1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế

464 772 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 464
Dung lượng 6,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với công trình trên, cuốn Những thay đổi về văn hoá, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Dũng chủ biên, 2006

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á-BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG

QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

CNĐT : ĐỖ TIẾN SÂM

8119

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

1 Sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 10

CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI ĐÔNG Á

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 14

5 Một số giá trị văn hóa truyền thống 34

II Nhóm nhân tố bên ngoài 37

1 Sự tiến bộ khoa học – công nghệ và kinh tế trí thức 37

4 Vấn đề an ninh phi truyền thống 44

2 Những nhận thức và chủ trương, chính sách phát triển văn hóa 59

3 Thực trạng phát triển văn hóa và con người 70

II Sự phát triển văn hóa và con người ở Nhật Bản 77

1 Một số nhân tố tác động 77

Trang 3

2 Những chính sách phát triển văn hóa và con người 83

3 Thực trạng phát triển văn hóa và con người 89

II Sự phát triển văn hóa và con người ở Hàn Quốc 107

1 Một số nhân tố tác động 107

3 Thực trạng phát triển văn hóa và con người 122

CHƯƠNG BA

SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI

Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á 127

I Sự phát triển văn hóa và con người ở Vương Quốc Thái Lan 127

1 Một số nhân tố tác động 127

3 Thực trạng phát triển văn hóa và con người 146

II Sự phát triển văn hóa con người ở Malaysia 154

1 Một số nhân tố tác động 154

3 Thực trạng phát triển văn hóa và con người 182

III Sự phát triển văn hóa con người ở Singapore 189

3 Thực trạng phát triển văn hóa và con người 208

CHƯƠNG BỐN ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

215

I Đặc điểm cơ bản và tác động của văn hóa đối với sự phát triển bền vững 215

1 Một số đặc điểm cơ bản trong phát triển văn hóa Đông Á 215

II Đặc điểm cơ bản trong phát triển con người và tác động của nó đối

với sự phát triển bền vững

235

2 Tác động của phát triển con người đối với sự phát triển bền vững 250

Trang 4

CHƯƠNG NĂM BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

CHO VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CON NGƯỜI 270

I Bài học về sự bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc 270

1 Xác định di sản văn hóa như là tài sản văn hóa 270

2 Khai thác các giá trị của văn hóa truyền thống trên cơ sở gắn với đời sống hiện tại 273

3 Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc đi liền với mở rộng văn hóa ra thế giới 275

II Bài học về tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại 277

1 Nâng cao tính chủ động trong việc tiếp thu tinh hóa văn hóa nhân loại 277

2 Tiếp thu tinh hoa văn hóa ra thế giới một cách có chọn lọc, chống rập khuôn, máy

móc

279

3 Chú trọng đến việc phát huy lợi thế so sánh của mình để tạo nên sự ohats triển đa

dạng của nền văn hóa dân tộc

281

III Bài học về văn hóa ứng xử trong chính sách với môi trường, dân sinh, tôn

giáo và quan hệ quốc tế

284

1 Xác định bảo vệ môi trường là chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội 284

3 Đẩy mạnh ngoại giao văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế 289

IV Bài học về xây dựng đạo đức trong sản xuất, kinh doanh và quản lý 292

3 Xây dựng một nền hành chính lành mạnh thông qua việc phòng, chống có hiệu

quả tham nhũng

296

V Bài học về đào tạo nguồnd nhân lực, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài 299

2 Xây dựng và điều chỉnh chính sách phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu cua

công nghiệp hóa và phát triển kinh tế

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, đã và đang tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống nhân loại, trong đó có văn hóa và con người Chính vì thế, Liên hợp quốc, nhất là các tổ chức UNESCO và UNDP đã nêu lên nhiều sáng kiến kêu gọi các nước thảo luận nghiên cứu về vấn đề này

Trong khu vực Đông Á, các nước Đông Bắc Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia và Singapore cũng đã hoặc đang trải qua quá trình điều chỉnh hoặc cải cách nhằm thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế và khu vực Những kinh nghiệm của các nước này trong phát triển văn hóa và xây dựng con người sẽ có giá trị tham khảo hữu ích cho các nước đi sau Việt Nam nằm trong khu vực Đông Á, đang tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc phát triển văn hóa và xây dựng con người, đồng thời coi trọng tham khảo kinh nghiệm từ các nước, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Bởi lẽ:

(1) Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển;

(2) Con người luôn là trung tâm của sự phát triển hiện nay

Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Sự phát triển văn hóa và

con người ở một số nước Đông Á - bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận

vừa mang tính thực tiễn sâu sắc Đề tài cung cấp một cách tương đối toàn diện và hệ thống các quan điểm, giải pháp về sự phát triển văn hóa và xây dựng con người nhằm thích ứng với những biến đổi mới của tình hình ở một số nước Đông Á, qua đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chủ trương, chính sách phát triển văn hóa và xây dựng con

Trang 6

người ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế Ngoài ra, các sản phẩm của đề tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho cho việc nghiên cứu và giảng dạy các lĩnh vực có liên quan đến văn hóa và con người trong các trường đại học và các học viện của Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

a, Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Về mặt không gian, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào đối tượng là các quốc gia thuộc khu vực Đông Á chủ yếu gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Singapore… và đều chú ý

so sánh với Việt Nam ở những cấp độ khác nhau Về mặt thời gian, có thể chia làm hai giai đoạn nghiên cứu trước và sau Chiến tranh lạnh Các công trình thuộc giai đoạn thứ nhất, số lượng không nhiều và chủ yếu tiếp cận từ góc độ lịch sử nên thành quả nghiên cứu còn khiêm tốn

So với các công trình thuộc giai đoạn thứ nhất, số lượng các công trình thuộc giai đoạn hai nhiều hơn và đa dạng hơn về cách tiếp cận Sự đa dạng đã đem đến những thành tựu nghiên cứu đáng chú ý, đặc biệt các công trình này đã đặt đối tượng nghiên cứu vào quá trình hội nhập, từ đó gợi mở đưa ra một số kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo

Đối với hướng nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề giá trị châu Á, bài

viết Việt Nam trước những vấn đề của giá trị châu Á và châu Âu (Các giá

trị châu Á và sự phát triển ở Việt Nam, 2000) của tác giả Vũ Khiêu là một

trong số các công trình đầu tiên đưa ra vấn đề có hay không những giá trị

đặc thù của châu Á ở Việt Nam Tiếp đó, trong công trình Về giá trị và giá

trị châu Á (2006), tác giả Hồ Sĩ Quý, sau khi đặt sự phát triển văn hoá và

con người Việt Nam trong trường so sánh rộng rãi với giá trị Đông Á và phương Tây trong tiến trình hội nhập đã khẳng định: “Có thể coi bảng giá trị quan của người Việt Nam là một trong những bảng giá trị điển hình cho

Trang 7

những cộng đồng cư dân văn hoá Đông Á”1 Đây chính là những gợi mở khoa học để các công trình tiếp theo đi sâu hơn về vấn đề vai trò của giá trị Đông Á đối với sự phát triển của văn hoá và con người ở khu vực này

Trong đó, cuốn Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân lực thời kỳ

công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (Phạm Minh Hạc chủ biên, 2007)

được đánh giá là bước tiến mới trong nghiên cứu vấn đề phát triển văn hóa con người ở Việt Nam hiện nay Các tác giả nhấn mạnh, cần phải đề cao giá trị châu Á trong sự phát triển của xã hội hiện đại và sẽ là sai lầm nếu không chú ý thoả đáng đến sự khác biệt trong “nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hoá, đặc biệt, trong việc hoạch định các kế hoạch phát triển tiếp theo của các xã hội châu Á, trong đó có Việt Nam”2

Với quan điểm có phần khác biệt, tác giả Nguyễn Văn Dân trong công

trình Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá (2006), đã đưa ra

cảnh báo về mặt hạn chế của một số giá trị Đông Á, ví dụ như ý thức cộng

đồng trong việc cản trở óc sáng tạo chủ động của cá nhân Từ cách tiếp cận

sâu và lý giải sắc sảo, hướng nghiên cứu này cũng đã đạt được thành tựu khoa học đáng ghi nhận là khái quát rõ một số đặc trưng tiêu biểu của các giá trị Đông Á trong sự so sánh với phương Tây

Tuy nhiên, do hoặc tập trung vào phân tích các giá trị Đông Á, hoặc đi sâu vào vấn đề phát triển văn hoá và con người Việt Nam, hoặc tiến hành bao quát những vấn đề lí luận chung về văn hoá nên các công trình này chưa đi sâu và hệ thống vào các đặc điểm cụ thể của sự phát triển văn hoá và con người Đông Á

Gần đây, hướng nghiên cứu khái quát cục diện phát triển cũng như

vai trò của văn hoá và con người Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa

cũng đặt ra những vấn đề mang tính thời sự Mở đầu là các công trình tìm

hiểu về những thành công của các nước Đông Nam Á như: Đông Nam Á:

Triển vọng về sự liên kết và hợp tác khu vực (Phạm Đức Dương, 1995),

1 Hồ Sĩ Quý: Về giá trị và giá trị châu Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 208

2 Hồ Sĩ Quý: Về giá trị và giá trị châu Á, sđd, tr 206

Trang 8

Văn hoá Đông Nam Á (Nguyễn Tấn Đắc, 2005) Tác giả Phạm Đức

Dương đã đưa ra một sự hình dung sơ lược về Đông Nam Á như một khu vực chiến lược trong đó sức mạnh văn hoá và con người được coi là nhân

tố bền vững của sự liên kết khu vực và tiền đề cho sự phát triển toàn diện của mỗi nước và của cả khu vực

Đối với khu vực Đông Bắc Á, bằng những phân tích sâu sắc và cách tiếp cận tổng thể các tác giả đã khái quát được diện mạo văn hoá Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc những năm gần đây Đáng lưu ý là, trong chương

XI, XII, XIII, XIV của công trình Mỹ - Âu - Nhật - Văn hoá và phát triển

(2003), tác giả Đỗ Lộc Diệp đã đề cập những vấn đề liên quan đến đặc điểm văn hoá và sự phát triển của Nhật Bản trong mối tương quan chung với các quốc gia phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ và một số nước châu

