Mục tiêu và phương hướng tổng quát mà Đại hội X nêu ra là “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và
Trang 1B¸o c¸o tæng hîp kÕt qu¶ nghiªn cøu
§Ò tµi khoa häc cÊp nhµ n−íc Ph¸t triÓn v¨n hãa ViÖt nam giai ®o¹n 2011 – 2020
Trang 2DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN CHÍNH THAM GIA ĐỀ TÀI
1 PGS,TS Phạm Duy Đức – Chủ nhiệm Đề tài
2 PGS,TS Nguyễn Duy Bắc – Thư ký Đề tài
Trang 314 VHTT Văn hóa – Thông tin
15 XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài:
Năm năm 2006-2010 có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI do Đại hội
IX đề ra Mục tiêu và phương hướng tổng quát mà Đại hội X nêu ra là
“Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh,
mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”1
Đại hội X đã khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân là phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người Đến năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) gấp hơn 2,1 lần so với năm 2000 Trong 5 năm 2006-2010, mức tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5-8% năm) Phấn đấu đạt 8% /năm Các chỉ tiêu định hướng về phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu mà Đại hội
X đã thông qua, GDP năm 2010 theo đầu người bình quân đạt khoảng 1.050-1100 USD, gấp đôi năm 2000 Cơ cấu GDP đến năm 2010 có sự thay đổi rõ rệt theo hướng đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ Cơ cấu nông nghiệp khoảng 15-16%; công nghiệp và xây dựng 43-44%; dịch
vụ 40-41% Về xã hội, lao động nông nghiệp năm 2011 chiếm dưới 50% Hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, đạt 200 sinh viên đại học, cao đẳng trên 10.000 dân Tuổi thọ bình quân của dân số Việt Nam đạt 72 tuổi
Về lĩnh vực văn hóa, Đại hội X khẳng định: tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã
hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN, 2006, tr.76
Trang 5Như vậy, giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn mở ra một tiền đề to lớn
để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới ở thời kỳ 2011-2020 Sự phát triển về kinh tế - xã hội, quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động và phân công lao động trên qui mô quốc gia và quốc tế tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của Việt Nam Khi mức thu nhập bình quân trên
1000 USD/người gắn liền với quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu về văn hóa của nhân dân ngày càng phát triển Mặt khác, quá trình hội nhập quốc tế, mở rộng giao lưu văn hóa toàn cầu trở nên ngày càng sôi động hơn Những thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã và đang tạo ra khả năng to lớn kích thích năng lực sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa của nhân dân Văn hóa của các địa phương, của các dân tộc thiểu số, của các vùng miền
sẽ có nhiều cơ hội để trao đổi, giao lưu và chia sẻ kinh nghiệm, kích thích
ra hiện nay Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2020” là một đề tài có ý nghĩa lý luận và có ý nghĩa thực tiễn cấp
bách
- Ý nghĩa lý luận của đề tài thể hiện trước hết ở việc đề tài phải căn
cứ vào thực tế vận động, phát triển của tình hình kinh tế - xã hội và văn hóa Việt Nam trong giai đoạn 25 năm đổi mới vừa qua để rút ra bài học kinh nghiệm, dự báo xu hướng phát triển của văn hóa Việt Nam giai đoạn
Trang 62011 – 2020, nhận diện điểm tương đồng và khác biệt của văn hóa Việt
Nam trong qúa trình phát triển hiện nay so với các giai đoạn trước đó và
so với các nước trong khu vực, chỉ ra lợi thế so sánh, phát huy thế mạnh, hạn chế mặt trái, xác định tầm nhìn, mục tiêu, quan điểm và giải pháp có ý nghĩa đột phá để phát triển văn hóa giai đoạn 2011-2020
Đề tài góp phần đánh giá thực trạng lãnh đạo và quản lý văn hóa
của Đảng và Nhà nước ta trong 25 năm đổi mới để tổng kết những thành
tựu lý luận và thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực về lãnh đạo và quản lý văn hóa
Đề tài làm sâu sắc hơn mối quan hệ biện chứng giữa ba nhân tố văn hóa, kinh tế và chính trị trong quá trình phát triển ở Việt Nam, phát hiện những vấn đề lý luận mới nảy sinh trong việc thực hiện đường lối của Đảng gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa ba lĩnh vực này trong hoạt động thực tiễn hiện nay Đề tài làm rõ đặc điểm của văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay, nghiên cứu những ảnh hưởng của văn hóa chính trị đối với quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, rút
ra những bài học xây dựng văn hóa chính trị giai đoạn 2011 – 2020
Đây là loại đề tài mang tính dự báo có ý nghĩa chiến lược, góp phần vào cung cấp các luận cứ khoa học cho việc bổ sung, phát triển sửa đổi
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (năm 1991) và chuẩn bị cho việc xây dựng Văn kiện của
Đảng tại Đại hội XI Vì vậy đề tài phải chú trọng quan điểm thực tiễn và quan điểm phát triển, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào giải quyết vấn đề phát triển văn hóa trong thời kỳ mới
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài hoàn thành là một trong những cơ sở khoa học góp phần xây dựng đường lối, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 Đặc biệt, những kiến nghị của đề tài sẽ góp phần vào bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh năm 1991 và góp phần xây dựng các Văn kiện của Đảng phần về đường lối, chính sách văn hóa phục vụ Đại hội XI Kết quả của đề tài là tư liệu tham khảo cho công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, đào tạo sau đại học ở Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và các viện nghiên cứu, các trường đại học khoa học xã hội và nhân văn trên phạm vi cả nước
Trang 7- Những giải pháp có ý nghĩa đột phá mà đề tài đề xuất có thể được vận dụng trong công tác lãnh đạo, tổ chức và quản lý văn hóa ở các cấp
2 Mục tiêu của Đề tài:
*Mục tiêu khoa học của đề tài:
- Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước ta trong 25 năm đổi mới, đề tài chỉ rõ mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực cơ bản khác của đời sống xã hội, đặc biệt là tác động qua lại giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và chính trị; làm sáng tỏ vai trò, đặc điểm của văn hóa chính trị Việt Nam thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đề tài đề xuất mục tiêu, quan điểm định hướng và giải pháp mới có tính đột phá để phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
- Mục tiêu cụ thể của đề tài:
1 Trên cơ sở khảo sát, đánh giá đúng thực trạng văn hóa Việt Nam
và quá trình lãnh đạo, quản lý văn hóa của Đảng, Nhà nước ta trong 25 năm vừa qua (1986 – 2010), chỉ rõ nguyên nhân của thành tựu và yếu kém của các lĩnh vực trên, rút ra những bài học kinh nghiệm cho giai đoạn phát triển 2011 - 2020
2 Đánh giá đúng tác động của văn hóa đối với phát triển kinh tế, xã hội và những bài học kinh nghiệm đối với giai đoạn phát triển 2011 – 2020
3 Đánh giá đúng thực trạng văn hóa chính trị và những thành tựu cũng như hạn chế, yếu kém của văn hóa chính trị trong 25 năm đổi mới vừa qua, chỉ rõ nguyên nhân của những thành tựu, yếu kém và những bài học kinh nghiệm
4 Dự báo đúng xu hướng phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn
2011 – 2020
5 Đề xuất mục tiêu, quan điểm định hướng và giải pháp có tính đột phá và khả thi để phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
6 Đề xuất các kiến nghị để bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm
1991 và Dự thảo Văn kiện Đại hội XI của Đảng về lĩnh vực phát triển văn hóa giai đoạn 2011 - 2020
* Mục tiêu kinh tế - xã hội:
Góp phần vào việc đề xuất quan điểm định hướng, giải pháp mới có
ý nghĩa đột phá để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn
Trang 82011 – 2020, góp ý cụ thể để bổ sung cho Cương lĩnh năm 1991 và chuẩn
bị nội dung phần xây dựng và phát triển văn hóa trong Văn kiện Đại hội
XI Đồng thời đề tài cũng đề xuất phương án đầu tư có hiệu quả nhất để làm động lực thúc đẩy văn hóa phát triển và phát huy vai trò của văn hóa đối với việc phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020
3 Tình hình nghiên cứu của Đề tài:
Đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” là đề tài mới chưa được nghiên cứu Tuy nhiên trong những năm đổi mới vừa qua đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài này ở những mức độ khác nhau
- Ngoài nước:
Những công trình nghiên cứu dự báo về tương lai ở thế kỷ XXI nổi tiếng thế giới đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam trong những năm
gần đây Tiêu biểu là Cú sốc tương lai; Thăng trầm quyền lực; Chiến
tranh và chống chiến tranh; Sự sống còn của loài người ở buổi bình minh của thế kỷ XXI của Alvin và Heidi Toffler Mặc dù còn nhiều ý kiến khác
nhau nhưng những nội dung mà các cuốn sách này nêu ra rất cần thiết để nhìn tới tương lai của xã hội loài người thế kỷ XXI và những vấn đề đặt ra
để nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa Hai công
trình Chiếc Lexus và cây ôliu và Thế giới phẳng của tác giả Thomas
L.Friedman (được dịch và giới thiệu ở Việt Nam năm 2005, 2006) là những công trình dự báo thế kỷ XXI đem lại nhiều gợi ý trực tiếp cho đề tài về những nhân tố tác động đến văn hóa Việt Nam hiện nay Công trình
của các học giả Trung Quốc “Dự báo thế kỷ XXI” do Nxb Thống kê dịch
và giới thiệu ở Việt Nam (1998) đã dành một chương quan trọng để dự
báo về Văn hóa thế kỷ XXI Công trình “Đại dự đoán Trung Quốc thế kỷ
XXI” đã ghi lại nhận xét của 100 nhà khoa học hàng đầu của Trung Quốc,
trong đó có các nhà văn hóa dự báo về tương lai của Trung Quốc và tương lai của văn hóa Trung Quốc thế kỷ XXI Đây là những gợi ý để cho đề tài
“Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020” suy nghĩ về tương
lai phát triển văn hóa Việt Nam
Cuốn sách “Cải cách thể chế văn hóa của Trung Quốc” do Khang Thức Chiêu biên soạn đã đưa ra nhiều gợi ý bổ ích cho giới nghiên cứu Việt Nam về mô hình văn hóa chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung cao độ sang phát triển kinh tế thị trường và vấn đề cải cách thể chế văn
Trang 9hóa, tạo động lực cho văn hóa phát triển trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Được sự tài trợ của Quỹ giao lưu văn hóa Nhật Bản, Trung tâm nghiên cứu văn hóa Nhật Bản thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân
văn Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về chủ đề: “Những
thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở một số nước châu Á” (Kỷ yếu Hội thảo do Dương Phú Hiệp –
Nguyễn Duy Dũng chủ biên) Các tác giả trong nước và quốc tế đã phân tích thực trạng thay đổi về văn hóa, xã hội của một số nước châu Á như Nhật Bản, Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Inđônêxia Đây là những gợi ý quan trọng để các nhà nghiên cứu đi sâu hơn vào sự biến đổi của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Gần đây, tổ chức SIDA – Thuỵ Điển đã tài trợ cho Viện Văn hóa – Thông tin thuộc Bộ Văn hóa
