Tiểu luận môn lý thuyết tài chính tiền tệ Tóm tắt lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát. Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền. Điều này cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiến với cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trả một giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ.
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Khoa Thương mại – Du lịch - Marketing
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
1.1 Khái niệm lạm phát 2
1.2 Phân loại và đo lường lạm phát 2
a) Phân loại lạm phát 2
b) Đo lường lạm phát 4
1.3 Nguyên nhân lạm phát 6
1.4 Tác động của lạm phát đối với nền kinh tế 8
2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 13
2.2 Khái quát về tỷ giá hối đoái 13
2.3 Các loại tỷ giá hối đoái 14
a) Tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá hối đoái song song 14
b) Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế 15
c) Tỷ giá hối đoái song phương và Tỷ giá hối đoái hiệu lực 15
3.1 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát 16
Trang 3Chương 1 LẠM PHÁT
1.1 Khái ni m l m phát ệm lạm phát ạm phát
Trong kinh tế học, lạm phát là hiện tượng giảm mãi lực của đồng tiền Điềunày cũng đồng nghĩa với “vật giá leo thang”, giá cả hàng hóa, dịch vụ tăng cao khiếnvới cùng một số lượng tiền, người tiêu thụ mua được ít hàng hóa hơn hoặc phải trảmột giá cao hơn để hưởng cùng một dịch vụ Một khái niệm khác về lạm phát là khốilượng tiền được lưu hành trong dân chúng tăng lên do nhà nước in và phát hành thêmtiền vì những nhu cầu cấp thiết (chiến tranh, nội chiến, thâm thủng ngân sách v.v ).Trong khi đó, số lượng hàng hoá không tăng khiến dân chúng cầm trong tay nhiềutiền quá sẽ tranh mua khiến giá cả tăng vọt có khi đưa đến siêu lạm phát Những ví dụcùng cực nhất của siêu lạm phát đã xảy ra tại Đức trong những năm đầu thập niên
1920 khi tỉ lệ lạm phát lên tới 3.25 x 106 mỗi tháng, có nghĩa là giá cả tăng gấp đôimỗi 49 tiếng đồng hồ hoặc tại Hungary sau Thế chiến thứ hai với tỉ lệ lạm phát 4.19 x
1016 (giá cả tăng gấp đôi mỗi 15 giờ đồng hồ)
Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồngtiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượnghàng hoá ít hơn so với năm trước
1.2 Phân lo i và đo l ạm phát ường lạm phát ng l m phát ạm phát
a) Phân lo i l m phátại lạm phát ại lạm phát
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3 đến dưới 10 phần trăm mộtnăm
inflation)
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai chữ số một nămthường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát Việt Nam và
Trang 4hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thịtrường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
Nhìn chung thì lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ranhững biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giánhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàngngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sửdụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch
có giá trị lớn và tích lũy của cải
Do hậu quả của chính sách Giá - lương - tiền, Việt Nam đã phải hứng chịu siêulạm phát trong các năm 1986-1989
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanhchóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát đượcchấp nhận phổ quát Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế ngưười
Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi) Theo định nghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trảiqua 15 cuộc siêu lạm phát Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát lànước Đức sau Thế chiến thứ nhất Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 mark vào tháng 1năm 1922 lên đến 70.000.000 mark chỉ trong chưa đầy hai năm sau Giá cả của cácthứ khác cũng tăng tương tự Từ tháng 1 năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá
đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000 Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tớinền kinh tế Đức đến mức nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làmnảy sinh chủ nghĩa Đức quốc xã và Thế chiến thứ hai
Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát Thứ nhất, các hiện tượng nàychỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạmphát có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng,
do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ Vào thập niên 1980, các cú sốc bên ngoài
và cuộc khủng hoảng nợ của Thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việcgây ra siêu lạm phát ở một số nước Mỹ La-tinh
Trang 5Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạmphát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cảhàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định;(3) các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và(4) lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệ lạm phát cộng dồntrong ba năm lên tới 100 phần trăm
Một ví dụ điển hình của siêu lạm phát là vào năm 1913, tức là ngay trước khichiến tranh thế giới nổ ra, một USD có giá trị tương đương với 4 mark Đức, nhưngchỉ 10 năm sau, một USD đổi được tới 4 tỉ mark Vào thời đó, báo chí đã đăng tảinhững tranh ảnh biếm họa về vấn đề này: người ta vẽ cảnh một người đẩy một xe tiềnđến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác cho thấy ngày đó đồngmark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như một loại nhiên liệu