Âu Khác với công trình trên, cuốn Những thay đổi về văn hoá, xã hội

trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á

(Dương Phú Hiệp, Nguyễn Duy Dũng chủ biên, 2006) và công trình Văn

hóa phương Đông - truyền thống và hội nhập (Mai Ngọc Chừ, Nguyễn

Quốc Anh, Đỗ Đức Định , 2006) lại tập trung vào việc tìm hiểu vai trò của văn hoá và con người châu Á trong sự phát triển của một số quốc gia trong khu

vực Trong bài viết Trung Quốc với quy hoạch quốc gia về phát triển văn hóa

thời kỳ 5 năm lần thứ 11(2006-2010) (2007), tác giả Đỗ Tiến Sâm đã trình bày

và phân tích những quan niệm mới của Trung Quốc về vai trò và tầm quan trọng

của văn hóa trong sự phát triển của đất nước này, theo đó văn hóa vừa cung cấp

động lực tinh thần cho sự phát triển, vừa là bảo đảm quan trọng cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội Văn hóa cùng với kinh tế và quốc phòng là tiêu

chí quan trọng để đánh giá sức mạnh tổng hợp của một đất nước

Thành công của hướng nghiên cứu thứ hai là đã khái quát được một cách khách quan tầm quan trọng cũng như những hạn chế cần khắc phục của văn hoá và nhân cách châu Á trong quá trình hội nhập quốc tế Song có thể thấy, các công trình nghiên cứu về sự phát triển văn hóa và con người ở

Trang 9

Đông Nam Á còn ít và chưa sâu

Hướng nghiên cứu thứ ba là các công trình đi vào lý giải về sự tác động cũng như những kinh nghiệm Việt Nam có thể học được từ sự phát triển văn hoá và con người ở một số nước Đông Á

Về kinh nghiệm phát triển văn hoá, các tác giả cuốn Xây dựng và phát

triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc do Nguyễn Khoa

Điềm chủ biên (2001), trong chương ba: Kinh nghiệm xử lý vấn đề văn hoá

ở một số nước trên thế giới đã nêu ra một số kinh nghiệm cụ thể ở Trung

Quốc và một số nước Đông Nam Á Trong phần 3 công trình Văn hoá vì phát

triển (Phạm Xuân Nam, 2005), tác giả đề cập đến những bài học lịch sử và

cá nhân đương đại; bài học giao lưu văn hoá xây dựng tương lai khu vực châu Á - Thái Bình Dương như những kinh nghiệm cần thiết đối với sự bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Về vấn đề phát triển và xây dựng con nguời, rất nhiều công trình đề cập tới kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc

và Trung Quốc như trong cuốn Phát triển văn hóa con người và nguồn nhân

lực thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước (Phạm Minh Hạc chủ

biên 2007), các tác giả nhấn mạnh tới sự tỉnh táo của Nhật Bản trong việc xác định “cái quyết định sự phát triển là con người” và bài học đánh thức tâm thế phát triển của cả một dân tộc của Hàn Quốc Từ góc độ phân tích

nguồn nhân lực, tác giả Nguyễn Dũng Anh trong bài viết Kinh nghiệm của

một số nước Đông Á về sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình toàn cầu hoá (2004) cũng đã trình bày một cách khá tường tận kinh nghiệm của một

số nước Đông Á về sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình toàn cầu hoá trên cơ sở đó nêu lên những gợi mở đối với Việt Nam Từ góc độ phân tích tổng thể chiến lược phát triển nhân tài của Trung Quốc, tác giả Nguyễn Thị

Thu Phương và Chử Bích Thu trong bài viết Đánh giá công tác phát triển

nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam (2007) cũng đề xuất một số bài học kinh nghiệm về bồi

dưỡng, đãi ngộ, sử dụng và tôn vinh nhân tài ở Trung Quốc mà Việt Nam

Trang 10

có thể tham khảo Hướng nghiên cứu này đạt được thành tựu khả quan trong việc đề xuất một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của các nước Đông Bắc Á, song phần viết về những kinh nghiệm từ các nước Đông Nam Á còn chưa nhiều

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam đều sử dụng phương pháp nghiên cứu đơn ngành, như phương pháp lịch sử - văn hóa Gần đây, một

số công trình nghiên cứu về các giá trị Đông Á, về văn hoá và sự phát triển của châu Á trong bối cảnh toàn cầu hoá lấy tâm lý học dân tộc làm trọng tâm, kết hợp với phương pháp liên ngành trong xã hội học và đã đạt được những thành tựu mới như: Lý giải văn hoá với tư cách là mục tiêu, động lực của sự phát triển; phân tích ưu điểm, hạn chế của các giá trị Đông Á; phân tích các kinh nghiệm phát triển văn hoá con người của một số quốc gia Đông Á đơn lẻ, nhưng hiện vẫn chưa có một công trình nghiên cứu tổng hợp chuyên sâu, mang tính so sánh nào nổi bật

b, Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Từ những năm 1990 của thế kỷ XX cho đến nay, vấn đề văn hóa, con người và phát triển văn hóa - con người đã trở thành một chủ đề được thảo luận nhiều trên các diễn đàn của các tổ chức quốc tế Tiêu biểu là các hội thảo, báo cáo của các tổ chức thành viên Liên hợp quốc như: Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) Hưởng ứng tích cực đối với vấn đề này, giới học thuật trên thế giới đã có nhiều hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Hướng thứ nhất chủ yếu tập trung vào tìm hiểu các vấn đề chung về con người và văn hóa của châu Á Thành tựu của khuynh hướng này là đã

bao quát được những đặc trưng cơ bản của văn hoá và con người châu Á

Cuốn Đông Á: Truyền thống và chuyển đổi (1989) của học giả John King

Fairbank là một trong số ít tác phẩm dành sự ưu tiên hàng đầu và sớm nhất

để nghiên cứu về lịch sử và biến đổi truyền thống của Đông Á qua bốn nước Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam Mới đây, Patricia

Trang 11

Buckley Ebrey, Anne Walthall, James B Palais, trong cuốn sách Đông Á:

Một lịch sử văn hóa, xã hội và chính trị (2005), đã đi sâu nghiên cứu về

văn hóa, chính trị, kinh tế và tri thức của khu vực Đông Á, mà cụ thể là của Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản với sự chú ý đặc biệt tới chủ đề con người và văn hóa vật chất Nhìn chung, các công trình nói trên đều nghiên cứu về Đông Á và các nước trong khu vực Đông Á từ góc độ lịch sử, vì thế

có hạn chế là mới chỉ dừng lại ở mô tả mà chưa có được những lý giải thuyết phục về sự phát triển của văn hóa và con người châu Á

Hướng nghiên cứu thứ hai mới xuất hiện trong những năm gần đây, chủ yếu đi vào lý giải nguyên nhân dẫn đến sự phát triển đầy năng động của khu vực Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sâu rộng Barbara

A Weightman trong cuốn Rồng và Hổ: Địa lý của Nam, Đông và Đông Nam

châu Á, (2001) đã tìm hiểu về Đông Á với phương pháp tiếp cận đa ngành

cùng nhiều nghiên cứu dày công về các nước Đông Á và Đông Nam Á và tìm hiểu những nguyên nhân thành công của các nước trong khu vực Đông

Á Tác giả cho rằng: Để kinh tế có bước tiến nhanh, bền vững như hiện nay, nhiều quốc gia Đông Á đã đầu tư thích đáng vào văn hóa và con người… Từ một góc nhìn khác, một số học giả đã đánh giá cao vai trò của truyền thống Nho học trong phát triển kinh tế - xã hội, trong quan hệ giữa văn hóa và chính trị, ngoài ra vấn đề khai thác và phát huy truyền thống văn hóa tạo động lực cho phát triển kinh tế cũng được nhấn mạnh Tiêu

biểu cho các công trình này là cuốn Truyền thống Khổng học trong Đông Á

hiện đại: Giáo dục đạo đức và văn hóa kinh tế tại Nhật Bản và bốn con rồng nhỏ (Tu Wei-ming (chủ biên), 1996), Tu Wei-ming và một số học giả

khác đã có một đánh giá cao về truyền thống Nho học trong Đông Á hiện

đại Warner, Malcolm và các tác giả khác trong cuốn Văn hóa và quản lý

tại châu Á (2003) lại lập luận: Văn hóa địa phương được coi là nhân tố

quan trọng trong việc hình thành các kiểu quản lý tại các nước châu Á khác nhau Hướng nghiên cứu này sử dụng phương pháp liên ngành một cách khá

Trang 12

hiệu quả, vì vậy, đã đưa ra được những phân tích và lý giải lý thú, đầy tính thuyết phục về những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự thành công của các quốc gia Đông Á trong những năm qua, trong đó vấn đề phát triển văn hoá và con người

được nhấn mạnh

Trực tiếp đi vào vấn đề toàn cầu hóa cùng với sự phát triển văn hóa

và con người cũng là đề tài được lưu ý và trở thành hướng nghiên cứu có nhiều thành tựu của các học giả phương Tây Xiaobing Tang và Stephen,

trong cuốn Đi tìm Văn hóa Đông Á đương đại (1996), đã có một khảo luận

về văn hóa Đông Á đương đại, trong đó các tác giả đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về văn hóa của Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa Jacques Hersh; Johannes Schmidt; Niels Fold đã đánh giá toàn diện và sâu sắc về quá trình phát triển và chuyển đổi xã hội trong

khu vực Đông Nam Á đầy năng động trong cuốn sách Biến đổi xã hội tại

Đông Nam Á do nhà xuất bản Peason ấn hành năm 1997 Trong cuốn sách

này, nhóm tác giả còn xem xét một số vấn đề cơ bản mà Đông Nam Á đang đối mặt về xã hội, văn hóa, chính trị, công nghiệp hóa và lao động

Còn Samuel S Kim (chủ biên) trong cuốn sách Đông Á và toàn cầu

hóa (2000), đã sử dụng cách thức phân tích cấu trúc về toàn cầu hóa trong

khuôn khổ Đông Á, khám phá các chiến lược mà các nước trong khu vực

sử dụng để đương đầu với toàn cầu hóa Tác giả đánh giá tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, sinh thái

và an ninh của Đông Á

Những nghiên cứu riêng biệt về từng nước cũng khá phong phú Wang

Gung-Wu trong cuốn Trung Quốc và Đông Nam Á – Những điều thần bí,

mối đe dọa và văn hóa (1999), đã tìm hiểu về giao lưu văn hóa giữa Trung

Quốc và Đông Nam Á hiện đại Timothy Daniels trong cuốn Xây dựng chủ

nghĩa dân tộc văn hóa tại Malaysia: Bản sắc, đại diện và công dân (2004)

nhìn nhận quá trình hình thành văn hóa công dân Malaysia, hình thành nên

Liên bang Malaysia T.J.Pempel (chủ biên) trong cuốn sách Vẽ lại bản đồ

Trang 13

Đông Á: Kiến lập khu vực (2005) đã lập luận Đông Á đạt được thành công

nhờ hợp tác chứ không phải là thù địch và sự phát triển trong “kiến lập khu vực” tại Đông Á gần đây đã có tác động tích cực cho nền chính trị thế giới