Thông tin thực hiện dự án: “Chính sách văn hóa vì sự phát triển”
Mặc dù không bàn trực tiếp về đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020” nhưng các công trình nghiên cứu trên là những gợi
ý để đề tài này tiếp thu và nghiên cứu sâu hơn nữa, nhất là vấn đề phát triển văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế
- Trong nước:
Đường lối đổi mới của Đảng được bắt đầu từ Đại hội VI (1986) đã tạo nên một bước ngoặt lớn trong nghiên cứu văn hóa ở nước ta Nhiều vấn đề mới nảy sinh trong đời sống văn hóa Việt Nam thời kỳ mở cửa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu cũng như cá nhân các nhà khoa học Điều đặc biệt là Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến đời sống văn hóa xã hội trong thời kỳ đổi mới và đã đầu tư một cách tập trung cho công tác nghiên cứu văn hóa Chương trình khoa học – công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước KX.07 về khoa học xã hội giai đoạn 1991 – 1995 do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia chủ trì Mục tiêu và nội dung của chương trình KX.07 bao quát một phạm vi rất rộng, tương đối toàn diện về những vấn đề mà sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam đặt
ra trong thời kỳ đổi mới Những mục tiêu và nội dung nghiên cứu là:
Trang 10- Tổng kết kinh nghiệm và nêu lên được những giá trị lớn của văn hóa Việt Nam, có ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa đối với tương lai phát triển của đất nước
- Xây dựng hệ quan điểm phát triển thống nhất yếu tố kinh tế với yếu tố xã hội và yếu tố văn hóa, trong đó văn hóa sẽ đóng vai trò “điều tiết” sự phát triển cùng vai trò vừa là động lực, vừa là mục tiêu của phát triển
- Khởi thảo một bộ môn khoa học nghiên cứu về văn hóa và văn hóa Việt Nam
- Phổ cập các thành tựu nghiên cứu trong các công trình xuất bản nhằm cổ vũ ý thức quốc gia trong giai đoạn mới Phát động một phong trào phục hưng văn hóa dân tộc phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá đất nước và sự tiến bộ xã hội trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Kiến nghị một đề án về chiến lược phát triển tiềm lực văn hóa nhằm phát huy cao nhất năng lực con người Việt Nam vì sự tiến bộ xã hội
và nhân đạo, tức là phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Chương trình được triển khai với 17 đề tài Kết quả nghiên cứu của các đề tài này đã góp phần vào việc hoạch định chủ trương chính sách phát triển văn hóa Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta Quá trình nghiên cứu về phát triển văn hóa ở Việt Nam trong giai đoạn này lại được sự cổ
vũ, khích lệ ở việc Việt Nam tham gia vào “Thập kỷ thế giới phát triển
văn hóa” (1988 – 1997) Sự tham gia tích cực của Uỷ ban Quốc gia Thập
kỷ thế giới phát triển văn hóa của Việt Nam đã đem lại những kết quả to lớn cho việc nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của văn hóa đối với
sự phát triển đất nước thông qua các hội thảo cấp quốc gia và quốc tế về
các lĩnh vực cơ bản và cấp bách như “Phương pháp luận về vai trò của
văn hóa trong phát triển” (1993) “Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện nay” (1993) Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu ở giai đoạn
này là “Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp
với tinh hoa văn hóa nhân loại” do GS VS Phạm Minh Hạc chủ biên
(1996); “Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa Việt Nam” của Đỗ Huy, Trường Lưu; “Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay” -
Bộ Văn hóa Thông tin (1992); “Văn hóa và kinh doanh” do Phạm Xuân Nam chủ biên (1996); “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới” của GS Phan Ngọc (1994); “Văn hóa trong phát triển và toàn cầu hoá” do Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn xuất bản (1996) “Các giá trị truyền
Trang 11thống và con người Việt Nam hiện nay”(2 tập) do GS Phan Huy Lê và
PGS,TSKH Vũ Minh Giang chủ biên (1994, 1996)…
Tiếp sau đó, giai đoạn từ 1996 đến năm 2000, có chương trình
nghiên cứu KHXH 04 “Phát triển văn hóa, xây dựng con người mới
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những chính sách
xã hội tương ứng để phát huy mạnh mẽ nhân tố con người” Kết quả của
chương trình nghiên cứu này được thể hiện qua một số công trình tiêu biểu
như “Giáo dục và văn hóa, văn hóa và giáo dục” do GS,VS Phạm Minh Hạc chủ biên (2001); “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” do Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (2001);
“Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” do Phạm Minh Hạc – Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (2003)
Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước mang mã số KX
05 “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001 – 2005) đã tập trung vào chủ đề phát
triển văn hóa nhằm xây dựng con người và nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thành tựu tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này là công trình “Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp
hóa, hiện đại hóa Những điều cần khắc phục” do GS,VS Phạm Minh
Hạc chủ biên (2004); “Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực
đầu thế kỷ XXI” (Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Chương trình khoa học cấp
Nhà nước KX.05 Hà Nội 2003); “Văn hóa các dân tộc Tây Bắc Thực
trạng và những vấn đề đặt ra” do GS Trần Văn Bính chủ biên (2004);
“Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên Thực trạng và những vấn đề đặt ra” do
GS Trần Văn Bình chủ biên (2004); “Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ
Thực trạng và những vấn đề đặt ra” do GS Trần Văn Bính chủ biên
(2004)…
Nhìn lại những thành tựu của Chương trình khoa học cấp Nhà nước
về lĩnh vực văn hóa qua các giai đoạn 1991 – 1995, 1996 – 2000, 2001 –
2005, chúng ta có thể nói đây là tài sản quý giá phản ánh trí tuệ và tâm huyết của hàng trăm các nhà khoa học trong nước ở các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học tham gia Những thành tựu về lý luận và thực tiễn
này là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam
giai đoạn 2011 – 2020” Các công trình có ảnh hưởng trực tiếp đến đề tài
này là công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con
Trang 12người” do GS Đặng Xuân Kỳ chủ biên (2005) Công trình này đã khái
quát nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người và những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con người, phương hướng giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam hiện nay Công trình này có ý
nghĩa chỉ dẫn quan trọng để triển khai đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam
giai đoạn 2010 – 2020” Công trình “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” do Nguyễn Khoa Điềm chủ
biên và công trình “Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Phạm Minh Hạc – Nguyễn Khoa Điềm
chủ biên là kết tinh thành tựu nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà
nước KHXH.04 Công trình “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” do Nguyễn Khoa Điềm chủ biên xuất phát từ những tiền đề
lý luận cơ bản về văn hóa, nhìn nhận lại một số văn kiện của Đảng về văn hóa, tiếp cận một số đặc điểm của văn hóa Việt Nam và một số vấn đề lý luận đang đặt ra Công trình đã đi sâu khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hơn 10 năm đầu của sự nghiệp đổi mới (1986 – 2000), tìm hiểu kinh nghiệm xử lý vấn đề văn hóa của một số nước trên thế giới Đồng thời đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp lớn của sự nghiệp xây dựng văn hóa trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ văn hóa những năm đầu thế kỷ XXI Đây là công trình vừa có ý nghĩa đóng góp để xây dựng Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ năm khoá VIII “Về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, vừa là công trình đầu tiên triển khai một cách toàn diện quan điểm của Hội nghị Trung ương này Những nhiệm vụ và những giải pháp cũng như những kiến nghị mà đề tài này nêu
ra rất cơ bản và có ý nghĩa thiết thực đối với việc triển khai nghiên cứu đề
tài “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020”
Công trình “Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là công trình tổng hợp kết quả nghiên cứu
của Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KHXH.04 do GS,VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm Chương trình và đồng chí Nguyễn Khoa Điềm làm phó chủ nhiệm đồng chủ biên Công trình này đã bao quát một phạm vi rộng lớn gồm các nội dung sau:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa, xây dựng con người
Trang 13- Văn hóa và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất và đa dạng
- Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội mới trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên hiện nay
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến dân tộc, sắc tộc ở nước ta và trên thế giới Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
- Vấn đề tôn giáo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Những thành tựu của những công trình lớn trên đây, nhất là những nhiệm vụ và những vấn đề đặt ra cho văn hóa Việt Nam bước vào thế kỷ
XXI là những chỉ dẫn quan trọng để đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam
giai đoạn 2011 – 2020” tiếp tục nghiên cứu sâu sắc và phát triển thêm
Tuy nhiên, do giới hạn về thời gian nghiên cứu cũng như do sự xuất hiện những tình hình và nhiệm vụ mới của sự nghiệp đổi mới nói chung, của văn hóa nói riêng ở giai đoạn 2001 – 2010 cho nên nhiều vấn đề chưa được đề cập đến trong các công trình này, nhất là việc gắn kết giữa văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt ở các vùng văn hóa khác nhau như đô thị, nông thôn đồng bằng và miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số v.v… Những hạn chế này của công trình khoa học cấp Nhà nước KHXH 04 (giai đoạn 1996 – 2000) được Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX
05 “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” (2001 – 2005) khắc phục Chương trình KX 05
đã triển khai hàng loạt đề tài nghiên cứu bao gồm: Đề tài KX.05 – 01: “Cơ
sở phương pháp luận của việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá
và hội nhập quốc tế” do TS Hồ Sĩ Quý làm chủ nhiệm Đề tài KX.05 –
02: “Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng nông thôn
đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do TSKH Phan Hồng Giang làm chủ nhiệm Đề tài KX.05
– 03: “Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng đô thị và
Trang 14khu công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do
GS.TSKH Đình Quang làm chủ nhiệm Đề tài KX.05 – 04: “Đời sống văn
hóa và xu hướng phát triển văn hóa của một số dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do
GS.TS Trần Văn Bính làm chủ nhiệm Việc khảo sát, phân tích và đánh giá đời sống văn hóa của các vùng, các miền, của đồng bào các dân tộc thiểu số ở các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ góp phần làm rõ thực trạng văn hóa ở nước ta và những vấn đề cấp thiết cần giải quyết cụ thể hơn, thiết thực hơn Tiêu biểu cho kết quả nghiên cứu của
Chương trình KX.05 đã công bố là cuốn “Đời sống văn hóa các dân tộc
thiểu số trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do GS,TS Trần
Văn Bính chủ biên và “Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt
Nam” do GS, TSKH Đình Quang chủ biên Kết quả điều tra và sự phân
tích, kiến giải sâu sắc về những vấn đề đặt ra và các kiến nghị mà các công trình này nêu ra là cơ sở để chúng ta suy nghĩ về hướng phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Công trình “Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” là Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (Mã số ĐTĐL
- 2003/18) do GS,TS Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm Nội dung của đề tài khá phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề cấp bách mà thực tiễn phát triển của đất nước đang đặt ra Đặc biệt, những đánh giá, tổng kết thực tiễn của đề tài về lĩnh vực văn hóa trong 20 năm đổi mới là những gợi ý quý báu đối
với đề tài Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Tuy nhiên, do giới hạn của từng chương trình cũng như giới hạn về thời gian nghiên cứu, nhiều vấn đề mới nảy sinh trên lĩnh vực văn hóa chưa được các chương trình khoa học cấp Nhà nước qua tâm đúng mức Đặc biệt là phần dự báo về tình hình văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề gắn kết giữa văn hóa với phát triển kinh tế và xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị… Đây là những vấn đề mới cần được bổ sung để nghiên cứu trong đề tài “Phát triển văn hóa giai đoạn
2011 – 2020”
Bên cạnh những công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước nêu trên, trong thời gian qua còn có hàng loạt các cơ quan, các tổ chức và các nhà khoa học khác nhau tập trung nghiên cứu về văn hóa Việt Nam Các
đề tài cấp Bộ như “Văn hóa và sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản”
Trang 15(1993), “Văn hóa dân tộc trong thời kỳ mở cửa” (1994), “Văn hóa và sự
phát triển đô thị ở nước ta hiện nay” (1996), “Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam nhìn từ góc độ văn hóa” (1998) do GS, TS Trần
Văn Bính làm chủ nhiệm ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và sự lãnh đạo chính trị của Đảng, xác định những thuận lợi và thách thức của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, xác định vị trí của văn hóa trong quá trình đô thị hoá Đặc
biệt là công trình “Toàn cầu hoá và quyền công dân ở Việt Nam – nhìn từ góc
độ văn hóa” được xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã có tác dụng tích
cực trong việc khẳng định giá trị cơ bản của văn hóa dân tộc và quyền cơ bản về văn hóa của con người Việt Nam trong chế độ xã hội mới
Công trình kỷ yếu Hội thảo khoa học do Trung tâm nghiên cứu
Nhật Bản tổ chức về chủ đề “Những thay đổi về văn hóa, xã hội trong quá
trình chuyển sang kinh tế thị trường ở một số nước châu Á” (1998) đã
cung cấp những thông tin và những gợi ý tốt để tìm hiểu thực trạng biến đổi của văn hóa Việt Nam khi bứơc sang phát triển kinh tế thị trường
Một công trình lớn là “Triết lý phát triển ở Việt Nam Mấy vấn đề
cốt yếu” do GS Phạm Xuân Nam chủ biên công bố năm 2002 Đây là đề
tài lớn của Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia tập trung vào triết lý phát triển ở Việt Nam Trong công trình này, các tác giả đã quan tâm đến triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội; triết lý về bản sắc dân tộc và hiện đại hoá văn hóa trong phát triển Gần đây nhất, năm 2008, GS Phạm Xuân Nam tiếp tục công bố công trình nghiên cứu
“Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa Một góc nhìn từ
Việt Nam” Kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử và logíc, công trình
này đã đi sâu khẳng định quá trình lịch sử kết hợp đối thoại văn hóa và bảo vệ chủ quyền, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam theo diễn trình lịch sử Từ đó, công trình đã rút ra bài học lịch sử và đề cập đến vấn đề đương đại của việc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chủ động tham gia đối thoại giữa các nền văn hóa trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện
nay Những kết quả nghiên cứu này góp phần quan trọng để đề tài “Phát
triển văn hóa giai đoạn 2011 - 2020” suy nghĩ về triết lý phát triển văn
hóa Việt Nam hiện nay và vấn đề đa dạng văn hóa, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ toàn cầu hóa
Trang 16Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các công trình được công bố trong thời gian qua có liên quan ít nhiều đến đề tài “Phát triển văn hóa giai đoạn
2011 – 2020” Đó là các công trình “Một cách tiếp cận văn hóa” của Phan Ngọc (1999), “Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước
ta hiện nay” của GS,TS Hoàng Vinh (1999); “Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới” của GS,VS Hồ Sĩ Vịnh (1999); “Toàn cầu hoá, những vấn đề lý luận và thực tiễn” do GS,TS Lê Hữu Nghĩa, TS Lê Ngọc Tòng
chủ biên (2004); “Hoạt động giải trí ở đô thị Việt Nam hiện nay Những
vấn đề lý luận và thực tiễn” do PGS,TS Phạm Duy Đức chủ biên (2004);
“Về văn hóa và xây dựng đời sống văn hóa” của TS Nguyễn Hữu Thức (2005); “Bản sắc dân tộc và hiện đại hoá văn hóa Việt Nam Mấy vấn đề
lý luận và thực tiễn” của PGS,TS Thành Duy (2006); “Văn minh tinh thần
từ chất lượng văn hóa” của Trường Lưu (2006); “Đạo đức xã hội ở nước
ta hiện nay, vấn đề và giải pháp” do GS,VS Nguyễn Duy Quý chủ biên
(2006); “Tác động của yếu tố văn hóa - xã hội trong quản lý Nhà nước đối
với tài nguyên, môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
do TS Nguyễn Hữu Bình làm chủ biên (2006); “Văn hóa, mục tiêu và
động lực của sự phát triển xã hội” do GS,TS Nguyễn Văn Huyên chủ
biên (2006); “Văn hoá tiếp cận lý luận và thực tiễn” của PGS,TS Nguyễn Tri Nguyên (2006); “Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS,TS Phạm Duy Đức chủ biên (2006), “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” do PGS, TS Nguyễn Duy Bắc chủ biên,
Như vậy, những thành tựu nghiên cứu của các Chương trình khoa học cấp Nhà nước và Đề tài cấp Bộ của các cơ quan, các đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học là rất to lớn và có ý nghĩa đặc biệt đối với việc triển
khai nghiên cứu đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020” Những thành tựu đó tập trung ở chỗ làm sáng tỏ nhận thức về khái
niệm văn hóa, cơ cấu, đặc điểm của văn hóa Việt Nam cổ truyền và hiện đại, chỉ rõ các nhân tố tác động và sự biến đổi của văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mở cửa, phát triển kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Việc nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại được các đề tài đề cập đến với các nội dung đa dạng và phong phú, bao quát các lĩnh vực chủ yếu, từ việc xác định cơ sở lý luận chung tới
Trang 17việc xây dựng con người; xây dựng môi trường văn hóa; phát triển văn học nghệ thuật; xây dựng lối sống, đạo đức xã hội; bảo vệ di sản văn hóa, từ phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số tới vấn đề văn hóa trong tôn giáo
Các đề tài nghiên cứu trên đây cũng đã đi sâu khảo sát thực trạng đời sống văn hóa của các vùng đô thị, nông thôn và vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xác định đặc thù địa phương và dân tộc để làm
cơ sở cho việc xây dựng và hoạch định chính sách văn hóa Sự tác động qua lại giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và chính trị, văn hoá và quản lý
đã bước đầu được các nhà khoa học quan tâm và có nhiều lý giải sâu sắc
Đáng lưu ý là đã có một số công trình nghiên cứu về lý luận chính trị - xã hội bàn tới tương lai của thế kỷ XXI Tiêu biểu là các công trình
“Xu thế toàn cầu hóa trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI” do GS, TS Lê
Hữu Nghĩa, PGS, TS Trần Khắc Việt, PGS, TS Lê Ngọc Tòng (đồng chủ
biên); công trình “Triển vọng của chủ nghĩa xã hội hai thập niên đầu thế
kỷ XXI” do PGS, TS Trương Giang Long, TS Nguyễn Văn Long đồng
chủ biên; công trình “Nhìn lại qúa trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng
1986 - 2005” do PGS, TS Tô Huy Rứa, GS, TS Hoàng Chí Bảo đồng chủ
biên (2005) và đặc biệt là phần “Dự báo tình hình những năm sắp tới” trong Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) và gần đây
là “Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020” đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt ngày 06 tháng 5 năm 2009 Đây là những
thành tựu đặt nền móng để đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam giai
đoạn 2011 - 2020” có thể kế thừa và phát triển Tuy nhiên, do quá trình
vận động và phát triển của sự nghiệp đổi mới diễn ra nhanh chóng trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề mới đã và đang nảy sinh mà các đề tài đi trước chưa có dịp nghiên cứu, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO Đặc biệt là các vấn đề quản lý thị trường văn hóa, vấn đề phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, vấn đề văn hóa mạng và quản lý văn hóa mạng, vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc dân
tộc trong hội nhập quốc tế đang đặt ra những nội dung mới cần phải nghiên cứu Vì vậy, đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011
– 2020” cần phải kế thừa các thành tựu nghiên cứu cuả các đề tài đi trước,
đồng thời phải bổ sung những nội dung nghiên cứu mới mang tính dự
báo, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Trang 184 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài: “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020” là một
đề tài mang tính chất dự báo trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc (từ thời điểm bắt đầu sự nghiệp đổi mới tới năm 2010) Đây là một đề tài nằm trong chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2006-2010”, Mã số KX.04/06-10 theo Quyết định số 1083/QĐ-BKHCN ngày
18 tháng 6 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ Định hướng mục tiêu của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa Việt Nam và thực trạng lãnh đạo, quản lý văn hóa của Đảng và Nhà nước ta trong 25 năm đổi mới, chỉ rõ các mối quan hệ giữa văn hóa và các lĩnh vực của đời sống xã hội, vai trò, đặc điểm và nội dung của văn hóa chính trị, đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng và giải pháp mới có tính chất đột phá phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Đề tài có nhiệm