b) Đo lường lạm phátng l m phátại lạm phát
Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của mộtlượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữliệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước, mặc dù các liên đoàn lao động và cáctạp chí kinh doanh cũng làm việc này) Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được
tổ hợp với nhau để đưa ra một "mức giá cả trung bình", gọi là mức giá trung bình củamột tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiệntại đối với mức giá trung bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạmphát thể hiện qua chỉ số giá cả là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bìnhhiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc Để dễ hình dung có thể coi mứcgiá cả như là phép đo kích thước của một quả cầu, lạm phát sẽ là độ tăng kích thướccủa nó
Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị củachỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số,cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đophổ biến của chỉ số lạm phát bao gồm:
Trang 6 Chỉ số giá sinh hoạt (viết tắt tiếng Anh: CLI)
Là sự tăng trên lý thuyết giá cả sinh hoạt của một cá nhân so với thu nhập,trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giả định một cách xấp xỉ Các nhà kinh tếhọc tranh luận với nhau là có hay không việc một CPI có thể cao hơn hay thấp hơn sovới CLI dự tính Điều này được xem như là "sự thiên lệch" trong phạm vi CPI CLI cóthể được điều chỉnh bởi "sự ngang giá sức mua" để phản ánh những khác biệt tronggiá cả của đất đai hay các hàng hóa khác trong khu vực (chúng dao động một cách rấtlớn từ giá cả thế giới nói chung)
Đây là chỉ số đo giá cả các hàng hóa hay được mua bởi "người tiêu dùng thôngthường" một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc gia công nghiệp, những sự thay đổitheo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này là con số lạm phát thông thường hayđược nhắc tới Các phép đo này thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, donhững người lao động mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằnghoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI Đôi khi, các hợp đồng lao động có tính đến các điềuchỉnh giá cả sinh hoạt, nó ngụ ý là khoản chi trả danh định sẽ tự động tăng lên theo sựtăng của CPI, thông thường với một tỷ lệ chậm hơn so với lạm phát thực tế (và cũngchỉ sau khi lạm phát đã xảy ra)
Chỉ số này đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được không tính đến giá bổsung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận vàthuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận được bởi các nhà sản xuất là không bằngvới những gì người tiêu dùng đã thanh toán Ở đây cũng có một sự chậm trễ điển hìnhgiữa sự tăng trong PPI và bất kỳ sự tăng phát sinh nào bởi nó trong CPI Rất nhiềungười tin rằng điều này cho phép một dự đoán gần đúng và có khuynh hướng của lạmphát CPI "ngày mai" dựa trên lạm phát PPI ngày "hôm nay", mặc dù thành phần củacác chỉ số là khác nhau; một trong những sự khác biệt quan trọng phải tính đến là cácdịch vụ
Trang 7Đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hóa bán buôn (thông thường là trước khibán có thuế) một cách có lựa chọn Chỉ số này rất giống với PPI.
Đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hóa một cách có lựa chọn Trongtrường hợp bản vị vàng thì hàng hóa duy nhất được sử dụng là vàng Khi nước Mỹ sửdụng bản vị lưỡng kim thì chỉ số này bao gồm cả vàng và bạc
Dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trịGDP giá thực tế (GDP danh định) với tổng giá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xácđịnh GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDP thực) Nó là phép đo mức giá
cả được sử dụng rộng rãi nhất Các phép khử lạm phát cũng tính toán các thành phầncủa GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã chuyểnsang sử dụng khử lạm phát tiêu dùng cá nhân và các phép khử lạm phát khác để tínhtoán các chính sách kiềm chế lạm phát của mình
là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đólên mức cao hơn Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là “quá nhiều tiềnđuổi theo quá ít hàng hoá”
Trang 8Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào,máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu tốnày tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên Các
xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mứcgiá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động.Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho ngườilao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanhkém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh từ đó
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặthàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tínhchất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượngcầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tănggiá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm đượchuy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảmkhiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mấtcân bằng
Trang 9Ai là nạn nhân của lạm phát?
Khi lạm phát xảy ra thì hầu hết mọi thành phần của nền kinh tế đều trở thànhnạn nhân của lạm phát, bởi nhìn một cách tổng thể thì mỗi người đều là người tiêudùng Tuy nhiên, 3 thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất là:
- Người về hưu: Lương hưu là một trong những “hàng hoá” ổn định nhất về
giá cả, thường chỉ được điều chỉnh tăng lên đôi chút sau khi giá cả hàng hoá đã tănglên gấp nhiều lần
- Những người gửi tiền tiết kiệm: Hẳn nhiên sự mất giá của đồng tiền khiến
cho những người tích trữ tiền mặt nói chung và những người gửi tiền tiết kiệm đánhmất của cải nhanh nhất
- Những người cho vay nợ: Khoản nợ trước đây có thể mua được một món
hàng nhất định thì nay chỉ có thể mua được những món hàng có giá trị thấp hơn Vậy
ai là người được hưởng lợi? Có lẽ khi đồng tiền mất giá dần thì người sung sướngnhất chính là những con nợ vì nay khoản nợ họ phải trả có vẻ nhẹ gánh hơn
1.4 Tác đ ng c a l m phát đ i v i n n kinh t ộng của lạm phát đối với nền kinh tế ủa lạm phát đối với nền kinh tế ạm phát ối với nền kinh tế ới nền kinh tế ền kinh tế ế
Đối với các quốc gia đang phát triển, tác hại dễ thấy nhất là lạm phát phủ định(negate) tăng trưởng kinh tế nếu bằng hay cao hơn tăng trưởng kinh tế Ví dụ theoWorld Factbook, nếu một nền kinh tế tăng trưởng kinh tế ở mức 8.4% nhưng tỉ lệ lạmphát lên tới 8.3% Như vậy, trung bình người dân có thu nhập cao hơn 8.4% nhưngđời sống sinh hoạt mắc hơn 8.3% cùng thời kỳ thì coi như cũng không tích lũy được
gì Tiêu chuẩn đời sống không được cải thiện bao nhiêu Nếu không có biện phápngăn chận, lạm phát sẽ làm tê liệt dần bộ máy kinh tế vì doanh nhân sẽ không thiết thahoạt động sản xuất nữa vì không có lợi nhuận Tâm lý chung sẽ chỉ mua bán “chụpgiựt” và chuyển tài sản thành kim loại quý hay ngoại tệ mạnh để tránh lạm phát Điềunày rõ ràng không có lợi cho sự xoay vòng của đồng tiền để phát triển nền kinh tế
Đối với các quốc gia công nghiệp (industrialized countries) mà xã hội đãchuyển qua dạng xã hội tiêu thụ rồi thì lạm phát tác hại theo một qui trình 3 bước:
- Lạm phát (inflation)
Trang 10- Giảm phát (deflation)
– Suy thoái kinh tế (economic recession)
Lạm phát không kiểm soát nổi sẽ đưa đến tình trạng giá thành các mặt hàngtăng cao Giá hàng hóa lên cao sẽ làm giảm nhu cầu tiêu thụ Hàng hoá trở nên dưthừa và ế ẩm Để sống còn, công ty sản xuất phải chịu lỗ, hạ giá bán và thu nhỏ hoạtđộng lại Một số hãng xưởng sẽ phải đóng cửa và công nhân bị sa thải ra làm nhu cầuchung về tiêu thụ lại càng giảm nữa Đến đây bắt đầu giai đoạn giảm phát Hàng hoá
sẽ xuống giá cho đến khi nào tìm được một sự quân bình mới giữa cung cầu Lúc đókinh tế đi vào giai đoạn suy thoái và tiêu chuẩn sống (standards of livings) của ngườidân bị giảm sút Sự tác hại của lạm phát đối với kinh tế sau một thời gian âm ỉ có tínhcách bùng nổ như một cơn bệnh cấp tính Điển hình nhất là cơn đại khủng hoảng kinh
tế 1929 tại Mỹ Chỉ trong một một ngày, giá trị thị trường chứng khoán Mỹ bị mất đigần một nửa và kinh tế Mỹ bước vào một giai đoạn suy thoái thảm não kéo dài gầnhai thập niên sau đó
Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh nhữngtác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêmtrọng đối với kinh tế và đời sống Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát
đó có dự đoán trước được hay không, nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên triđược mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất ngờ Nếu nhưlạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạm phát không gây nên gánh nặngkinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó Lạm phátkhông dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhậpmột cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế
Tác động phân phối lại thu nhập và của cải
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khácnhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân Khi lạm phát xảy ra, những ngươi
có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chungđều tăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống Ngược lại, những người làm công
ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại
Trang 11Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản làlãi suất cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát Ví dụ, lãi suất thực là3%, tỷ lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12% Tuy nhiên, một sự điều chỉnhcho lãi suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ởmức độ thấp.
Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phảithúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông,cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng củachính phủ và nhân dân
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tănglên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm pháttăng lên Nhà linh tế học A.W Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát
và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵnsàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn
Các tác động khác
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bịmất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vựchàng hóa có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời gian thuhồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài, thời gian thuhồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro Trong lĩnh vực lưu thông, khi vậtgiá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổbiến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn Trong điềukiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra làm tăng tỷ giá hối đoái Sự mất giácủa tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàngxuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu Lạm phát cao và siêulạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng.Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng,nhiều ngân hàng bị phá sản vì mấtkhả năng thanh toán, lam phát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm