TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TÌM HIỂU ODA VÀ FDI TẠI VIỆT NAM ODA (Official Development Assistance – nguồn hỗ trợ phát triển chính thức) bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức thuộc hệ thống liên hiệp quốc, tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang và chậm phát triển gồm có: ODA, tín dụng thương mại từ các ngân hàng
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
TIỂU LUẬN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ:
GIẢNG VIÊN: TS.DIỆP GIA LUẬT
LÊ THỊ THU THÚY
HÀ THANH
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 01 THÁNG 2010
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ODA TẠI VIỆT NAM.
1.1.GIỚI THIỆU VỀ ODA
1.1.1.ODA là gì
ODA (Official Development Assistance – nguồn hỗ trợ phát triển chínhthức) bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tíndụng ưu đãi của Chính phủ, tổ chức liên chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chứcthuộc hệ thống liên hiệp quốc, tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang
và chậm phát triển Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang vàchậm phát triển gồm có: ODA, tín dụng thương mại từ các ngân hàng, đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặtchẽ với nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mứccần thiết để cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội thì cũng khó có thể thu hútđược các nguồn vốn FDI cũng như vay vốn tín dụng để mở rộng kinh doanh.Nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn vốn ODA mà không tìm cách thu hút cácnguồn vốn FDI và các nguồn vốn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởngnhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vay ODA
1.1.2.Đặc điểm của vốn ODA
ODA mang tính ưu đãi:
Vốn ODA có thời gian cho vay (thời gian hoàn trả) dài, có thời gian ân hạndài Ví dụ, vốn ODA của WB (World Bank), ADB (Asian Development Bank), JICA(Japan International Cooperation Agency) có thời gian hoàn trả khoảng 40 năm,thời gian ân hạn khoảng 10 năm Trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại(cho không) với tỷ lệ từ 25% trở lên
ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển nhằm mục tiêu
hỗ trợ cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân
ODA mang tính ràng buộc:
ODA có thể ràng buộc (một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận việntrợ Như vậy viện trợ luôn chứa đựng 2 mục tiêu song song Mục tiêu thứ nhất làthúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển khiđược tận dụng những ưu đãi từ vố vay ODA mang lại Bên cạnh đó,viện trợ khôngđơn thuần là giúp đỡ hữu nghị mà còn là công cụ lợi hại đáp ứng mục tiêu thứ 2của các nước viện trợ là nâng cao vị thế chính trị, lợi ích an ninh, kinh tế của cácnước này thông qua các ràng buộc, những điều kiện đối với những nơi nhận việntrợ Vì vậy, khi nhận viện trợ, các nước cần cân nhắc kỹ những yêu cầu này
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánhnặng nợ nần chưa xuất hiện và thấy rõ Tuy nhiên, khi sử dụng ODA không hiệuquả thì sau một thời gian tăng trưởng nhất thời, các nước này sẽ lâm vào vòng nợnần, không có khả năng trả nợ và gây áp lực trả nợ cho các thế hệ sau ODAkhông đầu tư trực tiếp vào sản xuất, nhất là xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựavào kết quả xuất khẩu là chủ yếu Do đó, trong khi hoạch định ODA cần phối hợpcác nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và giá trị xuất khẩu
Trang 31.2.ODA TẠI VIỆT NAM
1.2.1.Giới thiệu
Trước năm 1993, nước ta nhận viện trợ chủ yếu từ Liên Xô và các nướcĐông Âu Hội nghị bàn tròn về viện trợ dành cho Việt Nam được tổ chức tại Pa-ridưới sự chủ trì của Ngân hàng Thế giới (WB) vào tháng 11 năm 1993 thực sự làđiểm khởi đầu cho quá trình thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam
Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghịviện trợ quốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển Đối với ViệtNam, sau Hội bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầutiên vào năm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghịNhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG) và ViệtNam từ vị thế là khách mời đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngânhàng Thế giới Địa điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tạinước tài trợ như tại Pháp, Nhật Bản, sang về tổ chức tại Việt Nam
Hội nghị CG thường niên thực sự là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ vàcộng đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của Việt Nam, trong đó quan hệ hợp tác phát triển và việccung cấp, sử dụng viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đóigiảm nghèo là một nội dung gắn kết chặt chẽ, không tách rời Ngoài Hội nghị CGthường niên thường tổ chức vào tháng 12 hàng năm, còn tổ chức Hội nghị CGgiữa kỳ không chính thức tại các địa phương, tạo điều kiện cho các nhà tài trợgần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triển cần được hỗ trợ của họ
Là diễn đàn đối thoại về chính sách và viện trợ, song không khí chung củatất cả các Hội nghị CG cho đến nay là dựa trên tinh thần quan hệ đối tác và mangtính xây dựng, trong đó các nhà tài trợ tôn trọng vai trò làm chủ và lãnh đạo quốcgia của Việt Nam trong quá trình phát triển
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rấtnhiều và hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương (chính phủ)
và 23 nhà tài trợ đa phương (các định chế tài chính quốc tế và các quỹ, các tổchức quốc tế và liên chính phủ) đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam Ngoàicác nước là thành viên của Tổ chức OECD-DAC (Tổ chức hợp tác và phát triểnkinh tế) còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,
Ngoài nguồn vốn tài trợ ODA, ở Việt nam còn có khoảng 600 các tổ chứcphi Chính phủ quốc tế hoạt động với số tiền viện trợ hàng năm lên đến 200 triệuUSD trong nhiều lĩnh vực khác nhau, liên quan trực tiếp đến đời sống người dântại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
1.2.2.Tình hình huy động vốn ODA giai đoạn 1993-2008.