Tại châu Á, cụ thể là tại Trung Quốc, các học giả rất quan tâm tới việc

tìm hiểu kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Đông Á trong việc thực hiện thành công quá trình chuyển dịch từ nước nông nghiệp lạc hậu sang nước công nghiệp hiện đại nhằm từ đó gợi mở những những suy nghĩ về sự phát triển văn hoá và con người của Trung Quốc Tiêu biểu

cho hướng nghiên cứu này là tác giả La Vinh Khúc trong cuốn Bàn thêm về

hiện đại hoá - Tiến trình hiện đại hoá của Đông Á và Trung Quốc (1997),

đã đưa ra quan điểm coi văn hoá và con người là một động lực của tiến trình hiện đại hoá của Đông Á và Trung Quốc Tiếp đó, một số tác phẩm

như: Văn hoá phương Đông và văn minh hiện đại (Mã Mẫn, Trương Tam Tịch, 2001), Văn hoá tiên tiến và hiện đại hoá (Tào Vĩnh Hâm, 2007) tiếp

tục bàn về văn hoá với tiến trình hiện đại hoá của các nước Đông Á Tuy nhiên, văn hoá Đông Á là một khái niệm chung, khái niệm mở nên có rất nhiều quan điểm khác nhau Với cách lý giải khá thuyết phục, có nhóm học giả cho rằng, văn hoá Đông Á là hệ thống văn hoá mà hạt nhân là quan niệm giá trị Nho gia của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác Trong khi đó, học giả Trần Phong Quân lại tỏ ra cực đoan khi cho rằng, văn hoá Đông Á là văn hoá Nho gia

Trong quá trình toàn cầu hoá, các nhà nghiên cứu Trung Quốc rất quan tâm tới việc bàn sâu về các nhân tố văn hoá trong mối tương quan với con ng- ười Đông Á Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình: Khái quát văn hoá Trung Quốc (Quách Kiến Khánh, 2004), Khái yếu văn hoá sử Trung Quốc (Đường Ngọc Bình, 2004) Khái luận văn hoá (Thôi Phúc Xuân (chủ

biên), 2007), Hai cuốn Khái luận văn hoá và Hướng đi lịch sử của văn hoá

Trung Quốc (La Văn Quân, 2007), Sử cương văn hoá Trung Quốc (Phùng

Trang 14

Thiên Du,1994), Cương luận lịch sử văn hoá Trung Quốc (Hứa Kết, 2006),

Thành tố văn hoá trong hợp tác Đông Á (Lý Văn, 2005)

Xây dựng văn hoá tiên tiến, xây dựng con người toàn diện XHCN đặc sắc Trung Quốc là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và tạo nên một hướng nghiên cứu khác Đối với xây dựng văn hoá tiên tiến,

đáng chú ý là một số công trình: Nghiên cứu mấy vấn đề quan trọng trong

xây dựng văn hoá tiên tiến xã hội chủ nghĩa (Quách Kim Bình, 2006), Nghiên cứu tư tưởng văn hoá tiên tiến Trung Quốc (Vương Phượng Thắng,

2004), Nghiên cứu mấy vấn đề về xây dựng văn hoá tiên tiến (Lưu Uyên, 2005), Nghiên cứu xây dựng văn minh tinh thần XHCN Trung Quốc (Mạng

Thái Vân chủ biên, 2004) Dù có một số khác biệt, song hầu hết các học giả đều thống nhất với quan điểm: Xây dựng văn hoá tiên tiến có quan hệ chặt chẽ với xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, đề tài văn hoá tiên tiến xã hội chủ nghĩa chỉ là sự quan tâm của một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, còn nhìn chung, văn hoá và con người trong tiến trình hiện đại hoá luôn có những đặc trưng theo từng dân tộc và quốc gia Phát triển toàn diện con người cũng thu hút sự quan tâm của các nhà khoa

học Một số công trình như: Phát triển hài hoà xã hội và phát triển toàn

diện con người (Lưu Tượng, 2002), Xây dựng xã hội khá giả toàn diện và phát triển toàn diện con người (Dương Hưng Lâm, 2006), Nghiên cứu phát triển toàn diện con người và xây dựng xã hội hài hoà (Lệ Kiệt, 2006), Sự thay đổi và trỗi dậy lại của Đông Á – Tiến trình lịch sử hiện đại hóa Đông

Á (Lương Chí Minh, 2003), Phát triển văn hóa đương đại (Hứa Minh,

2008) Nhưng do con người ở mỗi nước Đông Á có sự khác biệt, nên việc xây dựng toàn diện con người đều xuất phát từ tình hình cụ thể của mỗi nước Những công trình theo hướng nghiên cứu này nghiêng về phân tích

lý luận và thành tựu của nó giúp cho người đọc hiểu rõ hơn quan điểm nhận thức của Trung Quốc về vấn đề phát triển văn hoá và con người đặc sắc Trung Quốc trong mối tương quan với các nước Đông Á

Trang 15

Toàn cầu hoá và văn hoá Đông Á nói chung và Trung Quốc nói riêng được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm Tác giả Đặng Trấn Quang

bàn về những tác động của toàn cầu hoá tới văn hoá Trung Quốc và việc

xây dựng văn hoá tiên tiến ở Trung Quốc qua cuốn Toàn cầu hoá và xây

dựng văn hoá tiên tiến (2006) Tuy vậy, các học giả bàn nhiều hơn tới chủ

đề sự hội nhập của văn hoá Đông Á hoặc sự xung đột hay giao lưu của văn hoá Đông Á trong bối cảnh mới

So với các công trình nghiên cứu của Việt Nam, điểm mạnh trong các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài nhất là phương Tây được thể hiện rõ trong việc đặt vấn đề, trong cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu mang tính hệ thống trên cơ sở những phương pháp liên ngành, so sánh, v.v…Bằng cách làm trên, các công trình đã tìm ra và lý giải một cách thuyết phục những nhân tố đem lại sự thành công của Đông Á trong lĩnh vực phát triển văn hoá và con người, đồng thời cũng phân tích thấu đáo những ưu điểm

và hạn chế của một số giá trị Đông Á truyền thống trong sự phát triển của văn hoá và con người khu vực Mặc dù, tính hệ thống của các công trình trên là tương đối cao, song cho tới nay vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về sự phát triển văn hóa và con người ở Đông Á

Có nhiều điểm tương đồng với các công trình nghiên cứu của Việt Nam trong việc tiếp cận và lý giải vấn đề, nhưng các công trình nghiên cứu của Trung Quốc luôn thể hiện rõ sự chủ động của các tác giả trong việc khẳng định đặc điểm văn hóa và con người ở mỗi nước Đông Á có sự khác biệt.Tuy nhiên, do hoặc chỉ chú trọng đến vấn đề phát triển văn hoá, hoặc chỉ chú trọng đến vấn đề xây dựng toàn diện con người châu Á, nên tính toàn vẹn của các công trình trên về các vấn đề nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài là chưa cao

Tóm lại, tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, cho đến

nay chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước Đông Á

Trang 16

trong quá trình hội nhập quốc tế, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam Sự phát triển văn hoá và con người Đông Á thường được các công trình thể hiện như là các luận chứng nhằm làm rõ hơn luận điểm chính của tác giả (ví dụ như chỉ tập trung vào các giá trị Đông Á chung chung mà không có

sự xâu chuỗi với sự phát triển chung của các nước Đông Bắc Á, Đông Nam

Á tiêu biểu, hay vấn đề những bài học kinh nghiệm với Việt Nam chưa được

đề xuất trong tính tổng thể (ví dụ như chỉ tập trung vào một quốc gia hoặc Nhật Bản, hoặc Trung Quốc)

Việc tìm hiểu, phân tích, mức độ thành công và chưa thành công của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nêu trên có tác dụng gợi mở

ở các cấp độ khác nhau cho đề tài trong định hướng nghiên cứu Đề tài sẽ

kế thừa các quan điểm khoa học chính sau: Lý giải văn hoá với tư cách là mục tiêu, động lực của sự phát triển; phân tích ưu điểm, hạn chế của các giá trị Đông Á trong mối tương quan với phương Tây khi hội nhập quốc tế; lý giải về các nhân tố tác động đến sự phát triển của văn hoá và con người Đông Á cũng như tác động trở lại của văn hoá và con người đối với sự phát triển bền vững của khu vực châu Á; các phân tích về kinh nghiệm phát triển văn hoá con người của các quốc gia Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) và Đông Nam Á (Malaysia, Thái Lan và Singapore) trong quá trình hội nhập quốc tế

Những điều trình bày trên cho thấy: Sự phát triển văn hóa và con

người ở một số nước Đông Á – bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế là một đề tài vừa có giá trị lý luận vừa mang

tính thực tiễn sâu sắc cần tiếp tục nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu

Một là, làm rõ một số nhân tố cơ bản tác động tới sự phát triển văn

hóa và con người ở một số nước Đông Á trong quá trình hội nhập quốc tế Những nhân tố đó cũng đang tác động đến sự phát triển của văn hóa và con người Việt Nam

Trang 17

Hai là, đánh giá khái quát một số nét cơ bản về thực trạng phát triển văn

hóa và con người ở một số nước Đông Á trong quá trình hội nhập quốc tế

Ba là, nêu lên một số đặc điểm cơ bản của sự phát triển văn hóa và

con người ở một số nước Đông Á

Bốn là, phân tích làm rõ vai trò và sự tác động của yếu tố văn hóa và

con người đối với sự phát triển bền vững ở một số nước Đông Á trong quá

trình hội nhập quốc tế

Năm là, rút ra một số bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham

khảo khi phát triển văn hóa và con người trong quá trình hội nhập quốc tế Bám sát mục tiêu và yêu cầu đặt ra, trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây, trong công trình này chúng tôi tập trung lý giải những nhân tố tác động đến sự phát triển văn hóa và con người; đồng thời sẽ đi sâu phân tích sự tác động trở lại của văn hóa và con người đối với kinh tế, chính trị và bảo vệ môi trường; trình bày tương đối hệ thống nhưng chọn lọc về thực trạng bao gồm cả những mặt được và chưa được trong phát triển văn hóa và con người ở một số nước Đông Á, sau đó rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình hội nhập quốc tế

4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

Cách tiếp cận: Công trình sử dụng cách tiếp cận từ góc độ khu vực

học, lịch sử, nhân học văn hóa Trên cơ sở đó đưa ra những đánh giá về thực trạng và đặc trưng của sự phát triển văn hóa và con người trong quá trình hội nhập quốc tế của một số nước Đông Á Sau đó, rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo

Phương pháp luận nghiên cứu:

Chủ nghĩa Mác – Lên nin ( Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử); các quan điểm của Đảng, Nhà nuớc và tư tưởng

Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người là phương pháp luận khi triển khai nghiên cứu;

Trang 18

Phương pháp nghiên cứu:

- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa sử học, văn hóa học, nhân học và khu vực học; phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh và trao đổi chuyên gia

Kỹ thuật sử dụng: Căn cứ vào mục tiêu và nội dung chính của đề tài,

công trình sẽ sử dụng các kỹ thuật chủ yếu như:

- Sưu tập tư liệu, nhất là tư liệu gốc viết bằng chữ của những nước

có liên quan (Trung Quốc, Nhật)

- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tư liệu;

