1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của tổng cục thuế đối với doanh nghiệp

141 362 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 884,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hoạch chưa chính xác, không cân đối với nguồn lực hiện có, một số bước công việcquy định trong quy trình chưa chặt chẽ; tổ chức bộ máy thanh tra thuế chưa tươngxứng với khối lượng công v

Trang 1

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế 52

Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức chức năng thanh tra, kiểm tra thuế 53

BẢNG

Bảng 1.1: Các loại thuế được áp dụng phổ biến ở các nước có nền kinh tế

thị trường phát triển 10Bảng 2.1 Một số tỷ suất thường dùng trong phân tích báo cáo tài chính 62Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả thanh tra thuế từ năm 2007 đến năm 2010 67

BIỂU

Biểu đồ 3.1 Mô hình tuân thủ của người nộp thuế áp dụng vào công tác thanh

tra thuế 100Biểu đồ 3.2 Mô hình mức độ rủi ro về thuế TNDN đối với doanh nghiệp theo

hình chóp 101Biểu đồ 3.3 Mô hình chuyển từ thanh tra theo diện rộng sang thanh tra theo

tiêu chí phân loại 102Biểu đồ 3.4 Mô hình chuyển từ thanh tra chủ yếu tại doanh nghiệp sang thanh

tra chủ yếu tại cơ quan thuế 102Biểu đồ 3.5 Mô hình chuyển từ thanh tra toàn diện sang thanh tra theo chuyên đề

103

Trang 2

ĐTNN : Đầu tư nước ngoài

TINC : Hệ thống quản lý thông tin người nộp thuế

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA TỔNG CỤC THUẾ 5

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thuế và thanh tra thuế 5

1.1.1 Khái quát về thuế 5

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về thanh tra thuế 15

1.2 Nội dung thanh tra, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp 23

1.2.1 Khái quát về cơ chế Thanh tra thuế 23

1.2.2 Nội dung hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp 25

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp 32

1.2.4 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp 35

1.3 Kinh nghiệm về cơ chế thanh tra thuế đối với doanh nghiệp của một số quốc gia và bài học đối với Tổng cục Thuế 37

1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về thực hiện cơ chế thanh tra thuế đối với doanh nghiệp 37

1.3.2 Bài học cho Tổng cục Thuế về hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế đối với doanh nghiệp 40

Trang 4

2.1 Khái quát, sự hình thành và phát triển hệ thống Thanh tra thuế

của Tổng cục Thuế 42

2.1.2 Khái quát về Tổng cục thuế 422.1.2 Tổng quan sự hình thành và phát triển hệ thống thanh tra thuế của

Tổng cục Thuế 43

2.2 Tình hình thực hiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối

với doanh nghiệp 44

2.2.1 Hiện trạng văn bản chính sách về cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục thuế 442.2.2 Thực trạng quy trình thanh tra thuế 492.2.3 Tình hình tổ chức thực hiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế

đối với doanh nghiệp 522.2.4 Tình hình giám sát, kiểm tra việc thực hiện cơ chế thanh tra thuế của

Tỏng cục Thuế đối với doanh nghiệp 66

2.3 Đánh giá việc thực hiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế

đối với doanh nghiệp 67

2.3.1 Những thành công: 672.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 74

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ

THANH TRA THUẾ CỦA TỔNG CỤC THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 85 3.1 Bối cảnh kinh tế xã hội quốc tế và trong nước tác động đến Thanh

tra thuế 85 3.2 Phương hướng hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục

Thuế đối với doanh nghiệp 87

3.2.1 Định hướng quản lý thuế 873.2.2 Định hướng hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của tổng cục thuế đối với

doanh nghiệp 88

Trang 5

3.3.1 Hoàn thiện văn bản chính sách về thanh tra thuế của Tổng cục thuế đối

với doanh nghiệp 90

3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện quy chế, quy trình, hoàn thiện cơ chế cho hoạt động thanh tra theo quy định của luật quản lý thuế: 91

3.3.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện 93

3.3.4 Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra 95

3.2.5 Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng thanh tra thuế 96

3.2.6 Phát triển ứng dụng công nghệ tin học vào công tác thanh tra thuế 97

3.2.7 Đổi mới toàn diện hoạt động thanh tra thuế theo hướng thống nhất, hiện đại, chính quy, chuyên nghiệp và hiệu quả: 99

3.4 Một số kiến nghị 106

3.4.1 Kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ Việt Nam 106

3.4.2 Kiến nghị với Bộ Tài Chính và Tổng cục thuế 109

3.3.3 Kiến nghị với Uỷ ban nhân dân các cấp và Cơ quan thuế địa phương .112

KẾT LUẬN 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, mọi Quốc gia tồn tại vàphát triển đều phải trên cơ sở Nguồn thu Ngân sách Quốc gia Trong đó thu từ Thuếđóng vai trò chủ yếu và mang tính quyết định Ngoài ra Thuế còn là một công cụquản lý kinh tế quan trọng, có hiệu lực để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô nềnkinh tế Phạm vi và đối tượng tác động của Thuế rất rộng, liên quan đến mọi ngành,mọi cấp và công dân Có thể nói hệ thống chính sách, pháp luật Thuế Nhà nước cóvai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia và hội nhập quốc tế

Trong quá trình thực thiện chức năng quản lý Nhà nước về thu Ngân sách nhấtthiết phải tiến hành hoạt động thanh tra Hoạt động thanh tra là một công cụ quản lýnhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình quản lý, thu thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủcho Ngân sách Nhà nước Hay nói cách khác hoạt động thanh tra trong ngành Thuế

là một khâu không thể thiếu được trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước vềquản lý thu thuế Thông qua việc thanh tra, giám sát thường xuyên nhằm phòngngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong

cơ chế quản lý từ đó có những đề xuất, kiến nghị với Tổng cục thuế, Bộ Tài chính,sửa đổi, bổ sung kịp thời các chính sách góp phần tăng nguồn thu Ngân sách phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Kể từ khi thực hiện Luật quản lý thuế và ngành thuế hoạt động theo mô hìnhchức năng, công tác thanh tra thuế đã đạt được những thành công nhất định Tuynhiên công tác thanh tra theo yêu cầu của Luật quản lý thuế vẫn còn một số tồn tại,hạn chế cần phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và chấn chỉnh, như : hệ thống phápluật và các chính sách của nhà nước về thanh tra thuế còn đang trong quá trình cảicách, chưa thật hoàn chỉnh, có quá nhiều thay đổi, bổ xung để đồng bộ các sắc thuếhiện hành; Quy trình thanh tra thuế vẫn còn một số bất cập, nhất là việc lập kế

Trang 7

hoạch chưa chính xác, không cân đối với nguồn lực hiện có, một số bước công việcquy định trong quy trình chưa chặt chẽ; tổ chức bộ máy thanh tra thuế chưa tươngxứng với khối lượng công việc và vai trò của công tác thanh tra thuế

Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động thanh tra trong công tác quản lýthuế nên việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra được những giải pháp nhằm hoànthiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp là một vấn đề

vô cùng bức thiết, do vậy tên đề tài: “Hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp ” được chọn làm đề tài nghiên cứu cho bản luận

văn này Mục đích chính của đề tài này là tìm ra nguyên nhân những hạn chế trong

cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp và đưa ra một số giảipháp hoàn thiện Giải quyết tốt đề tài trên cũng là một trong những biện pháp nhằmnâng cao vai trò, vị trí của hoạt động thanh tra trong lĩnh vực quản lý, thu thuế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tác giả được biết ở Việt Nam đã có một số

đề tài liên quan đến công tác thanh tra của các ngành lĩnh vực khác như “Giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát thanh tra tổ chức niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Hoàng Đức Long; “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước” của tác giả Trần Đức Lượng ; “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và chống tham nhũng” của tác giả Phạm Văn Khanh , Các đề tài trên hoặc chỉ phân tích khía cạnh hoàn thiện về quản lý vĩ mô,

hoặc nghiên cứu khái quát, hoặc nghiên cứu theo đặc điểm của ngành lĩnh vực khác.Trong ngành thuế cũng có đề tài nghiên cứu về thanh tra, kiểm tra thuế, tuynhiên các đề tài này đề cập đến thanh tra, kiểm tra thuế đối với từng loại hình doanh

nghiệp khác nhau trên các địa bàn khác nhau như : “Hoàn thiện thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Phạm Thanh Huyền; “Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Lê Văn Hạnh;

“ Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế ở Cục thuế tỉnh Bình Dương ” của

Trang 8

tác giả Phạm Công Độ Do đó, việc nghiên cứu, lý giải để làm rõ cơ sở lý luận mộtcách toàn diện và đầy đủ hiện trạng cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đốivới doanh nghiệp và hoàn thiện cơ chế này là một đòi hỏi cấp bách cả về lý luận vàthực tiễn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của đề tài.

Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về cơ chế thanh tra thuế của Tổng cụcThuế đối với doanh nghiệp, luận văn hướng đến những mục đích cụ thể như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thuế, thanh tra thuế nói chung, cơchế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đốivới doanh nghiệp để khẳng định những thành công, những hạn chế và nhữngnguyên nhân dẫn đến những hạn chế của cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuếđối với doanh nghiệp

- Trên cơ sở đó luận văn sẽ đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghịnhằm hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các vấn đề về thuế,thanh tra thuế và cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian : Ở Việt Nam (Tại Tổng cục Thuế)

Về thời gian : Trong thời gian 4 năm kể từ khi Luật quản lý thuế ra đời, tức làtrong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010

5 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Mác-Lê nin để phân tích đồng thời áp dụng phương pháp hệ thống,phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,phương pháp toán kinh tế - tài chính trên cơ sở thu thập và sử dụng các tài liệu, sốliệu, biểu đồ làm căn cứ để làm sang tỏ vấn đề nghiên cứu

- Nguồn dữ liệu: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từ các tài liệu,

Trang 9

thông tin nội bộ: Phòng tổng hợp và thanh tra các đối tượng khác của Thanh traTổng cục Thuế, nguồn dữ liệu thu thập từ bên ngoài như Tổng cục Cảnh sát; …Cácnguồn dữ liệu này được trích dẫn trực tiếp trong luận văn và được ghi chú chi tiếttrong phần tài liệu tham khảo.

- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Trong quá trình viết luận văn, tác giả đã chọn mẫukhảo sát tại phòng thanh tra thuế doanh nghiệp vừa và nhỏ; Phòng tổng hợp vàthanh tra các đối tượng khác thuộc Thanh tra Tổng cục thuế, đã lấy ý kiến cá nhânthông qua bảng hỏi điều tra Đối tượng được hỏi là các Thanh tra viên chính, cácThanh tra viên và các chuyên viên thuộc 2 phòng thanh tra này Bên cạnh đó, tác giảcũng tham vấn ý kiến của một số chuyên gia là những cán bộ lãnh đạo của TổngCục thuế, Thanh tra Tổng cục Thuế và một số Cục thuế các tỉnh thành phố trựcthuộc Trung ương

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.

Trên phương diện lý luận: Tác giả luận văn đưa ra cơ sở lý luận về cơ chếThanh tra Thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

Trên phương diện thực tiễn: Tác giả luận văn luận giải cơ chế Thanh tra thuế củaTổng cục Thuế đối với doanh nghiệp, từ đó đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện cơ chếthanh tra thuế cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra thuế, tăngnguồn thu thuế cho ngân sách, một nguồn thu quan trọng của Nhà nước

7 Kết cấu của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấuthành 3 chương

Chương 1 : Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế thanh tra thuế của

Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp.

Chương 2 : Thực trạng cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với

doanh nghiệp

Chương 3 : Định hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của

Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp.

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ

CƠ CHẾ THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

CỦA TỔNG CỤC THUẾ

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thuế và thanh tra thuế

1.1.1 Khái quát về thuế

1.1.1.1 Khái niệm và phân loại thuế

Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quátrình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện

Theo các nhà kinh điển, “Thuế là cái mà Nhà nước thu của dân nhưng không bù lại” và “thuế cấu thành nên nguồn thu của Chính phủ, nó được lấy ra từ sản phẩm của đất đai và lao động trong nước, xét cho cùng thì thuế được lấy ra từ tư bản hay thu nhập của người chịu thuế”.

Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đã đưa ra một

khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế Theo tác giả, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” Theo thời gian, khái niệm cổ điển này đến nay đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước”.

Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra khái niệm thuế như sau: Thuế

là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dânnhằm hình thành nên quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước (quỹ ngân sáchnhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

Trang 11

của Nhà nước

Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được định nghĩa như sau: thuế là khoản đónggóp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theoLuật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củaNhà nước; người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại

Trên góc độ kinh tế học, thuế được định nghĩa như sau: Thuế là biện pháp đặcbiệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực

từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội củaNhà nước

Như vậy, đã có nhiều khái niệm khác nhau về thuế Tuy nhiên, để hiểu rõ bảnchất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau:

Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền:

Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều nàytrái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây Sự pháttriển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển củathuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phầnthúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường

Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực:

Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc,được thực hiện thông qua con đường quyền lực Nhà nước (qua hệ thống pháp luậtthuế) Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tựmình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận.Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử

lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phảilàm tròn nghĩa vụ nộp thuế Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đónggóp mang tính chất tự nguyện

Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định:

Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp

Trang 12

chính quyền địa phương Trái ngược với vay, thuế không được hoàn trả trực tiếp

Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không hoàn trả trực tiếp nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng

Quản lý xã hội, chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước :

Khác với khoản vay, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuynhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua cáckhoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng) Sự không hoàn trả trực tiếp được thểhiện ở cả trước và sau khi thu thuế Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cungứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế Sau khi thu thuế, Nhà nước cũngkhông có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế Cũng như vậy, người nộpthuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế với lý do họ sử dụng ít cácdịch vụ công cộng; họ cũng không có quyền đòi hỏi được hưởng nhiều dịch vụ côngcộng hơn so với số thuế họ phải trả vì lý do này hay lý do khác; và họ cũng khôngthể từ chối nộp thuế với lý do họ đã phải thanh toán cho các khoản chi trái vớinguyên tắc này

Tóm lại, đánh thuế là một đặc quyền chỉ thuộc về Nhà nước và thể hiện sứcmạnh của Nhà nước trong đời sống xã hội Nhà nước dùng thuế tái phân phối thunhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô Trong xã hội dân chủ, mặc dù không nhậnđối giá trực tiếp từ số tiền thuế nhưng dân chúng cũng nhận được một cách gián tiếpthông qua lợi ích từ công chi Ở đây có điểm đáng nói, hành vi nộp thuế của ngườidân mang tính cụ thể, cá nhân và trực tiếp, còn sự thụ hưởng lợi ích từ chi tiêu củachính phủ mang tính trừu tượng công cộng và gián tiếp Do đó, ngoài việc hành thuthuế thật tế nhị mà minh bạch, chính phủ cần phải công bố rõ ràng chương trìnhhành động của mình và tăng cường giáo dục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuếngay từ bậc tiểu học Như vậy, dân chúng mới ý thức được sự cần thiết của thuế,mới xem nộp thuế là một việc làm tự nhiên và cần thiết cho cuộc sống cộng đồng.Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Thời kỳ đầu khi hàng hóa chưaphát triển, thuế thường được thu bằng hiện vật Chế độ thu bằng hiện vật có mặtgiản tiện cho người nộp thuế, làm ra thứ gì nộp thứ ấy; và Nhà nước sử dụng ngay

Trang 13

số thuế bằng hiện vật ấy để chi dùng vào những nhu cầu cần thiết, thích hợp Nhưngthu thuế bằng hiện vật có mặt bất lợi cho việc thu nộp, bảo quản, không linh hoạttrong cả việc thu thuế và sử dụng số thuế thu được.

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, kinh

tế hàng hóa - tiền tệ ra đời và phát triển, thuế được thu bằng tiền là chủ yếu Thuếthu bằng tiền, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngàycàng phát triển có tính hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời làm cho thuếngày càng đa dạng, phong phú linh hoạt

Sự phát triển của các hình thức thuế trong lịch sử có thể giải thích phần lớnbởi lý do quản lý Do đánh thuế vào hàng nhập khẩu dễ dàng hơn là hàng hóa trongnội địa nên thuế nhập khẩu là một trong những loại thuế xuất hiện sớm nhất Tương

tự thuế doanh thu là một loại thuế đơn giản đánh trên tổng giá trị hàng hóa ra đời rấtlâu trước thuế GTGT Thuế đánh vào đầu người và thuế đánh vào bất động sản cũngtương đối dễ dàng thực thi nên đây là hai loại thuế trực thu đầu tiên được sử dụng

Phân theo góc độ người nộp thuế thì có thể chia làm hai loại Thuế trực thu và thuế gián thu

Bản chất kinh tế của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời là người chịuthuế Căn cứ mức thuế qui định trong luật thuế, người nộp thuế tự tính và trích mộtphần thu nhập của mình trực tiếp nộp cho Nhà nước, tức là thuế thu trực tiếp vàothu nhập của người nộp thuế Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vàothu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập cho nên đảm bảo được tính côngbằng xã hội: người có thu nhập cao thì phải nộp thuế nhiều, người có thu nhập vừathì phải nộp ít hơn, người không có thu nhập thì không phải nộp thuế Thuế trực thucòn cho phép tính đến những yếu tố có tính độc lập với thu nhập của người nộp thuếnhư: hoàn cảnh bản thân; tình trạng hôn nhân; hoàn cảnh gia đình Nhưng thuếtrực thu cũng có những mặt bất lợi là: việc tính toán phức tạp hơn, dễ dẫn đến tìnhtrạng tính toán đúng thì nộp thuế đúng, tính toán không đúng thì nộp thuế khôngđúng và thường là phải xác định rõ thu nhập thì mới thu được thuế cho nên thườngrất chậm Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết toán mới thu được đủ thuế, có trường

Trang 14

hợp thu thiếu thì phải nộp thêm, thu thừa thì phải thoái trả Một trở ngại khác làthuế thu trực diện vào thu nhập của tổ chức, cá nhân nên về tâm lý là dễ bị phảnứng Mặt khác nếu chỉ thu thuế trực thu thì diện quản lý thu thuế sẽ rất rộng Tốnnhiều công sức mà hiệu quả thấp Chính vì vậy, để động viên vào tất cả mọi ngườitrong xã hội, người ta sử dụng thuế gián thu cùng với thuế trực thu hợp thành hệthống thuế thống nhất, trong đó các loại thuế vừa thực hiện nhiệm vụ chính củamình, vừa hỗ trợ nhau để phát huy tác dụng đồng bộ của cả hệ thống thuế.