Các nhà tài trợ đã ngày càng quan tâm nhiều hơn đến Việt Nam và cónhững động thái hợp tác tích cực với Chính phủ Việt Nam như đề xuất một sốsáng kiến: sáng kiến áp dụng mẫu báo cáo tiến độ thực hiện dự án theo Quyếtđịnh 803/2007/QĐ-BKH của nhóm 6 Ngân hàng phát triển (WB,ADB,SBIC,KFD,EXB Hàn Quốc), sáng kiến “Một Liên hợp quốc” nhằm thúc đẩythực hiện chương trình dự án, giảm chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả việntrợ; sáng kiến hài hòa quy trình và thủ tục ODA trong nội bộ các nước thành viên
Trang 4tích cực các Hội nghị của các nhà tài trợ, các Hội nghị của các nhóm tư vấn cácnhà tài trợ cho Việt Nam, v v…
Về phía Việt Nam, cũng ghi nhận những biện pháp chủ động của Chínhphủ trong mục tiêu quản lý nợ công nói chung, nợ nước ngoài và ODA nói riêng.Thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã rất chú trọng công tác thông tin ra bênngoài, tạo điều kiện cho thế giới biết và hiểu nhiều hơn về Việt Nam, phát triểnmạnh mẽ các quan hệ song phương và đa phương, hoàn thiện dần thể chế pháp
lý về ODA (ban hành Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chínhphủ về Quy chế pháp lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, Quyếtđịnh số 181/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chếcho vay lại từ nguồn vốn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ, Đề án “Địnhhướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức thời kỳ 2006-2010kèm theo quyết định số 290/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 của Thủ tướng Chínhphủ), tổ chức nhiều Hội thảo chuyên đề về ODA, thực thi các biện pháp kiểm soátnguồn ODA v.v…
Những nỗ lực từ cả hai phía các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam đã đạtnhững kết quả quan trọng Thông qua 15 Hội nghị CG thường niên từ năm 1993đến 2007, tổng vốn ODA đã được các nhà tài trợ cam kết cho giai đoạn 1993-
2008 đạt 42,55 tỷ USD với mức cam kết năm sau cao thường cao hơn năm trước(hoặc giảm không ít), kể cả khi thế giới có xu hướng cắt giảm mạnh nguồn vốnnày và những năm kinh tế thế giới gặp khó khăn như khủng hoảng tài chính khuvực châu Á vào năm 1997 Đặc biệt năm 2008 đạt con số kỷ lục với 5,43 tỷ USDcao nhất từ trước đến nay, cho thấy sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của cộngđồng quốc tế đối với chủ trương, chính sách của Việt Nam
a) Số liệu huy động, ký kết, sử dụng vốn ODA qua các năm
Năm Số vốn cam kết Số vốn ký kết Số vốn giải ngân
Trang 5Bảng 1.1: Số liệu vốn ODA của Việt Nam (tỷ USD)
Trang 6Hình 2.1: Biểu đồ vốn ODA cam kết, ký kết và giải ngân tại Việt Nam (tỷ USD)
Trang 7Qua bảng số liệu trên ta thấy, qua các năm số vốn cam kết của các nhà tàitrợ dành cho Việt Nam luôn tăng đều, năm sau cao hơn năm trước Song điều có
ý nghĩa hơn là số vốn được hợp thức hóa bằng các hiệp định ký kết giữa chínhphủ Việt Nam và các nhà tài trợ Qua các năm, tỷ lệ số vốn được ký kết đạt trungbình khoảng 80-82”% số vốn cam kết trước đó (số liệu năm 1994 tăng đột biến do
có phần ký kết phần vốn ODA đã cam kết của năm 1993)
b) Phân bổ nguồn vốn ODA
Ngày 29 tháng 12 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 290/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triểnchính thức thời kỳ 2006-2010 5 lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA trongthời kỳ 5 năm 2006-2010 bao gồm:
- Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâmnghiệp, thuỷ sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo)
- Xây dựng hạ tầng kinh tế theo hướng hiện đại
- Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục và đào tạo, dân số vàphát triển và một số lĩnh vực khác)
- Bảo vệ môi truờng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giaocông nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai
Cơ cấu vốn ODA theo các điều ước quốc tế về ODA đã được ký trong thời
kỳ 1993-2008 phù hợp với những định hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA nêu trên
Hình 1.2: Biểu đồ phân bố vốn ODA theo ngành nghề.
Y tế, GDĐT Môi trường, KHKT Khác
Trang 8 Trong các ngành và lĩnh vực ưu tiên vốn ODA, Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo có các chương trình và dự án ODA
ký kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,7 tỷ USD, trong đó
có nhiều dự án quy mô lớn như Dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phíaBắc, Dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, Dự ánphát triển sinh kế miền Trung, Chương trình cấp nước nông thôn, giao thôngnông thôn và điện khí hóa nông thôn, Chương trình thủy lợi Đồng bằng sôngCửu Long và nhiều dự án phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói,giảm nghèo khác, đã góp phần hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cải thiệnmột bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồngbào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trongcác lĩnh vực y tế, giáo dục
Năng lượng và Công nghiệp là lĩnh vực sử dụng nguồn vốn ODA lớn với các
dự án đã ký trong thời gian qua đạt trên 7,85 tỷ USD nhằm cải tạo, nâng cấp,phát triển mới nhiều nhà máy nhiệt điện và thủy điện với công suất lớn (Nhàmáy nhiệt điện Phú Mỹ 2.1 công suất 288 MW; nhà máy nhiệt điện Phả Lại IIcông suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Hàm Thuận - Đa Mi công suất 475MW; nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ I công suất 1.090 MW; nhà máy nhiệt điện
Ô Môn công suất 600 MW; nhà máy thuỷ điện Đại Ninh công suất 360 MW),cải tạo và phát triển mạng truyền tải và phân phối điện quốc gia đáp ứng nhucầu điện gia tăng hàng năm cho sản xuất và đời sống ở các thành phố, thịtrấn, thị xã, khu công nghiệp và khu vực nông thôn trên cả nước Đây lànguồn vốn lớn và có ý nghĩa trong bối cảnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sáchcòn hạn hẹp, khu vực tư nhân trong và ngoài nước trong giai đoạn phát triểnban đầu còn chưa mặn mà với đầu tư phát triển nguồn và lưới điện vì yêucầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn chậm
Giao thông Vận tải và Bưu chính viễn thông là ngành tiếp nhận vốn ODA lớnnhất với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 10,1 tỷ USD thời kỳ 1993-
2008 Nhờ nguồn vốn này, Việt Nam đã khôi phục và bước đầu phát triểncác hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, đường biển vàđường thủy nội địa Đây là những cơ sở hạ tầng kinh tế hết sức quan trọng
để thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phương, kể cả thu hútnguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Hệ thống đường bộ ở phía Bắc(Quốc lộ 5, 10, 18), Quốc lộ 1A, đường xuyên Á Thành phố Hồ Chí Minh -Mộc Bài, hầm đường bộ đèo Hải Vân, cảng biển nước sâu Cái Lân, cảngTiên Sa (Đà Nẵng), cảng Sài Gòn, nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất,các cầu lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Thanh Trì, cầu Bãi Cháy
Hệ thống thông tin liên lạc ven biển, điện thoại nông thôn và internet cộngđồng )
Hầu hết các thành phố lớn, các thành phố trực thuộc tỉnh, các thị xã và một
số thị trấn đều có các hệ thống cấp nước sinh hoạt được tài trợ bằng nguồnvốn ODA Các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Đà Nẵng, hiện đang triển khai thực hiện nhiều dự án ODA pháttriển cơ sở hạ tầng đô thị quan trọng, quy mô lớn như đường sắt nội đô,thoát nước và xử lý nước thải, chất thải rắn,…
Trang 9 Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, khoa học kỹ thuật là những lĩnh vực ưutiên thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua với các chương trình, dự án
đã ký đạt tổng số vốn khoảng 4,4 tỷ USD
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA hỗ trợ cho việc thực hiện cải cáchgiáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trunghọc phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáoviên, tăng cường năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cungcấp học bổng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ,công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước ngoài về các lĩnh vực kinh tế,khoa học, công nghệ và quản lý
Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, khoảng58% trong tổng vốn ODA (khoảng 0,9 tỷ USD) đã được sử dụng để tăngcường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh (xâydựng bệnh viện và tăng cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh việntuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện huyện và các trạm y tế xã, xâydựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc gia, , tăngcường công tác kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS và bệnhtruyền nhiễm như lao, sốt rét; đào tạo cán bộ y tế, hỗ trợ xây dựng chínhsách và nâng cao năng lực quản lý ngành
Nhiều chương trình và dự án ODA hỗ trợ Việt Nam bảo vệ môi trường vàphát triển bền vững như các chương trình trồng rừng và phủ xanh đấttrống, đồi núi trọc; các chương trình và dự án xây dựng và bảo vệ các khusinh quyển, rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên,
Ngoài ra, hơn 1 tỷ USD vốn ODA còn được sử dụng để hỗ trợ cho ngânsách thông qua các khoản vay và viện trợ không hoàn lại gắn với chính sách của
WB, ADB, IMF và một số nhà tài trợ song phương như hỗ trợ thực hiện các chínhsách kinh tế trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, ngân hàng, phát triển khu vực tưnhân, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước,
c) Cơ cấu các nhà tài trợ ODA
Trong số hàng chục nhà tài trợ ODA cho Viiệt Nam thì 3 nhà tài trợ NhậtBản, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) là những nhàtài trợ lớn nhất, trung bình có số vốn tài trợ chiếm khoảng 60% - 70% tổng số vốnODA
Ví dụ, cam kết ODA cho năm 2009 của 28 nhà tài trợ cho Việt Nam đượccông bố ngày 4/12/2008 tại hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ diễn ra tại Hà Nộivới trị giá khoản viện trợ đạt 5,015 tỷ USD thì riêng WB cam kết 1,66 tỷ USD, ADB1,566 tỷ USD, EU 893,4 triệu USD (trong đó, Pháp là nước có mức cam kết việntrợ cho Việt Nam cao nhất với 280,96 triệu USD, Đức 186 triệu USD) Hàn Quốccũng là một trong các nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam với mức 268,7 triệu USD,
Mỹ cam kết 128,12 triệu USD Cũng trong hội nghị này, Nhật Bản thông báo tạmdừng các dự án ODA tại Việt Nam cũng như không đưa ra thêm cam kết tài trợnào sau vụ việc hối lộ được phát hiện tại Công ty tư vấn quốc tế Thái Bình Dương(PCI) liên quan đến dự án Đại lộ Đông Tây ở TP Hồ Chí Minh Đến tháng03/2009, qua đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong giải quyết các vấn đề
Trang 10liên quan đến vụ hối lộ PCI, Nhật Bản đã chính thức ký công hàm cam kết nối lạiviện trợ cho Việt Nam năm tài khóa 2008 khoản ODA trị giá 82,3 tỷ yên (khoảng
900 triệu USD) bao gồm 4 dự án: dự án tuyến đường sắt nội đô Hà Nội, dự án Hỗtrợ cải thiện môi trường và các đối sách chống lũ lụt tại Hà Nội và Hải Phòng, dự
án cải thiện mạng lưới đường quốc gia Ngoài ra, ước tính tổng ODA của Nhậttrong năm tài khóa 2009 (1/4-31/3) là khoảng 2 tỷ USD
Hình 1.3: Biểu đồ cơ cấu các nhà tài trợ ODA năm 2009 (tỷ USD)
d) Giới thiệu một số dự án ODA lớn tại Việt Nam
Bảng 1.2: Một số dự án ODA có vốn đầu tư lớn.