- Tổ chức tọa đàm, v.v

5 Phạm vi và nội dung nghiên cứu:

Theo hợp đồng đã ký kết và trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước, đề tài giới hạn phạm vi và nội dung nghiên cứu như sau:

5.1 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, khái niệm Đông Á ở đây được đề tài xác định là khu

vực phía Đông của châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á Tuy nhiên, vì điều kiện thời gian và kinh phí, đề tài chỉ lựa chọn một số quốc gia mang tính chất đại diện

Ở khu vực Đông Bắc Á, đề tài lựa chọn ba nước: Trung Quốc, Nhật

Bản và Hàn Quốc là đối tượng nghiên cứu Trong khu vực này, Trung Quốc là một quốc gia lớn và có lịch sử, văn hóa lâu đời Vì vậy, khi hội nhập quốc tế, văn hóa của quốc gia này chịu sự “va đập” mạnh của văn hóa phương Tây Nhật Bản là quốc gia đã hội nhập từ khá sớm, kinh tế đạt được nhiều thành tựu, nhưng về mặt văn hóa cũng chịu sự tác động của văn hóa phương Tây Còn Hàn Quốc là một quốc gia đặc thù về địa lý, thể chế chính trị Đặc biệt, Nhật Bản và Hàn Quốc lại là hai quốc gia vẫn đang có

bộ phận quân đội Hoa Kỳ đồn trú, đã đưa lại những “va chạm” nhất định giữa hai nền văn hóa Đông – Tây

Trang 19

Ở khu vực Đông Nam Á, đề tài lựa chọn ba quốc gia là Thái Lan,

Malaysia và Singapore Trong ba quốc gia này, Thái Lan thuộc Đông Nam

Á lục địa, lấy Phật giáo là quốc giáo và thể chế chính trị quân chủ lập hiến với vai trò quan trọng của nhà Vua và Hoàng tộc Malaysia và Singapore là những nước thuộc Đông Nam Á hải đảo Tuy nhiên, Malaysia là quốc gia lấy Hồi giáo là quốc giáo, thể chế quân chủ lập hiến với vai trò to lớn của Quốc vương Singapore là quốc gia thành phố, trong đó 75 % là người gốc Hoa,

có truyền thống Nho giáo, nhưng đã nhanh chóng hội nhập quốc tế và trở thành một “con Rồng” trong bốn con Rồng Đông Á

5.2 Nội dung nghiên cứu

- Về nội hàm văn hóa và con người Có nhiều định nghĩa về văn hóa, tuy nhiên trong công trình này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa của Hồ Chí Minh về văn hóa Đây cũng là định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa của Việt Nam lựa chọn Người viết : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”1Trên cơ sở tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng đã nêu lên một số quan điểm chỉ đạo mang tính nguyên tắc phương pháp luận để phát triển văn hóa:

- Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tê – xã hội

- Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

1 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 431

Trang 20

- Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

- Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp phát triển lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng

Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm chỉ đạo của Đảng về văn hóa và phát triển văn hóa ngoài ý nghĩa phương pháp luận, còn có tác dụng giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài về phát triển văn hóa Điều này có nghĩa rằng, phạm vi nghiên cứu của đề tài là sự phát triển văn hóa và con người của các nước Đông Á được đặt trong mối tương quan với phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, đồng thời đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế của các quốc gia này

5.3 Bố cục

Căn cứ vào mục đích, yêu cầu và hợp đồng đã ký kết, bản Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài được chia thành 5 chương, bao gồm:

Chương một - Một số nhân tố cơ bản tác động đến sự phát triển văn

hóa và con người Đông Á

Chương hai - Sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước Đông

Bắc Á

Chương ba - Sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước Đông

Nam Á

Chương bốn - Đặc điểm và sự tác động của văn hóa, con người đối

với sự phát triển ở Đông Á

Chương năm – Bài học kinh nghiệm phát triển văn hóa và con người

Đông Á đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Trang 21

Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng, kiến thức của nhân loại là vô cùng

vô tận Vì vậy, mặc đã rất cố gắng, nhưng trong quá trình hoàn thành bản Báo cáo tổng hợp này vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp phê bình của các nhà khoa học

Hà Nội, ngày 25 - 4 -2010

TM Tập thể tác giả Chủ nhiệm Đề tài KX03/ 06 -12

PGS TS Đỗ Tiến Sâm

Trang 22

CHƯƠNG MỘT MỘT SỐ NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN

VĂN HÓA VÀ CON NGƯỜI ĐÔNG Á

Sự phát triển văn hóa và con người ở Đông Á luôn chịu sự tác động hay ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Để thuận tiện cho việc tiếp cận khi tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi tạm thời phân chia thành hai nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài Tuy nhiên, khái niệm “bên trong” và “bên ngoài” ở đây có ý nghĩa tương đối “Bên trong” được hiểu là bên trong khu vực, bên ngoài quốc gia “Bên ngoài” có nghĩa là bên ngoài quốc gia và khu vực

I NHÓM NHÂN TỐ BÊN TRONG

Có nhiều nhân tố bên trong tác động đến sự phát triển văn hóa và con

người của Đông Á Tuy nhiên, nổi bật trong số đó là các nhân tố: Sinh thái nhân văn, kinh tế, chính trị, xã hội và một số giá trị văn hóa truyền thống

1 Nhân tố địa lý sinh thái nhân văn

Văn hóa Đông Á gắn liền với một không gian có giới hạn gần như ổn định, có điều kiện địa lí riêng mang theo những khả năng và quy định nào

đó tạo nên những nét khác biệt của mỗi nền văn hóa, khu vực văn hóa trên hành tinh này Kết quả là từ những thách thức lớn lao thậm chí khắc nghiệt của tự nhiên và sự sống còn trong đấu tranh chống ngoại xâm, con người Đông Á đã kiên cường chống trả và sáng tạo ra nền văn hóa mang đặc trưng riêng, khác với văn hóa phương Tây

1.1 Điều kiện địa lí tự nhiên vùng Đông Á

Về mặt địa lý, Đông Á nằm ở bờ Tây Thái Bình Dương vừa có lục địa

gồm rừng núi và đồng bằng, vừa có biển đảo và bán đảo; là khu vực khí hậu gió mùa tương đối rõ rệt Khí hậu trải dài từ Bắc xuống Nam vừa có vùng hàn đới,

Trang 23

ôn đới và nhiệt đới1 Điều đó đã cho thấy tính đa dạng, chứ không phải tính thống nhất của những nước trong khu vực này

Đông Á nói chung là một khu vực nhiệt đới và Á nhiệt đới Đó là những vùng núi cao nối liền rừng và rừng rậm với độ nóng ẩm và mưa nhiều ở miền Nam Trung Hoa, vùng Insulinde xích đạo bạt ngàn cây cối sinh trưởng siêu nhanh ở Java - Indonexia

Mặt khác, ở vùng rộng lớn phía Bắc Trung Hoa là cánh đồng bao la bát ngát được tạo thành bởi đất phù sa mới bồi và đất lở với những mùa đông giá rét, sa mạc băng giá cùng với vùng Mãn Châu phủ kín cây rừng Cái rét như một thử thách hành hạ những con người ở đây Có những đợt rét kéo theo cả mưa tuyết rơi tràn cả xuống miền Nam nhiệt đới cách sông Dương Tử không xa, tới cả kinh đô Nam Tống xưa ở đất Hàng Châu

Về cội nguồn của Đông Á, xét từ điều kiện địa lí có thể thấy đó là khu

vực thuộc văn minh thực vật, nổi bật về đặc trưng thực vật rồi mới đến động vật Chẳng hạn về phương diện ẩm thực, thức ăn của người Trung Quốc, Indonexia, Thái Lan, Nhật Bản, rất ít dùng thịt, chất đạm chủ yếu cũng lấy từ thực vật lúa mì, kê ở Đông Bắc Á, còn ở Đông Nam Á chủ yếu

là gạo Ngoài ra, còn có đậu nành, hạt mù tạt, hay các loại dầu thực vật khác nhau, đã cung cấp chất protein cho con người khu vực Đông Á Trong

số những nước Đông Á, duy chỉ có nước Nhật Bản nhờ tiếp cận với phương Tây sớm, đã thay đổi rất nhiều về chế độ thực phẩm Người Nhật Bản đã tăng nhiều lần mức tiêu thụ chất đạm từ cá và thịt Điều này có tác dụng thay đổi đáng kể chất lượng cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần trí tuệ của nguồn nhân lực Nhật Bản sau này

Lúa gạo được trồng khắp nơi ở Đông Nam Á lên tới phía Nam Trung Quốc, điều này đã phổ biến hóa chế độ ăn thực phẩm là thực vật Lúa nước

1 Có tài liệu phân chia tỷ mỉ hơn, bao gồm: Hàn ôn đới, Trung ôn đới, Noãn ôn đới (ấm áp), Á nhiệt đới và Nhiệt đới Chỉ riêng về gió mùa, đã có sự khác nhau giữa “gió mùa

ôn đới” và “gió mùa nhiệt đới”

http://www.teachercn.com/ISal/Cydlja/2006-1/1/200601224719245_3.html

Trang 24

có ưu thế là được trồng trong khoảng không gian ổn định từ năm này qua năm khác và mãi mãi Phần lớn công việc nhà nông được làm bằng công cụ thô sơ, trâu bò được sử dụng tạo ra sức kéo khi cày bừa đất nặng nhọc, nhất

là ở những ruộng nước bùn Cùng với công việc trồng lúa, nghề làm vườn với sức lao động bằng tay cũng có mặt khắp nơi, trong điều kiện như vậy, việc ăn thịt sẽ là một sự phí phạm Súc vật và cả con người đều được nuôi bằng thóc gạo Con người cũng thích nghi với chế độ ăn các loại gạo đó

Hệ quả của chế độ canh tác lúa nước tạo ra sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tăng dân số rất nhanh ở khu vực Đông Á so với chế độ ăn thịt và sữa của các dân tộc du mục Chỉ cần một hecta có thể nuôi sống được từ sáu đến tám người nông dân với chế độ ăn thực phẩm từ thực vật Điều này cho thấy chế độ ăn thực vật là một trong những nguyên nhân đã tạo ra sự đột biến dân số tăng lên rất nhanh ở khu vực Đông Á, đặc biệt ở Trung Quốc và Indonexia, sớm tạo điều kiện hình thành nền văn minh lúa nước Cũng như Ấn Độ, số dân đông đảo của nước Trung Quốc là một minh chứng vững chắc của chế độ ăn thực vật Vào thế kỉ XI, XII, dân số Trung Quốc thực tế tăng lên đáng kể khi miền Nam Trung Quốc bắt đầu phổ biến trồng lúa, các loại lúa sớm hai vụ một năm Cuối thế kỉ XIII, dân

số Trung Quốc có khả năng đạt tới 100 triệu người Ngày nay, với số dân lên tới 1,3 tỷ người, gấp 13 lần số dân thế kỉ XIII, dù nền kinh tế có tăng trưởng cao, thì vấn đề tìm được loại thức ăn ngoài thực vật là một điều vô cùng nan giải Rõ ràng, số phận người Trung Quốc bị gắn chặt với “quyết định luận của nền văn minh trồng lúa” và phải kiên trì đi theo con đường mà nền văn minh này đã vạch ra cho họ Mặt khác, nói tới “nền văn minh trồng lúa”, đặc biệt những nơi trồng lúa nước, thì không thể không kể tới một hệ thống tưới tiêu “nhân tạo”, mang nặng những kỷ luật công dân, xã hội và chính trị

