Với quyết tâm”Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sốngvà hoạt động xã hội, vào từng người, Từng gia đình, trong tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
XÂY DỰNG VĂN HOÁ HỌC ĐƯỜNG TRONG MỘT SỐ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
CNĐT : HỒ SĨ LỘC
9111
HÀ NỘI – 2011
Trang 21.Tên đề tài : Xây dựng văn hoá học đường trong một số trường Đại học ở Hà Nội hiện nay
2 Lý do chọn đề tài
Chúng tôi chọn đề tài này vì những lý do sau đây:
2.1 Tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hoá nói chung
Ngày nay, khi văn hoá đã thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, vấn đề bảo vệ môi trường văn hoá, xây dựng nếp sống lành mạnh trên cơ
sở kế thừa, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống và tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại cần phải được coi trọng bởi hiểu theo nghĩa rộng, văn hoá bao hàm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Theo đó, các quốc gia cần
có chiến lược, chương trình hành động cụ thể để xây dựng “Một nền văn hoá
vì một xã hội phát triển” Ở Việt Nam chương trình hành động này được đề cập trong Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 (khoá VIII - 1998) của Ban chấp hành Trung ương Đảng với việc coi “ Xây dựng môi trường văn hoá” là một trong mười nhiệm vụ của việc “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Với quyết tâm”Làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sốngvà hoạt động xã hội, vào từng người, Từng gia đình, trong tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần, cao đẹp trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH (1), trong hơn 10 năm thực hiện Nghị Quyết Trung ương 5, khoá VIII) (1998 – 2008), Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã cùng nỗ lực phấn đấu
để giành được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hoá nước nhà
Trang 32.2 Đảng và nhà nước đã nhận thức sớm, phải xây dựng văn hoá học đường
Nhận thức tầm quan trọng, tính toàn diện và thiết thực của phong trào
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa” Trong đó, xây dựng văn hóa học đường được coi là nhiệm vụ trọng tâm Đảng ta đã đề ra Nghị quyết Trung ương 1 năm 1997, khoá VIII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998
về xậy dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 9 năm 2001 Bộ giáo dục - Đào tạo và Bộ văn hoá - Thông tin đã ký kế hoạch phối hợp số 2723 /CTCT ngày 12/4/2001 về việc
“Phối hợp thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá trong trường học” Sau 9 năm thực hiện cuộc vận động này đã đạt được những kết quả bước đầu rất cơ bản trên nhiều mặt ở các bậc học Phong trào phát triển mạnh về bề rộng, có nhiều cách làm mới, sáng tạo…"
2.3 Thực trạng xây dựng văn hoá học đường trong hệ thống các trường Đại học ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng hiện nay
Trong quá trình xây dựng văn hoá học đường đã đạt được nhiều thành quả to lớn nhưng cũng bộc lộ hạn chế cần phải khắc phục: Phong trào mới bề rộng chưa có bề sâu Một số nơi còn mang tính thời vụ, hình thức, xuất hiện quan niệm coi bản thân trường Đại học là cơ sở văn hoá vì vậy không cần phải đưa phong trào xây dựng đời sống văn hoá vào trường học; Một số trường quan niệm việc thực hiện phong trào trên chỉ đơn giản là các hoạt động văn hoá, văn nghệ, TDTT, không thấy được tác động tích cực, của phong giáo dục tư tưởng, đạo đức, nếp sống văn hoá cho sinh viên; các danh hiệu thi đua
và việc xét cấp danh hiệu thi đua chưa thống nhất giữa các trường, trong cùng một bậc học, các tiêu chí đánh giá, không phù hợp với nhà đang tồn tại với nhiều trường Đại học Hà Nội Việc xét cấp danh hiệu được áp dụng cho những thời điểm khác nhau cũng đã dẫn đến sự chồng chéo, gây khó khăn cho việc áp dụng của cơ sở Công tác tuyên truyền, vận động thực hiện các nội dung của phong trào trong các trường chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến
Trang 4phần đông cán bộ, giáo viên, sinh viên chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa nội dung của phong trào, chưa tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc xây dựng trật tự, kỷ cương, đạo đức nếp sống văn hoá trong trường Đại học
Dưới góc nhìn của người dạy và người học, có thể thấy một hạn chế, thiếu sót nữa là trong quá trình xây dựng văn hoá học đường nhiều trường Đại học còn xao nhãng việc đưa nghị quyết của Đảng vào nhà trường Đại học, Cao đẳng để xây dựng môi trường văn hoá học đường lành mạnh cho thế hệ tương lai của đất nước Theo đó, các cơ sở quản lý văn hoá và những người
có trách nhiệm trong công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở trên địa bàn
có các trường Đại học cũng như các nhà quản lý giáo dục đào tạo chưa tạo lập được những hình mẫu, mô hình thích hợp với những mục tiêu cụ thể để xây dựng văn hoá học đường trong nhà trường Điều này dẫn đến việc tuy nhà trường là nơi dạy người, rèn luyện cả về đức và tài nhưng cũng chính là ở đây nhiều tệ nạn xã hội vẫn “có đất sống”, Thậm chí còn phát sinh nhiều mặt tiêu cực mới về mặt tư tưởng đạo đức, lối sống của cả người dạy và người học làm cho các nhà quản lý giáo dục và những người tâm huyết với sự nghiệp trồng người ái ngại
2.4 Yêu cầu cấp bách phải xây dựng văn hoá học đường trong các trường Đại học
Từ sự phân tích trên, rõ ràng việc thiết kế các mô hình, hình mẫu văn hoá cùng với hệ tiêu chí, chuẩn mực phù hợp với điều kiện của các trường Đại học ở Hà Nội là việc làm cấp bách đang đặt ra đối với các nhà quản lý giáo dục, quản lý văn hoá trong điều kiện hiện nay Điều này càng quan trọng và cần thiết hơn khi mà cùng với xu thế hôị nhập, hàng loạt những kiểu sống mới đang thay đổi từng ngày Định hướng giá trị của tuổi trẻ, cũng có sự thay đổi, trong đó có sinh viên – bộ phận ưu tú của thanh niên – những người rất nhạy cảm với cái mới (bao gồm cái mới hay và cái mới dở) Vấn đề là cần xây dựng mô hình nào cho phù hợp với điều kiện nhà trường hiện nay? Mô hình
đó bao gồm những tiêu chí cụ thể gì? Những bộ phận nào có trách nhiệm thực
Trang 5hiện? Để giải quyết một cách thấu đáo những câu hỏi trên đòi hỏi rất nhiều công sức nghiên cứu về lý luận cũng như thực nghiệm với những mô hình khác nhau ở nhiều trường Đại học trên nhiều địa phương cả nước, và đặc biệt
là ở thủ đô Hà Nội
Với cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của một người làm công tác nghiên cứu văn hoá học đường, bằng những kinh nghiệm của bản thân tích luỹ được trong thời gian công tác ở trường Đại học trên địa bàn hà Nội Trên
cơ sở tiếp thu thành quả của những người đi trước, chủ nhiệm đề tài và các cộng tác viên hy vọng những vấn đề trên sẽ bước đầu được tháo gỡ trong khi
nghiên cứu đề tài: “Xây dựng văn hoá học đường trong một số trường Đại
học ở Hà Nội hiện nay”
3 Lịch sử nghiên cứu
Vấn đề xây dựng nền văn hóa nói chung và xây dựng văn hóa học đường nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Ở mức độ khác nhau, họ đề cập đến các vấn đề:
Vấn đề 1: Khái niệm văn hóa
Vấn đề này có nhiều tác giả và tác phẩm đề cập tới Họ đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa:
- Trong tác phẩm “Cơ sở lý luận văn hóa Mác – Lênin” H, Nxb, Văn hóa,
1981 của Ác – môn – đốp A.I (chủ biên), các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm văn hóa: Văn hóa là do con người sáng tạo ra, vận động và biến đổi theo thời gian và không gian
- Tác phẩm “Xây dựng môi trường văn hóa – Một số lý luận và thực tiễn”của Ban tư tưởng văn hóa Trung ương., H., 2004, các nhà khoa học cho rằng xây dựng môi trường văn hóa tức là xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình
- Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 Ban chấp hành TW Đảng khóa VIII H., Nxb Chính trị quốc gia, 1998 đã đưa ra khái niệm văn hóa là những giá trị
Trang 6về vật chất và tinh thần do con người Việt Nam sáng tạo ra trong quá trinh lịch sử
- Hoàng Vinh Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta H., Nxb Văn hóa – Thông tin, 1999 Huỳnh Khái Vinh - Những vấn
đề văn hóa Việt Nam đương đại H., Nxb Khoa học xã hội, 2000 Phan Thanh
Tá Về khái niệm đời sống văn hóa ở nông thôn Tạp chí Văn hóa – nghệ thuật, số 4/2003 Dương Tự Đạm – VH thanh niên và thanh niên với văn hóa dân tộc Nxb TN 2001 Đặng Đức Siêu “Hành trình văn hóa Việt Nam” Nxb Lao động, Hà Nội 2002 Các tác giả này đều thống nhất với nhau về khái niệm văn hóa: văn hóa là tất cả những giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Xã hội càng phát triển thì đời sống văn hóa càng phong phú và sinh động Bề dày của văn hóa nhân loại tỷ lệ thuận với thời gian kéo dài trong lịch sử
- Trịnh Thị Minh Loan, trong tác phẩm”Một số khái niệm về văn hóa”Viện nghiên cứu sư phạm, ĐH sư phạm Hà Nội, 2005 Tác giả đưa ra nhiều khái niệm văn hóa theo các góc độ khác nhau: Góc độ lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, văn học, nghệ thuật, triết học, tâm lý học, xã hội học,…
- Nguyễn Trần Bạt, viết tác phẩm “Văn hóa và con người”, Nxb Thông tin, 2006 Tác giả cho rằng, văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hòa của tất cả các khía cạnh trong cuộc sống, không nên chia thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Cấu trúc của văn hóa gồm: tri thức, tín ngưỡng, đạo đức, truyền thống, pháp luật, thẩm mỹ và lối sống,…