1.2.3.Tình hình giải ngân vốn ODA
Mặc dù qua các năm, số vốn ODA cam kết và ký kết dự án đạt được rấtkhả quan, nhưng thực tế kết quả giải ngân tương đối chậm Trên bảng dữ liệu chothấy tỷ lệ giải ngân hàng năm chỉ đạt trung bình 50%-60% so với số vốn đã ký kếttrước đó Mặc dù tốc độ giải ngân được cải thiện nhất là trong 3 năm trở lại đây,
0.270.13
0.49
250.00
Đường cao tốc Bắc Nam (TPHCM – Dầu Giây) 145.43
Đường hành lang ven biển phía Nam
(thuộc tiểu vùng Sông MêKông mở rộng)
Trang 11tuy nhiên vẫn thấp hơn so với các nước trong khu vực Đơn cử như tốc độ giảingân vốn ODA của Ngân hàng thế giới mới đạt 11,6% so với mức 19,4% của khuvực, của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản – JBIC (nay đã hợp nhất với JICA– cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản) là 13,6% so với 16,6% của khu vực Thờigian giải ngân dự án cùng loại ở các nước khác là 5 năm thì tại Việt Nam mất tới6-7 năm.
Bảng 1.3: Tình hình giải ngân vốn ODA (tỷ USD)
1.2.4.Đánh giá lợi ích của vốn ODA đối với Việt Nam.
Trong những năm vừa qua, với tình hình thu hút vốn ODA đầy khả quannhư trên đã có ý nghĩa quan trọng và có tác động tích cực đối với sự phát triểnkinh tế xã hội của đất nước
Bổ sung nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội:
Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn, khoảng 3-4% trong GDP của Việt Nam,song ODA là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong vốn đầu tư của Nhà nước dànhcho đầu tư phát triển Trong thời kỳ từ 1993 – 2005 nguồn vốn này chiếm hơn11% tổng vốn đầu tư xã hội và chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư của Nhà nước
Việc sử dụng ODA trong thời gian qua đã có hiệu quả, có tác động tích cựcđến phát triển năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng dịch vụ của các ngành vàđịa phương Các công trình giao thông như Quốc lộ 5, Quốc lộ 10, Quốc lộ 18,Đường xuyên Á Tp Hồ Chí Minh - Mộc Bài, cầu Bính, Cầu Bãi Cháy, Cầu MỹThuận, Cảng hàng không Tân Sơn Nhất, được tài trợ từ nguồn vốn ODA đãminh chứng rõ rệt về tác động lan tỏa của nguồn vốn ODA đối với phát triển
Giúp VN duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, cải thiện chỉ số phát triểnquốc gia:
Năm Số vốn ký kết Số vốn giải ngân Tỷ lệ giải ngân
Trang 12Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên pháttriển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lựu tạo điều kiện thuậnlợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước.
Sau hơn 20 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu pháttriển kinh tế và tiến bộ xã hội vượt bậc, được dư luận trong nước và quốc tế thừanhận rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân 7,5%/năm,mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90 xuống còn trên 10% vàonăm 2008
Với sự hỗ trợ của ODA, hệ thống kết cấu hạ tầng đã được phát triển tươngđối hiện đại với mạng lưới điện, bưu chính viễn thông được phủ khắp các tỉnhthành trong cả nước, nhiều tuyến đường giao thông được làm mới, nâng cấp,nhiều cảng biển, cụm cảng hàng không cũng được xây dựng mới, mở rộng Vàđặc biệt, sự ra đời của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đãtạo môi trường hết sức thuận lợi cho sự hoạt động của các doanh nghiệp trongnước và góp phần tăng khả năng thu hút vốn từ nước ngoài Bởi vì, một môitrường đầu tư thuận lợi sẽ là chất xúc tác cho các nguồn vốn đầu tư khác như vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn đầu tư khu vực tư nhân
Cải thiện đời sống người dân, giảm tỷ lệ đói nghèo
Nguồn vốn ODA còn hỗ trợ các địa phương, đặc biệt các tỉnh còn nghèo,những các công trình phục vụ trực tiếp đời sống của nhân dân như giao thôngnông thôn, cấp điện và nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã và các bệnh việntỉnh và huyện, các công trình thủy lợi, các chợ nông thôn, Trong những nămqua, nhiều dự án đầu tư bằng vốn ODA đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng,góp phần tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo như Nhà máy Nhiệt điện Phú
Mỹ 2 -1; nhà máy thủy điện sông Hinh; một số dự án giao thông quan trọng nhưQuốc lộ 5, Quốc lộ 1A (đoạn Hà Nội - Vinh, đoạn thành phố Hồ Chí Minh- CầnThơ, đoạn thành phố Hồ Chí Minh- Nha Trang), cầu Mỹ Thuận ; nhiều trường tiểuhọc đã được xây mới, cải tạo tại hầu hết các tỉnh; một số bệnh viện ở các thànhphố, thị xã như bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), bệnh viện Chợ Rẫy (thành phố HồChí Minh); nhiều trạm y tế xã đã được cải tạo hoặc xây mới; các hệ thống cấpnước sinh hoạt ở nhiều tỉnh thành phố cũng như ở nông thôn, vùng núi Cácchương trình dân số và phát triển, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tiêmchủng mở rộng được thực hiện một cách có hiệu quả Nguồn vốn ODA đã giúpnông dân nghèo tiếp cận nguồn vốn vay để tạo ra các ngành nghề phụ, hỗ trợphát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư
Hỗ trợ xây dựng hoàn thiện thể chế, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệmquản lý
ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện khungthể chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới Luật) thôngqua việc cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập quán tốt củaquốc tế và khu vực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh Việt Namchuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Các dự án ODA được các tài trợ và tư vấn nước ngoài xây dựng, theo dõi
và áp dụng những công nghệ tiên tiến, những thành tựu hiện đại của thế giới
Trang 13Như vậy, qua việc hợp tác và triển khai các dự án ODA, Việt Nam được tiếp cậnvới những quy trình, khoa học kỹ thuật mới, cũng như học hỏi kinh nghiệm điềuhành và quản lý dự án của nước ngoài, nhiều công nghệ sản xuất, kỹ năng quản
lý hiện đại được chuyển giao Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu phối hợp cùng đốitác, về phía chính phủ cũng thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quảhoạt động của các cơ quan nhà nước
Phát triển năng lực con người VN qua việc đào tạo, cải thiện chỉ số phát triểncon người
Thông qua các dự án ODA, hàng ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo vàđào tạo lại, cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo có sự thamgia của những chuyên gia nước ngoài, cử cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài,
tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước pháttriển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấpnhững thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình dự
án Thông qua những hoạt động này, các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vàoviêc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của ViệtNam và đây mới chính là lợi ích căn bản lâu dài đối với chúng ta
Tổng nguồn vốn ODA cho giáo dục và đào tạo ước chiếm khoảng 8,5% 10% tổng kinh phí giáo dục và đào tạo, đã góp phần cải thiện chất lượng và hiệuquả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc nângcao chất lượng dạy và học, như các dự án ODA hỗ trợ cải cách giáo dục tiểu học,trung học và đại học, tự án tạo nghề
-Nguồn vốn ODA đã đóng góp cho sự thành công của một số chương trìnhquốc gia, ngành có ý nghĩa sâu rộng như chương trình dân số và phát triển,chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình dinh dưỡng trẻ em, chương trìnhnước sạch nông thôn, chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chương trìnhxoá đói giảm nghèo Nhờ vậy, thứ hạng quốc gia và chỉ số phát triển con ngườicủa nước ta đều được cải thiện hàng năm
Thiết lập quan hệ cộng đồng quốc tế, nâng cao vị thế
Với các biện pháp thu hút nguồn vốn ODA, qua đó Việt Nam thiết lập quan
hệ song phương và đa phương với hàng chục quốc gia và tổ chức quốc tế, làmcủng cố thêm mối quan hệ tốt đẹp và hữu nghị giữa Việt Nam và thế giới Dòngvốn ODA tăng đều qua các năm chứng tỏ rằng các đối tác nước ngoài đánh giácao tiềm năng phát triển, tin tưởng vào chính sách điều hành của chính phủ ViệtNam Việt Nam từ một nước lạc hậu, cơ chế bao cấp đóng cửa thì ngày nay đã vàđang hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh dấu bằng việc Việt Nam trởthành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được bầu là
Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam làthành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ chức quốc tếkhác, Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có phần đónggóp quan trọng của viện trợ phát triển như một phần trong sự nghiệp phát triểncủa Việt Nam
Trang 141.3.ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ODA TẠI VIỆT NAM 1.3.1.Sử dụng ODA về cơ bản có hiệu quả
Công tác thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua đã được Đảng vàNhà nước xác định về cơ bản có hiệu quả
Tại 15 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho Việt Nam các nhà tàitrợ đã liên tục cam kết dành vốn ODA cho Việt Nam năm sau cao hơn năm trước.Đây chính là bằng chứng sinh động về sự ủng hộ mạnh mẽ về mặt chính trị củacộng đồng quốc tế đối với chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội đúngđắn, hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước ta Thực tiễn viện trợ phát triển chothấy nguồn vốn ODA thường đến với những quốc gia đang phát triển có tình hìnhchính trị ổn định, nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, đời sống xã hội của nhândân, nhất là những người dân nghèo, được quan tâm và cải thiện Việt Nam làmột địa chỉ như vậy
Trong quá trình tiếp nhận viện trợ phát triển, Việt Nam vẫn giữ được độclập, tự chủ trong việc hoạch định và thực thi các chính sách cải cách theo lộ trìnhcủa mình, kể cả khi nhà tài trợ đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện các cam kết cảicách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cổ phần hóa, tư nhân hóa, Mặc dùtrong cơ cấu viện trợ, vốn vay ODA ưu đãi chiếm khoảng 80% song Việt Nam vẫnđược các định chế tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàngThế giới (WB) đánh giá nợ nước ngoài hiện ở trong ranh giới an toàn Tổng nợODA của Việt Nam hiện chiếm 40% GDP Mỗi năm Việt Nam dành khoảng 5,5%GDP cho các khoản dịch vụ nợ
Và như phân tích ở phần trên, ODA đã mang lại nhiều lợi ích trong quátrình xây dựng và phát triển kinh tế xã hội Nguồn vay nợ nước ngoài trong đó cóODA là nguồn tài chính quan trọng bổ sung cho ngân sách nhà nước, đảm bảocho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết cácvấn đề về an sinh xã hội, đặc biệt là vấn đề xóa đói giảm nghèo, tăng cường vàcủng cố thể chế pháp lý, hỗ trợ phát triển năng lực con người, chuyển giao côngnghệ, phát triển quan hệ đối tác chặt chẽ với nước ngoài
Với nhận thức ODA là một bộ phận của đầu tư công nên phải được quản lýchặt chẽ và hiệu quả, trong 15 năm qua Chính phủ không ngừng hoàn thiện hệthống tổ chức và quản lý nguồn vốn này Theo tinh thần đó, Chính phủ thống nhấtquản lý nhà nước về ODA trong đó có phân công trách nhiệm và quyền hạn cụthể cho từng cơ quan với một cơ chế phối hợp nhịp nhàng, cụ thể Chính phủ giao
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối về điều phối, quản lý và sử dụngnguồn vốn ODA; Bộ Tài Chính thực hiện chức năng quản lý tài chính đối vớinguồn vốn này (là đại diện chính thức cho “người vay” là Nhà nước hoặc Chínhphủ đối với các khoản vay nước ngoài nói chung và nguồn vay nợ ODA nói riêng,đồng thời cũng chính là tổ chức cho vay lại, hoặc ký hợp đồng ủy quyền cho vaylại với cơ quan cho vay lại và thu hồi phần vốn cho vay lại của các chương trình,
dự án cho vay lại từ NSNN, quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án …;Ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm tiến hành đàm phán và ký các điều ướcquốc tế cụ thể về ODA với WB, RMF và ADB v v…; Bộ Ngoại Giao, Bộ Tư Pháp,Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, tham gia quản lý nhà nước về
Trang 15ODA theo chức năng và nhiệm vụ cụ thể của mình trong chu trình ODA; các Bộ,ngành và địa phương với vai trò cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm quản lý và tổchức thực hiện các chương trình, dự án ODA thông qua chủ dự án và Ban quản lý
1.3.2.Hạn chế
Tiến độ, chất lượng, hiệu quả các dự án thực hiện còn hạn chế
Nhiều chương trình dự án thường bị chậm tiến độ so với kế hoạch, nhất làcác chương trình, dự án thuộc lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng cơ sở hạtầng, môi trường…Đây là những dự án mà từ khâu lập dự án, nghiên cứu khả thi,đến khâu thiết kế, lập dự toán,… có khi mất khoảng 2-3 năm, cộng với thời gianthẩm định, giải trình, phê duyệt mất 3-6 tháng, thậm trí 12 tháng đối với các côngtrình lớn Chưa kể đến việc các nhà thầu khi triển khai thi công chậm, không đúngtiến độ cam kết
Một số công trình được đầu tư bằng nguồn vốn ODA chất lượng cũng chưađược đảm bảo, có thể thấy rõ nhất ở một số công trình về xây dựng cơ bản vàgiao thông Sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng đã lộ ra những vấn đề vềchất lượng, dẫn đến công trình xuống cấp và phải tu sửa nhiều lần
Không những thế, một số chương trình, dự án về xã hội cũng chưa đạthiệu quả Chẳng hạn như chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình này đãmang lại rất nhiều lợi ích cho người dân nghèo Việt Nam nhưng không phải tất cảnhững người nghèo thật sự đã được hưởng lợi (có nơi do quen thân, móc nối màmột số đối tượng không thuộc diện nghèo đã được vay vốn, được hỗ trợ….làmcho mục đích xóa đói giảm nghèo bị ảnh hưởng)
Quản lý vốn ODA chưa chặt chẽ, nhiều bất cập
ODA là nguồn vốn vay có nhiều ưu đãi về lãi suất và thời gian ân hạn do
đó vấn đề quản lý vốn đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp
Nguồn vốn ODA ở một số ban quản lý dự án đã không được sử dụngđúng mục đích (ví dụ như việc mua sắm tài sản phục vụ cá nhân, cho mượn, chothuê tài sản của dự án không đúng nguyên tắc, sử dụng kinh phí không đúng theocam kết…) Thậm chí, ở một số dự án tình trạng lãng phí, thất thoát vốn và thamnhũng đã xảy ra khá nghiêm trọng khiến các nhà tài trợ thiếu tin tưởng và gây mất
uy tín của chúng ta với quốc tế Một số trường hợp như PMU18 và gần đây là dự
án Đại lộ Đông Tây v.v… khiến cho công luận và Quốc hội đặc biệt quan ngại vềviệc quản lý chặt chẽ đồng vốn ODA và hiệu quả của nguồn tài trợ này, đòi hỏiChính phủ cần phải có ngay những giải pháp triệt để
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đánh giá tình hình đầu tư ODA chưa đầy
đủ, còn nhiều hạn chế Đặc biệt là công tác theo dõi, thống kê, kiểm tra và đánh
Trang 16giá hiệu quả của công trình sau đầu tư còn bỏ ngõ, ngoại trừ các DA vay lại vàđang trong thời gian trả nợ Kết quả quản lý thường được đánh giá chỉ bằng côngtrình (mức độ hoàn thành, tiến độ thực hiện) mà chưa xem xét đến hiệu quả sauđầu tư một khi công trình được đưa vào vận hành khai thác Quan điểm và cáchlàm này gây khó khăn cho việc đánh giá, định hướng đầu tư từ nguồn ODA tạonên sự lãng phí và né tránh trách nhiệm của những bộ phận liên quan.
dự án khi đi vào vận hành khai thác
Việc giải ngân chậm sẽ dẫn đến những thiệt thòi về nhiều mặt như: chậmđưa công trình vào hoạt động đúng tiến độ, các điều kiện ưu đãi giảm sút do rútngắn thời gian ân hạn, không những thế còn ảnh hưởng đến uy tín về năng lựctiếp thu và sử dụng ODA của nước ta trong khi đang có sự cạnh tranh thu hútODA của các nước khác nhất là các nước Châu Á Hơn thế nữa ODA là nguồnvốn có nhiều ưu đãi nhưng đa số vẫn là vốn vay Do vậy, chậm giải ngân ODA sẽlàm chậm quá trình trả nợ làm cho gánh nặng nợ nần càng lớn đối với đất nước
Tổng vốn ODA giải ngân chiếm khoảng 52% tổng vốn ODA cam kết vàkhoảng 60% tổng vốn ODA ký kết Trung bình,tốc độ giải ngân không theo kịp tốc
độ vốn ký kết đạt được
Chính sách phân cấp còn nhiều bất cập
Theo đánh giá, chính sách phân cấp thời gian qua đã tạo ra hàng loạt ưuđiểm như mở rộng đối tượng tham gia quản lý, giảm các rào cản trong việc ra cácquyết định hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng ở địa phương Địa phương cũng
dễ dàng tiếp cận các dịch vụ do bộ, ngành cung cấp hơn, đồng thời điều phối hiệuquả hơn các chương trình quốc gia, tỉnh, huyện, tạo cơ hội tốt hơn cho người dântham gia quyết định
Nhưng ngược lại, thực tế phân cấp ở Việt Nam cũng đã cho thấy một loạtcác hạn chế: năng lực quản lý và chuyên môn yếu kém đã làm cho các dự ánODA ở địa phương kém hiệu quả đi, việc chuyển giao trách nhiệm trong khi không
đủ nguồn lực cần thiết đã làm cho việc phân phối công bằng dịch vụ dịch vụ hoặccung cấp dịch vụ khó khăn hơn
Đặc biệt, việc chưa gắn kết giữa các cấp quản lý đã làm cho sự phối hợpthực hiện chính sách trở nên phức tạp và không đảm bảo tính thông suốt xuống
cơ sở Một vấn đề tồn tại mang tính tổng quát hơn cũng được chỉ rõ: Đó là tìnhtrạng khung pháp lý dù đã thay đổi theo hướng đồng bộ hóa, phân cấp mạnh hơnnhưng vẫn lệch pha, chưa đồng bộ, nội dung phân cấp quản lý ODA thể hiệntrong rất nhiều văn bản khác nhau Việc hài hòa chính sách, thủ tục và quy trìnhgiữa Việt Nam và nhà tài trợ cũng còn chậm, khoảng cách của sự cách biệt cònlớn
Khảo sát việc phân cấp ODA tại một số địa phương như Tp.HCM, Sơn La,
Trang 17Quảng Trị đã chỉ rõ chính sách thu hút và sử dụng ODA theo ngành ảnh hưởnglớn đến thực hiện phân cấp và tỷ trọng dự án do địa phương quản lý thậm chígiảm đi Đặc thù riêng của ngành và cách thức phân cấp quản lý giữa trung ương
và địa phương trong nội bộ ngành cũng ảnh hưởng tới thực hiện phân cấp ODA.Lĩnh vực địa phương được phân cấp nhiều hơn thì cơ hội để tiếp cận ODA chongành đó cao hơn, điển hình như giáo dục, y tế, môi trường đô thị
Từ 1993 đến 2007, sự mất cân đối còn thể hiện ở chỗ Tp.HCM và Hà Nộithụ hưởng tới 1/3 tổng ODA đã ký kết, gấp 10 lần mức trung bình ở các địaphương Phản hồi cụ thể từ các địa phương cũng nêu rõ, thực hiện phân cấptrong triển khai 1 dự án cụ thể mới gặp nhiều khó khăn, nhất là các dự án đầu tưxây dựng công trình Lý do là các địa phương chưa được hoàn toàn tự chủ, phảixin ý kiến của bộ, ngành và Chính phủ ở nhiều khâu
Mặt khác, địa phương chưa được chủ động trong đàm phán với nhà tài trợ,dẫn đến nhiều nội dung thay đổi do không phù hợp với thực tiễn địa phương Cáctồn tại cũng diễn ra ở chính sách phân cấp trong đấu thầu, nhất là ở cấp huyệnkhi cán bộ địa phương khó đáp ứng việc lập hồ sơ mời thầu, cấp tỉnh thì ít cóthẩm quyền xử lý vốn đối ứng ở các dự án được cấp phát từ ngân sách Nhànước
Đó là chưa kể trong quản lý, mỗi địa phương thực hiện một cách khác nhaukhi chưa có mô hình tổ chức thực hiện quản lý ODA chung cho tất cả các tỉnh,thành phố Ở cấp ban quản lý dự án ở địa phương, tình trạng yếu kém được phảnánh là sự thiếu quyền hạn, thụ động hoặc trách nhiệm chưa được quy định rõ
1.4.NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ
1.4.1.Về phía nhà tài trợ:
ODA là nguồn vốn từ nước ngoài nên khi vào Viêt Nam sẽ gặp phải những
sự khó khăn do khác biệt về nhiều mặt như: ngôn ngữ, tập quán, thói quen làmviệc, các quy định về thủ tục, giấy tờ, quy trình…làm mất nhiều thời gian để giảiquyết công việc
Mặt khác, bản thân các nhà tài trợ cũng đặt ra nhiều thủ tục phức tạp,rườm rà Qúa trình phê duyệt qua nhiều bước, hồ sơ bị lưu giữ lâu tại văn phòngcác nhà tài trợ ở Việt Nam (do văn phòng đại diện có ít thẩm quyền thường phảixin ý kiến cơ quan cấp trên ở nước ngoài) Thêm vào đó, tư vấn nước ngoài chậmtrễ trong việc hoàn thành công tác thiết kế dự án, đánh giá kế hoạch và kết quảđấu thầu, thậm trí một số trường hợp chuyên gia do tư vấn đề cử có năng lựckém, thiếu tinh thần hợp tác xây dựng hoặc không đủ người như đã cam kết banđầu và thường xuyên thay đổi nhân sự chủ chốt làm ảnh hưởng đến tiến độ triểnkhai dự án và tiến độ giải ngân
1.4.2.Về mặt chủ quan
Chưa có quy hoạch ODA sát với tình hình kinh tế xã hội
Chúng ta định hướng vấn đề ODA chưa sát với mục tiêu phát triển kinh tế
-xã hội của từng vùng miền, từng lĩnh vực trọng tâm và từng thời kỳ Do đăc điểmkinh tế xã hội của mỗi vùng miền khác nhau, mục tiêu phát triển từng thời kỳ cũngkhác nhau vì vậy để sử dụng ODA một cách hiệu quả cần gắn các dự án trong sự
Trang 18tương trợ, mối liên quan với các dự án đầu tư khác như FDI, xuất khẩu, ngànhnghề ưu tiên phát triển, đặc điểm môi trường, nhân lực của mỗi vùng miền
Đối với các địa phương, vấn đề hoạch định chiến lược; quy hoạch thu hút
và sử dụng ODA là hết sức nan giải do có rất ít sự chủ động của địa phươngtrong vấn đề này, và năng lực đội ngũ quản lý ODA ở địa phương là yếu kémchưa đáp ứng được yêu cầu Với đề án “Định hướng thu hút và sử dụng nguồn
hỗ trợ phát triển chính thức thời kỳ 2006-2010” của chính phủ đã cơ bản đưa ranhững định hướng phù hợp cho giai đoạn này Tuy nhiên, chúng ta cần đưa ra 1định hướng lâu dài hơn cho những năm tiếp theo, trong đó điều rất cần thiết làphải nêu lên thời gian, phương án và giải pháp trả nợ nguồn vốn vay ưu đãi củaODA
Cơ sở pháp lý thiếu và chưa đồng bộ Triển khai dự án rườm rà, liên quannhiều cấp bậc, ban ngành, địa phương
Các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng ODA còn thiếu tính đồng bộ,nhất quán, minh bạch, nhất là trong các vấn đề liên quan tới quản lý đầu tư và xâydựng; thực thi các văn bản pháp luật về quản lý ODA chưa nghiêm Ví dụ nhưtrong khâu phê duyệt thiết kế chi tiết, tổng dự toán, nội dung đấu thầu còn nhiềuthủ tục rườm rà làm cho thời gian kéo dài, dẫn đến việc khi dự án đi vào thực hiện
có nhiều khác biệt so với ban đầu, do đó phải bổ sung và điều chỉnh dự án nhiềulần
Khi phân cấp về địa phương, thời gian xem xét, cấp phép và thực hiện dự
án thực sự không ngắn hơn Cán bộ cấp tỉnh không quen đưa ra quyết định Ởnhiều ban, cơ chế xem xét rất phức tạp, đặc biệt trong đánh giá dự án để cấpphép Ở các nước, quy trình xem xét, phê duyệt và cấp phép dự án có thể dựđoán được, ví dụ phải mất 10 năm, phải gặp người này, phải có những thủ tụcnào Nhưng ở Việt Nam, quy trình quá phức tạp, không biết ai chịu trách nhiệm
Do đó, một khi dự án chậm, không thể biết nguyên nhân từ khâu nào, ai chịu tráchnhiệm Ở các nước, các quy trình xem xét ở các cấp được tiến hành song song,đồng thời Tất cả các bên cùng xem xét tại một thời điểm Nhưng tại VN, mỗi cấpxem xét theo một quy trình riêng, tuần tự từ thấp lên cao, từ bước này sang bướckhác Mỗi cấp không có quyền tiến hành nếu không có những điều kiện cụ thể
Mô hình tổ chức triển khai dự án nơi thì rườm rà, qua nhiều cấp trung gian,phân công trách nhiệm không rõ ràng, nơi thì lại độc quyền và lạm quyền quyếtđịnh từ khi bắt đầu dự án đến khi kết thúc Tất cả đều dẫn đến hậu qủa là làmchậm giải ngân vốn, chậm tiến độ thực hiện dự án và thất thoát vốn đầu tư
Nhận thức chưa đúng về ODA, thiếu nhân lực giám sát hiệu quả và quản lýchuyên nghiệp
Một số giới lãnh đạo của Chính phủ, của chính quyền địa phương và chủđầu tư có quan điểm nhìn nhận chưa đúng về nguồn vốn tài trợ ODA Đúng làtrong nguồn vốn ODA có một phần là viện trợ không hoàn lại, song phần này chỉchiếm khoảng 20-30%, phần còn lại là vốn vay Do thời hạn vay dài, thời hạn ânhạn dài, lãi suất thấp, áp lực trả nợ chỉ phát sinh sau thời gian dài sau này nên dễtạo nên sự chủ quan trong quyết định, lựa chọn nguồn tài trợ ODA Ngoài ra, cơquan đàm phán trực tiếp với nhà tài trợ thường là các bộ, ngành trong Chính phủ
Trang 19nên chủ đầu tư chưa thấy hết tác động của những điều kiện khó khăn mà nhà tàitrọ ràng buộc.
Trình độ, năng lực quản lý và giám sát của các ban quản lý dự án còn hạnchế, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, thiếu kiến thức về quản lý, tàichính…đó là chưa kể đến thói quen làm việc thụ động, thiếu kế hoạch…Năng lựcthiết kế, thi công của các đơn vị tư vấn và các nhà thầu cũng còn nhiều yếu kém.Ban quản lý dự án thiếu năng lực thì tất yếu hiệu qủa của dự án sẽ không cao
Thực trạng chung tồn tại từ lâu là các cơ quan có trách nhiệm lớn trongviệc xem xét, cấp phép đầu tư chưa đủ năng lực để thực hiện Các cán bộ địaphương chưa được chuẩn bị đầy đủ
Hơn nữa, ở VN, người ta hay ngại và sợ trách nhiệm, do đó, thường xin ýkiến cấp trên, đợi quyết định từ cấp trên Muốn tiến hành công việc cần có thamvấn ở cấp cao hơn Điều này làm chậm tiến trình, gây lãng phí rất nhiều thời gianđáng ra không phải mất
Giải phóng mặt bằng chậm, nhiều khó khăn
Đây là một vấn đề nan giải đối với các dự án liên quan đến giải phóng mặtbằng vì đây là công việc gặp rất nhiều khó khăn và thường rất chậm chễ (do đền
bù không thỏa đáng, không kịp thời giải quyêt nhà tái định cư, thiếu sự chủ độngphối hợp giữa chủ dự án và chính quyền địa phương…) Rất nhiều chương trình,
dự án chỉ vì không giải phóng được mặt bằng mà phải dời thời điểm thời điểm thicông nhiều lần hoặc thậm trí còn phải hủy bỏ dự án Đây là một sự lãng phí rấtlớn, kéo theo rất nhiều vấn đề khác không thể giải quyết được
1.5.KIẾN NGHỊ
Tình hình huy động, quản lý và sử dụng ODA ở nước ta trong thời gian quacho thấy chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực góp phần quan trọng thúcđẩy công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Song, chúng ta cũng thấyrằng còn có nhiều hạn chế trong trong quá trình huy động, quản lý và sử dụng vốnODA mà chúng ta cần khắc phục để sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn ngoạilực quý báu này Sau đây là một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụngnguồn vốn ODA:
1.5.1.Định hướng:
Từ thực trạng như đã nêu, để có thể hình dung những định hướng và giảipháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA cần thống nhất một số quan điểm cơbản sau:
Về khả năng thu hút vốn ODA trong các năm tới, do Việt Nam sẽ trở thànhquốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình với GDP bình quân đầungười đạt khoảng 1.200 USD nên một số nhà tài trợ, đặc biệt các nhà tài trợsong phương châu Âu sẽ điều chỉnh chính sách cung cấp ODA Khi đó cácnhà tài trợ sẽ giảm tài trợ, viện trợ không hoàn lại, tập trung nhiều hơn vàocung cấp hỗ trợ kỹ thuật, chuyển từ cho vay ưu đãi chuyển sang cho vaythương mại với lãi suất cao hơn Liên quan đến vấn đề này, các chuyên gianước ngoài cũng đã cảnh báo về bẫy thu nhập trung bình mà Việt Nam cóthể mắc phải, khi phải cân nhắc giữa việc một nước nghèo nhưng nhận