Ngoài việc lợi dụng nước và phù sa của những dòng sông, các cộng đồng người phương Đông đã biết sáng tạo ra hệ thống tưới tiêu gồm những

hồ chứa nước và hệ thống kênh đào khá hoàn chỉnh phục vụ trước hết cho

Trang 25

sản xuất nông nghiệp, sau đó là giao thông vận tải Ở Ấn Độ xa xưa, người

ta đã biết dùng hồ chứa nước và các con kênh đưa nước từ hai con sông Ấn

và sông Hằng tới khắp những chân ruộng vùng đồng bằng hai con sông này Còn ở Trung Quốc xưa cũng vậy, việc tưới tiêu được sáng tạo bằng mọi hình thức từ địa phương tới quốc gia, từ việc đào giếng, đào kênh dẫn nước tới việc đào con sông lớn “Đại vận hà” tạo thành “một trục dọc” Bắc - Nam nối liền hệ thống những con sông lớn chảy theo trục ngang Đông - Tây, đã hạn chế được lũ lụt thường xuyên xảy ra ở các vùng hồ Phiên Dương và Hồ Động Đình bên sông Dương Tử Với những con sông hung dữ

ở phía Bắc như Hoàng Hà, người Trung Quốc ngàn năm nay chống lại những trận lũ lụt thảm khốc thường xuyên xảy ra, bằng cách vừa khơi dòng chảy vừa phải đắp đê dọc dài theo hai bờ sông Khắp khu vực Đông Á, từ những vùng đất bằng ở Java, Philipin, Nhật Bản hay vùng Quảng Châu phía Đông Nam Trung Quốc, nhờ tre nứa mọc phổ biến thành rừng, người ta đã biết dùng các cây tre nối thành hệ thống dẫn nước, hoặc làm những “cọn nước” đưa nước từ nguồn rất xa về phục vụ cho việc tưới tiêu và sinh hoạt Tất cả công việc này được diễn ra theo những quy định chặt chẽ về lao động và nghiêm khắc về chế độ tưới tiêu buộc mọi người phải chấp nhận và tuân thủ Việc trồng lúa ở Đông Á chắc chắn xuất hiện từ Thiên niên kỉ thứ II trước Công nguyên, ở những vùng đất thấp dọc theo các con sông, dần dần được mở rộng ra những vùng đất có thể tưới tiêu được; thêm nữa kinh nghiệm sản xuất cũng được đúc kết đặc biệt là trong việc lựa chọn được các giống lúa chịu hạn, có năng suất cao và ngắn ngày… Từ đó, những cộng đồng cư dân ngày một lớn dần, từ gia đình, dòng họ tới quốc gia với một chế độ chính trị độc đoán, quan liêu, đại diện cho nhà nước là hệ thống những viên quan cai trị ở khắp vùng Đông Á Cố nhiên cội nguồn văn hóa lúa nước cũng còn nhiều vấn đề cần phải bàn; tuy nhiên, chưa bao giờ người ta quên tầm quan trọng thậm chí sự ràng buộc về hiện thực của một

Trang 26

nền văn minh lúa nước trong việc hình thành những giá trị văn hóa và sự phát triển con người ở khu vực Đông Á

Như trên chúng tôi đã nói, khu vực Đông Á còn ngút ngàn rừng núi

và mênh mông biển đảo Chỉ những vùng đồng bằng được tưới tiêu và trồng lúa nước tới trình độ thâm canh thì mới nhanh chóng thành vùng văn minh phồn thịnh, còn những vùng khác thì vẫn hoang dã, kém phát triển Nhất là vùng núi cao cách biệt, một số đảo là nơi cư trú của nhiều dân tộc ít người cùng các nền văn hóa nguyên thủy Các dân tộc thiểu số còn nhiều tập tục lạc hậu, phát rẫy đốt nương, trỉa lúa trồng ngô, tự cấp tự túc Tất nhiên, nền nông nghiệp nguyên thủy này không làm cho hàng trăm dân tộc còn lạc hậu phát triển lên được, nhưng ít ra cũng “chống đỡ” cho đời sống vật chất của họ và họ vẫn sống sót, tồn tại vất vả ở những vùng sâu vùng xa hoặc những vùng cao hẻo lánh

Một đặc điểm nữa của văn hóa Đông Á tiêu biểu như ở Trung Quốc

và Nhật Bản là sự bảo lưu đến bền vững của con người, xã hội và văn hóa

Ở Trung Quốc và Nhật Bản, việc thờ cúng tổ tiên và các thần tự nhiên vẫn tồn tại cho tới ngày nay thông qua các sinh hoạt lễ hội và có sự hòa nhập với các tôn giáo như Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo Việc tôn giáo cổ tồn tại dai dẳng được gắn chặt với cấu trúc về hệ thống thứ bậc gia đình và xã hội, đã tạo ra nét đặc trưng của nền văn hóa nguyên thủy Trung Hoa Đó là tính vĩnh cửu về tôn giáo được lồng thêm tính vĩnh cửu về xã hội và hai tính vĩnh cửu này lại được gắn chặt thêm vào nhau Chính điều này tạo nên sức sống và phát triển của văn hóa con người Trung Hoa cổ trung đại, cũng như của những quốc gia ở Đông Á chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc

1.2 Môi trường sống tác động đến sự phát triển văn hóa con người Đông Á trong thời hiện đại

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố xã hội, yếu tố vật chất do con người sáng tạo ra, có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người và xã hội loài người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn

Trang 27

tại, phát triển văn hóa xã hội con người và thiên nhiên Như vậy xem xét mối quan hệ của môi trường với con người và xã hội thì phải xem xét ba mối quan hệ chính: (1) Tác động của thiên nhiên tới xã hội con người (2)

Xã hội con người tác động tới thiên nhiên (3) Quan hệ giữa các nhóm xã hội liên quan đến môi trường

Môi trường là tiền đề và điều kiện phát triển văn hóa và con người Những tiền đề này bao gồm những điều kiện hình thành các trung tâm dân

cư, phương thức sản xuất, phân công lao động xã hội, trao đổi sản phẩm- giao lưu kinh tế văn hoá, hình thành các tập quán và lối sống

Trước hết môi trường là tiền đề hình thành các trung tâm dân cư và trung tâm văn minh của nhân loại và con người Đông Á nói riêng Từ trước khi học thuyết tiến hoá của Charles Robert Darwin ra đời, có một quan niệm phổ biến về nguồn gốc của loài người là sản phẩm của thần thánh Học thuyết tiến hoá của Darwin cùng với sự phát triển tri thức khoa học đã chứng minh: Con người có nguồn gốc tự nhiên - là sản phẩm của chuỗi tiến hoá tự nhiên Vì vậy, con người cần có tự nhiên để tồn tại và phát triển song hành với sự phát triển của tự nhiên Vật chất trong cơ thể con người là

do môi trường tự nhiên cung cấp: không khí con người hít thở, nước uống, thức ăn, nơi cư trú…, tất cả đều lấy từ tự nhiên Những khu vực mà trong môi trường tự nhiên thiếu một nguyên tố nào đó thì con người ở đó cũng thiếu nguyên tố tương tự Do đó môi trường là tiền đề đầu tiên, là điều kiện quan trọng cho sự hình thành những trung tâm dân cư, những trung tâm văn minh của nhân loại Con người đã tồn tại hàng triệu năm trên khắp trái đất nhưng chỉ đến cuối Thiên nhiên kỷ IV, con người mới thực sự bước vào thời kỳ văn minh Cuối Thiên niên kỷ thứ IIII, trên lãnh thổ châu Á và Bắc Phi đã xuất hiện 4 trung tâm văn minh sớm nhất của nhân loại: Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc Đã có nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra

sự dị biệt và tương đồng của các trung tâm văn minh này, song có một mẫu

số chung lớn phổ quát đó là các trung tâm văn minh này đều nằm trên lưu

Trang 28

vực của những con sông lớn chảy qua Đó là sông Nin ở Ai Cập, sông Tigrơ và Ơrơphat ở Luỡng Hà, sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc Chính sự bồi đắp của các con sông này đã tạo điều kiện sản sinh và nuôi dưỡng các nền văn minh đó Như vậy trong quá khứ, do có những tiền đề môi trường thuận lợi mà các trung tâm dân cư đã sớm hình thành ở khu vực Đông Á, con người Đông Á cũng đã sớm bước vào nền văn minh của nhân loại và xây dựng các nền văn minh ở Đông Á phát triển rực rỡ Hiện nay, yếu tố môi trường tự nhiên và môi trường xã hội là một trong những lợi thế để các nước trong khu vực Đông Á xây dựng và phát triển đất nước, Trung Quốc, Nhật Bản là những cường quốc

về kinh tế với những đô thị tập trung dân cư vào loại lớn nhất thế giới1

Bên cạnh điều kiện tiền đề hình thành nên các trung tâm dân cư và trung tâm văn minh, môi trường còn là một trong những nhân tố quan trọng hình thành phương thức sản xuất, phân công lao động trong xã hội Nhìn chung xã hội con người trải qua 5 phương thức sản xuất: Phương thức sản xuất cộng sản nguyên thuỷ, phương thức sản xuất Chiếm hữu nô lệ, phương thức sản xuất Phong kiến, phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, và tương lai là phương thức sản xuất Cộng sản chủ nghĩa (theo dự báo của các nhà tư tưởng Marxist) Tuy nhiên, do những khác biệt về môi trường so với các khu vực khác của thế giới, nên ở Đông Á đã hình thành nên một phương thức sản xuất riêng của mình trong bối cảnh chung của châu Á đó

là “Phương thức sản xuất châu Á” Đây là một trong những đóng góp tuy còn gây tranh cãi của K.Maxr sau khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển các nền văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Quốc, và các văn minh vệ tinh khác của hai trung tâm văn minh này Môi trường không những đã tác động đến việc hình thành phương thức sản xuất khu vực mà còn tác động đến sự phát triển phương thức sản xuất của mỗi cộng đồng dân cư, dân tộc

