Cũng như các dân tộc ít người khác phụ nữ dân tộc Dao có cuộc sống rất vất vả, không có quyền quyết định các công việc trong gia đình, mặc dù họ là lao động chính.. Xuất phát từ tính cấp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -
VŨ THỊ HẢI ANH
Tên đề tài:
“vai trò của phụ nữ dân tộc dao trong xoá đói giảm nghèo
ở huyện phú lương tỉnh thái nguyên”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60 - 31 - 10
Người hướng dẫn: TS Bùi Đình Hoà
Thái Nguyên, năm 2011
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2- -
VŨ THỊ HẢI ANH
Tên đề tài:
“vai trò của phụ nữ dân tộc dao trong xoá đói giảm nghèo
ở huyện phú lương tỉnh thái nguyên”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Vũ Thị Hải Anh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên; cán bộ trạm Khuyến Nông, chi cục Thống Kê huyện Phú Lương cùng cán bộ và cộng đồng người Dao tại xã Yên Ninh, Yên Đổ, Động Đạt đã giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo TS Bùi Đình Hòa -
người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 30 tháng 6 năm 2011
Tác giả
Vũ Thị Hải Anh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9 HĐSXKD Hoạt động sản xuất kinh doanh
10 HQKT-XH Hiệu quả kinh tế - xã hội
18 NHNN & PTNT Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
21 PTKT-XH Phát triển kinh tế xã hội
25 TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Loài người đã bước sang thế kỷ 21 với biết bao thành tựu, song đói nghèo vẫn đang là vấn đề được toàn thế giới quan tâm Hiện nay với gần 7 tỷ người trên thế giới thì có 1,7 tỷ người đang sống trong nghèo khổ, nhiều hơn nhiều so với ta nghĩ trước đây, với mức thu nhập 1,25 đô la Mỹ/người/ngày Việt Nam được xếp thứ 137 trên thế giới[46]
Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã và đang là chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước ta, trong đó vùng núi phía Bắc được Nhà Nước quan tâm đặc biệt
Tỷ lệ hộ nghèo đói theo chuẩn quốc tế trong cả nước đã giảm liên tục từ 60% năm 1990 xuống 58% năm 1993, 37% năm 1998, 32% năm 2000, 29% năm
2002, 22% năm 2005, xuống còn 9,45% năm 2010 và ước tính sẽ tiếp tục giảm còn khoảng 4%-5% vào năm 2020 Việt Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về XĐGN Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) đã chỉ ra rằng, Việt Nam đã đạt được tăng trưởng bền vững đối với hạ tầng cơ sở ở nông thôn, người dân có cơ hội tiếp cận tốt hơn để đa dạng hóa các nguồn thu nhập Tuy nhiên, sự tiến bộ tại nhiều vùng dân tộc thiểu số còn chậm, nghèo đói ở Việt Nam nói chung và ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số nói riêng vẫn còn là một thách thức lớn[40]
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tỷ lệ đói nghèo cao và trở lực ngăn cản phát triển là do bất bình đẳng (BBĐ) giới vẫn tồn tại phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống và trên khắp thế giới Bản chất và mức độ phân biệt đối xử giữa nam giới và phụ nữ ở các nước và các khu vực khác nhau rất xa
Địa vị kinh tế, xã hội (KT-XH) của phụ nữ thấp hơn so với nam giới đã hạn chế khả năng của họ trong việc tác động đến các quyết định ở cộng đồng, cũng như ở quốc gia Dường như sự đóng góp của người phụ nữ lại chưa được
Trang 8ghi nhận một cách xứng đáng, chưa tương xứng với vị trí và vai trò của họ trong nền kinh tế, trong quan hệ xã hội (XH) và trong đời sống gia đình
Việc tạo cơ hội tiến tới “bình đẳng nam nữ” và được hưởng những chính
sách ưu đãi giành riêng cho phụ nữ để họ được hòa nhập với thế giới và văn minh hiện đại là vấn đề rất cần thiết Nó là những bức xúc, trăn trở của không ít các nhà hoạch định chính sách Vì thế, nâng cao bình đẳng giới, giảm khoảng cách trong cơ hội tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, trong các cơ hội kinh tế là một phần trong chiến lược phát triển, nhằm tạo khả năng cho tất cả mọi người,
cả nam giới và phụ nữ có thể thoát khỏi cảnh nghèo đói và nâ ng cao mức sống Phú Lương là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với đại đa số các xã thuộc diện chương trình 135 của Chính Phủ, tỷ lệ hộ nghèo cao chiếm 14,31% (2010) Đây cũng là khu vực sinh sống của 46.210 đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 43,91% tổng dân số của huyện Phú Lương), trong số này phụ nữ chiếm 49,90% Lực lượng này đã và đang có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của
hộ gia đình cũng như phát triển kinh tế xã hội (PTKTXH) của huyện trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH)
Dân tộc Dao là một dân tộc ít người, chiếm 2,08% dân số toàn tỉnh và đứng thứ 6 trong các dân tộc của tỉnh Thái Nguyên[31], nguồn thu nhập chính của họ là từ sản xuất (SX) nông lâm nghiệp Cũng như các dân tộc ít người khác phụ nữ dân tộc Dao có cuộc sống rất vất vả, không có quyền quyết định các công việc trong gia đình, mặc dù họ là lao động chính Do vậy, việc tạo cơ hội
tiến tới “bình đẳng nam nữ” cho phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ dân tộc Dao trong
XĐGN ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên là vấn đề hết sức cần thiết
Xuất phát từ tính cấp thiết trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những khó khăn đang cản trở sự tiến bộ của họ, những người có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động XĐGN, trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế (PTKT) nông thôn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 92 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu chung
Nghiên cứu vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN
Tìm ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ dân tộc Dao khu vực nông thôn phát huy thế mạnh, khai thác các nguồn lực để PTKT nhằm mục đích tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình đồng thời góp phần nâng cao vai trò của họ trong XĐGN của địa phương
* Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề “giới”; “dân tộc thiểu số”, “nghèo đói” Vị trí, vai trò khả năng đóng góp của phụ nữ nói chung và phụ
nữ dân tộc Dao nói riêng trong hoạt động XĐGN
- Phân tích, đánh giá thực trạng và vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN ở huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua
- Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò và khả năng đóng góp của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động XĐGN
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN, góp phần vào sự PTKT gia đình và KT-XH trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên trong những năm tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động XĐGN trên địa bàn huyện Phú Lương-tỉnh Thái Nguyên trong các điều kiện kinh tế khác nhau
* Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Phú Lương - tỉnh
Thái Nguyên Trong đó tập trung tại 3 xã đại diện cho đồng bào dân tộc Dao của huyện Phú Lương: Yên Ninh, Yên Đổ và Động Đạt
- Về thời gian: Số liệu thu thập trong 3 năm từ năm 2008 - 2010 và số liệu điều
tra năm 2010
Trang 104 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài giúp cho việc hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt kiến thức đó phục vụ cho thực tiễn cuộc sống Đồng thời giúp cho việc tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn
Đây là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp cho huyện Phú Lương xây dựng giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong hoạt động XĐGN, đồng thời thực hiện hiệu quả đề án PTKT-
XH 5 năm của huyện Phú Lương trong giai đoạn 2011-2015 và chiến lược
PTKT-XH 10 năm giai đoạn 2011-2020
5 Bố cục của đề tài
Đề tài bao gồm 2 phần và 3 chương
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng về vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong XĐGN ở huyện Phú Lương
Kết luận và kiến nghị
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Lý luận chung về giới tính và giới
Một số khái niệm
- Giới tính (Sexual): Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ
giới và nam giới[19]
- Giới (Gender): Là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới
trên cả khía cạnh sinh học và xã hội[2],[19]
Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là các nước nói tiếng Anh,
vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX cho đến thế những thập kỷ 80 nó được xuất hiện tại Việt Nam
Giới là yếu tố luôn luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong XH của nữ giới và nam giới không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi
Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, XH cụ thể
Giới là sản phẩm của xã hội, có tính XH, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ giữa nam và nữ, nó là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và nâng cao địa vị của người phụ nữ trong XH
Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác nhau về giới và giới tính
* Những đặc điểm cơ bản của giới tính
- Tính bẩm sinh: Về phương diện sinh lý thì nam giới và nữ giới khác nhau ngay
từ trong bào thai Đó là những đặc điểm xác định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn của con người Nó ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản Chức năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch cho nhau
Trang 12- Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới đều có cấu tạo về mặt sinh lý giống
nhau, tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình thụ thai như nhau
- Tính không đổi: Về phương diện sinh lý chức năng sinh sản của nữ giới hay
nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau được Sự khác biệt về giới tính là bất biến cả về thời gian cũng như không gian[2],[19]
- Tính do dạy và học mà có: Đứa trẻ phải học để làm con trai hoặc con gái Bắt
đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được dạy dỗ tuỳ theo là con trai hay con gái Đó là sự khác biệt về quần áo, đồ chơi, màu sắc, cách nói năng, thái độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha, mẹ, anh chị
- Tính đa dạng: Giới thể hiện những đặc trưng của những quan hệ XH giữa nữ
giới và nam giới cho nên rất đa dạng Địa vị của người nữ giới trong XH Việt Nam khác xa so với địa vị của người nữ giới ở các nước Hồi giáo Địa vị của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống nữ giới thành thị
- Tính luôn biến đổi: Quan hệ giới luôn luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của
các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán…
- Tính có thể thay đổi được: Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực XH là hoàn
toàn có thể thay đổi được Quan niệm “bếp núc” là thiên chức của nữ giới đang
được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi, các thợ giặt tinh xảo là nam giới Trong nhiều gia đình hạt nhân khi cả vợ và chồng đều tham gia tích cực vào quá trình SX tạo thu nhập thì nam giới cũng đang tích cực tham gia vào công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc con cái… [2],[19]
* Nguồn gốc và những khác biệt về giới
Nam giới và nữ giới là 2 nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho việc tái SX con người và XH Sự khác biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và XH
Trang 13Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái Đó là
sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố, mẹ Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
Phụ nữ được xem là phái yếu Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác hơn nam giới
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Đặc trưng về giới này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động SX, vào công việc XH và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Điều này làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong XH Để thay đổi quan hệ giới và các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong XH về giới và quan hệ giới Hơn nữa, nam- nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin XH Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội đi học tập, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, tiếp cận và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài XH khác nhau, từ tác động của định kiến XH, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau
Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên BBĐ trong XH Trong nhiều năm gần dây, hầu hết các nước trên thế giới đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ trong gia đình và trong XH, kết quả là thực
hiện các mục tiêu "bình đẳng nam nữ" để giải phóng sức lao động và xây dựng
củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiên mức độ bình đẳng đó tùy thuộc vào từng quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của sự phát triển đối với mỗi nước trên thế giới[2],[19]
Các vai trò giới
Trang 14- Vai trò sản xuất: Là các hoạt động tạo ra của cải vật chất và tinh thần để tạo
ra thu nhập hoặc để tự nuôi sống Vai trò SX bao gồm cả những công việc mà nam giới và nữ giới làm để lấy công hoặc tiền, hoặc bằng hiện vật Nó bao gồm
cả SX hàng hoá có giá trị trao đổi và SX vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia vừa có
ý nghĩa sử dụng, nhưng cũng có ý nghĩa trao đổi tiềm năng Khi tư tưởng phụ hệ
cố gắng thúc đẩy hình mẫu phổ biến về đàn ông là người giữ vai trò chủ đạo trong SX thì thực tế lại không sản sinh ra hình mẫu đó[19]
- Vai trò tái sản xuất: Vai trò tái SX bao gồm trách nhiệm sinh đẻ, nuôi con và
các công việc nội trợ trong gia đình để duy trì và tái SX sức lao động Vai trò này không chỉ bao gồm sự tái SX sinh học mà còn cả chăm lo và duy trì lực
lượng lao động (LLLĐ) hiện tại và tương lai Khái niệm “tái SX sinh học” chỉ ngụ ý cứng nhắc vào việc sinh con, thì thuật ngữ “tái SX sức lao động” lại mở
rộng hơn Thuật ngữ này bao gồm việc chăm sóc, XH hoá và nuôi dưỡng cá nhân trong suốt cuộc đời, để đảm bảo sự kế tục của XH đến thế hệ sau[19],[25]
- Vai trò cộng đồng:
+ Vai trò quản lý cộng đồng: Là các hoạt động ở cấp độ cộng đồng như sự
mở rộng vai trò tái SX Đó là các công việc nhằm đảm bảo và duy trì các nguồn lực
để sử dụng chung như nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng bản, tham dự các đám hiếu hỉ…Đây là những công việc tự nguyện, không được trả tiền và thường làm vào thời gian rảnh rỗi
+ Vai trò chính trị cộng đồng: Gồm những hoạt động ở cấp cộng đồng
trong thể chế chính trị quốc gia Những hoạt động này thường do nam giới thực hiện, được trả công trực tiếp bằng tiền, hoặc gián tiếp làm tăng vị thế và quyền lực của họ[19],[25]
Nhu cầu giới và lợi ích giới
- Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ
những điều kiện cụ thể Nó xuất phát từ các công việc và hoạt động thực tại của
Trang 15phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình
- Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu giới chiến lược): Là những nhu cầu của phụ
nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị XH của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo chiều hướng bình đẳng hơn[1],[19]
Nghiên cứu nghèo đói từ góc độ giới phải trả lời các câu hỏi sau:
+ Quan hệ giới có tác động đến nghèo đói như thế nào?
+ Có hay không sự khác biệt giữa nam và nữ về mức độ nghèo đói?
+ Quan hệ giới có chi phối các nguyên nhân và yếu tố dẫn đến sự nghèo đói của phụ nữ và nam giới hay không?
+ Quan hệ giới khi được điều chỉnh sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng nghèo đói và công tác giảm nghèo?
Bình đẳng giới
Trong báo cáo của WB, bình đẳng giới được xem xét theo nghĩa bình đẳng về phát luật, về cơ hội Bao gồm bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực SX khác; bình đẳng trong thù lao công việc và trong tiếng nói[5],[19],[25]
nữ và nam giới Từ kết quả phân tích có thể đưa ra những biện pháp điều chỉnh
và bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội (HQKTXH) của dự án thông qua việc đảm bảo lợi ích của phụ nữ và nam giới[5],[19],[25]
Trang 16 Công cụ phân tích giới
Các công cụ phân tích giới cho phép xem xét, đánh giá, xác định nguyên nhân của các vấn đề và khoảng cách giới trên thực tế Từ đó cho phép nhà nghiên cứu và người lập kế hoạch đề xuất biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách giới và những bất cập trên thực tế, nhằm đáp ứng tốt hơn vai trò của phụ nữ và nam giới thông qua các hoạt động hay tác động cụ thể[5],[19],[25]
- Phân công lao động (PCLĐ) theo giới: Nó trả lời cho câu hỏi ai đang làm gì?