Vấn đề 2 Thực trạng văn hóa học đường
Văn hóa học đường đang xuống cấp nghiêm trọng Đó là lời nhận xét của đông đảo nhân dân và các nhà khoa học Điều này được thể hiện trong các tác phẩm:
- Báo động văn hóa học đường xuống cấp Báo Lao động, ngày 13/12/2009
Trang 7- Hồng Đức Thực trạng văn hóa học đường Bản tin ĐHQG Hà Nội –
em ở trường và cả trong gia đình Hiện tượng không đẹp chút nào, có thể nói
là hèn mạt, nhưng lại là chuyện xảy ra hàng ngày ở nhiều trường là thầy giáo,
cô giáo xúc phạm học sinh dưới nhiều hình thức Dạy thêm với những thủ đoạn hết sức tiêu cực Sinh viên sống bê tha trong các nhà trọ Nói tục, chửi thề khá phổ biế Đáng buồn nhất là học trò hỗn láo với thầy cô, bạn bè đánh lộn Đó là những biểu hiện không văn hóa, phản văn hóa, không thể chấp nhận được trong nhà trường
Vấn đề 3 Các thành tố cơ bản của văn hóa học đường
- Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới Nxb Giáo dục HN 1994
GS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Các thành tố cơ bản của văn hóa học đường gồm chủ thể và khách thể Chủ thể là giảng viên, sinh viên, cán bộ công nhân viên Khách thể của văn hóa học đường là hệ thống cac giá trị văn hóa, các hình thức vận động văn hóa, cảnh quan văn hóa
- Tác phẩm “Văn hóa và lối sống” của Thành Lê đã xác định các thành
tố của văn hóa học đường gồm chủ thể (con người) và khách thể, môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội và môi trường văn hóa
Trang 8Vấn đề 4 Vai trò của văn hóa học đường trong các trường Đại học
- Trên “Bàn tròn văn hóa” Báo Lao động, số 117 ngày 26/5/2008, các tác giả khẳng định “Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩa quyết định chất lượng đào tạo của các trường đại học”
- GS Trương Lưu, trong tác phẩm “Văn hóa đạo đức và tiến bộ xã hội” Nxb Văn hóa – Thông tin HN 1998 Cho rằng: Thông qua văn hóa học đường, sinh viên và thầy giáo nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của chính mình
- Phạm Minh Hạc, Hồ Sĩ Quý Nghiên cứu con người, đối tượng và những hướng chủ yếu Niên giám nghiên cứu số 1 Nxb KH – XH, HN 2002, các tác giả cũng cho rằng: Xây dung văn hóa học đường tạo điều kiện để đưa tiêu chí chân, thiện, mỹ vào trong trường đại học
Vấn đề 5 Nội dung cơ bản của văn hóa học đường
- Nguyễn Viết Chức (chủ biên) Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống
và đời sống văn hóa ở thủ đô Hà Nội trong thời ký đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước Viện văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin HN 2001 Các tác giả cho rằng, ở các trường đại học, nội dung cơ bản của xây dưng văn hóa học đường là: Giáo dục nếp sống văn hóa lành mạnh cho sinh viên và xử lý đúng đắn các mối quan hệ giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, giữa thầy, trò với cán
bộ công nhân viên
- Viện nghiên cứu Thanh niên, Trung tâm phát triển khoa học công nghệ tài năng trẻ Thế hệ trẻ Việt Nam – Nghiên cứu lý luận và thực tiễn Nxb Lao động – xã hội HN 2001 Nhấn mạnh nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất trong trường đại học là để đáp ứng nhiệm vụ giáo dục và đào tạo đạt chất lượng cao
- GS Phạm Minh Hạc trong tác phẩm Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI Nxb Giáo dục quốc gia HN 1999, Nhấn mạnh giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử giữ vai trò quan trọng
Trang 9Vấn đề 6: Văn hóa ứng xử trong các trường Đại học
- Nguyễn Thanh Tuấn, Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay Nxb Từ điển bách khoa và Viện văn hóa HN 2008 Tác giả cho rằng khái niệm lối sống hay văn hóa lối sống tương đương với văn hóa ứng xử Lối sống là cách ứng xử của con người với môi trường sống gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
- Nguyễn Tiến Thông Một số vấn đề giao tiếp Nxb Chính trị Quốc gia,
2000 Ông cho rằng văn hóa ứng xử là tổng hòa những dạng hoạt động sống
ổn định của con người được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện một hình thái xã hội nhất định
- Nguyễn Thị Thư Tìm hiểu về nhu cầu hoạt động văn hóa của thanh niên, sinh viên hiện nay (Khóa luận tốt nghiệp) ĐH Văn hóa, 1998 Tác giả cho rằng: Văn hóa ứng xử có tính linh hoạt và tính xã hội cao
- Mạc Văn Trang Nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên Đề tài nghiên cứu cấp Bộ (B94-38-32) Viện nghiên cứu phát triển giáo dục HN
1995 Từ việc nghiên cứu đặc điểm lối sống sinh viên, tác giả cho rằng, con đường để nắm bắt nội dung và phạm vi của văn hóa ứng xử là tìm hiểu các hành động xã hội và các khuôn mẫu ứng xử
- Nguyễn Văn Huyên Sự biến đổi các giá trị văn hóa đạo đức trong kinh tế thị trường và vấn đề xây dựng nền văn hóa đạo đức mới Tạp chí văn hóa, nghệ thuật HN 2002 Theo tác giả, trong nền kinh tế thị trường, các giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của dân tộc vẫn không hề thay đổi và không hề bị chi phối
- Quốc Việt Văn hóa giao tiếp học đường: Thầy và trò chưa là bạn của nhau Báo Thanh Niên ngày 15/08/2009 Tác giả phân tích kỹ vị trí, vai trò của văn hóa giao tiếp Tác giả cho rằng trong quan hệ giao tiếp giữa thầy và trò cần phải bảo đảm chuẩn mực thầy là thầy, trò là trò, không nên xóa bỏ ranh giới giữa thầy và trò
Trang 10Vấn đề 7: Phương hướng và giải pháp xây dựng văn hóa học đường
- Nguyễn Đức Minh Các giải pháp nâng cao chất lượng công tác sinh viên trong các trường Đại học, cao đẳng Hà Nội HN 2003 Tác giả cho rằng:
Để nâng cao chất lượng công tác sinh viên cần tập trung vào giáo dục thể chất, ý thức trong học tập, rèn luyện, quan hệ ứng xử với giáo viên, sinh viên, cán bộ công nhân viên phải đúng mực theo đúng giá trị đạo đức
- Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang Giá trị định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị Chương trình khoa học, công nghệ cấp Nhà nước KX-07-04 HN 1995 Tác giả đưa ra hàng loạt giá trị chuẩn mực đạo đức trong nhà trường, coi đó là khuôn mẫu để áp dụng cho các trường đại học
- PGS.TS Phùng Hữu Phú Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng môi trường văn hóa ở các trường đại học – cao đẳng Hà Nội HN 2001 Tác giả đề cao vai trò của các tổ chức Đảng, đoàn trong trường đại học đối với việc xây dựng văn hóa học đường
- Vũ Thị Phương Lê Định hướng giá trị của sinh viên sư phạm ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An hiện nay Luận văn Thạc sỹ triết học, học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh HN 2004 Tác giả đưa ra những định hướng giá trị đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ dành cho sinh viên sư phạm
- Nguyễn Phương Hồng Thanh niên, học sinh, sinh viên với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nxb Chính trị quốc gia HN 1997 Tác giả đề cao trách nhiệm của sinh viên trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Mục đích của việc xây dựng văn hóa học đường là để đào tạo ra những sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn sâu rộng
Về xây dựng văn hoá học đường trong hệ thống các trường Đại học ở
Hà Nội thì hầu như chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu
Có chăng chỉ là những bài báo mang tính tổng kết, đánh giá chung về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống hoặc nêu ra những tệ nạn xã hội trong các trường Đại học với những giải pháp xử lý mang tính tổng quát chung chung
Trang 11Có thể bắt gặp nhiều bài giảng này của các nhà quản lý giáo dục, các nhà sư phạm, nhà nghiên cứu, những người làm công tác đoàn thanh niên, Hội sinh viên trên các báo, Tạp chí dành cho thế hệ trẻ như thanh niên, tuổi trẻ, Tuổi
trẻ Thủ đô, Tiền phong, Sinh viên Việt Nam, Tạp chí thanh niên … và các
báo tạp chí của ngành giáo dục như Giáo dục và Thời đại, Khuyến học và Dân
trí, Tạp chí Giáo dục… cùng một số tập san, nội san của các trường Đại học
trên địa bàn Hà Nội Có thể nói rằng, cho đến nay ở nước ta chưa có nhà quản
lý, nhà nghiên cứu văn hóa, giáo dục nào đi sâu nghiên cứu vấn đề xây dựng văn hóa học đường trong các trường đại học nói chung và các trường đại học
ở Hà Nội nói riêng
Từ việc khái quát tình hình nghiên cứu, có thể nhận thấy một số nhà khoa học tuy có đề cập đến xây dựng môi trường văn hoá học đường ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung đó là những vấn đề mang tính tổng hợp
và lý luận, chưa có nhiều công trình thực sự đi sâu vào nghiên cứu những thiết chế cụ thể, trong đó có trường đại học - một thiết chế văn hoá học đường đặc biệt Theo đó thì tiêu chí xây dựng văn hoá học đường trong trường Đại học tuy có được gợi mở những lại chưa được xem xét một cách toàn diện với
tư cách là một đối tượng nghiên cứu của một công trình khoa học Còn vấn đề xây dựng các mô hình văn hoá học đường trong trường đại học thì cho đến nay vẫn chưa thấy một công trình nghiên cứu nào đề cập đến
Như vậy, có thể nói xây dựng văn hoá học đường trong hệ thống các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay là một đề tài mới mẻ và là một đề tài hấp dẫn để người viết có thề trình bày những ý tường của mình cả về lý luận và thực tiễn Xây dựng môi trường văn hoá học đường lành mạnh trong trường Đại học, góp phần đưa Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đi vào đời sống học đường nhằm đào tạo những sinh viên có đủ tài năng và đức độ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới và xu thế hội nhập quốc tế
Trang 124 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
4.1 Trình bày một số khái niệm liên quan đến đề tài xây dựng văn hóa
học đường trong các trường Đại học
4.2 Tìm hiểu thực trạng văn hoá học đường trong một số trường Đại
học ở Hà Nội hiện nay
4.3 Từ thực tế khảo sát văn hoá học đường ở một số trường Đại học
trên dịa bàn Hà nội hiện nay, các nhà nghiên cứu muốn đưa ra được những tiêu chí cơ bản để xây dựng các hình mẫu văn hoá và thiết kế mô hình tổ chức thiết chế văn hoá - với tư cách là những thành tố cơ bản cấu thành đời sống văn hoá ở các trường Đại học trên địa bàn Hà nội
4.4 Đề xuất mục tiêu, định hướng và các giải pháp khả thi để xây dựng
văn hoá học đường trong hệ thống các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin,
đường lối chính sách của Đàng Cộng sàn Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng văn hoá học đường trong hệ thống các trường Đại học
5.2 Do tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu, đề tài sử dụng kiến thức
tổng hợp của nhiều ngành khoa học khác nhau Bởi vậy, việc sử dụng phương
pháp liên ngành là cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên
5.3 Bên cạnh đó đề tài còn sử dụng các phương pháp công cụ như:
Phân tích, tổng hợp tài liệu, khảo sát, trắc nghiệm, phỏng vấn, so sánh biểu đồ biểu bảng, điều tra xã hội học …
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Làm rõ hơn khái niệm văn hoá học đường và một số khái niệm liên quan đến văn hoá học đường để góp phần nhận diện các thành tồ cơ bản trong môi trường văn hoá học đường tạo cơ sở cho việc xây dựng các hình mẫu văn hoá và thiết chế các mô hình tổ chức, thiết chế văn hoá trong hệ thống các trường Đại học ở Hà Nội hiện nay
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
6.2.1 Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát, phỏng vấn, điều tra, trắc
nghiệm chủ thể và khách thể của văn hoá học đường trong các trường Đại học
ở Hà Nội, đề tài nêu lên thực trạng văn hoá học đường trong hệ thống các trường Đại học ở Hà Nội, từ đó tìm ra những nguyên nhân cơ bản của thực trạng ấy
6.2.2 Xây dựng các hình mẫu văn hoá, mô hình tổ chức, thiết chế văn
hoá học đường như là một giải pháp vừa khả thi, vừa có tính cơ bản, vừa mang ý nghĩa lâu dài để từ đó tùy theo điều kiện cụ thể của trường Đại học
mà có thể áp dụng linh hoạt vào trường của mình nhằm từng bước xây dựng môi trường văn hóa học đường lành mạnh, phục vụ tốt cho việc dạy và học trong tình hình hiện nay
7 Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Các khái niệm, các thành tố cơ bản, những yếu tố tác động, vai trò và sự cần thiết phải xây dựng văn hóa học đường
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Muốn nghiên cứu văn hóa học đường trong các trường đại học, trước tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa, được xem xét từ nhiều góc độ và tùy từng cách tiếp cận sẽ dẫn đến sự khác nhau trong việc xác định khái niệm
Có thể nói, trong khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa là một trong những khái niệm được định nghĩa nhiều nhất nhưng để đi tới một định nghĩa thống nhất thì vẫn là nhiệm vụ trong tương lai của các nhà nghiên cứu ít nhất là cho đến nay Việc có quá nhiều định nghĩa văn hóa không gây ngạc nhiên, trái lại càng làm cho chúng ta hiểu biết về nó một cách phong phú và toàn diện hơn
Trên thực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hoá Nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định
Trang 14nghĩa nào thoả mãn được cả về định tính và định lượng Điều đó có những nguyên nhân sau đây:
Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hoá, hoặc, như người
ta thường gọi, những nhà văn hoá, ngoài những định kiến và những hạn chế
có tính chất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp Họ
thường qui văn hoá vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hoá,
cũng như bói cuộc sống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bàng cách xem xét những bộ phận cá biệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể
Thứ hai, văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn, cực kỳ phong phú và phức
tạp, do đó khái niệm văn hoá cũng đa nghĩa Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu
Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn
hoá có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người Trong quá trình lịch sử đó nội dung của khái niệm văn hoá cũng thay đổi theo
Có thể cho rằng văn hoá, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua nghiên cứu văn hóa, người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hoá
Cựu Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor khi ông đưa ra một định
nghĩa:”Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi
mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ là lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
Nói cách khác, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo để làm cho cuộc sống mỗi người ngày một đẹp hơn (Văn hóa trong tiếng Hán Việt: có nghĩa là trở nên đẹp đẽ hơn) Hay theo
Trang 15G.Festistete thì văn hóa – đó là cách mà người ta sống và cách người ta suy nghĩ
Văn hoá là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mang những dấu hiệu văn hoá Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt Trong thực tế, không có sự giống nhau tuyệt đối
Theo 2 nhà nhân học người Mỹ trong bài viết “Văn hóa - nhìn lại các
quan niệm và định nghĩa” thì có thể chia các định nghĩa văn hóa thành 6 loại
chủ yếu sau đây:
1 ) Các định nghĩa miêu tả - liệt kê tất cả những gì văn hóa bao hàm 2) Các định nghĩa lịch sử - nhấn mạnh quá trình kế thừa truyền thống 3) Các định nghĩa chuẩn mực - hướng vào quan niệm về lý tưởng và giá trị
4) Các định nghĩa tâm lý - nhấn mạnh thái độ ứng xử của con người 5) Các định nghĩa cấu trúc - chú trọng tới cấu trúc của văn hóa
6) Các định nghĩa biến sinh - đi từ góc độ nguồn gốc của văn hóa
Ở Việt Nam, phó giáo sư Từ Chi đã tổng hợp cách hiểu văn hóa của thế giới theo 2 góc độ:
1) Góc rộng là góc nhìn của các nhà dân tộc học, góc nhìn chung của khoa học xã hội;
2) Góc hẹp có nghĩa thông dụng trong cuộc sống hàng ngày hay là góc nhìn báo chí
Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Theo nghĩa này, tại “Mục đọc sách”
viết xen tập “Nhật ký trong tù”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa: “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học
Trang 16nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng sự biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(2)
Văn hóa thường được dùng với nghĩa hẹp hơn như một lĩnh vực hoạt
động bên cạnh chính trị, kinh tế, xã hội Bác Hồ nói: “Trong công cuộc kiến
thiết nước nhà có 4 vấn đề cần phải chú ý đến, cần phải coi trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa
Văn hóa cũng được hiểu chủ yếu là văn học nghệ thuật xếp cạnh giáo dục, khoa học Còn hẹp hơn nữa là khi văn hóa được dùng với nghĩa học vấn, học thức Chẳng hạn trong bản kê khai lý lịch có mục “trình độ văn hóa”
Văn hóa được đề cập trong Nghị quyết 5 (khóa VIII năm 1998) của Ban chấp hành Trung ương Đảng bao quát đời sống tinh thần xã hội nói
chung «văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội », tập trung vào những lĩnh vực lớn:
tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục, khoa học, văn học nghệ thuật, thông tin đại chúng, giao lưu văn hóa với thế giới, các thể chế và thiết chế văn hóa
Dưới góc độ lịch sử và giá trị, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa
VIII) của Đảng đã định nghĩa về văn hóa Việt Nam:”Văn hóa Việt Nam là
thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”
Có một số nhà nghiên cứu phân chia văn hóa thành hai lĩnh vực : Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần là không thật hợp lý và thấu đáo Nó phản
Trang 17ánh lối tư duy lưỡng phân điển hình, ảnh hưởng của những định kiến về tư tưởng cần phải xóa bỏ
Thực ra, lối phân chia như thế cũng có tác dụng nào đó Nó cho ta một cái nhìn tuy khá thô thiển nhưng khá bao quát về những lĩnh vực đời sống của con người: Những sản phẩm tinh thần như khoa học, văn học nghệ thuật, các phong tục tập quán,… và những sản phẩm vật chất như đồ đạc, nhà cửa, đường sá,… Tuy nhiên thật khó và ngày càng khó phân biệt rạch ròi đâu là sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần Mặt khác, không có sản phẩm tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định
và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang trong nó một giá trị tinh thần Thật vậy, những nhà cửa, đường phố, cầu cống và ngay
cả những vật dụng tầm thường nhất, kể cả những sản phảm công nghiệp sản xuất hàng loạt, cũng là hiện thân của những giá trị văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc, trí tuệ và tài năng của những người làm ra chúng
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, người viết xin đưa ra một định nghĩa mang tính tương đối về văn hóa như sau:
Văn hóa là những dấu ấn tác động của con người lên mọi sự vật, hiện tượng tinh thần hay vật chất trong quá trình hoạt động thực tiễn, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa
và lối sống (khuôn mẫu ứng xử) của cộng đồng người Chính hệ giá trị và chuẩn mực xã hội là yếu tố cơ bản làm nên bản sắc của một cộng đồng xã hội, có chức năng định hướng và điều tiết hoạt động của mọi thành viên trong cộng đồng xã hội ấy
Nhận diện những hiện tượng phản văn hoá: Để làm cho văn hóa trở
thành cội nguồn của sự phát triển xã hội, ở các nước phát triển hiện nay đã có nhiều hoạt động chống lại những hiện tượng phản văn hóa Việc làm ô nhiễm môi trường, nạn nghiện ngập ma tuý, tệ bắt cóc con tin, hành động tàn bạo giữa con người với con người, nạn gái điếm và trăm ngàn con bệnh xã hội
Trang 18khác là mục tiêu của những chiến dịch khắc phục phản văn hoá, nhằm mở
đường cho xã hội tiến về phía văn minh và hạnh phúc
Nhận diện các hiện tượng phản văn hóa không chỉ bằng tâm lý thường
ngày mà có thể phát hiện được bản chất của nó Các hiện tượng phản văn hóa
xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống và dưới nhiều diện mạo khác nhau
Biểu trưng đầu tiên của các biểu tượng phản văn hóa là nó đứng về
phía cái sai để củng cố, cổ vũ cho cái sai, ra sức trấn áp, phù dọa cái đúng Tuy nhiên, thế nào là đúng, thế nào là sai lại không dễ chút nào Ở nước ta, có một thời kỳ rất dài người ta cho rằng, bao cấp là một hiện tượng nhân đạo và
có văn hoá Thế rồi từ bao cấp, trong xã hội đã xuất hiện ngày càng nhiều các hiện tượng phản văn hóa, đó là nạn quan liêu, tệ cửa quyền, sự lười nhác, các khát vọng và nguồn lực bị thủ tiêu Trong xã hội, chúng ta dễ tìm thấy những hiện tượng ở thời điểm này thì đúng, ở thời điểm khác lại sai Như vậy phép biện chứng của cái đúng và cái sai, cái văn hóa và cái phản văn hóa không thể
do ý muốn chủ quan mà phải dựa trên cơ sở khoa học Khoa học cùng tuyến với cái đúng, phản khoa học là cùng tuyến với cái sai và cũng là hiện tượng
phản văn hóa Đúng - sai là dựa trên cơ sở khoa học, đồng thời là nền tảng
vĩnh cửu của chân lý Nó mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo và đạt tới tầm
nhân loại Như vậy phản văn hóa thường xuất hiện từ cái sai, cái phản khoa
học, chống lại công lý và chân lý
Biểu trưng thứ hai của các hiện tượng phản văn hóa là thường đứng về
phía cái cái ác chống lại cái thiện
Làm điều thiện là có văn hóa và làm điều ác là phản văn hóa Tuy nhiên lấy chuẩn thiện - ác để phân biệt một hiện tượng văn hóa và phản văn hóa trong cuộc sống hiện nay phải xuất phát từ quyền lợi giai cấp Những cái có lợi cho giai cấp tiến bộ thường được lịch sử xác nhận là có văn hóa Những cái phục vụ cho giai cấp phản động thường là những hiện tượng phản văn hóa Mặt khác cái thiện, cái ác còn mang tính chất thời đại, hay chuẩn đạo đức
Trang 191ễ nghĩa của dân tộc, nghĩa là nó phụ thuộc vào sự chấp nhận của thời đại hay chuẩn đạo đức của dân tộc Ngoài ra, cái thiện, cái các còn có tính nhân loại
Biểu trưng thứ ba của các hiện tượng phản văn hóa là nó đứng về cái
xấu Cái đẹp là tiêu biểu của văn hóa và cái xấu là đặc trưng của phản văn hóa Gần đây trong xã hội chúng ta, cuộc đấu tranh giữa văn hóa và phản văn hóa biểu hiện trên bình diện đẹp- xấu diễn ra rất quyết liệt Nhiều cái đẹp đang bị đánh bạt để nhường chỗ cho cái xấu hoạt động, như nạn làm hàng giả,
sự ăn mặc lố lăng cùng với ngôn từ thô thiển, việc làm ô nhiễm môi trường,
sự gian dối trong thi cử
Như vậy cái sai – ác – xấu là các biểu trưng của các hiện tượng phản văn hóa, chúng thường tàng hình ẩn náu vào các quan hệ của con người để kìm hãm sự phát triển của xã hội Chúng sẽ bị hiện nguyên hình gớm ghiếc
khi chiếc gương kỳ diệu của cái đúng, cái thiện, cái đẹp soi vào
1.1.2 Khái niệm văn hóa học đường
Văn hóa học đường là một thành ngữ khoa học còn mới mẻ Nhưng với
tư cách là một vấn đề thực tiễn, nó đang là thời sự nổi cộm Có thể nói, bởi nó – tự nó nên nơi nơi và người người đều quan tâm phản ánh nhiều sự việc
- Văn Đức Thanh Về xây dựng môi trường văn hóa cơ sở Nxb Chính trị - quốc gia, HN 2001
- Nguyễn Minh Chung Văn hóa lớp học và mô hình lớp học văn hóa trong nhà trường đại học hiện nay (Đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản), H.,
2006
- Đỗ Huy Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay – Từ góc
độ giá trị học Nxb Văn hóa thông tin, H., 2001
- Nguyễn Hồng Hà Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống và con người Việt Nam Nxb VH – TT, H., 2005
- Viện nghiên cứu sư phạm và vấn đề khoa học – giáo dục: Văn hóa học đường – yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục HN., 2008
Trang 20Các tác giả đều khẳng định: “Văn hóa học đường là văn hóa diễn ra trong trường học, thể hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội, trong đó, quan
hệ giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa trò với trò là quan hệ chủ đạo Xây dựng văn hóa học đường có ý nghĩa quyết định tới chất lượng giáo dục đào tạo và có ảnh hưởng rất lớn tới cộng đồng xã hội
- GS Phạm Minh Hạc, Chủ tịch Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam cho biết: Thuật ngữ văn hóa học đường xuất hiện tại các nước nói tiếng Anh vào những năm 1990 Một số nước như Mỹ, Úc đã có trung tâm nghiên cứu, khảo sát thực tiễn và đánh giá vấn đề này Dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều thống nhất mỗi trường học đều có văn hóa học đường của mình Giáo sư khái quát “Văn hóa học đường là hệ các chuẩn mực, giá trị giúp cán
bộ quản lý nhà trường, thầy cô, phụ huynh, học sinh, sinh viên có cách thức suy nghĩ, hành động, tình cảm tốt đẹp Văn hóa học đường ở Việt Nam cần đảm bảo 3 yếu tố: Cơ sở vật chất đảm bảo, môi trường giáo dục tốt và văn hóa ứng xử, giao tiếp” (TC Tuyên giáo, tháng 11 năm 2009)
Theo đó, văn hoá học đường cũng có các chức năng biểu tượng, chức năng xây dựng, chức năng hướng dẫn và chức năng gây cảm xúc Nếu các chức năng ấy của nền văn hoá học đường được làm tốt, nghĩa là mỗi thành viên trong các trường học vừa phải thấm nhuần, gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống và những phẩm giá quy báu của dân tộc (tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường, đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc; Tính trung thực, cần cù sáng tạo trong mọi hoạt động; sự hiếu học và tôn sư trọng đạo; lòng nhân ái, tình cảm vị tha và khoan dung; có hành động và thái độ rõ ràng đối với những hiện tượng phản văn hóa)
Nội dung của văn hóa học đường nói chung, môi trường giáo dục nói riêng bao hàm nội dung của”trường học thân thiện” do Quỹ nhi đồng Liệp hiệp quốc (UNICEF) từ những thập kỉ XX với các nội dung thân thiện với địa bàn hoạt động, thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau, thân thiện giữa thầy
và trò, có đủ cơ sở vật chất Ở nước ta, sau khi làm thí điểm 50 trường tiểu
Trang 21học và trung học cơ sở, năm 2008 Bộ GD-ĐT đã phát động phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, nhằm xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương
và đáo ứng nhu cầu của xã hội (Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD ĐT ngày 2008)
22-7-Có nhiều nhà khoa học khẳng định rằng: văn hóa học đường cũng có thể gọi là “Văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp diễn ra trong nhà trường” Xã hội giao cho nhà trường dạy dỗ con em lễ phép, tử tế, biết dùng lời hay, ý đẹp, kính trên nhường dưới, lịch thiệp, thực thà, nề nếp, hợp tác, chia sẻ, khoan dung Năm 1927, trong tác phẩm Đường kách mệnh, mục”thái độ nói với người khác”, Nguyễn Ái Quốc khuyên là “khoan thứ”, tiếp nối truyền thống dân tộc “Thương người như thể thương thân”… suy rộng ra là giáo dục tình thần trách nhiệm – chia sẻ với người xung quanh, với gia đình, với cộng đồng, với xã hội, quan trọng trước hết là trách nhiệm với bản thân Trong tác phẩm vừa nêu trên, bác Hồ cũng nói đến thái độ của bản thân trước khi nói về thái
độ đối với người khác và cuối cùng mới nói tới thái độ đối với công việc Đối với chính mình, thái độ đầu tiên Bác dạy là “Cần” Trước hết phải chăm chỉ Đây là phẩm chất đầu tiên, quan trọng nhất giúp ta trở thành người chân chính, tạo nên tâm lực, trí lực, thể lực – các giá trị của mỗi người Gần đây, khi đời sống xã hội trở nên phức tạp hơn trước, người ta nói nhiều đến chữ”Tâm” Trong Nho học người ta nói nhiều đến”Nhân”,”Lễ” Lễ chính là văn hóa, là đạo đức, một nội dung cốt lõi của văn hóa học đường “Tiên học
lễ, hậu học văn” cũng có ý nghĩa như vậy Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” được nêu ở tất cả các trường học Song, làm theo khẩu hiệu này thì còn nhiều điều đáng phàn nàn
1.1.3 Khái niệm văn hóa ứng xử
Các nhà khoa học đã xác định thực chất của văn hóa học đường là văn hóa ứng xử Điều này thôi thúc chúng ta tìm hiểu văn hóa ứng xử
Trang 22Nội hàm khái niệm “văn hóa ứng xử” được tập thể tác giả công trình
“Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên” xác định tương đối đầy đủ, gồm cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người đối với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác (3) Nghĩa là, văn hóa ứng xử, theo các tác giả, gồm 3 chiều quan hệ: Với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa Văn hóa ứng xử gắn liền với các thước đo mà xã hội dùng để ứng xử, đó là các chuẩn mực xã hội
Cụ thể, văn hóa ứng xử thông thường được chi phối bởi 4 hệ chuẩn mực cơ bản của nhân cách: Hệ chuẩn mực trong lao động; hệ chuẩn mực trong giao tiếp; hệ chuẩn mực gia đình; các chuẩn mực phát triển nhân cách Trong qúa trình ứng xử, con người phải lựa chọn giữa cái thiện và cái ác, cái đúng và cái sai, cái đẹp và cái xấu, cái hợp lý và cái phi lý…trong một cộng đồng nhất định Sự lựa chọn này bị chi phối cũng bởi bốn hệ chuẩn mực là: hệ chuẩn mực đạo đức, hệ chuẩn mực luật pháp, hệ chuẩn mực thẩm mỹ và trí tuệ, hệ chuẩn mực về niềm tin
Ngoài ra, phải thấy rằng, văn hóa giao tiếp của con người có liên quan chặt chẽ với các kỹ năng giao tiếp đặc trưng, được hình thành từ họ, ví dụ kỹ năng “chỉnh sửa” các ấn tượng ban đầu về người khác khi mới làm quen với họ; tôn trọng các quan điểm, sở thích, thị hiếu, thói quen,… của người khác.v.v
Cho đến nay ở Việt Nam, nhìn chung khái niệm văn hóa ứng xử đã
được gián tiếp, trực tiếp làm rõ gồm: Thái độ, cách thức quan hệ, hành động
và cả kỹ năng lựa chọn nhằm tận dụng, ứng phó và thể hiện tình người đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với bản thân Thái độ, cách
thức quan hệ, hành động và kỹ năng lựa chọn đều bị chi phối bởi các giá trị được biểu hiện dưới dạng chuẩn mực cơ bản của xã hội
Khuôn mẫu ứng xử gồm bốn tiêu chí:
- Sự lặp đi lặp lại của các ứng xử thông thường
Trang 23- Ứng xử được đa số người trong cộng đồng cùng thực hiện thống nhất theo một cách
- Chuẩn mực xã hội hay quy tắc, quy chế ứng xử
- Ý nghĩa xã hội của ứng xử
Từ đó có thể suy rộng ra rằng, khuôn mẫu ứng xử phụ thuộc vào môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa
Môi trường thiên nhiên gồm:
a) Thế giới tự nhiên hay còn gọi là thiên nhiên thứ nhất, tồn tại ngoài sự
tác động của con người và cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của con người và mọi sinh vật, Đó là các dạng vật thể (đất, nước, không khí,…) và các dạng sinh vật…kể cả con người
b) Thế giới thiên nhiên thứ hai – thiên nhiên có sự tác động của con người và do con người tạo ra một bản sao từ thiên nhiên thứ nhất để làm thành một thế giới mới (nhà ở, kết cấu hạ tầng nông thôn, đô thị, cây trồng, vật nuôi…) thiên nhiên thứ hai này, kể cả con người, là một bộ phận, hơn nữa
là một bộ phận đặc thù của thiên nhiên hay của thiên nhiên thứ nhất Thiên nhiên thứ hai bao gồm cả môi trường xã hội và môi trường văn hóa, vì đều là môi trường mà con người đó thích nghi và biến đổi
Môi trường xã hội :là môi trường của các mối quan hệ và tác động qua
lại giữa người và người Xã hội, theo C.Mác “cho dù nó có hình thức gì đi nữa – là cái gì? Đều là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” Từ các mối quan hệ và tác động này, đã hình thành cơ sở hạ tầng của
xã hội, trước tiên và cơ bản là phương thức sản xuất của xã hội và tương ứng với nó là cơ cấu xã hội - giai cấp Cùng với việc sáng tạo ra những giá trị vật chất, kinh tế, con người cũng sáng tạo ra các giá trị xã hội khác Các giá trị này là cơ sở và định hướng cơ bản cho việc phát triển các quan hệ xã hội và các mối tác động qua lại giữa người với người Các giá trị vật thể, phi vật thể này đã tạo ra một môi trường sống mới của con người – đó là môi trường văn hóa
Trang 24Môi trường văn hóa: là môi trường mà con người không chỉ thích ứng
hơn thế con người còn làm biến đổi môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Đặc trưng của môi trường văn hóa là luôn vận hành theo một hệ thống các giá trị văn hóa được cả cộng đồng chấp nhận và làm theo
1.1.4 Khái niệm giao tiếp và văn hóa giao tiếp
1.1.4.1 Khái niệm giao tiếp
Bàn về văn hoá giao tiếp của con người, đã có rất nhiều khái niệm về giao tiếp từ các góc độ của các ngành khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, giáo dục học,tâm lý học…
- Platon (428 - 347 Tr.CN) đã quan niệm đối thoại như một kiểu giao tiếp trí tuệ, nó phản ánh mối quan hệ giữa con người và con người
- Nhà triết học người Đức là Phơ Bách (1804 - 1872) đã viết: “Bản chất của con người chỉ thể hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người
và con người, trong sự thống nhất giữa tôi và bạn”
- Trong “Bản thảo Kinh tế triết học năm 1844 Mác đã cho rằng: “Giao
tiếp là một nhu cầu xã hội giữa con người và con người và nó là một khí quan trực tiếp để hình thành khí quan xã hội”; Đồng thời Mác nói : “Giao tiếp là chiếc gương mà mỗi người tự soi mình”
Thế kỷ XX vấn đề giao tiếp được các nhà tâm lý học, triết học, xã hội học, nhân chủng học, giáo dục học… quan tâm Người đầu tiên là nhà triết học và tâm lý học Gô Mít (đại diện cho tâm lý học thực dụng) đã đưa ra
thuyết “quan hệ tượng trưng” và ông cho rằng vai trò giao tiếp quy định sự
tồn tại của cá nhân và xã hội: “Nếu chúng ta muốn cái riêng của chúng ta thì
phải có cái tôi khác của người khác”, cái tôi đó theo ông là “Khách thể xã
hội” (chính là những người khác)
Đại diện cho triết học hiện sinh tại Nhật là Máclinbubơ (1878 - 1965)
trong tác phẩm “Tôi và bạn”; ông đưa ra tư tưởng “tồn tại là đối thoại” sau
đó nâng lên thành “nguyên tắc đối thoại” và nó góp phần nâng lên lý luận
Trang 25giao tiếp Từ đó ông cho rằng cuộc sống của con người từ đối thoại nhân lên thành sự phát triển nhân cách con người
- A.N Lêônchep (nhà tâm lý học người Nga) là người đầu tiên đưa ra
cấu trúc của hoạt động và ông cho rằng:”giao tiếp nằm trong hoạt động”
- Flomôp cho rằng: “giao tiếp là phạm trù độc lập đặc trưng chỉ có ở
con người Giao tiếp không gắn với hiện tượng nó là một phạm một trù độc lập Từ đó giao tiếp đã trở thành rất cần thiết trong mọi lĩnh vực: tâm lý học
sư phạm, y học, thể thao,…”
- Các nhà tâm lý học ứng dụng cho rằng: “Giao tiếp được xem là một
sự tập hợp các quá trình nhằm truyền đạt và tự giác các thái độ, các niềm tin
và ý định dựa vào bộ sinh học và tâm lý chung của loài người làm sao cho các bên hiểu được và đạt được mục đích của giao tiếp”
Tâm lý học nhân cách cho rằng: “Giao tiếp là quá trình tác động giữa người
và người thông qua đó mà có sự tiếp xúc tâm lý được thực hiện các quan hệ liên nhân cách được cụ thể hoá”
Các nhà tâm lý học kinh doanh cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình
mà trong đó mục đích kích thích dưới dạng một thông điệp được một bộ phát truyền đi nhằm tác động và gây ra một hiện quả khi đi tới một bộ phận thu”
Nhà tâm lý học xã hội Anh - M.Argyle mô tả quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau ông cho rằng giao tiếp thông tin
mà nó biểu hiện bằng lời hay không bằng lời từ nhiều người đến một người giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại
về mặt vật lý và chuyển dịch không gian (Trần Hiệp - Tâm lý học xã hội những vấn đề lý luận - NXB KHXH HN 1996)
Trong đề tài này, người viết chủ yếu dùng khái niệm dưới góc độ văn hoá học; vậy, hiểu giao tiếp như là một quá trình có sự tăng trưởng về lượng
và chất qua thời đoạn khác nhau, nên có thể định nghĩa: “Giao tiếp là một quá
trình trao đổi và tiếp xúc với nhau giữa con người với bản thân, với xã hội, với thiên nhiên, với gia đình trực tiếp và gián tiếp thông qua các công cụ
Trang 26như tiếng nói , ngôn ngữ, hành vi, tâm lý nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức, những hiểu biết trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống loài người, của cộng đồng, nhóm xã hội và cá nhân con người” (chuyển dẫn
luận án tiến sĩ khoa học triết học Cù Huy Chử; mã số 05.01 05, Hà Nội 1995) Và giao tiếp được xem ở hai cấp độ:
Giao tiếp được thực hiện trong mối quan hệ xã hội tức là trong sự tác động qua lại giữa các giai cấp, cộng đồng, các nhóm xã hội có sự ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của từng cá thể
Giao tiếp được thực hiện trong các quan hệ giữa các cá nhân mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến hai quá trình cá thể và chủ thể trong đó cấp độ thứ nhất là quyết định và quyết định cấp độ thứ hai Cấp độ thứ hai là sự thể hiện và làm phong phú cấp độ thứ nhất
Các hình thức giao tiếp: Giao tiếp có được là nhờ phương tiện chuyển
tải nó, hay chính là công cụ thực hiện nó Công cụ giao tiếp được thể hiện dưới nhiều dạng: Cử chỉ (hành vi), ngôn ngữ (lời nói, chữ viết), những ý
tưởng (tư duy và tình cảm), nhìn chung nó được xét dưới hai dạng tiêu
biểu: Ngôn ngữ hành vi và ngôn ngữ lời nói
Ngôn ngữ lời nói là sản phẩm của con người và con người sáng tác ra qua thực tiễn cuộc sống lao động và cộng đồng nhằm tiếp xúc với nhau để đạt được mục đích của hành động lao động, hành động sinh hoạt và những hành động sống khác Lịch sử, cũng như truyền thuyết đã cho ta thấy rằng không có ngôn ngữ để giao tiếp thì con người khó có thể đạt tới sự đồng tâm, nhất trí trong hoạt động sống của mình Do vậy khi làm những gì cần đến sức mạnh
tập thể như kéo co, chèo thuyền, con người vẫn phải cử một đầu trò hô lên những tiếng hô để thống nhất sức mạnh
Như thế chúng ta thấy được ngôn ngữ miệng (lời nói) đóng một vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt và đời sống giao tiếp của con người Không những thế, lời nói nhiều khi còn là tiêu chuẩn để định vị nhân cách cá nhân, phong cách nhóm xã hội; cách sống của gia đình và cách sinh hoạt của
Trang 27xã hội Qua hình thức, nội hàm, chất lượng của lời nói người ta có thể biết đó
là con người như thế nào, là người thanh cao hay thô lỗ, có lễ nghĩa hay bất
nghĩa, có lòng tự ái, tự trọng, có văn hoá hay vô văn hoá… Bất cứ trong hoàn
cảnh và thời gian nào, lời nói cũng biểu lộ bản chất của con người, bởi nó là công cụ truyền tải trí tuệ, ý thức, tình cảm… của người này đến với người kia,
của tập thể này đến tập thể khác Lời nói cũng đa dạng như chính sự da
dạng của con người trong xã hội, song ngoài sự đa dạng gần như tối đa ấy mọi người cần phải tuân thủ một số định chuẩn, một số quy ước về cách thức ăn nói, từ thưa gửi đến chào hỏi, từ nói năng với người thân trong gia đình đến
ăn nói với người xung quanh, láng giềng và xã hội Những quy ước này chính là điều kiện để đạt đến tiêu chuẩn “con người thanh lịch”, tránh tình trạng “ô nhiễm” ngôn từ ngay trong bản thân từng con người, từng gia đình,
từng nhóm xã hội, cộng đồng và toàn bộ xã hội Không ai trong chúng ta không thấm nhuần những lời khuyên nhủ của các cụ xưa:
“Lời nói không mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
Đó là một cách thức xử thế đẹp trên lĩnh vực ngôn từ, được truyền lại là một kinh nghiệm sống, được tiếp thu và noi theo như một chuẩn mực
Không chỉ trao đổi, tiếp xúc bằng lời nói (ngôn ngữ miệng ) mà con người từ khi sáng tạo ra chữ viết để biểu lộ, ghi nhận những ý tưởng, cảm xúc của mình, đó là sự giao tiếp với nhau bằng văn tự (chữ viết) qua thư từ, đơn
từ, truyện, thơ hay dưới nhiều hình thức trao đổi sử dụng phương tiện chữ viết cũng như ngôn ngữ lời nói, văn tự được dùng để diễn tả mọi vấn đề thuộc mối quan tâm của con người từ ý chí đến tình cảm, từ thẩm mỹ đến thị hiếu, từ những quan tâm lớn lao đến những vấn đề nhỏ nhặt trong xã hội Văn tự là một phương tiện hỗ trợ cho lời nói ở những lĩnh vực mà lời nói có thể hay không thể diễn đạt mà văn, thơ, truyện và nhiều hình thức thể hiện ngôn từ khác là sản phẩm bậc cao của giao tiếp bằng văn tự
Trang 28Với tính lan truyền không biên giới và nhờ dịch thuật, các sản phẩm này làm mở rộng quan hệ giao tiếp và giao lưu đó là cho và nhận… để rồi làm giàu ngôn ngữ, phong cách hành xử và văn hoá của cộng đồng
Bên cạnh những ngôn ngữ giao tiếp trên, thì còn có ngôn ngữ cử chỉ hành vi Loại ngôn ngữ này đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt, trong giao tiếp nhóm và cộng đồng Tiêu biểu cho việc sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi như một biểu tượng là ở trẻ khuyết tật (câm điếc) Ngoài
ra ngôn ngữ này còn được sử dụng rất thông dụng ở nhiều đối tượng, nhiều trường hợp: những ám hiệu, những kí hiệu, những biểu trưng, những quy tắc ước lệ… có những ngôn ngữ cử chỉ đã trở thành biểu tượng để nhận biết dân tộc: Người Nhật cúi gập người chào; người phương Tây lại bắt tay, ôm hôn khi chào; có dân tộc gặp nhau lại chào bằng cách cọ mũi; có nơi lắc đầu lại là
đồng ý, gật đầu lại là phản đối trong khi các dân tộc khác lại ngược lại… Như
vậy, để thấy rằng ngôn ngữ cử chỉ, hành vi có vai trò quan trọng tức là trong nhóm, cộng đồng, xã hội các loại ngôn ngữ trên tạo thành một thể thống nhất
bổ sung cho nhau làm phong phú khả năng giao tiếp của con người, trở thành phương tiện, công cụ đặc trưng của giao tiếp xã hội
1.1.4.2 Văn hóa giao tiếp
Với tư cách là một hoạt động cơ bản của con người, giao tiếp đã trải qua nhiều thời đoạn mà tính chất và mức độ của mỗi thời đoạn khác nhau quy định phong cách giao tiếp Hay nói cách khác là trình độ giao tiếp ở mỗi giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào cá thể sống và nhiều điều kiện khác nữa ở từng giai đoạn đó Song có lẽ bởi ngôn ngữ và bộ óc cùng với sự phát triển của xã hội ngày càng văn minh, tính chất có văn hoá khởi đầu hiểu như là vun trồng,
cày xới, sinh sôi, tăng trưởng mới được đặt ra trong hành vi giao tiếp Khi
tìm ra lửa con người biết ăn chín và chế tạo công cụ, quần áo sơ khai đã chứng tỏ bản lĩnh văn hoá và hành vi giao tiếp văn hoá đầu tiên của mình Tiếp theo xã hội loài người ngày càng biến đổi và phát triển trong một trật tự được gắn kết bởi những quy ước bán luật, đầu tiên là những ước lệ về gia đình
Trang 29xuất hiện gia phong Trong quan hệ cộng đồng (làng, xã, phường) xuất hiện những hương ước, phong tục (địa phương) Ở cấp quốc gia thời quân chủ phong kiến, có một hệ thống thể chế giao tiếp, ứng xử chính thức và toàn diện với những nội dung và mối phức tạp đa dạng của nó Đi đôi với hệ thống ứng
xử giao tiếp này, mà trật tự “Tam cương, ngũ thường” cũng như quan niệm của các bậc trí giả Phật, Lão, Nho về nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, về tiểu nhân, quân tử làm đại diện là những dòng văn hoá, nghệ thuật của cung đình
và bình dân Mặc dù còn nhiều điểm hạn chế bởi lịch sử, bổ sung hay loại bỏ, nhưng trong ứng xử, giao tiếp kiểu phong kiến vừa nên hẳn cũng có một hạt nhân tiến bộ, đó là nếp trật tự kỉ cương, là tính tự giác trong hoạt động giao tiếp chuẩn mực, theo những tiêu chuẩn nhất định Không phải ngẫu nhiên mà quan niệm, mà lề thói xưa còn in đậm cho đến tận bây giờ, đặc biệt ở các làng
xã hay ở vùng sâu, vùng xa, vùng xa đô thị
Như vậy, thành phần của giao tiếp hiện nay không đơn nhất Nó là một màng lưới đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái truyền thống và cái cải cách trong một dân tộc, một vùng, một nhóm người, thậm chí trong một bản thể, một nhân cách Cũng như vậy giao tiếp có văn hoá được khuôn trong nội hàm hẹp hơn, không phải là toàn bộ các hành động giao tiếp, mà chỉ là những loại giao tiếp ứng xử mang tính đại diện, tính biểu trưng, tính biểu tượng, là gương soi cho nhiều thế hệ mang trong nó những thuộc tính, những tiêu chuẩn có tính văn hoá, đạo đức và thẩm mĩ phù hợp với cảm quan và trí tuệ, tâm thức của một dân tộc Hơn nữa, nó có thể là cốt lõi hình thành một cách ứng xử, giao tiếp đẹp đẽ, lành mạnh và đạt được mức độ biểu tượng cao, hình thành một lối sống đa dạng về mặt nội dung trên cơ sở định chuẩn chân, thiện, mỹ
Giao tiếp là hành vi diễn ra hằng ngày, song mới được chú ý với tính
chất bộ phận, vì thế nó vụn vặt và được thể hiện dưới những dạng “bán tiêu
chuẩn”, “những lời khuyên” theo kiểu “tin thì tin, không tin thì thôi” Giao
tiếp có văn hoá cũng vậy Nó hầu như đang không chịu nổi sự biến động đến chóng mặt không chỉ đời sống kinh tế mà còn đời sống tâm linh, không những
Trang 30khía cạnh vật chất mà còn về khía cạnh tinh thần và lý tưởng trong điều kiện đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hoà nhập mạnh mẽ với quốc tế Hầu như đang có một cuộc đối mặt giữa lý tưởng và thực tại đời sống trong vấn đề giao tiếp có văn hoá Và thực tế đang chứng minh rằng những quan niệm cổ truyền đang có khả năng bị lãng quên, các chuẩn mực đạo đức thẩm mĩ nếu không có ý thức
giữ gìn sẽ bị đảo lộn Thế hệ mới đang tìm một cái “chuẩn” mới cho đời sống
sinh hoạt và giao tiếp của họ chăng? Họ đang muốn tách bạch giữa cái đã có,
cái đang có và cái sẽ có chăng? Và họ sẽ làm gì để đạt được cái “chuẩn” đó
mà không vi phạm cái chân, thiện, mĩ đã trở thành lý tưởng văn minh, văn hoá của ngàn đời
Chỉ riêng trong lĩnh vực giao tiếp văn hoá, đời sống đang đặt ra vô vàn câu hỏi đòi hỏi phải trả lời là có phải hệ thống giao tiếp đang biến thiên đi xuống và giao tiếp văn hoá đang ngày càng thu hẹp phạm vi? Có phải là lối
sống đang xuống cấp của các hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ giao tiếp? để đi đến
một nếp sống văn hoá, để hình thành một loại hình văn hoá giao tiếp cho hôm nay cũng như cho thế hệ sau và phải làm cho giao tiếp có văn hoá ngày càng được trân trọng, được lặp đi lặp lại thành nếp, được tôn vinh và ngày càng thắng thế trong xã hội, nhất là trong môi trường văn hóa giáo dục học đường
Giao tiếp và văn hoá giao tiếp là toàn bộ những giao tiếp ở tất cả các lĩnh vực khác nhau trong xã hội đạt đến trình độ nhất định của cái đẹp, cái tốt, cái thật phù hợp với tiêu chuẩn định hướng về văn hoá Nó mang tính
chất văn hoá, có giá trị văn hoá và được coi là đại diện hay biểu tượng cho loại thể và phong cách giao tiếp Từ đó tạo cho con người có tri thức đúng, tình cảm đẹp, biết sống hoà đồng, biết vì mọi người, biết làm giàu cho mình
và cho đất nước Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm văn hóa giao
tiếp như sau: Văn hóa giao tiếp là sự trao đổi bằng ngôn ngữ và cử chỉ hành
động của bản thân với xã hội, với môi trường xung quanh và với người khác
Trang 31nhằm đạt tới chuẩn mực về cái đẹp, cái tốt, cái văn minh lịch sự cao nhất mà loài người vươn tới
Trên đây là những khái niệm cơ bản, sử dụng để tìm hiểu và phân tích thực trạng cũng như đưa ra những giải pháp về văn hoá giao tiếp của sinh viên trong các trường đại học
1.1.5 Khái niệm môi trường
Trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, sự tiến bộ thần tốc của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã và đang mang lại những thành tựu to lớn về mọi mặt cho toàn nhân loại, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu đa dạng về vật chất, tinh thần và không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người Nhưng đồng hành với quá trình này là những mặt trái của sự phát triển mà loài người đang phải đối mặt, trong đó có vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái - một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của toàn nhân loại
Môi trường thường được hiểu là tất cả những cái bao quanh chúng ta: không khí, đại dương, lục địa cũng như tất cả thực vật, động vật, vi sinh vật sống ở đó Nói cách khác, môi trường là tất cả các yếu tố xung quanh bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật sống Theo cách hiểu này, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 đã định nghĩa tại Điều 1 như sau: “Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”
Trong khoa học xã hội và nhân văn, môi trường, theo nghĩa rộng của khái niệm này được quan niệm như là toàn bộ hoàn cảnh tự nhiên tạo thành điều kiện sống, toàn bộ hoàn cảnh xã hội (cả về vật chất và tinh thần) xung quanh, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sự phát triển toàn diện của con người Theo đó, có môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội, môi trường văn hóa, môi trường tâm linh như là những cái nôi nuôi dưỡng sự sống, hình
Trang 32thành và hoàn thiện nhân cách con người Điều đó cũng có nghĩa là việc hình thành và sự phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện được trong một môi trường nhất định Môi trường đó tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao lưu cá nhân Sự ảnh hưởng của môi trường ít hay nhiều cũng còn tùy thuộc vào thái độ của cá nhân, (chấp nhận, tiếp thu hay phản đối), tùy theo xu hướng và năng lực của mỗi người
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, môi trường với ý nghĩa môi
trường sống được hiểu theo nghĩa hẹp là môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường văn hóa
1.1.6 Khái niệm về môi trường văn hóa
Nói đến văn hóa là nói đến con người, chỉ có con người mới có văn hóa
và sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới Và cũng dễ thấy rằng môi trường sống của con người không chỉ là môi trường tự nhiên mà còn là môi trường xã hội Hơn thế nữa, đó còn là môi trường văn hóa - môi trường sống đặc thù chỉ
có ở cộng đồng người - cộng đồng xã hội mà thôi Các nhà nghiên cứu văn hóa nói chung và triết học văn hóa nói riêng đã sử dụng phạm trù “môi trường văn hóa” để thể hiện mối quan hệ giữa con người và văn hóa
Vậy môi trường văn hóa là gì?
Trong cuốn “Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin”, các tác giả quan
niệm: “Môi trường văn hóa là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và
nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ Môi trường văn hóa không chỉ là tổng hợp những
yếu tố văn hóa vật thể mà còn có những con người hiện diện văn hóa” (4)
GS.TS Huỳnh Khái Vinh nhấn mạnh: “Với tính chất là tổng thể (các
hoạt động và sinh hoạt của con người các và giá trị vật chất tinh thần cũng như điều kiện và cơ chế vận hành các hoạt động hiện và giá trị vật chất ấy), môi trường văn hóa luôn luôn can thiệp và quy định các hoạt động sống, cách thức sống và cả lẽ sống của con người Cái cốt lõi tạo nên khuôn mẫu và
Trang 33chiều hướng vận động của môi trường văn hóa là chuẩn mực giá trị xã hội” (5)
Từ góc nhìn giá trị học, GS TS Đỗ Huy nhấn mạnh vai trò của con người khi đưa ra định nghĩa: “Môi trường văn hóa chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình” (6)
Nếu tiếp cận văn hóa dưới góc độ giá trị, coi văn hóa là quá trình sáng tạo các giá trị và chuẩn mực của con người theo hướng chân, thiện, mỹ trong tiến trình lịch sử trong mối quan hệ tương tác biện chứng giữa một bên là hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người với một bên là ảnh hưởng của các điều kiện khách quan, thì môi trường sống của con người bao quát toàn bộ luật trong xã hội và môi trường tự nhiên được con người “văn hóa” tạo thành một môi trường đặc hữu chỉ có trong cộng đồng xã hội là môi
trường văn hóa Nói cách khác, trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, quan
hệ giữa văn hóa và con người còn hình thành một môi trường mà ở đó mỗi người xác định được “tọa độ văn hóa” của mình trong không gian, thời gian rộng lớn của nền văn hóa cộng đồng dân tộc và nhân loại, thấy được sự hữu hạn của cá nhân trong cuộc “nhập thân văn hóa” và đồng sáng tạo ra các giá
trị văn hóa mới
Từ sự phân tích trên, có thể nhận thấy môi trường văn hóa được thiết lập từ tổng thể các quan hệ giữa văn hóa với con người Theo đó, văn hóa thấm sâu vào tất cả các phẩm chất, năng lực, hành vi của mỗi cá nhân trong
đó học vấn và kinh nghiệm được coi là “chìa khóa” để con người nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới khách quan theo ý chí chủ quan của mình Và đến lượt nó, sự phát triển những giá trị của từng cá nhân lại đóng góp phần làm giàu thêm văn hóa cộng đồng, làm cho văn hóa là một dòng chảy không ngừng
Tiếp thu những định nghĩa và quan niệm của các nhà nghiên cứu, có
thể quan niệm: Môi trường văn hóa là giới hạn cụ thể xác định trong mối
Trang 34quan hệ biện chứng giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, chỉ toàn bộ không gian diễn ra các hoạt động văn hóa của cộng đồng để tạo nên các giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần tác động đến con người trong một thời gian cụ thể Trong môi trường này, thông qua các quan hệ văn hóa và cùng với hệ thống thiết chế văn hóa, các cá nhân tác động lẫn nhau, cải biến nhau hướng tới các giá trị và chuẩn mực xã hội mang tính Chân, Thiện, Mỹ Và do đó, con người có quan hệ trực tiếp với nhau là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến chất lượng của môi trường văn hóa
Theo quan niệm trên thì bản chất của môi trường văn hóa là kết hợp hài hòa giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, là sự vận động của các mối quan hệ văn hóa trong hoạt động giao tiếp, ứng xử của cá nhân trong cộng đồng và với chính bản thân mình Về phạm vi tác động, có môi trường văn hóa mang tính nhân loại, mang tính quốc gia, đồng thời cũng có những môi trương văn hóa mang tính vùng, miền, khu vực, địa phương được quy định bởi những điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, tâm lý, truyền thống, phong tục tập quán, lối sống riêng của nơi đó Như vậy, có thể nói việc phân chia thành ba dạng môi trường (tự nhiên, xã hội và văn hóa) chỉ là thao tác để dễ tìm hiểu và nhận dạng, còn về bản chất, khi nói xây dựng môi trường văn hóa
ở một không gian và thời gian xác định thì việc làm này cũng bao hàm nhiệm
vụ xây dựng môi trường cảnh quan tự nhiên và xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tốt đẹp
1.1.7 Khái niệm giáo dục
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt”, giáo dục là sự tác động có hệ thống đến
sự phát triển tinh thần, thể chất của con người để họ dần dần có được những phẩm chất, năng lực như yêu cầu đề ra” (7)
Theo “Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam”, giáo dục là “Quá trình
đào tạo con người có mục đích, có hệ thống, có phương pháp, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia vào đời sống xã hội, lãnh đạo sản xuất bằng cách tổ
Trang 35chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người” “Theo nghĩa hẹp, giáo dục chỉ là sự bồi dưỡng, rèn luyện về ý thức, thế giới quan, phẩm chất đạo đức cho con người” (8)
Theo “Từ điển giáo dục học”, giáo dục là “Hoạt động hướng tới con
người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lãnh đạo sản xuất và đời sống xã hội” (9)
Mặc dù các nhà nghiên cứu có cách diễn giải có khác nhau nhưng tựu chung lại đều coi giáo dục là một hoạt động đặc trưng và tất yếu trong đời sống nhân loại, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì và phát triển xã
hội Theo đó, có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích làm biến đổi nhận thức, năng lực, tìuh cảm, thái độ của nguời học theo hướng tích cực góp phần hoàn thiện nhân cách phát triển tư duy của họ bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài
Trải qua hàng ngàn năm đúc kết kinh nghiệm lý luận và thực hành, giáo dục học phương Đông đã tổng kết được 4 mặt cơ bản nhất của hoạt động giáo dục là: giáo dục đạo đức (đức học), giáo dục trí tuệ (trí dục), giáo dục thể chất (thể dục) và giáo dục thẩm mỹ (mỹ dục)
Tóm lại, giáo dục là một trong những nhân tố hàng đầu cấu thành đời sống xã hội, là một bộ phận gắn liền với tiến trình phát triển của nhân loại: Con người được giáo dục vì thế là nguồn lực quan trọng nhất, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển của xã hội Với ý nghĩa đó, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự
nghiệp của Nhà nước và của toàn dân” (Luật Giáo dục)”
1.1.8 Khái niệm môi trường giáo dục
Theo “Từ điển giáo dục học” thì môi trường giáo dục là “Tập hợp
những không gian, những hoạt động xã hội và cá nhân, những phương tiện về
Trang 36giao lưu, những quá trình, phối hợp lại với nhau và tạo điều kiện thuận lợi để đạt những kết quả giáo dục có hiệu quả nhất”(10) Với ý nghĩa quan trọng
như vậy, Luật Giáo dục quy định mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục
Khái niệm môi trường giáo dục có liên quan mật thiết đến các khái niệm như môi trường học tập, môi trường nhà trường, môi trường sư phạm
Môi trường học tập là tập hợp những yếu tố không gian, nhân lực, vật
lực và tài sản, trực tiếp hoặc ở xa, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc học tập đạt kết quả tốt Theo đó, môi trường học tập cần được tạo ra ở nhà trường, ở gia đình, ở cộng đồng và xã hội Đó là một nội dung rất quan trọng của sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Môi trường nhà trường là tập hợp những con người, những cơ sở vật
chất, kỹ thuật và những phương tiện quản lý, có tương tác lẫn nhau một cách thường xuyên, nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành công của việc học ở nhà trường Với ý nghĩa đó, môi trường nhà trường có ảnh hưởng lớn đến người học Nếu được tổ chức tốt, có nghĩa là kết hợp với môi trường giáo dục của gia đình, của xã hội và tạo được nhân tố thúc đẩy sự cố gắng, thì rất thuận lợi cho việc học tập năng động và sáng tạo của học sinh, sinh viên
Môi trường sư phạm là tập hợp những con người, những thao tác và
phương tiện phục vụ cho việc dạy học đạt kết quả tốt Như vậy có thể thấy môi trường sư phạm là nội dung cơ bản của môi trường nhà trường
1.1.9 Quan niệm về môi trường văn hóa học đường nói chung
Lâu nay các nhà quản lý và nghiên cứu thường sử dụng phạm trù “môi trường giáo dục” để chỉ những mối quan hệ tồn tại và tác động qua lại trong hoạt động dạy - học ở nhà trường Theo đó, môi trường này bao hàm sự tác động biện chứng, gắn bó hữu cơ giữa thầy và trò trên cơ sở mối quan hệ giữa
Trang 37một bên là người trao truyền và một bên là người tiếp biến kiến thức, giữa nhà trường với tư cách là một tổ chức giáo dục và tất cả các cá nhân học tập, giảng dạy và làm việc trong đó, cùng với những phong trào gắn với nhiệm vụ dạy và học của giáo viên và học sinh, sinh viên
Tiếp cận dưới góc độ văn hóa, thiết nghĩ với quan niệm như vậy sẽ thiếu đi nhiều mảng tạo nên tổng thể sống động các mối quan hệ và hoạt động trong nhà trường Chẳng hạn như các hoạt động giao lưu giữa các trường với nhau, hoạt động giải trí ngoài giờ học, hoạt động xã hội của giáo viên, học sinh, sinh viên
Chính vì vậy, sẽ là hợp lý hơn nếu sử dụng cụm từ “môi trường văn hóa học đường” để bao quát các mối quan hệ và hoạt động của các cá nhân trong nhà trường
Một cách ngắn gọn, có thể quan niệm: Môi trường văn hóa học đường
là nơi diễn ra các mối quan hệ tác động qua lại mà hướng chủ yếu là từ giáo viên đến học sinh, sinh viên, tạo nên một cộng đồng văn hóa học đường cùng hướng tới các giá trị và chuẩn mực chung của xã hội, trong đó hệ thống tri thức giáo khoa và kinh nghiệm sống của người thầy trở thành nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến hành vi ứng xử, thái độ học tập và rèn luyện, định hướng giá trị và nhân cách của người học Đồng thời, đó cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa học đường nhằm sáng tạo, hưởng thụ, bảo lưu, phổ biến các giá trị văn hóa của nhà trường, địa phương, dân tộc và nhân loại theo hướng Chân - Thiện - Mỹ
1.1.10 Quan niệm môi trường văn hóa học đường đại học
So với các bậc học khác, đại học là một trong những bậc học có thời gian đào tạo dài nhất và gắn bó chặt chẽ với tương lai nghề nghiệp của người học Dễ dàng nhận thấy việc học tập, nghiên cứu ở đại học có nhiều nét khác việt so với ở bậc học phổ thông: Sinh viên có trình độ tư duy lý luận cao hơn,
tự giác nắm bắt tri thức cũ và tìm tòi kiến thức mới; kết hợp học tập với tập dượt nghiên cứu khoa học; có tính độc lập cao, năng lực tự học, tự nghiên cứu
Trang 38được khai thác và phát huy Điều đó cũng đồng nghĩa rằng việc học tập của
sinh viên ngày càng tiếp cận với quá trình nhận thức của nhà khoa học, chuyên gia theo chuyên môn đang được đào tạo Mặt khác, trong quá trình học tập ở đại học, sinh viên phải tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau: học tập, nghiên cứu khoa học, tu dưỡng đạo đức, rèn luyện nhân cách, trau dồi thực tiễn nghiệp vụ, các hoạt động văn nghệ, thể thao, công tác đoàn thể Do
đó, vấn đề xây dựng môi trường văn hóa – giáo dục lành mạnh ở nhà trường đại học có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiến bộ và kết quả học tập, rèn luyện của sinh viên
Từ quan niệm về môi trường văn hóa và môi trường văn hóa học đường
ở trên, có thế đưa ra một cách hiểu về môi trường văn hóa học đường đại học
như sau: Môi trường văn hóa học đường đại học là tổng hòa các mối quan
hệ (mang tính văn hóa) giữa các cá nhân (giảng viên, sinh viên, cán bộ, công nhân viên) và các tổ chức thành viên (khoa, phòng, ban, viện, trung tâm, lớp học) trong nhà trường trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần trong một thời gian xác định thuộc phạm vi không gian trường đại học đó nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo được những cá nhân có trình độ chuyên môn vững vàng, có đạo đức nghề nghiệp, khỏe mạnh về thể chất và phong phú về đời sống tinh thần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và tham gia đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất nước
1.2 Các thành tố cơ bản của văn hóa học đường đại học
1.2.1 Chủ thể của môi trường văn hóa học đường đại học
Trang 39Với vai trò, vị thế là chủ thể quá trình dạy - học, giảng viên là nhân tố có vai trò quyết định hàng đầu trong việc xây dựng môi trường văn hóa – học đường lành mạnh, phong phú ở nhà trường đại học
b, Sinh viên
Nếu xét ở góc độ tiếp nhận kiến thức thì sinh viên là khách thể của quá trình dạy - học, còn khi xét ở góc độ thu nhận kiến thức thì sinh viên lại là chủ thể của lượng kiến thức được thu nhận đó Suy cho cùng, xây dựng môi trường văn hóa học đường đại học là cho sinh viên, vì xây dựng văn hóa học đường là nhằm tạo lập cho chính họ có được một môi trường học tập, nghiên cứu và rèn luyện thuận lợi nhất để phát huy năng lực của mình
Theo đó, sinh viên là bộ phận đông đảo nhất và là nhân tố tích cực
và quyết định nhất trong toàn bộ quá trình xây dựng, duy trì và củng cố chất lượng, hiệu quả của môi trường văn hóa học đường đại học
c) Cán bộ, công nhân viên
Nhiều người khi bàn luận về giáo dục nói chung và từng nhà trường đơn lẻ nói riêng thường chỉ quan tâm đến người dạy và người học
mà quên rằng còn có một bộ phận tuy không trực tiếp tham gia quan hệ dạy - học nhưng cũng có vai trò nhất định trong các bộ phận cấu thành một đơn vị trường học, đó là cán bộ công nhân viên trong mỗi trường học Cán bộ có thể là những người tham gia công tác quản lý mà không trực tiếp giảng dạy, có thể vừa giảng dạy vừa phụ trách một mảng hoạt động, một bộ phận nhất định trong cơ cấu trường học Nhân viên có thể
là những người làm những công việc chuyên biệt ở các khoa, phòng, ban, trung tâm hoặc bộ phận nhân viên bảo vệ, nhân viên môi trường
có trách nhiệm gắn với công việc được giao
Trang 40Như vậy có thể nói cán bộ, công nhân viên cũng là một nhân tố rất quan trọng góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng môi trường văn hóa học đường ở nhà trường đại học
1.2.2 Khách thể của môi trường văn hóa học đường đại học
a) Hệ thống các giá trị văn hóa học đường
Hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống giá trị văn hóa học đường
Một cách chung nhất, giá trị là những tư tưởng bao quát, được tin
tưởng mạnh mẽ chung cho một nhóm người, một cộng đồng người, một giai cấp, một dân tộc, một thời đại về cái gì đó được coi là điều đúng, điều sai, điều thiện, điều ác, điều hợp lý, điều không hợp lý, điều xấu, điều tốt, điều mong muốn hoặc không đáng mong muốn
Có thể nói, giá trị là đặc trưng cơ bản hàng đầu quy định tính chất, nội dung và sự phát triển của một nền văn hóa Nó là sự kết tinh những thành tựu sáng tạo của con người trong hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội Chính vì vậy, giá trị được dùng làm tiêu chuẩn để xem xét một hiện tượng ở thời điểm nhất định và theo một hệ chuẩn mực nhất định Tất nhiên, chuẩn mực giá trị trong các lĩnh vực khác nhau được xác định bởi những tiêu chuẩn khác nhau Nếu như giá trị kinh tế nghiêng về cái lợi (lợi nhuận), giá trị khoa học nghiêng về cái đúng (chân lý), giá trị đạo đức nghiêng về cái thiện, giá trị nghệ thuật nghiêng về cái đẹp thì giá trị văn hóa đòi hỏi phải được phân định bằng cả 3 chuẩn cơ bản là Chân - Thiện - Mỹ Một cách chung nhất, giá trị phân cực ra làm 2 hướng chính là hướng tích cực hình thành các giá trị, hướng tiêu cực nảy sinh các phản giá trị: chân đối lập với giả, thiện đối lập với ác, đẹp đối lập với xấu…
Với tư cách là một thành tố của môi trường văn hóa học đường, hệ thống giá trị văn hóa học đường bao hàm nhiều cấp độ: Các giá trị nền tảng giữ vai trò định hướng chung và có tính ổn định tương đối trong môi trường
giáo dục (tôn sư trọng đạo ); Các giá trị chuẩn mực là sự thể hiện các giá trị