vụ kiến nghị những nội dung cụ thể để bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm
1991 và Dự thảo các văn kiện đại hội XI của Đảng Do tính chất dự báo mang tầm chiến lược góp phần vào hoạch định đường lối chính sách phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn 2011-2020 nên đề tài tiếp cận văn hóa từ bình diện lý luận - chính trị, quán triệt sâu sắc quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa, kế thừa và phát huy một cách sáng tạo đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước ta, bám sát vào tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển văn hóa (1986-2010), đánh giá những mặt mạnh và hạn chế, chỉ rõ những nguyên nhân của
thành tựu và hạn chế đó Đồng thời đề tài phải xây dựng được tầm nhìn
chiến lược mang tính toàn diện về lĩnh vực phát triển văn hóa, dự báo xu
thế phát triển của văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 Trên cơ sở những tiền đề khoa học này, đề tài đi đến xác định mục tiêu, quan điểm, định hướng, nội dung, nhiệm vụ và những giải pháp mới mang tính đột phá để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Từ
đó đề xuất các kiến nghị cụ thể về nội dung cần bổ sung vào cương lĩnh
1991 và nội dung của Văn kiện Đại hội XI
4.1 Về phương pháp tiếp cận:
Do tính chất lý luận, tính thực tiễn và tính dự báo có ý nghĩa chiến lược cần đạt tới cho nên tính mới, tính sáng tạo của đề tài được thể hiện
Trang 19thông qua cách tiếp cận văn hóa từ góc độ lý luận chính trị – xã hội, triết học, văn hóa học và lịch sử văn hóa để xem xét, đánh giá vai trò, vị trí của việc xây dựng và phát triển văn hóa trong 25 năm đổi mới, kết quả và hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội của nó, mối quan hệ tương tác giữa văn hóa với các lĩnh vực chính trị và kinh tế – xã hội Vì vậy phương pháp tiếp cận chủ yếu của đề tài là phương pháp tổng hợp, liên ngành
Phương pháp tổng hợp, liên ngành cho phép đề tài có cái nhìn tổng thể và toàn cảnh toàn bộ đời sống văn hóa của đất nước, xác định các thành tố của nền văn hóa và vai trò, chức năng của từng thành tố đó trong
hệ thống, đánh giá đúng vị trí của từng thành tố trong quá trình vận động
và phát triển của nền văn hóa Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, đề tài chú ý tới một số điểm sau:
1.Đề tài chú trọng làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, bao quát rộng rãi và sâu sắc các nhân tố bên trong và bên ngoài, các điều kiện khách quan và chủ quan, xác lập cơ sở phương pháp luận khoa học đúng đắn cho việc nhìn nhận và đánh giá đúng và trúng thực trạng xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong 25 năm đổi mới vừa qua trên cơ sở kiến thức chuyên ngành và liên ngành văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội , quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá và quan điểm đánh giá, tránh chủ quan duy ý chí
2.Chú ý mối quan hệ tương tác biện chứng trong khi phân tích và đánh giá mối quan hệ tương tác giữa văn hóa với kinh tế, giữa văn hóa với chính trị, giữa văn hóa với xã hội, làm rõ vai trò tích cực của văn hóa đối với các lĩnh vực này những cũng không nên “thổi phồng”, tuyệt đối hóa vai trò của nó mà cần chỉ rõ giới hạn nhất định của nhân tố văn hóa
3.Nghiên cứu và nắm bắt sớm sự xuất hiện của các nhân tố mới, kể
cả cái tiêu cực và tích cực trong đời sống văn hóa Việt Nam hiện nay, nhất
là trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế để có những dự báo mang tính chính xác và thiết thực Trên cơ sở đó, đề xuất đúng mục tiêu, quan điểm, nội dung và giải pháp để xây dựng và phát triển văn hóa trong giai đoạn 2011-2020
4.2 Về phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp luận nghiên cứu của đề tài chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Trang 20Minh về xây dựng và phát triển văn hóa Đề tài kế thừa các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong 25 năm đổi mới vừa qua để định hướng công tác nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp hệ thống, cấu trúc - chức năng, phương pháp lịch sử và lô gich, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp điền dã, điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia, cụ thể như sau:
1 Nghiên cứu định tính (nghiên cứu lý thuyết): Dựa trên những cơ
sở lý thuyết về văn hóa, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế –
xã hội trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc và thực tiễn về những vấn đề này ở một số nước trên thế giới, đề tài phân tích, đánh giá, dự báo các yêu cầu mà mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đặt ra đối với việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong bối cảnh mới, từ đó đưa ra định hướng và các giải pháp nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
2 Phương pháp phân tích SWOT (Điểm mạnh- Điểm yếu- Thời cơ-
Thách thức: Strengths - Weaknesses - Opportunities- Threats) được sử dụng để phân tích nhằm làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu của việc phát triển văn hóa ở nước ta, những thuận lợi cũng như khó khăn trong việc xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
3 Phương pháp điều tra xã hội học Nội dung điều tra tập trung vào
2 vấn đề chính sau đây:
- Thực trạng đời sống văn hóa
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa
Với các nội dung trên, đề tài dự kiến xây dựng 2 mẫu phiếu điều tra tương ứng
Địa bàn điều tra: Đề tài đã điều tra tại 7 tỉnh và thành phố là: Thành
phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng, Điện Biên, Cần Thơ, Đắc Lắk, Nghệ An
Đối tượng điều tra: Tập trung vào 3 nhóm đối tượng chính: (1) Cán
bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa (2) Cán bộ trong ngành văn hóa thông tin (3) Một số tầng lớp dân cư
Số phiếu điều tra: 2.100
Trang 21Phương pháp chọn mẫu: Việc chọn mẫu điều tra được thực hiện
chủ yếu theo nguyên tắc lấy mẫu xác suất của Krejcie và Morgan Ngoài
ra đề tài còn sử dụng nguyên tắc lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng như một nguyên tắc trợ giúp
5 Quá trình tổ chức triển khai nghiên cứu đề tài
Quá trình triển khai nghiên cứu của đề tài được thực hiện theo bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2008 Tổ chức
xây dựng đề cương tổng thể và chi tiết của đề tài, tổ chức thu thập tư liệu trong nước và nước ngoài, xây dựng mẫu biểu điều tra, tổ chức điều tra xã hội học 3 tỉnh Tổ chức hội thảo khoa học về cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của đề tài “Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020”
Giai đoạn 2: Từ tháng 7 năm 2008 đến tháng 12 năm 2008, Tổ chức
điều tra xã hội học ở các tỉnh, xây dựng các chuyên đề về thực trạng và bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong 25 năm đổi mới vừa qua Tổ chức Hội thảo khoa học
Giai đoạn 3 :Từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 6 năm 2009, Xây
dựng các chuyên đề khoa học về Dự báo và mục tiêu, quan điểm, nhiệm
vụ phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Tổ chức 3 hội thảo khoa học về: Dự báo xu hướng phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Giai đoạn 4: Từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 12 năm 2009, Viết các
báo cáo chuyên đề độc lập, Tổ chức Hội thảo về Quan điểm, giải pháp phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Giai đoạn 5: Từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 9 năm 2010, viết Báo
cáo tổng hợp, báo cáo tóm tắt, kiến nghị và nghiệm thu đề tài
Đề tài đã tổ chức khảo sát ở 7 tỉnh và thành phố, thu và xử lý kết quả điều tra 2.082 phiếu, tổ chức 4 cuộc hội thảo khoa học, 4 cuộc thảo luận nhóm chuyên gia Đề tài đã kết hợp với các Học viện chính trị các khu vực III ở Đà Nẵng, Học viện chính trị khu vực II Thành phố Hồ Chí Minh, Vụ văn hóa, văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Phú Thọ, Hội đồng lý luận Trung ương, Trường Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức các cuộc hội thảo khoa học liên quan đến nội dung của đề tài Đề tài cũng
Trang 22đã phối hợp và tiếp thu các kết quả nghiên cứu của một số đề tài khoa học
cấp Nhà nước khác của Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính
trị giai đoạn 2006-2010” mã số KX 06-10 và Chương trình KX 03 “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới
và hội nhập”
6 Sản phẩm của đề tài:
- 01 báo cáo phân tích kết quả khảo sát
- 01 báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu
- 01 báo cáo tóm tắt
- 01 báo cáo kiến nghị
- 04 cuốn sách – xuất bản (02 cuốn đã xuất bản, 02 cuốn đã gửi bản thảo)
- 20 bài báo khoa học đã công bố trên sách, báo, tạp chí
7 Lợi ích của đề tài và phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu
7.1 Lợi ích của đề tài
a) Tác động đến xã hội:
1 Đề tài đóng góp vào việc tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa trong 25 năm đổi mới vừa qua, rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần xây dựng mục tiêu, quan điểm, nội dung và giải pháp phát triển văn hóa giai đoạn 2011 - 2020 Đóng góp mới của đề tài chính
là ở chỗ phát hiện và dự báo xu thế phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn
2011, đề xuất mục tiêu quan điểm và giải pháp mới có tính đột phá để xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Đề tài có ý nghĩa đóng góp trực tiếp vào việc sửa đổi, bổ sung Cương lĩnh 1991 về lĩnh vực văn hóa, đồng thời tham gia góp ý các Văn kiện của Đảng về văn hóa, xã hội trình Đại hội XI
Kết quả của Đề tài công bố ở trong nước là 4 công trình làm tài liệu tham khảo cho công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa của ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và các Học viện trực thuộc, các viện nghiên cứu văn hóa và các trường đại học Văn hóa và Khoa học xã hội nhân văn trên phạm vi cả nước
b) Nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức và các cá nhân thông qua thực hiện đề tài, đào tạo sau đại học
Trang 23- Thông qua việc thực hiện nghiên cứu, đề tài góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học trong Viện Văn hóa và phát triển (15 người), Vụ Văn hóa Ban Tuyên giáo Trung ương (4 người), các khoa Văn hóa và phát triển của các Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh khu vực (Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh) (khoảng 35 người)
Kết quả của đề tài có thể dùng để đào tạo trên đại học về văn hóa và
mỹ học, phục vụ chuyên ngành Quản lý văn hóa tại Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Văn hóa Hà Nội, Đại học Sân khấu - Điện ảnh (Viện Văn hóa và phát triển của Học viện trực tiếp giảng dạy cho các cơ sở đào tạo này về Quản lý văn hóa bậc sau đại học (khoảng
200 học viên mỗi khóa))
7.2 Phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu của đề tài được thể hiện ở 4 cuốn sách chuyên đề:
1 Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Những vấn đề phương pháp luận, Nxb CTQG, HN, 2009
2 Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay, Nxb Văn hóa – Thông tin, HN, 2009
3 Những thành tựu xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong
25 năm đổi mới (1986-2010) (đang in)
4 Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (Dự báo và giải pháp (đang in)
- Phương thức chuyển giao: Chuyển giao kết quả nghiên cứu này cho Hội đồng lý luận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Học viện khu vực, các Viện nghiên cứu văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Phương thức chuyển giao thông qua sách, tài liệu tham khảo và chuyển kết quả nghiên cứu vào giảng dạy ở Học viện các các trường đại học
- Đồng thời đề tài có một bản kiến nghị góp vào việc sửa đổi Cương lĩnh 1991 và các Văn kiện của Đại hội XI gửi trực tiếp cho Hội đồng lý luận Trung ương và Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh và Văn kiện Đại hội
XI của Đảng
Trang 24Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 -2020
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong cuộc sống hàng ngày và trong ngôn ngữ khoa học Văn hóa là một thuật ngữ đa nghĩa gắn liền với tất cả hoạt động sống của con người Tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa trước hết có căn cứ vào tính nhiều mặt bao chứa trong nội hàm của khái niệm văn hóa, làm cho khái niệm này có khả năng đề xuất những phương hướng và những nhiệm vụ khác nhau trong việc sử dụng nó Tính đa nghĩa của khái niệm văn hóa không chỉ có ý nghĩa về phương diện nhận thức mà còn là vấn đề thực tiễn lịch sử, nó luôn luôn vận động theo thời gian
Do khái niệm văn hóa được sử dụng và phản ánh nhiều lĩnh vực của nhiều ngành khoa học cụ thể như dân tộc học, xã hội học, lịch sử, triết học, văn hóa học,… nên người ta đã sử dụng phương pháp liên ngành để nghiên cứu khái niệm này
Quan điểm sinh thái học có thời kỳ chiếm một vị trí đặc biệt trong phương pháp tiếp cận văn hóa Quan điểm sinh thái học xem xét và nghiên cứu đối tượng văn hóa từ sự thích nghi của con người với môi trường Các tập quán, các niềm tin, các tín ngưỡng, các phong tục, các hoạt động sáng tạo, hoạt động nhận thức, đánh giá của con người… nói chung là các hoạt động sinh tồn và giao tiếp của con người gắn với tự nhiên được quan điểm sinh thái học đặc biệt chú ý Phạm trù thích ứng là phạm trù nền tảng của quan điểm sinh thái học trong tiếp cận văn hóa
Khác với quan điểm sinh thái học, quan điểm chức năng luận lại coi văn hóa không phải là sự ứng xử, sự thích nghi, sự tập nhiễm mà là một chức năng điều hòa xã hội Văn hóa theo quan điểm chức năng luận là phương thức giao tiếp, phương thức hoạt động, phương thức phát triển, phương thức điều hòa các xung đột xã hội Bản chất của quan điểm chức năng luận là quan tâm đến cách thức tiến hành, cách thức hoạt động của con người Văn hóa là cái vận động liên tục tạo ra sự bình yên giữa con
Trang 25người với con người, giữa cộng đồng với cộng đồng, giữa con người và tự nhiên
Quan điểm chức năng luận thường được sử dụng trong lĩnh vực dân tộc học khi nghiên cứu khái niệm văn hóa Văn hóa ở đây như là một hệ thống tự tại của mỗi dân tộc Hệ thống này rất ít quan tâm đến tiến bộ văn hóa, đến phương diện lịch sử của quá trình văn hóa
Khác với quan điểm chức năng luận, quan điểm thực chứng luận nhân danh việc nghiên cứu văn hóa từ dưới lên thông qua những kinh nghiệm, những thử nghiệm đã khẳng định chủ nghĩa truyền thống, chủ nghĩa lịch sử trong nghiên cứu văn hóa chỉ có nội dung và ý nghĩa tư tưởng thuần túy Quan điểm thực chứng luận bác bỏ nội dung lịch sử của khái niệm văn hóa Nó chỉ chú ý đến các quan hệ đương đại mà không chấp nhận các quan hệ lịch đại trong khái niệm văn hóa Quan điểm thực chứng luận khi giải thích khái niệm văn hóa đã đem đối lập chức năng đánh giá và chức năng mô tả thực chất của quan điểm thực chứng là tái hiện nền kỹ trị hiện đại và từ chối những truyền thống văn hóa Nó muốn vĩnh cửu hóa cái nhất thời, cái đương đại Chủ nghĩa thực chứng thường
cổ vũ cho phương pháp tham thông (compré hension) với nguyên tắc là vượt truyền thống, hướng vào giải phóng cá nhân, cá tính một cách triệt để; đón nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại trong việc xác lập khái niệm văn hóa
Phương pháp tham thông trong nghiên cứu văn hóa là phương pháp xuất hiện trong cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật của thế kỷ XX Người
ta thường cho rằng phương pháp tham thông là thành quả triết học hiện đại, bao chứa sự vận động hỗn loạn của nhiều hình thức vật chất và tinh thần khi lý giải khái niệm và các mô hình văn hóa Phương pháp này nghiên cứu các quá trình giải thể văn hóa của quá khứ dựa vào những thành tựu của khoa học Phương pháp tham thông có tham vọng bao chứa toàn diện sự vận động của nhiều hình thái vật chất từ vi mô đến vĩ mô, từ các giá trị vật chất đến các giá trị tinh thần trong khái niệm văn hóa
Phương pháp tham thông đã chối bỏ truyền thống, đồng thời không chấp nhận chủ nghĩa lịch sử khiến cho khái niệm văn hóa trở nên nghèo nàn và mất sức sống
Trang 26Tiếp thu thành quả của nhiều phương pháp nghiên cứu ngoài mác
xít, cách tiếp cận mác xít về văn hóa là một thành tựu xuất sắc của khoa
học xã hội và khoa học nhân văn
Trước hết, văn hóa, trong quan niệm của những nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác không những không tách rời, mà nó còn là một bộ phận hữu cơ của chủ nghĩa duy vật về lịch sử Các vấn đề văn hóa, học thuyết về văn hóa của chủ nghĩa Mác có mối liên hệ nội tại với học thuyết về hình thái kinh tế xã hội C.Mác, Ph.Ăngghen và V.Lênin đều đã nghiên cứu và vạch
ra bản chất văn hóa của các xã hội nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ,
xã hội phong kiến, xã hội tư bản và văn hóa của chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản
Trên quan điểm hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về văn hóa của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã bàn về bản chất xã hội, tính dân tộc, tính giai cấp, tính thời đại và tính nhân loại phổ biến của rất nhiều quan hệ văn hóa Các phạm trù văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đã được các nhà lý luận mác xít luận giải trên cơ sở học thuyết duy vật biện chứng về mối tương quan giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần của con người Chính C.Mác và Ph.Ăngghen cũng như Lênin đã bàn đến văn hóa lao động, văn hóa sản xuất, văn hóa quản lý, sự phát triển văn hóa của nhân dân lao động, của các cá nhân và các dòng văn hóa khác nhau trong một nền văn hóa
Khác với nhiều quan điểm ngoài mácxít khi tiếp cận khái niệm văn hóa, giá trị học mác xít khẳng định văn hóa có tính độc lập tương đối, nhưng trong chiều sâu của mình, nó mang tính dân tộc đậm đà Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc Tính dân tộc này thể hiện trước tiên ở truyền thống, ở sự bền vững và độc đáo Truyền thống dân tộc được đặc trưng bởi truyền thống văn hóa Các cơ chế của truyền thống dân tộc được lưu giữ trong các truyền thống văn hóa Văn hóa gìn giữ gương mặt của dân tộc, tiếp biến các giá trị mới làm đa dạng hóa truyền thống văn hóa, lưu giữ tính đặc thù dân tộc tạo ra sự khác biệt văn hóa vừa là nguồn cội của
sự thống nhất trong đa dạng vừa là gốc rễ của sự phát triển văn hóa
Có thể nói, cách tiếp cận giá trị học mácxít về văn hóa trước hết là
gắn với hoạt động sáng tạo của con người Trong quan niệm ấy văn hóa là
trình độ người của các quan hệ xã hội Văn hóa không chỉ gắn với các quan hệ xã hội mà còn gắn trực tiếp với tự nhiên, bởi tự nhiên là thân thể
Trang 27vô cơ của con người Tiếp cận giá trị học mácxít với văn hóa phải tiếp cận
các quan hệ của con người với tự nhiên Chính thập kỷ thế giới phát triển văn hóa được phát động vì các nước công nghiệp hóa đã tàn phá tự nhiên
dữ dội tạo ra tình trạng phản văn hóa ở khắp nơi trên hành tinh Thập kỷ này dành 10 năm để con người tự điều chỉnh quan hệ văn hóa của mình và sau 10 năm ấy, từ đầu thế kỷ XXI tới hôm nay UNESCO đã thông qua khá
nhiều công ước về bảo tồn các di sản văn hóa
Văn hóa không chỉ gắn với xã hội, với tự nhiên mà còn gắn với sự
phát triển của chính bản thân con người Nghiên cứu văn hóa chính là
nghiên cứu việc tăng trưởng nguồn lực con người, bồi dưỡng những khả năng hiểu biết, khám phá, sáng tạo, lưu giữ của con người
Các quan hệ văn hóa khi gắn con người với tự nhiên, với xã hội, với
sự phát triển của chính bản thân mình, nó còn gắn với các phương thức hoạt động, các thiết chế nền tảng của đời sống xã hội như thiết chế lao động, thiết chế tín ngưỡng, thiết chế gia đình, thiết chế văn hóa nghệ thuật Như vậy phạm vi của khái niệm văn hóa rất rộng Trong bài Ban đầu và cuối cùng là văn hóa của ông Mayor viết trên tạp chí Người đưa
tin UNESCO đã nhận xét: “Văn hóa là nền tảng và linh hồn của cuộc phiêu lưu của con người”1 Đến những năm cuối thế kỷ XX, do quá trình công nghiệp hóa đã mang đến nhiều phản văn hóa ở hầu khắp mọi nơi trên hành tinh, tổ chức UNESCO đã đề xuất rất nhiều nội hàm trong khái niệm văn hóa Ngoài quan niệm về văn hóa của ông Tổng giám đốc Mayor đã nêu trên, tổ chức và tạp chí Người đưa tin UNESCO đã nêu lên những nội hàm về văn hóa tri thức, văn hóa thông tin, văn hóa nông nghiệp, văn hóa sáng tạo, văn hóa hòa bình, văn hóa chính trị, bản sắc văn hóa quốc gia Cho đến đầu thế kỷ XXI, Công ước quốc tế về đa dạng văn hóa của UNESCO được thông qua năm 2006 còn đề xuất mối quan hệ giữa văn hóa và dân chủ, văn hóa khoan dung, sự cân đối văn hóa, quyền văn hóa cũng như bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
Có thể nói khái niệm văn hóa gắn bó hữu cơ với phương thức sản xuất Theo quan điểm hình thái kinh tế xã hội thì văn hóa có cơ cấu:
1 F Mayor Ban đầu và cuối cùng là văn hóa Người đưa tin UNESCO số 10, 1994
tr.35
Trang 281- Lịch sử văn hóa là văn hóa của các hình thái kinh tế xã hội khác nhau
2- Văn hóa và tự nhiên tức hoạt động cải tạo tự nhiên xây dựng các môi trường sinh thái nhân văn
3- Văn hóa sản xuất, hay văn hóa lao động bao gồm các hệ thống sản xuất xã hội, sản xuất vật chất tức văn hóa vật chất; sản xuất tinh thần tức văn hóa tinh thần
4- Văn hóa nhân cách tức văn hóa tự phát triển bản thân con người 5- Văn hóa xã hội bao gồm một hệ thống các hoạt động văn hóa trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, lối sống, quản lý, y tế
6- Văn hóa giáo dục bao gồm văn hóa giáo dục và tự giáo dục đó là quá trình nâng cao năng lực thể chất, tinh thần và sự phát triển của chính bản thân con người
7- Văn hóa nghệ thuật, lãnh vực đặc thù và rất cao của văn hóa tinh thần 8- Văn hóa tín ngưỡng, tâm linh
9- Hệ thống các phương thức giao tiếp văn hóa
10- Các thiết chế văn hóa nền tảng như thiết chế lao động, thiết chế gia đình, thiết chế tâm linh, thiết chế nghệ thuật
Trong quan niệm của Đảng ta về văn hóa, lý lụân văn hóa nằm trong toàn bộ hệ thống lý luận cách mạng Nó gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Văn hóa là những mắt xích quan trọng xuyên suốt sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội Văn hóa không nằm ngoài thực tiễn cách mạng và lịch sử Văn hóa
là thành tố chủ yếu của sự vận động lịch sử thực tế của xã hội Việt Nam tiến từ một nước tiểu nông lên một nước công nghiệp hiện đại Trong các
tư tưởng văn hóa của Đảng, văn hóa là sự phản ánh, sự tổng hợp, tổng kết cuộc đấu tranh của nhân dân ta làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình Trên ý tưởng đó Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII vào năm 1998 - năm bản lề giữa hai thế
kỷ XX và thế kỷ XXI, năm cuối của thiên niên kỷ thứ II và mở đầu cho thiên niên kỷ thứ III - đã phác thảo một chiến lược phát triển văn hóa quan trọng nhằm giữ gìn và phát huy toàn bộ di sản văn hóa thiêng liêng của cha ông và xác lập mục tiêu hiện thực xây dựng nền văn hóa mới cho thời
kỳ phát triển mới của dân tộc Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII của Đảng đã đưa ra nội hàm của khái niệm văn hóa theo
Trang 29nghĩa rộng tập trung vào văn hóa tinh thần: “trong đó đề cập tám lĩnh vực lớn, trong tám lĩnh vực này thì tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa được coi là những lĩnh vực quan trọng nhất hiện nay cần đặc biệt quan tâm”1 Theo chúng tôi, bên cạnh tám lĩnh vực mà Nghị quyết Trung ương
5 khóa VIII đã đề cập, cần bổ sung thêm lĩnh vực văn hóa môi trường và văn hóa đối ngoại cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Đây là nội dung cơ bản
để đề tài tiếp tục đi sâu nghiên cứu trong quá trình thực hiện mục tiêu
1.1.2 Khái niệm phát triển văn hóa
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng thực thể người là sự thống nhất toàn vẹn cái sinh học, cái xã hội và cái lịch sử; do đó phát triển văn hóa với tư cách là sự phát triển con người không chỉ là sự phát triển về mặt ý
thức của con người mà là sự phát triển con người toàn vẹn lịch sử Trong
quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen, văn hóa là một phạm trù lịch sử thể hiện trình độ, tính toàn diện trong thực tiễn hoạt động của con người Trình độ phát triển của con người với tư cách là chủ thể lịch sử, đó là trình
độ hoạt động thực tiễn vật chất và tinh thần của con người Sự phát triển văn hóa không tách rời tồn tại tự nhiên và tồn tại xã hội của con người Tính toàn vẹn sinh học - xã hội – lịch sử của sự phát triển con người tạo thành thước đo thực tế của sự phát triển văn hóa của con người Sự phát triển của văn hóa trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen được biểu hiện ở khả năng con người biến đổi những điều kiện tự nhiên và những điều kiện xã hội thành những tiền đề khách quan của tồn tại của mình với
tư cách là chủ thể của lịch sử
Khi đánh giá sự phát triển văn hóa của các thời đại khác nhau, C.Mác và Ph.Ăngghen không luận chứng cho những thành tựu riêng biệt
của mỗi thời đại trong một hoạt động nào đó mà các ông đề cập tới trình
độ phát triển chung thông qua những thông số quan trọng nhất về tồn tại
của con người trong quan hệ với tự nhiên và với nhau Có thể nói trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen thì sự phát triển văn hóa được thể hiện trực tiếp trong sự phát triển những điều kiện tự nhiên và xã hội; và những tiền đề của hoạt động con người được thể hiện trong quá trình ấy
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung
ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, tr.19-20
Trang 30Nếu văn hóa là sự thống nhất thực tiễn hoạt động của con người với
tự nhiên và xã hội, là phương thức tồn tại tích cực được quy định về mặt
tự nhiên và xã hội trong hoạt động người thì phát triển văn hóa phải phát triển cả hoạt động thực tiễn – tinh thần và thực tiễn vật chất của con người Như vậy, phát triển văn hóa có liên quan đến tiến bộ xã hội bởi vì bản chất của tiến bộ xã hội tức là phát triển con người
Theo quan điểm về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác và Ph.Ăngghen thì sự phát triển của xã hội loài người đã trải qua xã hội cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản Tất nhiên xã hội
tư bản đang tạo tiền đề để làm xuất hiện một hình thái kinh tế sau nó Đó chính là một quá trình tiến bộ xã hội dần dần và cũng đồng thời là sự phát triển văn hóa – từ nền văn hóa cổ đại đến nền văn hóa hiện đại Sự tiến bộ
xã hội như vậy có một số mặt đồng nhất với sự phát triển văn hóa bởi vì
về mặt lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất những năng lực người đều được phát triển
Tuy nhiên, không phải sự tiến bộ xã hội nào cũng đồng nhất hoàn toàn với sự phát triển văn hóa, bởi vì trong sự tiến bộ xã hội đều có những
song đề văn hóa được đặt ra Con người được phát triển trong cải tạo tự
nhiên đồng thời nó cũng làm mất cân bằng giữa tự nhiên và con người Con người đạt được những thành tựu to lớn trong cải tạo xã hội làm cho
xã hội tiến lên rất mau, nhưng đồng thời cũng tạo ra xung đột không tránh khỏi giữa người này và người khác Con người tự phát triển mình trong quá trình cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội giải phóng năng lượng của mình đồng thời cũng vấp phải hàng loạt những song đề về bệnh tật, trí tuệ, tình cảm Nhìn thấy những song đề như vậy trong quá trình phát triển văn hóa, tức phát triển con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đề xuất một giải
pháp cực kỳ quan trọng là khi phát triển tự do của người này đồng thời
phải phát triển tự do của người khác “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”1
Như vậy, dù có tiến bộ xã hội, nhưng mỗi nấc thang của sự tiến bộ
xã hội vẫn phải giải quyết vấn đề phát triển văn hóa Mỗi nấc thang ấy phải giải quyết dần dần cho sự phát triển tự do của con người dù cho xã
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr.628.
Trang 31hội này tiến bộ hơn xã hội trước Chỉ có khi nào xã hội phát triển đến mức
tự do của mỗi người tạo thành điều kiện tự do của tất cả mọi người lúc đó
mục tiêu phát triển văn hóa mới thống nhất đến mục tiêu cuối cùng của
tiến bộ xã hội Tất nhiên là văn hóa có tính quy luật nội tại của nó, do đó phát triển văn hóa không hoàn toàn trùng khít với tiến bộ xã hội
Trong các xã hội tiền tư bản sự phát triển văn hóa có một số đặc điểm như sau:
1- Sự phát triển ấy bị phụ thuộc bởi các điều kiện địa phương mang tính cục bộ về không gian Trong tính cục bộ ấy văn hóa được phát triển theo các gia tộc, các bộ tộc và các tập quán tự nhiên của con người
2- Sự phát triển văn hóa gắn bó chặt chẽ với truyền thống Do lao động giản đơn, tính lặp lại thường xuyên xuất hiện trong văn hóa Do việc tái sản xuất chưa được mở rộng mà sự thay đổi văn hóa rất chậm chạp Rất
ít kiểu văn hóa độc lập và đặc biệt xuất hiện
3- Sự phát triển văn hóa trong các xã hội tiền tư bản chưa có bản nguyên cá tính Tính cộng đồng vẫn bao trùm các quan hệ văn hóa Các cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng Các công xã là lực lượng sản xuất chủ yếu
4- Do trình độ lao động còn thấp, tuy cá nhân được tự do phần nào với công cụ sản xuất, nhưng con người chưa có sự phát triển tự do đầy đủ
và xã hội cũng không có tiềm lực phát triển tự do bởi vì năng xuất lao động không cao
Ở thời của C.Mác và Ph.Ăngghen, hình thức tư bản của lao động phát triển càng thuần khiết và càng thích ứng thì lao động càng mất mỹ cảm Mác đã bàn tới lao động bị tha hóa trong chủ nghĩa tư bản Công nhân lao động càng nhiều thì họ càng nghèo Họ tạo ra càng nhiều tòa lâu đài thì họ càng bị ở dưới các túp nhà lụp xụp, họ càng làm ra nhiều cái đẹp, họ càng xấu xí đi C.Mác đã viết: “Theo những quy luật mà kinh tế chính trị học đề ra thì sự tha hóa của công nhân trong vật phẩm của mình, biểu hiện như sau: Công nhân càng sản xuất nhiều thì anh ta có thể tiêu dùng càng ít, anh ta tạo ra nhiều giá trị thì bản thân anh ta càng bị mất giá trị, càng bị mất phẩm cách, anh ta càng què quặt Vật do anh ta tạo ra càng văn minh thì bản thân anh ta càng giống với người dã man; lao động càng hùng mạnh thì người công nhân càng ốm yếu; công việc anh ta làm càng
Trang 32phức tạp thì bản thân anh ta càng trống rỗng về trí tuệ”1 C.Mác xem quá trình lao động bị tha hóa như một bước lùi trong quá trình trưởng thành của con người
Như vậy các quan hệ sản xuất và các quan hệ xã hội, các quan hệ thị trường tư bản chủ nghĩa thời của C.Mác và Ph.Ăngghen đã dẫn con người đến tình trạng phi nhân hóa thể chất và tinh thần Những quá trình bóc lột giá trị thặng dư tinh vi, những lợi nhuận thị trường đã tác động vào chiều sâu các hệ giá trị văn hóa Nhân cách thực dụng hơn, ích kỷ hơn, lối sống
cá lớn nuốt cá bé lăn vào các vòng quay bạo liệt của thị trường tư bản; đạo đức và nhiều hệ chuẩn giá trị văn hóa phổ biến, cơ bản khác đã bị đảo lộn Phải nói rằng lúc giai cấp tư sản đang lên, khi chống lại những sự kìm trói con người một chiều của giai cấp phong kiến, nó không nghĩ tới
sự đảo lộn căn bản như vậy về văn hóa đối với việc phát triển con người
Ph.Ăngghen trong Lời nói đầu tác phẩm Biện chứng tự nhiên đã nhiệt liệt
ca ngợi cuộc đảo lộn của giai cấp tư sản lúc đang lên Ông gọi “đó là một cuộc đảo lộn tiến bộ lớn nhất mà từ xưa tới nay nhân loại đã trải qua, đó là một thời đại cần có những con người khổng lồ và đã sinh ra những con người khổng lồ: khổng lồ về năng lực suy nghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề về mặt học thức rộng Những người
đã đặt cơ sở cho nền thống trị hiện đại của giai cấp tư sản có thể được coi bất cứ là những người như thế nào những quyết không phải là nhữung người có tính chất hạn chế tư sản”2
Trong tiến trình phát triển của chế độ tư bản, bằng sản xuất tư bản chủ nghĩa, các thành tố văn hóa trong xã hội tư bản không ngừng được mở rộng Các cuộc cải cách ngôn ngữ, chữ viết diễn ra thường xuyên, thế giới biểu tượng đầy ắp những nội dung và hình thức mới, các chuẩn mực và các giá trị không ngừng biến đổi, nhân cách và lối sống đa dạng hơn, con người cá nhân được củng cố Tuy nhiên với quá trình quốc tế hóa sự bóc lột giá trị thặng dư, giai cấp tư sản đã làm tăng mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc, mẫu thuẫn tôn giáo lên rất nhiều Cơ chế gia đình, hôn nhân, tình yêu biến đổi sâu sắc Con người ngày một thực dụng hơn, tính
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.42 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.131.