Phân tích PCLĐ theo giới cho phép chỉ ra những khác biệt và bất hợp lý từ góc
độ giới trong công việc, lợi ích và địa vị XH của phụ nữ và nam giới
PCLĐ theo giới có thể thực hiện ở nhiều cấp như gia đình, cộng đồng, tại một tổ chức hoặc ở cấp vĩ mô Trong các hoạt động giảm nghèo nó được sử dụng chủ yếu để xem xét các hoạt động ở cấp độ gia đình và cộng đồng
- Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và lợi ích: Trả lời cho câu hỏi ai có gì
và ai được hưởng lợi? Tiếp cận là sử dụng các nguồn lực và lợi ích, kiểm soát là
khả năng quyết định hoặc tham gia quyết định cách thức sử dụng nguồn lực và lợi ích đó
Tiếp cận và kiểm soát cho phép chỉ ra những vấn đề mà phụ nữ và nam giới gặp phải trong việc sử dụng các nguồn lực, trong việc hưởng thụ các lợi ích do
dự án mang lại, cũng như xác định những tác động khác nhau của dự án
Cho phép phát hiện những chênh lệch bất hợp lý về phân bố nguồn lực từ góc độ giới Là cơ sở đưa ra những gợi ý thay đổi và cải tiến các hoạt động của dự án nhằm khắc phục những bất hợp lý đối với mỗi giới
- Mô hình ra quyết định: Trả lời cho câu hỏi ai có tiếng nói và ai ra quyết
định? Các quyết định ở đây liên quan đến việc sử dụng và phân bổ nguồn lực
của gia đình, của cộng đồng và XH Công cụ này giúp ta hiểu thêm quá trình ra quyết định diễn ra như thế nào? Ai tham gia vào quá trình này, phụ nữ có được
Trang 17tư vấn như nam giới không? Ý kiến của họ có được lắng nghe không? Ai là người ra các quyết định và các quyết định đó có tác động đến cuộc sống của phụ
nữ và nam giới như thế nào?
1.1.1.2 Lý luận chung về dân tộc và dân tộc thiểu số
* Khái niệm về dân tộc
- Nước Việt Nam ta, dùng khái niệm dân tộc thiểu số và đa số Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số
- Dân tộc Việt Nam là tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc[29],[49]
* Thành phần
Các dân tộc ở Việt Nam đã xuất hiện và hình thành trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Dân số Việt Nam gồm 54 dân tộc Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh (Việt), chiếm 86,2% dân số Các dân tộc thiểu số đông dân nhất: Tày, Thái, Mường, Khmer, Hoa, Nùng, Hmông, Dao, Giarai, Êđê, Chăm, Sán Dìu Đa số các dân tộc này sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa ở miền Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long Cuối cùng là các dân tộc Brâu,
Ơ Đu và Rơ Măm chỉ có trên 300 người[29],[49]
1.1.1.3 Lý luận chung về nghèo
Một số khái niệm về nghèo
Trang 18Có nhiều quan niệm nghèo của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác của nghèo đói Song quan niệm thống nhất cho rằng:
"Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu
để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định”[3],[25],[48]
Tại hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ Ban KT-XH Khu Vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc-Thái Lan, tháng 9 năm 1993,
các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: "Nghèo đói là tình trạng của
bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con nguời mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ PTKT-XH, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được XH thừa nhận"[4],[34]
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith chia sẻ quan niệm này: "Con người
bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ ngay cả khi thích đáng để họ có thể tồn tại rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng Khi đó họ không thể
có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức"[4],[34],[48]
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển XH tổ chức tại Copenhagen
Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa cụ thể hơn: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”[4],[34],[48]
Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) Ông
Abaplaen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”[34]
Chuẩn mực xác định nghèo đói của thế giới và Việt nam
Trang 19+ Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới
Phương pháp chung nhất mà các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu để đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người Trước hết người ta tính nhu cầu chi tiêu cho lương thực thực phẩm (LTTP) (thông thường tính rõ ràng khoảng 40 mặt hàng), tuỳ theo cách đánh giá của từng tổ chức, quốc gia để bình quân hàng ngày của một người có được 2.100 Kcal, thông thường chi cho LTTP chiếm 60 - 65% tổng chi tiêu, tiếp đến người ta tính mức chi tiêu cho các nhu cầu phi LTTP chiếm khoảng 35 - 40% tổng chi tiêu kinh tế càng phát triển thì tỷ trọng chi cho nhu cầu LTTP ngày một giảm Vì thế việc chi cho nhu cầu phi LTTP ngày một tăng Tổng chi cho LTTP và phi LTTP được gọi là đường nghèo hay là chuẩn nghèo Để tiện cho việc điều tra khảo sát, tính toán và đánh giá người ta chuyển từ nhu cầu chi tiêu sang mức thu nhập Những người có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo được xếp vào nhóm người nghèo, còn những ai có thu nhập thấp hơn mức chi tiêu cho LTTP thì được xếp vào nghèo về LTTP Một điều đáng lưu ý là khi xác định người nghèo phải gắn với thu nhập bình quân của HGĐ, tuy vậy tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với
tỷ lệ người nghèo Thông thường trong một quốc gia, tỷ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ hộ nghèo, vì quy mô hộ của nhóm hộ nghèo thường lớn hơn
hộ không nghèo[3],[4]
Chuẩn nghèo là một khái niệm động, biến động theo không gian và thời gian Về không gian, nó biến đổi theo trình độ PTKT-XH của từng vùng, từng quốc gia Ví dụ như ở Việt Nam, chuẩn nghèo thay đổi theo vùng sinh thái khác nhau, đó là vùng đô thị, vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi[3], [4] Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến động theo trình độ PTKT-XH và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, vì KT-XH phát triển thì đời sống con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo[3],[4]
Trang 20Tuy nhiên trên thế giới người ta cũng dựa vào thu nhập hay sức mua tương đương quy đổi về giá chung thành USD và phân thành 6 mức như sau:
- Trên 25.000 USD/người/năm: nước cực giàu
- Từ 20.000 USD đến 25.000 USD/người/năm: nước giàu
- Từ 10.000 đến 20.000 USD/người/năm: nước khá, giàu
- Từ 2.5000 đến 10.000 USD/người/năm: nước trung bình
- Từ 500 đến 2.500 USD/người/năm: nước nghèo
- Dưới 500 USD/người/năm: nước cực nghèo[3],[4]
Theo quan niệm trên, WB đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau[3],[4]:
+ Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày
+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng đưa ra
+ Chuẩn mực xác định nghèo đói ở Việt Nam
Ở nước ta vấn đề nghèo đói được nhận thức đúng đắn, kịp thời và vấn đề
XĐGN được giải quyết thông qua các phong trào của nhân dân và chương trình quốc gia về XĐGN, thành lập Ban chỉ đạo XĐGN từ trung ương đến địa phương
và đã xây dựng các hệ thống chỉ tiêu xác định nghèo đói cho từng giai đoạn cụ thể theo thu nhập bình quân đầu người Gồm 5 giai đoạn, trong đó giai đoạn
2006-2010 được sử dụng trong quá trình làm đề tài
Bảng 1.1: Chuẩn mực xác định nghèo giai đoạn 2006-2010 và
2011-2015 của Bộ Lao động TB&XH
ĐVT: đồng
Trang 21Chỉ tiêu Địa bàn Thu nhập bình quân người/tháng
(Nguồn: Chuẩn mực xác định nghèo đói của Bộ Lao động-TB&XH)
Kể từ khi Việt Nam thực thi chương trình XĐGN giai đoạn 2005-2010 đến nay, tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước giảm xuống khá nhanh , từ 22% vào năm
2005 giảm xuống còn 9,45% năm 2010, đã vượt mục tiêu 10% đề ra của Quốc hội Theo chuẩn áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì nước ta có hơn 3 triệu hộ nghèo, 1,6 triệu hộ cận nghèo Sau 5 năm thực hiện, Chương trình 135-II được triển khai trên địa bàn của hơn 1.950 xã; gần 3.280 thôn, bản đặc biệt khó khăn của 369/690 huyện thuộc 50/63 tỉnh Kết quả là tỷ lệ hộ nghèo các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47% năm 2006 xuống còn 28,8% năm 2010[13]
Bảng 1.2: Chuẩn mực xác định nghèo giai đoạn 2006-2010 có điều chỉnh
theo trượt giá của Bộ Lao động TB&XH
Trang 22Giảm nghèo không chỉ là đủ ăn, đủ nhu cầu tối thiểu, giảm nghèo còn được hiểu rộng hơn là sử dụng tài sản để: tạo thu nhập, phương thức kiếm sống hoặc tồn tại; bảo đảm cho những lúc khó khăn; cải thiện khả năng thành công của cá nhân; chuẩn bị cho hế hệ sau; thúc đẩy việc lập kế hoạch và đầu tư dài hạn cho tương lai; tạo ra lợi ích của cá nhân trong suy nghĩ và hành động tập thể; để đạt được các tài sản khác[10]
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
1.1.2.1 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
a Vai trò của phụ nữ trong quản lý xã hội và cộng đồng
Bảng 1.3: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội qua các kỳ bầu cử
(Nguồn: Văn phòng Quốc Hội,2010)
Phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý và các công việc cộng đồng, điều này được chứng minh trong thực tế và trong nhiều nghiên cứu Ở
cơ quan quyền lực cao nhất tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội khoá Khoá XI (2002-2007) là 27,31% - đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ nhất Châu Á và thứ hai khu vực Châu Á Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội; Khoá XII
Trang 23(2007-2012) là 25,76%; tiến tới trên 30% trong khóa XIII[39] Ở các cấp địa phương phụ nữ hiện đại chiếm 16% số đại biểu hội đồng nhân dân cấp xã Hiện nay hầu hết các nữ đại biểu có trình độ từ đại học trở lên; nhiều đại biểu là những nhà khoa học, những người tiêu biểu trong giới văn hóa - nghệ thuật, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao; những nhà quản lý và doanh nghiệp giỏi
Có những đại biểu Quốc hội đã và đang giữ cương vị chủ chốt trong bộ máy của Đảng, của chính quyền các cấp, trong các đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội…họ luôn giữ được tín nhiệm trong nhân dân[39]
b Vai trò của phụ nữ trong gia đình
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phụ nữ là người làm chính trong các công việc tái SX của các hộ gia đình (HGĐ) ở nông thôn như: Công việc nội trợ, chăm sóc con cái, dạy dỗ và hướng dẫn con cái học tập, chăm sóc người già, người ốm trong gia đình Phụ nữ thường phải thức khuya, dậy sớm chuẩn bị công việc nội trợ từ 6-8 giờ trong ngày Nghiên cứu tại xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương và xã Mỹ Luông huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang của trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ cho thấy kết quả như sau:
Bảng 1.4 Người thường làm các công việc nhà
(Nguồn: Trung tâm NCKH về gia đình và phụ nữ,1996)
Nam giới hầu như không làm nội trợ tuy nhiên sự PCLĐ giữa vợ và chồng còn phụ thuộc vào công việc và thành phần nghề nghiệp của gia đình Trong đó gia đình trí thức có tỷ lệ nữ thực hiện công việc nội trợ thấp nhất là
Trang 2442%, gia đình công nhân 60%, gia đình nông dân 87% Còn tỷ lệ nam tương ứng
là 5%, 2,7% và 2,9% Có thể giải thích rằng gia đình có trình độ học vấn thì cơ hội bình đẳng trong PCLĐ giữa vợ và chồng lớn hơn Tuy nhiên, quan niệm phong kiến coi công việc nội trợ là của người phụ nữ còn khá nặng nề trong nhóm gia đình, ngay cả trong những trường hợp cả vợ và chồng cùng tham gia vào công việc này thì gánh nặng công việc vẫn đặt lên vai người phụ nữ Phỏng vấn các cặp vợ chồng thấy ngay cả trong gia đình bình đẳng thì người vợ vẫn đóng vai trò thực hiện, còn người chồng thì giúp hoặc chỉ đạo[16],[27]
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (năm 2008), phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và chăm sóc con cái, họ không có thời gian đọc báo, nghe đài, xem văn nghệ trong khi nam giới chỉ làm 7h/ngày Phụ nữ thành thị có điều kiện hơn do có những dịch
vụ và trang thiết bị gia đình tốt hơn nhưng thời gian dành cho công việc gia đình vẫn gấp 1,5 lần so với nam giới[16],[27]
c Vai trò của phụ nữ trong sản xuất
Có nhiều nghiên cứu về vai trò phụ nữ trong SX ở nhiều cấp độ và góc độ khác nhau, những nghiên cứu đó đều nhận định: Là LLLĐ quá bán ở nông thôn, phụ nữ đóng vai trò đáng kể trong đời sống hoạt động kinh tế hộ cũng như hoạt động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào SX Họ là người tham gia trực tiếp vào các hoạt động nông nghiệp, từ khâu cày, bừa, trồng, cấy, chăm sóc đến thu hoạch Ngoài ra họ còn tham gia vào việc lựa chọn phương án làm ăn của HGĐ: Chọn cây gì, giống nào, phân bón gì, nuôi con nào, tiêu thụ ở đâu…
Phụ nữ là người tham gia chính vào các khâu SX nông nghiệp Khâu làm đất nữ làm 56%, nam làm 9,8%; Khâu chọn giống, nữ làm 68,6%, nam làm 8,6%; khâu chăm sóc, cấy trồng, nữ làm 69,2%, nam làm 5,1%; phun thuốc sâu
nữ làm 63,6%, nam làm 13,6% Trong thu hoạch bán sản phẩm chủ yếu là do nữ đảm nhiệm (48,3% ở Cẩm An, 71,4% ở Hoà Phú và 49,1% ở Khánh Hoà lĩnh vực này do người vợ làm)[5],[6]
Trang 25Những nghiên cứu khác còn cho thấy, ở mỗi vùng, mỗi miền và điều kiện
cụ thể từng nơi mà vai trò của phụ nữ trong SX cũng thể hiện một cách khác nhau trong các khâu công việc
Ở nông thôn miền núi Bắc Thái cũ, LLLĐ nữ chiếm từ 45% đến 74,6% tổng số lao động Trong số lao động nữ có khoảng 21% là chủ hộ và 51,2% được quyền tham gia quản lý gia đình Điều đó chứng tỏ một số chị em phụ nữ dân tộc ít người vùng này có khả năng quản lý kinh tế hộ tự cung tự túc Phụ nữ không chỉ chiếm tỷ trọng cao trong LLLĐ mà còn được phân công thực hiện nhiều công việc trong trong hoạt động kinh tế HGĐ (Họ làm 70% công việc gia đình, 70% công việc đồng áng) Do đó năng suất và chất lượng lao động của họ
có tính chất quyết định đối với hiệu quả SX, là nguồn lực cho PTKT HGĐ[35]
d Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển
là GCNQSDĐ
Việc sửa đổi mẫu GCNQSDĐ (luật đất đai năm 2003) trong đó ghi tên cả
vợ và chồng hiện nay là một việc làm tích cực tạo thuận lợi cho phụ nữ trong việc tiếp cận vốn tín dụng Hiện nay tất cả các tỉnh nước ta đã và đang tiến hành đổi mẫu cũ lấy mẫu mới có tên cả vợ và chồng
Tiếp cận vốn
Phụ nữ hiện nay có thuận lợi hơn trước đây trong việc vay vốn tín dụng vì
có nhiều nguồn từ các tổ chức chính thống, phi chính thống Là người tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh (HĐSXKD) và cũng tham gia
Trang 26vào các quyết định PTKT của gia đình, do vậy phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn và tiết kiệm Thông qua sự uỷ thác của ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH), hội phụ nữ (HPN) các địa phương đã thực hiện việc cho vay vốn tới các hội viên kết hợp với việc kiểm soát sử dụng vốn và trả lãi
Tiếp cận với khoa học kỹ thuật
Sự tiếp cận khoa học kỹ thuật (KHKT) thông qua hệ thống khuyến nông (KN) Nhà nước và KN tự nguyện hoặc các chương trình, dự án đối với phụ nữ nông thôn là cần thiết nhưng gặp một số khó khăn Ngoài công việc SXKD, phụ
nữ còn phải làm công việc gia đình và tham gia vào các hoạt động khác Quỹ thời gian không cho phép họ tham gia các khoá tập huấn dài ngày hoặc ở xa vì thiếu phương tiện đi lại
Thường thì những kiến thức họ nhận được từ các khoá tập huấn có thể áp dụng ngay vì họ trực tiếp tham gia vào các HĐSXKD hay nuôi dạy con cái trong khi nam giới đến các khoá tập huấn thường không chú ý nghe hay tham gia bởi
họ nghĩ là họ biết hết Sau đó họ lại không truyền đạt những gì họ học được cho
vợ, con Những người phụ nữ có trình độ học vấn cao, có khả năng tiếp thu và
áp dụng tiến bộ kỹ thuật tốt hơn Tuy nhiên trình độ của phụ nữ nông thôn thấp khiến việc tiếp cận KHKT của họ bị hạn chế
Tiếp cận thông tin
Vì quá bận bịu với công việc nên việc tiếp cận với các nguồn thông tin của phụ nữ nông thôn còn khó khăn, chủ yếu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hội họp, ở chợ, những dịp gặp nhau hoặc vào thời gian cùng làm chung Điều kiện kinh tế của gia đình và trình độ học vấn của phụ nữ quyết định đến cơ hội tiếp cận thông tin, xử lý, chọn lọc thông tin của họ
e Vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định
Phụ nữ thường cùng chồng bàn bạc để ra quyết định về PTKT, mua sắm, chi tiêu trong gia đình, quyết định từ việc sinh con và học hành, nghề nghiệp của con cái Tuy nhiên thường người chồng đóng vai trò quyết định cao hơn người
Trang 27vợ, đặc biệt là quyết định trong các vấn đề XH, vì ý kiến của phụ nữ ít quan trọng hơn nam giới[26],[27]
1.1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của phụ nữ trong XĐGN
a Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ trong các HĐSXKD: mức độ tham gia
của phụ nữ trong HĐSXKD càng nhiều thì vai trò của họ trong PTKT HGĐ và XĐGN càng cao
b Dựa vào thu nhập do phụ nữ tạo ra so với nam giới: nếu chỉ dựa vào mức độ
tham gia của phụ nữ vào các HĐSXKD thì cũng chưa đủ để đánh giá vai trò của
họ trong PTKT HGĐ và XĐGN bởi tính chất công việc khác nhau tạo ra mức thu nhập khác nhau Do đó cần dựa vào chỉ tiêu thu nhập bình quân của phụ nữ
so với nam giới Phần trăm thu nhập do phụ nữ tạo ra càng lớn thì vai trò của họ càng được khẳng định trong gia đình họ Họ không chỉ chăm sóc con cái, chăm
lo nhà cửa mà còn mang lại thu nhập cho gia đình Ngày nay người phụ nữ có quyền tham gia vào các quyết định của gia đình, các công việc kinh doanh buôn bán Mặt khác phần trăm phụ nữ tham gia các hoạt động SX và gia đình thể hiện vai trò của họ trong việc nâng cao mức sống gia đình và của toàn XH
1.1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong XĐGN
Quan niệm về giới, những phong tục, tập quán trong xã hội: Lao động nữ
trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc gì, việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của chị em, hạn chế sự cống hiến của họ cho XH và gia đình Họ không thể đi xa, vắng nhà lâu ngày hay phó mặc việc nhà cho chồng và gia đình Gánh nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng nên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào SXKD và các hoạt động XH Chính sự tồn tại của những quan niệm,
hủ tục trên đã khiến nhiều chị em trở nên không mạnh bạo làm ăn, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp XH Như
Trang 28vậy quan niệm về giới, sự BBĐ nam nữ và phong tục tập quán đã là một nguyên nhân cơ bản cản trở sự tiến bộ và vai trò của lao động nữ trong PTKT[11], [12]
Trình độ học vấn, chuyên môn, KHKT phụ nữ còn nhiều hạn chế: Ở nông
thôn, đặc biệt là miền núi, phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin khoa học liên quan đến kiến thức, phát triển SX và chăn nuôi, trồng trọt gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian làm công việc này người phụ nữ dường như
có rất ít thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức XH mà họ phải dành phần lớn thời gian còn lại cho công việc của gia đình Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết Ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước Chỉ có 0,63% nữ công nhân kỹ thuật có bằng, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học chỉ là 0,016%, tỷ lệ này của nam là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ)[11],[12]
Yếu tố về tiếp cận vốn đầu tư:
Vốn là yếu tố vô cùng quan trọng trong XĐGN và PTKT HGĐ, tuy nhiên đây là yếu tố gặp khó khăn nhất Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống do trình độ học vấn thấp, các hàng rào về XH và văn hoá, bản chất công việc kinh doanh và những yêu cầu thế chấp Hơn nữa thị trường ở nước ta nhất là thị trường vốn ở các vùng xa xôi hẻo lánh hoạt động rất kém, cơ chế vay vốn gặp nhiều khó khăn Một điều là vay nợ ở khu vực nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua khu vực phi chính thống với lãi suất rất cao Do
đó mà phụ nữ nông thôn đặc biệt là phụ nữ nghèo không có điều kiện mở rộng
SX PTKT[11],[12]
Yếu tố về sức khoẻ: Sự hạn chế về sức khoẻ do đặc thù của giới nữ và thời
gian làm việc cũng ảnh hưởng lớn đến HĐSXKD của họ Đặc biệt với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng, vừa phải thực hiện thiên chức của mình là mang thai, sinh đẻ, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ
Trang 29của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm cho vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc PTKT gia đình trở nên thấp kém hơn[21],[23]
Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ: Thiếu thông tin không chỉ làm
phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong HĐSXKD mà còn làm cho phụ nữ bị hạn chế cả
về tầm nhận thức và hiểu biết XH Phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn trong mỗi ngày và chiếm gần hết thời gian của họ Do vậy cơ hội để phụ
nữ giao tiếp rộng rãi, tham gia hội họp để nắm bắt thông tin cũng rất hiếm Theo báo cáo của Chính phủ thì 80% lượng báo chí phát hành được tập trung ở thành thị, có nghĩa là 80% dân số nông thôn ở nước ta chỉ tiếp cận được với 20% lượng báo chí phát hành Đây cũng chỉ là con số lý thuyết, trên thực tế có nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác[21],[23]
1.1.2.4 Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trên thế giới và Việt Nam
Khái quát thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn ở một số nước trên thế giới
- Lao động nữ nông thôn chiếm một tỷ trọng lớn trong LLLĐ: Lao động nữ nông
thôn luôn chiếm một tỷ lệ khá cao trong LLLĐ và điều này đúng trong hầu hết các nhóm tuổi Những nghiên cứu từ các quốc gia trong khu vực Châu Á cho thấy: Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của phụ nữ theo các nhóm tuổi khác nhau thường rất cao Một vài số liệu thống kê sau sẽ chứng minh cho nhận thức đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia LLLĐ so với 82,5% nam
giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia LLLĐ nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ ở nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia LLLĐ, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng độ tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia LLLĐ[45]
Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia LLLĐ cao nhất ở độ tuổi
20-29, tiếp đó là nhóm tuổi 30-39 và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Điều
Trang 30tương đồng với Bangladesh là ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia LLLĐ, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [44]
Ấn Độ: Tỷ lệ phụ nữ nông thôn tham gia SX ngoài quốc doanh cao hơn tỷ lệ nữ
tham gia trong nền SX quốc doanh bởi vì trong thời kỳ này số HGĐ không có đất
SX và nghèo đói ở nông thôn đang tăng lên Nguồn nhân lực tham gia SX trong các thành phần kinh tế ở nông thôn có sự phân chia không đồng đều, phụ nữ nông thôn chiếm đa phần trong các lao động có tính chất không căn bản, chủ yếu là do PCLĐ trong gia đình, đặc biệt là do không làm chủ được tình trạng nghèo đói đã hạn chế khả năng lao động của phụ nữ vì tính cạnh tranh trong công việc, phụ nữ sẽ không thể có năng suất lao động cao như nam giới nếu họ vừa phải đảm nhận công việc nuôi con và nội trợ Do địa vị của mình trên thị trường thấp kém hơn so với nam giới đã ảnh hưởng đến chỉ số về giáo dục, y tế và dinh dưỡng của phụ nữ
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật của phụ nữ thấp: Nhìn chung trình độ chuyên
môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp
Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì
ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không được tiếp cận một cách có bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do học từ họ hàng
và bạn bè hay học kinh nghiệm từ chồng mình Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm được truyền đạt kiểu này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức SX của họ
- Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: BBĐ giới tồn tại ở hầu hết các nước
đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp, tức là rất ít phụ nữ có kỹ năng hoặc có điều kiện để cạnh tranh một cách bình đẳng trong công việc được trả lương cao Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến XH coi thường phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và
Trang 31kỹ năng tốt thì công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng
Gần như ở khắp nơi mức thu nhập của phụ nữ nông thôn chưa bằng một nửa của
nam giới nông thôn Có khi cùng làm một việc như nhau, nam giới được trả công
nhiều hơn phụ nữ
+ Ở cấp độ toàn cầu
- Phụ nữ thực hiện 67% số giờ làm việc
- Thu nhập của phụ nữ chiếm 10% thu nhập thế giới
- Phụ nữ mù chữ chiếm 2/3 tổng số người mù chữ trên thế giới
- Phụ nữ sở hữu chưa đến 1% tổng tài sản thế giới
- Phụ nữ được trả lương thấp hơn nam giới[19]
Vấn đề về quyền: Sự không tương xứng về quyền giữa nam và nữ diễn ra
phổ biến, trong những quy định về pháp lý, luật và trong thực tiễn tại các cộng
đồng và các HGĐ Số liệu các nước đã chứng minh rằng: Không ở đâu trong các
vùng đang phát triển mà phụ nữ ngang bằng với nam giới về quyền quyết định ở
quy mô gia đình, thừa kế và quản lý tài sản, phân bố lao động, tham gia các hoạt
động tạo thu nhập hoặc tự do đi ra ngoài…Tuy nhiên có sự khác biệt về tình
trạng quyền tương đối của phụ nữ giữa các vùng Nói chung phụ nữ ở Châu Âu
và Trung Á có sự bình đẳng nhiều nhất Phụ nữ Nam Á, vùng hạ Sahara châu
phi và Trung Đông được hưởng quyền bình đẳng ít nhất Phụ nữ nhận được chỉ
1% tổng số vốn tín dụng dành cho nông nghiệp[40]
Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn Việt Nam trong hoạt động XĐGN
- Thực trạng về phụ nữ nông thôn Việt Nam: Đối với Việt Nam trong giai đoạn
chuyển đổi nền kinh tế hiện nay, vị trí gia đình càng trở nên quan trọng bởi gia đình
là một bộ phận khăng khít, là động lực của sự phát triển Trong mỗi gia đình, phụ
nữ chính là người chăm lo mọi công việc thường được gọi là quản lý “tay hòm chìa
khoá” Điều này chứng tỏ phụ nữ có vị trí kinh tế không nhỏ đối với gia đình XH
hiện đại đã hình thành nhiều kiểu gia đình, nhưng dù cho ở loại hình gia đình nào,
vai trò của phụ nữ cũng không thể thiếu Không phải ngẫu nhiên mà con người hiện
đại đã khẳng định rằng “giáo dục một người đàn ông- được một người đàn ông,
Trang 32giáo dục một người đàn bà - được cả một gia đình” (R Tagor) Đề cao vai trò của
gia đình trong đời sống XH cũng chính là đề cao vai trò của người phụ nữ
Là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 75% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó lao động nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi trong
XH, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong SX nông nghiệp Những năm gần đây, LLLĐ nữ lại tăng lên một cách đáng kể Hiện tượng tăng tương đối của lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Một là, do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay
hàng năm nước ta có khoảng 80-90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó lao động nữ chiếm 55%[15]
- Hai là, do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu
tổ chức của các doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc
- Ba là, do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90,
khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất thị trường tiêu thụ hàng hoá, đa số lao động nữ làm nghề này lại chuyển về làm nông nghiệp
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trường, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp
tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn lâm vào tình trạng phá sản Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông
- Vai trò và những đóng góp chủ yếu của phụ nữ Việt Nam trong PTKTXH:
Quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ đã được ghi trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và năm 1992 (được sử đổi và bổ sung năm 2001) một lần nữa
khẳng định: “Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,
xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63)
Trang 33Bảng 1.5 Tỷ lệ lao động nữ của Việt Nam trong một số ngành
Năm 2008 (%)
(Nguồn: Tổng cục thống kê,2008)
Hiện nay, lao động nữ tham gia vào tất cả các hoạt động XH, nhưng với đặc tính riêng của mình là khéo léo, chịu khó nên tỷ lệ nữ tham gia vào các hoạt động nhà hàng, khách sạn, dịch vụ, thương mại, nông lâm thuỷ sản tương đối cao
Có thể nói rằng, tỷ lệ phụ nữ tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương là khá thấp, không đạt yêu cầu Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, lao động nữ đã khẳng định vai trò của mình trong vai trò quản lý Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ nữ quản lý vẫn thấp, điều này chủ yếu do trình độ học vấn của nữ vẫn còn thấp chưa đáp ứng được các yêu cầu cao cùng với sự phát triển của XH
Bảng 1.6 Phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp
(Nguồn: Văn phòng Quốc Hội,2010)
Trong hơn 10 năm qua Việt Nam luôn có nữ Phó Chủ tịch nước Tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung Ương đã tăng nhưng chậm và ở mức thấp, dưới 10%
Bảng 1.7 Phụ nữ tham gia trong công tác chính quyền
Trang 34có khả năng phát triển SX
Bảng 1.8 Phụ nữ trong quản lý doanh nghiệp
(Nguồn: Tổng cục thống kê,2009)
Tập đoàn kiểm toán và tư vấn kinh tế hàng đầu thế giới Grant Thornton vừa công bố một khảo sát cho thấy, phụ nữ vẫn chỉ nắm giữ ít hơn ¼ các vị trí quản lý cấp cao trong các công ty tư nhân toàn cầu Riêng Việt Nam xếp thứ 12 thế giới
về tỷ lệ phụ nữ trong bộ máy quản lý cấp cao (chiếm 28%)
Như vậy, lao động nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng đã đóng góp to lớn vào phúc lợi gia đình và XH Họ kinh doanh, SX, làm ruộng, mang lại thu nhập bằng tiền mặt, chăm sóc con cái và làm các công việc nội trợ Thực tế trong khi phụ nữ làm phần lớn việc nội trợ và chăm sóc người phụ thuộc
Trang 35(trẻ em và người già) với sự giúp đỡ ít ỏi của người nam giới thì sự đóng góp vào SX của họ cho gia đình gần bằng nam giới
1.1.3 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn nói chung, phụ nữ dân tộc Dao nói riêng
1.1.3.1 Về chất lượng nguồn nhân lực
Số lượng và đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực nữ nông thôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong công việc tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho XH Tuy chất lượng có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của XH, có thể nói chất lượng nguồn nhân lực nữ (Dao) còn rất thấp[6],[20]
1.1.3.2 Về vấn đề sức khoẻ của phụ nữ
* Về sức khoẻ thể chất
Qua kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (2008) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính như sau: 68% (nữ) và 64% (nam) Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới: sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt là sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn So với phụ nữ ở đô thị, phụ nữ ở nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% và 63,7% Tỷ lệ đau ốm của phụ nữ nông thôn chênh lệch theo các vùng dân cư, cao nhất là vùng Tây Nguyên (89,5%), Duyên Hải Miền Trung (78,6%) và thấp nhất là miền núi trung du (62,8%) Điều tra mức sống dân cư lần hai (2008) cho thấy: Tỷ lệ đau ốm của người dân khá cao, nông thôn cao hơn đô thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%) Nếu xét theo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi được xem
là “sung sức” hơn cả như 25-29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫn
cao hơn nam giới từ 10% đến 12%[37] Sức khoẻ của phụ nữ nông thôn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố:
- Lao động vất vả: Phụ nữ đảm nhận khối công việc gấp đôi nam giới Thời gian
làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn
Trang 36thường lao động vất vả trong thời gian mang thai và họ vẫn lao động bình thường không kiêng khem, thậm chí vẫn lao động nặng trong những tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi và người mẹ Có đến hơn một nửa phụ nữ không nghỉ trước khi sinh con, họ vẫn làm việc ngoài đồng cho đến khi sinh nở, kể cả những công việc được coi là vất vả của nhà nông như làm
đất, có đến 67,6% số người được hỏi trả lời “làm đất khi mang thai đến khi đẻ”, 80% trả lời “gánh nặng từ khi mang thai đến khi sinh nở”, trong đó có 75% trả lời
“gánh nặng” khi thai nhi 1-3 tháng Tính trung bình, một phụ nữ mỗi ngày làm
việc từ 12 đến 16 giờ và chỉ có 3 giờ dành cho việc ăn uống và các sinh hoạt cá nhân khác Tổng thời gian nghỉ ngơi tỷ lệ nghịch với tổng thời gian dành cho
SX Điều này cho thấy, gánh nặng của công việc nội trợ và các hoạt động SX đã ảnh hưởng không tốt tới sức khoẻ của người phụ nữ
- Môi trường ô nhiễm: Môi trường ô nhiễm càng nhiều thì phụ nữ bị ảnh hưởng
càng cao vì thời gian họ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất Nghiên cứu 2008-2009 cho thấy: Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam, có nhiều hồ, ao tù với những lùm cây xum xuê bao bọc xung quanh Đây là nguồn nước chủ yếu của người dân ở nông thôn (tắm, giặt giũ, rửa ráy), đồng thời cũng là nơi tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùng sinh sôi nảy nở Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng: ở Việt Nam các bệnh truyền nhiễm: sốt rét, tiêu chảy, cúm, sởi, ho gà, sốt xuất huyết… đều
giống nhau ở chỗ có liên quan đến nước “muỗi sinh sôi nảy nở ở nơi có nước tù như trong ao, hồ và những bể nước không được đậy cẩn thận; còn thương hàn, tiêu chảy và viêm gan vi rút lại có liên quan đến việc nước bị nhiễm bẩn do sử lý
và do phóng uế không đúng quy cách” Theo các chuyên gia trong lĩnh vực sức khoẻ công cộng thì “phụ nữ và trẻ em đặc biệt dễ bị mắc những bệnh có liên quan đến nước không sạch”[17]
- Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: Hiện nay, ở nông thôn, việc lấy chồng sớm có
xu hướng gia tăng bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình để tách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ
Trang 37hội nhận ruộng vì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm) Tảo hôn dẫn đến hệ quả là bên cạnh việc chưa được chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu, làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con… là sự thiếu hiểu biết về dân số
- kế hoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều Trong bối cảnh như vậy, cần tuyên truyền giáo dục cho nhân dân nhất là nam,
nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn thấy rõ hậu quả xấu của việc kết hôn sớm và sinh đẻ, nạo, hút nhiều chẳng những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ sinh sản của người phụ nữ mà còn hạn chế những cơ hội phát triển của họ, đồng thời
nó còn là một nguyên nhân dẫn đến nghèo bởi vì số con và khoảng cách sinh con thường tỷ lệ nghịch với sức khoẻ của phụ nữ và thu nhập bình quân của họ
- Dinh dưỡng không đảm bảo: Năm 2005, một cuộc khảo sát quốc gia về mức
độ thiếu vitamin A và suy dinh dưỡng do thiếu protêin đã phát hiện 41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dưỡng: 26% suy dinh dưỡng hạng I (chỉ số về khối lượng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMI dưới 17,0) Thiếu máu cũng là hiện tượng phổ biến, một nghiên cứu quy mô nhỏ ở Việt Nam kiểm tra lượng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49% phụ nữ nông thôn có lượng
Hb dưới tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, [37] Suy dinh dưỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thai sản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con cái Hiện nay, 33,9% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dưỡng Do vậy, cần đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ - trẻ em Trong khi đẩy mạnh việc giáo dục cho phụ nữ biết nuôi dạy con theo phương pháp khoa học thì cũng cần phải có chính sách ở tầm quốc gia về nâng cao dinh dưỡng cho trẻ em và phụ nữ
* Về sức khoẻ tinh thần
- Đời sống văn hoá nghèo nàn: Đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn hiện nay
vẫn chưa tương xứng với quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước, nếu không nói là còn nghèo nàn Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếu nơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, văn hoá, KHKT và kinh tế
là hiện tượng dễ thấy ở nhiều vùng nông thôn hiện nay Sự nghèo nàn đó là một lý
Trang 38do thúc đẩy thanh niên rời bỏ nông thôn [20] Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sống văn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hóa nông thôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức KHKT, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân nông thôn về pháp luật, lối sống văn hoá…; hơn nữa còn ngăn chặn và loại bỏ những cái xấu như:
mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán…Muốn vậy, cần có chính sách đầu tư thoả đáng để nâng cao đời sống tinh thần cho người dân ở các vùng nông thôn, phù hợp với đặc điểm vùng, miền, dân tộc và giới tính Đồng thời nam giới phải có trách nhiệm chia sẻ các công việc gia đình để người phụ nữ nông thôn có thời gian nghỉ ngơi, hưởng thụ văn hoá tinh thần trong cuộc sống
- Áp lực do nam giới dời nông thôn: Xu hướng nam giới ly hương ngày càng
nhiều nên ở nông thôn chủ yếu chỉ còn lại là phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi Mọi việc SX, công việc gia đình dồn nên đôi vai người phụ nữ, tạo nên sức ép đối với người phụ nữ trong các hoạt động SX, đời sống gia đình Thực trạng này
là một trở ngại rất lớn đối với phụ nữ nông thôn hiện nay, bởi vì về mặt sinh học, phụ nữ yếu hơn nam giới, hơn nữa phụ nữ còn đảm nhận chính trong vai trò tái SX Vì vậy, CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn càng nhanh sẽ không những góp phần giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ trong các hoạt động SX và tái sinh sản
mà còn nhằm thu hút nam giới trở về nông thôn “ly nông bất ly hương”, giảm xu
hướng di cư ra đô thị Tóm lại, mặc dù có những đóng góp lớn cho XH, trên thực tế phụ nữ nông thôn còn nhiều thiệt thòi và hiện đang đối mặt với những thách thức lớn, đó là:
- Tình trạng lao động quá tải thường xuyên để đảm bảo đời sống gia đình
- Thiếu việc làm theo thời vụ và hiệu quả lao động chưa cao
- Thiếu thông tin và ít được tham gia hoạt động văn hoá, thể thao
- Ảnh hưởng của phong tục, tập quán và sự ràng buộc trong quan hệ gia đình, làng xóm
- Cơ sở hạ tầng nghèo nàn, điều kiện ăn ở và vệ sinh môi trường thiếu bảo đảm
- Gia đình đông con và PCLĐ bất hợp lý
Trang 39Những vấn đề nổi cộm được nêu ở trên là một thực tế hiện đang tác động tới mọi người dân, cả nam giới cũng như phụ nữ ở nông thôn Tuy nhiên, với vị thế của mình, phụ nữ nông thôn rõ ràng chịu tác động mạnh hơn, thiệt thòi lớn hơn
so với nam giới và đặc biệt là so với phụ nữ ở thành thị
1.1.3.3 Về chuyên môn kỹ thuật
Các nghiên cứu gần đây cho thấy, phần lớn lao động ở nông thôn nói chung
và lao động nữ nói riêng trong SX vẫn còn dựa vào thói quen, kinh nghiệm và
họ chưa tiếp cận nhiều với kỹ thuật mới, phương thức SX mới theo cơ chế thị trường Đi lên trên con đường CNH không thể chỉ có lòng nhiệt tình và sự chịu khó, cần cù, mà còn cần một yếu tố quan trọng hơn, đó là: kiến thức về chuyên môn, kỹ thuật liên quan đến SXKD trong nông nghiệp nông thôn Sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về KHKT và công nghệ mới
Phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình SXKD, họ có một ưu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn
1.1.3.4 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Một nghiên cứu về vấn đề giới trên phạm vi toàn cầu (Ngân hàng Thế
giới, 2001) cho rằng: “Trong những thập niên vừa qua, tuy đã có những tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới nhưng sự phân biệt giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của đời sống và trên khắp thế giới Bản chất và mức độ phân biệt đối xử ở các nước và các khu vực là rất khác nhau, nhưng hình thái phân biệt đối xử thì nổi bật Không một khu vực nào của các nước đang phát triển, phụ nữ lại có quyền bình đẳng hoàn toàn với nam giới”
Trang 40Ở nước ta, tình hình cũng tương tự Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng vẫn phải thừa nhận rằng BBĐ giới vẫn đang tồn tại - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của BBĐ giới là:
Sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực SX như đất đai, các dịch vụ
KN và tín dụng Phụ nữ ít được tham gia trong bộ máy lãnh đạo các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực của đời sống gia đình, XH ít nhiều còn
bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợi về y tế, giáo dục Đó chính là nhân tố cản trở những đóng góp của lao động nữ trong PTKTXH
Về vấn đề tiếp cận đất đai: Hiện nay có tới gần 80% dân cư sống ở nông
thôn chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tư liệu sản xuất chính của họ
Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến quyền sở hữu như luật Đất đai (1993), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân và gia đình (2000) Tuy nhiên những khía cạnh nhất định của các luật này khi thực hiện có
xu hướng trái ngược với cam kết ban đầu về sự bình đẳng giữa nam và nữ Ở Việt Nam, có 78,3% số hộ gia đình do nam làm chủ hộ, còn số hộ do phụ nữ làm chủ hộ chỉ chiếm 21,7% (Kết quả điều tra cơ bản về gia đình và vai trò của người phụ nữ của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ năm 1998-2000) Như vậy có 78,3% hộ do nam giới đứng tên GCNQSDĐ Từ khi thực hiện theo luật đất đai năm 2003, nếu quyền sử dụng đất là tài sản chung của
vợ và chồng thì GCNQSDĐ phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng; thì tỷ lệ người vợ được cùng đứng tên trong GCNQSDĐ cao hơn tuy nhiên vẫn còn nhiều HGĐ người vợ không được đứng tên trong GCNQSDĐ, đặc biệt là người dân sống ở miền núi do trình độ văn hóa thấp nên họ chấp nhận thiệt thòi, từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí thừa hành, ít có quyền quyết định Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình Hơn nữa, đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế Việc không có