1 Có tài liệu cho biết, về mặt mật độ dân số, Đông Á là một khu vực có mật độ dân số tập trung nhất thế giới, chiếm khoảng ¼ dân số thế giới

http://www.teachercn.com/Ĩal/Cydlja/2006-1/1/200601224719245_3.html

Trang 29

Hiện nay, nhìn vào bức tranh chung ở Đông Á, các tộc người ở khu vực Đông Á đã trải qua bốn phương thức sản xuất: Công xã nguyên thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa và tương lai là Cộng sản chủ nghĩa Tuy nhiên nếu nhìn riêng biệt từng quốc gia, tộc người trong khu vực Đông Á lại cho ta cái nhìn sinh động về sự khác biệt phương thức sản xuất Trong khi người Nhật Bản, người Hán, người Hàn Quốc đã phát triển và đạt trình độ cao, ngược lại có nhiều tộc người thiểu số ở Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển thấp Xét trên khía cạnh quốc gia, giữa các nước Đông Á cũng thấy nhiều sự khác biệt Nhật Bản là quốc gia Đông Á đã đạt tới trình độ sản xuất tư bản rất cao trong khi đó Việt Nam và Triều Tiên vẫn trong giai đoạn xã hội nông nghiệp lạc hậu Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những sự khác biệt này, song không ai có thể phủ nhận được vai trò của môi trường sống đã tác động đến

sự hình thành và phát triển sản xuất của con người Đông Á nói riêng và nhân loại nói chung

Trong sự phát triển xã hội, con người luôn phải trao đổi hàng hoá, giao lưu kinh tế, văn hoá, xây dựng các phong tục tập quán và lối sống, tất

cả các yếu tố này luôn có mối liên hệ mật thiết với môi trường Môi trường

đã tạo điều kiện và thúc đẩy con người trao đổi sản phẩm và giao lưu kinh

tế văn hoá với nhau Vì vậy, để cho quá trình này ngày càng thuận lợi hơn, con người luôn không ngừng cải thiện môi trường phục vụ đời sống của mình Quá trình tác động qua lại giữa con người và môi trường đã tạo nên các phong tục, tập quán, lối sống Môi trường có vai trò định hình nên các đặc điểm văn hoá xã hội con người, vì vậy mà ngày nay chúng ta có thể thấy điều kiện môi trường tự nhiên ra sao thì văn hoá con người khu vực đó mang những đặc điểm tự nhiên như vậy

Môi trường là điều kiện và tiền đề cho sự phát triển của xã hội loài người, vì vậy môi trường luôn là một vấn đề lớn đặt ra đối với từng giai đoạn phát triển của con người trong lịch sử Vấn đề môi trường không chỉ

Trang 30

tồn tại trong xã hội hiện đại mà đã tồn tại trong lịch sử dưới nhiều hình thức:(1) Những cuộc chiếm đoạt trong lịch sử.(2) Vấn đề phát triển kinh tế thị trường trong xã hội hiện đại

Những cuộc phát kiến địa lý lớn đã diễn ra cuối thế kỷ XV - đầu thế

kỷ XVI, xuất phát từ nhu cầu tìm con đường biển sang phương Đông, với

hi vọng sẽ kiếm được nhiều vàng và của cải hơn, nói một cách khác là để tìm những nguồn tài nguyên mới phục vụ nhu cầu phát triển của tư bản phương Tây Các cuộc phát kiến địa lý đã tìm ra một lục địa mới là châu

Mỹ, mở ra con đường biển đến các châu lục và thúc đẩy các cuộc thám hiểm tìm ra các vùng đất mới Sau các cuộc phát kiến địa lý đã diễn ra các cuộc di chuyển cư dân trên quy mô lớn Thương nhân vội vã giành giật thị trường và các nguồn nguyên liệu ở các địa bàn mới Do nhu cầu chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống dẫn đến các cuộc xâm chiếm thuộc địa diễn ra mạnh mẽ đặc biệt là các cuộc xâm lược thuộc địa của các nước tư bản phương Tây đối với các nước châu Mỹ và phương Đông Các cuộc chiến tranh xâm chiếm thuộc địa đã làm xáo trộn môi trường tài nguyên thiên nhiên và xã hội ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Đông Á Các nước đi xâm lược đã khai thác và cướp đoạt tài nguyên, huỷ hoại môi trường xã hội của các nước thuộc địa Đông Á trong suốt hơn 4 thế kỷ Thế

kỷ XX đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ, các nước thuộc địa trên toàn thế giới trong đó có Đông Á, đã vùng dậy đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc mình làm sụp đổ hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới Bước vào những năm cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI, thế giới đang chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ của các nước trong khu vực Đông Á Một số nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc trở thành những nước có nền công nghiệp hiện đại Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ trở thành một trong những siêu cường của thế giới trên nhiều lĩnh vực, Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á khác đã và đang giành được nhiều thành tựu trong quá trình hiện đại hóa kinh tế - xã hội và

Trang 31

hội nhập Sự hợp tác trong khu vực và hợp tác song phương giữa các quốc gia được cải thiện, tăng cường ngày càng mạnh mẽ song vẫn còn đó sự tranh chấp giữa các phe phái, chiến tranh và những xung đột quốc gia, phe phái

mà chủ yếu đều có nguồn gốc từ những mâu thuẫn trong việc sử dụng tài nguyên

và môi trường Sự thiếu hụt về tài nguyên và môi trường dẫn đến sự tranh chấp

để mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia đạt được lợi ích tối đa về phía mình

Dù đã từng tồn tại trong lịch sử song không phải lúc nào vấn đề môi trường cũng trở nên nghiêm trọng không chỉ ở cấp độ quốc gia, dân tộc mà còn trở thành vấn đề của từng cá nhân Sở dĩ vấn đề xuất hiện và trở nên nghiêm trọng vì có sự can thiệp, lấn át của chức năng khác Con người đã khai thác và sử dụng tài nguyên thiên và xâm hại môi trường quá mức, lấn

át chức năng là không gian sống của tự nhiên và môi trường Sự bùng nổ dân số trong những thế kỷ gần đây của con người đã mở rộng quá mức không gian sinh sống Nhu cầu không gian sinh sống của con người đã lấn

át chức năng cung cấp nguyên liệu, thu hẹp không gian chứa đựng rác thải

Sự xâm hại của con người đối với môi trường qúa nhanh và nghiêm trọng làm môi trường cạn kiệt

Tại các nước Đông Á hiện nay đang diễn ra “xung đột môi trường” Thực chất đó là sự xung đột các chức năng của môi trường: Chức năng không gian sinh sống, cung cấp tài nguyên, chức năng chứa đựng rác thải

Sự xung đột các chức năng này điển hình là các cuộc tranh chấp nguồn nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác Theo Liên hợp quốc, đến năm 2025, một nửa số quốc gia trên thế giới sẽ phải đối mặt với khủng hoảng về nước và tình trạng thiếu nước sử dụng sẽ trở nên cấp bách Hiện nay, trên thế giới cứ 6 người thì có 1 người (tỷ lệ 1/6 dân số thế giới - hơn một tỷ người) không có đủ nước dùng Sự tranh chấp điển hình gần đây tại khu vực Đông Á đó là tranh chấp nguồn nước tại thượng lưu sông Mekông Với chiều dài hơn 4.800 km chảy qua 6 nước Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam Sông Mê Kông đoạn ở Trung Quốc gọi là

Trang 32

sông Lan Thương, có lưu vực khoảng 795.000 km²; Thái Lan và Lào chia

sẻ diện tích lớn nhất của Mê Kông ở Đông Nam Á, tương ứng 23% và 25%, trong khi Lào sở hữu lưu lượng nước cao nhất trong vùng từ con sông này, khoảng 35% Việt Nam, quốc gia có mật độ dân cư cao nhất vùng (236 người/km²), nhưng được hưởng lưu lượng nước thấp nhất vùng, khoảng 8% Đối với những con sông “đa quốc gia” như Mê Kông, mối quan hệ giữa những quốc gia ở thượng nguồn và hạ nguồn khá căng thẳng và những quốc gia

ở thượng nguồn thường có lợi thế hơn trong việc tranh chấp Vì thế, Ủy ban sông Mê Kông ra đời tháng 8 năm 1995, là sự hợp tác của 4 nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam trong việc chia sẻ nguồn nước từ sông này

Sông Mê Kông sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức trong thời gian tới khi hơn 21% lưu vực bị xói mòn, 31% rừng đầu nguồn bị phá hoại Sự gia tăng dân số hơn 2% trong vòng 50 năm tới, kết hợp với sự biến đổi về môi trường, sự ô nhiễm sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng chảy, môi trường sống, số lượng cá, sức khỏe cộng đồng và phương kế sinh nhai của hàng triệu người sống dựa vào con sông này

Ngoài ra, một thách thức đến từ 2 nước không phải là thành viên của

Ủy ban sông Mê Kông là Trung Quốc và Myanmar, trong đó Trung Quốc với chương trình xây dựng những con đập lớn, nắn lại dòng chảy của Mê Kông sẽ gây ra mâu thuẫn trong các nước cùng chung một dòng sông này Tình hình nguồn nước ở Việt Nam cũng là vấn đề đáng quan tâm Với mạng lưới sông ngòi chằng chịt từ Bắc chí Nam, những tưởng Việt Nam không thể thiếu nước, tuy nhiên, thực tế trái lại Ngày “Nước thế giới” 22-3, Việt Nam chính thức bị loại khỏi danh sách những quốc gia giàu có về nước Bên cạnh tranh chấp về nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác, vấn đề rác thải gây ô nhiễm hiện nay thực sự là rất nghiêm trọng tác động đến môi trường sống Đông Á hiện nay là một khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới, quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh chóng, do trình độ khoa học kỹ thuật còn lạc hậu và ý thức bảo vệ môi trường còn

Trang 33

kém vì vậy rác thải gây ô nhiễm đang là vấn đề lớn đối với các nước trong khu vực Xung đột môi trường bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Tuy nhiên

có thể chỉ ra một vài nguyên nhân đó là: Xung đột nhận thức môi trường, xung đột mục tiêu sử dụng môi trường, xung đột lợi ích - liên quan đến bất bình đẳng môi trường, xung đột quyền lực trong xử lý các tranh chấp về môi trường Tìm hiểu rõ, phân tích đúng các nguyên nhân này mới giúp cho các quốc gia giải quyết các vấn đề liên quan đến xung đột môi trường đang

đe doạ sự tồn tại và phát triển xã hội

Ngoài việc đối diện với các vấn đề cũ tồn tại trong mỗi một cộng đồng, quốc gia, thế giới nói chung và khu vực Đông Á nói riêng còn đang phải giải quyết những yếu tố mới đe dọa an ninh môi trường, đe doạ đến sự phát triển văn hoá con người Đông Á Trong tuyên bố của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 1992 khẳng định: “Nguồn gốc của sự bất ổn về kinh tế,

xã hội, nhân văn và sinh thái đã trở thành mối đe doạ với hoà bình và ổn định” Báo cáo tại Thượng viện Mỹ chỉ ra “Sự tăng trưởng dân số và các sức ép từ vấn đề môi trường sẽ bùng lên thành rối loạn xã hội quy mô lớn làm cho thế giới rất dễ bị tổn thương bởi sự bất đồng quốc tế nghiêm trọng” Những yếu tố mới đe dọa an ninh môi trường, đe dọa đến sự phát triển văn hóa con người đó là: (1) Khủng hoảng môi trường và biến đổi khí hậu (2) Tranh chấp tài nguyên, tranh chấp môi trường và bất đồng giữa các quốc gia về phân chia tài nguyên (3) Khủng bố, xâm lược sinh thái và ô nhiễm xuyên biên giới