Thuế gián thu thường là thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tiêu dùng,thuế nhập khẩu… Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế có thểchuyển dịch số thuế phải nộp sang cho người mua hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bằngcách cộng gộp số thuế đó vào giá bán hàng hóa, dịch vụ Do đó người nộp thuếkhông phải là người chịu thuế mà người chịu thuế chính là người tiêu dùng hànghóa, dịch vụ Thuế gián thu bảo đảm được sự lựa chọn của người chịu thuế đối vớicác loại hàng hóa, dịch vụ mà họ quyết định mua; bảo đảm được tính tự nguyệnchịu thuế Người sản xuất kinh doanh khi bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sẽ thuthuế gián thu cùng với giá bán hàng và nộp khoản thuế này vào ngân sách Nhà nước Gọi là thuế gián thu vì Nhà nước thu thuế vào người tiêu dùng nhưng lại không thutrực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà lại thu gián tiếp qua người bán hànghóa, dịch vụ Trên ý nghĩa đó, người sản xuất kinh doanh thu thuế gián thu khi bánháng hóa, dịch vụ nếu không nộp đầy đủ số thuế đã thu vào ngân sách Nhà nước thì

có thể coi là hành động tham ô, chiếm đoạt công quỹ

Có thể nói thuế gián thu là loại thuế do toàn dân đóng góp; nghiệp vụ tính thuế

và thu thuế đơn giản, thu kịp thời hơn thuế trực thu; thuế gián thu nằm kín trong giá

cả cho nên dễ thu hơn; người chịu thuế khó nhận biết là mình phải nộp thuế nên ítphản ứng hơn Thuế gián thu mang lại nguồn thu thường xuyên và tương đối ổnđịnh cho ngân sách Nhà nước vì bất luận trong hoàn cảnh nào thì sự tiêu dùng củacon người và xã hội cũng luôn diễn ra và có xu hướng ngày càng phát triển Đốitượng quản lý thuế gián thu cũng hẹp hơn so với thuế trực thu, chỉ cần quản lý vào

số doanh nghiệp kinh doanh sản xuất hàng hóa, dịch vụ là có thể thu được thuế của

Trang 15

tất cả những người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ trong xã hội Đối với những nước cónền kinh tế chưa phá triển, thu nhập còn thấp thì thuế gián thu thường chiếm tỷtrọng lớn trong tổng số thu của ngân sách Nhà nước Mặt nhược điểm của thuế giánthu chính là tính lũy thoái của nó Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng mộtloại sản phẩm hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thựcchất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơnngười nghèo; người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu trên thu nhậpcàng thấp.

Nếu phân loại theo tính chất lũy tiến và lũy thoái thì có thể phân thành thuế lũy tiến, thuế theo tỷ lệ và thuế lũy thoái.

Bảng 1.1: Các loại thuế được áp dụng phổ biến ở các nước

có nền kinh tế thị trường phát triển

Thuế trực thu Thuế đánh trên tài

sản

· Thuế đất · Thuế nhà · Thuế doanh nghiệp

· Thuế đánh trên chứng khóan

Thuế thu nhập thể nhân và pháp nhân

· Thuế TNCN · Thuế lợi tức công ty · Thuế lợi tức siêu ngạch

· Thuế lợi tức do nghề khai thác mỏ

· Thuế đánh vào sự gia tăng vốn

· Thuế đánh vào lợi tức có được từ vốn tiền

tệ

· Thuế di sản và tặng vật · Thuế tài sản cánhân

Thuế gián thu

· Thuế Tiêu Dùng Cá Nhân (Thuế TTĐB)

- Thuế Bia - Thuế đường - Thuế xăng

· Thuế tiêu dùng tổng hợp

- Thuế đánh một lần (tổng gộp)

- Thuế đánhnhiều lần (nhiều giai đoạn)

· Thuế GTGT · Thuế muối

· Thuế thuốc lá · Thuế diêm

Trang 16

Thuế độc quyền tài chính

Thuế quan

· Theo nguồn gốc - Thuế xuất khẩu

- Thuế nhập khẩu - Thuế quá cảnh · Theo mục đích

- Thuế để phục vụ cho huy động vốn NSNN

- Thuế bảo hộ mậu dịch

- Thuế siêu bảo hộ mậu dịch

- Thuế chống bán phá giá - Thuế ưu đãi

· Theo thuế suất - Thuế quan chuyên biệt

- Thuế quan tính trên giá - Thuế quan hỗn hợp

Bảo hiểm xã hội - Khoản nộp của người làm thuê

- Khoản nộp của người sử dụng lao động

Thuế lũy tiến là loại thuế theo đó tỷ lệ đóng thuế tăng lên theo thu nhập Ởnhiều nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là ở Mỹ, người ta sử dụng thuế lũy tiếnđánh vào thu nhập một cách rộng rãi

Thuế theo tỷ lệ là loại thuế tính bằng một tỷ lệ cố định trên thu nhập

Thuế lũy thoái là loại thuế đặt gánh nặng thuế lớn hơn lên đầu những gia đình

có thu nhập thấp so với những gia đình có thu nhập cao

Giữa tính lũy thoái hay lũy tiến và việc đánh thuế trực thu hoặc gián thu cóquan hệ rất chặt chẽ, nhưng đôi khi hơi mơ hồ đối với người nộp thuế

Cấu trúc thuế của nước Mỹ đặt nặng vào thuế thu nhập là một loại thuế lũytiến- để gieo ấn tượng đó là một loại thuế công bằng Tuy nhiên, cần chú ý vì từ

“lũy tiến” có thể gây nhầm lẫn Đó là thuật ngữ liên quan thuế đánh vào nhữngkhoản thu nhập khác nhau Sẽ là sai lầm nếu cho rằng từ lũy tiến có nghĩa tình cảm,tức là hiện đại hoặc tự do, hoặc đặc biệt đúng đắn

Nếu phân loại theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách, thuế thường được phân thành Thuế nhà nước và Thuế địa phương.

Trang 17

Thuế Nhà nước là loại thuế được huy động bởi chính phủ trung ương trên cơ

sở pháp luật và được tập trung vào ngân sách Nhà nước Ở các nước công nghiệpphát triển thì thông thường thuế thu nhập, thuế TNCT, thuế quan thuộc nhómnày Ở Việt Nam, thuế nhà nước có thể tạm hiểu là các loại thuế được thu 100% vàongân sách trung ương; còn thuế địa phương là các loại thuế được thu 100% vàongân sách địa phương Ngoài ra còn có thể điều tiết giữa ngân sách trung ương vàngân sách địa phuơng; đây là các loại thuế được phân phối giữa các cấp ngân sáchtheo những tỷ lệ nhất định nhằm góp phần bảo đảm cân đối một cách linh hoạt giữacác cấp trong hệ thống NSNN

Thuế địa phương là loại thuế được chính quyền địa phương thu trên phạm vilãnh thổ được phân công và được nộp vào ngân sách địa phương Thông thường,trong khuôn khổ nhất thể hóa về mặt cơ cấu thuế ở các nước công nghiệp phát triển,chính quyền địa phương được ưu tiên thu và tập trung vào ngân sách địa phươngthuế tiêu dùng cá nhân và thuế tài sản

Phân tích quan hệ tương quan giữa hai loại thuế này, các nhà kinh tế đều thốngnhất rằng tại các nước công nghiệp phát triển tốc độ tăng của thuế điạ phương vượtđáng kể tốc độ tăng của thuế Nhà nước Bởi lẽ, Nhà nước trung ương do phải đươngđầu với tình trạng thâm hụt ngân sách đã trút các chi phí gắn liền với việc điếu tiếtkinh tế, đảm bảo xã hội sang tay chính quyền địa phương

Nếu phân loại theo phương thức sử dụng có thể phân thành thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng.

Thuế tổng hợp là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhaunhưng được tập trung vào một quỹ tập trung thống nhất của Nhà nước và được sửdụng cho các mục đích phát triển kinh tế-xã hội có tính chất toàn quốc

Thuế chuyên dùng là loại thuế thu từ một nguồn hoặc một số nguồn đơn lẻnhất định nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định Quỹ này được sử dụnggắn với những mục đích đã được xác định trước Ví dụ điển hình nhất là thuế xăngdầu ở các nước trong liên minh châu Âu Chính phủ các nước này đánh thuế rấtnặng vào mặt hàng xăng dầu với các lý do như: khuyến khích việc tiết kiệm sử dụng

Trang 18

năng lượng dầu mỏ, lấy tiền thuế thu đuợc để dùng vào việc bảo vệ môi trường vàđầu tư, nghiên cứu tìm ra các loại nguyên liệu sạch thay thế dầu mỏ Trên thực tế,đây là một nguồn thu lớn của ngân sách và các khoản thu được từ thuế xăng dầu -theo nhiều người - lại được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau mà nhiều khikhông dính dáng gì với các mục tiêu đã đề ra.

Cách phân loại này đã được hình thành từ trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời Ngàynay, chính phủ các nước công nghiệp phát triển chủ yếu là qui định các loại thuế tổnghợp Tuy nhiên họ vẫn còn duy trì một vài loại thuế chuyên dùng nhất định để thựchiện một số nhiệm vụ cấp bách, quan trọng Một số nước còn đi xa hơn nữa trong việc

sử dụng thuế tiêu dùng, thuế bảo vệ môi trường như là các loại thuế chuyên dùng để bùđắp chi phí xã hội trong việc đấu trang chống tệ nạn nghiện hút, sử dụng ma túy, tiêudùng rượu quá mức nhằm lành mạnh hóa môi trường xã hội và tự nhiên Ở nước ta,một số lệ phí, ví dụ như phí giao thông có thể xem là một sắc thuế chuyên dùng

1.1.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

Lịch sử phát triển của thuế đã chứng minh rằng, thuế có 3 vai trò cơ bản, đó

là : đảm nguồn thu cho NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; vai tròphân phối lại thu nhập và tài sản nhằm đảm bảo công bằng xã hội và vai trò điềutiết vĩ mô nền kinh tế

Một là, thuế đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Mức độ động viên các nguồn thu từ thuế vào ngân sách phần lớn, gắn liền vớitổng số chi tiêu của của nhà nước vì các khoản thu này là nguồn bù đắp chủ yếu chocác khoản chi ngân sách Nhưng các khoản thu này cũng không phải là nguồn bùđắp duy nhất mà bên cạnh đó, thâm hụt ngân sách còn được bù đắp bằng nguồn vayhoặc phát hành tiền tệ Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụtngân sách trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huyđộng của Nhà nước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phảitrả khi hoàn trả nợ)

Hai là, thuế có vai trò phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội

Ngoài chức năng phân phối, thuế còn đảm nhiệm việc tái phân phối thu nhập

Trang 19

và ổn định mức cầu Chức năng này đã có một lịch sử lâu đời Việc sử dụng thuế đểtái phân phối hoặc làm chức năng ổn định hóa mới chỉ được biết đến trong một thờigian gần đây Về nguyên tắc, gánh nặng về thuế phải được phân chia một cách côngbằng; thuế phải có vai trò sửa chữa những khiếm khuyết của sự phân phối lần đầu

để đảm bảo sự công bằng và bình đẳng Tuy nhiên, sự công bằng chỉ mang tính chấttương đối và tuỳ thuộc vào quan niệm cho rằng sự phân phối phải công bằng haykhông trong việc phân chia quyền sở hữu diễn ra trên thị trường Chính vì vậy, đánhthuế luỹ tiến, đối với một số người, có thể được coi như đồng nghĩa với sự côngbằng, với một số người khác, lại bị coi là tuỳ tiện

Ba là, thuế có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng của nền kinh tế thị trường

Việc phân bổ các nguồn lực tài chính để thỏa mãn các nhu cầu vể hàng hóa vàdịch vụ công cộng là mục tiêu hàng đầu của thuế về mặt lý thuyết, thị trường là nơihoàn hảo để người dân có thể thỏa mãn các nhu cầu trực tiếp của mình nhằm đạtđến mức độ tối ưu hóa các phúc lợi nhận được Nhưng kinh tế học hiện đại và thựctiễn chỉ ra rằng đôi khi thị trường phải chịu thất bại, như trường hợp một số hànghóa, dịch vụ công cộng: người dân có nhu cầu nhưng thị trường không thể cung ứngnổi hoặc chỉ được cung ứng dưới mức cầu Đây là lúc mà cần phải có vai trò củathuế và các chi tiêu công cộng để sửa chữa sự “bất lực” về phân phối của thị trường.Thuế là một công cụ của chính sách kinh tế có thể đóng vai trò khuyến khích,hạn chế hoặc ổn định kinh tế Thuế có thể được sử dụng để khắc phục những bấtcân bằng của thị trường, ví dụ, dựa trên cơ sở các phân tích kinh tế vi mô để quốc tếhoá những tác động nội tại của nền kinh tế Thuế cũng có thể góp phần thực hiệncác cân bằng tổng thể trong khuôn khổ chính sách ngân sách dựa trên cơ sở cácphân tích kinh tế vĩ mô

Cách tiếp cận kinh tế vi mô phù hợp với cách nhìn tự do về sự can thiệp củaNhà nước mà với chức năng trợ cấp ngân sách, Nhà nước có thể xoá bỏ được nhữngvật cản nảy sinh trong kinh tế thị trường Cách tiếp cận này đôi khi cũng là trungtâm của các cuộc tranh luận

Trang 20

Cách tiếp cận kinh tế vĩ mô thuộc quan niệm của Keynes về chính sách kinh

tế, thuế là một biến số mà Nhà nước sử dụng nhằm ổn định tình huống (chính sáchtác động trên nhu cầu tổng thể) hoặc cơ cấu (chính sách thuế nhằm tạo thuận lợi cho

sự tăng trưởng kinh tế) Khả năng của thuế trong việc thực hiện các mục tiêu hiệuquả kinh tế này đã bị tranh luận khá gay gắt Tuỳ theo quan niệm mà người ta thừanhận vị trí tự do hay can thiệp của thuế mà chức năng này được đánh giá ưu việtnhiều hay ít

Như vậy, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụngthuế đúng với chức năng của nó Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ởmỗi quốc gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụthuế của mỗi quốc gia đó Vấn đề có tính nguyên tắc là thuế phải luôn luôn phù hợpvới mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế xã hội và là công cụ đắc lực cho việc thựchiện đường lối, chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời

kỳ nhất định Đó cũng là lý do mà các quốc gia phải thường xuyên rà soát mức độphù hợp của hệ thống thuế với chiến lược phát triển kinh tế xã hội cuả mình, thựchiện các cải cách thuế kịp thời nếu thấy cần thiết

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về thanh tra thuế

1.1.2.1 Khái niệm cơ bản về thanh tra thuế

Thanh tra thuế là chức năng thiết yếu của cơ quan thuế đối với việc thực hiệnchính sách pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Để hiểu rõ hơn vềkhái niệm thanh tra thuế, trước hết cần nắm được khái niệm thanh tra

* Khái niệm thanh tra:

Hoạt động thanh tra là việc xem xét, làm rõ những việc làm đúng sai đối vớinhững vụ việc và hành vi của người thừa hành công vụ trong chức năng thực hiệncông tác quản lý của mình

Thanh tra mang tính quyền lực Nhà nước, là chức năng của quản lý Nhà nước,thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lýđối với đối tượng quản lý Chủ thể tiến hành thanh tra luôn luôn là cơ quan Nhànước Thanh tra luôn áp dụng quyền lực của Nhà nước trong quá trình tiến hành

Trang 21

hoạt động của mình và nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó Thanh tra

có tính độc lập tương đối Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanhtra, đặc điểm này phân biệt thanh tra với các loại hình cơ quan chức năng khác của

bộ máy Nhà nước

Khái niệm về thanh tra được cụ thể hoá trong Luật thanh tra năm 2004: "Thanh tra Nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật quy định"

* Khái niệm thanh tra thuế đối với doanh nghiệp:

Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơquan thuế đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật về thuế, nghĩa vụ đối vớiNSNN của các doanh nghiệp theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong cácvăn bản qui phạm pháp Luật về thuế và các quy định khác của pháp luật Thanh trathuế nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế,bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho doanhnghiệp luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ

tự giác tuân thủ pháp luật thuế; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chínhsách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục, phát huy nhân tốtích cực góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước nhằmbảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.1.1.2.2 Mục đích, vai trò và nguyên tắc hoạt động của thanh tra thuế

Mục đích hoạt động của Thanh tra thuế

Một là, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế của doanh nghiệp:

Đây là mục tiêu chủ yếu, trực tiếp của hoạt động thanh tra thuế đối với doanhnghiệp Thanh tra thuế là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý Nhà nướcnhằm đảm bảo cho các quyết định quản lý được chấp hành, bảo đảm mọi hoạt độngcủa doanh nghiệp tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật Tính chất thườngxuyên của hoạt động thanh tra có tác dụng phòng ngừa các vi phạm pháp luật

Hai là, phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật của doanh nghiệp:

Định hướng xã hội Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu phải

Trang 22

tăng cường tính pháp chế, kỷ cương pháp luật trong mọi hoạt động của cơ quan, tổchức và trong cách thức hành xử của mỗi công dân Mọi hành vi vi phạm pháp luậtđều phải phát hiện nhanh chóng và xử lý nghiêm minh Hoạt động thanh tra thuế làxem xét việc thực hiện pháp luật về thuế của doanh nghiệp, từ đó tìm ra những hành

vi sai phạm, người vi phạm, đánh giá tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị cơ quannhà nước có thẩm quyền xử lý

Hiện nay, khi hành vi vi phạm về thuế còn diễn ra phổ biến thì phát hiện các viphạm để xử lý là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và là mục đích quan trọngcủa hoạt động thanh tra thuế

Ba là, phát hiện những sơ hở, hạn chế chưa đồng bộ trong cơ chế quản lý và chính sách thuế để kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi bổ sung:

Hoạt động thanh tra đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN không chỉ nhằm pháthiện và xử lý những vi phạm pháp luật, mà còn giúp cơ quan quản lý Nhà nướcđánh giá lại bản thân cơ chế, chính sách, các quy định của pháp luật, các quyết địnhquản lý của mình đã phù hợp với thực tiễn cuộc sống chưa, có khiếm khuyết, sơ hở

gì dễ dẫn đến sự vi phạm để kịp thời sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục các sơ hở,khiếm khuyết đó

Bốn là, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khi thực hiện chính sách pháp luật về thuế:

Đây là những mục đích có tính chất gián tiếp nhưng cũng không kém phầnquan trọng của hoạt động thanh tra, nhất là việc “Phát huy nhân tố tích cực" quahoạt động thanh tra Nhân tố tích cực ở đây được hiểu là những việc làm hay, mạnhdạn thể hiện một tư duy mới, một tư cách suy nghĩ và hành động mới phù hợp vớiquan điểm và chủ trương đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta, nhất là trong lĩnhvực thuế Mặt khác, thanh tra thuế không chỉ xem xét, đánh giá sự việc đúng, sai vàcòn phải đấu tranh bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củangười nộp thuế Thông qua hoạt động thanh tra thuế cần kiên quyết đấu tranh chốngmọi biểu hiện tham nhũng, nhũng nhiễu gây tổn thất tài sản xã hội chủ nghĩa và

Trang 23

xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Đâykhông chỉ là yêu cầu của nhà nước mà còn là yêu cầu của nhân dân nói chung vàdoanh nghiệp nói riêng đối với ngành thuế.

Vai trò của thanh tra thuế

Thanh tra thuế có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế Cụ thể:

Thứ nhất, thanh tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật

Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước thanh tra thuếchính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân cóđúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng cácbiện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừahành vi vi phạm pháp luật của NNT

Trang 24

Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là khôngkhiếm khuyết Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng , cố tình láchluật để trục lợi cá nhân Thanh tra thuế phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực

để ngăn ngừa kịp thời Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi viphạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tộiphạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế

Thứ ba, thanh tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính cả về quy chế và tổ chức thực hiện

Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thựchiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động thanh tra phát hiện những ngườinộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thờichấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợpvới thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế

Nguyên tắc thanh tra thuế

Nguyên tắc thanh tra thuế là tập hợp các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩnhành động mà các cơ quan quản lý, các tổ chức thanh tra, các thanh tra viên và cácđối tượng thanh tra phải tuân theo trong quá trình hoạt động thanh tra Để công tácthanh tra thuế đạt hiệu quả cao, cần đảm bảo những nguyên tắc sau

Một là, thanh tra thuế phải trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan

đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xácminh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Hai là, tuân thủ pháp luật:

Không được làm trái pháp luật là nguyên tắc quan trọng đối với cán bộ thanh trakhi thi hành công vụ Việc tuân theo pháp luật được thể hiện trong quá trình thanh traphải đúng những quy định văn bản pháp luật, đảm bảo tính độc lập, nghiêm túc khithực hiện những thủ tục cần thiết trong phạm vi thẩm quyền cho phép

Ba là, tuân thủ quy trình, quy phạm của hoạt động thanh tra do ngành thuế quy định:

Trang 25

Theo nguyên tắc này, muốn tiến hành thanh tra, trước hết phải có quyết địnhthanh tra do người có thẩm quyền ban hành Nội dung quyết định thanh tra phải bảođảm tính pháp lý Người thực hiện quyết định là Đoàn thanh tra hoặc thanh traviên được giao nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật Kết thúc cuộc thanhtra, Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên phải có kết luận, kiến nghị, quyết định về nộidung đã được thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các kết luận,kiến nghị các quyết định đó.

Bốn là, bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời:

Tính chính xác đòi hỏi chủ thể thanh tra thuế phải nhận thức đúng vấn đề, nộidung thanh tra, xác định, đánh giá đúng bản chất của sự việc để kết luận thanh trađược chính xác Tính chính xác của kết quả thanh tra bảo đảm công tác thanh trathuế đạt hiệu quả cao

Tính khách quan bảo đảm phản ánh đúng sự vật, hiện tượng như nó vốn có,không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng, không thiên lệch vàbóp méo sự thật

Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể thanh tra thuế phải thông báo đầy đủ,công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định thanh tra đến kết luận thanh tra để các

tổ chức, các nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện Việc công khaihoạt động thanh tra thuế nhằm nâng cao tính khách quan, hạn chế những tiêu cựcphát sinh trong quá trình thanh tra thuế Tuy nhiên, tuỳ tính chất cuộc thanh tra cụthuể mà cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạtđộng thanh tra thuế

Tính dân chủ trong hoạt động thanh tra thuế tạo cơ hội cho đối tượng thanh trađược trình bày ý kiến, quan điểm về nội dung, kết luận thanh tra cũng như về hoạtđộng của đoàn thanh tra, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể thanh tra, góp phần tíchcực vào kết quả thanh tra

Tính kịp thời trong hoạt động thanh tra thuế: hoạt động thanh tra thuế nhằmphục vụ các mục tiêu quản lý thuế trong những thời điểm nhất định Thanh tra thuế

Trang 26

kịp thời giúp cho đối tượng thanh tra nhận rõ sai phạm để khắc phục sửa chữa ngay,tránh vi phạm kéo dài Bên cạnh đó, việc thanh tra thuế kịp thời còn giúp cơ quanthuế chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách pháp luật về thuế phù hợp thực tiễn,nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tính kịp thời còn đảm bảo cuộc thanh tra có kếtluận đúng thời hạn theo luật định, tránh tình trạng dây dưa kéo dài thời gian, gâykhó khăn cho đối tượng thanh tra thuế.

Năm là, không làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp được thanh tra:

Hoạt động thanh tra thuế luôn là "vấn đề hết sức nhạy cảm" đối với Doanhnghiệp Việc cơ quan thuế tiến hành thanh tra thuế tại trụ sở Doanh nghiệp là cầnthiết nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp được thanhtra Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc thanh tra chồng chéo của các

cơ quan quản lý, đảm bảo hoạt động bình thường của doanh nghiệp Trong một nămngười nộp thuế chỉ bị thanh tra một lần cùng một nội dung Nguyên tắc này nhằmbảo vệ quyền lợi chính đáng của Doanh nghiệp

1.1.2.3 Các hình thức thanh tra thuế và đặc điểm của thanh tra thuế

Thanh tra thuế có thể phân ra nhiều hình thức khác nhau

Xét theo tính kế hoạch, hoạt động thanh tra thuế có hai hình thức là thanh tra theo chương trình, kế hoạch thanh tra và thanh tra đột xuất.

Thanh tra theo chương trình, kế hoạch thanh tra: được tiến hành theo chươngtrình, kế hoạch đã được phê duyệt Căn cứ vào nguồn nhân lực hiện có, tình hìnhchấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, cơ quan thuế xâydựng kế hoạch thanh tra và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Tiếp đó, cơ quanthuế tiến hành tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra theo đã được phê duyệt

Thanh tra đột xuất: được tiến hành khi cơ quan thuế phát hiện người nộp thuế

có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tốcáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quyết định

Xét theo nội dung và phạm vi thanh tra, thanh tra thuế bao gồm thanh tra toàn

diện và thanh tra chuyên đề.

Trang 27

Thanh tra toàn diện: Là loại hình thanh tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuânthủ pháp luật thuế của người nộp thuế mà người nộp thuế đó có nghĩa vụ thực hiện

và ngành thuế có trách nhiệm quản lý

Thanh tra toàn diện là hình thức thanh tra được tiến hành một cách đồng bộđối với tất các các sắc thuế: thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặcbiệt, thu nhập cá nhân và các loại thuế khác trong kỳ kê khai thuế Cán bộ thanh tracần áp dụng kỹ thuật chọn mẫu và mức độ công việc thanh tra Số kỳ tài chính cầnthanh tra sẽ được mở rộng khi các phát hiện của đội thanh tra yêu cầu phải mở rộngphạm vi thanh tra Cơ quan thuế cần dự tính nguồn nhân lực cũng như kinh phí đểthực hiện thanh tra toàn diện trong quá trình lập kế hoạch thanh tra hàng năm

Thanh tra chuyên đề là thanh tra trong phạm vi hẹp, bao gồm:

- Thanh tra một sắc thuế, một hoặc một số kỳ tính thuế;

- Thanh tra một hoặc một số bộ hồ sơ hoàn thuế;

- Thanh tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một hoặc một số kỳ tính thuếnhư: thanh tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, khấu hao, tiền lương, tài sảnròng…

Thanh tra thuế với đặc điểm đối tượng, phạm vi và lĩnh vực ngành nghề rấtrộng, bao quát tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của các tổ chức và

cá nhân trên mọi lĩnh vực, ngành nghề Đặc điểm này chi phối trình độ chuyên sâu,chuyên nghiệp của cán bộ làm công tác thanh tra thuế; và chi phối phương pháp, kỹnăng, kỹ thuật thanh tra thuế

Thanh tra thuế là hoạt động thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người nộpthuế Đặc điểm này chi phối đạo đức nghề nghiệp, văn hoá ứng xử, tác phong mẫumực của cán bộ làm công tác thanh tra thuế

Hoạt động thanh tra người nộp thuế trong cơ chế thị trường vừa phải đối mặtvới những cám dỗ, cạm bẫy dễ sa ngã; đồng thời phải đối đầu với sức ép, áp lựckhác nhau, thậm chí ảnh hưởng đến danh dự và tính mạng của người làm công tácthanh tra thuế Đây là một đặc điểm ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm, hành

vi công vụ của cán bộ thanh tra thuế; đến hiệu lực hiệu quả của công tác thanh tra

Trang 28

người nộp thuế; đến uy tín và danh dự của ngành thuế.

Thanh tra thuế là một tổ chức thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ Tài chính nênmang đặc điểm của Thanh tra tài chính Tuy nhiên cũng có những đặc điểm riêngkhác với thanh tra chuyên ngành khác như: Thanh tra Hải quan, thanh tra giá, thanhtra Kho bạc ở chỗ: Thanh tra thuế rất rộng về đối tượng, phạm vi và lĩnh vựcngành nghề Tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của các tổ chức và

cá nhân trên mọi lĩnh vực, ngành nghề đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế Mục đích hoạt động của thanh tra thuế:

Nhằm giúp các đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnhcác văn bản pháp luật về công tác quản lý thu ngân sách đảm bảo thực hiện tốtnhiệm vụ chính trị của ngành Nhằm ngăn chặn, phát hiện và xử lý các hành vi viphạm về pháp luật thuế, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền các biện pháp khắcphục, bổ sung, sửa đổi cơ chế quản lý thuế góp phần nâng cao hiệu lực quản lý vàthu thuế Tuyên truyền, giải thích, giáo dục cho đối tượng nộp thuế hiểu biết vềpháp luật thuế, từ đó tự nguyện chấp hành, đây là mục đích quan trọng, được ngànhthuế quan tâm bởi mỗi khi đối tượng nộp thuế hiểu biết càng tự giác chấp hành thìcông tác quản lý thu thuế càng đạt hiệu quả cao

Đối tượng của thanh tra thuế: là các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức, cácđơn vị sự nghiệp có thu, các cá nhân có đăng ký kinh doanh

Các sắc thuế Cơ quan thuế tiến hành thanh tra là: Thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu; Thuế GTGT; Thuế TTĐB; Thuế TNDN; Thuế TNCN; Thuế tài nguyên; Thuếtài sản và thuế chuyển nhượng tài sản…

1.2 Nội dung thanh tra, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

1.2.1 Khái quát về cơ chế Thanh tra thuế

Cơ chế: Từ "cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây Từ

điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động củamột tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngônngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là "cách thức theo đó một quá trình thực hiện"

Trang 29

Từ "cơ chế" được dùng rộng rãi trong lĩnh vực quản lý từ khoảng cuối nhữngnăm 1970, khi chúng ta bắt đầu chú ý nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh

tế, với nghĩa như là những qui định về quản lý

Có thể hiểu cơ chế là tổng thể các yếu tố có quan hệ hữa cơ, tác động vào sựvận hành của một hệ thống nhất định theo những mục tiêu nhất định Về cơ bản, cơchế bao gồm những yếu tố thể hiện những tác động điều khiển của chủ thể quản lýđối với hệ thống như: hình thức, phương pháp, công cụ… và những yếu tố tự pháttác động theo quy luật vận hành khách quan của hệ thống

Cần nhấn mạnh rằng cơ chế phải và chỉ có thể vận hành theo những cách thứcđịnh sẵn, trong đó mỗi chi tiết phải đóng được vai trò của mình Chỉ cần một chi tiết

hư mòn hay kém chất lượng, sự vận hành của cơ chế sẽ lập tức trục trặc Cho nên cơchế tự nó có khả năng phát hiện và đòi hỏi loại trừ những chi tiết, ở đây là nhữngcon người không phù hợp với nó

Cơ chế thanh tra: Nói đến thanh tra là nói đến chủ thể thanh tra và đối tượngthanh tra Để kiểm soát đối tượng do mình thanh tra và hướng đối tượng thanh tratheo chủ đích của mình, các chủ thể phải có nhứng ý tưởng để tiết chế đối với đốitượng thanh tra thông qua các công cụ thanh tra nhất định Như vậy, chủ đích vàđịnh chế là sản phẩm mang tính chủ quan của chủ thể thanh tra, nhưng để cho cơchế vận hành có hiệu quả yêu cầu các chủ đích và định chế của chủ thể phải đượchoạch định trên cơ sở yêu cầu khách quan của thực tiễn

Cơ chế thanh tra là phương thức mà qua đó để chủ thể thanh tra tác động tớiđối tượng thanh tra nhằm đạt mục tiêu đã định

Đối với chủ thể thanh tra là cơ quan quản lý nhà nước, cơ chế thanh tra do cơquan quản lý nhà nước hoạch định thông qua các quan hệ pháp lý, tổ chức theo luậtđịnh Cơ chế thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước là sản phẩm chủ quan do bộmáy quản lý nhà nước soạn thảo và được quy chế hóa theo quy trình ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật, sau đó được chính bộ máy sử dụng để tác động vàođối tượng thanh tra, đồng thời nó được bộ máy hoàn thiện dần trong quá trình cọ sátvới thực tiễn thanh tra Tuy cơ chế thanh tra là sản phẩm mang tính chủ quan nhưng

Trang 30

hiệu quản của cơ chế đòi hỏi phải phù hợp với yêu cầu khách quan của điều kiệnlịch sử cụ thể Bởi vậy cơ chế thanh tra nói chung và cơ chế thanh tra thuế đối vớidoanh nghiệp nói riêng phải luôn được hoàn thiện để đáp ứng các yêu cầu kháchquan của thực tiễn.

Từ những luận giải trên ta có thể rút ra khái niệm cơ chế thanh tra thuế củaTổng cục Thuế đối với doanh nghiệp như sau:

Cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục thuế đối với doanh nghiệp là phương thức

mà bộ máy của Tổng cục Thuế tổ chức thực hiện thanh tra đối với doanh nghiệp theo thẩm quyền nhằm đạt được mục tiêu thanh tra có hiệu quả, bảo vệ lợi ích cho nhà nước , các quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

1.2.2 Nội dung hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

Để cho một cơ chế thanh tra thuế hình thành và vận hành cần có 4 yếu tố: Hệthống pháp luật và các chính sách của nhà nước về thanh tra thuế; các quy trìnhthanh tra thuế; việc tổ chức thực hiện thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối vớidoanh nghiệp và công tác kiểm tra giám sát hoạt động thanh tra thuế

Để hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệpthì phải hoàn thiện 4 yếu tố nêu trên

Thứ nhất, Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước về thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

Hệ thống pháp luật và các chính sách của nhà nước về thanh tra thuế của Tổngcục Thuế đối với doanh nghiệp ba gồm: Hệ thống quản lý thuế và hệ thống các vănbản quy định về chính sách thuế đối với doanh nghiệp

Hệ thống quản lý thuế bao gồm Luật Thanh tra, Luật quản lý thuế và các chínhsách như: Quản lý đất đai, quản lý thanh toán không dùng tiền mặt, quản lý xuấtnhập khẩu của cơ quan Hải quan, quản lý xuất nhập cảnh của cơ quan Công an,quản lý đăng ký kinh doanh của cơ quan Kế hoạch và Đầu tư, công tác kiểm toánđối với doanh nghiệp đây là các văn bản có liên quan lớn đến hệ thống thanh trathuế, theo đó tổ chức và hoạt động thanh tra chuyên ngành thuế phải có những quy

Trang 31

định cụ thể để phù hợp với quy định tại hệ thống quản lý thuế nêu trên

Hệ thống các văn bản quy định về chính sách thuế bao gồm các luật thuế quyđịnh về chính sách đối với sắc thuế khác nhau như: Luật thuế GTGT; Luật thuếTNDN; Luật thuế TNCN… Các văn bản hướng dẫn Luật

Hệ thống pháp luật về thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanhnghiệp phải được ban hành đồng bộ và triển khai thực hiện tốt Nếu thực hiện khôngnghiêm minh, trách nhiệm pháp lý không cao sẽ làm hạn chế rất nhiều đến kết quảcủa công tác thanh tra thuế Các chính sách về thuế cần phải được thống nhất, nộidung các sắc thuế phải rõ ràng, minh bạch Nếu như một hệ thống chính sách thuếkhông đồng bộ và thống nhất, nội dung các sắc thuế quá phức tạp, quy định không

rõ ràng, thủ tục hành chính về thuế còn rườm rà thì sẽ rất khó khăn cho cả cán bộthuế và người nộp thuế Trong điều kiện đó thanh tra sẽ không có hiệu quả

Vì vậy hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách của nhà nước về thanhtra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp là vô cùng quan trọng trong hoạtđộng thanh tra thuế, đây là thước đo hiệu quả của công tác thanh tra thuế

Thứ hai, Hoàn thiện quy trình thanh tra thuế

Quy trình thanh tra thuế là các trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộcphải tuân thủ khi thực hiện một quyết định thanh tra thuế, một chương trình thanhtra hay một kế hoạch thanh tra cụ thể Ngoài công tác lập kế hoạch thanh tra hàngnăm và công tác báo cáo thực hiện kết quả thanh tra thì thanh tra bao gồm một loạtcác bước lô gích với nhau từ lúc chuẩn bị thanh tra cho đến khi hoàn thành Cụ thể:

Chuẩn bị thanh tra:

Căn cứ vào kế hoạch thanh tra đã được duyệt, Lãnh đạo bộ phận thanh tra dựkiến thành lập đoàn thanh tra và giao số lượng đơn vị cần thanh tra cho từng đoànthanh tra theo kế hoạch thanh tra đã được duyệt Trưởng Đoàn thanh tra có nhiệm vụ:Xác định nội dung, phạm vi, thời gian dự kiến thanh tra tại trụ sở người nộpthuế Việc xác định nội dung; phạm vi thanh tra được thực hiện trên cơ sở phân tíchnội dung, phạm vi rủi ro về thuế Xây dựng chương trình tiến hành thanh tra, chuẩn

bị đầy đủ văn bản về chính sách, chế độ về thuế và các văn bản pháp luật khác liên

Trang 32

quan đến nội dung thanh tra

Soạn thảo và trình ký quyết định thanh tra: Đây là thủ tục hành chính rất được

quan tâm về giá trị pháp lý của quyết định thanh tra Trong quyết định thanh tra ghirõ: Các căn cứ tiến hành thanh tra, nội dung, phạm vi yêu cầu của cuộc thanh tra,thời gian thanh tra thành phần tham gia đoàn thanh tra, quyền hạn, trách nhiệm củađoàn thanh tra, của đối tượng được thanh tra

Tiến hành thanh tra trực tiếp đối tượng được thanh tra:

Đây là giai đoạn đoàn thanh tra tiếp xúc, làm việc trực tiếp với đối tượng đượcthanh tra, để trao đổi, thống nhất, các bộ phận của đối tượng được thanh tra có tráchnhiệm làm việc với đoàn thanh tra để lên kế hoạch làm việc cụ thể, thống nhất cáctài liệu cần phải cung cấp Từ đó đoàn thanh tra cho họ thấy rõ mục đích, yêu cầu,nội dung của cuộc thanh tra Thu thập các thông tin cần thiết giúp cho đoàn thanhtra tiến hành xác minh nhanh chóng và có đủ căn cứ pháp lý kết luận, chuẩn xác,tính khách quan trung thực về nội dung thanh tra Khi tiến hành tổ chức công việctại khâu này cần chú ý tổ chức tập trung vào những vào những công việc trọng tâm,tránh xa vào những việc vụ việc nhỏ nhặt mới phát hiện, tránh việc trùng lặp kiểmtra đi kiểm tra lại để công tác thanh tra được tiến hành liên tục, đúng tiến độ Cácnội dung được thanh tra cần có sự xác minh cụ thể, rõ ràng có hồ sơ tài liệu chứngminh, các hồ sơ chứng từ này được coi là tài liệu gốc, có ý nghĩa thiết thực để lậpnên biên bản thanh tra, bao gồm: Các tài liệu báo cáo của đơn vị lập theo yêu cầucủa đoàn thanh tra, các biên bản làm việc giữa thanh tra viên với đối tượng có liênquan, các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu xác minh, các bản sao chụp, các tàiliệu có liên quan

Kết thúc thanh tra:

Đây là công việc tổng hợp kết quả thanh tra, nghiên cứu các đề xuất, kiến nghịcác biện pháp giải quyết các vấn đề phát hiện trong thanh tra Báo cáo tổng hợp kếtquả thanh tra với cơ quan có thẩm quyền để ra quyết định xử lý Tuỳ theo tình hìnhthực tế của đối tượng được thanh tra đoàn thanh tra có thể áp dụng một trong haihình thức để kết thúc thanh tra Biên bản thanh tra hoặc báo cáo thanh tra, biên bản

Trang 33

thanh tra hay báo cáo thanh tra là kết quả cuối cùng của bản thanh tra Do vậy việcthực hiện lập phải tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Lập dự thảo biên bản dựa trên các tài liệu đã được tổng hợp phân tích

từ các hồ sơ chứng lý do đoàn thanh tra tổng hợp Thông báo chính thức cho đốitượng thanh tra Lấy ý kiến tham gia về các kết luận, kiến nghị trong dự thảo, tạikhâu này đối tượng thanh tra có quyền đưa ra các ý kiến về các kết luận của đoànthanh tra trên cơ sở các chứng cứ đảm bảo cho các ý kiến của mình là đúng Về phíađoàn thanh tra việc thông báo dự thảo biên bản giúp cho đoàn có thể thăm dò đượcphản ứng của đối tượng thanh tra, mặt khác tìm thêm các chứng cứ pháp lý để đảmbảo cho kết luận và kiến nghị về giải pháp xử lý được chính xác, khách quan cóhiệu lực thi hành Tuỳ theo yêu cầu của nội dung thanh tra việc tiếp nhận, nghiêncứu phân tích, xem xét lại các ý kiến tham gia kết luận của đoàn hoặc trả lời các ýkiến tham gia của đối tượng thanh tra được thực hiện…sau đó hoàn chỉnh thành vănbản chính thức để hai bên thống nhất ký vào dự thảo biên bản

Bước 2: Thực hiện tổ chức và công bố chính thức kết luận thanh tra.

Bước 3: Một số công việc thực hiện sau khi kết thúc thanh tra: Báo cáo bằng

văn bản với người ký quyết định thanh tra về kết quả thanh tra, trong đó nêu rõ các

ý kiến chưa nhất trí của đối tượng thanh tra hoặc ý kiến của quần chúng chưa đượctrả lời để ra quyết định xử lý kết quả sau thanh tra, kiểm tra tổ chức rút kinhnghiệm để phát huy tác dụng trong các đợt thanh tra, kiểm tra tiếp theo Sắp xếp hồ

sơ lưu trữ để sử dụng khi cần thiết

Quy trình thanh tra thuế được áp dụng sẽ tạo sự thống nhất trong việc thựchiện công tác thanh tra trong toàn ngành thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lýkịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế Một quy trình được xâydựng rõ ràng, minh bạch và cụ thể sẽ góp phần nâng cao việc quản lý cán bộ thanhtra thuế trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao Thực hiện tốt quy trình thanh trathuế sẽ là cơ sở đánh giá phân loại cán bộ thanh tra, đây cũng chính là thực hiện cảicách thủ tục hành chính và hiện đại hoá công tác thanh tra thuế góp phần nâng caohiệu quả công tác quản lý thuế

Trang 34

Thứ ba, tổ chức thực hiện thanh tra thuế của Tổng cục thuế đối với doanh nghiệp

Hệ thống thanh tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc gắn với mô hình tổchức cơ quan thuế Hoạt động thanh tra thuế được phân cấp theo mô hình tổ chứccấp trung ương và địa phương (Cục thuế vùng, tỉnh) Bộ phận thanh tra ở trungương chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch thanh tra quốc gia, chuyển tải các mụctiêu của kế hoạch cho các cán bộ thanh tra địa phương và giám sát việc thực hiện

kế hoạch Thanh tra của Trung ương chịu trách nhiệm chung về việc xây dựng kếhoạch thanh tra quốc gia hàng năm, các cơ quan địa phương sẽ chịu trách nhiệmcung cấp đầu vào liên quan đến các ĐTNT mà họ quản lý để xây dựng kế hoạchthanh tra quốc gia Các cơ quan địa phương chịu trách nhiệm thanh tra các ĐTNTlớn và vừa

Tổ chức công tác thanh tra thuế: Là quá trình phân công nhiệm vụ cho từng

người cán bộ thuế để thực hiện kế hoạch thanh tra thuế đã lập Tổ chức công tácthanh tra bao gồm: Tổ chức con người và tổ chức công việc

Tổ chức con người: là việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức trong từng

thời kỳ cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ công tác thanh tra được giao Sốlượng cũng như chất lượng người tham gia công tác thanh tra cần phải dựa vào cáccăn cứ: Mức độ phức tạp, quy mô, phạm vi điều chỉnh của các nội dung thanh tra, vịtrí đặc điểm, tình hình cụ thể của đối tượng thanh tra Năng lực trình độ, chuyênmôn của thanh tra viên để thực hiện nhiệm vụ theo nội dung thanh tra, đặc biệt làtrưởng đoàn thanh tra phải là người trung thực khách quan có ý thức kỷ luật, cótrình độ chuyên môn cao, có khả năng điều hành cán bộ và kỹ năng giao tiếp tốt, cótác phong làm việc linh hoạt, biết nắng nghe, thu nhận và xử lý chọn lọc thông tin.Công tác tổ chức con người hợp lý sẽ tăng cường tính chuyên sâu trong công tácthanh tra đồng thời đảm bảo hoàn thành kế hoạch thanh tra hàng năm với chất lượngcao Để tổ chức, bố trí con người có hiệu quả thì cần phải đặc biệt quan tâm thựchiện theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Sự lãnh đạo trong công tác thanh tra là quá trìnhthu hút, lôi cuốn thuyết phục và hướng dẫn các hoạt động có liên quan đến nhiệm

vụ, nghĩa vụ của những thành viên trong công tác thanh tra và đối tượng thanh tra

Trang 35

nhằm hoạt động ngày một hiệu quả.

Tổ chức công việc: là tổ chức nắm bắt các thông tin phục vụ cho công tác

thanh tra, kiểm tra Xem xét phân tích sơ bộ các nội dung có liên quan đến đơn vịđược thanh tra để xác định hình thức, quy mô, phạm vi thời gian thanh tra Đây là

cơ sở ban đầu giúp cho trưởng đoàn thanh tra phân định nhiệm vụ của mỗi thànhviên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình với chất lượng cao nhất

Công việc liên quan đến công tác thanh tra thuế được hình thành trong mốiliên hệ chặt chẽ với các chủ thể trong công tác quản lý thuế, bao gồm: Lãnh đạo cáccấp, các công chức thuế và đối tượng thanh tra Để làm tốt công tác tổ chức côngviệc trong công tác thanh tra thuế phải luôn quan tâm tới quá trình sắp xếp nhân sự

Bố trí hợp lý cán bộ vào từng vị trí phù hợp với nội dung công việc của công tácthanh tra sẽ đảm bảo hiệu quả công việc đạt được mức độ tối đa

Nội dung thanh tra thuế: Căn cứ vào kế hoạch thanh tra thuế, nhóm phân tích

phải thực hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơquan thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tàichính thông tin, các nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc nhữngnội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung vềdoanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết,đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhậncông nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua ) Việc kiểm tra, đối chiếu số liệutổng hợp tại trụ sở của NNT được thực hiện tuỳ theo phạm vi, quy mô, nội dungcuộc thanh tra Nội dung thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệptập trung vào những vấn đề chủ yếu sau: Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng

ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn ; Kiểm tra đối chiếutài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của doanh nghiệp; Kiểm traviệc mở sổ sách và tính hợp pháp

Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu, hồ

sơ liên quan khác

Phương pháp thanh tra thuế: Để công tác thanh tra thuế mang lại hiệu quả

cao, các nội dung thanh tra được quan tâm một cách toàn diện, cán bộ thanh tra phải

Trang 36

có phương pháp thanh tra, tùy theo từng nội dung thanh tra để áp dụng các phươngpháp thanh tra khác nhau, các phương pháp thường sử dụng là: Phương pháp đối

chiếu, so sánh; Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết; Phương pháp kiểm

tra chứng từ gốc; phương pháp kiểm tra bổ trợ; phương pháp thanh tra thuế trên cơ

sở kỹ thuật quản lý rủi ro để thanh tra

Thứ tư, Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra thuế

Giám sát là chức năng cơ bản và rất quan trọng, là cơ sở để người ra quyếtđịnh thanh tra theo dõi, đánh giá hoạt động của Trưởng Đoàn thanh tra, thành viênĐoàn thanh tra trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra, chấp hành pháp luật vềthanh tra, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức và ý thức chấp hành kỷ luật củathành viên Đoàn thanh tra; nắm bắt kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quátrình thanh tra để có biện pháp chấn chỉnh, giải quyết Trong quá trình giám sát nếuphát hiện thấy những biểu hiện không bình thường trong hoạt động của Đoàn thanhtra thì người ra quyết định thanh tra sẽ tiến hành kiểm tra hoạt động đoàn thanh tra.Việc giám sát hoạt động Đoàn thanh tra giúp cho người ra quyết định thanh tra nắmđược những sai sót thường hay gặp trong quá trình hoạt động của Đoàn thanh tra từ

đó sẽ có kế hoạch kiểm tra chính xác, kịp thời

Giám sát và kiểm tra mặc dù có phương thức khác nhau song có mối quan hệchặc chẽ với nhau và là một quá trình quản lý hoạt động của Đoàn thanh tra Xét vềmặt chủ thể người ra quyết định thanh tra là chủ thể chính của hoạt động giám sát,kiểm tra Thực chất đây là một quá trình của hoạt động quản lý của người được traoquyền lực nhà nước đối với đối tượng bị quản lý Mục tiêu chung là đảm bảo chínhsách pháp luật của nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh, xây dựng đội ngũ cán

bộ thanh tra có phẩm chất đạo đức cách mạng, bảo đảm xây dựng bảo đảm sự trongsạch vững mạnh của bộ máy nhà nước

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

Trang 37

Quản lý thu thuế là một hoạt động có liên quan đến mọi mặt đời sống kinh tế

-xã hội của một đất nước, tất cả các tầng lớp dân cư trong -xã hội, các địa bàn củamột quốc gia; ở đâu có hoạt động kinh tế (mua bán hay cung cấp dịch vụ) hay cóthu nhập đối với một tổ chức, cá nhân thì ở đó có hoạt động quản lý thu thuế và đốivới hoạt động quản lý thu thuế thì công tác thanh tra thuế là quan trọng hàng đầu.Bởi vậy để thực hiện tốt công tác quản lý thuế nói chung và công tác thanh tra thuếnói riêng thì môi trường xã hội, môi trường pháp lý nói chung hay về thuế nói riêngphải luôn luôn được hoàn thiện các thể chế quản lý kinh tế và xã hội có liên quanphải được ban hành và thực hiện một cách đồng bộ

Một số nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng và tác động tới công tác quản lý thu thếcũng như công tác thanh tra thuế như sau:

Thứ nhất, các nhân tố về thể chế chính trị

Định hướng của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội:

Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, để phù hợp với bối cảnh tình hình trongnước và Quốc tế, điều kiện tự nhiên xã hội của mỗi quốc gia dân tộc, Nhà nước (chínhphủ) có định hướng phát triển kinh tế xã hội cho quốc gia mình Ngày nay, chúng tađang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng.Chính từ những quan điểm và định hướng của nhà nước đã trở thành yếu tố ảnh hưởngtới việc hoàn thiện cơ chế thanh thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp Tácđộng ảnh hưởng đó cũng chính là tất yếu khách quan làm cho cơ chế thanh tra thuếphải được đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn

Chính sách pháp luật của Nhà nước và hệ thống chính sách pháp luật thuế:

Chính sách pháp luật của Nhà nước và hệ thống chính sách pháp luật thuế làcăn cứ, là cơ sở pháp lý để thực hiện việc thanh tra thuế Để công tác thanh tra thuếđược thuận lợi thì các chính sách quản lý phải được ban hành đồng bộ, đơn giản vàphù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước và triển khai thực hiện tốt, hệthống chính sách thuế cần phải được thiết lập một cách thống nhất, nội dung các sắcthuế phải rõ ràng, minh bạch Bên cạnh đó, tính ổn định của chính sách pháp luật

Trang 38

của nhà nước và hệ thống chính sách pháp luật về thuế cũng tác động lớn đến việc thựchiện nhiệm vụ của cán bộ thuế nói chung và của cán bộ làm công tác thanh tra thuế nóiriêng và cũng ảnh hưởng không nhỏ đến Người nộp thuế Hệ thống chính sách phápluật của nhà nước và hệ thống chính sách pháp luật về thuế liên tục sửa đổi, bổ sung cóthể phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, phù hợp với các chính sách vĩ mô của nhànước nhưng lại có mặt trái là dễ gây chồng chéo, phức tạp, khó theo dõi nắm bắt đây lànhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tuân thủ pháp luật của Người nộp thuế và gâykhó khăn cho công tác quản lý thuế cũng như công tác thanh tra thuế

Thứ hai, các nhân tố về thể chế kinh tế

Về môi trường kinh tế: Nền kinh tế nước ta hiện tại là nền kinh tế thị trường sơ

khai với những đặc diểm cơ bản: thị trường thiếu đồng bộ, thị trường đầu ra của sảnxuất đã hình thành cơ bản, song thị trường các yếu tố đầu vào còn hết sức bất cập,đặc biệt là thị trường vốn, thị trường lao động trí tuệ, thị trường bất động sản; cácgiao dịch thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế còn chiếm tỷ trọng quá lớn vừagây khó khăn chokế hoạch hóa cung tiền vào giao thông, vừa tốn kém, vừ khó kiểmsoát thu nhập, tạo điều kiện tiêu cực trong kinh tế; ý thức chấp hành pháp luật củacác chủ thể kinh tế còn nhiều hạn chế muốn thanh tra thuế có hiệu quả đòi hỏi cơchế thanh tra thuế phải ứng phó được với những đặc điểm của kinh tế thị trường sơkhai theo từng thời kỳ lịch sử cụ thể Mặt khác, do nền kinh tế đang trên đà chuyểndịch cơ cấu nên nó đòi hỏi cơ chế thanh tra nói chung và cơ chế thanh tra thuế củaTổng cục thuế đối với doanh nghiệp nói riêng cũng phải thay đổi thích ứng theo yêucầu của cơ cấu kinh tế mới

Như vậy, đặc điểm nền kinh tế thị trường sơ khai và nền kinh tế đang trên đàchuyển dịch cơ cấu cũng ảnh hưởng tới việc hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế củaTổng cục thuế đối với doanh nghiệp

Về hội nhập kinh tế quốc tế: Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nguồn vốn

đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng lớn, hoạt động của các công ty đa quốcgia ngày càng mở rộng và các hình thức giao dịch liên kết, chuyển giá càng pháttriển tinh vi, hoạt động thương mại điện tử liên quốc gia với nhiều phương thức

Trang 39

kinh doanh mới, khó lường; đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện hệ thống thanh trathuế chuyên sâu, chuyên nghiệp, hiện đại, từng bước hình thành đội ngũ chuyên giathanh tra thuế quốc tế.

Thứ ba, năng lực thanh tra thuế của Tổng cục thuế

Trình độ của cán bộ thanh tra thuế: Để công tác thanh tra đạt hiệu quả cao

thì nhất thiết cán bộ làm công tác thanh tra, phải được tuyển chọn và đào tạo một cáchchuyên sâu, có những phẩm chất, tư cách vững vàng, kiên định, có trình độ chuyênmôn và năng lực công tác, phải đáp ứng được yêu cầu quản lý, phù hợp với nền kinh tế

- xã hội, biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, biết tận dụng những thành tựu đạt được

và kinh nghiệm của các nước Nếu như ngược lại thì chất lượng của công tác thanh tra

sẽ bị hạn chế rất nhiều, gặp khó khăn trong việc phát hiện và có biện pháp ngăn chặnkịp thời các hành vi gian lận trong việc tính thuế, kê khai thuế

Các công cụ, phương tiện tiến hành thanh tra: Hoạt động thanh tra có những

đặc thù riêng, vì phải tiếp xúc với mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội, thường phải đốimặt với những hành vi vi phạm, những âm mưu thủ đoạn tinh vi Do đó đòi hỏi cán

bộ thanh tra phải hết sức cẩn thận, phải có điều kiện làm việc thích hợp như: Cơ sởvật chất kỹ thuật, hệ thống thanh tra thuế phải được trang bị đồng bộ về hệ thống máytính, mỗi cán bộ thanh tra cần một máy vi tính, khai thác mạng nội bộ, kết nốiinternet, kết nối với hệ thống mạng của các cơ quan liên quan (Hải quan, Công an,Ban quản lý các dự án, Kho bạc ) kết nối mạng toàn ngành thuế đảm bảo cho việcthu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, kịp thời để phục vụ tốt công tác thanh tra

Thứ tư, sự phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan

Thông qua sự phối hợp giữa Cơ quan thuế và các cơ quan khác có liên quanthì quá trình xử lý nghiệp vụ sẽ tiếp nhận được nhiều thông tin có tính chất đầy đủhơn, toàn diện hơn Từ đó ra quyết định quản lý chính xác hơn

Hoạt động của các cơ quan pháp luật (Công an, Viện kiểm sát ) có tác dụngtạo điều kiện cho tính tuân thủ của doanh nghiệp được nâng lên Các cơ quan đó sẽ

đề ra các biện pháp hữu hiệu để phát triển kịp thời các hành vi vi phạm về thuế và

xử lý đúng các trường hợp không tuân thủ pháp luật

Trang 40

Các cơ quan sẽ chia sẻ, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm xử lý những vấn đềtương tự, giúp nhau các phương tiện hỗ trợ công việc làm giảm chi phí trong côngtác nghiệp vụ.

1.2.4 Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp

Thanh tra về thuế là một phạm trù lịch sử gắn liền với sự tồn tại và phát triểncủa Nhà nước nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị Nhà nước thực hiệnquản lý kinh tế - xã hội thông qua việc đề ra hệ thống luật lệ, các chính sách, chế độquản lý để điều chỉnh các quan hệ và cưỡng chế các pháp nhân, thể nhân trong xãhội phải tuân thủ Trong điều kiện đó, thanh tra là hết sức cần thiết để đảm bảo phápluật Nhà nước được thực thi nghiêm minh, quyền và lợi ích Nhà nước, của công dânđược đảm bảo Ở nước ta, hoàn thiện cơ chế thanh tra về thuế là một đòi hỏi bứcthiết, là yêu cầu khách quan xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ những bất cập của cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp hiện nay

Do cơ chế thanh tra thuế của Tổng cục thuế đối với doanh nghiệp tỏ ra kémhiệu quả Tình trạng hệ thống pháp luật và các chính sách của nhà nước về thanh trathuế còn nhiều bất cập, còn đang trong quá trình cải cách, chưa thật hoàn chỉnh, cóquá nhiều thay đổi, bổ xung để đồng bộ các sắc thuế hiện hành Việc ban hành mớicác sắc thuế, có sự chú trọng tới đối tượng, mức độ và thời điểm áp dụng phù hợpvới điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, đảm bảo ổn định sản xuất, tăng nguồnthu trong nước, mở rộng diện thuế trực thu trong tổng số thuế Bởi vậy, công tácquản lý thuế nói chung và công tác thanh tra thuế nói riêng cần được hiện đại hoátoàn diện cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũcán bộ, áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin để nâng cao hiệu lực, hiệu quả côngtác quản lý, kiểm soát cho được tất cả các doanh nghiệp, hạn chế thấp nhất mức thấtthu thuế

Thứ hai, ảnh hưởng của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế làm cho nền kinh tế trong nước phát triển

Ngày đăng: 05/10/2014, 19:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế - hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của tổng cục thuế đối với doanh nghiệp
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế (Trang 58)
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức chức năng thanh tra, kiểm tra thuế - hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của tổng cục thuế đối với doanh nghiệp
Sơ đồ 2.2 Mô hình tổ chức chức năng thanh tra, kiểm tra thuế (Trang 59)
Bảng 2.1. Một số tỷ suất thường dùng trong phân tích báo cáo tài chính - hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của tổng cục thuế đối với doanh nghiệp
Bảng 2.1. Một số tỷ suất thường dùng trong phân tích báo cáo tài chính (Trang 68)
Bảng 2.2. Tổng hợp kết quả thanh tra thuế từ năm 2007 đến năm 2010 - hoàn thiện cơ chế thanh tra thuế của tổng cục thuế đối với doanh nghiệp
Bảng 2.2. Tổng hợp kết quả thanh tra thuế từ năm 2007 đến năm 2010 (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w