ các định hướng phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước mang tính ổn định lâu dài sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh

NHTM là tổ chức chịu sự tác động rất lớn của môi trường pháp lý nhất là các chính sách của nhà nước Các bộ luật tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động huy động vốn của Ngân hàng như: luật các tổ chức tín dụng, luật NHNN,…, luật đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó là chính sách tiền tệ cũng ảnh

Trang 39

hưởng không nhỏ, ví dụ khi lạm phát nền kinh tế tăng, Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó NHTM sẽ huy động vốn dễ dàng hơn Như vậy mục tiêu hoạt động của NHTM được xây dựng vào các quy định, quy chế của Nhà nước để đảm bảo an toàn và nâng cao niềm tin từ khách hàng.

Nhu cầu về vốn của nền kinh tế

NHTM là trung gian tập trung và phân phối vốn cho nền kinh tế, khi nhu cầu vay vốn giảm thì khả năng huy động vốn của Ngân hàng cũng giảm theo

Tâm lý, thói quen của khách hàng

Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người sử dụng vốn, thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà Ngân hàng có thể huy động trong tương lai, còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của các nguồn tiền Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn định lượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại Một điểm quan trọng nữa là mức độ thường xuyên của việc sử dụng các dịch vụ Ngân hàng của khách hàng, mức độ này càng cao thì điều kiện mở rộng huy động vốn càng trở nên dễ dàng hơn

b/ Các nhân tố chủ quan

Uy tín của Ngân hàng

Với bất kỳ một khách hàng có tiền nhàn rỗi cần gửi vào Ngân hàng thì điều họ cần biết đầu tiên là Ngân hàng đó có thật sự tin cậy không, nếu Ngân hàng có uy tín cao trên thị trường thì việc đắn đo trong lựa chọn của khách hàng không còn là vấn đề khó nữa Thông thường uy tín này thể hiện ở mức

độ thâm niên của Ngân hàng, thâm niên càng cao thì khách hàng càng tin tưởng để gửi tiền

Chính sách khách hàng

Đây là điều kiện thứ hai mà khách hàng quan tâm đến sau uy tín của Ngân hàng Như mọi doanh nghiệp khác, Ngân hàng biết rằng “khách hàng là

Trang 40

thượng đế” và các chính sách ưu đãi cho họ là cần thiết để thu hút tiền nhàn rỗi, Ngân hàng nào mà nhanh nhạy thấu đáo điều này thì sẽ giành được thị phần nhiều hơn.

Chính sách lãi suất cạnh tranh

Các Ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ với các Ngân hàng khác

mà còn với các tổ chức tiết kiệm, các thị trường tiền tệ và với những người phát hành các công cụ tài chính khác nhau trong thị trường tiền tệ Khi mức lãi suất tối đa bị loại bỏ trong quá trình nới lỏng các quy định việc duy trì mức lãi suất cạnh tranh càng trở nên gay gắt đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, đủ cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiền tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ Ngân hàng này sang Ngân hàng khác hay từ công cụ này sang công cụ khác

Năng lực, trình độ cán bộ Ngân hàng

+) Về mặt quản lý: trình độ quản lý tốt sẽ có khả năng tư vấn phù hợp cho khách hàng thu hút được khách hàng đến với mình đồng thời đảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín

Ngày đăng: 05/10/2014, 19:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHTMCP (Trang 52)
Bảng 2.2 Kết quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Kết quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương (Trang 60)
Bảng 2.3 : Chi phí cho một đơn vị vốn huy động của NHTMCP Sài Gòn - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.3 Chi phí cho một đơn vị vốn huy động của NHTMCP Sài Gòn (Trang 65)
Bảng 2.5 : Hiệu quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.5 Hiệu quả huy động vốn tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương (Trang 67)
Bảng 2.6 Kết quả cho vay tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.6 Kết quả cho vay tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương (Trang 68)
Bảng 2.7: Vòng quay vốn tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.7 Vòng quay vốn tín dụng tại NHTMCP Sài Gòn Công Thương (Trang 71)
Bảng 2.8: Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng NHTMCP - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.8 Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng NHTMCP (Trang 73)
Bảng 2.10 Đánh giá hiệu quả tín dụng của NHTMCP Sài Gòn Công Thương - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 2.10 Đánh giá hiệu quả tín dụng của NHTMCP Sài Gòn Công Thương (Trang 81)
Bảng 3.1. Kết quả cho vay của NHTMCP Sài Gòn Công Thương - một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại nhtmcp sài gòn công thương, trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường tiền tệ việt nam hiện nay
Bảng 3.1. Kết quả cho vay của NHTMCP Sài Gòn Công Thương (Trang 103)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w