2 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.20 Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1994,
tr 459-460
Trang 33ích kỷ ngày càng gia tăng hơn cùng với sáng tạo phong phú của nó Quá trình phát triển văn hóa của con người đến nấc thang xã hội tư sản, đầy rẫy những Antinomie – vấn đề Tính toàn diện của lực lượng sản xuất xã hội
tư bản đã tách rời với thực thể con người sản xuất, con người là vốn quý nhất lại trở thành hàng hóa đặc biệt như các đồ vật khác Văn hóa xã hội như của cải vật chất phát triển, nhưng văn hóa với tư cách là sự phát triển của bản thân con người thì lại bị tha hóa Sự giàu có của xã hội thường trực mâu thuẫn với sự bần cùng của cá nhân Sự phân cực giữa việc tập trung văn hóa với một mức độ khổng lồ vào số ít và sự bần cùng trống rỗng về trí tuệ của số đông Sự tách rời thế giới đồ vật với thế giới con
người đó chính là sự tách rời bên trong của bản thân con người
Như vậy, sự phát triển văn hóa trong xã hội tư bản ở thế kỷ XIX và
cả nửa đầu thế kỷ XX, con người đã tìm cách tạo ra một xã hội có các điều kiện để con người tự do phát triển sức mạnh bản chất của mình và phát huy sức mạnh ấy, nhưng nó vấp phải song đề văn hóa làm kìm hãm sự phát triển con người
Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có sự phát triển mới về quan hệ giữa quản lý và sản xuất Thời đại thông tin đang biến người lao động thành người cùng tham gia quản lý và người quản lý cùng lao động Năng lực trí tuệ của con người đang gia tăng trên con đường nhận thức văn hóa thông qua sự phát triển con người Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đang tìm hiểu
các giá trị Mỹ Họ cho rằng con đường phát triển con người ở Mỹ là bước
phát triển mới của chủ nghĩa tư bản Văn hóa Mỹ hiện nay là kết quả của một sự vận động toàn diện các thành tố văn hóa suốt mấy trăm năm lịch sử của chủ nghĩa tư bản Qua một công trình nghiên cứu sớm nhất về xã hội
Mỹ của Alechxăng đờ Tốccơvin (Alexin de Tocqueville) - người Pháp, vào năm 1835, thì các đặc điểm đáng chú ý của văn hóa Mỹ là nhấn mạnh
vào sự bình đẳng giữa mọi người Đến năm 1954, nhà nhân học văn hóa
Clyde Kluckohn nghiên cứu văn hóa Mỹ đã khẳng định ở Mỹ có sự sùng
bái con người trung bình Tuy văn hóa Mỹ có xu hướng sùng bái người trung bình, nhưng dư luận xã hội luôn luôn hướng tới các nhân cách thành
đạt Văn hóa Mỹ vừa bị hấp dẫn bởi tầng lớp quý phái, sự nổi danh, vẻ
đẹp quyến rũ, giới thượng lưu, vừa không hoàn toàn chỉ muốn cái đó Ở
Mỹ không có tầng lớp quý tộc nhưng chủ nghĩa cá nhân phát triển rất
mạnh Văn hóa Mỹ đầy rẫy con người trăn trở, day dứt bồn chồn về vật
Trang 34chất Niềm tin ở các duy lý, nhu cầu hợp lý hóa đạo đức, chủ nghĩa cá nhân lãng mạn và văn hóa của con người bình thường là một mốc phát triển mới trong thời đại tin học phát triển
Nhà nghiên cứu văn hóa Mỹ Richard – Sennét tìm hiểu đặc trưng
Mỹ hiện đại đó là cái tôi viết hoa Người Mỹ ít chú ý đến cộng đồng Theo
Sennét thì đây là cái tôi có bước phát triển mới của chủ nghĩa tư bản Trong hàng loạt các biến đổi về kỹ thuật, về thị trường, về khoa học, xã hội Mỹ đã hướng tới sản xuất hàng loạt và lưu thông hàng loạt Các niềm tin, tôn giáo, tín ngưỡng hầu như không xác định được ranh giới của đời công, đời tư Daniel Bell vào giữa những năm 70, sau thất bại của Mỹ ở
Việt Nam, ông đã gọi cuộc tìm kiếm văn hóa Mỹ suốt thế kỷ XX là sự
biểu hiện và tái tạo cái tôi để đạt tới sự tự thực hiện mình và hoàn thành
bản thân mình Hình thái mới trong cái tôi của văn hóa là từ việc sùng bái, ham mê thú vui vật chất, mỗi cá nhân đã quay nhìn vào bản thân cái tôi của mình Khuynh hướng tìm về việc hoàn thiện bản thân mình là một biểu hiện mới và khác những nhu cầu của chủ nghĩa tư bản những năm 50
của thế kỷ XX trở về trước về tính duy lý, tôn tri trật tự xã hội, chế độ
hành chính quan liêu
Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu
văn hóa Mỹ đã thấy sự phát triển văn hóa của chủ nghĩa tư bản Mỹ bắt
đầu biểu hiện một sự khát khao ý nghĩa và tính nhất quán trong đời sống
của cái tôi chứ không duy có sự thành đạt cá nhân Những dấu hiệu dấn thân, cam kết với cộng đồng đã xuất hiện trong các thành tố đạo đức của nền văn hóa Mỹ, các hoạt động tôn giáo được quan tâm, gia đình bắt đầu
có sự giảm nhẹ hiện tượng ly hôn Những thay đổi này gọn nhẹ, nhanh chóng bởi vì ở Mỹ cơ cấu thông tin phát triển rất mạnh Trong xã hội Mỹ
sự phân tầng rất sâu và con người bị ruồng bỏ rất đông Dưới ánh điện cao
áp, bên cạnh những ngôi nhà chọc trời còn rất nhiều các túp lều lụp xụp; trẻ em lang thang, bụi đời, tệ phân biệt chủng tộc, mãi dâm làm cho nhiệt độ văn hóa Mỹ luôn nóng bỏng những tiêu cực
Như vậy, sự phát triển văn hóa trong xã hội tư bản hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề xung quanh việc giải quyết các quan hệ nhân đạo của con người Có thể nói, lần đầu tiên trong sự phát triển xã hội của loài
người, chủ nghĩa tư bản đã tạo được những tiền đề vật chất để phát triển
văn hóa của con người bằng cách hướng đến mục tiêu giải phóng con
Trang 35người Nhưng để thực hiện mục tiêu giải phóng con người, giai cấp tư sản
đã lựa chọn hình thức bóc lột các giá trị thặng dư, quốc tế hóa sự bóc lột
đó bằng các cuộc chiến tranh, thiết lập chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới Kết quả là mâu thuẫn giữa công nhân và giai cấp tư sản ở trong nước
và trên toàn thế giới ngày càng gia tăng, mâu thuẫn giữa những người đi
áp bức bóc lột các dân tộc với các dân tộc bản địa bị áp bức bóc lột vô cùng gay gắt; mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp tư sản trong cạnh tranh kinh
tế, cạnh tranh chính trị, cạnh tranh thị trường rất quyết liệt Hội chứng này làm cho chế độ tư bản thường xuyên ở trong tình trạng con người đối xử với con người thiếu nhân tính, vô nhân đạo Và chính nó đã và đang phải tìm cách sửa chữa những khiếm khuyết của mình
Để giải phóng con người khỏi những hạn chế tư sản, để phát triển văn hóa mới trong thế giới con người, suốt cả thế kỷ XX, nhân loại đã tiến hành một cuộc đấu tranh rộng lớn giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,
giải phóng xã hội Các phong trào ấy bao chứa các giải pháp văn hóa, xóa
bỏ các hạn chế tư sản để thiết lập một nấc thang mới trong xây dựng nền văn hóa mới Mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng
xã hội có nội dung xuyên suốt là giải phóng con người Giải phóng sự áp
bức giai cấp để giải phóng các hạn chế tư sản trong phương thức tiến hành
tổ chức lao động bằng cách người này đi áp bức, bóc lột người khác Giải phóng dân tộc, thủ tiêu chế độ thực dân để giải phóng con người ở các dân tộc mà giai cấp tư sản đã ngang nhiên dưới chiêu bài khai hóa để đè nén,
áp bức bóc lột làm ngu dân hóa hàng tỷ con người trên hành tinh này Giải phóng xã hội là nấc thang giải phóng con người cao nhất, là nấc thang khắc phục toàn diện các hạn chế của con người, phát triển con người mọi mặt, mang các giá trị thật của con người để trả lại cho con người Ba cuộc giải phóng đó là ba cuộc giải phóng vĩ đại, cũng là ba mục tiêu phát triển văn hóa mới - Văn hóa xã hội chủ nghĩa
Văn hóa của chủ nghĩa xã hội không xây dựng trên mảnh đất trống không của quá khứ Nó phải kế thừa những thành tựu văn hóa của các xã hội đi trước và khắc phục những hạn chế của các xã hội đó Chủ nghĩa xã hội là hình thái vận động lịch sử cao hơn chủ nghĩa tư bản, ở đó văn hóa
lần đầu tiên trong sự phát triển của xã hội loài người đặt ra vấn đề mang
giá trị của con người trả lại cho con người ở đó lần đầu tiên xã hội và
văn hóa có tiền đề hiện thực phát triển tương hợp, toàn diện, đồng đều với
Trang 36bản thân con người như chủ nhân của xã hội văn hóa cao Theo các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác, thì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là các xã hội lần đầu tiên trong lịch sử phát triển nhân loại, văn hóa tiếp nhận hình thức tồn tại xã hội phù hợp với nội dung khách quan của nó như các cá nhân phát triển toàn diện Nhiều lần C.Mác và Ph.Ăngghen nói rằng, trong chủ nghĩa cộng sản thì sự chiếm lĩnh thực sự bản chất con
người bởi con người và cho con người sẽ được thực hiện Bằng phương
thức sản xuất xã hội chủ nghĩa thì mục tiêu văn hóa hoàn lại đầy đủ con người cho chính bản thân con người trong một xã hội đầy tình người với
sự phát triển cá tính phong phú có điều kiện thực hiện được
Xã hội cũ dựa trên cơ sở bất bình đẳng giai cấp và quyền thống trị của thiểu số đối với đa số đã tạo nên sự bất bình đẳng về văn hóa rất sâu
Số đông nhân dân không được hưởng thụ văn hóa, mặc dù họ đã tham gia
sáng tạo nên lịch sử văn hóa Việc đem văn hóa trả lại cho đông đảo nhân
dân, huy động nhân dân tham gia sáng tạo văn hóa là nhiệm vụ lịch sử đầu tiên trong sự phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội Xã hội cũ đã để
lại rất nhiều dấu vết tiêu cực trong các hoạt động người, đặc biệt là trong quần chúng Phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội là đưa đông đảo nhân dân lao động tham gia vào đời sống chính trị - xã hội Để thực hiện được mục tiêu đó, cần phải nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, phát triển quần chúng lao động như là những người sáng tạo lịch sử chân chính Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm Chúng ta phải biến một nước dốt nát cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”1
Mục tiêu giải phóng giai cấp trong chủ nghĩa xã hội bao gồm các mục tiêu giải phóng năng lượng sáng tạo của toàn xã hội, thống nhất các giá trị nhân đạo của con người, làm cho văn hóa của chủ nghĩa xã hội không những phát triển đa dạng, phong phú mà còn biểu hiện một nền văn hóa nhân văn cao quý Cuộc giải phóng giai cấp trong chủ nghĩa xã hội là
sự phát triển văn hóa sâu sắc ở chỗ nó người hóa tính giai cấp xã hội, nó
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1996, tr.493-494.
