1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài cơ sở lý luận và phương pháp luận của việc phát triển văn hóa và con người việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

220 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 3,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp tiếp cận lịch sử 85 a Không gian văn hóa và chiều cộng cảm của không gian văn hóa 89 e Thuyết tương tác biểu trưng và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu các g Không gian văn hóa

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP

QUỐC TẾ

Mã số KX.03.05/06-10

8841

Năm 2010

Trang 2

Những người tham gia chính:

Trang 3

1 Khái niệm Văn hóa 18

2 Phát triển văn hóa 22

3 Khái niệm Bản sắc văn hóa 23

4 Khái niệm Khuôn mẫu văn hóa 24

5 Khái niệm Văn minh 24

6 Khái niệm Giá trị 31

7 Khái niệm Truyền thống 32

8 Khái niệm Con người 33

9 Khái niệm Phát triển con người 48

Chương II

Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hoá và

1 Đặt vấn đề về cơ sở lý luận và phương pháp luận 54

a) Khái niệm Phương pháp luận 60

b) Phân loại phương pháp luận 64

c) Khái niệm Lý luận 65

Trang 4

h) Mối quan hệ giữa phương pháp và phương pháp luận 76

4 Phương pháp luận nghiên cứu và phát triển con người 80

Chương III

Một số phương pháp tiếp cận cần thiết trong nghiên cứu và phát triển văn

1 Phương pháp tiếp cận lịch sử 85

a) Không gian văn hóa và chiều cộng cảm của không gian văn hóa 89

e) Thuyết tương tác biểu trưng và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu các

g) Không gian văn hóa truyền thống và sự phát triển 110h) Xây dựng một không gian văn hóa vì sự phát triển 118

a) Những nguyên lý và nội dung của phương pháp tiếp cận giao thoa văn

hóa

122

b) Ý nghĩa của phương pháp tiếp cận giao thoa văn hóa 124c) Giao thoa văn hóa Việt Nam và các nền văn hóa khác 125d) Giao thoa văn hóa - đối thoại giữa các nền văn hóa 127

5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 129

6 Phương pháp tiếp cận khu vực 131

7 Phương pháp tiếp cận giải pháp “đánh đổi” 136

10 Một số phương pháp tiếp cận đáng chú ý, đặc biệt nghiên cứu con người 151

Trang 5

Chương IV

Một số quan niệm về văn hóa và con người Việt Nam hiện nay 156

1 Về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hóa truyền thống

với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 156

2 Về vấn đề tính tiến tiến và bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam 160

3 Về tính phức hợp của văn hóa Việt Nam đa tộc người, đa thành phần dân

cư, đa tầng xã hội 170

4 Về thực trạng lý luận và phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn

hoá và con người Việt Nam trong những thập niên qua và những vấn đề

5 Về việc ứng dụng phương pháp luận đã có và xây dựng phương pháp luận

mới trong nghiên cứu và phát triển văn hóa và con người

Trang 6

MỞ ĐẦU

Đi tìm cơ sở lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc

tế là vấn đề rất khó Lâu nay chúng ta quen với tư duy cũ trong việc đánh giá các

lý thuyết không mácxít về văn hóa và con người, thường là định kiến và phê phán các lý thuyết đó, nhất là các lý thuyết của phương Tây Ngày nay, chúng ta cần phải nhìn nhận lại một cách khách quan các lý thuyết về văn hóa và con người, tìm ra nhưng mặt hay và những mặt dở của từng lý thuyết Nhưng việc đó đòi hỏi một lực lượng đông đảo các nhà khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu văn hóa phối hợp cùng nghiên cứu, cùng đánh giá và đòi hỏi phải có nhiều thời gian Ở đây, trong phạm vi cuốn sách này, tác giả xin mạnh dạn bước đầu thử đưa ra một số nhận định, một số quan niệm của mình về cơ sở lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay

1 Sự cần thiết và tính cấp bách của vấn đề

+ Có lẽ trong lịch sử loài người chưa có thời gian ngắn ngủi nào lại tập trung nhiều sự biến đổi to lớn, đa dạng, phức tạp và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của các dân tộc và vận mệnh của loài người như hiện nay

- Trước hết phải kể đến cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển tăng tốc mang lại những biến đổi sâu sắc về mọi mặt của đời sống nhân loại Công nghệ thông tin đã tạo ra “văn minh màn hình”, mạng internet, và hàng tỷ điện thoại di động Khoa học và công nghệ sinh học đã đem lại kết quả nghiên cứu về sinh hóa tế bào và gen di truyền và mở ra bí mật của sự sống Trong sản xuất có nhiều công nghệ mới về tạo giống cây con Đối với con người

đã sáng tạo ra rất nhiều dược phẩm, y cụ, liệu pháp hoàn toàn chưa có trước đây: sinh sản thay thế, thụ thai ống nghiệm, thay đổi giới tính, làm tăng tuổi thọ…Những thành tựu trên đây không những tác động đến sản xuất, mà còn làm thay đổi về cơ bản nhiều hoạt động của con người Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang làm biến đổi xã hội loài người, lao động chân tay ngày càng giảm, lao động trí thức ngày càng tăng Từ đó nảy sinh ra những vấn đề quan hệ giữa văn hóa và kỹ thuật, con người và kỹ thuật…

Trang 7

Chính thế giới đầy biến động ấy đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu có sở lý luận và phương pháp luận của việc phát triển văn hóa và con người

- Toàn cầu hóa là quá trình làm biến đổi sâu sắc, toàn diện, nổi lên là toàn cầu hóa kinh tế và kéo theo toàn cầu hóa văn hóa ở mức độ nhất định Khái niệm

“Thế giới phẳng” do Friedman đưa ra dùng để chỉ thế giới toàn cầu hóa Trong thế giới ấy, mỗi quốc gia dân tộc phải xử lý ra sao các vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, phải giao lưu, hội nhập văn hóa ra sao Ở đây càng đòi hỏi phải nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự phát triển văn hóa và con ngườiViệt Nam

- Liên quan đến vấn đề văn hóa và con người là những vấn đề toàn cầu bao gồm: vấn đề chiến tranh hạt nhân, chiến tranh hủy diệt và bảo vệ hòa bình; vấn đề khắc phục tình trạng đòi nghèo, lạc hậu và kém phát triển; vấn đề việc làm cho mỗi người; vấn đề phân hóa giàu nghèo và bất cập xã hội; vấn đề xung đột tộc người, dân tộc và tôn giáo; vấn đề sinh thái và bảo vệ môi trường sống; vấn đề sức khỏe con người và bệnh tật mang tính thời đại của nhân loại, v.v…

Cả ở đây nữa cũng đòi hỏi phải nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh những vấn đề toàn cầu đang trở nên nóng bỏng

+ Chưa bao giờ thế giới sôi động về các vấn đề văn hóa và con người như những năm tháng chúng ta đang sống Hàng chục lý thuyết, hàng trăm định nghĩa về khái niệm văn hóa và con người, quan điểm rất khác nhau, phương pháp tiếp cận cũng rất khác nhau, tranh luận rất quyết liệt xoay quanh vấn đề này Chính trong thế giới sôi động ấy chúng ta càng cần phải nghiên cứu cơ sở

lý luận và phương pháp luận của việc phát triển văn hóa và con người Việt Nam + Chúng ta đang sống trong một thế giới mà hòa bình, hợp tácvà phát triển đang là xu hướng quan trọng Các nước đều phấn đấu cho mục tiêu phát triển Điều mới mẻ ở đây là muốn phát triển phải coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là hệ điều tiết của sự phát triển; con người được đặt vào vị trí trung tâm của mọi chủ trương, chính sách và kế hoạch phát triển Chính do vai trò của yếu tố văn hóa và con người trong sự phát triển ngày càng tăng, nên việc nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp luận của sự phát triển văn hóa và con người là càng cần thiết và cấp bách

Trang 8

Đề tài cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước, nhất là những bộ, ban, ngành có liên quan trong việc hoạch định chủ trương, chính sách

về phát triển văn hóa và con người Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

a/ Tình hình nghiên cứu trong nước

- Trong quá trình đổi mới nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt

là Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đã nêu lên những tư tưởng chỉ đạo đối với việc nghiên cứu, phát triển văn hóa và con người Việt Nam

- Từ năm 1991 đến nay, trong hệ thống các chương trình đề tài khoa học xã hội cấp Nhà nước đã có 4 chương trình bao gồm 54 đề tài nghiên cứu vấn

đề văn hóa và con người, đó là chưa kể hàng loạt đề tài độc lập cấp nhà nước, đề tài cấp bộ và cấp viện và cấp địa phương cũng đề cập đến vấn đề này

- Hơn 20 năm qua, nhiều công trình khoa học được xuất bản thành sách, nhiều bài đăng trên các tạp chí viết về vấn đề văn hóa và con người

+ Thành công (kết quả nghiên cứu) của các chương trình, đề tài và của các cuốn sách và bài báo nói trên thể hiện như sau:

Thứ nhất, nêu lên những cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt của triết học, đối với việc nghiên cứu văn hóa và con người

Thứ hai, làm rõ hơn những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh và các quan điểm cơ bản của Đảng có ý nghĩa định hướng cho việc nghiên cứu và phát triển văn hóa và con người Việt Nam

Thứ ba, giới thiệu một số thành tựu nghiên cứu và cách ứng xử của một số nước trong việc giải quyết vấn đề văn hóa và con người trong quá trình toàn cầu hóa

Thứ tư, một số đề tài, cuốn sách, bài báo trước khi đề cập đến một số vấn

đề nào đó, đã quan tâm đến cơ sở khoa học và phương pháp tiếp cận đối với đối tượng nghiên cứu

Trang 9

+ Trong số bốn thành công nói trên gắn với vấn đề cơ sở lý luận và phương pháp luận, không thể không đề cập đến một số nhà khoa học sau đây:

(1) GS.VS Hồ Tôn Trinh chủ nhiệm đề tài KX.06.01 “Hệ quan điểm về

mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển” Ở đây, tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận

và phương pháp luận của việc nghiên cứu vấn đề văn hóa và phát triển trên cơ

sở nghiên cứu kinh nghiệm của thế giới và dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Cần lưu ý đến một số luận điểm trong

đề tài này:

- Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chủ đạo của văn hóa Nếu không có chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì văn hóa nước ta không có cái cốt lõi về quan điểm, tư tưởng, do đó không thể đóng vai trò là động lực của phát triển Chỉ có chủ nghĩa nhân văn đích thực khi chủ nghĩa Mác – Lênin chủ trương cải tạo thế giới, trong

đó có cải tạo xã hội, cải tạo con người

- Khi bàn về yếu tố nội sinh và ngoại sinh của văn hóa, các tác giả đề tài cho rằng từ trước tới nay ta chỉ có khái niệm bản địa, dân tộc chứ không

có khái niệm nội sinh (endogen) Khái niệm nội sinh là do UNESCO đưa

ra và ngày nay nó đã được tiếp nhận ở hầu khắp các nước và trở thành động lực của sự phát triển

(2) Trong cuốn sách “Phương pháp luận về vai trò của văn hóa trong phát

triển”, có hai tác giả đã đề cập đến vấn đề phương pháp luận:

Trần Văn Giàu có bài “Phương pháp luận về vấn đề văn hóa và phát triển”

Ở đây, ông hoài nghi tính đúng đắn của cách tiếp cận vấn đề văn hóa và phát triển theo quan điểm cho rằng lịch trình phát triển của xã hội loài người là sự phát triển của văn minh Ông nhấn mạnh rằng phương pháp duy vật lịch sử mới

là phương pháp luận gần nhất với chân lý khách quan Khi bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, tác giả lưu ý rằng dưới chủ nghĩa tư bản quy luật phát triển là “luật rừng”, vô nhân Chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn còn là tư bản chủ nghĩa Một số quy luật của thời kỳ “chủ nghĩa tư bản dã man” nay có thay hình đổi dạng mà bản chất của nó thì vẫn là thế Cái gọi là “thời kỳ hậu công nghiệp” hơn lúc nào hết, vẫn lấy việc chạy cuồng theo lợi làm chủ tể; ông thống soái siêu lợi nhuận chưa hề giao cây gậy chỉ huy cho văn hóa trí tuệ đâu Khi bàn về hội

Trang 10

nhập văn hóa, tác giả đưa ra quan điểm cho rằng chúng ta chấp nhận hội nhập kinh tế mà không chấp nhận sự sát nhập vào chủ nghĩa tư bản thế giới, còn sự hội nhập văn hóa không đem lại cho ta sự lo âu nào đáng kể, không lo ngại gì lắm cái nguy cơ “đồng nhất hóa” hay nguy cơ “độc tôn” Tương tùy mà không phụ thuộc, hội nhập mà không bị sát nhập Hội nhập văn hóa thế giới thì Việt Nam vừa có kinh nghiệm, vừa có vốn liếng, sợ gì nạn “đồng nhất hóa”, nạn “bị sát nhập”

Cũng trong cuốn sách này, tác giả Trường Lưu có bài “Mấy vấn đề phương pháp luận về văn hóa và con người trong sự phát triển văn hóa” Ông cho rằng khi con người ngày càng khám phá những bí mật của thế giới xung quanh thì bản thân con người cũng tự khám phá mình, đặt cho mình một hướng

đi, một lẽ sống và một cách tiếp cận chân lý Nhân loại đang bước vào ngưỡng cửa của văn minh trí tuệ, do đó cần phải có cách nhìn về văn hóa và con người khả dĩ phù hợp với một thời đại đã khác xưa nhiều lần, phải đẻ ra một quan niệm mới về văn hóa đi đôi với quan niệm lại về con người Tác giả nhấn mạnh rằng trước đây người ta đề cập đến vấn đề con người thường nặng về nhân sinh quan hẹp và khu biệt nó với các hệ tư tưởng, nhưng giờ đây nội hàm của nó đã được

mở rộng vào mọi lĩnh vực liên quan đến con người, do hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi và đối tượng văn hóa mà con người sáng tạo đòi hỏi phải khác hơn, phù hợp với tiến trình văn minh trí tuệ

(3) Đề tài KX.05.01 do GS.TS Hồ Sĩ Quý làm chủ nhiệm có tên gọi “Cơ

sở phương pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế” Trước hết, tác giả nêu lên hàng loạt vấn đề do cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, do nền kinh tế thị trường, do toàn cầu hóa và hội nhập kinh

tế, giao lưu văn hóa đang đặt ra những vấn đề mới trong việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trên thế giới và ở Việt Nam Từ đó tác giả đề xuất một số quan điểm có ý nghĩa định hướng đối với việc phát triển văn hóa, khoa học, giáo dục và con người Đặc biệt, tác giả đã dành nhiều trang bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và con người

(4) Trong gần 20 năm qua kể từ khi triển khai nghiên cứu các chương

trình, đề tài khoa học – công nghệ cấp nhà nước, GS.VS Phạm Minh Hạc làm

Trang 11

chủ nhiệm ba chương trình: “Con người – mục tiêu và động lực phát triển kinh

tế – xã hội” (1991 - 1995); “Phát triển văn hóa, xây dựng con người toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996 - 2000); “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001 - 2005), trong đó ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề phương pháp luận nghiên cứu văn hóa và con người ông đã từng làm chủ nhiệm đề tài KX.07.01

“Phương pháp luận nghiên cứu con người” Trong các công trình khoa học của mình, ông thường dành nhiều trang bàn về phương pháp luận và các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu văn hóa và con người Đáng chú ý là cuốn sách mới xuất bản gần đây “Tâm lý học nghiên cứu con người trong thời đổi mới” Đây là tập hợp những kết quả nghiên cứu gần 20 năm của tác giả Kết quả nghiên cứu đáng trân trọng của tác giả thể hiện ở những luận điểm sau đây:

- Quan niệm về con người và hoạt động người quyết định phương pháp tiếp cận toàn bộ các vấn đề tâm lý

- Tâm lý học giữ vị trí trung tâm, then chốt trong các khoa học về con người

- Sự phát triển người là yếu tố quyết định mọi sự phát triển

- Vấn đề con người là vấn đề lý luận cốt lõi của các vấn đề lý luận Con người là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, là thước đo của mọi bậc thang giá trị

- Chủ nghĩa Mác – Lênin là phương pháp luận chung về khoa học nghiên cứu con người Nghiên cứu con người theo phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách là chìa khóa để nghiên cứu con người và nhân cách

- Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là phương pháp luận nghiên cứu con người Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là luôn luôn gắn lý luận với thực tiễn, thực hiện sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong biến đổi,

“biến hóa” liên tục và thường xuyên nhằm đạt hiệu quả thiết thực và cụ thể Phép biện chứng đó nhấn mạnh quan điểm phát triển, quan điểm lịch

sử và quan điểm thực tiễn khi phân tích về con người

- Khoa học về con người phải xuất phát từ hai luận điểm cơ bản: (1) Nghiên cứu con người cụ thể; (2) Nghiên cứu những cá nhân hiện thực, những

Trang 12

hoạt động và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ Từ hai luận điểm

cơ bản đó việc nghiên cứu con người cần tiến hành theo phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị, bao hàm trong đó cả phương pháp tiếp cận lịch sử, phát triển, hệ thống

- Phải đặt đối tượng nghiên cứu - vấn đề con người vào trong phạm trù thời gian và không gian Con người hướng về tương lai nhưng con người không bao giờ đứt đoạn với lịch sử Mỗi con người Việt Nam tuy chỉ sinh tồn và hoạt động trung bình trong 7 thập kỷ (ít người được một thế kỷ), nhưng đều mang trong mình sức mạnh của hàng vạn, hàng vạn năm tiến hóa và phát triển của cả loài người, của cả dân tộc và những người trực tiếp sinh ra từng cá thể Phương pháp tiếp cận văn hóa - lịch sử yêu cầu nghiên cứu con người trong sự phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, gắn bó với những giá trị của nhân loại và đặt con người trong các nhóm: nhà (gia đình), trường học, làng, nước và nhân loại

- Nghiên cứu con người là phải tập trung vào mặt xã hội, nhưng không bao giờ quên những thành tựu mới nhất của sinh vật học - nhất là các thành tựu của vài ba chục năm gần đây, từ khi tìm ra AND và ARN và đến nay

đã trở thành công nghệ di truyền

- Cùng với các tác giả nói trên, còn nhiều tác giả khác cũng đề cập đến cơ sở

lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu, phát triển con người như Phạm Xuân Nam, Huỳnh Khái Vinh, Hoàng Chí Bảo, Phan Ngọc, v.v

+ Bên cạnh những thành công nói trên, các công trình nghiên cứu về văn hóa, con người còn có một số hạn chế sau:

- Khi nói về cơ sở lý luận và phương pháp luận thường nhấn mạnh đến chủ nghĩa Mác – Lênin, ít đề cập đến những khuynh hướng lý luận khác và nếu đề cập thì thường là phê phán

- Các phương pháp tiếp cận được đề cập đến thường lẻ tẻ, không hệ thống, không có mối liên hệ Phương pháp nghiên cứu liên ngành và các phương pháp tỉếp cận hiện đại ít được vận dụng nên kết quả nghiên cứu còn hạn chế

Trang 13

- Các quan điểm được đề xuất cũng rời rạc, chưa tạo thành một hệ quan điểm có mối liên hệ lôgic chặt chẽ, do đó còn chưa phát huy được tác dụng định hướng, chỉ đạo đối với việc nghiên cứu và phát triển văn hóa và con người

- Hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn của sự phát triển văn hóa và con người tuy đã được đề cập, nhưng chưa phải đã trả lời một cách rõ ràng, nhất là trong hoàn cảnh mới hiện nay, chẳng hạn như thế nào là bản sắc dân tộc, là văn hóa tiên tiến, là kế thừa và phát triển, truyền thống và cách tân, truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, dân tộc và quốc tế, phổ cập và nâng cao, ? Đồng thời, khi nghiên cứu vấn đề con người cũng còn hàng loạt vấn đề có thể coi là còn để trống như sự thống nhất giữa cái tự nhiên với cái lịch sử, cái sinh vật với cái xã hội, cái vật lý và cái tâm lý, thân và tâm Về mặt lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu, phát triển văn hóa và con người Việt Nam còn phải giải quyết tiếp các mối quan hệ sau: quan hệ giữa văn hóa và con người, văn hóa và phát triển, con người và phát triển, văn hóa và chính trị, văn hóa và kinh tế, văn hóa

và xã hội, v.v

b/ Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Kết quả nghiên cứu về văn hóa và con người ở nước ngoài trong những thập kỷ vừa qua rất phong phú và đa dạng Ở đây chỉ có thể nêu lên một số nét đáng quan tâm sau:

- Thứ nhất, hiện nay về lý luận dường như chẳng có một học thuyết nào,

một trường phái nào có dủ sức thu hút hoặc dẫn dắt trí tuệ của toàn thế giới, làm chỗ dựa tinh thần tin cậy cho con người hướng tới tương lai, hay đủ sức làm trọng tài tối hậu cho việc đánh giá các giá trị trong đời sống tinh thần nhân loại Tuy vậy, những cuốn sách, những bài tạp chí, những báo cáo trong các cuộc hội thảo về văn hóa và con người đang xuất hiện ngày càng nhiều, trong đó có đủ loại lý thuyết, trường phái hay và dở

- Nếu trước đây, nhà sử học nổi tiếng người Anh A.J Toynbee đã nêu lên hơn ba mươi nền văn minh, trong đó có văn minh Việt Nam, thì gấn đây (năm 1996) nhà nghiên cứu chính trị quốc tế người Mỹ Samuel P Huntington đã nêu

ra lý thuyết về sự đụng độ của các nền văn minh Theo Huntington, do thế giới

Trang 14

quá phức tạp nên không thể chia thế giới thành Bắc và Nam theo kinh tế hay Đông và Tây theo văn hóa được, vì sự phân biệt Đông – Tây hàm ý hệ tư tưởng, chứ không phải hàm ý phân biệt văn hóa Huntington cho rằng thế giới đương đại có 8 nền văn minh là văn minh Trung Hoa, văn minh Nhật Bản, văn minh

Ấn Độ, văn minh Hồi giáo, văn minh Chính thống giáo, văn minh Phương Tây, văn minh Mỹ La tinh, văn minh Châu Phi Ông chứng minh rằng kể từ sau chiến tranh lạnh, nguồn gốc cơ bản của các xung đột trên thế giới sẽ không còn là hệ

tư tưởng hay kinh tế nữa Ranh giới quan trọng nhất chia rẽ loài người và là nguồn gốc của các cuộc xung đột sẽ là văn hóa Lý thuyết này của Huntington nhận được hai sự phản ứng rất khác nhau: sự ngưỡng mộ và sự phê phán quyết liệt

- T.L Friedman trong tác phẩm “Thế giới phẳng: Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI” khi định nghĩa về toàn cầu hóa, đã nêu lên vai trò của nhân tố văn hóa thể hiện trên ba phương diện: công nghệ thông tin, chất lượng nhân lực (bao gồm truyền thống văn hóa, chất lượng đào tạo) và giao lưu văn hóa Chúng vừa là cơ sở vừa là kết quả của toàn cầu hóa Ông đã phân tích 10 nhân tố làm phẳng thế giới và nhấn mạnh rằng vai trò tiền đề của văn hóa thúc đẩy quá trình hội nhập hay toàn cầu hóa của một quốc gia có truyền thống văn hóa Đông Á Thế giới phẳng (The Word is flat) là thuật ngữ do Friedman sáng tạo ra được dùng để chỉ thế giới toàn cầu hóa Theo ông, trong thế giới này, giảng đường các trường đại học là mảnh đất sống còn của tất cả các trường phái có uy tín, còn mạng toàn cầu là nơi trôi nổi của hầu hết những dòng tư tưởng thứ cấp Tuy nhiên, những tư tưởng thực sự có giá trị cũng đang xuất hiện ngày càng nhiều trên mạng

- A Toffer cho rẳng từ giữa thế kỷ XX, nước Mỹ đi đầu vào xã hội thông tin và đó là điều kiện cho văn hóa màn hình ra đời hay còn gọi là văn hóa thông tin mà có người gọi là văn hóa thiên niên kỷ tới Văn hóa computer ra đời không

có nghĩa sẽ thay thế hoàn toàn các loại hình đã có trong văn hóa truyền thông Hiện nay màn hình trở thành một hệ thống cơ bản của giao tiếp giữa con người

và xã hội Văn hóa màn hình ra đời là kết quả của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang được nhiều người ca ngợi, thán phục, nhưng cũng có người coi đó là sự sáng tạo dữ dằn của các nhà kỹ trị Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng

Trang 15

văn hóa màn hình đã làm lóe ra ở con người một hy vọng là chấm dứt sự tách biệt giữa văn minh kỹ thuật và văn hóa tinh thần, giữa khoa học và nghệ thuật

- Dominique Wolton năm 2003 đã xuất bản cuốn “Toàn cầu hóa văn hóa”,

đã đưa ra khái niệm chung sống giữa các nền văn hóa Tác giả nhận xét rằng những công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề này vẫn còn rất ít Vấn đề đa văn hóa trong mỗi quốc gia từ 20 năm nay càng được xử lý một cách phong phú bao nhiêu thì ngược lại, trên bình diện quốc tế càng kém bấy nhiêu Ông nhận xét rằng khắp nơi đều có những bản sắc văn hóa có thể chung sống với nhau Trước đây, cường quốc nào thống trị trong lĩnh vực kỹ thuật, kinh tế thì cũng thống trị trong lĩnh vực văn hóa Ngày này không một cường quốc nào còn có thể nhắm đến vị trí thống trị về văn hóa Mỹ là cường quốc kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới nhưng không phải là cường quốc đứng đầu về văn hóa Dominique Wolton cho rằng thế giới có ba trụ cột Trụ cột thứ nhất là chính trị với sự thành lập Liên hiệp quốc và Tuyên ngôn nhân quyền sau Chiến tranh thế giới thứ hai Trụ cột thứ hai là toàn cầu hóa kinh tế Trụ cột thứ ba là sự bùng phát của văn hóa và truyền thông trên quy mô thế giới Sự chung sống giữa các nền văn hóa trở thành trụ cột thứ ba của toàn cầu hóa Thuật ngữ chung sống giữa các nền văn hóa bản thân nó đã mang tính chống lại bạo lực của lịch sử trong đó biết bao lần con người đánh nhau nhân danh bản sắc văn hóa Trong cuốn sách của mình, tác giả đã đề xuất các kiến nghị: chấp nhận đa dạng ngôn ngữ, khuyến khích tính biệt lập tôn giáo, đảm bảo chủ trương đa truyền thống, phối hợp đa dạng văn hóa với nhân quyền, thực hiện chung sống giữa các nền văn hóa, v.v…

Ở đây, Đề tài không có điều kiện nêu ra nhiều khuynh hướng khác nữa,

mà chỉ muốn giới thiệu những khuynh hướng đối lập nhau trong quan niệm về văn hóa và con người, Huntington đưa ra lý thuyết về sự đụng độ của các nền văn minh, ngược lại, Dominique Wolton lại kêu gọi chung sống giữa các nền văn hóa

- Thứ hai, từ những thập niên cuối của thế kỷ trước đến nay Liên hiệp

quốc chủ trương phát động một thập kỷ thế giới phát triển văn hóa và giao cho

tổ chức UNESCO chỉ đạo, Liên hiệp quốc đã tổ chức “Thập kỷ văn hóa vì phát triển” (1987-1997), “Thập kỷ giáo dục cho mọi người” (1990-2000), đã công bố

Trang 16

tác phẩm “Giáo dục – của cải nội sinh” chuẩn bị giáo dục vào thế kỷ XXI, tổ chức năm quốc tế bao dung (1995), Đại hội đồng lần thứ 27 của UNESCO đề xuất ý tưởng xây dựng một nền văn hóa hòa bình và lấy năm 2000 là năm quốc

tế văn hóa hòa bình, thập kỷ 2001-2010 là thập kỷ văn hóa hòa bình và không dùng vũ lực đối với trẻ em toàn thế giới

Tổng kết thập kỷ văn hóa vì sự phát triển, Uỷ ban thế giới về văn hóa và phát triển đưa ra báo cáo “Sự đa dạng sáng tạo của chúng ta” (1996) khẳng định mong muốn có một sự kết hợp hài hòa giữa các giá trị chung của văn hóa nhân loại, của “địa lý toàn cầu”, như tính người, tình người, lòng bao dung độlượng, tinh thần hòa bình, hợp tác, hữu nghị với các giá trị văn hóa của các dân tộc, phải dùng văn hóa làm phương tiện chống lại sự lộn xộn của hệ thống toàn cầu, làm vật bảo vệ và nơi ẩn náu của các nền văn hóa dân tộc Văn hóa trở thành động lực và điều tiết sự phát triển kinh tế – xã hội, lấy phát triển con người bền vững làm mục tiêu trung tâm

Theo đề nghị của UNESCO, cho tới nay đã có hàng loạt các cuộc hội thảo bàn về các vấn đề như mối quan hệ giữa văn hóa, khoa học và kỹ thuật; bảo vệ

di sản văn hóa; con người và phương tiện truyền thông; khuyến khích sáng tạo nghệ thuật; văn hóa và du lịch; văn hóa và kinh doanh; sự đa dạng văn hóa; văn hóa và môi trường; văn hóa và đô thị, v.v…

Liên hiệp quốc kêu gọi các quốc gia cần tạo ra những hình mẫu phát triển

có tính đến tầm quan trọng của con người với những di sản, khát vọng trong tổng thể các giá trị về vật chất, tinh thần, cá nhân và xã hội của mình Hiện nay, các thách thức không chỉ là sự đói nghèo, mà nhiều người dân trên trái đất còn phải đối mặt với sự ngu dốt và nỗi sợ hãi, sự không khoan dung và không chấp nhận sự khác biệt, những khuynh hướng bá chủ, tiêu chuẩn hóa lối sống, những cuộc khủng hoảng cơ cấu và những yếu kém của những giá trị đạo đức cơ bản Tất cả những thách thức đó cần phải được các xã hội trên trái đất này quan tâm Những quan điểm của Liên hiệp quốc, trong đó có UNESCO và UNDP rất đáng tham khảo và đó cũng là những cơ sở lý luận và phương pháp luận của việc nghiên cứu, phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

Trang 17

- Thứ ba, khi đề cập đến vấn đề phát triển văn hóa và con người, cần phải

tham khảo kinh nghiệm của một số nước

- Ở một số nước như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, v.v… tuy có các cách xử lý văn hóa khác nhau, nhưng nhìn chung trong hoạt động văn hóa các nước này đều coi trọng những vấn đề sau đây: (1) Bảo vệ di sản văn hóa nghệ thuật, di tích đã có; (2) Sáng tạo những giá trị văn hóa mới; (3) Đào tạo những cánbộ văn hóa để thực hiện chức năng của nó; (4) Phổ cập những di sản văn hóa vốn có và mới tạo ra Điều đáng chú ý ở các nước này là ngân sách cho hoạt động văn hóa rất lớn, đồng thời tinh thần quản lý văn hóa là mở rộng dân chủ, tôn trọng việc phân cấp phân quyền, khuyến khích tinh thần độc lập và tự do sáng tạo, đặc biệt

ở Mỹ không hề có một lập trường văn hóa quan phương, mà chỉ có tự do sáng tạo cá nhân Do đó, nó tạo ra một đặc trưng văn hóa Mỹ rất đa dạng phong phú

và nhiều màu nhiều vẻ

- Câu nói đã trở thành châm ngôn của ứng xử Nhật Bản thời Minh Trị duy tân là “Tinh thần Nhật Bản, tri thức phương Tây” Mọi mô hình nước ngoài mà người Nhật tiếp thu đều đã được biến hóa theo “trái tim Nhật bản” Có thể nói văn hóa vật thể của Nhật Bản đã bị Tây Phương hóa một cách triệt để và nhanh chóng, nhưng văn hóa phi vật thể của Nhật Bản lại thay đổi chậm chạp hơn nhiều và vẫn mang bản sắc Nhật Bản rõ nét Những đặc điểm của văn hóa Nhật Bản thể hiện ở chỗ: (1) Nhật Bản có một nền văn hóa độc đáo, giàu bản sắc dân tộc; (2) Nhật Bản có một nền văn hóa phong phú đa dạng và phát triển toàn diện; (3) Nhật Bản coi văn hóa và con người làm trung tâm và là sự kết hợp hài hòa với tự nhiên; (4) Người Nhật Bản có tính thích ứng và thực dụng cao

- Sau sai lầm của “đại cách mạng văn hóa” làm cho nền văn hóa Trung Quốc bị tổn thất nặng nề, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu phương châm:

“Thực sự cầu thị, giải phóng tư tưởng, tiến cùng thời đại” Phương châm đó có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng đối với việc nghiên cứu, phát triển văn hóa và con người Trung Quốc coi việc xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược trọng đại và nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần Điều đáng chú ý trong tư tưởng “ba đại diện” là nhấn mạnh Đảng phải đại diện cho phương hướng tiến lên của văn hóa tiên tiến Trung Quốc Đưa vấn đề tính tiên tiến của xây dựng văn hóa lên độ cao

Trang 18

của tính chất, tôn chỉ và nhiệm vụ của Đảng, đủ thấy rằng Trung Quốc coi trọng vấn đề văn hóa như thế nào Các học giả Trung Quốc đang nghiên cứu để xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa văn hóa đương đại và văn hóa truyền thống, văn hóa nước mình và văn hóa ngoại lai, v.v…

Trên đây là sự tóm lược quan điểm của một số học giả nước ngoài, quan niệm của Liên hiệp quốc về vấn đề văn hóa và con người, đồng thời cũng đề cập đến cách xử lý vấn đề văn hóa của một số quốc gia nhằm tham khảo, học hỏi cái hay của người khác Đó cũng là con đường phải đi để nghiên cứu, phát triển văn hóa và con người Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập

Trang 19

Chương I

KHÁI NIỆM VĂN HOÁ VÀ CON NGƯỜI

VÀ CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1 Khái niệm Văn hóa

- Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Marx, chỉ một vài lần K Marx và F Engels trực tiếp bàn đến thuật ngữ văn hóa Tuy nhiên trong đó, một

lần culture lại được hiểu là canh tác, trồng trọt, gieo trồng

Trong thư gửi F Engels 25/3/1868, K Marx viết: “Nếu canh tác được tiến hành một cách tự phát mà không được hướng dẫn một cách có ý thức thì sẽ để lại sau đó đất hoang Ba Tư, Mexopotani…, Hy Lạp”1 Các bản tiếng Việt xuất bản trước đó dịch là: “Văn hóa nếu phát triển tự phát mà không được định hướng một cách tự giác thì sẽ để lại sau nó hoang mạc” Cách dịch này đã gây ra

một số hiểu lầm

Trong tác phẩm “Chống Duhring”, khi bàn về sự tiến triển về tư tưởng tự

do của loài người, F Engels viết: “Mỗi bước tiến lên trên con đường văn hóa là một bước tiến tới tự do”2 Ở đây, culture được hiểu là văn hóa Trong văn cảnh,

F Engels phân tích rằng, con người trong tiến trình lịch sử của mình, khi ngày càng thoát ra khỏi thế giới động vật, nghĩa là khi ngày càng có văn hóa, thì con người càng tự do hơn, mặc dù tự do, theo ông, là bản chất của con người

- Cần lưu ý rằng, ở thời K Marx và F Engels, văn hóa học (Culturology)

chưa xuất hiện, còn khái niệm văn hóa thì vẫn chưa hoàn toàn tách khỏi văn

minh

- E.B Tylor trong “Primitive Culture” 1871 định nghĩa: “Văn hóa hay văn minh (chúng tôi nhấn mạnh), theo nghĩa rộng về dân tộc học, nói chung được hình thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội”3 Ở đây, “Văn hóa” được sử dụng đồng nghĩa với “Văn minh”

1 C Marx và F Engels (1997), Toàn tập t 32, NXB Chính trị quốc gia, H., tr 80

2 C Marx và F Engels (1994), Toàn tập t 20, NXB Chính trị quốc gia, H., tr 164

3 Tайлор Э.Б (1989), Первобытная Культура, Политиздат, М., Cтр 18

Trang 20

- Năm 1964, hai nhà nhân học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn

đã thống kê được 257 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng về nhân học và dân tộc học (Anthropology, thực ra là chỉ ở phương Tây và nổi tiếng là theo quan niệm của hai tác giả này) Với 257 định nghĩa thống kê được, ngay cả cách tiếp cận về văn hóa và việc phân loại các định nghĩa cũng trở nên phong phú và phải nói là phức tạp V.E Davidovich đã phê phán lối nghiên cứu này và cho rằng, đáng lẽ phải chỉ ra được đặc trưng thuần túy văn hóa của các hiện tượng văn hóa vật chất và tinh thần, thì người ta lại mải mê thống kê tính phong phú của văn hóa 4 Trên thực tế, về sau, càng ngày người ta càng cố tìm xem văn hóa đã có định nghĩa thứ bao nhiêu Ở Việt Nam vào những năm

90, PGS Phan Ngọc đã đưa ra con số hơn 1000 Tuy nhiên, việc nghiên cứu theo hướng “duy danh định nghĩa” rõ ràng là có vấn đề

Mặc dù có nhiều định nghĩa song theo bất cứ nghĩa nào thì văn hoá cũng đều là cái, bằng cách này hay bằng cách khác, thể hiện những đặc trưng về con người và về đời sống con người, đều phản ánh (một cách trực tiếp hoặc kín đáo) đặc thù của hoạt động người (V.E Davidovich 5)

+ Khái niệm Văn hóa đã được một số tác giả định nghĩa như sau (tham khảo Wikipedia tiếng Việt) 6:

- Edward Sapir (1884-1939), nhà nhân học, ngôn ngữ học người Mỹ xem văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử

và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống

- William Isaac Thomas (1863-1947), nhà xã hội học người Mỹ coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, )

- William Graham Sumner (1840-1910), giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, Mỹ cho rằng tổng thể những thích nghi của con người với các

4 Xem: Давидович ВЕ Жданов Ю.А (1989), Сущность Культурыа Изд Ростовского Университета Ростов-на-Дону, cтр 29.// Davidovich V.E (2002) Dưới lăng kính triết học Nxb Chính trị Quốc gia, H., tr 446

5 Xem: Давидович ВЕ Жданов Ю.А (1989), Γ∀< 0, cтр 30

6 Xem: http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a

Trang 21

điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh Sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật như biến đổi, chọn lọc

và truyền đạt bằng kế thừa

- Ralph Linton (1893-1953), nhà nhân học Mỹ định nghĩa: a/ Văn hóa suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; b/ Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa

- Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889-1968), nhà xã hội học Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học, Đại học Harvard lại cho rằng với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động

có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ứng xử của nhau

- Một định nghĩa khác: “Văn hóa là biểu hiện của phương thức sống của con người, là tổng hòa mọi giá trị người” 7 Trong hầu hết các trường hợp, văn hóa luôn chỉ là thuộc tính trong mối quan hệ Sự vật – Quan hệ – Thuộc tính Nói cách khác, văn hóa chỉ có thể là mặt, là khía cạnh, là phương diện hay là thuộc tính của cái khác Đặc trưng thuần túy văn hóa mà V.E Davidovich đã nói đến, chính là ở đây

- Có quan niệm cho rằng khi định nghĩa văn hóa chỉ cần nêu giá trị là đủ Tuy nhiên, văn hóa trong nhiều trường hợp không mang ý nghĩa giá trị – nghĩa

là nó không tốt hay xấu, đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực mà chỉ là cách thức, kiểu, dạng, phong cách hoạt động sống của cá nhân hoặc cộng đồng (cách cầm dao của người phương Tây so với người phương Đông là một thí dụ)

Do vậy, không chỉ là giá trị, văn hóa còn là phương thức sống (cách thức, kiểu, dạng, phong cách, ) của con người

- Định nghĩa “Văn hóa” được cộng đồng thế thế giới sử dụng nhiều và được nhiều người trích dẫn hơn cả là của định nghĩa của UNESCO, nêu trong

“Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa của UNESCO từ ngày 26/7 đến 6/8/1982 ở Mexico:

7 Hồ Sĩ Quý (1999) Về văn hóa và văn minh NXB Chính trị quốc gia, H., tr 32

Trang 22

"Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ

và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại-being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét (reflect-phản tư) về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt-con người, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự

ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt

ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm kiếm không mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt qua cả giới hạn của bản thân" 8

Xin lưu ý rằng, UNESCO, các Tổng giám đốc UNESCO và các chuyên gia của tổ chức này cũng công bố không ít văn bản về văn hóa, mà đôi khi người

sử dụng, kể cả các nhà nghiên cứu có tên tuổi ở các nước, vẫn coi đó chính là những định nghĩa khái niệm văn hóa Chẳng hạn:

Văn hoá “là cái tên mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với

ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó” (J Derrida); “là nền tảng

và là linh hồn của cuộc phiêu lưu của con người; trước kia người ta coi nó là thứ yếu, ngày nay người ta bắt đầu nhận ra nó là cốt lõi của vấn đề” (F Mayor); là “tiêu chuẩn cơ bản của sự tiến bộ” (E P Chelyshev); là phương thức tự điều chỉnh và tự nhận thức của nhân loại” (M Epstein); là một trong ba tiêu chuẩn để một quốc gia nào

đó được coi là cường quốc (Z Bredinski); là “đường phân ranh cơ

8 Nguyên văn: “Conference agrees: that in its widest sense, culture may now be said to be the whole complex of distinctive spiritual, material, intellectual and emotional features that characterize a society or social group It includes not only the arts and letters, but also modes

of life, the fundamental rights of the human being, value systems, traditions and beliefs; that it

is culture that gives man the ability to reflect upon himself It is culture that makes us specifically human, rational beings, endowed with a critical judgement and a sense of moral commitment It is through culture that we discern values and make choices It is through culture that man expresses himself, becomes aware of himself, recognizes his incompleteness, questions his own achievements, seeks untiringly for new meanings and creates works

through which he transcends his limitations” UNESCO Mexico City Declaration on Cultural Policies World Conference on Cultural Policies Mexico City, 26 July - 6 August 1982

http://portal.unesco.org/culture/en/files/12762/11295421661mexico_en.pdf/mexico_en.pdf

Trang 23

bản giữa con người với nhau” và là “nhân tố chủ đạo của nền chính trị thế giới” (S F Huntington); là cái “được xuyên suốt bởi một Ethos cộng sinh”, một thứ “soft power” (năng lực mềm) giúp cho

“Đông Á sẽ trở thành khu vực cực kỳ quan trọng vào thế kỷ XXI” (I Daisaku bàn về văn hoá Đông Á) v.v…

- Văn hóa được Hồ Chí Minh định nghĩa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" 9

Trước kia, định nghĩa này ít được nói tới Ngày nay, nếu so sánh, có thể thấy định nghĩa này cũng khúc chiết và tường minh không thua kém các định nghĩa nổi tiếng nào khác

- Văn hóa, dưới hình thức một quan niệm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nêu lần đầu tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII:

“ là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” 10

2 Phát triển văn hoá

Phát triển văn hoá là cách diễn đạt phương Tây mới du nhập vào Việt

Nam khoảng hơn hai thập niên Trước đây ở Việt Nam, chúng ta thường dùng

thuật ngữ xây dựng văn hoá để chỉ nội hàm được chứa đựng trong thuật ngữ hiện hay dùng là phát triển văn hoá Thực ra, phát triển văn hoá không phải là một khái niệm khoa học chặt chẽ, kiểu như các khái niệm văn hoá, văn minh hay con người Các nhà nghiên cứu, các quan điểm lớn về văn hoá đều có nêu quan niệm của mình về phát triển văn hoá, nhưng không định nghĩa phát triển

văn hoá với tính cách là một khái niệm độc lập Trong đại đa số các trường hợp,

phát triển văn hoá thường chỉ được nói tới khi người ta xem xét sự vận động, sự gia tăng tiến bộ của các lĩnh vực cụ thể trong hoạt động văn hoá Khác với lĩnh

vực nghiên cứu con người; nếu phát triển con người có các định nghĩa chặt chẽ,

9 Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập t.3 NXB Chính trị quốc gia,H., tr 431

10 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB

Chính trị quốc gia, H., tr 29

Trang 24

các tiêu chí cụ thể để xem xét, đánh giá, thì phát triển văn hoá hầu hết chỉ được

dùng cho các trường hợp cụ thể Sự phát triển văn hoá ở một đối tượng nào đó thường chỉ được so sánh với chính nó (đối tượng) theo trục thời gian

Về đại thể, phát triển văn hóa là một quá trình có tính tất yếu và khách quan trong sự vận động của các lĩnh vực văn hóa Quá trình này dẫn tới sự biến đổi giá trị và hệ giá trị Tính tất yếu và khách quan của quá trình này, tuy không đơn giản, không đơn tuyến, và thậm chí có lúc thụt lùi, tha hoá, nhưng xu hướng chung vẫn là đảm bảo cho cuộc sống của con người hướng tới cái tốt, cái thiện

và cái đẹp ngày một cao hơn, nhân đạo hơn

Phát triển văn hoá đôi khi được coi là đối lập với bảo tồn văn hóa Tuy

vậy, nhìn ở phạm vi vĩ mô, phát triển văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự

bảo tồn văn hóa Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn

hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa là bảo tồn mọi cái có trong truyền thống; bảo tồn không triệt tiêu sự phát triển văn hóa và ngược lại phát triển văn hóa bao giờ cũng có chức năng là bảo tồn văn hóa Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa

3 Khái niệm Bản sắc văn hóa

Bản sắc riêng của mỗi nền/dạng/kiểu văn hoá (Cultural Identity) thường được biểu hiện là những nét đặc thù và độc đáo thể hiện trong các hiện tượng văn hoá hoặc các sản phẩm văn hoá, quy định bộ mặt của mỗi nền văn hoá Cách hiểu này không có gì sai Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là, bản sắc riêng của văn hoá không chỉ thể hiện trong các hiện tượng hoặc các sản phẩm đặc thù của văn hoá, mà phần đáng kể của nó lại được thể hiện ngay trong hoạt động sống bình thường, hàng ngày của các cộng đồng người Ở đó, nó là:

Tập hợp của những cái khác biệt không thể xoá nhoà về phương thức sống của các chủ thể văn hoá, là cái được tạo ra trong những tình huống khác nhau của lịch sử, từ thế giới quan, từ nhân sinh quan mà đặc biệt là

từ kinh nghiệm sống của các thế hệ khác nhau trong cộng đồng, làm

Trang 25

thành những khuôn mẫu về văn hoá chi phối và quy định hoạt động sống của các thế hệ tiếp sau 11

4 Khái niệm Khuôn mẫu văn hoá

Khuôn mẫu văn hóa (Cultural matrix) là tập hợp của những giải pháp, những chuẩn mực, những phong cách, những giá trị… được tạo ra từ kinh nghiệm sống của các cộng đồng người, được định hình qua những tình huống khác nhau trong lịch sử tồn tại của các cộng đồng đó và được bảo tồn trong sự chi phối và quy định của nó đối với hoạt động của các thế hệ kế tiếp nhau Văn hoá thực hiện tính quy định của mình, thể hiện sức mạnh của mình trong đời sống xã hội thông qua các khuôn mẫu văn hoá 12

Con người trong hoạt động bao giờ cũng dựa vào những khuôn mẫu văn hóa đã có để thao tác, xử lý hoặc sáng tạo… kể cả với các đối tượng mới Khác với con vật, không bao giờ con người bắt tay vào hoạt động từ trạng thái

“không” hoặc “hư vô” (Phi kinh nghiệm cũng là một thứ kinh nghiệm)

5 Khái niệm Văn minh

Nhiều tài liệu quả quyết rằng, văn hóa và văn minh (Civilization) với tính cách là các khái niệm khoa học mãi đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện Trong khi

đó ở phương Tây, thuật ngữ Cultura được tìm thấy ngay trong các tác phẩm của Siseron (106 - 43 TCN) và Civilization đã thấy được sử dụng tương đối phổ biến

ở giai đoạn đầu thời đại Phục Hưng

Ở Trung Quốc, văn minh được nhắc đến từ rất sớm trong Thượng thư (Ngũ Kinh); còn văn hiến với nghĩa là một xã hội đạt tới một trình độ nhất định

về mặt tinh thần (văn: tư liệu, điển chương, chế độ; hiến: người thông thạo điển chương, chế độ) thì đã được bàn luận trong Luận ngữ (Khổng Tử, 55-479 tCN) Vào đời Hán (Thế kỷ I TCN), trong các quan niệm của Lưu Hướng người

ta đã thấy xuất hiện khái niệm văn hóa Văn hóa lúc đó được hiểu là văn trị, giáo hóa Nghĩa gốc của văn ở đây là cái đẹp, cái có sức thu hút về mặt hình thức Văn hóa, do vậy trở thành yếu tố then chốt trong chính trị: cai trị, giáo hóa bằng văn

11 Hồ Sĩ Quý (1999) Sđd tr 51

12 Hồ Sĩ Quý (1999) Sđd tr 52

Trang 26

Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa và văn minh xuất hiện trong văn tự lần đầu tiên vào lúc nào? Hiện chưa có câu trả lời Song, như đã biết, năm 1428 Nguyễn Trãi đã bàn đến văn hiến một cách trang trọng trong Đại cáo bình Ngô Văn hóa và văn minh, về phương diện ngôn ngữ luôn luôn là hai thuật ngữ riêng rẽ và tách biệt nhau Trong nhiều ngôn ngữ, văn hóa và văn minh không phải là hai từ đồng nghĩa Ấy vậy mà trong rất nhiều trường hợp, hai khái niệm này vẫn được sử dụng như không có sự phân biệt hoặc như hai từ khác âm đồng nghĩa Hiện nay, trên thực tế, nội hàm của hai khái niệm này vẫn thường bị sử dụng lẫn với nhau: trong một số văn cảnh, văn hóa bị gọi là văn minh và ngược lại

Ngay trong khoa học, “khác với thế kỷ XVIII và XIX… đặc điểm của triết học văn hóa thế kỷ XX là dần dần tách hai khái niệm đó (văn hóa và văn minh), khái niệm thứ nhất tiếp tục vẫn là tượng trưng cho mọi cái tích cực trong lĩnh vực trước đây chưa phân chia, còn khái niệm thứ hai trong đa số trường hợp được đánh giá là trung tính, và có khi còn có ý nghĩa tiêu cực trực tiếp” 13

Nếu khẳng định một cách chắc chắn hai khái niệm văn hóa và văn minh có bao nhiêu nghĩa cụ thể và xác định, thì có lẽ điều khẳng định đó không tránh khỏi võ đoán Đôi khi người ta có cảm giác rằng so với văn hóa thì văn minh hình như rõ ràng hơn, xác định hơn Nhưng trên thực tế, ngoài một vài nghĩa phổ biến, thường gặp, văn minh cũng có khá nhiều nghĩa phức tạp và thiếu xác định không kém gì văn hóa Bên cạnh đó còn có không ít trường hợp mà nếu thuật ngữ văn hóa được thay bằng văn minh thì cũng chẳng dễ gì chỉ ra đâu là hợp lý và bất hợp lý của từng văn cảnh Có thể nhận thấy trong khá nhiều trường hợp, tính từ văn hóa và tính từ văn minh thường thay thế được cho nhau

Mặc dù đã được sử dụng tương đối phổ biến ở đầu thời đại Phục Hưng, nhưng văn minh với tính cách là khái niệm chính trị – xã hội thì lại xuất hiện vào thế kỷ XVIII, khi các nhà khai sáng Pháp dùng các quan niệm duy lý của mình để mổ xẻ và phân tích những xã hội đã đạt tới một trình độ nhất định về lý tính và công bằng Về mặt từ nguyên, civilization có gốc Latinh civilis, nghĩa là thị dân, công dân, nhà nước Theo nghĩa ban đầu, văn minh là thị dân hóa, thành

13 A.G Xpirkin (1989) Triết học xã hội t II Nxb Tuyên huấn Hà Nội, tr.178 А.Г Спиркин (2002) Философия Гардарики Мoсква tr 697-698

Trang 27

thị hóa Về sau, văn minh được hiểu một cách trừu tượng hơn theo nhiều nghĩa khác nhau; trong đó nghĩa bao trùm là chỉ một trình độ phát triển nhất định của

xã hội về mặt vật chất và tinh thần 14 Vào thế kỷ XIX, nói đến văn minh là nói đến những đặc trưng có giá trị của chủ nghĩa tư bản nói chung Người ta gần như đồng nhất văn minh với toàn bộ giá trị của chủ nghĩa tư bản Lúc đó, xã hội tư bản với khẩu hiệu tự do, bình đẳng, bác ái của nó được coi là hiện thân của văn minh

Cho đến nay, số lượng các định nghĩa cụ thể về khái niệm văn minh có lẽ cũng chẳng kém gì số lượng các định nghĩa về văn hóa (mặc dù chưa thấy ai công bố con số thống kê về các định nghĩa này) Thông qua những định nghĩa cụ thể mà chúng tôi được biết, có thể nhận thấy nổi trội lên một số cách hiểu sau:

- Văn minh là một trình độ phát triển nhất định của các dân tộc hoặc của các cộng đồng A.Toynbee và P.Xorokin là những đại biểu cho cách hiểu này Theo Toynbee, dân tộc nào cũng đều có văn hóa của mình, song không phải mọi dân tộc đều được coi là văn minh Nói đến văn minh là nói đến một trình độ nào

đó trong sự phát triển của các cộng đồng, mà trước hết đó là sự phát triển về mặt văn hóa 15

- Văn minh là một giai đoạn phát triển xã hội đối lập với giai đoạn “dã man” Các dân tộc đều sẽ phải đạt tới văn minh, sau khi trải qua giai đoạn

“mông muội, dã man” Như mọi người đều biết, L Morgan và F Engels là những đại biểu tiêu biểu cho quan niệm này 16

- Văn minh là sự “giao thoa”, “giao tiếp” của các giá trị toàn nhân loại trong đời sống của mỗi dân tộc Đại biểu điển hình cho cách hiểu này là K Jasper, người đã bằng lý thuyết giao tiếp của mình cắt nghĩa toàn bộ quá trình liên kết diễn ra trong nền văn minh châu Âu và trong lịch sử toàn nhân loại với

tư cách là lịch sử toàn thế giới 17

16 Xem: F Engels Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước Chương IX

Dã man và văn minh K Marx, F Engenls (1995) Toàn tập, tập 21 Nxb CTQG Hà Nội

17 Xem: Triết học phương Tây hiện đại Từ điển (1996) NXB Khoa học Xã hội, H.,

453-454

Trang 28

- Văn minh là giai đoạn “lụi tàn” của văn hóa, là thời điểm cuối cùng khiến cho các nền văn hóa khác nhau của nhân loại trở nên đồng nhất Đây là cách hiểu văn minh của O Spengle Theo Spengle, sau khi 8 nền văn hóa của loài người đạt tới trình độ cao, văn minh sẽ xuất hiện và “hòa tan” mọi giá trị tốt đẹp Đó sẽ là “Hoàng hôn của châu Âu” 18

- Những cách hiểu trên cũng đồng thời là những cách tiếp cận tiêu biểu về khái niệm văn minh Xin lưu ý, hầu hết những cách hiểu trên đều đi theo xu hướng tiếp nối J.Rousseau và J.Herder, cố gắng phân biệt ngày càng rạch ròi hai khái niệm này trong mối tương quan với những đặc tính có thể xác định của chúng Rất ít người đi theo xu hướng ngược lại - đồng nhất hoặc xóa nhòa ranh giới giữa văn hóa và văn minh Theo chúng tôi, người tiêu biểu của xu hướng đồng nhất giữa văn hóa và văn minh, có lẽ, chỉ là E.B.Tylor (1832-1917), nhà dân tộc học và nhân chủng học người Anh, cây đại thụ về nhân học Theo Tylor, cái mà người ta gọi là văn hóa và đại thể cũng chính là văn minh Đó là những phức thể của hoạt động sống của con người cùng với những biểu hiện phong phú của đời sống ấy trong thế giới tâm linh Tylor viết: “Văn hóa hay văn minh… là một tổng thể được hình thành từ trí thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và một số phương thức và tập quán khác mà con người với tính cách là thành viên của xã hội đã lĩnh hội được” 19 Tylor cho rằng, nắm được văn hóa hay văn minh tức là nắm được “các quy luật” và “các liên hệ” của xã hội Tất cả những điều trình bày ở trên, về phương diện nhận thức, đều cần phải được lý giải một cách sâu sắc hơn và chi tiết hơn

So với văn hóa, văn minh thường được coi là khái niệm có sự định hướng truy tìm các giá trị trong cái chuyển biến, cái có sự đổi mới, sáng tạo Nếu như văn hóa, trong đa số trường hợp, là khái niệm đã “trừu tượng đi” sự biến động thường xuyên của đối tượng để mô tả, phản ánh cái ổn định tương đối, mặt yên tĩnh tương đối trong hoạt động người, thì văn minh là khái niệm phản ánh cái biến động, mô tả, khái quát mặt kỹ thuật của hoạt động người trong việc chiếm lĩnh giới tự nhiên Diễn đạt theo một cách khác, nếu trong nghiên cứu xã hội về mặt văn minh, người ta bắt lấy cái biến động của lịch sử, thì trong nghiên cứu xã

18 Xem: Triết học phương Tây hiện đại Từ điển (1996) Sđd, tr 453-454

19E.B.Tylor Primitive Culture (1989, bản tiếng Nga) Politizdat, M.tr.18

Trang 29

hội về mặt văn hóa người ta lại cố gắng nắm bắt lấy mặt yên ổn tương đối, mặt định hình của các xã hội, cái được ẩn giấu hoặc được bảo tồn thông qua tất cả những gì biến động, cái có thể coi là hằng số hoặc mẫu số của các xã hội

Như vậy, trong tương quan giữa văn hóa và văn minh, văn minh – động, văn hóa – tĩnh, không có nghĩa là trong văn hóa chỉ có cái tĩnh và trong văn minh chỉ có cái thay đổi, biến động Văn hóa có mặt động của nó, cũng như văn minh có mặt tĩnh của nó Nhưng, đó là điều thuộc các quan hệ khác Còn ở đây, trong quan hệ này, cái tĩnh, cái ổn định, cái bền vững tương đối…thuộc về văn hóa; còn cái động, cái thường đổi thay, chuyển biến…thuộc về văn minh Trên thực tế, khi nghiên cứu văn hóa, kể cả văn hóa theo nghĩa rộng và văn hóa theo nghĩa hẹp, người ta muốn bắt lấy cái “thần thái”, cái định hình trong sự vận động của các đối tượng Xuyên qua tất cả những gì là biến chuyển, thăng trầm, văn hóa phải là cái đọng lại, là cái kết tinh, hằng xuyên trong mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng Chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta thừa nhận rằng văn hóa là cái đầu tiên và cũng là cái cuối cùng để mỗi dân tộc, cũng như mỗi cộng đồng tự khẳng định mình trong sự phân biệt với các dân tộc khác hoặc với các cộng đồng khác Về sự phân biệt giữa các nền văn hóa, ngoại trừ Đông và Tây là những nền văn hóa lớn mà trong sự phân biệt giữa chúng người ta buộc phải dựa vào một số tiêu chuẩn về mặt văn minh, còn với các nền văn hóa khác, sự phân biệt với nhau chủ yếu được căn cứ vào các tiêu chuẩn đã được định hình khá bền vững trong lịch sử mỗi nền văn hóa Chẳng hạn, có thể so sánh văn hóa vùng Lưỡng Hà và văn hóa Hy – La, văn hóa Nga và văn hóa Tây Âu, văn hóa Hồi giáo và văn hóa Phật giáo, văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Hoa, văn hóa

âm nhạc và văn hóa ẩm thực… Trong so sánh đó, những tiêu chí để phân biệt các nền văn hóa cụ thể, trên thực tế chỉ có thể là những tiêu chí tương đối định hình, bền vững, chậm hoặc rất ít biến đổi so với những tiêu chí về mặt văn minh Người ta có thể thấy sự thay thế nhau của nhiều phương thức văn minh ở nước Nga từ thời của nước Nga Kiep cổ đến thời của nước Nga hậu xô viết Tuy vậy, trải qua bấy nhiêu thời đại, Nga vẫn là Nga so với Trung Hoa hoặc Tây Âu ở đây cái có ý nghĩa là sự định hình về mặt văn hóa 20

20 Ценности Философский энциклопедический словарь Изд Совет-ская Энциклопедия

Москва, 1989, tr 732–733

Trang 30

Về phương diện văn minh, mọi thành tựu của sự sáng tạo, về nguyên tắc đều có thể được truyền bá, thâm nhập, phổ biến từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, cho dù sự khác biệt giữa các cộng đồng có lớn đến mấy đi chăng nữa Song đối với văn hóa thì không phải như vậy Nếu lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của sự hội nhập, học hỏi và lấp đầy các khoảng trống về mặt văn minh, thì về mặt văn hóa đó lại là lịch sử của sự gìn giữ, bảo tồn và tôn vinh những bản sắc của mỗi chủ thể Trong sự tiếp nối không những của các làn sóng văn minh, khi mà con người ngày càng học tập được ở nhau để trở nên giống nhau hoặc tương đồng với nhau về mức sống và trình độ sống, thì cũng là lúc con người buộc phải bày tỏ hoặc làm lộ ra sự cách biệt giữa các cộng đồng

về lối sống, về giá trị sống hoặc về phương thức sống

Đương nhiên, trong văn hóa cũng có rất nhiều hiện tượng cần phải được truyền bá và cũng dễ dàng được truyền bá Xu hướng giao lưu, tiếp biến (acculturation) luôn luôn là xu hướng tất yếu và phổ biến của văn hóa quả là có nhiều ngoại lệ Ở văn hóa, có rất nhiều hiện tượng, về nguyên tắc là không thể truyền bá hoặc du nhập được Sự có mặt của một hiện tượng văn hóa ngoại sinh hoặc ngoại lai, trong nhiều trường hợp không thể gọi là sự du nhập về mặt văn hóa Thông thường, khi các sản phẩm văn hoá được nhập ngọai với khối lượng

đủ lớn, thì dần dần sự du nhập về mặt văn hóa sẽ diễn ra Tuy thế, điều này cũng không phải là quy luật đối với mọi hiện tượng văn hóa Chẳng hạn, văn hóa Trung Quốc có thể xuất hiện rất nhiều ở châu Âu, song châu Âu có “nhiễm” được văn hóa Trung Quốc hay không thì lại là một chuyện hoàn toàn khác Vấn

đề ngoại sinh, ngoại lai là bình thường đối với các sản phẩm về mặt văn minh; song đôi khi lại rất không bình thường về mặt văn hóa hoặc đối với các hiện tượng văn hóa Trong văn hóa, trao đổi, giao lưu không phải là trao đổi, giao lưu

để biến thành cái khác, mà thường là để cho mỗi nền văn hóa có điều kiện hơn trong việc chứng tỏ mình là ai và giá trị độc đáo, khác biệt của mình là thế nào Như vậy, nếu khi nói đến văn hóa người ta muốn chú ý đến đặc trưng, bản sắc của từng cộng đồng, cái được bảo tồn, được gìn giữ trong và thông qua tất cả các nấc thang phát triển thăng trầm của lịch sử mỗi cộng đồng, thì khi nói đến văn minh, người ta lại trừu tượng đi tất cả những gì là sắc thái riêng, độc đáo để hướng sự chú ý vào trình độ phát triển của từng cộng đồng khác Nói một cách khác, xét về mặt giá trị thì cái được coi là văn minh, về nguyên tắc, phải là cái

Trang 31

được chấp nhận ở đa số các cộng đồng Đây là điều không tồn tại trong lôgic của văn hóa

Trong văn hóa, như chúng ta đã biết, cái có giá trị, trước hết là có giá trị đối với chủ thể trực tiếp của nó Nhưng không chỉ có thế, cái có giá trị phổ biến

về mặt văn hóa, trong thực tế, cũng thường không phải là phổ biến tuyệt đối đối với mọi bảng giá trị Trước mỗi hiện tượng cụ thể của nền văn minh, bao giờ cũng vậy, sẽ nảy sinh không phải chỉ có một kiểu đánh giá trong các bảng giá trị văn hóa Mà với các bảng giá trị trong các nền văn hóa khác nhau thì dù muốn hay không, người ta cũng buộc phải thừa nhận sự bình đẳng tương đối của các kiểu đánh giá khác nhau trong các cộng đồng khác nhau của loài người

Tuy nhiên, trong văn minh thì lôgic lại diễn ra theo một chiều hướng khác Bản thân các phát kiến khoa học, sự tiến bộ của công nghệ và kỹ thuật, v.v… là trung tính đối với mọi nền văn hóa Nghĩa là giá trị tự thân của những tiến bộ kỹ thuật sẽ luôn luôn là khách quan đối với bất kỳ chủ thể đánh giá nào Nên chú ý rằng, hầu hết những giá trị tiêu cực nảy sinh khi đánh giá những thành tựu của nền văn minh, trong thực tế, đều là những giá trị phát sinh Điều này chẳng có gì

là lạ nếu ta nhớ lại rằng, thuốc súng cũng như vũ khí, tự thân chúng, là những tiến bộ về phương diện văn minh

Như đã đề cập ở trên, trong sự so sánh với văn hóa, các giá trị về mặt văn minh mang tính trung hòa hơn, khách quan hơn Do vậy, văn minh, chẳng phải ngẫu nhiên đã trở thành tiêu chí hàng đầu trong việc đánh giá trình độ phát triển của mỗi xã hội Với hầu hết các bảng tiêu chuẩn mà các tổ chức quốc tế hiện đang dùng để đo sự phát triển của các quốc gia, kể cả bảng tiêu chuẩn về chỉ số phát triển con người (HDI), chúng ta cũng đều có thể dễ dàng nhận ra rằng, chiếm tỷ lệ chủ yếu ở các bảng tiêu chuẩn đó vẫn là các thước đo về mặt văn minh Ngoài ra, khi lưu ý đến các khái niệm các nước phát triển, các nước đang phát triển, các nước thế giới thứ ba… chúng ta cũng sẽ thấy, chính các tiêu chuẩn về mặt văn minh đã đóng vai trò là cơ sở để xuất hiện những khái niệm đó Đương nhiên, do vậy, những hợp lý và bất hợp lý của việc sử dụng các khái niệm này cũng có nguồn gốc từ đây

Điều cần lưu ý, khi bàn đến những nền văn minh cụ thể, riêng biệt, chẳng hạn như văn minh sông Hồng, văn minh Kitô giáo, văn minh Tiểu Á người ta

Trang 32

đương nhiên có sử dụng những tiêu chí về mặt văn hóa để xem xét và phân tích lịch sử của các cộng đồng có liên quan đến các nền văn minh đó Tuy thế, ngay

cả trong những trường hợp này, cái nổi trội, những tiêu chí căn bản để xác định nền văn minh với tính cách là nền văn minh, trên thực tế vẫn là những tiêu chí

về trình độ phát triển Ai đó có thể coi sự khác nhau giữa cách thức trồng lúa nước của nền văn minh sông Hồng với cách thức săn bắn, hái lượm của các nền văn minh đương thời và trước đó là sự khác nhau về mặt văn minh Tuy nhiên, cái căn bản để đặc trưng cho nền văn minh lại không phải là cách thức hoạt động sống: Không phải mọi cộng đồng vào lúc đương thời đều đã đạt tới trình độ biết canh tác lúa nước, tức là biết làm chủ được những quy luật khá phức tạp của hoạt động sản xuất vật chất lúc bấy giờ

Trên đây là những phác thảo sơ lược về sự khác nhau giữa văn hóa và văn minh Việc làm rõ những nét tương đồng và khác biệt giữa văn hóa và văn minh phải chăng sẽ mãi là công việc chưa hoàn thành đối với những người nghiên cứu văn hóa?

Như vậy, mọi mô tả về văn hóa và văn minh đều ít nhiều phiến diện và giản đơn so với thực tế Nguy cơ hời hợt về mặt văn hóa là có thực trong không

ít quan niệm về đời sống xã hội Một trong những nguyên nhân của điều đó là sự thiếu quan tâm đến những nét tương đồng và khác biệt giữa văn hóa và văn minh

6 Khái niệm Giá trị

Trong Từ điển bách khoa triết học, khái niệm Giá trị được định nghĩa: “

là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu triết học và xã hội học dùng

để chỉ ý nghĩa văn hóa và xã hội của các hiện tượng Về thực chất, toàn bộ sự đa dạng của hoạt động người, của các quan hệ xã hội, bao gồm cả những hiện tượng tự nhiên có liên quan, có thể được thể hiện là các "giá trị khách quan" với tính cách là khách thể của quan hệ giá trị, nghĩa là, được đánh giá trong khuôn thước của thiện và ác, chân lý và sai lầm, đẹp và xấu, được phép và cấm kỵ, chính nghĩa và phi nghĩa, v.v

Khi định hướng đối với hoạt động của con người, phương thức và tiêu chuẩn được dùng làm thể thức đánh giá sẽ định hình trong ý thức xã hội và trong văn hóa thành các "giá trị chủ quan" (bảng đánh giá, mệnh lệnh và những điều

Trang 33

cấm, mục đích và ý đồ được thể hiện dưới hình thức các chuẩn mực) Giá trị khách quan và giá trị chủ quan là hai cực của quan hệ giá trị của con người với thế giới” 21

Trong Bách khoa thư văn hóa học thế kỷ XX, Giá trị được định nghĩa:

“… là thành phần quan trọng nhất của văn hóa con người bên cạnh các chuẩn mực và các lý tưởng Sự tồn tại của giá trị bắt rễ sâu trong tính tích cực của chủ thể sáng tạo văn hóa, trong sự đối thoại của chủ thể sáng tạo với người khác Giá trị định hướng không chỉ đối với các lĩnh vực hiện tồn mà còn đối với cả các ý nghĩa và các chuẩn mực có thể” 22

Theo Cl Kluckhohn, 1951, “Giá trị là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng đến việc

lựa chọn phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu của hành động” 23

7 Khái niệm Truyền thống

Dù được tiếp cận theo quan điểm nào, truyền thống cũng đều được hiểu là những hiện tượng văn hoá - xã hội (bao gồm các giá trị, các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hoá, các tư tưởng xã hội, các phong tục, nghi thức xã hội, các thiết chế xã hội, v.v…) được bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng xã hội khác nhau (nhân loại hoặc giai cấp, dân tộc hoặc liên dân tộc, nhóm xã hội hoặc cá nhân, v.v…) và có thể được chuyển giao từ thế hệ này qua thế hệ khác Những định nghĩa khác nhau về khái niệm truyền thống tựu trung đều có những nội hàm như trên 24

Có quan điểm cho rằng, dường như truyền thống nào cũng tốt đẹp và bởi thế nên nó không cần phải được sửa đổi, rằng dường như mọi môi trường văn hoá đều lành mạnh đối với tất cả mọi thành viên của nó Magoroh Maruyama, nhà khoa học luận Mỹ, Giáo sư Đại học Gakuin, Tokyo, đã phê phán gay gắt và

Trang 34

coi quan điểm này đích thực là sai lầm 25

Thực ra, điều này đã được cảnh báo từ rất sớm Chẳng hạn, Indira Gandhi

đã viết: “Không phải chỉ có sự khôn ngoan mà cả sự điên rồ của các thế kỷ đã qua đè nặng lên chúng ta Làm người thừa kế là chuyện nguy hiểm” 26 Hay, trước đó nữa, chính K Marx đã nêu ra tư tưởng rất điển hình cho những đánh giá về khuyết tật và hạn chế của truyền thống: “Truyền thống của tất cả các thế

hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống Và ngay khi con người có vẻ như là đang ra sức tự cải tạo mình và cải tạo sự vật, ra sức sáng tạo một cái gì chưa từng có, thì chính họ lại sợ sệt cầu viện đến những linh hồn của quá khứ” 27

8 Khái niệm Con người

Những định nghĩa tiêu biểu trước Marx về Con người

- Con người là thước đo của vạn vật (Protagore)

- Bẩm sinh, con người là một động vật chính trị (Aristote)

- Con người - cây sậy biết tư duy Sự vĩ đại của con người là ở trong

phương thức suy nghĩ của nó (Pascal)

- Con người là một giá trị và là giá trị cao nhất (D Diderot)

- Con người - động vật biết chế tạo công cụ lao động (B Franklin)

- Con người là một động vật kinh tế (F W Taylor)

- Con người là thực thể độc nhất vô nhị Con người là mục đích tự thân

Như chính Marx đã nói trong Lời tựa, Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844

là tác phẩm nhằm phê phán lý luận đương thời về kinh tế, chính trị, pháp quyền

và một phần phê phán quan niệm của Feurbach và Hegel; tức là ở đây Marx không có ý định bàn về chủ đề con người Tác phẩm này gồm ba bản thảo mà Marx chưa kịp công bố Các bản thảo này có chủ đề khá khác nhau, có lẽ Marx không nhằm viết cho một cuốn sách Vấn đề con người, ở đây, do vậy, không được trình bày trong một hệ thống thật chặt chẽ Điều đó làm cho việc nghiên

25 Xem Magoroh Maruyama: Phương thức tư duy với các nền văn hoá, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 2, 1996

26 Indira Gandhi: Tư duy ấn Độ (phát biểu tại Đại học Sorbonne, Paris, trong dịp nhận bằng tiến sỹ danh dự) Báo Văn nghệ, 22-1-1983

27 C Marx và F Engels (1993): Toàn tập, t 8 Nxb CTQG, Hà Nội tr 145

Trang 35

cứu tác phẩm này vốn đã khó lại càng trở nên khó hơn Tuy nhiên, điều may mắn là, những tư tưởng về con người trong tác phẩm này - nảy sinh qua đối thoại với các học giả đương thời và qua phê phán Feurbach và Hegel - lại rất phong phú; có thể nói là một kho tàng những tri thức cơ bản (phương pháp luận

về con người) đủ cho hậu thế khai thác, đặc biệt là các nội dung mà sau đó Marx không có dịp đề cập

Dĩ nhiên, như nhiều học giả về sau nhận xét, ở đây có những tư tưởng mới chỉ là những ý tưởng, ý niệm, nghĩa là còn đang được phác thảo, chưa hoàn toàn định hình và ta cũng không biết chắc về sau chính Marx có đồng ý với mình hay không Song xét về tầm vóc và ý nghĩa, thì trong đó có những tư tưởng phải gọi

là lớn, rất lớn Chẳng hạn, về khái niệm con người - một thực thể tự nhiên có

tính chất người, về tính loài của con người - con người cá nhân và con người xã hội, về bản chất con người - con người tự nhiên và con người xã hội, về quan hệ

con người với tự nhiên - thân thể con người và thân thể vô cơ của con người, về tha hoá - lao động bị tha hoá và sự tha hoá của con người, về nghiên cứu con người - về sau khoa học tự nhiên sẽ bao hàm trong nó khoa học về con người và

khoa học về con người sẽ bao hàm trong nó khoa học về tự nhiên, v.v Do đó,

nói đến vấn đề con người trong triết học Marx, người ta không có quyền bỏ qua tác phẩm này, dù rằng đây là tác phẩm của thời “Marx trẻ”, thời mà những quan niệm về con người giai cấp, về cách mạng xã hội, về chủ nghĩa duy vật lịch sử,

về giá trị thặng dư còn chưa xuất hiện hoặc chưa chín muồi

Lâu nay, giới lý luận Mác xít thường quan niệm rằng, với triết học Marx

thì con người là một thực thể sinh học - xã hội Tư tưởng này được mặc nhiên

xem là định nghĩa (hay có giá trị tương đương với định nghĩa) Tất cả các tài liệu Mác xít, khi triển khai quan niệm của mình về con người và đời sống con người

đều ngầm định tư tưởng này là tiền đề, là cơ sở của các quan niệm phái sinh

khác

Tuy nhiên, điều đáng nói là ở chỗ, cho đến nay, chưa thấy ai công bố đã

bắt gặp ở chỗ nào Marx viết nguyên văn con người là một thực thể sinh học-xã

hội Có thể do tư tưởng này đã phổ biến đến mức gần như là một chân lý hiển

nhiên và hơn thế nữa, do trong các tác phẩm kinh điển, tư tưởng này đã được thể hiện và được triển khai sâu thêm ở các quan niệm về bản chất con người, về đời

Trang 36

sống con người” 28 nên người ta không mấy quan tâm đến xuất xứ của nó Hoặc cũng có thể do chưa ai tìm thấy Marx nói nguyên văn như thế, nên tất cả những giáo trình triết học, những từ điển và những ấn phẩm có uy tín viết về con người (mà chúng tôi được biết 29), đều chưa thấy trích dẫn tư tưởng này

Là những người nghiên cứu, để tồn tại điều này có nghĩa là mắc nợ Bởi vậy cần thiết phải xem căn cứ vào đâu mà quan niệm kinh điển cơ bản về con

người lại nói một cách xác định như thế - con người là một thực thể sinh học-xã

hội Khi nghiên cứu Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, chúng tôi nhận thấy,

tư tưởng này đã được trình bày trong tác phẩm này Chỉ có điều so với mệnh đề

mà ta quen nói, thì hình thức ngôn từ ở đây hơi khác Trong tác phẩm này, Marx

khẳng định: Con người “là thực thể tự nhiên có tính chất người” 30

Thực ra, quan niệm xem con người là một thực thể tự nhiên là tư tưởng

của Feurbach, người được Marx đánh giá là đã có công “làm cho quan hệ xã hội của con người với con người trở thành nguyên tắc cơ bản của lý luận” 31

Phoiơbắc cho rằng, con người là một thực thể đặc biệt của tự nhiên Đặc biệt vì

nó là thực thể duy nhất có ý thức Tuy vậy, việc xác định bản chất của nó, cũng phải được tiến hành tương tự như đối với mọi sinh vật khác, tức là phải xác định bằng tính chất của các “đối tượng bên ngoài” như không khí, nước, ánh sáng, thức ăn, vật liệu hoạt động - cái đảm bảo cho con người tồn tại một cách tất yếu và hiện thực 32 Tiếp thu quan niệm này, Marx nhấn mạnh: “Con người trực

28 Được trình bày rõ nhất trong “Luận cương về Phoiơbắc”, “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, “Phê phán triết học pháp quyền Hêghen”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Phê phán kinh tế học chính trị 1859”, “Tư bản”, v.v

29 Những giáo trình triết học và từ điển có uy tín trong việc trình bày vấn đề con người: Giáo trình triết học Mác - Lênin do Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia biên soạn Nxb CTQG Hà Nội, 1999; Bộ Введение в филоcофию gồm 2 tập (lần đầu tiên biên

soạn SGK theo kết cấu những vấn đề triết học) Политиздат M., 1989; Các giáo trình triết

học của А Г.Спиркин, kể cả giáo trình 2002; П.С Гуревич Филоcофcкая Антропология M., 2001; Современный филоcофcкий словарь xuất bản đồng thời tại 6 nước châu âu 1998 Ю.Г.Волков, В.С.Поликарпов Человек энциклопедический словарь M., 1999; Институт человека Филоcофcкo- энциклопедический словарь M., 2002

30 K.Marx Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844 K.Marx và F Engels Toàn tập Toàn tập, T

42, NXB Chính trị quốc gia, H., 2000 tr 234

31 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 220

32 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 673

Trang 37

tiếp là thực thể tự nhiên 33 Marx giải thích: với tính cách là thực thể tự nhiên, hơn nữa, lại là “thực thể tự nhiên sống”, con người, một mặt, được phú cho sức mạnh tự nhiên dưới hình thức các “năng lực” “thiên bẩm”, “năng khiếu” Nhưng mặt khác, con người còn “bị quy định và bị hạn chế” bởi những “đối tượng” tự nhiên bên ngoài nó, “những đối tượng không phụ thuộc vào nó” nhưng lại “cần thiết” và “căn bản” để nó thể hiện và khẳng định mình Cho nên về phương diện này, con người là “thực thể đau khổ” (Marx dùng lại thuật ngữ của L Feurbach, với hàm nghĩa là con người buộc phải chịu sự quy định của tự nhiên) Marx nói

rõ thêm: “Thực thể không có tự nhiên ở bên ngoài nó thì không phải là thực thể

tự nhiên, nó không tham gia vào đời sống của tự nhiên” 34

Có thể thấy đây là quan niệm rất sâu và có lẽ hơi khác với quan niệm hiện đại về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Hiện thời, ngay cả quan niệm

phát triển bền vững, một quan niệm chủ trương coi việc bảo vệ môi trường như

một thành tố đầu vào của sự phát triển xã hội và phát triển con người, cũng không xem tự nhiên là một cái gì đó lớn đến mức như Feurbach và Marx đã luận giải Dĩ nhiên, chúng tôi không nghĩ rằng các quan niệm hiện đại xem thường sức mạnh tự nhiên ngự trị trong và ngoài con người Bởi dễ thấy là, ngay cả hiện nay, khi khoa học tuyên bố đã lập được bản đồ gen người, con người vẫn không khỏi lúng túng trước những bí ẩn của căn bệnh HIV/AIDS và SARS Tuy nhiên, chính vì thế mới cần suy ngẫm, tại sao hơn một trăm năm trước, Phoiơbắc và Marx lại đề cao yếu tố tự nhiên trong sự tồn tại của con người đến thế, và ngày

nay, liệu có cần một lần nữa nhấn mạnh cái tự nhiên như thế hay không

Mặc dù tiếp thu quan điểm đề cao yếu tố tự nhiên trong sự tồn tại người của Phoiơbắc, song Marx không dừng lại ở tư tưởng của Feurbach, mà đi xa hơn

và hoàn chỉnh khái niệm con người của mình Marx viết: “Nhưng con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa

là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài” 35

Con người là thực thể tự nhiên có tính chất người - Có thể coi đây là định nghĩa khái niệm con người của Marx Theo chúng tôi, cả về mặt hình thức trình

33 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 232

34 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 232-233 (những chữ trong ngoặc kép là chữ dùng của Marx)

35 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 234

Trang 38

bày cũng như cả về mặt nội dung và tầm vóc của tư tưởng được diễn đạt, mệnh

đề này đều đáp ứng những yêu cầu khắt khe của một định nghĩa Tuy thế, hãy

tạm coi đây chỉ là một (trong những) định nghĩa khái niệm con người của Marx;

vì ta chưa thể biết một cách chắc chắn, liệu Marx còn có một định nghĩa nào khác hay không

Marx dùng khái niệm thực thể loài để diễn đạt tính chất người của con

người Marx giải thích: khác với các thực thể tự nhiên khác chỉ tồn tại một cách

tự nó, con người, một sinh vật có ý thức, tồn tại có mục đích - “tồn tại cho bản thân mình”; bằng cách lấy giới tự nhiên bên ngoài làm “đối tượng” của mình - cải biến giới tự nhiên “Chính trong việc cải biến thế giới vật thể, con người lần

đầu tiên thực sự khẳng định mình là một sinh vật có tính loài” “Hoạt động sinh

sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sinh sống của con vật Chính chỉ vì thế mà con người là một sinh vật có tính loài Hoặc còn có thể nói thế này: con người là một sinh vật có ý thức, nghĩa là đời sống của bản thân con người là một đối tượng đối với con người, chính chỉ vì con người là một sinh vật

có tính loài”36

Con người là thực thể loài, Marx nói rõ, không chỉ trong các hoạt động

nhận thức, mà cả trong các hoạt động vì sự tồn tại của nó Giới tự nhiên bên ngoài, “những đối tượng trực tiếp có sẵn trong tự nhiên”, tự nó, không luôn luôn phù hợp với con người Để đáp ứng nhu cầu tồn tại và nhu cầu nhận thức của mình, con người buộc phải sử dụng và cải tạo những đối tượng có sẵn trong tự nhiên Việc sử dụng và cải tạo như vậy không thể là công việc mang tính cá thể,

cá nhân mà là công việc mang tính loài, là “hoạt động loài” 37

Dĩ nhiên, Marx không quên phân biệt hoạt động cá nhân với hoạt động xã hội Nhưng theo Marx, tính loài của hoạt động người thể hiện ngay cả trong những hoạt động thuần túy cá nhân; hoạt động cá nhân cũng là một dạng của

sinh hoạt loài: “Cá nhân là thực thể xã hội Cho nên mọi biểu hiện sinh hoạt của

nó - ngay cả nếu nó không biểu hiện dưới hình thức trực tiếp của biểu hiện sinh

hoạt tập thể, được thực hiện cùng với những người khác - là biểu hiện và sự khẳng định của sinh hoạt xã hội Sinh hoạt cá nhân và sinh hoạt loài của con

36 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 234, 136, 137

37 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 234

Trang 39

người không phải là một cái gì khác biệt, mặc dù phương thức tồn tại của sinh hoạt cá nhân tất nhiên là một biểu hiện hoặc là đặc thù hơn, hoặc là phổ biến

hơn của sinh hoạt loài” 38

Khi phê phán lao động bị tha hoá, Marx còn nói rõ hơn về tính người thể hiện ở tính loài của con người: “Con người là một sinh vật có tính loài, không những với ý nghĩa là cả về thực tiễn cũng như về lý luận, con người biến loài, cả loài của mình cũng như loài của những vật khác, thành vật của mình”39

Cũng xin lưu ý, có một số tác giả cho rằng, do Bản thảo kinh tế - triết học

năm 1844 là tác phẩm chưa chín muồi về tư tưởng, nên quan niệm con người là

“thực thể có tính loài” ở đây khác với quan niệm con người bao gồm “những cá

nhân con người sống” trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức về sau Chúng tôi cảm thấy ý kiến này chưa thật thoả đáng Vì thứ nhất, Hệ tư tưởng Đức thực ra cũng chỉ sau Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 có hơn một năm, lúc Marx còn rất

trẻ, mới ngoài 20 tuổi đầu Thứ hai, nếu đọc toàn bộ đoạn Marx nói về những cá nhân con người sống với tính cách là “tiền đề hiện thực” của sự nghiên cứu 40, đem so sánh chỉ với ít ỏi những gì đã nói ở bài này về “con người là thực thể có tính loài”, thì cũng đủ thấy, hai quan niệm đó chẳng hề mâu thuẫn gì với nhau Ngược lại, chính việc nhìn con người như là thực thể có tính loài mới làm lộ ra

đó là “những cá nhân con người sống”, “những cá nhân hiện thực”, “hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ” là tiền đề hiện thực “mà

người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng” khi xem xét lịch sử, mà ở Hệ

tư tưởng Đức, lịch sử được C.Marx xem xét là “toàn bộ lịch sử nhân loại”

38 K.Marx Bản thảo Sđd., tr 171

39 K.Marx Bản thảo Sđd., 134

40 Nguyên văn đoạn Marx viết hơi khó hiểu: “Nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và

do đó là thực thể loài Nó phải biểu hiện và tự khẳng định như là thực thể loài trong tồn tại của nó cũng như trong tri thức của nó Như vậy, giống như những đối tượng có tính chất người không phải là những đối tượng tự nhiên dưới hình thức như những đối tượng này trực tiếp có sẵn trong tự nhiên, thì cảm giác của con người như nó tồn tại trực tiếp, trong tính đối tượng trực tiếp của nó, cũng không phải là cảm tính của con người, tính đối tượng của con

người Tự nhiên theo ý nghĩa khách quan, cũng như tự nhiên theo ý nghĩa chủ quan đều

không được đem lại một cách trực tiếp và phù hợp cho thực thể con người” K Marx Bản thảo Sđd., tr 234

Trang 40

Như vậy, kể từ quan niệm con người là động vật chính trị của Aristốt 41

(một quan niệm đã thấy khá rõ vai trò to lớn của yếu tố xã hội đối với tồn tại người), Marx đã một lần nữa trở lại dòng tư tưởng này, nhưng với trình độ sâu sắc hơn, triệt để hơn bằng cách mở rộng cái mà Aristốt gói gọn trong thuật ngữ

“chính trị” thành những nội dung phong phú trong các thuật ngữ “tính người”,

“tính loài” (đương nhiên, chúng tôi cũng hiểu thuật ngữ “chính trị” thời Aristốt không trùng khít với “chính trị” được hiểu như ngày nay) Không chỉ nhấn mạnh khía cạnh xã hội của sự tồn tại người như Aristote, Marx triển khai tư tưởng về

“tính người”, “tính loài” nhằm bổ sung, làm hoàn chỉnh hơn tư tưởng con người

trực tiếp là thực thể tự nhiên của Feurbach

Có thể nói không quá rằng, tất cả những gì mà ở trình độ ngày nay ta hiểu được về mối quan hệ tinh tế, phức tạp, phong phú giữa mặt xã hội và mặt sinh

học của sự tồn tại người, trên thực tế, vẫn hoàn toàn phù hợp với tư tưởng con

người là thực thể tự nhiên có tính chất người của Marx Khi đọc lại những dòng

sau đây của Marx, có thể thấy rõ, những gì mà hậu thế đã từng hiểu sai về mối quan hệ giữa cái sinh học và cái xã hội trong sự tồn tại người (hoặc là quá đề cao yếu tố sinh học, hoặc là vô tình thổi phồng vai trò yếu tố xã hội 42) đều không có

ở Marx: “Bản chất con người của tự nhiên (tức là “bản chất tự nhiên của con

người” - ở một đoạn khác chính Marx đã giải thích như vậy 43) chỉ tồn tại đối

với con người xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái khâu liên hệ con người với con người, mới là tồn tại của con người đối

với người khác và tồn tại của người khác đối với người đó, mới là nhân tố sinh

hoạt hiện thực của con người; chỉ có trong xã hội tự nhiên mới biểu hiện ra là cơ

sở của tồn tại có tính chất người của bản thân con người Chỉ có trong xã hội tồn

tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người đối

với con người và tự nhiên mới trở thành con người đối với con người” 44

Ngày đăng: 05/10/2014, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Georges Condominas, Không gian xã hội vùng Đông nam Á, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian xã hội vùng Đông nam Á
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
22. Grant Evans, Bức khảm văn hóa châu Á. Tiếp cận nhân học, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Grant Evans, Bức khảm văn hóa châu Á. Tiếp cận nhân học, Nxb. Văn hóa dân
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân "tộc
24. Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hoá, Nxb. CTQG. Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hóa và xây "dựng con người thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
25. Dương Phú Hiệp (2008), Triết học và đổi mới. Nxb. CTQG. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và đổi mới
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
Năm: 2008
26. Dương Phú Hiệp (2010), Một số khía cạnh lý luận và phương pháp nghiên cứu văn hóa và con người Việt Nam hiện nay, Nxb. CTQG. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khía cạnh lý luận và phương pháp nghiên cứu "văn hóa và con người Việt Nam hiện nay
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
Năm: 2010
27. Dương Phú Hiệp (2010), Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam, Nxb. CTQG. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn "hóa và con người Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
Năm: 2010
28. Hội thảo Khoa học: Vốn xã hội trong phát triển (Hà Nội, 24.6.2006). http://www.rced.com.vn 25/07/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Khoa học: Vốn xã hội trong phát triển
Năm: 2006
29. Huntington, Samuel S, Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huntington, Samuel S, "Sự va chạm của các nền văn minh, "Nxb. Lao động, Hà
Nhà XB: Nxb. Lao động
30. Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông - Gợi những điểm nhìn tham chiếu. Nxb Văn học, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương Đông - Gợi những điểm nhìn tham chiếu
Nhà XB: Nxb Văn học
31. I.T. Frolov (2002), Trở lại với con người, T/c Nghiên cứu Con Người, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở lại với con người
Tác giả: I.T. Frolov
Năm: 2002
32. Vũ Khiêu: Bàn về văn hiến Việt Nam, tập 1. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn hiến Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
33. Đặng Xuân Kỳ (chủ biên, 2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người, Nxb. CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa "và con người
Nhà XB: Nxb. CTQG
34. Ngụy Kiệt, Hạ Diệu, Bí quyết cất cánh của bốn con rồng nhỏ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bí quyết cất cánh của bốn con rồng nhỏ
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
35. Liên hợp quốc tại Việt Nam (2003), Các mục tiêu thiên niên kỷ. Xoá bỏ khoảng cách thiên niên kỷ. Báo cáo tiến độ thực hiện các MDG, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mục tiêu thiên niên kỷ. Xoá bỏ khoảng "cách thiên niên kỷ
Tác giả: Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2003
36. C. Marx và F. Engels, Toàn tập, t. 8 (1993), t. 20 (1994), t. 42 (2000). Nxb. CTQG. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Marx và F. Engels, Toàn tập, t. 8 (1993), t. 20 (1994), t. 42
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
Năm: 2000
37. McNamara, Robert (1995). Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và bài học Việt Nam. Nxb CTQG. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và bài học Việt "Nam
Tác giả: McNamara, Robert
Nhà XB: Nxb CTQG. Hà Nội
Năm: 1995
40. Phạm Xuân Nam (chủ biên), Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội trong phát triển. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã "hội trong phát triển
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
41. Phạm Xuân Nam (2005), Văn hóa vì phát triển. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vì phát triển
Tác giả: Phạm Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
42. Ngân hàng thế giới, Báo cáo phát triển thế giới 2003. Phát triển bền vững trong một thế giới năng động, Nxb. CTQG. Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển thế giới 2003. Phát triển bền vững "trong một thế giới năng động
Nhà XB: Nxb. CTQG. Hà Nội
27. Internet Encyclopedia of Philosophy. http//www. www.iep.utm.edu Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w