Việc đối phó với những yếu tố môi trường đòi hỏi sự hợp tác đa phương,

sự chung tay của nhiều quốc gia, thậm chí là toàn khu vực và cả thế giới

Trang 34

và cả các nước phát triển Tấm gương công nghiệp hóa thần tốc của Đông

Á cho tới nay vẫn là liều thuốc kích thích, gây ấn tượng mạnh với các nước

đi sau:

- Không nhất thiết phải đi qua hàng trăm năm tích lũy và xây dựng tư bản chủ nghĩa như châu Âu, các nước đi sau có thể nhanh chóng tiến tới thịnh vượng và phồn vinh trong một xã hội công nghiệp

- Không nhất thiết phải có nguồn lực tự nhiên giàu có và đa dạng, trong xã hội hiện đại, con người và văn hóa chính là những nguồn lực quan trọng và đóng vai trò quyết định

- Không nhất thiết phải chịu sự trói buộc của thực trạng kinh tế, hoặc chỉ là “đầu ra” của nền kinh tế, ngày nay, giáo dục là nền tảng và là phương thức tạo ra nguồn lực phát triển - “Tri thức đẻ ra tri thức, tri thức là thứ lấy không bao giờ cạn” (Alvin Toffler)

- Không nhất thiết hiện đại hóa phải đồng nhất với phương Tây hóa,

các nước đi sau có thể và cần phải tìm những con đường riêng của mình để trở thành một xã hội hiện đại

- Không nhất thiết phải phá bỏ các giá trị cũ hoặc “cứng nhắc rập khuôn” các giá trị mới, trong tương quan với các giá trị ngoại sinh, giá trị truyền thống có thể hóa thân thành sức mạnh mới - hiếu học, cần cù, đồng thuận và trách nhiệm xã hội… là những giá trị không bao giờ cũ

Cần phải nói vắn tắt về lịch sử kinh tế của “bốn con rồng” này để thấy

rõ những điều gây ấn tượng vừa nêu

Trang 35

Vào năm 1960, GDP (thực tế) của Hàn Quốc mới chỉ là 87 USD/người, Đài Loan:170 USD/người, Singapore: 427USD/người, Hong Kong:

1631 USD/người Lúc đó tất cả đều không khác mấy những làng quê nghèo, nóng lạnh vì những vấn đề chính trị độc đoán và Singapore thì liên tục chao đảo vì những cuộc bạo loạn sắc tộc đẫm máu Sau gần hai thập niên, GDP của Singapore năm 1985 là 10.811 USD/người, Hàn Quốc năm 1988 là 8.934 USD/người, Đài Loan năm 1987 là 9.992 USD/người, Hong Kong năm 1990 là 9.896 USD/người Nghĩa là đã vượt qua ngưỡng bị coi là nước nghèo (960 USD/người theo tiêu chuẩn của Liên hợp quốc, hoặc 875 USD/người theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới) Không rơi vào cái bẫy của sự phát triển và cũng không dừng lại ở đó, các nước và lãnh thổ này tiếp tục phát triển và trở thành các nền công nghiệp mới (NICs/NIEs) Đến năm 2005, GDP (tính theo sức mua tương đương: PPP- Purchasing Power Parity) của Hàn Quốc đã là 22.029 USD/người, HongKong là 34.833 USD/người, Singapore là 29.663 USD/người GDP của Đài Loan năm 2001 là 19.200 USD/người Chỉ số phát triển con người (HDI) ở các nước và vùng lãnh thổ này cũng rất cao: Theo Báo cáo phát triển con người 2007/2008 thì Hong Kong có chỉ số HDI là 0,937, xếp hạng 21/177 nước; Singapore - HDI là 0,925, xếp hạng 25/177 nước; Hàn Quốc - HDI là 0,921, xếp hạng 26/177 nước1

Cần nói thêm rằng, Singapore là một quốc gia độc lập, nhưng chỉ là một đảo quốc, có diện tích và dân số thua kém nhiều thành phố của các nước khác Tuy vậy, với nền kinh tế mở, năng động vào loại bậc nhất thế giới, có sự kiểm soát, điều tiết vĩ mô rất nghiêm ngặt, từ giữa thập niên

1980 trở lại đây Singapore là trung tâm tài chính thứ tư của thế giới sau New York, London và Tokyo "Con đại bàng tài chính phương Đông" này

Trang 36

là trung tâm dịch vụ, thương mại của hầu hết các công ty đa quốc gia trên thế giới, đồng thời là thị trường trao đổi ngoại tệ bậc nhất toàn cầu, mỗi ngày lượng ngoại tệ trao đổi lên đến hơn 100 tỷ USD Trên thực tế, tiếng nói của đảo quốc bé nhỏ này nhiều khi ngang ngửa với một cường quốc Còn Hong Kong, từ năm 1997 đã trở về với Trung Quốc; tuy từ đó nền kinh tế của đặc khu này có nảy sinh một số vấn đề nhất định, song vị trí quốc tế của Hong Kong vẫn rất lớn và cũng như trước năm 1997, Hong Kong vẫn là “con gà đẻ trứng vàng” của người Trung Quốc 1

Thật dễ hiểu tại sao sự lớn mạnh của các nền kinh tế NICs/NIEs lại thường xuyên được chú trọng phân tích và tìm hiểu, mặc dù các nước này luôn bị phương Tây phê phán là độc tài, thiếu dân chủ hoặc có sự can thiệp của giới quân sự2 Khoảng đầu những năm 1990, chính sự phát triển thần

kỳ của các nước và lãnh thổ này đã là nguyên nhân khiến các quan chức và giới kinh doanh Mỹ bị chỉ trích nhiều về việc không bắt chước thành công của mô hình châu Á

Truy tìm nguyên nhân của sự thần kỳ Đông Á, dĩ nhiên là phải phân tích vai trò của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội… Dễ thấy đây là khu vực suốt nửa thế kỷ nay luôn được hưởng lợi từ các dòng vốn Những năm 60-70 thế kỷ XX, các nước thân Mỹ ở vùng này còn được hưởng lợi từ cuộc chiến tranh Việt Nam - ông Lý Quang Diệu cho rằng: “Cuộc chiến

Việt Nam đã đem lại cho các nước phi Cộng sản thời gian và điều kiện để

các nước này đi theo con đường của Nhật và phát triển thành bốn con rồng…” 3 Ý kiến này, theo chúng tôi, cũng chẳng có gì là xa sự thật

Trang 37

Tuy nhiên, ngoài các nguyên nhân vừa nói, điều đáng lưu ý là, hai chục năm nay, các học giả phương Tây lại chú ý nhiều đến những nguyên

nhân thuộc về văn hóa và con người tác động qua lại với nhau Ở đây là sự

tác động của những nét đặc thù về con người và văn hoá Đông Á từ góc độ

người lao động và những người quản lí

Chất lượng người lao động ảnh hưởng hết sức lớn đến sự phát triển kinh

tế Những nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia thường là nặng về lao động thủ công giản đơn, tỷ lệ lao động tay nghề cao ít, nên hạn chế trong việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển kinh tế Những người quản lí không chỉ giỏi về khả năng nắm bắt, dự báo những quy luật phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà còn của cả khu vực Đông Á và thế giới Những người quản lí còn phải đưa ra được những đường lối, chính sách phù hợp thúc đẩy phát triển kinh tế từ vi mô đến vĩ

mô Đây là một nhân tố quan trọng thúc đẩy trực tiếp sự vận hành và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa và con người trong mỗi thành viên của khu vực Đông Á (tất nhiên phải là đường lối đúng) Những người quản lí còn cần có nghệ thuật quản lí, tạo ra thương hiệu và danh dự của công ty cũng như biết quan tâm đến đời sống của người lao động để có thể tạo ta sức mạnh tổng hợp, sự đồng thuận lớn nhất trong mục tiêu phát triển công ty Điều này các nước đang phát triển có thể học tập được mô hình tổ chức công ty từ các nhà quản lí Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan… Như vậy, xét về các yếu tố của kinh tế như vốn, tài nguyên, kỹ thuật

và con người với tư cách chủ thể tác động và vận hành nền kinh tế thì vai trò con người và văn hóa của nó là hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế Đấy là chưa nói tới mục đích tốt đẹp của phát triển kinh tế không phải là lợi nhuận mà là vì con người

Có thể có ý kiến cho rằng, văn hoá không phải là tất cả, rằng sự phát triển kinh tế trước hết phải được lý giải bằng nguyên nhân kinh tế Đúng là

sự phát triển kinh tế trước hết cần được lý giải bằng nguyên nhân kinh tế,

Trang 38

song cái đầu tiên không phải là cái cuối cùng, mà cái cuối cùng mới là quan trọng Văn hoá tuy không phải là tất cả, nhưng nó bao quát hết tất cả Mọi cái liên quan đến con người đều thuộc về văn hoá Văn hoá vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Nguyên nhân kinh tế thường chỉ là nguyên nhân trực tiếp, còn nguyên nhân văn hoá mới là nguyên nhân gốc, chi phối nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân chính trị v.v…

