1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn lý thuyết tài chính tiền tệ Kiến nghị hoàn thiện chính sách thuế Việt Nam

27 693 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 334 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận môn lý thuyết tài chính tiền tệ Kiến nghị hoàn thiện chính sách thuế Việt Nam • Chính sách mang tính chắp vá, các văn bản pháp quy về các chính sách thuế và thu chi được ban hành bằng hình thức dưới luật, chưa bảo đảm đầy đủ tính pháp lý theo đúng Hiến pháp quy định, hiệu lực thi hành còn bị hạn chế.

Trang 1

MỤC LỤC



CHƯƠNG 1: CHƯƠNG MỞ ĐẦU 2

I Sự cần thiết của đề tài: 2

II Phạm vi đề tài: 2

III Mục tiêu nghiên cứu: 2

CHƯƠNG 2: CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 1 (1990 – 1996) 3

I Sự cần thiết khi tiến hành cải cách thuế bước 1: 3

II Mục tiêu yêu cầu chủ yếu của việc đổi mới hệ thống chính sách thuế: 3

III Các nội dung cơ bản của hệ thống thuế trong cải cách thuế bước 1: 4

IV Kết quả đạt được qua cải cách hệ thống chính sách thuế bước I: 8

CHƯƠNG 3: CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 2 (1996 – 2000) 11

I Bối cảnh kinh tế - xã hội: 11

II Mục tiêu của việc cải cách chính sách thuế: 11

III Các nội dung cơ bản của hệ thống thuế trong cải cách thuế bước 2: 11

IV Đánh giá kết quả đạt được qua cải cách hệ thống chính sách thuế bước 2: .16 CHƯƠNG 4: CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 3 (2001 – 2010) 18

I Sự cần thiết của chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 18

II Mục tiêu và nội dung cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 19

III Những kết quả đạt được về việc cải cách chính sách thuế: 22

IV Những hạn chế về việc cải cách chính sách thuế: 25

Trang 2

Chương 1: CHƯƠNG MỞ ĐẦU

I Sự cần thiết của đề tài:

Theo Nicol & Ames: “Quyền lực đánh thuế là một trong những quyền lực cao nhất mà tồn bộ cơ cấu xã hội đặt nền tảng vào đĩ Nĩ cần thiết cho sự tồn tại và phồn vinh của cả dân tộc cũng giống như khơng khí cần thiết cho cuộc sống con người Nĩ khơng chỉ là sức mạnh huỷ diệt mà cịn là nguồn nuơi dưỡng cuộc sống” Nhận thức được vai trị quan trọng

này Đảng và nhà nước ta đã chủ trương xây dựng hồn thiện chính sách thuế, để đưa thuế trởthành nguồn thu chủ yếu và là cơng cụ để điều tiết nền kinh tế vĩ mơ

Trước 1986 nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hĩa tập trung bao cấp, thungân sách Nhà nước chủ yếu từ kinh tế quốc doanh (chiếm tới 90% tổng số thu), thuế chỉ ápdụng đối với khu vực kinh tế ngồi quốc doanh dưới một số hình thức: thuế doanh nghiệp,thuế hàng hĩa, thuế lợi tức, thuế nơng nghiệp, thuế mơn bài,… vai trị của thuế trong quản lýđiều tiết vĩ mơ nền kinh tế được sử dụng rất hạn chế Điều này thúc đẩy Chính phủ Việt Namphải làm nhiều nỗ lực trong việc cải cách chính sách, đặc biệt là chính sách thuế Bởi lẽ, chínhsách này liên quan đến nhiều mặt kinh tế xã hội, khơng những đến sự củng cố nguồn lực tàichính cơng, kích thích tăng trưởng kinh tế mà cịn gĩp phần tăng cường khả năng cạnh tranh

và hội nhập của nền kinh tế Do vậy theo Văn kiện Đại hội VII đã đề ra “Tiếp tục đổi mới và

bổ sung các luật thuế, kiện tồn hệ thống thu thuế, chống thất thu và lạm thu, kiểm sốt việc thấp hành Pháp lệnh kế tốn, thống kê”

II Phạm vi đề tài:

Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển trong thời kỳ “đổi

mới” (tức là sau Đại hội Đảng tồn quốc lần thứ VI năm 1986) Trong suốt thời gian hình

thành và phát triển cho đến nay, chính sách thuế đã liên tục đổi mới và hồn thiện hơn qua cácgiai đoạn:

• Cải cách thuế bước 1 (1990 - 1996);

• Cải cách thuế bước 2 (1996 - 2000);

• Cải cách thuế bước 3 (2000 - đến nay)

III Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu:

• Vạch ra những nội dung cải cách chủ yếu của từng giai đoạn cải cách

• Điểm qua sự thay đổi, tiến bộ của một vài sắc thuế chủ yếu phù hợp với điều kiện lịch

sử từng giai đoạn

• Chỉ ra những điều đạt được và hạn chế của từng giai đoạn

• Từ thực tế cơng tác và quá trình nghiên cứu đề tài kiến nghị hồn thiện chính sáchthuế Việt Nam

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

Trang 3

Chương 2: CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 1 (1990 –

1996)

I Sự cần thiết khi tiến hành cải cách thuế bước 1:

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đã đề ra yêu cầu : “Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhịều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”

Trước nhu cầu đổi mới của đất nước hệ thống chính sách thuế và thu trong khu vực quốcdoanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm, chủ yếu là:

• Chưa thể hiện được sự bình đẳng về động viên đóng góp giữa các thành phần kinh tế,chưa khuyến khích các thành phần kinh tế tập thể, cá thể và tư nhân bỏ vốn đầu tư, phát triểnsản xuất, kinh doanh, mở rộng kinh tế hàng hóa Việc áp dụng chính sách thu riêng biệt đốivới kinh tế quốc doanh, tách ra khỏi hệ thống chính sách thuế, về thực chất đã làm yếu đònbẩy kinh tế của công tác quản lý tài chính, nhất là trong giai đoạn thương mại hóa vật tư, tiền

tệ hóa tiền lương…

• Chưa bao quát hết nguồn thu có thể động viên cho Ngân sách nhà nước, đặc biệt lànguồn thu phát sinh qua cơ chế thị trường (chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu cho vay, nhượngbán tài sản nhà đất ), có nhiều mặt trùng lắp, gây thắc mắc

• Chính sách mang tính chắp vá, các văn bản pháp quy về các chính sách thuế và thu chiđược ban hành bằng hình thức dưới luật, chưa bảo đảm đầy đủ tính pháp lý theo đúng Hiếnpháp quy định, hiệu lực thi hành còn bị hạn chế

• Tổ chức quản lý thuế từ Trung ương đến địa phương (cả bộ máy và con người) chưathành một hệ thống tập trung, chặt chẽ Có lĩnh vực có các quy chế, chính sách chồng chéolên nhau, trong khi một số lĩnh vực lại bị buông lỏng quản lý Trình độ nghiệp vụ, quản lý thuthuế của cán bộ thuế còn yếu kém, chưa đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao theo yêu cầuphát triển đa dạng, phức tạp của tình hình mới trong cơ chế thị trường

• Trong cán bộ và nhân dân, còn nhiều người chưa hiểu rõ sự cần thiết phải có thuế đểđáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước Chế độ quản lý, thu thuế bị buông lỏng,dẫn đến phát triển tình trạng tùy tiện trong hiệp thương mức doanh thu, thuế khoán; gây thấtthu và nợ đọng, dây dưa tiền thuế phổ biến, nghiêm trọng trong mọi thứ thuế, mọi thành phầnkinh tế ở tất cả các địa phương mà không bị xử lý đầy đủ theo quy định của Pháp luật

II Mục tiêu yêu cầu chủ yếu của việc đổi mới hệ thống chính sách thuế:

Về tài chính: Thuế phải đảm bảo nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước; thuế

phải phát huy tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển để tạo được nguồnthu lớn cho NSNN

Về kinh tế : thuế phải thực sự là công cụ có hiệu lực góp phần quản lý và điều tiết vĩ

mô nền kinh tế Ý nghĩa điều tiết của chính sách thuế bao gồm hai mặt : khuyến khích những

CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 1

(1990 – 1996)

Trang 4

ngành nghề, những đơn vị, những mặt hàng cần thiết cho sản xuất, đời sống, xuất khẩu và hạnchế sản xuất, tiêu dùng những mặt hàng, dịch vụ mang tính chất xa xỉ, cao cấp.

Về xã hội: thuế phải tích cực góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội Trong

hoàn cảnh nền kinh tế có nhiều thành phần, sự bình đẳng và công bằng xã hội về thuế đượcthể hiện trên chính sách động viên bằng nhau giữa các thành phần kinh tế, giữa các đơn vị, cánhân có điều kiện sản xuất, kinh doanh và môi trường hoạt động giống nhau, tạo nên sự cạnhtranh lành mạnh về năng suất, chất lượng, hiệu quả, uy tín

Về pháp lý: Hệ thống chính sách thuế mới phải bảo đảm tính pháp lý cao: Thuế là

một trong những chính sách lớn của Nhà nước, có liên quan đến nghĩa vụ, quyền lợi của mọiđơn vị sản xuất kinh doanh, mọi tầng lớp dân cư trong xã hội Do đó, theo quy định trongHiến pháp, Quốc hội có quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung và xóa bỏ các Luật thuế Như vậy,

về nguyên tắc các chính sách thuế phải được Quốc hội xem xét, phê duyệt và ban hành thànhluật

Về nghiệp vụ: Phải đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, công khai, dân chủ và tính khả thi.

Về bước đi: Phải phù hợp với đặc điểm của toàn bộ hệ thống chính sách thuế.

III Các nội dung cơ bản của hệ thống thuế trong cải cách thuế bước 1:

1 Cơ cấu hệ thống các sắc thuế mới trong cải cách thuế bước 1:

Hệ thống thuế mới phải bảo đảm được mối quan hệ hợp lý về cơ cấu giữa thuế trực thu vàthuế gián thu, cùng với sự phát triển của trình độ sản xuất và trình độ quản lý trong hoàn cảnhthu nhập dân cư ở nước ta còn thấp, thu nhập kinh doanh phổ biến chưa cao; việc thực hiệnchế độ kế toán, hóa đơn còn yếu kém và thuế gián thu động viên rộng rãi đối với các tầng lớptiêu dùng đang chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu các loại thuế

Từ đặc điểm tình hình kinh tế xã hội ở nước ta và qua phân tích, vận dụng có chọn lọckinh nghiệm trong chính sách thuế trên thế giới, ngày 28/12/1989 QH khóa VIII, kỳ họp thứ 6

đã có Nghị quyết giao cho Hội đồng nhà nước nghiên cứu xem xét, ban hành hệ thống thuếmới ở nước ta bao gồm 9 sắc thuế :

• Thuế doanh thu;

• Thuế hàng hóa;

• Thuế lợi tức;

• Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

• Thuế nông nghiệp;

• Thuế nhà, đất;

• Thuế thu nhập dân cư;

• Thuế vốn

Ngoài ra, còn một số sắc thuế mang tính chất lệ phí (như thuế môn bài, thuế sát sinh), một

số lệ phí (như lệ phí trước bạ, lệ phí đăng ký kinh doanh), và phí (học phí, viện phí, thủy lợi phí…).

Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong đề án chung về đổi mới hệ thống thuế và sơ thảocác luật thuế, các pháp lệnh thuế trình Quốc Hội và Hội đồng Nhà nước xem xét, lần lượtthông qua và ban hành

Bằng hình thức luật

• Thuế doanh thu (30/6/1990);

Trang 5

• Thuế tiêu thụ đặc biệt (30/6/1990);

• Thuế lợi tức (30/6/1990);

• Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (26/12/1991);

• Thuế sử dụng đất nông nghiệp (10/3/1993);

• Thuế chuyển quyền sử dụng đất (1/7/1994)

Bằng hình thức pháp lệnh

• Thuế tài nguyên (30/3/1990);

• Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (27/12/1990);

• Thuế nhà đất (31/7/1992)

Riêng về thuế vốn, thực chất trước mắt là khoản thu trên vốn NSNN cấp, chỉ áp dụngtrong phạm vi hẹp đối với khu vực quốc doanh không phải là thuế nên Hội đồng Nhà nướcgiao cho Chính phủ ban hành dưới hình thức Nghị định

2 Nội dung cơ bản của từng sắc thuế mới:

2.1 Luật thuế doanh thu:

• Thuế doanh thu có hiệu lực thi hành từ 1/10/1990 để thay thế chế độ thu quốc doanh(đối với khu vực kinh tế quốc doanh) và một số thuế (trong khu vực kinh tế ngoài quốcdoanh) như thuế doanh nghiệp, thuế buôn chuyến, thuế muối, thuế hàng hóa đối với một số cơ

sở sản xuất trước đây thuộc diện nộp thuế hàng hóa nay không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt

• Thuế doanh thu được áp dụng thống nhất chung với các hoạt động sản xuất kinhdoanh, dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế

• Thuế suất và biểu thuế doanh thu được xây dựng với yêu cầu hướng dẫn sản xuất kinhdoanh có lợi cho quốc kế dân sinh, ngành nghề cần khuyến khích phát triển được nộp với thuếsuất thấp hơn ngành nghề cần hạn chế Mức thuế suất có kế thừa hệ thống thuế suất doanhnghiệp, thuế hàng hóa và mức thu quốc doanh trước đây Ngoài ra, còn tính đến một số ngànhnghề, xí nghiệp quốc doanh còn phải nộp một số khoản mới cho NSNN (như thuế tài nguyên,tiền sử dụng vốn do NSNN cấp….)

 Đối với ngành sản xuất thông thường là 1%, 2%, 3%, 4%, 5%, 6%

 Đối với ngành thương nghiệp : 1% đối với lương thực, thực phẩm, hàng hóa tiêudùng cần thiết, nguyên nhiên vật liệu sản xuất trong nước; 2% đối với hàng hóa khác sản xuấttrong nước, 8% đối với hàng ngoại Hoạt động buôn chuyến được áp dụng thuế suất thốngnhất là 2%

 Ngành kinh doanh ăn uống : 4% đối với hàng bình dân, 6% đối với hàng cao cấp

 Ngành dịch vụ : Chủ yếu là 2%, 4%, 6%, 8% Kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà,kinh doanh khách sạn, du lịch tham quan: 10% ; Dịch vụ đặc biệt như khiêu vũ, đua ngựa,phát hành xổ số 30%; đại lý tàu biển 40%

1.1 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt:

Thuế TTĐB có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990, thay thế thuế hàng hóa trước đây đốivới một số mặt hàng do các cơ sở hợp tác xã hoặc hộ cá thể sản xuất Thuế TTĐB mới được

áp dụng thống nhất đối với các cơ sở sản xuất thuộc kinh tế quốc dân và ngoài quốc doanh (kể

cả đối với xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

Đối tượng nộp thuế TTĐB là các cơ sở sản xuất 6 nhóm mặt hàng : các loại thuốc hút,rượu, bia, pháo, bài lá, vàng mã (thuế TTĐB mới không áp dụng đối với mặt hàng tiêu dùng

Trang 6

cần thiết phải nộp thuế hàng hóa như trước Ví dụ : nước mắm, nước chấm, đồ dùng bằngnhựa, cao su).

Hàng thuộc diện đánh thuế TTĐB thực sự xuất khẩu không phải nộp thuế TTĐB

Biểu thuế TTĐB được quy định:

• Đối với thuốc hút : thuốc lá, thuốc lá sợi 20% ; thuốc lá điếu có đầu lọc 50%; thuốc láđiếu không đầu lọc 40% ;

• Đối với rượu các loại : dưới 30 độ 55%, từ 30 đến 40 độ 60%, trên 40 độ 65%

2.2 Luật thuế lợi tức:

Thuế lợi tức được ban hành thay thế chế độ thuế lợi tức kinh doanh (đối với khu vực kinh

tế ngoài quốc doanh) và chế độ phân phối lợi nhuận (đối với kinh tế quốc doanh) Thuế lợi tứcmới được áp dụng thống nhất đối với các cơ sở kinh doanh công thương nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế

Thuế lợi tức nhằm động viên một phần lợi tức của các cơ sở kinh doanh cho NSNN; bảođảm sự đóng góp công bằng hợp lý giữa mọi doanh nghiệp

Việc nộp thuế lợi tức đối với các đơn vị kinh doanh cố định loại lớn và vừa thực hiện theo

kê khai, tạm nộp thuế hàng tháng và quyết toán theo cuối năm trong thời gian quy định Đốivới hộ nhỏ nộp dứt khoát hàng tháng cùng với thuế doanh thu

Thuế lợi tức được miễn đối với người già, tàn tật hoặc người kinh doanh lẻ có thu nhậphàng tháng dưới mức lương và phụ cấp tối thiểu của CBCNVC

Thuế lợi tức được giảm hoặc miễn đối với : cơ sở có khó khăn do thiên tai…

2.3 Luật thuế đất nông nghiệp:

Ngày 10/7/1993, Quốc Hội khóa IX kỳ họp 111 đã thông qua Luật thuế sử dụng đất nôngnghiệp thay thuế nông nghiệp và được Chủ tịch nước công bố ngày 24/4/1993

Luật thuế đất nông nghiệp được xây dựng theo tinh thần khoan sức dân, thực hiện việcđiều chỉnh giảm thuế cho nông dân, cụ thể là giảm khoảng 30% so với mức thu thuế nôngnghiệp thuế sử dụng đất nông nghiệp được dành hầu hết để đầu tư trở lại cho sản xuất nôngnghiệp và xây dựng nông thôn

Thuế phải đảm bảo công bằng và nghĩa vụ nộp thuế giữa những người sử dụng đất vớinhau, giữa các tầng lớp dân cư phải đóng góp khác nhau cho NSNN

2.4 Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất:

Ngày 12/6/1994, Quối khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua luật thuế chuyển quyền sửdụng đất, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1994, nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đấtđai, khuyến khích sử dụng đất có hiệu quả bảo đảm công bằng về nghĩa vụ nộp thuế

Chuyển quyền sử dụng đất là chuyển đổi, chuyển nhượng, chuyển cho người khác quyền

sử dụng đất của mình theo quy định của pháp luật

Giá tính thuế chuyển quyền sử dụng đất là giá do UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc TWquy định trung khung giá của Chính phủ, phù hợp thực tế địa phương

Trang 7

Thuế CQSDĐ nộp 1 lần theo thông báo của cơ quan thuế Cơ quan Nhà nước có thẩmquyền chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người nhận quyền sử dụng đất khingười chuyển quyền sử dụng đất đã nộp đủ thuế CQSDĐ.

2.5 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (thuế thu nhập cá nhân):

Căn cứ Nghị quyết Quốc Hội khóa VIII kỳ họp 6 ngày 28/12/1989 về việc ủy quyền choHội đồng Nhà nước quy định 1 số thuế mới bằng hình thức pháp lệnh, ngày 4/9/1990, Vănphòng Quốc Hội Nhà nước đã công bố dự thảo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thunhập cao, lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân trước khi ban hành

Đối tượng thuế được chia thành 2 loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thườngxuyên, khởi điểm tính thuế xây dựng đầu tiên với mức chung là trên 1 triệu đồng/lần cũng đượcđiều chỉnh lại là trên 1.500.000đồng /lần Trong pháp lệnh thuế thu nhập cũng có quy định thuếsuất ổn định đối với thu nhập không thường xuyên thuộc diện đánh thuế từ dịch vụ chuyển giaocông nghệ là 5% Trúng thưởng xổ số kiến thiết cũng được điều chỉnh chỉ thu thuế đối vớitrường hợp được trúng từ 10 triệu đồng/lần trở lên với thuế suất thống nhất là 10%

a Các thỏa thuận và cam kết quốc tế về thuế:

a.1 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần:

Đường lối đổi mới toàn diện đã tạo ra nhiều biến đổi về kinh tế Tình trạng đánh thuếtrùng đối với những tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại ViệtNam phát sinh Họ là đối tượng nộp thuế đồng thời của cả Việt Nam và luật thuế của nước nơi

họ cư trú, theo Quy định của luật thuế Việt Nam và luật thuế của những nước đó Điều này làcản ngại nhất định đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Vì vậy từ năm 1991các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần giữa Việt Nam với các nước nhằm hạn chế tình trạng đánhthuế trùng giữa hai quốc gia lần lượt ra đời

a.2 Cam kết giảm thuế nhập khẩu theo hiệp định về chương trình ưu đãi về thuế quan

có hiệu lực chung (CEPT) để thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA):

Theo cam kết giữa Việt Nam và ASEAN, Việt Nam sẽ giảm thuế nhập khẩu theo hiệpđịnh CEPT, đây là hiệp định có nội dung hoàn toàn mới với Việt Nam, các danh mục hànghóa của Việt Nam tham gia chương trình giảm thuế được xác định theo các nguyên tắc:

• Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách ;

• Bảo hộ hợp lí cho sản xuất trong nước tạo điều kiện việc khuyến khích chuyển giao kỹthuật, đổi mới công nghệ

Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của hiệp định CEPT để tranh thủ

ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài

b Kiện toàn tổ chức ngành thuế và tổ chức thực hiện:

Hệ thống tổ chức ngành nghề được hợp nhất từ ba hệ thống thu: Thu quốc doanh, thuếcông thương nghiệp, thuế nông nghiệp thành một hệ thống thuế thống nhất từ Trung ương đếnquận huyện thực hiện nguyên tắc song trùng lãnh đạo; xác định rõ quyền hạn trách nhiệm và

sự phân công cụ thể, hợp lý giữa các ngành cơ quan thuế tới ngành dọc cấp trên và chínhquyền từng cấp trong tổ chức lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách, chế độ thuế, nghiêmchỉnh, trung cả nước và trên từng địa bàn lãnh thổ

Ở Trung ương: Có Tổng cục thuế trực thuộc Bộ tài chính, giúp Bộ soạn thảo các văn bảnpháp quy, liên quan đến các chính sách, chế độ thuế, hướng dẫn, chỉ đạo việc thực hiện chínhsách, chế độ thuế trong cả nước

Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Có Cục thuế, hướng dẫn, chỉ đạo việc thựchiện chính sách, chế độ trong tỉnh, thành phố

Trang 8

Ở các quận, huyện và các cấp hành chính tương đương: có Chi cục thuế, tổ chức việc thựchiện chính sách, chế độ thuế trên địa bàn, về đào tạo bồi dưỡng thuế.

Năm 1990 khi mới thành lập hệ thống thu thuế nhà nước, trình độ cán bộ ngành thuế cònrất thấp Số cán bộ làm công tác thu thuế công thương nghiệp và nông nghiệp trước đây chủyếu là bộ đội chuyển ngành, qua bồi dưỡng nghiệp vụ thuế một thời gian ngắn rồi đi thu thuế

Vì vậy tỷ lệ cán bộ được đào tạo 36,5%; trong đó trình độ cán bộ được đào tạo đại học (tất cảcác chuyên ngành) là 10,5%, đào tạo trung học chuyên nghiệp là 26% Đặc biệt trình độ cán

bộ các tỉnh phía nam lại càng thấp hơn Thực tế này đã không đáp ứng được yêu cầu về quản

lý và thu thuế trong cả nước Do vậy yêu cầu của việc đào tạo cán bộ cũng tăng cao Công tácđào tạo chủ yếu tập trung vào:

• Đào tạo các kiến thức cơ bản và cơ sở ở bậc trung cấp, đại học, các kiến thức kinh tếtài chính phục vụ cho quản lý thuế

• Tập huấn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của chiến lược cải cách thuế bước I, mà chủ yếu

là tập huấn về chính sách thuế thường xuyên thay đổi và thực hiện

IV Kết quả đạt được qua cải cách hệ thống chính sách thuế bước 1:

Báo cáo tại đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII (6/1996) đã nhận định “đã hình thành được

hệ thống thuế áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế nâng dần tỷ lệ động viên thuế và phí trong GDP, tạo thành nguồn thu chính của NSNN, đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên và tăng dần phần dành cho đầu tư phát triển, tỷ lệ thiếu hụt ngân sách đã được kiềm chế: chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp bội chi thay bằng vay của dân, của nước ngoài” (văn kiện đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII nhà suất bản chính trị quốc gia 1996 trang 155)

1 Về thu ngân sách:

Qua việc triển khai hệ thống chính sách thuế được cải cách trong bước I và kiện toàn tổchức bộ máy thuế, kết quả số thu đã liên tục vượt mức kế hoạch được giao năm sau tăng nhiềuhơn năm trước và chiếm vị trí trên 90% tổng số thu của NSNN Số thuế 1999 gần bằng 11 lần

số đã thu năm 1990 (tài liệu khai thác từ bảng tóm tắt thành tích của ngành thuế qua 10 năm phục vụ công cuộc đổi mới) Nhờ vậy, thuế đã không những đáp ứng được nhu cầu chi tiêu

thường xuyên ngày càng tăng của nhà nước, góp phần giảm tỷ lệ bội chi, kiềm chế lạm phát,

ổn định giá cả, tiền tệ mà còn dành được một phần tích lũy ngày càng tăng cho NSNN

2 Về kinh tế:

Việc áp dụng chung hệ thống chính sách thuế đã từng bước tạo được sự cạnh tranh lànhmạnh giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất, kinh doanh để tồn tại và phát triển: thúc đẩysản xuất mở rộng lưu thông hàng hóa có lợi cho quốc kế dân sinh, khuyến khích xuất khẩu,thu hút đầu tư của nước ngoài Số thuế và phí tăng nhanh qua các năm nhưng kinh tế vẫn tăngtrưởng khá Sản lượng lương thực tăng nhanh, giá trị lượng công nghiệp tăng bình quân trên10% / năm

Thông qua các chính sách thuế, nhà nước có thêm căn cứ phân loại sắp xếp doanhnghiệp nhà nước Năm 1990 có hơn 12.000 doanh nghiệp nhà nước, đến đầu năm 1997 chỉcòn gần 6.000 cơ sở Thuế cũng đã tích cực góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch đầu tư, dẫn tới

sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế Chính sách thuế hiện hành đã thể hiện sự khuyến khích đầu

tư phát triển sản xuất, thông qua việc ưu đãi thuế đối với cơ sở sản xuất mới thành lập, cơ sởsản xuất đầu tư chiều sâu, đầu tư mở rộng khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, khuyếnkhích đầu tư nước ngoài, chiếu cố các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các vùng kinh tế

có nhiều khó khăn, miền núi, vùng cao, vùng sâu, hải đảo xa xôi, thúc đẩy sự dịch chuyển cơcấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong khi vẫn duy trì đượctốc độ tăng trưởng ở tất cả các ngành một cách toàn diện

Trang 9

3 Về xã hội :

Hệ thống thuế được áp dụng chung cho các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư đãtừng bước đảm bảo công bằng và bình đẳng xã hội về động viên đóng góp Chính sách thuếcũng khuyến khích những người làm ăn giỏi đạt hiệu quả kinh tế cao, nộp thuế nhiều mộtcách thuận lợi đồng thời vẫn còn lại số thu nhập cao, thậm chí rất cao so với những doanhnghiệp thiếu năng động, làm ăn kém hiệu quả Qua đó, thúc đẩy đầu tư vốn, đầu tư chất xám,cải tiến công nghệ, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và chi phí dịch vụ, nộpthuế nhiều cho nhà nước và tạo được tích lũy lớn cho nhà doanh nghiệp

4 Về pháp lý:

Các loại thuế được ban hành bằng hình thức luật, pháp lệnh đã từng bước nâng đượctính pháp lý, đối với hệ thống chính sách thuế mới Cùng với việc thường xuyên đẩy mạnhcông tác tuyên truyền, giải thích về thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng và các cuộchội thảo, tập huấn, nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm nộp thuế của các doanhnghiệp, của các đối tượng nộp thuế ngày càng được nâng cao, hiểu biết của các tầng lớp dân

cư về vai trò, vị trí của thuế trong cơ chế thị trường ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn

5 Về quản lý thu thuế:

• Quy trình về công tác quản lý, thu thuế theo ba bộ phận đã phát huy tốt vai trò độc lậpcủa từng bộ phận (quản lý, đôn đốc, thu nộp, kiểm tra) và sự phối hợp bổ sung cho nhau, đãtạo điều kiện thuận lợi hơn trong công tác quản lý, chống thất thu có hiệu quả về số lượng cơ

sở kinh doanh, về mức doanh thu, mức thuế khoán, về dây dưa nợ đọng thuế;

• Chế độ hóa đơn, kế toán từng bước được triển khai rộng rãi gắn với công tác quản lýđược tăng cường cũng đã tạo điều kiện để cán bộ thuế có căn cứ tính thuế ngày càng sát hơnvới thực tế hoạt động kinh doanh của từng cơ sở, có thêm căn cứ để chống tiêu cực trongthanh toán chi phí của các cơ quan hành chính sự nghiệp lực lượng vũ trang;

• Chế độ phối hợp với các chính quyền phường xã, với các ban quản lý chợ, với cácngành có liên quan ngày càng được tăng cường đã tạo điều kiện để cán bộ thuế gắn được việctriển khai thực hiện các luật, pháp lệnh thuế với các chương trình về quản lý kinh tế, tài chính,trật tự an toàn xã hội trên từng địa bàn phường, xã

6 Về hỗ trợ người nộp thuế:

Trong giai đoạn này cán bộ thuế ngoài nhiệm vụ thu thuế, quản lý thuế còn giữ vai trò làmột người hướng dẫn triển khai thực hiện các chính sách thuế trong phạm vi quản, tuy nhiênmức độ còn hạn chế

7 Bộ máy quản lý thuế:

Tổ chức bộ máy ngành thuế có những thay đổi cơ bản là :

• Thành lập và tách các phòng thuộc tổng cục thuế: Cơ cấu bộ máy giúp việc tổng cụctrưởng từ 11 phòng (năm 1990) lên 18 phòng (năm 1995) do một số lĩnh vực mới cần phát

triển như: máy tính quản lý ấn chỉ (do số lượng ấn chỉ cao, lớn cả về số lượng, và chủng loại, quản lý ngày càng phức tạp) các lĩnh vực khác như xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài

hợp tác quốc tế… là các lĩnh vực lớn cần tách riêng …

• Thành lập phòng quản lý ấn chỉ, phòng nghiệp vụ thuế, phòng máy tính ở các cục thuế

lớn (hoặc tổ máy tính nằm trong phòng kế hoạch, kế toán thống kê ở các cục thuế nhỏ) và

phòng thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc cục thuế tại một số cục thuế

• Sửa đổi cơ cấu bộ máy chi cục thuế Thông tư số 64 TC/TCCB ngày 29/10/1992: xóa

bỏ một số tổ trực tiếp quản lý thu tại chi cục và thành lập đội thuế xã, phường, gắn với chính

Trang 10

quyền cơ sở để quản lý các loại thuế phát sinh trên địa bàn Cuối năm 1994, sau một nămthực hiện đã có gần 4.000 đội thuế được thành lập, đến nay có gần 6.000 đội.

• Qua 5 năm thực hiện nghị định 281-HĐBT của hội đồng bộ trưởng, tổ chức bộ máycủa ngành thuế ở các cấp đã từng bước được củng cố kiện toàn góp phần tích cực vào việchoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước Số thuế và chi phí thu được hàng năm đều vượt

kế hoạch Quốc hội giao cho và không ngừng tăng nhanh cả về số tương đối và tuyệt đối Kếtquả đó chủ yếu là do cải cách hệ thống chính sách thuế và tổ chức bộ máy thu thuế theo ngànhdọc, thống nhất từ trung ương đến địa phương, khẳng định hướng đi đúng đắn trong cải cách

tổ chức bộ máy thuế ở nước ta

Trang 11

Chương 3: CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 2 (1996

– 2000)

I Bối cảnh kinh tế - xã hội:

 Từ giữa năm 1997, khủng hoảng tài chính tiền tệ diễn ra ở các nước Đông Nam Á và lan

ra nhiều nước khác Dù bị tác động song kinh tế nước ta vẫn tiếp tục tăng trưởng Tuy nhiênqua khủng hoảng cũng rút ra nhiều bài học trong việc điều hành chính sách tài chính vĩ mô, vìvậy cần có những sữa đổi Bộ chính trị đã có chỉ thị số 44 CT/TW ngày 4/11/1998 về việctăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện các luật thuế mới nhằm đạt được 3 yêucầu chủ yếu là:

• Bảo đảm công bằng và quyền lợi nghĩa vụ các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trongnền kinh tế; giúp các DN ổn định được hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lựcquản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh

• Bảo đảm không ảnh hưởng lớn đến kết hoạch thu ngân của ngân sách trong nhữngnăm đầu thực hiện

• Bảo đảm ổn định thị trường trong nước tránh gây ra những biến động về giá cả

 Mặc khác, tình hình thu chi tài chính trong giai đoạn này có nhiều yêu cầu bức bách, côngtác thu thuế đòi hỏi phải thay đổi và là nguồn thu đáp ứng nhu cầu cần thiết của ngân sách nhànước Thuế phải bao quát được hết các khoản thu nhập, các hoạt động kinh tế phát sinh phùhợp với tình hình phát triển kinh tế của nước ta

II Mục tiêu của việc cải cách chính sách thuế:

Ngoài mục tiêu đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đảm bảo công bằng xãhội giữa các thành phần kinh tế, trong bối cảnh này, chính sách thuế phải đạt được các yêucầu cấp bách sau:

• Mỗi sắc thuế nhắm một mục tiêu, chức năng rõ ràng, cách tính thuế đơn giản, thuếsuất phù hợp với khả năng đóng góp của đối tượng nộp thuế

• Là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế, khuyến khích đầu tưchiều sâu, đổi mới khoa học công nghệ, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế

• Phân phối thu nhập xã hội: người có thu nhập nhiều phải nộp thuế nhiều hơn người cóthu nhập thấp; hạn chế tiêu cực, tham nhũng…

• Tương đồng với thuế của các nước và phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện mởrộng quan hệ hợp tác kinh tế giữa nước ta và các nước trong khu vực và cả thế giới

III Các nội dung cơ bản của hệ thống thuế trong cải cách thuế bước 2:

1 Cải tiến quy trình quản lý thu thuế:

Ngành thuế đã tiến hành việc cải tiến toàn bộ quy trình quản lý, thu thuế, thực hiện cảicách quản lý hành chính thuế, tiến tới áp dụng phương pháp quản lý thu thuế hiện đại mà cácnước đang thực hiện

CẢI CÁCH THUẾ BƯỚC 2

(1996 – 2000)

Trang 12

• Đặc trưng của các quy trình quản lý thuế mới là xóa bỏ quy trình quản lý theo chế độ

“chuyên quản”

• Đối tượng nộp thuế phải đề cao tinh thần tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế theo luậtpháp quy định, thực hiện tự tính thuế, tự kê khai thuế dựa vào kết quả hoạt động sản xuất,kinh doanh, dịch vụ của mình và tự nộp thuế vào kho bạc nhà nước

Thông qua chế độ tự khai - tự nộp, doanh nghiệp nâng cao được ý thức trách nhiệm vềviệc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, kết hợp với việc xử lý nghiêm minh các trường hợp trốnthuế

• Cơ quan thuế thực hiện nhiệm vụ hành thu theo đúng chức năng nhà nước quy định,hạn chế việc cán bộ thuế tiếp xúc riêng với đối tượng nộp thuế, áp dụng hình thức phạt nặngđối với các trường hợp khai man, trốn thuế, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời cho NSNN, giảmhiện tượng tiêu cực cả đối với người nộp thuế và cán bộ thu thuế

• Các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hóa đơn, kế toán, đặc biệt theochế độ mã số thuế, cả với đối tượng bán hàng và người mua hàng Qua đó, căn cứ chính xác

để thực hiện đúng đắn việc tự tính thuế, kê khai thuế đối với doanh nghiệp, có cơ sở cho việckhấu trừ tiền thuế GTGT đầu vào và có tài liệu để cán bộ thuế kiểm tra, xác định tính thuếđúng hay sai

2 Cải cách hành chính thuế:

Công tác cải cách hành chính thuế được coi là một trong những biện pháp cơ bản đểthực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của toàn ngành, được triển khai từ năm 1990 - đặcbiệt là trong thời gian thực hiện cải cách thuế bước 2

Việc cải cách hành chính thuế được thực hiện theo hướng: đơn giản, rõ ràng, công khai

và tiến đến máy tính hóa nhằm thực hiện được các mục tiêu thu đúng, thu đủ; giảm bớt cácthủ tục phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nộp thuế; đề cao tính tự giác vàtrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đóng thuế theo quy định của hiến pháp với mọi đối tượng nộpthuế

Thực hiện quy trình hành thu tiên tiến để hạn chế và tiến tới xóa bỏ các hiện tượng tiêucực trong và ngoài ngành thuế

Thể hiện cụ thể qua các công tác:

• Từng bước hiện đại hóa công tác thuế, ứng dụng được tin học vào quy trình quản lý,thu thuế

• Xây dựng các sổ tay nghiệp vụ cho cán bộ thuế đối với một số sắc thuế, góp phầnnâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ thuế

• Từ 01/01/1999, tổ chức cấp mã số đối tượng nộp thuế, thực hiện các quy trình quản lý

thuế mới (xóa bỏ quy trình quản lý theo chế độ “chuyên quản” không còn phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới) Đối tượng nộp thuế phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ thuế theo pháp

luật quy định đối với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế là tự kê khai, tính thuế và nộp

thuế Các quy trình, thủ tục (nộp thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế…) được niêm yết công khai

mọi đối tượng nộp thuế biết để thực hiện

• Thực hiện cải tiến, xây dựng hệ thống hóa đơn, chứng từ, biên lai, sổ sách kế toánthuận lợi cho việc sử dụng của các đối tượng nộp thuế; khuyến khích áp dụng hóa đơn tự innhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị - cũng như tạo thuận lợi cho việcquản lý, giám sát của cơ quan thuế

• Tổ chức quản lý, thu thuế được cải tiến theo hướng tập trung, trang bị hệ thống thôngtin để ngành thuế có thể quản lý bằng vi tính mà trọng tâm trước mắt là thuế GTGT

Trang 13

• Công tác kiểm tra, thanh tra của ngành thuế được tăng cường mạnh mẽ: đảm bảo xử lýnghiêm minh, đúng luật - để phát huy tác dụng giáo dục, răn đe, từng bước đưa việc thực hiệnchính sách, chế độ thuế vào nề nếp, kỷ cương …

3 Kiện toàn tổ chức bộ máy ngành thuế:

Trong giai đoạn này, bộ máy Cục thuế và Chi cục thuế cũng có những thay đổi đáng kể:

• Thành lập phòng thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài một số cục thuế có đầu

tư nước ngoài lớn

• Chuyển doanh nghiệp ngoài quốc doanh, quốc doanh quận, huyện, hợp tác xã và hộ cáthể nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ từ Chi cục thuế về Cục thuế quản lý

• Thành lập phòng quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và quốc doanhquận huyện thuộc Cục thuế để quản lý thu các đối tượng này

 Những thay đổi nói trên đã đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý đặc biệt các luật thuếmới, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các luật thuế mới trong đó có luật thuế GTGT

4 Về hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật:

Với mục tiêu là đổi mới hoàn thiện và ổn định hệ thống chính sách thuế cùng với nhữngcải tiến công tác hành thu & cải cách hành chính của cả nước:

Về hình thức : ổn dịnh chính sách thuế trong một thời kỳ dài, nhằm thu hút và khuyến

khích đầu tư Các sắc thuế lần lượt được củng cố về nội dung và nâng dần hình thức pháp lýcủa văn bản Các quy phạm pháp luật thuế dần dần được thể hiện trong các luật thuế và pháplệnh thuế để thay thế dần các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn

Về nội dung : Quốc hội đã thông qua thực hiện 2 loại thuế mới: Luật thuế GTGT thay

thế Luật thuế doanh thu, Luật thuế TNDN thay thế Luật thuế lợi tức – đồng thời sửa đổi, bổsung Luật thuế TTĐB, Luật thuế XK, thuế NK, sửa đổi Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất,pháp lệnh thuế tài nguyên, pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Ngoài ra,các luật có liên quan như Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật ngân sách… cũng đượcđiều chỉnh để thực hiện đồng bộ với các luật thuế mới

5 Nội dung cơ bản của 02 luật thuế mới: Luật thuế GTGT và Luật thuế TNDN:

Có thể coi là bước đột phá quan trọng nhất của công cuộc cải cách thuế bước 2: đây là

hai luật thuế cơ bản quan trọng điển hình cho hai loại thuế: gián thu (thuế GTGT) và thuế trực thu (thuế TNDN).

Phạm vi điều chỉnh của 2 sắc thuế này rộng, tác động đến nhiều mặt kinh tế xã hội

a Luật thuế GTGT: thay thuế doanh thu.

• Luật thuế GTGT tuy được thông qua từ giữa năm 1997 nhưng lại được triển khai vàođầu năm 1999 - thuộc thời điểm khủng hoảng tài chính khu vực có ảnh hưởng không tốt đếnsản xuất, kinh doanh của Việt Nam

• Qua năm đầu triển khai thực hiện, thuế GTGT bộc lộ một số nhược điểm và được các

cơ quan chức năng nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung để thuế GTGT được hoàn thiện, phù hợp vớiđiều kiện kinh tế xã hội của VN

Việc áp dụng thuế GTGT với 4 mức thuế suất (0% - 5% - 10% và 20%) đã tạo điều

kiện đơn giản hóa và nâng cao hiệu quả quản lý thuế

• Thuế GTGT tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từngkhâu trong quá trình SX, lưu thông và tiêu dùng… nên khắc phục được nhược điểm thuế đánhtrùng lấp của thuế doanh thu;

Ngày đăng: 05/10/2014, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w