1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy

96 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ĐKTN Điều khiển thích nghi ĐKTNBV Điều khiển thích nghi bền vững MRAC Hệ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu STR Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh

Trang 1

-

NGUYỄN ĐẠI TRIÊM

ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI BỀN VỮNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ TRUYỀN ĐỘNG

THÁO - QUẤN BĂNG VẬT LIỆU GIẤY

Chuyên ngành : Tự Động Hóa

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Những năm gần đây lý thuyết điều khiển hiện đại đã được ứng dụng rộng rãi trong thực tế trong đó có điều khiển thích nghi Đặc biệt là điều khiển thích nghi cho các hệ phi tuyến Trong quá trình mô tả người ta thường đưa ra các giả thiết như bỏ qua khâu động khó mô hình hoặc coi tham số không đổi theo thời gian Tuy nhiên trong thực tế các giả thiết đó không đáp ứng được, vì vậy hệ điều khiển thích nghi (ĐKTN) là không bền vững Để ứng dụng ĐKTN điều khiển các hệ thực trong thực tế, việc nâng cao tính bền vững cho hệ ĐKTN là một yêu cầu rất cần thiết

Với nội dung “Ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo- quấn băng vật liệu giấy” Luận văn của tôi

Qua đây tôi xin gửi lời cám ơn tới quý thầy cô trong khoa Điện trường ĐH Kỹ Thuật Công nghiêp - ĐH Thái Nguyên; Ban Giám Hiệu cùng toàn thể giáo viên khoa Điện trường Trung cấp Nghề Thừa Thiên Huế đã nhiệt tình giúp đỡ hướng dẫn, cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi tốt nhất

Đặc biệt xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trần Xuân Minh,

người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cặn kẽ để tôi hoàn thành luận văn này trong suốt thời gian qua

Tác giả xin cám ơn gia đình, bè bạn đã hết sức ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần trong thời gian nghiên cứu để hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này

Mặc dù được sự hướng dẫn tận tình của cán bộ hướng dẫn cùng với sự nỗ lực

cố gắng của bản thân; song vì kiến thức còn hạn chế, điều kiện tiếp xúc thực tế chưa

Trang 3

nhiều, nên bản thuyết minh không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì thế, tác giả rất mong tiếp tục đƣợc sự giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2011

Học viên

Nguyễn Đại Triêm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Đại Triêm

Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1963

Học viên lớp cao học khoá 12 - Tự động hoá - Trường Đại học Kỹ Thuật Công Nghiệp Thái Nguyên – Đại học Thái Nguyên

Hiện đang công tác tại khoa Điện trường Trung cấp nghề Thừa Thiên Huế Tôi cam đoan toàn bộ nội dung trong luận văn do tôi làm theo định hướng của giáo viên hướng dẫn, không sao chép của người khác

Các phần trích lục các tài liệu tham khảo đã được chỉ ra trong luận văn

Nếu có gì sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Nguyễn Đại Triêm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

1.1.2.1 Hệ điều khiển thích nghi điều chỉnh hệ số khuếch đại 7

1.1.4 Những nhược điểm của hệ ĐKTN và hướng khắc phục 13

Trang 6

2.1.1 Tín hiệu chuẩn hoá (m) 27 2.1.2 Phương pháp thay đổi thành phần tích phân của luật thích nghi 27 2.2 Hệ MRAC bền vững trực tiếp với các luật thích nghi chuẩn hóa 30

Chương 3: Tổng hợp hệ ĐKTNBV nâng cao chất lượng hệ truyền

3.1.2 Yêu cầu công nghệ hệ thống tháo- quấn băng vật liệu 42 3.1.3 Mô hình phi tuyến của hệ thống tháo và quấn băng vật liệu 48

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ĐKTN Điều khiển thích nghi

ĐKTNBV Điều khiển thích nghi bền vững

MRAC Hệ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu

STR Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh

DSTR Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh trực tiếp

ISTR Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh gián tiếp

APPC Adaptive Pole Placement Control - Điều khiển vị trí thích ứng

SISO Single Input – Single Output - Đầu vào đơn - Đầu ra đơn

MRAC Model Referance Adaptive Control - Điều khiển thích nghi theo mô

hình mẫu

Massachusetts x(t) Véc tơ trạng thái của hệ

y(t) Tín hiệu

Xm, Xs Các véc tơ trạng thái của mô hình mẫu và quá trình

Am, Bm Ma trận hằng của mô hình mẫu

AS(t), BS(t) Các ma trận biến thiên theo thời gian do tác động của nhiễu bên

ngoài hoặc bên trong hệ thống

Trang 8

Hình 1.6 Sơ đồ Điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu trực tiếp 10 Hình 1.7 Sơ đồ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu gián tiếp 11

Hình 3.1 Mô tả hệ thống hệ thống xử lý băng vật liệu điển hình 41 Hình 3.2 Cấu trúc tổng quát của một hệ máy tháo-quấn băng giấy 42

Hình 3.6 Quá trình hoạt động và điều khiển hệ thống tháo-quấn băng vật

Hình 3.7 Khảo sát hệ thống tháo – quấn băng vật liệu điển hình 48 Hình 3.8 Sơ đồ biểu diễn sự biến thiên về tốc độ, mômen của các động cơ 55

Trang 9

truyền động cho các con lăn và sự biến thiên bán kính của các

tang quay trong hệ thống tháo-quấn băng vật liệu

Hình 3.10 Sơ đồ cấu trúc của MRAC bền vững trực tiếp có sai lệch mô

Hình 3.20 Luật đánh giá vectơ tham số p của đối tƣợng 70 Hình 3.21 Đặc tính ra của hệ khi r không đổi và Mc có dạng xung 71

Hình 3.23 Đặc tính ra của hệ khi r thay đổi và Mc có dạng xung 73

Hình 3.25 Đặc tính ra của hệ khi r thay đổi và Mc biến thiên ngẫu nhiên

Hình 3.26 Đặc tính ra của hệ khi r thay đổi và Mc biến thiên 76 Hình 3.27 Đặc tính ra của hệ khi r thay đổi và Mc biến thiên tăng dần 77

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Mục tiêu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu, ứng dụng hệ điều khiển thích nghi bền vững điều khiển hệ phi tuyến nói chung và hệ truyền động tháo- quấn băng vật liệu giấy nói riêng, thoả mãn tính thích nghi đối với sự thay đổi các tham số theo thời gian và bền vững đối với sai lệch của mô hình và nhiễu Mục tiêu của luận văn là xây dựng

hệ điều khiển thích nghi bền vững sau đó ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi

và bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động quấn băng vật liệu giấy

2 Tính cần thiết của luận văn

Đối với các hệ tuyến tính, ĐKTN nói chung là thoả mãn được các yêu cầu đặt

ra về chất lượng điều chỉnh Nhưng các hệ thống cần được điều khiển trong thực tế đều là các hệ phi tuyến có chứa các tham số không biết trước và thay đổi theo thời gian, về cấu trúc đối tượng có phần động học không thể hoặc rất khó mô hình hoá Ngoài ra trong quá trình làm việc hệ còn chịu nhiễu tác động

Vì vậy khi thiết kế hệ điều khiển thích nghi cho hệ phi tuyến thường phải chấp nhận các giả thiết sau:

- Đối tượng không có phần tử không mô hình hoá được

- Các tham số chưa biết không biến thiên theo thời gian

- Trong qua trình làm việc hệ không chịu nhiễu tác động

Trong thực tế các giả thiết trên là không thể thoả mãn vì trong quá trình làm việc hệ luôn chịu tác động của nhiễu, mô hình có phần không mô hình hoá được, sai số trong việc xác định tín hiệu vào ra Vì vậy sử dụng hệ ĐKTN cho đối tượng này hệ sẽ không bền vững

Như vậy ngoài các ưu điểm mà hệ ĐKTN có được thì nhược điểm cơ bản của ĐKTN là không bền vững khi điều khiển các đối tượng phi tuyến và chịu nhiễu tác động Để hệ ĐKTN được ứng dụng vào hệ điều khiển quấn băng vật liệu giấy, cần phải tìm những biện pháp hạn chế các nhược điểm trên Vì lý do trên, việc nghiên cứu nâng cao tính bền vững của hệ ĐKTN cho hệ điều khiển quấn băng vật liệu giấy là rất cần thiết và cần tập trung nghiên cứu

Trang 11

3 Nội dung của luận văn

Hệ điều khiển thích nghi điển hình bao gồm hai phần chính: luật điều khiển và luật thích nghi (luật đánh giá tham số) Bài toán nâng cao tính bền vững của hệ điều khiển thích nghi cũng đi theo hai hướng sau:

- Hướng 1: Tìm các bộ đánh giá tham số đặc biệt (luật thích nghi bền vững) để đạt được tính bền vững của hệ

- Hướng 2: Tìm các luật điều khiển bền vững để ứng dụng vào tổng hợp

sơ đồ điều khiển thích nghi

Luận văn tập trung giải quyết theo hướng sử dụng các luật thích nghi bền vững

để ứng dụng cho các sơ đồ thích nghi với các luật điều khiển thông thường, sau đó ứng dụng nâng cao chất lượng hệ truyền động quấn băng vật liệu giấy

Để điều khiển hệ truyền động quấn băng vật liệu giấy ở đây ta ứng dụng hệ ĐKTN bền vững trực tiếp với các luật thích nghi chuẩn hóa

Với mục tiêu đặt ra, nội dung luận văn bao gồm các chương sau:

Chương 1: Tổng quan về lý thuyết hệ điều khiển thích nghi bền vững

Nội dung của chương tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm chung nhất của ĐKTN và đi sâu phân tích những tồn tại của ĐKTN và xác định hướng nghiên cứu Tìm hiểu về độ bất định của các hệ phi tuyến; các dạng sai lệch và phương pháp mô tả; khái niệm về Điều khiển bền vững sau đó đi tìm hiểu hệ điều khiển thích nghi bền vững

Chương 2: Lý thuyết hệ điều khiển thích nghi bền vững

Nội dung của chương tập trung nghiên cứu những luật điều khiển thích nghi bền vững; Tìm hiểu hệ điều khiển thích nghi bền vững từ đó lựa chọn phương pháp điều khiển cho hệ thống quấn băng vật liệu giấy: Hệ điều khiển thích nghi bền vững trực tiếp theo mô hình mẫu

Chương 3: Tổng hợp hệ điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động quấn băng vật liệu giấy

Nội dung của chương gồm: Đặt vấn đề (chọn đối tượng điều khiển, mô tả đối tượng) Tổng hợp hệ thống Mô phỏng để kiểm tra đánh giá chất lượng của hệ

Trang 12

Ngày nay do yêu cầu của thực tế sản xuất có công nghệ hiện đại đòi hỏi phải có những bộ điều khiển có thể thay đổi được cấu trúc và tham số của nó để đảm bảo chất lượng ra của hệ theo các chỉ tiêu đã định Với các yêu cầu cao về chất lượng điều khiển các hệ thống điều khiển truyền thống nói chung không đáp ứng được Dựa trên cơ sở của nền kỹ thuật điện, điện tử, tin học và máy tính đã phát triển

ở mức độ cao, lý thuyết ĐKTN đã ra đời đáp ứng được những yêu cầu trên và được

áp dụng mạnh mẽ vào điều khiển các hệ thống lớn

ĐKTN khởi đầu là do nhu cầu về hoàn thiện các hệ thống điều khiển máy bay

Do đặc điểm của quá trình điều khiển máy bay có nhiều thông số biến đổi và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ổn định quỹ đạo bay, tốc độ bay Ngay từ năm

1958, trên cơ sở lý thuyết về chuyển động của Boócman, lý thuyết điều khiển tối ưu hệ thống điều khiển hiện đại này đã ra đời Ngay sau khi ra đời lý thuyết này

đã được hoàn thiện nhưng chưa được thực thi vì số lượng phép tính quá lớn mà chưa có khả năng giải quyết được Ngày nay nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, kỹ thuật điện, điện tử, máy tính cho phép giải được những bài toán

đó một cách thuận lợi nên hệ thống ĐKTN được ứng dụng rất rộng rãi vào thực tế

Hệ ĐKTN có mô hình mẫu MRAC (MRAC- Model Reference Adaptive Control) đã đựợc Whitaker đề xuất khi giải quyết vấn đề điều khiển lái tự động máy bay năm 1958 Phương pháp độ nhậy và luật MIT đã được dùng để thiết kế luật thích nghi với mục đích đánh giá các thông số không biết trước trong sơ đồ MRAC

Trang 13

Trong công việc điều khiển các chuyến bay do còn tồn tại nhiều hạn chế như: thiếu phương tiện tính toán, xử lý tín hiệu và lý thuyết cũng chưa thật hoàn thiện Đồng thời những chuyến bay thí nghiệm bị tai nạn làm cho việc nghiên cứu về

lý thuyết điều khiển thích nghi bị lắng xuống vào cuối thập kỷ 50 và đầu năm1960 Thập kỷ 60 là thời kỳ quan trọng nhất trong việc phát triển các lý thuyết tự động, đặc biệt là lý thuyết ĐKTN Kỹ thuật không gian trạng thái và lý thuyết ổn định dựa theo luật Lyapunốp đã được phát triển Một loạt các thuyết như: Điều khiển đối ngẫu, điều khiển ngẫu nhiên, nhận dạng hệ thống, đánh giá thông số ra đời cho phép tiếp tục (nghiên cứu lại) phát triển và hoàn thiện lý thuyết ĐKTN Vào năm 1966 Park và các đồng nghiệp đã tìm được phương pháp mới để tính toán lại luật thích nghi sử dụng luật MIT ứng dụng vào các sơ đồ MRAC của những năm 50 bằng cách ứng dụng lý thuyết của Lyapunop

Tiến bộ của các lý thuyết điều khiển những năm 50 cho phép nâng cao hiểu biết về ĐKTN và đóng góp nhiều vào đổi mới lĩnh vực này Những năm 70 sự phát triển của kỹ thuật điện tử và máy tính đã tạo ra khả năng ứng dụng lý thuyết này vào thực tế

Các hệ thống ĐKTN đã được ứng dụng vào điều khiển các hệ thống phức tạp Tuy nhiên những thành công của thập kỷ 70 còn gây nhiều tranh luận trong ứng dụng ĐKTN Đầu năm 1979 người ta chỉ ra rằng những sơ đồ MRAC của thập kỷ

70 dễ mất ổn định do nhiễu tác động Tính bền vững trong ĐKTN trở thành mục tiêu tập trung nghiên cứu của các nhà khoa học vào năm 1980 Khi đó người ta xuất bản nhiều tài liệu về độ không ổn định do các khâu động học không mô hình hoá được hoặc do nhiễu tác dụng vào hệ thống Những năm 80 nhiều thiết kế đã được cải tiến, dẫn đến ra đời lý thuyết ĐKTN bền vững Một hệ ĐKTN được gọi là bền vững nếu như nó đảm bảo chất lượng ra theo mong muốn cho một lớp đối tượng của các động học không mô hình hoá được trong đó có đối tượng chuẩn đang xét Yêu cầu của bài toán ĐKTN bền vững là đảm bảo tính bền vững của hệ khi điều khiển những đối tượng có thông số không biết trước, biến đổi theo thời gian và trong quá trình làm việc hệ chịu nhiễu tác động

Trang 14

Cuối thập kỷ 80 có các công trình nghiên cứu về hệ ĐKTN đặc biệt là MRAC cho các các đối tƣợng có thông số biến thiên theo thời gian tuyến tính

Các nghiên cứu của những năm 90 tập trung vào đánh giá kết quả của nghiên cứu những năm 80 và nghiên cứu các lớp đối tƣợng phi tuyến có tham số bất định Những cố gắng này đã đƣa ra một lớp sơ đồ ĐKTN xuất phát từ lý thuyết hệ thống phi tuyến

1.1.2 Định nghĩa và cấu trúc của hệ điều khiển thích nghi

Hệ điều khiển thích nghi là hệ điều khiển tự động hiện đại mà cấu trúc và tham

số của bộ điều khiển có thể thay đổi đáp ứng theo sự biến thiên thông số của hệ sao cho đảm bảo các yêu cầu chất lƣợng của hệ

ĐKTN là kỹ thuật tự chỉnh theo thời gian thực các bộ điều chỉnh nhằm duy trì đặc tính của đối tƣợng điều khiển nằm trong phạm vi mong muốn trong khi thông

số của đối tƣợng (đã biết hoặc chƣa biết) biến thiên theo thời gian

Cấu trúc tổng quát của hệ ĐKTN đƣợc mô tả nhƣ hình vẽ 1.1

Hệ gồm 2 khối sau:

Khối 1: Phần cơ bản của hệ điều khiển

Khối 2: Phần điều khiển thích nghi

Phần cơ bản của hệ gồm:

Hình 1 1: Cấu trúc chung của hệ điều khiển thích nghi

1: Khối cơ bản 2: Khối thích nghi

Trang 15

+ Tín hiệu vào của hệ: u

+ Thiết bị điều khiển: R

+ Cơ cấu thích nghi: A

Khâu nhận dạng có nhiệm vụ đánh giá các biến đổi của hệ thống do tác dụng của nhiễu và các yếu tố khác Kết quả nhận dạng được đưa vào thiết bị tính toán Kết quả tính toán được đưa vào cơ cấu thích nghi để tính toán tự chỉnh các thông số

bộ điều khiển nhằm đảm bảo chất lượng của hệ như mong muốn

Các hệ điều khiển thích nghi có thể chia thành 2 nhóm chính:

+ Hệ điều khiển thích nghi trực tiếp (có mô hình mẫu)

+ Hệ điều khiển thích nghi gián tiếp (có mô hình ẩn)

Trong hệ ĐKTN trực tiếp các thông số của bộ điều chỉnh sẽ được hiệu chỉnh trong thời gian thực theo giá trị đo lường sai số giữa đặc tính mong muốn và đặc tính thực

Trong hệ ĐKTN gián tiếp việc điều chỉnh thông số của bộ điều khiển được điều khiển qua 2 giai đoạn

+ Giai đoạn 1: Đánh giá thông số của mô hình đối tượng

+ Giai đoạn 2: Trên cơ sở đánh giá các thông số của đối tượng, ta tiến hành tính toán các thông số của bộ điều khiển

Một đặc điểm chung cho cả ĐKTN trực tiếp và gián tiếp là đều dựa trên giả thuyết tồn tại một bộ điều khiển đảm bảo có đầy đủ các đặc tính mong muốn đặt ra Như vậy vai trò của ĐKTN chỉ giới hạn ở chỗ là chọn giá trị thích hợp của bộ điều khiển tương ứng với các trạng thái làm việc của đối tượng

Hệ điều khiển thích nghi có 3 sơ đồ chính sau đây:

Trang 16

- Hệ điều khiển thích nghi điều chỉnh hệ số khuếch đại;

- Hệ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu;

- Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh (STR)

1.1.2.1 Hệ điều khiển thích nghi điều chỉnh hệ số khuếch đại

Đây là sơ đồ được xây dựng theo nguyên tắc của mạch phản hồi và bộ điều khiển có thể thay đổi thông số bằng bộ điều chỉnh hệ số khuếch đại

Đặc điểm của nó có thể làm giảm ảnh hưởng của sự biến thiên thông số

1.1.2.2.Hệ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu

Tín hiệu vào của mạch vòng thích nghi là sai lệch của tín hiệu của mô hình mẫu và của đối tượng Mô hình mẫu được chọn sao cho đặc tính của mô hình mẫu

là đặc tính mong muốn

Mô hình mẫu chọn càng sát đối tượng thì kết quả điều khiển càng chính xác

Cơ cấu thích nghi có nhiệm vụ hiệu chỉnh sao cho sai số e(t) = ym- ys tiến về 0 và hệ

ổn định Tham số điều khiển là sai số giữa tín hiệu của mô hình mẫu và tín hiệu ra

Hình 1.3: Sơ đồ cấu trúc hệ ĐKTN theo mô hình mẫu MRAC

Y m

BỘ ĐIỀU KHIỂN

ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU KHIỂN

CƠ CẤU THICH NGHI

MÔ HÌNH MẪU

Hình 1.2: Hệ ĐKTN điều chỉnh hệ số khuếch đại

ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU KHIỂN

BÔ ĐIỀU CHỈNH

HỆ SỐ KHUẾCH ĐẠI

BỘ ĐIỀU KHIỂN

Ys

U

Ym

_

Trang 17

của đối tượng Luật thích nghi thường được xác định bằng phương pháp Gradien,

lý thuyết ổn định Lyapunov hoặc lý thuyết ổn định tuyệt đối của Pôpôp và nguyên

lý dương động để hệ hội tụ và sai số là nhỏ nhất

1.1.2.3 Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh (STR – Self Tuning Regulator)

Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh được xây dựng chủ yếu cho hệ gián đoạn, STR là hệ rất mềm dẻo Tuỳ theo việc lựa chọn luật đánh giá và luật điều khiển mà

ta có nhiều STR khác nhau

Dựa vào thuật toán cập nhật tham số ta chia STR thành 2 loại chính: STR trực tiếp (DSTR) và STR gián tiếp (ISTR)

* Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh gián tiếp - ISTR ISTR là hệ tường minh vì

các tham số được đánh giá online trên mô hình của đối tượng và dùng để tính toán lại các tham số của bộ điều khiển Sơ đồ ISTR trên hình 1 4

Gọi θ là véc tơ giá trị đánh giá của đối tượng, θC là véc tơ giá trị đánh giá tham

số của bộ điều khiển, P(θ) là mô hình tham số hoá của đối tượng Bộ đánh giá tham

số online xác định tham số đánh giá tại mỗi thời điểm t là θ(t) dùng để tính toán lại

bộ điều khiển như là tham số thật của đối tượng thông qua giải phương trình đại số:

θC(t) = F(θ (t)) tại thời điểm t

Do đó bộ điều khiển có luật C(θC(t)) để điều khiển đối tượng như trường hợp tham số của nó đã biết

Như vậy tham số của đối tượng được biết gián tiếp thông qua việc giải phương trình đại số nên được gọi là ISTR

Đối tượng

Bộ điều khiển

Trang 18

* Hệ điều khiển thích nghi tự chỉnh trực tiếp DSTR

Trong hệ DSTR (Hình 1.5) các tham số của mô hình P(θC) được biểu diễn theo tham số của đối tượng sao cho thoả mãn các yêu cầu chất lượng

Khi đó mô hình được tham số hoá dạng Pc(θC) và bộ đánh giá online đánh giá các giá trị của véc tơ tham số θC là θC(t) tại từng thời điểm và giá trị này dùng để cập nhật lại tham số bộ điều khiển theo thời gian thực

Như vậy tham số của bộ điều khiển được tính toán trực tiếp không phải qua giải phương trình Vì vậy mà DSTR là kiểu đánh giá mô hình đối tượng không tường minh

* Hệ thích nghi tự chỉnh lai:

Kết hợp 2 phương pháp trên ta có hệ tự chỉnh thích nghi lai, tức là cùng lúc ta đánh giá cả tham số bộ điều khiển và tham số đối tượng nhằm tránh giải phương trình đại số Đây là hệ thích nghi tự chỉnh nhằm kết hợp ưu điểm của cả hai hệ trên

1.1.3 Hệ ĐKTN theo mô hình mẫu MRAC (Model Reference Adaptive Control)

MRAC xuất phát từ phương pháp điều khiển theo mô hình mẫu (MRC), trong

phương pháp điều khiển theo mô hình mẫu véc tơ tham số của bộ điều khiển θC* được tính dựa vào véc tơ tham số của đối tượng θ*, nếu ta không biết véc tơ tham

số của đối tượng θ* thì ta không thể tính được véc tơ tham số của bộ điều khiển θC*

Do đó phương pháp điều khiển theo mô hình mẫu chỉ áp dụng được với đối tượng

có thông số và cấu trúc biết trước

Bộ điều khiển

Đánh giá on-line tham số θ(t)

Đối tượng

Hình 1 5: Hệ ĐKTN tự điều chỉnh trực tiếp: DSTR

Trang 19

Để giải bài toán điều khiển theo mô hình mẫu mà đối tượng có thông số thay đổi và cấu trúc không biết trước thì phương pháp điều khiển theo mô hình mẫu cần kết hợp với phương pháp điều khiển thích nghi để thay thế θC* trong luật điều khiển bằng véc tơ thông số đánh giá θC , từ đó phương pháp điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu ra đời

Tuỳ theo cách thu được véctơ θ(t), MRAC có hai phương pháp:

+ Phương pháp điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu trực tiếp

+ Phương pháp điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu gián tiếp

1.1.3.1 Phương pháp MRAC trực tiếp

Với phương pháp MRAC trực tiếp, thông số của bộ điều khiển θC(t) được xác định theo yêu cầu về chất lượng của đối tượng điều khiển và biểu diễn dưới dạng tham số trong mô hình đối tượng điều khiển:

Gp(s, θ*)  Gp(s, θC*) Tại mỗi thời điểm bộ đánh giá sẽ tính trực tiếp θC*(t) từ tín hiệu vào uS(t) và tín hiệu ra yS(t) của đối tượng điều khiển Thông số θC*(t) sẽ được sử dụng để tính toán các thông số của bộ điều khiển θC(t)

Sơ đồ hệ MRAC trực tiếp được chỉ ra trên hình 1.6

e(t)

y

y m

+

-u

u c

Hình 1.6: Sơ đồ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu trực tiếp

Trang 20

Trong phương pháp MRAC trực tiếp véctơ θC(t) được điều chỉnh trực tiếp mà không phải qua quá trình đánh giá thông số của đối tượng thực

Như vậy vấn đề cơ bản của MRAC trực tiếp là chọn luật điều khiển C(θC(t))

và thuật toán của bộ đánh giá θC(t) sao cho thoả mãn yêu cầu chất lượng của hệ thống điều khiển

1.1.3.2 Phương pháp MRAC gián tiếp

Trong MRAC gián tiếp các thông số của đối tượng được nhận biết trong quá trình làm việc và được sử dụng để tính toán các thông số của bộ điều khiển

Trong phương pháp này mô hình đối tượng được xây dựng với véc tơ tham số θ* chưa xác định nào đó Tại mỗi thời điểm ứng với mỗi tín hiệu vào u(t) và tín hiệu

ra yS(t) bộ đánh giá thông số làm việc sẽ cho ra giá trị θ(t) ứng với θ* và được coi là giá trị đúng với đối tượng tại thời điểm đó và sử dụng giá trị đó để tính toán các thông số bộ điều khiển θC(t) nhờ giải phương trình: θC(t) = F[θ (t)]

Luật điều khiển C[θC(t)] được xây dựng ở mỗi thời điểm phải thoả mãn các chỉ tiêu của hệ ứng với mô hình đánh giá của đối tượng GS[p,θ *(t)] Như vậy vấn đề chính của MRAC gián tiếp là chọn luật điều khiển C[θC(t)] và bộ đánh giá các tham

số θ(t), sao cho C[θC(t)] đáp ứng được các yêu cầu của mô hình đối tượng GS(θ*) với θ* chưa xác định

e(t)

y

y m

+

Trang 21

Nguyên lý làm việc MRAC

Hệ MRAC có thể như một hệ bám thích nghi, trong đó đặc tính mong muốn được tạo ra từ mô hình mẫu Mô hình mẫu là một mô hình toán học được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn đặt trước Việc so sánh giữa tín hiệu đặt trước với tín hiệu đầu ra của hệ, chính là sự so sánh giữa tín hiệu ra của mô hình mẫu với tín hiệu ra của quá trình

Mô hình mẫu được mô tả bởi phương trình:

m m m m

e = Xm - Xs: là sai số tổng quát (1.1.4) Tiêu chuẩn tối ưu ở đây có thể xem như một hàm:

IP = F(, C, t, aim, ais) (1.1.5) Trong đó: aim, ais là các thông số của mô hình và của quá trình

Mục tiêu cơ cấu thích nghi ở đây là điều chỉnh thông số nào đó sao cho hệ thống mô hình có sai lệch nhỏ nhất

Trang 22

t

0lime(t)

(1.1.6) Nghĩa là đặc tính ra trùng với đặc tính mong muốn Vì vậy chất lượng của hệ được đảm bảo

1.1.4 Những nhược điểm của hệ ĐKTN và hướng khắc phục

ĐKTN là phương pháp điều khiển hiện đại được ứng dụng điều khiển các hệ thống phức tạp Ngoài những ưu điểm mà ĐKTN đạt được thì nhược điểm cơ bản của phương pháp điều khiển thích nghi là không bền vững đối với nhiễu và khi đối tượng có các phần tử phi tuyến không thể mô hình hoá được Ngoài ra các phương pháp này đều cần giả thiết là tham số thay đổi chậm theo thời gian

Các luật thích nghi và bộ điều khiển được phân tích và thiết kế trên cơ sở đối tượng không có nhiễu tác động và các động học đều có thể mô hình hoá được Song trong thực tế các sơ đồ thực hiện trên các thiết bị thực thường khác với các mô hình

lý tưởng Các đối tượng trong thực tế có thể được giới hạn kích thước (số chiều), tính phi tuyến, số đầu vào và đầu ra Đặc tính của nó có thể sai khác bởi các nhiễu trong và nhiễu ngoài tác động vào Sự khác nhau giữa mô hình thay thế và mô hình thực sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ Vì vậy mà đặc tính của mô hình lý tưởng không thể áp dụng cho mô hình thực

Khi thiết kế hệ ĐKTN cho hệ thực phải chấp nhận các giả thiết sau:

- Không có phần tử không mô hình hoá được và biết đặc tính phi tuyến

- Các thông số không biết không thay đổi theo thời gian

- Đối tượng trong quá trình làm việc không chịu tác động của nhiễu

Trong thực tế các giả thiết trên là khó có thể thoả mãn được Như vậy khi xét đến nhiễu, đến sai số mô hình và sai số trong việc xác định tín hiệu vào ra của đối tượng thì hệ ĐKTN không còn bền vững nữa, đặc biệt khi hệ nằm ở biên giới ổn định

Một số trường hợp dẫn đến mất ổn định thường gặp trong thực tế là:

1.1.4.1 Hiện tượng trôi tham số

Xét đối tượng có đầu ra là y(t) bị tác động bởi nhiễu giới hạn chưa biết d(t)

Trang 23

Mô tả toán học của đối tượng là: Y(t) = θ*u(t)+d(t)

Trong trường hợp d(t) = 0, luật thích nghi đánh giá tham số là

θ* = ε1γu ; ε1 = y-θu Trong đó θ là đánh giá trực tuyến của θ*, chứng minh được rằng θ bị chặn và lúc này ε1→ 0 khi t →∞ hệ sẽ ổn định

Tuy nhiên khi d(t) ≠ 0 thì tham số đánh giá có thể xảy ra θ→∞ khi t→∞ Người ta gọi hiện tượng không ổn định này là hiện tượng trôi tham số

1.1.4.2 Mất ổn định do hệ số lớn

Xét đối tượng có hàm truyền bậc hai

uμs)a)(1(s

μs-1y

 (1.1.7) Trong đó: µ là số dương nhỏ đại diện cho các hằng số nhỏ trong hệ thống Đây là đối tượng có hàm truyền bậc 2 nên ta có thể giảm bậc và bỏ qua µ Biểu thức (1.1.7) có thể đưa về dạng:

ua)(s

1y

1(s)

G0  và

μs1

s2μ(s)

X   

µz = -z+2u (1.1.8)

y = x Trong hệ phương trình trên nếu ta cho µ = 0 thì hệ phương trình còn lại là:

bax

X   (1.1.9)

xy

~

x biểu thị trạng thái khi µ = 0

Trang 24

Sau khi có mô hình (đã giảm bậc) ta dùng làm cơ sở để thiết kế bộ điều khiển thích nghi trên đối tượng đơn giản nhưng thực tế là làm việc với hệ thực bậc 2 có µ> 0

Luật thích nghi có thể tạo ra hệ số phản hồi lớn, kích thích phát sinh các động học không có cấu trúc và dẫn đến sự mất ổn định

1.1.4.3 Mất ổn định do tốc độ thích nghi nhanh

Khi tốc độ thích nghi tăng lên thì các đặc tính động học không mô hình bị kích thích tăng lên Ảnh hưởng của các động học không cấu trúc sẽ gây ra trạng thái ký sinh lớn có tác dụng như là nhiễu làm cho hệ mất ổn định

* Hướng khắc phục

Để có thể ứng dụng điều khiển thích nghi vào điều khiển các hệ thực cần tìm biện pháp nâng cao tính bền vững của hệ bằng điều khiển thích nghi bền vững kết hợp với các hướng sau:

- Sử dụng luật điều khiển thông thường kết hợp với bộ đánh giá bền vững;

- Sử dụng luật điều khiển bền vững

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỆ ĐIỀU KHIỂN BỀN VỮNG

1.2.1 Định nghĩa

- Định nghĩa 1: Một hệ thống được gọi là bền vững nếu chất lượng E của hệ thống không những thoả mãn cho riêng mô hình đối tượng đang xét G0(p) mà cho một lớp các mô hình đối tượng G(p) trong đó có đối tượng G0(p) Hoặc cho cả một lớp các mô hình các sai lệch D so với G0(p)

- Định nghĩa 2: Một bộ điều khiển R(p) được gọi là bền vững nếu nó làm cho

hệ thống bền vững với chất lượng E cho một lớp các mô hình đối tượng G Hoặc cho một lớp các mô hình có sai lệch D so với đối tượng

1.2.2 Mô hình mô tả hệ phi tuyến

Khi thiết kế hệ thống điều khiển, nhiệm vụ đầu tiên là tìm mô hình toán học của đối tượng Xây dựng được mô hình toán học mô tả đầy đủ, chính xác đối tượng

là một nhiệm vụ khó khăn, thậm chí tìm được mô hình mô tả chính xác đối tượng

Trang 25

thì sẽ rất phức tạp, thường là có bậc cao dẫn đến bộ điều khiển quá phức tạp không thể thực hiện được

Để nâng cao tính bền vững của hệ khi thiết kế bộ điều khiển ta cần phải phân loại và nghiên cứu các đặc tính không xác định của đối tượng từ đó tìm cách mô tả chúng Khi các sai lệch của mô hình đối tượng được mô tả bằng một vài dạng toán học nào đó thì có thể sử dụng chúng để phân tích tính bền vững của bộ điều khiển khi thiết kế cho mô hình đơn giản hoá của đối tượng trong thực tế

Đặc điểm cơ bản của hệ phi tuyến là đặc tính của đối tượng khó xác định chính xác và đặc tính này không bền vững Do đó giữa mô hình thay thế và đối tượng thực

sẽ tồn tại một sai lệch nào đó

Sai lệch về cấu trúc của mô hình được chia thành hai dạng sau:

S: Đối tượng cần điều khiển

S0(p): Mô hình đối tượng chuẩn

R(p): Bộ điều khiển xây dựng trên cơ sở hiểu biết về đối tượng

∆S: Sai lệch giữa mô hình và đối tượng (các thành phần không mô hình được) e(t), x(t), y(t) : Các tín hiệu nội

u(t), n1(t), n2(t), n3(t): Tín hiệu bên ngoài tác động

Trang 26

1.2.2.1 Các phương pháp mô tả sai lệch

a Sai lệch có cấu trúc

Sai lệch có cấu trúc là sai lệch biểu diễn được thông qua miền giá trị thích hợp cùng tham số mô hình Khi mô hình hoá đối tượng các thành phần sai lệch ∆S được biểu diễn vào cùng với mô hình dưới dạng tham số

Trong nhiều trường hợp, các sai lệch của đối tượng có thể có dạng đặc biệt do bắt nguồn từ sự biến thiên của các tham số vật lý hoặc nảy sinh từ việc giảm bậc của các mô hình toán học bậc cao của đối tượng

Đối với một đối tượng tuyến tính dừng SISO, mô hình nhiễu loạn đơn viết ở dạng không gian trạng thái sau, đều có thể dùng để mô tả các hiện tượng biến đổi nhanh (phần thiểu số) và chậm (phần chiếm ưu thế) của đối tượng

uBzAxA

x  11  12  1

uBzAxA

 xRn (1.2.1)

zCC

y 1T  T2 yRmĐại lượng µ đại diện cho tất cả các tham số nhỏ như các hằng số thời gian nhỏ, các khối lượng nhỏ … đã bị bỏ qua Tất cả các ma trận trong phương trình trên được giả thiết là ma trận hằng và không phụ thuộc vào µ

Giả thiết này giúp cho việc tính toán đơn giản hơn và nó không làm mất tính tổng quát

Thực hiện phép biến đổi :

zf = z+L(µ)x (1.2.2) Trong đó L(µ) được chọn sao cho thoả mãn công thức đại số:

A21-A22L+µLA11-µLA12 = 0 (1.2.3) Khi đó (1.2.1) trở thành

x = Asx +A12 + B1u

z = Af fzf +A22zf + Bsu (1.2.4)

f T 2 T

C

Trang 27

Trong đó:

As = A11-A12L ; Af = A22+A12

Bs = B2+µLB1 ; CsT = C1T+C2TL

Nếu A22 không duy nhất với mọi  0, (tuỳ chọn > 0 ) ta luôn tìm được

lời giải của phương trình 1.2-3 ở dạng :

L = A22-1A21+O(µ)

Rõ ràng là với u = 0 thì:

zAxA

x  11  12

zf = Afzf +A22zf (1.2.5)

f T 2 T

C

y  Các giá trị riêng ở (1.2.5) bằng các giá trị riêng của As và Af/µ Những giá trị

riêng này trong trường hợp µ nhỏ và Af không duy nhất Nếu µ càng nhỏ thì khoảng

cách giữa trị riêng của As và Af/µ càng lớn và sự tách biệt giữa các thang thời gian

càng lớn Rõ ràng là nếu Af ổn định thì khi µ càng nhỏ biến trạng thái zf tiến về 0

càng nhanh

Vì vậy đối với giá trị µ nhỏ tác động của các đặc tính động học nhanh ổn định,

giảm một cách đáng kể sau một khoảng thời gian ngắn

Khi A22 ổn định (Cũng có nghĩa là Af ổn định khi µ nhỏ), một xấp xỉ hợp lý có

thể đạt được bằng cách đặt µ = 0, giải z từ công thức thứ hai của (1.2.1) rồi thay vào

công thức thứ nhất của phương trình (1.2.1) ta có :

uBxA

x0  0 0 0

uDxC

y0  T0 0  0 x0 Rn (1.2.6) Trong đó:

A0 = A11-A12A22-1A21 ; B0 = B1-A12A22-1 B2

C0T = C1T-C2TA22-1A21 ; D0 = - C2TA22-1B2

Nếu cho µ = 0 thì kích thước của không gian trạng thái (1.2.1) sẽ giảm từ

(n+m) xuống n do phương trình vi phân của z ở (1.2.1) đã chuyển thành phương

trình đại số:

Trang 28

0 = A21x0+A22z0+B2u (1.2.7)

z0 = -A22-1(A21x0+B2u) Hàm truyền đạt: G0(s) = C0T(sI-A0)-1B0+D0

Khi đó đại diện cho hàm biến thiên chậm hay nói cách khác là phần danh định

của đối tượng chiếm ưu thế

Cần lưu ý rằng, mặc dù hàm truyền đạt G(s) từ u sang y của đối tượng đủ bậc

mô tả ở (1.2.1) chính xác hoàn toàn nhưng hàm truyền danh định G0(s) chỉ đúng

một nửa vì: D0 = - C2TA22-TB2 có thể khác không

Trong trường hợp số hạng phát sinh từ các đặc tính động học biến đổi nhanh D0

= - C2TA22-1B2 mà khác 0 được gọi là ký sinh có thể quan sát rõ

Có một cách khác để khử tác động của các ký sinh quan sát được và điều khiển

nó bằng cách thêm vào (1.2.1) một bộ lọc thông thấp

Khi đó y được cho qua bộ lọc f1/(s+f0) (với f1,f0>0) và xuất hiện biến

yf = -f0yf+f1y (1.2.8) Khi đó (1.2.1) là:

uBzAzA

y

Đây là hệ thống bậc (n+m+1) trong đó :

xa = [yf,xT]T và Â11, Â12, B1

, Â21 ,C1

được xác định một cách phù hợp Hàm truyền danh định (1.2.9) bây giờ trở thành:

G0(S) = C0T(SI-Â0)B0

Có thể biểu diễn dạng khác của phương trình nếu thực hiện phép đổi biến:

uBA

zf  1 s

 (1.2.10) Biến trạng thái mới η đại diện cho sự sai lệch giữa biến trạng thái zf và đáp ứng

trạng thái “gần xác lập ” vì µ ≠ 0 có được nhờ phép xấp xỉ: µ.zf≈0

Sử dụng phương trình ta có được :

X AxA12Bsu

Trang 29

AfA1Bsu (1.2.11)

yCsTxCT2Dsu

12 1

b Sai lệch không có cấu trúc

Là sai lệch không biểu diễn được qua tham số mô hình mà phải nhờ đến phương pháp tổng quát hơn

Các dạng sai lệch không có cấu trúc có thể có một trong ba dạng quan hệ sau đối với đối tượng:

* Sai lệch cộng:

Gọi G(s) và G0(s) là hàm truyền của đối tượng thật và mô hình tương ứng Quan hệ giữa mô hình thay thế và đối tượng xác định theo:

G(s) = G0(s)+∆Ga(s) (1.2.12)

G0(s): là hàm truyền chuẩn bao gồm những thành phần có thể mô hình được

∆Ga(s): Thành phần bất định của mô hình (kể đến các thành phần không mô hình được hay là sai lệch mô hình thật với mô hình lý tưởng hoá )

Đối với nhiễu cộng thông thường là không biết cấu trúc của nhiễu nhưng ta giả thiết rằng nó bị chặn trên trong miền tần số, có nghĩa là:

Trang 30

Tập các mô hình đối tượng được mô tả bởi:

Với bài toán ĐKTN thì yêu cầu ∆Ga(s) là ổn định (Đa thức Hurwit)

* Sai lệch nhân

Nếu G(s), G0(s) có quan hệ:

G(s) = G0(s)(1+∆Gm(s) ) (1.2.13) Với ∆Gm(s) ổn định Khi đó ∆Gm(s) được gọi là nhiễu nhân

Đối với nhiễu nhân thông thường cũng không biết cấu trúc của nhiễu nhưng ta giả thiết rằng nó bị chặn trên trong miền tần số, có nghĩa là :

)j(G)j(G

0

0 m

là một họ đối tượng trong đó sai lệch có mối quan hệ nhân đối với đối tượng

Trang 31

M

NG

;MM

NN)s(

∆N, ∆M gọi là thành phần sai lệch hệ số của mô hình

Trong 3 dạng trên, dạng thứ 3 đƣợc dùng phổ biến vì có ƣu điểm là biểu diễn đƣợc lớp các mô hình rộng hơn và tham số hoá mô hình dễ dàng hơn

1.2.3 Điều khiển bền vững đối với hệ phi tuyến

Mục đích của bộ điều khiển là đạt đƣợc các tính năng theo yêu cầu và bền vững Để đạt đƣợc mục đích đó bộ điều khiển phải thiết kế sao cho ít nhạy cảm, nghĩa là phải bền vững đối với một lớp đặc tính không xác định mà chắc chắn sẽ gặp trong thực tế Nói cách khác là bộ điều khiển bền vững đảm bảo tính năng của

nó không những cho mô hình chuẩn của đối tƣợng mà còn đảm bảo với một họ đối tƣợng, trong đó có đối tƣợng đang khảo sát

Xét mô hình hệ thống kín mô tả trên hình 1.12 Trong đó C(s), F(s) là thiết bị điều khiển đƣợc thiết kế để đảm bảo ổn định cho phần chuẩn của mô hình đối tƣợng

và phần này có hàm truyền là G0(s) và xác định đƣợc

G0(s): Hàm truyền danh định của mô hình chuẩn

G(s): Hàm truyền của đối tƣợng thực

d, du, dn, ym: Trị số biên của các tín hiệu đầu vào

∆N

Hình 1.11: Sơ đồ mô tả sai lệch hệ số

+ +

∆M

-

Trang 32

G(s) là đại diện cho một họ đối tƣợng thực trong đó có mô hình chuẩn có hàm truyền danh định là G0(s) và có sai lệch mô hình đƣợc mô tả bằng biên chặn trên nào đó trong miền tần số

Sai lệch mô hình chuẩn G0(s) và đối tƣợng G(s) đƣợc mô tả bằng một trong ba dạng sai lệch đã phân tích ở trên

Thiết bị điều khiển C(s), F(s) là bền vững đối với phần không xác định của đối tƣợng G(s), nghĩa là ngoài mô hình G0(s) nó còn ổn định cả với G(s)

Đặc tính của C(s), F(s) làm ổn định đối với G(s) gọi là tính ổn định bền vững của hệ điều khiển

Điều kiện cần và đủ để hệ trên (Hình 1.12) ổn định bền vững là :

)s(G)s(F)s(C1

)s(F)s(C

a 0

)s(G)s(F)s(C

m 0

  (1.2.18)

)s(N)s(F)s(C)s(

M

)s()s(F)s(C)s(

0 0

)s(M

)s(N)s(G,)s()s(D

)s()s(N)s(G

0 0 2

+

Y e

+

Trang 33

G0(s): Hàm truyền của đối tượng chuẩn (Bộ phận mô hình hoá được của đối tượng)

∆a(s): Là nhiễu cộng (Đặc tính không xác định- Bộ phận không mô hình hóa được của đối tượng)

∆m(s): Là nhiễu nhân (Đặc tính không xác định- Bộ phận không mô hình hoá được của đối tượng)

δa(ω): Là biên trên của Ga(jω)

δm(ω): Là biên trên được xác định từ thực nghiệm

Các điều kiện (1.2.8) (1.2.9) (1.2.10) không chỉ là điều kiện đủ mà còn là điều kiện cần, nếu điều kiện trên bị vi phạm thì trong họ đối tượng đang xem xét có một đối tượng Gi để hệ thống có phản hồi với các khâu bù C(s), F(s) là không ổn định Các điều kiện (1.2.17); (1.2.18); (1.2.19) được gọi là điều kiện bền vững Các điều kiện này được dùng để chọn C(s), F(s) sao cho ngoài vấn đề ổn định với đối tượng chuẩn còn ổn định với một lớp các sai lệch mô hình

1.3 HỆ ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI BỀN VỮNG

Khi cần điều khiển các hệ phi tuyến chứa các tham số không biết trước thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của nhiễu với các phần tử phi tuyến không thể hoặc khó mô hình hoá được Các bộ điều khiển cần thoả mãn các yêu cầu đặt trước thường được thiết kế theo các hướng sau:

+ Điều khiển bền vững

+ Điều khiển thích nghi

+ Điều khiển thích nghi bền vững

* Điều khiển bền vững

Mục đích của thiết bị điều khiển là đạt được các tính năng theo yêu cầu Để đạt được mục đích đó bộ điều khiển phải thiết kế sao cho có tính bền vững đối với một lớp đặc tính không xác định mà chắc chắn sẽ gặp trong thực tế

Nói cách khác là bộ điều khiển bền vững đảm bảo tính ổn định của hệ kín và tính năng của nó không những đảm bảo với mô hình chuẩn của đối tượng mà còn đảm bảo với một lớp các mô hình đối tượng

Trang 34

Một trong những phương pháp bền vững ra đời sớm nhất là phương pháp bề mặt chuyển đổi Phần cơ bản của phương pháp này là bề mặt chuyển đổi được thiết

kế sao cho nếu các trạng thái nằm trên bề mặt này thì hệ thoả mãn các yêu cầu điều khiển cần thiết Tín hiệu điều khiển được thiết kế sao cho các trạng thái luôn nằm trên bề mặt này

Phương pháp này có nhược điểm là chỉ ứng dụng cho hệ thoả mãn điều kiện cùng mức nghĩa là nhiễu ảnh hưởng vào hệ ở cùng mức với tín hiệu điều khiển, quá trình thiết kế là quá trình thử dần

Nhược điểm quan trọng nữa là tín hiệu điều khiển bị gián đoạn khi các trạng thái thay đổi qua lại bề mặt

Một số phương pháp điều khiển bền vững khác dựa vào luật Lyapunov thứ II Đối với các hệ chịu nhiễu và chứa các phần tử phi tuyến không mô hình hoá được, khi sử dụng phương pháp thiết kế này cần thoả mãn điều kiện cùng mức

Điều kiện cùng mức chỉ thoả mãn ở một số trường hợp hữu hạn trong thực tế,

do vậy cần phải có phương pháp để loại bỏ giới hạn này

Trong trường hợp này người ta chia các thông số không biết trước, nhiễu và các phần tử phi tuyến không thể mô hình hoá được thành 2 thành phần:

Thoả mãn điều kiện cùng mức và không thoả mãn điều kiện cùng mức

Sau đó dùng phương pháp Lyapunov thứ II để thiết kế ổn định cho phần của

hệ thoả mãn điều kiện cùng mức và dùng phương pháp ổn định năng lượng để thiết

kế ổn định cho phần không thoả mãn điều kiện cùng mức

* Điều khiển thích nghi

Để thoả mãn các yêu cầu đặt trước, khi cần điều khiển các hệ phi tuyến có thể theo hướng điều khiển thứ hai là sử dụng hệ ĐKTN

Phương pháp này được thiết kế cho các hệ thoả mãn các điều kiện cùng mức cũng như các hệ không thoả mãn điều kiện này

Luật điều khiển là luật nhận dạng các tham số được xây dựng dựa vào nguyên

lý tương đương dùng cho các hệ tuyến tính Đặc điểm cơ bản của điều khiển thích nghi là chỉ xây dựng cho những hệ có tham số biết trước sau đó các tham số này

Trang 35

được thay thế bởi nhận dạng của chúng Đây chính là các phương pháp ĐKTN cho các hệ tuyến tính và được cải tiến để áp dụng cho các hệ phi tuyến

Nhược điểm cơ bản của ĐKTN là không bền vững khi chịu nhiễu tác động và khi đối tượng có các phần tử phi tuyến không mô hình hoá được

* Điều khiển thích nghi bền vững

Từ nội dung của hai phương pháp điều khiển trên ta kết hợp để đưa ra phương pháp điều khiển thích nghi bền vững (ĐKTNBV)

Nội dung của phương pháp này là xây dựng một bộ điều khiển sao cho tận dụng được ưu điểm của hai phương pháp điều khiển trên Nghĩa là xây dựng được

bộ ĐKTN mà nó có thể ổn định không những đối với một đối tượng chuẩn mà nó

có thể ổn định với một lớp đối tượng trong đó bao hàm cả đối tượng chuẩn nói trên Trong trường hợp chung lớp đối tượng trên có thể có thông số không biết trước và có thành phần động học không mô hình hoá được

1.4 KẾT LUẬN

Qua tìm hiểu ta thấy ĐKTN bền vững là phương pháp điều khiển tự động hiện đại, có nhiều ưu điểm được ứng dụng để điều khiển các hệ thống phức tạp trong thực tế nhằm đáp ứng các yêu cầu của nền sản xuất hiện đại

Các hệ trong thực tế là các hệ có tham số biến thiên và mô hình có phần không

mô hình hoá được Vì vậy khi sử dụng hệ điều khiển thích nghi bền vững thì phần thích nghi sẽ khắc phục được sự biến thiên tham số còn phần bền vững sẽ đảm bảo cho hệ ổn định với một lớp các mô hình tức là khắc phục được các sai lệch về mô hình Như vậy hệ ĐKTNBV đã tận dụng được ưu điểm của cả hai phương pháp để điều khiển hệ thực

Trang 36

CHƯƠNG 2

LÝ THUYẾT HỆ ĐIỀU KHIỂN THÍCH NGHI BỀN VỮNG

Hệ điều khiển thích nghi điển hình bao gồm hai phần chính: luật điều khiển và luật thích nghi (luật đánh giá tham số) Bài toán nâng cao tính bền vững của hệ điều khiển thích nghi cũng đi theo hai hướng sau:

- Hướng 1: Tìm các bộ đánh giá tham số đặc biệt (luật thích nghi bền vững) để đạt được tính bền vững của hệ

- Hướng 2: Tìm các luật điều khiển bền vững để ứng dụng vào tổng hợp sơ đồ điều khiển thích nghi

Nguyên nhân chủ yếu của sự mất ổn định là do luật thích nghi gây nên

Vì vậy luận văn tập trung giải quyết theo hướng sử dụng các luật thích nghi bền vững để ứng dụng cho các sơ đồ thích nghi với các luật điều khiển thông thường

2.1 CÁC LUẬT THÍCH NGHI BỀN VỮNG

Các luật thích nghi làm cho hệ bền vững đối với các sai lệch mô hình và nhiễu được gọi là luật thích nghi bền vững Các luật thích nghi bền vững được xây dựng dựa trên cơ sở cải tiến các luật thích nghi thông thường nhờ hai phép biến đổi chủ yếu sau:

2.1.1 Tín hiệu chuẩn hoá (m):

Tín hiệu này được chọn sao cho chặn trên đối với sai số mô hình η và véc tơ tín hiệu φ Tín hiệu chuẩn hoá đảm bảo là sai số mô hình đã chuẩn hoá η/m được giới hạn và do đó nó có tác dụng như một nhiễu đầu vào đã giới hạn trong luật thích nghi

2.1.2 Phương pháp thay đổi thành phần tích phân của luật thích nghi: Phép

“khe hở”, phép “Chiếu”, hoặc “Vùng chết”

Phép “Chiếu ” cưỡng bức các đánh giá tham số nằm bên trong một tập hợp lồi giới hạn nào đó trong không gian tham số mà có chứa véc tơ chưa biết θ* sẽ đảm bảo cho tham số đánh giá bị giới hạn

Các hệ điều khiển thích nghi bền vững điển hình là:

Trang 37

- Thuật toán hiệu chỉnh khe hở (Leakage)

- Thuật toán Gradient có khe hở

- Thuật toán bình phương cực tiểu có khe hở

- Phương pháp chiếu (Prorection)

- Phương pháp vùng chết (Dead-Zone)

2.1.2.1 Phương pháp chiếu

Tư tưởng chung phương pháp là: tính bị chặn của tất cả tín hiệu nội trong hệ kín khi có mặt nhiễu tác động có thể thực hiện được bằng cách chiếu các tham số đánh giá lên một miền lồi chứa véc tơ tham số thật Tuy nhiên, phương pháp này phải biết thông tin tiên nghiệm về khoảng biến thiên của các tham số nên phương pháp này ít dùng

2.1.2.2 Phương pháp hiệu chỉnh “Khe hở”

Xuất phát từ các thuật toán đánh giá RLS, ta đưa ra thuật toán hiệu chỉnh Leakage cho hệ gián đoạn như sau:

))1t((

)1t()1t(

)t()1t()

1t()t

t()

1t()1t(

)t()1t()

1t()t

Trang 38

lớn tức là đưa vào vùng chết trong bộ đánh giá Với sự lựa chọn vùng chết khác nhau dẫn đến những bộ đánh giá khác nhau nhưng yêu cầu phải có thông tin tiên nghiệm để chọn vùng chết hợp lý

Thuật toán do Egardt, Peterson and Narenda

Luật đánh giá :

)1t()1t(

)t()1t())

t(()1t(

~)t(

D)t())t(((

: sai lệch tương đối giữa giá trị thật và giá trị đánh giá

Với cách này, quá trình đánh giá sẽ bị ngưng khi sai lệch đánh giá nhỏ hơn nhiễu để đảm bảo tính bị chặn của tất cả các tín hiệu trong mạch vòng kín

Thuật toán do Lamaire đề xuất

Luật đánh giá:

)t()1t()2t(P)1t(1

)1t()2t(P)t(v)

1t()t

)1t(P)t()t()1t(P)t(v)1t(P)t(

|/)t()),DD(((

f

0)t(s

Trang 39

Theo luật đánh giá này, khi sai lệch || > (D2+D1) thì hệ số thích nghi  tiến gần đến 1 Khi đó, bước điều chỉnh tham số lớn (tốc độ cập nhật nhanh) nhưng diễn

ra với tần số thấp Ngược lại, khi || < (D2+D1) thì hệ số thích nghi  tiến gần đến

0 (vùng chết) Khi đó, bước điều chỉnh tham số bé (tốc độ cập nhật chậm) nhưng diễn ra với tần số cao Với cách đánh giá này đảm bảo tính bị chặn của tất cả các tín hiệu trong mạch vòng kín khi có nhiễu

2.2 HỆ MRAC BỀN VỮNG TRỰC TIẾP VỚI CÁC LUẬT THÍCH NGHI CHUẨN HÓA

Các hệ ĐKTN thiết kế cho các mô hình đã đơn giản hoá sẽ không đảm bảo được tính ổn định khi áp dụng cho đối tượng thực có ∆m(s)≠0 hoặc du≠0

Nguyên nhân chủ yếu của sự mất ổn định là do luật thích nghi gây nên Luật thích nghi làm cho các vòng kín tổng thể trở nên phi tuyến và nhạy cảm đối với tác động của sai số mô hình

Tính bền vững của hệ MRAC với các luật thích nghi đã chuẩn hoá có thể đạt được bằng cách sử dụng nguyên tắc tương đương để phối hợp luật điều khiển MRAC với luật thích nghi bền vững

Trình tự thiết kế giống như đối với trường hợp lý tưởng, nghĩa là ta sử dụng luật điều khiển giống như trường hợp tham số đã biết nhưng thay các tham số chưa biết đó bằng các luật đánh giá trực tuyến nhờ các luật thích nghi bền vững

Xét đối tượng SISO được mô tả bằng:

1 (s)ua

Nếu (t)<(D2+D1) Nếu ngược lại

Trang 40

as

1yz

m

Trong đó: -am là điểm cực mong muốn của hệ thống kín

θ là đánh giá của θ* = a+am

Các công thức (2.2.2) được thiết kế cho mô hình đối tượng u

as

1y

lại áp dụng cho đối tượng (2.2.1) là: 1 (s)u

as

Sơ đồ ĐKTN này sẽ trở nên bền vững nếu ta thay luật thích nghi (2.2.3) bằng luật thích nghi bền vững đã trình bày ở trên và vẫn giữ các luật điều khiển thông thường

Trình tự thiết kế như sau:

Trước hết biểu diễn tham số điều khiển mong muốn θ* = a+am ở dạng mô hình tham số tuyến tính:

1m m

Nếu ta giả thiết rằng giới hạn độ dự trữ ổn định của các điểm cực ∆m(s) đã biết,

có nghĩa là ∆m(s) giải tích trong miền Re[s] ≥- δ0/2 (với hằng số δ0 dương đã biết) thì có thể chứng minh rằng tín hiệu m tạo ra theo biểu thức:

s 2

m1

m   ; m 0ms u2 y2 ; ms(0) = 0; δ0<2am (2.2.4)

Ngày đăng: 05/10/2014, 18:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Doãn Phước, Phan Xuân Minh (2000)- Điều khiển tối ưu và bền vững, NXB Khoa học – kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: iều khiển tối ưu và bền vững
Tác giả: Nguyễn Doãn Phước, Phan Xuân Minh
Nhà XB: NXB Khoa học – kỹ thuật
Năm: 2000
[2] Phạm Thương Hàn- Nguyễn Trọng Quế- Nguyễn Văn Hoà (1994)- Điều khiển tối ưu và bền vững- NXB Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều khiển tối ưu và bền vững
Tác giả: Phạm Thương Hàn- Nguyễn Trọng Quế- Nguyễn Văn Hoà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
[3] Nguyễn Công Hiền(2000), Bài toán ổn định bền vững của hệ điều khiển thích nghi; Tuyển tập hội tự động hoá toàn quốc VICA, 187-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài toán ổn định bền vững của hệ điều khiển thích nghi
Tác giả: Nguyễn Công Hiền
Năm: 2000
[4] Nguyễn Thương Ngô (2005), Lý thuyết điều khiển tự động thông thường và hiện đại. Q3. Hệ phi tuyến - Ngẫu nhiên, NXB Khoa học - kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết điều khiển tự động thông thường và hiện đại. Q3. Hệ phi tuyến - Ngẫu nhiên
Tác giả: Nguyễn Thương Ngô
Nhà XB: NXB Khoa học - kỹ thuật
Năm: 2005
[5] Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Thị Hiền(2004), Truyền động điện, NXB Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền động điện
Tác giả: Bùi Quốc Khánh, Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2004
[6] Nguyễn Thương Ngô (2005), Lý thuyết điều khiển tự động thông thường và hiện đại. Q4. Điều khiển tối ưu - điều khiển thích nghi, NXB Khoa học - kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết điều khiển tự động thông thường và hiện đại. Q4. Điều khiển tối ưu - điều khiển thích nghi
Tác giả: Nguyễn Thương Ngô
Nhà XB: NXB Khoa học - kỹ thuật
Năm: 2005
[7] Nguyễn Doãn Phước(2007), Lý thuyết điều khiển nâng cao. NXB Khoa học –kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết điều khiển nâng cao
Tác giả: Nguyễn Doãn Phước
Nhà XB: NXB Khoa học –kỹ thuật
Năm: 2007
[8] Nguyễn Doãn Phước (2005), Lý thuyết điều khiển tuyến tính, NXB Khoa học – kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết điều khiển tuyến tính
Tác giả: Nguyễn Doãn Phước
Nhà XB: NXB Khoa học – kỹ thuật
Năm: 2005
[9] Nguyễn Phùng Quang (2003), MATLAB &amp; Simulink dành cho kỹ sư điều khiển tự động, NXB Khoa học - kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: MATLAB & Simulink dành cho kỹ sư điều khiển tự động
Tác giả: Nguyễn Phùng Quang
Nhà XB: NXB Khoa học - kỹ thuật
Năm: 2003
[10] Đỗ Sanh (2004), Động lực học máy, NXB khoa học- kỹ thuật Hà Nội Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động lực học máy
Tác giả: Đỗ Sanh
Nhà XB: NXB khoa học- kỹ thuật Hà Nội Tài liệu tiếng Anh
Năm: 2004
[12] Andrew P, Bin Yao, Indirect adaptive robust control of nolinear systems amplication to electro – mechaanicial, (2000)August Sách, tạp chí
Tiêu đề: Indirect adaptive robust control of nolinear systems amplication to electro – mechaanicial
[13] Petros A.loannou, (1996), Robust Adaptive Control,Prentice- Hall PRT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robust Adaptive Control
Tác giả: Petros A.loannou
Năm: 1996
[11] Benjamin C.Kuo (2000), Automatic Control Systems Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 4: Hệ ĐKTN tự điều chỉnh gián tiếp: ISTR - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 1. 4: Hệ ĐKTN tự điều chỉnh gián tiếp: ISTR (Trang 17)
Hình 1. 5: Hệ ĐKTN tự điều chỉnh trực tiếp: DSTR - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 1. 5: Hệ ĐKTN tự điều chỉnh trực tiếp: DSTR (Trang 18)
Sơ đồ hệ MRAC trực tiếp đƣợc chỉ ra trên hình 1.6 - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Sơ đồ h ệ MRAC trực tiếp đƣợc chỉ ra trên hình 1.6 (Trang 19)
Hình 1.7: Sơ đồ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu gián tiếp - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 1.7 Sơ đồ điều khiển thích nghi theo mô hình mẫu gián tiếp (Trang 20)
Hình 1.8: Sơ đồ mô tả sai lệch giữa mô hình và đối tượng - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 1.8 Sơ đồ mô tả sai lệch giữa mô hình và đối tượng (Trang 25)
Hình 1.12: Hệ thống điều khiển tổng quát - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 1.12 Hệ thống điều khiển tổng quát (Trang 32)
Sơ đồ khối của hệ thống kín MRAC bền vững khi có các đặc tính động không  cấu trúc và nhiễu đầu vào giới hạn nhƣ hình 2.1: - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Sơ đồ kh ối của hệ thống kín MRAC bền vững khi có các đặc tính động không cấu trúc và nhiễu đầu vào giới hạn nhƣ hình 2.1: (Trang 45)
Hình 3.1: Mô tả hệ thống hệ thống xử lý băng vật liệu điển hình - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.1 Mô tả hệ thống hệ thống xử lý băng vật liệu điển hình (Trang 50)
Hình 3.2: Cấu trúc tổng quát của một hệ máy tháo-quấn băng giấy - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.2 Cấu trúc tổng quát của một hệ máy tháo-quấn băng giấy (Trang 51)
Hình 3.3: Cấu trúc khâu tháo quấn băng giấy (Unwind) - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.3 Cấu trúc khâu tháo quấn băng giấy (Unwind) (Trang 52)
Hình 3.4: Cấu trúc khâu xử lý băng giấy - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.4 Cấu trúc khâu xử lý băng giấy (Trang 52)
Hình 3.5: Cấu trúc khâu quấn lại băng giấy (Rewind) - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.5 Cấu trúc khâu quấn lại băng giấy (Rewind) (Trang 53)
Hình 3.6: Quá trình hoạt động và điều khiển hệ thống tháo-quấn băng vật  liệu - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.6 Quá trình hoạt động và điều khiển hệ thống tháo-quấn băng vật liệu (Trang 56)
Hình 3.7: Khảo sát hệ thống tháo-quấn băng vật liệu điển hình - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Hình 3.7 Khảo sát hệ thống tháo-quấn băng vật liệu điển hình (Trang 57)
Bảng 3.1: Tổng hợp phương trình toán học mô tả hệ thống tháo-quấn  băng vật liệu - ứng dụng lý thuyết điều khiển thích nghi bền vững nâng cao chất lượng hệ truyền động tháo - quấn băng vật liệu giấy
Bảng 3.1 Tổng hợp phương trình toán học mô tả hệ thống tháo-quấn băng vật liệu (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w