Nhìn từ lịch sử phát triển kinh tế, kinh tế thế giới và khu vực Đông Á luôn luôn dao động; hậu quả của những biến đổi kinh tế, cho dù là dài hay ngắn, nặng nhay nhẹ đi về phía này hay phía kia, thì đời sống kinh tế của nhân loại và khu vực Đông Á hầu như chưa bao giờ tạo ra được dư thừa Điều này trở thành những bức xúc thường nhật cũng như khát vọng ngàn đời của các cộng đồng dân tộc trên thế giới Nó cũng phù hợp với mục tiêu của văn hóa vì con người mà nhiều cộng đồng Đông Á đang hướng tới Điều cần được quan tâm và nhấn mạnh ở đây là nhờ kinh tế phát triển, các quốc gia Đông Á có điều kiện vật chất đảm bảo cho phát triển văn hóa

và con người Thực tiễn cho thấy, các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore v.v…, đã có điều kiện huy động nguồn đầu tư khá lớn (cả Nhà nước và tư nhân) cho phát triển văn hóa, nhất

là những sản nghiệp văn hóa có hàm lượng trí tuệ cao Nhật Bản từ năm

1995 đã xây dựng sách lược chấn hưng văn hóa, trong đó xác định phương châm “văn hóa lập quốc” của thế kỷ 21 Năm 2004, sản phẩm của ngành truyện tranh, hoạt hình của Nhật Bản chiếm 65 % thị trường thế giới, 80% thị trường châu Âu Sản phẩm văn hóa của Nhật Bản xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ gấp 3 lần xuất khẩu sản phẩm thép1 Hàn Quốc năm 1998 cũng đã đề xuất phương châm “văn hóa lập quốc”, nêu mục tiêu trở thành một nước lớn về văn hóa, cường quốc kinh tế tri thức vào thế kỷ 21 Trong

kế hoạch 2001-2010, Hàn Quốc đã đầu tư 20 tỷ (Won) cho xây dựng 10

1 Xem thêm “Sự phát triển của sản nghiệp văn hóa Nhật Bản”

Http://ww.itrade.org.cn Article.phg?antoid

Trang 39

công viên sản nghiệp văn hóa, 5 tỷ Won cho xây dựng 10 công viên sản nghiệp văn hóa truyền thống, 30 tỷ đầu tư cho xây dựng 1 đến 2 khu sản nghiệp văn hoá tổng hợp2 Phương châm đầu tư được xác định là: Chính quyền địa phương là chính, Chính phủ Trung ương hỗ trợ, động viên dân gian tham gia Còn Singapore, từ năm 2001 cũng đã đặt vấn đề xây dựng

thành phố phục hưng văn nghệ, nhằm biến Singapore thành thành phố nghệ

thuật thế giới, thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới3 Ở Singapore, hiện có khoảng hơn 500 đoàn biểu diễn nghệ thuật dân gian Mỗi năm, Chính phủ cấp 10 triệu Đôla Singapore cho Ban quản lý nghệ thuật quốc gia, để trợ cấp cho biểu diễn, xây dựng sân khấu, qua đó duy trì

và phát triển của các đoàn biểu diễn nghệ thuật nêu trên

Như vậy, nhờ kinh tế phát triển, một số quốc gia Đông Á đã có điều kiện đầu tư cho phát triển văn hóa Xét đến cùng, kinh tế vẫn là nhân tố quyết định đến sự phát triển, bao gồm cả phát triển văn hóa và con người Tuy nhiên, nếu phát triển kinh tế mà chỉ quan tâm thuần túy đến tăng trưởng, chạy theo tốc độ tăng trưởng thôi thì chưa đủ Sự tăng trưởng đó chưa dẫn đến phát triển, hay còn gọi là tăng trưởng không phát triển

3 Nhân tố chính trị

Thể chế chính trị (chính thể) là hình thức tổ chức chính quyền nhà nước Nói chung gồm hai nội dung: Một là, vấn đề kết cấu, trình tự tổ chức

và sự phân phối chức quyền của cơ quan quyền lực quốc gia; hai là,

nguyên tắc tổ chức cơ cấu nhà nước

Thể chế chính trị bao gồm nhiều thể chế phụ thuộc như các thể chế về lập pháp, hành pháp, tư pháp

Chức năng của thể chế chính trị là nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội, cơ bản là thống nhất hành động chung của các công dân, ổn định và đảm bảo

2 Xem thêm “Chiến lược và biện pháp phát triển sản nghiệp văn hóa của Hàn Quốc”

Http://bbs.cnave.com.news.viewnews.php?new-id=22884year =2003

Http://Zhongman.com.cul/ưhzh/200904/4003html

Trang 40

trật tự công cộng trong xã hội Đó là vì nhu cầu chung của cá nhân và xã hội, vì xã hội chỉ là xã hội khi trong đó mỗi cá nhân được tồn tại và phát triển, khi mỗi thành viên xã hội đều có những hành động chung nhất và sống trong trật tự

Văn hóa chính trị là tổng hợp những giá trị được hình thành trong thực tiễn chính trị, góp phần chi phối hoạt động của các cá nhân, các nhà chính trị, nhóm xã hội định hướng cho phong trào chính trị nền chính trị

- Chức năng văn hóa chính trị: Điều chỉnh các quan hệ xã hội – chính trị, định hướng phẩm hạnh của con người vào các giá trị lí tưởng đã được lựa chọn, đẩy mạnh xã hội hóa về chính trị, làm cho mọi công dân tham gia tích cực vào đời sống chính trị, nâng cao nhận thức của con người trong sáng tạo chính trị

Lĩnh vực chính trị là lĩnh vực đặc biệt của xã hội có giai cấp Trong xã hội phong kiến phương Đông, các nước Đông Á đã xây dựng cho mình hoặc học theo của nước phát triển trong khu vực chế độ quân chủ chuyên chế Mặc dù có những hạn chế nhưng không thể phủ nhận chế độ phong kiến đã tạo ra được một mô hình xã hội trật tự có kỉ cương nền nếp, nêu cao phẩm chất đạo đức của con người…, chế độ này đã ổn định tới 2000 năm

Nó tạo ra được chế độ quan văn và sự thống nhất tư tưởng và hành vi văn hóa từ Trung ương đến địa phương thông qua số lượng quan lại rất nhỏ mà cai trị nhân dân rất hiệu quả…

Trong thời đại ngày nay, các quốc gia Đông Á tổ chức nhà nước theo hai mô hình:

Một là, mô hình hệ thống chính trị theo các nước tư bản phương Tây

Hệ thống chính trị ở các nước này bao gồm các chủ thể quyền lực là: Bộ máy lập pháp, bộ máy hành pháp và bộ máy tư pháp tách rời nhau, cùng các nhóm lợi ích, các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc bầu cử và vai trò của quần chúng trong hoạch định chính sách nhà nước, các đảng trị

Ngày đăng: 05/10/2014, 14:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Dũng Anh, Kinh nghiệm của một số nước Đông Á về sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình toàn cầu hoá, Tạp chí Khoa học chính trị, số 1, tr. 58-63, Tp. Hồ Chí Minh , 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm của một số nước Đông "Á "về sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình toàn cầu hoá
2. Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng, Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc nghiên cứu con người và phát triển con người ở nước ta hiện nay, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 9 (249) tr. 3-11, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vào việc nghiên cứu con người và phát triển con người ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thuý Hằng
Nhà XB: Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội
Năm: 2004
3. Trần Văn Bính, Từ quan niệm của Mác về con người, suy nghĩ về sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện nay, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 10 (232) tr, 6-8, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ quan niệm của Mác về con người, suy nghĩ về sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Tạp chí Văn hoá nghệ thuật
Năm: 2003
4. Nguyễn Chí Bền, Văn hoá Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
5. Nguyễn Duy Cần, Văn minh Đông phương và Tây phương, Phương Đông xuất bản, SG, 1957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh Đông phương và Tây phương
Tác giả: Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: Phương Đông xuất bản
Năm: 1957
6. Hoàng Đình Cúc, Vấn đề văn hoá và con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, http www.vien triethoc.com.vn, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn hoá và con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
7. Đoàn Văn Chúc, Văn hóa học, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
8. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Quốc Anh, Đỗ Đức Định..., Văn hóa phương Đông - truyền thống và hội nhập, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa phương Đông - truyền thống và hội nhập
9. Mai Ngọc Chừ, Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Nhà XB: Nxb Phương Đông
10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng ch.b), Trần Văn Đoàn, Hồ Sĩ Quý..., Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
11. Trọng Chuẩn, Hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, Tạp chí Triết học, số 8(159), tr.5-11, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay
12. Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề về triết học – con người – xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về triết học – con người – xã hội
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
13. Đỗ Minh Cương, Văn hóa – nội lực và mô thức phát triển kinh tế - xã hội, Tạp chí giáo dục lý luận, Hà Nội, số 3/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa – nội lực và mô thức phát triển kinh tế - xã hội
14. Nguyễn Văn Dân, Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb, Khoa học xã hội
Năm: 2006
15. Nguyễn Như Diệm, Con người và nguồn lực con người trong phát triển, Nxb Thông tin KHXH, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và nguồn lực con người trong phát triển
Nhà XB: Nxb Thông tin KHXH
16. Đỗ Lộc Diệp, Mỹ - Âu – Nhật - Văn hoá và phát triển, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ - Âu – Nhật - Văn hoá và phát triển
17. Nguyễn Đăng Duy, Một số vấn đề văn hoá Việt Nam Truyền thống và hiện đại, Nxb, Lao động, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn hoá Việt Nam Truyền thống và hiện đại
18. Nguyễn Hữu Dũng, Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
19. Phạm Đức Dương, Tiếp xúc giao lưu và phát triển văn hoá - quan hệ giữa văn hoá Việt Nam và thế giới, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 4, tr. 1- 23, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp xúc giao lưu và phát triển văn hoá - quan hệ giữa văn hoá Việt Nam và thế giới
20. Phạm Đức Dương, Đông Nam Á: Triển vọng về sự liên kết và hợp tác khu vực, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, tr 4-11, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á: Triển vọng về sự liên kết và hợp tác khu vực

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 - Chỉ số HDI - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 1 Chỉ số HDI (Trang 314)
Hình 1 - Giá trị chỉ số HDI - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 1 Giá trị chỉ số HDI (Trang 315)
Hình 2 - GDP bình quân đầu người - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 2 GDP bình quân đầu người (Trang 318)
Bảng 3 - Tuổi thọ trung bình từ khi sinh và chỉ số tuổi thọ - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 3 Tuổi thọ trung bình từ khi sinh và chỉ số tuổi thọ (Trang 319)
Bảng 4 - Các chỉ tiêu về giáo dục và chỉ số giáo dục - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 4 Các chỉ tiêu về giáo dục và chỉ số giáo dục (Trang 321)
Bảng 5 – Chỉ số GDI - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 5 – Chỉ số GDI (Trang 322)
Hình 5 - Giá trị chỉ số GDI - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 5 Giá trị chỉ số GDI (Trang 324)
Bảng 6 - Chỉ số GEM - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 6 Chỉ số GEM (Trang 325)
Hình 6 - Giá trị chỉ số GEM - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 6 Giá trị chỉ số GEM (Trang 326)
Bảng 7 - Chỉ số HPI  Báo cáo năm 2005  Báo cáo năm 2006  Báo cáo năm 2007/08 Quốc gia - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 7 Chỉ số HPI Báo cáo năm 2005 Báo cáo năm 2006 Báo cáo năm 2007/08 Quốc gia (Trang 328)
Hình 7 - Giá trị chỉ số HPI - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 7 Giá trị chỉ số HPI (Trang 329)
Hình 8 - Mục tiêu phát triển bền vững - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 8 Mục tiêu phát triển bền vững (Trang 331)
Hình 9 – Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Hình 9 – Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người (Trang 334)
Bảng 8 - Chỉ số năng lực cạnh tranh  Quốc gia  Xếp hạng GCI 2008  Giá trị GCI 2008 - sự phát triển văn hóa và con người ở một số nước đông á-bài học kinh nghiệm cho việt nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Bảng 8 Chỉ số năng lực cạnh tranh Quốc gia Xếp hạng GCI 2008 Giá trị GCI 2008 (Trang 337)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm