Việc quản lý giống chưa được chặt chẽ , nhiều hộ nông dân tự giâm cành nhân giống từ những cây không đủ tiêu chuẩn dẫn đến tình trạng hồng bị bệnh ngay từ khi mới nhân giống là vấn đề kh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
––––––––––––––––––––
TĂNG VĂN HUY
TUYỂN CHỌN CÂY ƢU TÚ VÀ NGHIÊN CỨU GHÉP CẢI TẠO TRÊN GIỐNG HỒNG NHÂN HẬU
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN - BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––
TĂNG VĂN HUY
TUYỂN CHỌN CÂY ƯU TÚ VÀ NGHIÊN CỨU GHÉP CẢI TẠO TRÊN GIỐNG HỒNG NHÂN HẬU
TẠI HUYỆN LỤC NGẠN - BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH : TRỒNG TRỌT
Người hướng dẫn khoa học: 1: TS VÕ QUỐC VIỆT
2: PGS.TS ĐÀO THANH VÂN
Thái Nguyên năm 2010
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn: ’Tuyển chọn cây ưu tú và nghiên
cứu ghép cải tạo trên giống hồng Nhân Hậu tại huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang” là do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Võ
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại học, Khoa nông học, các thầy cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn TS Võ Quốc Việt - PGS.TS Đào Thanh Vân người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân, các phòng ban chuyên môn huyện Lục Ngạn UBND xã Tân Quang, Thanh Hải, Kiên Thành huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang và các hộ có vườn để đặt thí nghiệm
đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình theo dõi thu thập số liệu cho bản luận văn này
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2010
HỌC VIÊN CAO HỌC
T¨ng V¨n Huy
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 4
1.2.1 Mục đích 4
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 4
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.4 Ý NGHĨA THỰC TIỄN S ẢN XUẤT 4
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc điều tra nghiên cứu 5
2.1.2 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép cây ăn quả 10
2.1.3 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép cải tạo 15
2.1.4 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm nông- sinh học của cây hồng 15
2.2 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HỒNG ĂN QUẢ 16
2.2 1 Nguồn gốc và phân loại 16
2.2.2 Nguồn gốc 16
2.2.3 Phân loại 17
2.3 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VÀ SẢN XUẤT HỒNG ĂN QUẢ 18
2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 18
2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 22
Trang 62.4 MỘT SỐ KẾT QUẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHẠM VI ĐỀ TÀI 34
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.3 Nhu cầu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho hồng 44
2.4.4 Một số đặc điểm của giống hồng nghiên cứu 46
PHẦN III 47
VẬT LIỆU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU 47
3.1.1 Nguồn thực liệu 47
3.1.2 Dụng cụ để tiến hành 47
3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 47
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 47
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
3.4.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình sản xuất hồng tại Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang 48
3.4.2 Nghiên cứu tuyển chọn cây hồng ưu tú 48
3.4.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật ghép trên cây hồng Nhân Hậu tại Lục Ngạn- Bắc giang 50
3.5 CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP THEO DÕI 51
3.5.1 Thu thập số liệu điều tra hiện trạng sản xuất hồng tại huyện Lục Ngạn- tỉnh Bắc Giang 51
3.5.2 Theo dõi các chỉ tiêu cây hồng ưu tú tuyển chọn 51
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 52
PHẦN IV 53
Trang 8KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
4.1.1 Vị trí địa lý 53
4.1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 53
4.1.3 Điều kiện giao thông thị trường 54
4.1.4 Điều kiện thời tiết, khí hậu tại huyện Lục Ngạn - Bắc Giang 54
4.1.5 Tình hình sản xuất cây ăn quả của tỉnh Bắc Giang 56
4.1.6 Tình hình sản xuất cây ăn quả của huyên Lục Ngạn 58
4.1.6 Điều tra tình tình hình sản xuất hồng tại huyên Lục Ngạn 60
4.1.7 Tình hình sử dụng đất của huyện Lục Ngạn 62
4.2 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TUYỂN CHỌN CÂY ƯU TÚ TỪ CÁC GIỐNG HỒNG Ở LỤC NGẠN - BẮC GIANG 62
4.3 Kết quả điều tra tuyển chọn cây hồng ưu tú 63
4.4 Nguồn gốc, đất đai của các cây hồng được tuyển chọn 64
4.5 Đặc điểm hình thái của các cây hồng được tuyển chọn 65
4.6 Số quả và năng suất quả ở các cây hồng tuyển chọn 66
4.7 Đặc điểm về kích thước, mầu sắc và tỷ lệ ăn được của quả 67
4.8 Quá trình ra hoa, đậu quả của giống nghiên cứu 68
4.9 Một số chỉ tiêu sinh hoá quả của các cây tuyển chọn 70
4.10 Tình hình sâu, bệnh hại trên cây hồng Nhân Hậu trồng tại Lục Ngạn-Bắc Giang 72
4.11.Tổng hợp kết quả tuyển chọn cây hồng ưu tú 73
4.12 Kết quả về các biện pháp ghép cải tạo đối với cây hồng 75
Trang 104.13 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ ghép sống 76
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
4.15 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp ghép đến khả năng sinh
trưởng của cành ghép 77
4.16 Nghiên cứu ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến tỷ lệ ghép sống 78
4.17 Nghiên cứu ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến khả năng bật mầm sau ghép 79
4.18 Nghiên cứu ảnh hưởng của đường kính gốc ghép đến khả năng sinh trưởng của cây sau ghép 80
4.19 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ ghép sống 82
4.20 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ghép đến khả năng bật mầm 83 4.21 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ghép đ ến khả năng sinh trưởng của cành ghép 84
PHẦN V 86
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86
5 Kết luận 86
5.1 Kết quả điều tra hiện trạng sản xuất cây hồng của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang 86
5.2 Kết quả nghiên cứu điều tra tuyển chọn cây hồng ưu tú 86
5.3 Kết quả một số biện pháp kỹ thuật trong ghép cải tạo hồng Nhân Hậu tại Lục Ngạn- Bắc Giang 87
5.2 Đề nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 1.1 : Diện tích, sản lượng hồng ở một số nước trên thế giới 20
Bảng 1.2: Sự phân bố và sử dụng của các loài hồng thuộc chi Diospyros 21
Bảng 1.3: Diện tích và sản lượng hồng ở Việt Nam đến năm 2000 22
Bảng 1.4: Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2004 23
Bảng 1.5: So sánh yêu cầu sinh thái của hồng với điều kiện, khí hậu thời tiết của Lạng Sơn 34
Bảng 1.6: Đặc điểm của các giống hồng chính ở Nhật Bản 39
Bảng 1.7: Lượng phân bón cho hồng ở các cấp tuổi ( kg/cây) 45
Bảng 4.1: Diễn biến khí hậu trong thời gian nghiên cứu tại Lục Ngạn 55
Bảng 4.2: Diễn biến diện tích và sản lượng cây ăn quả của huyện Lục Ngạn 58
Bảng 4.3: Tình hình sản xuất hồng tại huyện Lục Ngạn qua 5 năm 60
Bảng 4.4: Tình hình sử dụng đất của huyện Lục Ngạn 62
Bảng 4.5: Số lượng cây hồng Nhân Hậu bình tuyển qua các năm 63
Bảng 4.6: Nguồn gốc, vị trí đất đai của các cây hồng được tuyển chọn 64
Bảng: 4.7 Đặc điểm hình thái tán cây hồng được tuyển chọn 65
Bảng 4.8: Số quả và năng suất quả ở các cây hồng tuyển chọn 67
Bảng 4.9 Đặc điểm về kích thước, mầu sắc và tỷ lệ ăn được của quả 68
Bảng 4.10: Thời gian ra hoa, tỷ lệ đậu quả của các cây hồng tuyển chọn 69
Bảng 4.11: Một số chỉ tiêu về hoa và tỷ lệ đậu quả của giống hồng Nhân Hậu 70
Trang 13Bảng 4.12: Hàm lƣợng một số chất dinh dƣỡng trong quả hồng của các cây tuyển chọn 71
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http//: www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 4.14 Tuổi cây, địa chỉ, nguồn gốc nhân giống của 3 cây hông ưu tú 73
Bảng 4.15 Tổng hợp đặc điểm của 3 cây cam ưu tú nhất được tuyển chọn 74
Bảng 4.16: Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến tỷ lệ ghép sống (%) 76
Bảng 4.17: Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến thời gian bật 77
Bảng 4.18: Ảnh hưởng của phương pháp ghép đến khả năng sinh 78
trưởng của cành ghép 78
Bảng 4.19: Ảnh hưởng của đường kính cành ghép đến tỷ lệ ghép sống (%) 79 Bảng 4.20: Ảnh hưởng của đường kính cành ghép đến thời gian bật mầm 80
Bảng 4.21: Ảnh hưởng của đường kính cành ghép đến khả năng sinh trưởng của cành ghép 81
Bảng 4.22: Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến tỷ lệ ghép sống (%) 82
Bảng 4.23 Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến thời gian bật mầm ghép 83
Bảng 4.24: Ảnh hưởng của thời vụ ghép đến khả năng sinh 84
trưởng của cành ghép 84
Trang 15PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây hồng (Diospyros kaki Linn) là một trong những cây ăn quả truyền
thống được xếp trong nhóm cây ăn quả quan trọng ở Việt Nam Hồng là loại cây ăn quả lâu năm, có nguồn gốc á nhiệt đới, chịu rét giỏi, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế khá cao Quả hồng có hàm lượng dinh dưỡng khá cao: đường tổng số chiếm từ 10 - 18% (có thể đến 25%), protein từ 0,4- 0,6%, ngoài ra còn chứa các loại caroten, vitamin A, C, PP, B1, B2, Quả hồng chín
có hương vị thơm ngon có thể ăn tươi hoặc chế biến [7], [17], [39], [45] Có nhiều cách chế biến quả hồng như sấy khô, làm mứt, làm bánh nướng, bánh ngọt, vỏ quả có thể được nghiền thành bột và sử dụng làm viên ngọt [45]
Ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể con người, quả hồng và các bộ phận của cây hồng còn là những vị thuốc quý Quả chín được sử dụng
để ăn tươi, chữa bệnh táo bón, bệnh trĩ, giảm sốt, chống say rượu, bớt căng thẳng, khi qua chế biến được sử dụng để chữa bệnh tiêu chảy Đặc biệt, quả hồng còn chứa hàm lượng iốt đáng kể có tác dụng phòng ngừa bệnh bướu cổ [15], [16], [45], [57] Hồng khô được sử dụng chữa bệnh viêm phế quản, bệnh
ho khan, trừ giun sán, chống chảy máu, chữa long đờm và phục hồi sức khoẻ Cuống và đài hoa dùng để chữa ho và nấc rất tốt Dịch quả xanh dùng để chữa bệnh cao huyết áp [56], [57] Theo Kotami và các cộng sự (2000) [65] cho biết: chất tanin và các hợp chất trong quả có nhiều tác dụng sinh lý như kháng khuẩn, chống dị ứng, làm giảm chứng cao huyết áp
Thân gỗ hồng cứng, bền với thớ gỗ đẹp, được sử dụng làm đồ nội thất bền chắc, hiệu quả kinh tế cao [69]
Trang 16Cây hồng có nhiều ưu điểm so với các cây trồng khác như: dễ trồng, chịu được khô hạn, ít sâu bệnh, sinh trưởng khỏe, lá to, tán rộng có thể trồng
để thu hoạch quả hoặc sử dụng như cây trồng tạo cảnh quan, trồng rừng, năng suất ổn định, phẩm chất quả ngon, bởi vậy trồng hồng cho thu nhập cao hơn
so với các cây ăn quả khác Với những ưu điểm trên có thể coi cây hồng là một trong những cây trồng quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn, trung du, miền núi
Cây hồng được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Oxtraylia, Newdilan, Mỹ, Braxin…
Ở Việt Nam, cây hồng được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc như: Bắc Giang, Hoà Bình, Lạng Sơn, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn và một số vùng cao nguyên miền Nam như Đà Lạt, và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao [23]
Lục Ngạn với diện tích tự nhiên 101.223,72 ha, trong đó đất nông nghiệp 21.970,69 ha (chiếm 21,71% tổng diện tích đất tự nhiên); có tiểu vùng khí hậu, đất đai thích hợp với nhiều loài cây ăn quả á nhiệt đới như: vải, hồng, nhãn, xoài, đào, mơ mận, cam,… Thấy rõ giá trị kinh tế của cây ăn quả, trong những năm qua Huyện uỷ, UBND huyện Lục Ngạn đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển cây ăn quả nói chung và cây hồng nói riêng Đáng chú ý nhất là Nghị quyết số 22/NQ-HU ngày 01/01/1998 của Huyện ủy về đa dạng hoá và thâm canh cây ăn quả nhằm đa dạng sản phẩm hàng hoá Hiện nay, Lục Ngạn đang có tập đoàn cây ăn quả phong phú với tổng diện tích cây ăn quả là 21.976 ha, tổng sản lượng là 63.000 tấn, giá trị thu nhập hàng trăm tỷ đồng Trong đó diện tích vải thiều là 19.192 ha, sản lượng 52 ngàn tấn; cây hồng chiếm vị trí quan trọng thứ 2 chỉ sau cây vải với diện tích là 1.080 ha, sản lượng 6.120 tấn
Trang 17Lục Ngạn là huyện miền núi phía bắc của tỉnh Bắc Giang, có điều kiện về đất đai, khí hậu phù hợp cho sự phát triển của cây hồng Nhân Hậu Hiện nay toàn huyện có 1.080 ha hồng cho thu hoạch Nhiều hộ dân có diện tích trồng hồng trên 0,3 ha; nhiều
hộ có thu nhập từ 100 đến 120 triêu đồng /năm Tuy nhiên hiện nay quy mô các trang trại hồng ở Lục Ngạn còn nhỏ, phát triển chưa có chiến lược rõ ràng, người dân vẫn phải tự tìm đầu ra cho sản phẩm mình là chính Các giống hồng chất lượng cao chưa được trồng đại trà, chưa thực sự chú trọng đến chất lượng quả, đa số hộ nông dân trồng hồng trong vùng là người dân tộc thiểu số, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn đơn lẻ, chưa tạo ra được sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, công tác bảo vệ thực vật chưa được quan tâm nhiều
Hiện tại, công tác giống chưa được coi trọng, chưa tuyển chọn được những cây
ưu tú giống tốt của địa phương để nhân giống Việc quản lý giống chưa được chặt chẽ , nhiều hộ nông dân tự giâm cành nhân giống từ những cây không đủ tiêu chuẩn dẫn đến tình trạng hồng bị bệnh ngay từ khi mới nhân giống là vấn đề không thể tránh khỏi, nông dân chưa áp dụng tiến bộ kỹ thuật nhất là tiến bộ kỹ thuật trong công nghệ sinh học về lai tạo, nhân giống hồng, họ cũng chưa đưa được các giống mới chất lượng cao vào sản xuất, việc đầu tư chăm sóc còn nhiều hạn chế Đây cũng là một trong những vấn đề cần thiết ở huyện Lục Ngạn nói riêng và trên cả nước nói chung Dựa trên quy chế hướng dẫn “ Bình tuyển, công nhận, quản lý và sử dụng cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng, của cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm” ( Ban hành kèm theo quyết định số 67/QĐ- BNN, ngày 24 tháng 11 năm 2004 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) Để nâng cao năng suất, chất lượng giống hồng Nhân Hậu cần thiết phải tuyển chọn các cây hồng tốt làm vật liệu khởi đầu cho nhân giống đồng thời
áp dụng một số biện pháp kỹ thuật mới trong nhân giống nhằm cải tạo các cây
hồng xấu thì việc “Tuyển chọn cây ưu tú và nghiên cứu ghép cải tạo trên
giống hồng Nhân Hậu tại huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang”
Trang 181.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
- Tuyển chọn những cây hồng ưu tú, có năng suất cao, chất lượng tốt,
có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh hại, làm vật liệu khởi đầu trong nhân giống vô tính đối với cây hồng trong điều kiện sinh thái ở huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang
- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật nhân giống hồng ở vườn sản xuất như: thời vụ ghép, tiêu chuẩn chọn cành ghép
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được các cây hồng nổi trội về năng suất, phẩm chất trong những cây hồng Nhân Hậu đang được trồng phổ biến ở huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá được khả năng tiếp hợp, khả năng sinh trưởng và phát triển của phương pháp nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép hồng trên vườn sản xuất
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra được các biện pháp kỹ thuật ghép cải tạo trên giống hồng Nhân Hậu tại huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang Đánh giá được một số yếu tố ảnh hưởng tới quá trình ghép cải tạo giống hồng
- Đề tài đã đưa ra các căn cứ có cơ sở khoa học trong việc điều tra tuyển chọn các cây hồng ưu tú
1.4 Ý NGHĨA THỰC TIỄN S ẢN XUẤT
- Điều tra được các cây hồng ưu tú làm cơ sở cho việc nhân rộng các giống hồng tốt trong sản xuất hồng ở huyện Lục Ngạn, và các địa phương trong tỉnh Bắc Giang
- Tìm được phương pháp ghép cải tạo vườn hồng thích hợp Từ kết quả này cho phép ghép thay thế các cây hồng có chất lượng kém trong sản xuất trở thành các cây hồng có năng suất cao, chất lượng tốt
Trang 19PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc điều tra nghiên cứu
Cơ sở của việc tuyển chọn cây hồng ưu tú là do quá trình trồng trọt lâu đời, trong sản xuất xuất hiện sự phân ly và biến dị dẫn đến trong quần thể có các dạng cá thể với các đặc tính tốt xấu khác nhau Vũ Công Hậu (1999) 16cho rằng: khi nhập các giống cây ăn quả, ban đầu người ta thường trồng bằng hạt và khi trồng bằng hạt sẽ có nhiều biến d ị, 10 cây không được một cây tốt, hương vị của các giống tốt từ nơi xứ sở của nó cũng mất đi, do thoái hóa giống, lẫn giữa giống cơ giới và giống sinh học Vì vậy, việc tuyển chọn được cây mẹ ưu tú, tiến hành nhân giống vô tính cho phép ổn định tính di truyền của dòng, phát triển các tính trạng tốt [4]
Trong điều kiện tự nhiên ở thực vật thường xẩy ra hiện tượng đột biến, đặc biệt là ở các loài cây ăn quả Dưới tác động của các tác nhân vật lý, hóa học như các loại tia mặt trời, đặc biệt là tia tử ngoại, nhiều hóa chất tồn tại như các loại kháng sinh, các hợp chất thải công nghiệp có thể tác động gây đột biến ở sinh vật Có nhiều loại đột biến trong tự nhiên, loại đột biến ở giao
tử và hợp tử sẽ tác động làm thay đổi kiểu gen của bố mẹ tạo thành một cá thể đột biến hoàn chỉnh Một loại đột biến nữa hay gặp trong tự nhiên đó là biến
dị tế bào dinh dưỡng (tế bào xô ma) Loại đột biến này được mô tả như sau:
do một tác nhân nào đó một khối tế bào dinh dưỡng bị đột biến, khối tế bào này có thể nằm ở vị trí bất kỳ trên cây, nhưng thường hay xuất hiện ở đỉnh sinh trưởng, ở một mầm mắt trên cành hoặc thân cây Mầm và cành non mọc
từ các điểm sinh trưởng bị đột biến sẽ sao chép kiểu gen đột biến Dạng đột biến này gọi đột biến điểm, vì đột biến thường chỉ xẩy ra trên một bộ phận
Trang 20hoặc một phần rất nhỏ của cây Quan sát kỹ những phần thân cành bị đột biến
có thể thấy những biến đổi về hình thái, thời gian ra hoa, dạng quả, thời gian chín của quả vv Nếu nhân giống vô tính (chiết, ghép, nuôi cấy mô tế bào )
từ những phần đột biến sẽ được cây đột biến hoàn chỉnh Bồi dưỡng những cây đột biến này sẽ có thể phát triển thành một dạng cây trồng mới Từ đột biến trong tự nhiên có thể chọn lọc được nhiều giống mới, như những giống chín sớm, chín muộn, giống có khả năng chống chịu
Lục Ngạn là một huyện miền núi thuộc khu vực Đông Bắc Việt Nam, điều kiện khí hậu, sinh thái cũng như những đặc thù về điều kiện xã hội của đồng bào các dân tộc với cuộc sống chủ yếu dựa vào nghề nông - lâm nghiệp,
đã cho phép nghề trồng cây ăn quả phát triển trên diện rộng Hơn nữa, Bắc Giang là tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, nằm ở ven trung tâm khởi nguyên cây trồng miền nam lục địa Trung Quốc Nơi xuất xứ của nhiều giống cây trồng đang phổ biến trên thế giới nói chung và của nhiều giống cây ăn quả nói riêng Các kết quả điều tra của các tác giả nước ngoài, trong nước và những điều tra cụ thể của chúng tôi trong quá trình tiến hành đề tài đã nhận định Bắc Giang- nơi có tập đoàn cây ăn quả phong phú trong đó hồng là cây ăn quả đặc sản có khả năng thích ứng cao với điều kiện sinh thái ở vùng Bắc Giang cũng như vùng núi Đông Bắc Việt Nam Đây chính là tiền đề cơ bản có thể mở rộng phát triển hồng với quy mô lớn, tiến tới sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trong những năm gần đây, Chính phủ, lãnh đạo các cấp và các tổ chức nước ngoài đặc biệt quan tâm đến các chương trình phát triển kinh tế xã hội nhằm xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi Việt Nam Các chương trình của Chính phủ như PAM, 327, các chương trình phát triển với sự trợ giúp của các tổ chức nước ngoài, như: SIDA, UNDP, ODA và JICA đã thực sự góp phần thực hiện có hiệu quả việc chuyển giao kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây
Trang 21trồng, nâng cao đời sống nông thôn ở Bắc Giang Các chương trình phát triển phục hồi cam quýt, mở rộng diện tích vải, nhãn ở Bắc Giang đang thu được những kết quả tốt, góp phần nâng cao thu nhập của người dân hiện tại và trong một tương lai gần Sự phát triển ồ ạt đôi khi mang tính tự phát của người nông dân, sự thiếu hiểu b iết về kỹ thuật hoặc sự quản lý lỏng lẻo, không kiểm soát về những yêu cầu kỹ thuật của giống nhập nội từ nhiều dự án
đã dẫn đến tình trạng giống không thuần chủng Nhiều giống hồng mang về trồng ở Bắc Giang đã không đáp ứng những yêu cầu của sản xuất về các đặc điểm, tính trạng của giống cần phát triển Những kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy, nguyên nhân chính đó là sự thiếu hiểu biết về kỹ thuật nhân giống và một phần do ảnh hưởng của một cơ chế quản lý lỏng lẻo Từ thực tế trên, việc điều tra, nghiên cứu các đặc tính sinh học, kinh tế và một số biện pháp nhân giống vô tính các giống hồng ở Bắc Giang là rất cần thiết
Rất nhiều loại giống cây trồng được nhân giống từ một bộ phận của cơ quan sinh dưỡng, chúng phát triển thành cá thể mới rất đồng đều trong quần thể và sao chép những đặc tính di truyền của cá thể mẹ [5], [60] Ngày nay phương pháp này phổ biến với tên gọi "nhân giống vô tính" Những giống cây trồng, như: sắn, khoai tây, chuối, mía và hầu hết các loại cây ăn quả thân
gỗ, một số giống cây họ hòa thảo cũng được nhân giống theo con đường này [60] Nhiều phương pháp nhân giống vô tính hợp lý được ứng dụng rộng rãi
từ nhiều thế kỷ qua, như: chiết, ghép, giâm cành, giâm rễ, giâm chồi, giâm lá Tuỳ thuộc từng loài cây, điều kiện kỹ thuật mà các phương pháp nhân giống được lựa chọn phù hợp với đặc tính sinh học của chúng
Các công trình nghiên cứu trên thế giới từ đầu thế kỷ XIX đã chứng minh cụ thể tế bào của sinh vật mang đầy đủ các thông tin di truyền của cá thể
mẹ Bởi vậy một tế bào, một nhóm tế bào hay một bộ phận sinh dưỡng của cơ thể sinh vật trong những điều kiện nuôi cấy đặc biệt đều có thể phát triển
Trang 22thành cá thể mới [71] Ở thực vật, giả thuyết trên đây đã được chứng minh từ nhiều phương pháp nhân giống vô tính ở hầu hết các giống cây trồng và trên
cá thể nhân giống vô tính
Thực tiễn trồng cây ăn quả nói chung và trồng hồng nói riêng trên thế giới và nước ta chỉ ra rằng, trong quá trình sản xuất và chọn lọc lâu đời đã cho
ra nhiều giống cây ăn quả có phẩm chất tốt, năng suất cao và có khả năng chống chịu với các điều kiện sinh thái môi trường bất lợi Trong quá trình lai tạo, chọn lọc giống cây ăn quả, những biến dị tốt, những ưu thế lai của đời con F1 được duy trì, phát triển ngoài sản xuất bằng các phương pháp nhân giống vô tính Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của nhân giống
vô tính Tất cả những ưu điểm này chỉ có thể duy trì bằng con đường nhân giống vô tính [60] Chỉ có nhân giống vô tính mới có thể duy trì được nguồn gen sẵn có, tạo ra quần thể đồng đều, cành dinh dưỡng có tuổi phát dục thuần thục nhanh cho quả, rút ngắn giai đoạn kiến thiết cơ bản, nhanh chóng thu hồi vốn để đảm bảo sản xuất có lãi Nhân giống vô tính cùng với các biện pháp đốn tỉa cành, tạo hình, tạo tán cây làm cho cây thấp, bộ tán thông thoáng dễ chăm sóc, thu hoạch, cho phép trồng dày hợp lý nâng cao năng suất, đảm bảo chất lượng quả đồng đều, là tiền đề thuận lợi để nâng cao chất lượng hàng hóa của sản phẩm
Các tác giả nước ngoài như: Georgb,E.F (1993) [60], Soost.RB., (1997) [70], đã nghiên cứu nhiều phương pháp nhân giống vô tính với nhiều loại cây ăn quả, cây cảnh, hoa, các loại rau như chiết, ghép, giâm cành, và nhân giống bằng in vitro Các tác giả cũng chỉ rõ rằng: tùy thuộc vào điều kiện cụ thể để áp dụng phương pháp nhân vô tính thích hợp Đơn giản, dễ làm
và phổ biến hơn cả là việc nhân giống vô tính bằng phương pháp chiết, ghép
Các kết quả nghiên cứu trong nước về nhân giống vô tính đối với cây
ăn quả của Vũ Công Hậu [15], [16], Hoàng Ngọc Thuận, Trần Thế Tục [32], ,
Trang 23Nguyễn Văn Kế và các cộng sự [19] về sự phân li, thoái hóa của nhiều giống hồng do nhân giống bằng gieo hạt, với những tiến bộ mới về kỹ thuật chọn tạo giống cây trồng cho phép chúng ta suy nghĩ cần phải tiến hành thực nghiệm những phương pháp nhân giống vô tính phù hợp với cây hồng, thay thế cho phương pháp truyền thống Bổ sung về mặt lý luận cũng như kỹ thuật đối với những phương pháp nhân giống vô tính đã áp dụng ở hồng nhưng chưa đem lại kết quả cao, các kết quả nghiên cứu của các tác giả trên [15], [16], [19], đã cũng chỉ rõ, cây ăn quả có thể chiết ghép theo nhiều phương thức khác nhau, cây có thể nhân giống bằng phương pháp ghép mắt hoặc cành như kiểu ghép cửa sổ, kiểu chữ t xuôi, ngược, kiểu ghép vát, ghép cành ở giai đoạn cây con (ghép nêm hay ghép nối ngọn), ghép vạt vỏ, ghép áp cành Nguyễn Văn Kế và cộng sự [19] Các công trình nghiên cứu về hồng trên thế giới và nước ta còn rất ít Do những đặc thù riêng, cây hồng chỉ được chú trọng phát triển ở Đông Nam châu á như miền nam Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan ở nước ta, tuy hồng được trồng lâu đời nhưng các kết quả nghiên cứu về hồng còn rất hạn chế Có thể nói phương pháp nhân giống vô tính ở hồng tuy không còn mới mẻ với một bộ phận người trồng hồng, nhưng việc nghiên cứu bổ sung thêm lý luận và thực tiễn trên của các phương pháp nhân giống vô tính hồng là điều rất cần thiết Hơn nữa, hiện nay trong thực tế sản xuất, đại bộ phận nhân dân vẫn nhân giống hồng bằng nhiều cách khác nhau nhất là ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc
Từ yêu cầu thực tại của thị trường hồng, vải cho thấy giống là khâu đầu tiên quan trọng cho sản xuất hàng hóa Khi đã có giống tốt cho sản xuất thì giống đó phải được phổ biến trong sản xuất với độ đồng đều về hình thái, đặc tính sinh lý, sinh hóa để có chất lượng và năng suất cao, ổn định phù hợp với nhu cầu của người sử dụng và xuất khẩu Đồng thời sự đồng đều của quần thể cho phép áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, cơ giới hóa Tuyển chọn
Trang 24cây mẹ ưu tú với cây ăn quả nói chung và cây hồng nói riêng là điều tra, phát hiện và xác định những cá thể ưu tú có những đặc điểm tốt về năng suất và phẩm chất trong quần thể các giống địa phương Công tác tuyển chọn cây mẹ ưu tú đã mang lại kết quả rất khả quan trong nghiên cứu cây ăn quả ở nước ta những năm gần đây như xoài, vải, cam, quýt, bưởi, chôm chôm, măng cụt Cây ưu tú là nguồn cây mẹ tốt nhất để nhân giống vô tính phục vụ sản xuất đại trà Xuất phát
từ những luận cứ trên, việc điều tra, nghiên cứu đặc tính nông - sinh học để chọn những dòng, giống tốt ở địa phương, đồng thời tiến hành nghiên cứu kỹ thuật nhân giống vô tính hợp lý để phổ biến những dòng, giống hồng ưu tú cho sản xuất cây ăn quả ở Bắc Giang là một điều hết sức quan trọng
2.1.2 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép cây ăn quả
Ghép là một hình thức nhân giống vô tính trong đó người ta cắt một bộ phận từ các cơ quan sinh dưỡng của cây như mầm cành, chồi ngủ ở nách lá, đoạn cành, đỉnh sinh trưởng, để ghép lên một thân cây khác, có thể cùng loài, cùng giống, hoặc khác loài, để tạo thành một cá thể mới hoàn chỉnh, sống độc lập với cơ thể mẹ, có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, phẩm chất tốt, có tính chống chịu tốt với các điều kiện sinh thái môi trường bất lợi cũng như đối với sâu và bệnh hại
Kỹ thuật ghép ra đời bắt nguồn từ hiện tượng liền lại của các cây sống
tự nhiên gần nhau do va chạm và ép sát với nhau trong một thời gian dài Về sau này, kỹ thuật ghép được phát triển mạnh trong công tác nhân giống vô tính các loài cây trồng, trước hết là các cây thân gỗ Kỹ thuật ghép được dựa trên cơ sở nghiên cứu giải phẫu thực vật và phép phân loại thực vật; sự nghiên cứu về cấu trúc tượng tầng và các quá trình hoạt động của tượng tầng, dưới ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái môi trường Kỹ thuật ghép càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác giống cây trồng nông nghiệp Sự phát triển của khoa học, hóa học trong nông nghiệp,
Trang 25công nghệ chất dẻo, công nghệ sinh học, sinh lý thực vật và di truyền học thực vật đã ảnh hưởng rất quan trọng đến sự phát triển của kỹ thuật ghép cây Hiện nay có thể ghép trong ống nghiệm (vi ghép) để tạo cây sạch bệnh [60]
Các lý thuyết về ghép cây đều khẳng định: để ghép thành công cây trồng phải có quan hệ họ hàng gần gũi, và trong khi ghép, bắt buộc các lớp tượng tầng của gốc ghép và cành ghép phải tiếp xúc với nhau Để tạo điều kiện cho quá trình mắt ghép và cành ghép liền lại thì các lớp tế bào tượng tầng phải phát triển xen kẽ vào nhau Và như vậy, sự hoạt động của các lớp tế bào tượng tầng phải đồng pha Ngoài kỹ thuật ghép, điều kiện sinh thái môi trường, sức sinh trưởng và hình thái của cây cũng là những yếu tố quyết định đến khả năng ghép sống
Giữa gốc ghép và cành ghép có sức hợp sinh học do có quan hệ ảnh huởng qua lại với nhau và do đó cũng có hiện tượng bất hợp giữa gốc ghép và cành ghép Sức hợp sinh học có thể xảy ra không chỉ trong cùng loài, hay trong cùng một giống (variety) mà cũng có thể đạt được khi ghép các cây khác nhau
cả về bộ và họ thực vật Phân loại thực vật dựa trên cấu trúc của các cơ quan sinh sản trong khi ghép cây lại chỉ sử dụng các cơ quan sinh dưỡng Vậy sức hợp sinh học chỉ xảy ra trong trường hợp các cơ quan sinh dưỡng của gốc ghép
và cành ghép giống nhau về cấu trúc và hình thái Điều quan trọng hơn là phải đồng nhất về thành phần sinh hóa của nhựa luyện Các loài cây thân gỗ nói chung và các loài cây ăn quả thân gỗ nói riêng đều tuân theo quy luật sinh trưởng, đó là: nhờ có mô phân sinh, các tế bào ở đỉnh sinh trưởng sinh sôi rất nhanh giúp cho cây tăng trưởng về chiều cao, những mô phân sinh bên giúp cho cây tăng lên về chiều ngang nghĩa là tăng về đường kính
Giải phẫu theo lát cắt ngang của cây thân gỗ, ta thấy gồm 3 phần chính: phần trong cùng là các bó mạch tế bào gỗ (libe), làm nhiệm vụ giữ cho cây vững chắc, thẳng đứng theo tính hướng dương của thực vật, đồng thời đảm
Trang 26bảo vận chuyển nước, muối khoáng, dòng nhựa luyện lên lá và những phần vỏ non có diệp lục phục vụ cho quang hợp Phần ngoài cùng là lớp vỏ ngoài, đảm nhận vận chuyển dòng nhựa luyện được tạo nên qua quá trình quang hợp ở lá cây đi xuống thân và rễ Phần giữa gỗ và vỏ ngoài là tượng tầng mô phân sinh, còn gọi là lớp vỏ trong hay vỏ lụa Phần vỏ này dính sát vào gỗ bao gồm những tế bào vách mỏng, chứa dung dịch có khả năng phân chia và hồi phục phần mô bị tổn thương rất nhanh Lớp vỏ này tạo nên phần gỗ phía trong và lớp vỏ ngoài Lớp vỏ giữa chính là nền tảng của việc ghép thành công [71] Ghép là những thao tác tiến hành để tiếp xúc phần tượng tầng của gốc ghép, cành ghép hoặc mắt ghép với nhau Trước tiên, những tế bào mô phân sinh bị tổn thương giữa 2 mặt tiếp xúc hình thành lớp ngăn cách màu nâu Sau đó, các tế bào vách mỏng dưới lớp ngăn cách đó phân chia rất nhanh để hình thành mô liên hợp giữa cành, mắt ghép và gốc ghép Khi mô phân sinh được hình thành thì lớp màng nâu (kết quả của quá trình ôxi hóa dòng nhựa luyện
và một số tế bào chết tạo nên) dần dần bị mất đi Các tế bào mới được sản sinh của cành ghép, gốc ghép liên hệ với nhau bằng những ống qua vách tế bào hoặc bằng quá trình thẩm thấu bị động hoặc thụ động Chất nguyên sinh dần dần đồng hóa với nhau, từ đó chất dinh dưỡng của gốc ghép được chuyển ngược lên cành ghép, ngược lại chất dinh dưỡng từ cành ghép chuyển về gốc Những tế bào mới sinh của cành ghép chịu ảnh hưởng của những tế bào bên cạnh của gốc ghép mà phân hóa thành mô tương tự Những tế bào mới của cành ghép tương ứng với mạch dẫn của gốc ghép thì phân hóa thành mô tế bào mạch dẫn Cứ như vậy, các loại mô tế bào của cành ghép và gốc ghép có mối tương quan tương ứng hình thành thể cộng sinh mới [37]
Cành ghép và gốc ghép có kết hợp với nhau chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối quan hệ dẫn truyền của chúng quyết định Cành và gốc ghép hình thành lớp tiếp hợp càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự kết
Trang 27hợp càng được củng cố, sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa gốc ghép và cành ghép càng dễ dàng Vì thế trong khi ghép cần phải chú ý làm cho cành ghép
áp chặt vào gốc ghép trong một thời gian nhất định, sớm làm cho cành ghép
và gốc ghép trở thành một tổ hợp đồng nhất dựa trên khả năng cộng sinh của hai cá thể khác nhau Cây ghép sinh trưởng phát triển tốt là nhờ gốc ghép cung cấp nước, muối khoáng và các dinh dưỡng vi lượng khác cho các quá trình trao đổi chất trong cây Phần cành ghép được duy trì trên mặt đất tạo nên khung tán và bộ lá đóng vai trò chủ yếu trong quá trình quang hợp, tạo nên dòng nhựa luyện nuôi cây Lợi dụng đặc tính cộng sinh này để tạo nên một cây ghép khỏe thì việc chọn lựa tổ hợp gốc - cành hoặc mắt ghép là hết sức quan trọng [18], [43], [62] Theo Vũ Công Hậu [15] mãng cầu xiêm không trồng được ở nơi đất úng hoặc đất khô hạn nhưng khi ghép lên cây "bình bát" thì có thể chịu được úng vì "bình bát" là loài cây chịu úng, ghép lên cây Nê (Annona Reticulats Linn.) thì có thể trồng trên đất cạn Những kết quả gần đây khi ghép cam, quýt lên gốc chanh 3 lá (trifoliate lemon) có thể nâng cao sức chống rét của cây, chịu bệnh greening và tristera
Những nguyên tắc để ghép cành thành công đã được tổng kết nhiều trong các công trình nghiên cứu đã công bố Tóm lại, yếu tố quan trọng nhất cho việc ghép thành công là gốc ghép và cành hoặc mắt ghép phải gần nhau
về mặt di truyền, nghĩa là có cấu trúc, tổ chức mô tế bào và thành phần dòng nhựa luyện tương đối giống nhau Hai tổ chức mô tế bào có cấu trúc tương đối giống nhau sẽ giúp cho sự tiếp hợp tốt hơn, chặt chẽ hơn, việc ghép khó hơn so với những cây trồng khác bởi vì cây nhiều nhựa mủ (dòng nhựa luyện), trong thành phần có chứa các hợp chất nhân quinol Các hợp chất này
ức chế khả năng tiếp hợp của gốc và cành ghép Hơn nữa, nhựa mủ khi gặp không khí rất nhanh bị oxy hóa tạo thành các hợp chất màu nâu hoặc bay hơi nước trở thành dạng keo khô dính Các chất này phá hủy hoặc bịt kín các tế
Trang 28bào phần ngoài của cành hoặc mắt ghép vừa được cắt lộ ra, ngăn cản quá trình tiếp hợp Bởi vậy, đối với cây nhiều nhựa mủ, thao tác ghép phải tiến hành rất nhanh, phải chọn thời điểm ghép sao cho hàm lượng nhựa trong cây lúc này ít nhất [18], [43], [66]
Với những cây ngủ đông, việc ghép đôi khi tốn nhiều thời gian hơn Các cây nghỉ đông vào những thời điểm nhất định thì hàm lượng các chất
ức chế sinh trưởng tăng cao, các chất này ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình tiếp hợp, đặc biệt là thời gian nẩy mầm của mắt ghép Thời vụ ghép rất quan trọng, nếu ghép vào trước hoặc đầu thời kỳ ngủ nghỉ sẽ kéo dài thời gian nẩy mầm của cành hoặc mắt ghép, tỷ lệ sống thấp, tăng chi phí chăm sóc không cần thiết [18], [71]
Quan hệ qua lại giữa gốc ghép và cành ghép là sâu sắc và toàn diện trên mọi quá trình sinh lý của cây nhưng không thay đổi tính di truyền của nhau Điều này có nghĩa là: gốc ghép và cành ghép độc lập về mặt di truyền Cành ghép sao chép đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ cần nhân giống Sự tác động qua lại giữa gốc và cành ghép sẽ làm cho cành ghép chịu ít nhiều ảnh hưởng của gốc ghép như tuổi thọ, quá trình phân hóa, hoa sớm hay muộn, sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chịu hạn, chịu úng, năng suất và phẩm chất Tuy nhiên sự tác động này không di truyền lại cho thế hệ sau Gốc ghép càng khỏe, càng thích ứng với điều kiện sinh thái địa phương và tiếp hợp tốt với cành hoặc mắt ghép sẽ cho cá thể ghép có tuổi thọ và sản lượng cao Đôi khi
ta gặp trường hợp sau khi ghép, cây ghép thay đổi nhiều về hình thái bên ngoài như lá, hình dạng và chất lượng quả, nhất là ở vùng lạnh, với kiểu ghép mắt Hiện tượng này là do quá trình đột biến tự nhiên của mắt ghép dưới tác động của các yếu tố bên ngoài, hoàn toàn không phải do tác động tương hỗ giữa gốc và cành hoặc mắt ghép tạo nên [62]
Trang 292.1.3 Cơ sở khoa học của phương pháp ghép cải tạo
Theo lý luận về thuyết phát dục giai đoạn thì các vị trí của cành trên cây
có trình độ phát dục khác nhau, cành phía trên hoặc phía trên ngọn của cây thường có trình độ phát dục già, chóng ra hoa kết quả, khả năng sinh trưởng dinh dưỡng yếu
Sau một thời gian nhất định những phần có tuổi phát dục già sẽ ra hoa kết quả kém, cho nên trong sản xuất cây ăn quả trước đây khi thấy cây già cỗi, hiệu quả kinh tế kém người ta thường đốn thấp xuống để các mầm phía dưới phát triển, vì những mầm này được phát dục trên những cành có độ phát dục non, nên
có sức sống khoẻ, sinh trưởng mạnh Trong quá trình thực hiện như vậy người ta thấy tồn tại các nhược điểm như cây phải mất 1 đến 2 vụ quả và căn bản giống vẫn dự nguyên của cây gốc Do vậy, người ta dựa trên cơ sở khoa học của việc ghép cây ăn quả đã nghiên cứu và cải tiến thành kỹ thuật ghép cải tạo một số giống cây ăn quả không đúng giống, cho hiệu quả kinh tế thấp Ưu điểm chính của phương pháp này là sử dụng ngày cây giống đó làm gốc ghép nên không mất công chặt bỏ và cây sau ghép cải tạo sẽ cho giống mới sớm cho quả Tuỳ theo tuổi và
độ lớn của cây giống định ghép cải tạo mà ghép trực tiếp để thay tán hoặc cưa đốn rồi ghép trên chồi mới bật Cho đến nay một số mô hình ghép chuyển đổi giống nhãn, giống vải chính vụ ghép trên gốc vải chua ở các tỉnh Hoà Bình, Hưng Yên,
Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh và chuyển đổi giống xoài ở các vùng trồng xoài Yên Minh, Yên Châu…Biện pháp ghép cải tạo cây ăn quả hiện nay mới đi vào nghiên cứu chưa hoàn thiện [6], [31]
2.1.4 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đặc điểm nông- sinh học của cây hồng Cây hồng là cây ăn quả lâu năm chịu ảnh hưởng rất rõ của các điều kiện ngoại cảnh và các ảnh hưởng đó sẽ được phản ánh ra trên bản thân của cây bằng những biểu hiện của sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất
và phẩm chất quả Những đặc trưng, đặc tính biểu hiện trong một đời của cây
Trang 30hay trong một năm đều là kết quả phản ánh tổng hợp giữa đặc điểm của giống
(tính di truyền), điều kiện ngoại cảnh [25], [26], [52], [53], [54], [56] Thông
qua việc nghiên cứu, phân tích về đặc điểm nông sinh học của cây ở các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, chúng ta sẽ phân biệt được các giống và xác định được khả năng thích ứng của giống ở từng vùng sinh thái Đồng thời thông qua việc nghiên cứu tình hình trồng trọt, sản xuất chúng ta sẽ đề ra được những biện pháp kỹ thuật nông nghiệp có hiệu quả Như vậy, nghiên cứu đặc điểm sinh vật học là một trong những biện pháp cơ bản để nghiên cứu quy luật sinh trưởng, phát triển của cây trồng và triển khai những thí nghiệm khoa học về cây ăn quả nói chung và cây hồng nói riêng
2.2 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HỒNG ĂN QUẢ
2.2 1 Nguồn gốc và phân loại
2.2.2 Nguồn gốc
Cây hồng (Diospyros) thuộc bộ thị (Ebenales), họ thị (Ebenaceae), phân lớp sổ (Dilleniaceae), thuộc lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae), ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) [2], [3]
Cây hồng có nguồn gốc từ Trung Quốc (nguyên sản ở lưu vực sông Trường Giang), phân bố tự nhiên ở 320
-370 vĩ độ Bắc Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng tại Địa Trung Hải, cũng từ đây hồng được đưa sang Mỹ từ năm 1856, được nhập vào châu Âu năm 1789 Vũ Công Hậu [14], [15], [16] Hồng là cây trồng á nhiệt đới khởi nguyên từ Trung Quốc và cũng là cây trồng có nguồn gốc ở Hàn Quốc (cây bản địa) Việc trồng hồng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài ăn quả còn được sử dụng để chữa các bệnh như: bệnh liệt, tê cóng, bỏng và làm ngưng chảy máu vì trong lá của hồng có rất nhiều chất như tanin, phenol, axit hữu cơ, chlorophyl…nhưng tanin là nguyên tố chủ yếu [46]
Trang 31Theo một số tác giả: khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây hồng phương
Đông đều cho rằng một số nhóm hồng thuộc loài hồng dại Diospyros kaki tồn
tại trong những khu rừng của Trung Quốc Tài liệu của cây hồng xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5, 6 [7], [17], [46]
Cây hồng được nhập từ Trung Quốc đến châu Âu vào năm 1789 và di chuyển sang châu Mỹ vào năm 1856 [8], [9], [17]
Ở Việt Nam, cây hồng được nhập từ Trung Quốc qua miền Bắc Việt Nam rồi đến Đà Lạt Việt Nam [46]
2.2.3 Phân loại
Theo Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [44] trích dẫn kết quả nghiên cứu của các nhà phân loại học Nhật Bản cho biết: hiện nay có 800 -
1000 loài hồng Cây hồng được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu ôn hoà
thuộc châu Á, bắc Mỹ và chỉ có 4 loài được trồng để lấy quả đó là: Diospyros
kaki Linn; D oleifera Cheng; D virginiana Linn; D lotus Linn
Chi Diospyros gồm 400 loài, chủ yếu phân bố ở vùng á nhiệt đới châu Á,
châu Phi và nam Mỹ, một số loài trong đó có hồng phương đông phân bố rộng trên các vùng ôn đới [46], [47]
Cây hồng (Diospyros kaki Linn) được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc và một số vùng khí hậu ôn hoà và cận nhiệt đới như Califonia (Mỹ), Italia, Israen, Braxin, Niudilân, Úc… có 2 nhóm hồng chính là hồng chát và không chát [11], [12], [49]
Cũng theo Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [44] trích dẫn kết quả nghiên cứu cho biết: Mori (1953) chia hồng thành 4 nhóm hồng là:
+ Nhóm 1: nhóm PCNA (Pollination Constant Non-Astringent): những
giống không chát và không biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống Fuju, Jiro, Gosh, Suruga, thịt quả thường có những đốm tanin sẫm
Trang 32+ Nhóm 2: nhóm PVNA (Pollination Variant Non-Astringent): những
giống không chát và biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anahya kume, thịt quả có những đốm tanin sẫm và khi không hạt thì thịt quả có vị chát
+ Nhóm 3: nhóm PCA (Pollination Constant Astringent): những giống chát,
không biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Yokomo, Yotsumizo, Shakokashi, Hagakushi, Hachiya, Ghionbo, thịt quả không có những đốm tanin sẫm
+ Nhóm 4: nhóm PVA (Pollination Variant Astringent): những giống
chát biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Azumi Shirazu, Emon, Kosshuhya kume, Hiratanenashi, có thể chát khi được thụ phấn và có một vài đốm tanin sẫm xung quanh hạt
Ở Việt Nam, những điều tra ban đầu từ năm 1990 về cây hồng đã phát hiện 3 loài hồng sau:
+ Hồng lông (D Tokinensis L.) được phân bố rải rác khắp nơi ở miền Bắc + Hồng cậy (D Lotus L.) được trồng rải rác ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam
như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình
+ Hồng trơn có lá nhẵn (D kaki L.) được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc
và vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng ( Phạm Văn Côn (2002) [9])
2.3 TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VÀ SẢN XUẤT HỒNG ĂN QUẢ
2.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Theo Vũ Công Hậu [14], [15], [16] hiện nay Trung Quốc là nước trồng nhiều hồng nhất, khắp lãnh thổ bao la của đất nước này, trừ mấy tỉnh biên giới Hắc Long Nam, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng… hầu hết các tỉnh đều trồng hồng Các tác giả Trung Quốc cho rằng, các vùng trồng hồng tốt, chất lượng cao, sinh trưởng phát dục thuận lợi [28]
Trang 33Trong lịch sử phát triển của cây hồng, theo Yung Kyung Choi, Yung Hokim (1972) [44] cho biết: từ Trung Quốc, hồng được đưa sang Nhật Bản, Triều Tiên, sang châu Âu rồi đến Mỹ
Theo Grubov, U.I (1967) [61]: hiện nay những nước trồng hồng và xuất khẩu nổi tiếng nhất là : Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, và các nước á nhiệt đới miền Nam Liên Xô cũ
Theo tác giả Morton (1987) [67] ghi nhận rằng: hồng được trồng đầu tiên
ở Trung Quốc, sau đó mới du nhập vào Nhật Bản, Triều Tiên Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 19, hồng mới được du nhập vào Mỹ, Úc, Palesine, Ý, Pháp, Nga, Braxin và Mexico Diện tích hồng được ước khoảng 234.870 ha và đạt sản lượng 1.409.160 tấn Hiện tại, ở châu Á, hồng được trồng nhiều quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…
Theo tác giả Đào Thanh Vân (2003) [40]: ở Hàn Quốc hồng là một trong những cây ăn quả quan trọng đang được chú ý phát triển, chỉ sau 5 năm, sản lượng hồng của Hàn Quốc đã tăng gần gấp đôi ( từ 167.671 tấn năm 1994 lên 273.846 tấn năm 1999)
Hiện nay, khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đời sống sinh hoạt của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu về thực phẩm và môi trường sinh thái trở nên rất quan trọng Cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghề trồng cây ăn quả đang có những bước tiến đáng kể, trong đó cây hồng được coi là cây ăn quả đặc sản tạo ra hàng hoá có thế mạnh nên được chú trọng phát triển ở một số nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, thể hiện ở bảng 1.1
Trang 34Bảng 1.1 : Diện tích, sản lượng hồng ở một số nước trên thế giới Năm
Địa điểm
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Thế giới 607.724 2.488.551 669.761 2.511.264 720.215 2.472.900 Trung Quốc 540.003 1.775.338 603.108 1.833.357 653.200 1.825.000
Braxin 6.350 65.500 6.400 66.000 6.700 67.000
Israen 4.400 39.800 4.400 39.400 4.400 40.000 Italia 2.891 54.170 2.900 55.000 2.900 55.000 Nhật Bản 24.400 269.300 24.400 265.000 24.400 232.500 Hàn Quốc 31.193 287.847 31.000 270.000 31.000 270.000
Trang 35hoạch Sản phẩm quả hồng thực sự là hàng hoá có giá trị trên thị trường và mang lại lợi nhuận cao cho chủ vườn
Không chỉ các cây trồng khác nhau mà các loài trong cùng một chi cũng có những đặc điểm sinh học, sinh thái khác nhau chính vì vậy mỗi loài cây trồng đều có phân bố riêng ở những vùng sinh thái đặc trưng Các loài hồng thuộc chi Diospyros có các phân bố rộng rãi trên thế giới nhưng tập trung chủ yếu ở châu
Á và Bắc Mỹ Tuỳ thuộc vào đặc tính của các loài khác nhau mà hướng sử dụng chúng cũng khác nhau Điều này được thể hiện cụ thể ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Sự phân bố và sử dụng của các loài hồng thuộc chi Diospyros
Diospyros kaki Linn Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Việt Nam Ăn tươi và chế biến
Diospyros lotus Linn Châu Á Sản xuất tanin, làm
gốc ghép Diospyros virginiana Linn Bắc châu Mỹ Ăn tươi, làm gốc ghép Diospyros oleifera Cheng Trung Quốc Sản xuất tanin
Dẫn theo Đào Thanh Vân [40]
Loài Diospyros kaki phân bố chủ yếu ở 4 nước là: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam vì loài này thịt quả mềm nên quả có thể dùng để chế biến
Xét trên phương diện tiêu thụ và chế biến: quả hồng chủ yếu dùng để ăn tươi với thị trường tiêu thụ là các nước châu Á Ở Trung Quốc và Nhật Bản quả hồng là một trong những món tráng miệng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày Sản phẩm hồng khô chế biến được sản xuất nhiều ở các nước Nhật Bản,
Trang 36Trung Quốc, Triều Tiên,… ngoài ra các sản phẩm chế biến từ hồng cũng được tiêu thụ mạnh ở thị trường châu Âu Người châu Âu ở vùng địa Trung Hải đã quen với cây hồng và cho rằng quả hồng chín rất ngọt, hương vị đậm đà và có tập quán dùng thìa ăn hồng khi đã chín nhũn Phạm Văn Côn (2002) [9], Vũ Công Hậu (1999) [16]
Ở Mỹ, cây hồng trước đây chưa phát triển rộng được là do người ta chưa biết cách ăn hồng chín… Những điều này lý giải các ý kiến cho rằng hồng rất khó xuất khẩu sang châu Mỹ Vũ Công Hậu (1999) [16]
2.3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Theo Yung Kyung Choi và Jung Hokm (1972) [44] cây hồng được trồng từ rất lâu đời ở Việt Nam, đây là một trong những cây ăn quả rất quan trọng và phù hợp với khẩu vị của người phương Đông Trồng hồng đem lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập trên một ha có thể đạt tới 50 triệu đồng
Khi kinh tế xã hội ngày càng phát triển, đời sống sinh hoạt của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu về thực phẩm, và môi trường sinh thái trở nên rất quan trọng Hiện nay, cây hồng đang dần thay thế một số cây
ăn quả có hiệu quả kinh tế thấp như mơ, mận, đào…[39]
Trong những năm gần đây, nước ta rất chú trọng đến việc phát triển cây
ăn quả, trong đó có cây hồng Cây hồng được trồng ở rất nhiều tỉnh trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh trung du, miền núi phía bắc và tỉnh Lâm Đồng [3], [7], [17] Diện tích hồng được trình bày ở bảng 1.3
Bảng 1.3: Diện tích và sản lượng hồng ở Việt Nam đến năm 2000
Năm Diện tích (ha) Năng suất
Trang 37Qua bảng 1.3.Cho thấy diện tích và sản lượng hồng của nước ta đó tăng lên gấp đôi sau 4 năm (1998 - 2002) Do cây hồng có phổ thích nghi rộng và chủng loại giống phong phú nên hồng được trồng ở rất nhiều tỉnh trong cả nước, nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc và tỉnh Lâm Đồng
Bảng 1.4: Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2004
(Nguồn: Sở Nông nghiệp&PTNT các tỉnh)
Mỗi giống hồng đều có những đặc điểm sinh thái khác nhau nên đều có vùng phân bố riêng Khả năng mở rộng diện tích của từng giống phụ thuộc vào phổ thích nghi sinh thái rộng hay hẹp Nhìn chung các giống hồng chính
ở Việt Nam được trồng ở các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc và một số tỉnh Đồng bằng Hồng Nhân Hậu là giống có diện tích lớn nhất chiếm 36,87 diện
Trang 38tích trồng trong các giống; trong đó Bắc Giang là một trong những địa phương có diện tích trồng hồng
Nhân Hậu lớn nhất cả nước Hồng Thạch Thất là giống hồng có diện tích
đứng thứ hai sau Nhân Hậu
Hầu hết các tác giả nghiên cứu và điều tra về cây ăn quả đều thống nhất nhận xét ở Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trồng hồng và các giống hồng rất phong phú, có những giống rất nổi tiếng [8], [17]
Về cơ bản cây hồng ở nước ta được trồng ở một số vùng chính như sau:
* Vùng Đà Lạt - Lâm Đồng:
Đà Lạt là một thành phố du lịch nổi tiếng, nằm ở Nam Tây Nguyên, có độ cao trung bình 1.500m và được bao quanh bởi các dãy núi cao, nên tuy nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa khí hậu Đà Lạt mang những nét riêng của vùng cao: nhiệt
độ thấp, tương đối ôn hoà, thích hợp với các loại cây trồng á nhiệt đới
- Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 17,5- 18,20C Biên độ nhiệt ngày và đêm khoảng 90C, các tháng trong mùa khô có biên độ nhiệt ngày đêm lớn hơn mùa mưa
- Chế độ mưa: Mùa mưa bắt đầu giữa tháng 4 đến tháng 5, thường mưa rào và rông vào buổi trưa- chiều Mùa mưa thường kết thúc vào giữa tháng 10 hoặc giữa tháng 11 Lượng mưa vào mùa mưa chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm
- Độ ẩm không khí: Trong mùa mưa độ ẩm không khí trung bình khoảng 85% Thời kỳ ẩm nhất trong năm là thàng 7,8,9 có độ ẩm trung bình là 90- 92% Vào mùa khô
độ ẩm giảm xuống dưới 80%, độ ẩm thương đối thấp nhất vào tháng 2,3 là 75-78% Hồng trồng ở Đà Lạt chủ yếu là các giống thuộc loài Diospyros kaki Đây cũng là loài hồng trồng phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và một số tỉnh phía Bắc Việt Nam
Dưới đây là một số giống hồng tốt được trồng phổ biến:
Trang 39+ Hồng trứng lốc
Đặc điểm: quả hình trứng, cân đối, quả khi chín có màu hồng, bóng láng Cây có tán rất lớn, năng suất cao, có thể đạt 5-6 tạ/cây/năm, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, dễ trồng Đây là một trong những giống hồng được ưa chuộng nhất hiện nay Quả khi chín ăn rất ngọt, vừa giòn vừa dẻo, thích hợp cho việc vận chuyển đi xa, thời gian thu hoạch từ tháng 6 - 8 dương lịch
+ Hồng trứng muộn
Đặc điểm: quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng Cây có tán trung bình, năng suất cao, chống chịu tốt, quả khó rụng khi gió lớn Mặc dù chất l-ượng không bằng hồng trứng lốc, nhưng vì chín muộn (thu hoạch hàng năm vào tháng 10-11) nên giá hồng tươi rất cao Thông thường cây 7-8 năm tuổi có thể cho thu hoạch 3-4 tạ/năm
+ Hồng Pome tròn
Đặc điểm: quả tròn to, mã quả rất đẹp, năng suất tương đối cao, trung bình 1 tạ/cây/năm Cây bắt đầu cho thu hoạch từ năm thứ 7 - 8 sau trồng Quả chín có mầu đỏ son, phẩm chất tốt, rất được ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10
+ Hồng chén
Đặc điểm: cây có tán lá trung bình, cành yếu nên thường phải được chống đỡ khi có quả Lá nhiều, thường che khuất quả, năng suất trung bình, quả lớn, hơi dẹt về phía cuống, phẩm chất tốt, được người tiêu dùng ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9-10
+ Hồng ăn liền
Đặc điểm: cây có tán lá thấp bé, có thể trồng với mật độ dày Quả tròn dẹt, khi chín mầu vàng đỏ, có thể ăn ngay khi quả ở trạng thái cứng, thịt quả giòn, ngọt, khối lượng 1 quả trung bình 200-250g, không có hạt
Trang 40+ Hồng Nhật
Đặc điểm: cây có tán lá trung bình, có thể trồng tương đối dày (cây cách cây khoảng 5m), nhanh ra quả, có thể bắt đầu thu hoạch quả sau 3 năm kể từ khi trồng Chất lượng quả trung bình, có nhiều nước, khó vận chuyển Tuy nhiên do
có năng suất cao nên giống này được đánh giá là một trong số các giống có giá trị kinh tế cao nhất Nhược điểm của nó được khắc phục bằng cách chế biến thành hồng sấy khô để tiêu thụ trên thị trường Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 10-11
Ngoài các giống kể trên, Đà Lạt còn nhiều giống hồng với số lượng không nhiều như: hồng quế hương, hồng gạch, hồng son, hồng hoả tiễn, hồng giòn, hồng Lạng Sơn, hồng xà, hồng nước
có 2 giống được trồng phổ biến là hồng vuông không hạt và hồng tròn