Trang 37xóa bỏ mọi thành kiến giai cấp, mọi người sống trong bình đẳng, tự do và thương yêu nhau
Giải phóng giai cấp vẫn liên hệ trực tiếp với giải phóng dân tộc
Các giai cấp thống trị trước kia đã tạo ra rất nhiều thành kiến giữa dân tộc
đa số và dân tộc thiểu số, khép kín các quan hệ dân tộc, tạo ra chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa dân tộc hạn hẹp Nói đến văn hóa là nói đến tính dân tộc, bản sắc dân tộc Phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội phải tạo
ra sự đoàn kết dân tộc Các giá trị văn hóa của các dân tộc đều bình đẳng ngang nhau, không có giá trị nào chèn ép giá trị nào
Tính dân tộc trong văn hóa xã hội chủ nghĩa không phải chỉ là mối quan hệ giữa dân tộc và tộc người, mà còn là quan hệ giữa dân tộc này với dân tộc khác Đoàn kết dân tộc để các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, là một trong những nội dung của sự phát triển văn hóa trong chủ nghĩa xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, phát triển văn hóa là xây dựng một chủ
nghĩa yêu nước kiểu mới Đó là chủ nghĩa yêu nước gắn với tinh thần quốc
tế Chủ nghĩa yêu nước này tạo sức mạnh rộng lớn cho sự phát triển văn hóa của mỗi dân tộc
Nền văn hóa trong chủ nghĩa xã hội phải gìn giữ cho được bản sắc
dân tộc, nó không phải là chiếc bóng mờ của các nền văn hóa của các dân
tộc khác Sự khác biệt trong giao lưu văn hóa là động lực của sự phát triển văn hóa Nếu không gìn giữ được bản sắc dân tộc của văn hóa thì nội lực của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa sẽ bị thủ tiêu Bản sắc dân tộc xã hội chủ nghĩa là một nền văn hóa mở Nó được tiếp xúc trong giao lưu văn hóa
Nó được sinh hoa kết trái trong việc hấp thụ tinh hoa của nền văn hóa khác
Cuộc giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ
nghĩa xã hội gắn chặt chẽ với mục tiêu giải phóng xã hội Xã hội chủ
nghĩa chỉ là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản Trong xã hội chủ nghĩa, các nhân tố phản nhân đạo còn nhiều và vẫn còn những điều kiện để gia tăng: tham nhũng, thất nghiệp, mại dâm, trẻ em lang thang bụi đời, xì ke,
ma túy, nghiện ngập Xã hội phải tăng cường những giải pháp, những khả năng để khắc phục những tiền đề làm phi nhân tính, làm suy thoái con người cùng với các khả năng vực con người dậy, phát triển mọi mặt tốt đẹp trong con người, hướng tới phát triển toàn diện con người
Trang 38Văn hóa không phải là một thực thể vốn có, không vận động Văn hóa cũng không phải là những thành tố đơn nhất tập hợp lại Sự tồn tại chân chính của văn hóa, mà nội dung và hình thức của nó gắn liền với sự
sinh thành lịch sử Sự phát triển văn hóa có lôgíc nội tại Nó gắn với các
điều kiện lịch sử xã hội, xã hội mang lại những điều kiện cho hoạt động văn hóa và văn hóa cũng đem lại diện mạo mới cho xã hội Cái thành tố
văn hóa mới của xã hội bắt nguồn cơ bản từ tính chất và trình độ mới của
lao động trong chủ nghĩa xã hội
Phát triển văn hóa trong chủ nghĩa xã hội là thống nhất lao động với
cá nhân, cấp cho lao động tính sáng tạo Sáng tạo là đặc trưng quan trọng
của sự thích thú lao động của cá nhân Sáng tạo là nhu cầu lao động nội tại của cá nhân Chủ nghĩa xã hội khuyến khích các hoạt động sáng tạo trên nền tảng của các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đó là các sáng tạo cho mình và cho tập thể Đó là các sáng tạo không có động cơ áp bức, bóc lột người khác Các sáng tạo này vừa phát triển năng lực cá nhân, vừa nâng cao các giá trị xã hội
Lôgíc phát triển nội tại của văn hóa trong chủ nghĩa xã hội đòi hỏi
trong các lĩnh vực văn hóa phải hình thành các chuẩn mực giá trị mới Có thể nói, lần đầu tiên trong sự phát triển xã hội, loài người dùng thước đo
các giá trị từ lao động xã hội đã được đặt ra một cách khoa học và nghiêm
túc trong chủ nghĩa xã hội Trong học thuyết giá trị của mình, Mác đã
chuẩn bị tích cực nhất cho thước đo giá trị văn hóa của xã hội là lao động
trừu tượng Và ở đó, Mác không chỉ đo hàng hóa mà chủ yếu để đo chính
bản thân con người Lao động trừu tượng là những giá trị gốc của năng suất lao động xã hội, là lao động được xã hội hóa Và chính lao động đã được xã hội hóa trong các mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội đã tạo ra các nấc thang vận động của hệ chuẩn mực trong sự phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội Lao động trong chủ nghĩa xã hội gắn bó chặt chẽ với sự phát triển
của lực lượng sản xuất Đó là lao động có khoa học, có kỹ thuật Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết rằng: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn
sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận ”1
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.9, tr.131
Trang 39Trong tư tưởng về chủ nghĩa xã hội của tất cả những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác và những người mác xít thì đó là một xã hội có lực lượng sản xuất hùng mạnh, có sự phát triển cao về khoa học kỹ thuật Vì thế, sự phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội phải gắn với sự phát triển nội sinh
về khoa học kỹ thuật trong mỗi con người
Thành tố văn hóa phổ biến nhất của tất cả mọi xã hội là tri thức Nâng cao tri thức cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động đó là một trong những nội dung phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội Một trong những thành tố hợp thành tổng thể nền văn hóa của chủ nghĩa xã hội đó là tri thức Tri thức kinh nghiệm, tri thức kỹ thuật, tri thức công nghệ, tri thức khoa học đều là nội dung hàng đầu của sự phát triển dân trí
Để nâng cao dân trí, việc phát triển giáo dục và tự giáo dục là nội
dung của sự phát triển trong chủ nghĩa xã hội
Trên cơ sở tư tưởng về giáo dục từ những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”1 Mà “Dốt thì dại, dại thì hèn”2
Để nâng cao dân trí cho nhân dân lao động trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập một kế hoạch
to lớn xóa nạn mù chữ, xây dựng một hệ thống giáo dục nhân dân từ bậc phổ thông đến đại học và sau đại học để hình thành đội ngũ trí thức cho chủ nghĩa xã hội
Văn hóa của chủ nghĩa xã hội gắn với một chủ nghĩa nhân văn sâu
rộng Hồ Chí Minh đã nói rằng, nguyên tắc đạo đức cơ bản trong chủ
nghĩa xã hội phải thống nhất các lợi ích của cá nhân với lợi ích của cộng đồng Trong chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại ba nhóm lợi ích: lợi ích tập thể; lợi ích cá nhân; sự hội nhập giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân Trong chủ nghĩa xã hội, lợi ích tập thể, lợi ích của xã hội là thước đo đạo đức của
cá nhân Và nhất định lợi ích tập thể phải đặt trên lợi ích cá nhân Lợi ích của xã hội là tính thứ nhất trong các quan hệ đạo đức, bởi vì trong chủ nghĩa xã hội, chúng là phương tiện thỏa mãn nhu cầu và phát triển tài năng của các cá nhân Vì thế, sự phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội lấy thước đo đạo đức tập thể làm chuẩn mực của sự tiến bộ đạo đức
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.4, tr.8
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, tr.64
Trang 40Lợi ích của xã hội là một tồn tại khách quan có cơ sở từ nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội Nó đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu khác Việc xem lợi ích cộng đồng là lợi ích chung của toàn xã hội sẽ đảm bảo cơ chế vận hành của một mục tiêu lý tưởng nhất quán về một xã hội nhân đạo hiện thực mà chủ nghĩa xã hội theo đuổi Tuy nhiên, bên ngoài lợi ích xã hội, trong chủ nghĩa xã hội cũng còn tồn tại lợi ích cá nhân Lợi ích cá nhân đảm bảo cho đời sống đạo đức được vận hành đa dạng và phong phú Không có lợi ích cá nhân, quan hệ đạo đức trong chủ nghĩa xã hội sẽ thiếu sức sống Song lợi ích cá nhân không phải là mục tiêu văn hóa của sự phát
triển xã hội chủ nghĩa, mà là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với
lợi ích xã hội mới là mục tiêu văn hóa của nó Bởi nếu chỉ quan tâm tới lợi ích cá nhân, các quan hệ đạo đức trong chủ nghĩa xã hội sẽ lại tiếp tục theo vết xe đạo đức vị kỷ của chủ nghĩa tư bản Lợi ích cá nhân trong chủ nghĩa xã hội khác rất xa với chủ nghĩa cá nhân tư sản Trong lý tưởng đạo đức của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cá nhân là một hiện tượng phản văn hóa Tâm lý của chủ nghĩa cá nhân lấy sự cá nhân hóa, nâng lợi ích riêng thành lợi ích vị kỷ và đối lập với chủ nghĩa xã hội Trong chủ nghĩa xã hội không chấp nhận hiện tượng con người phá hoại nhau và thù địch nhau, mỗi người tự do phát triển nhưng không phản lại tự do của người khác
Mục tiêu văn hóa của chủ nghĩa xã hội là tạo nên sự cộng đồng các lợi
ích Sự cộng đồng các lợi ích đảm bảo xác lập trong các quan hệ văn hóa
mới những nguyên tắc dân chủ, chủ nghĩa tập thể, tinh thần quốc tế chân chính, tư tưởng hòa bình và tình hữu nghị cũng như nhân phẩm của con người
Trên cơ sở những cái đúng của tri thức khoa học trong việc nâng cao dân trí; cái tốt của sự phát triển hài hòa các lợi ích, lòng khoan dung; tất yếu sự phát triển văn hóa của chủ nghĩa xã hội phải gắn với cái đẹp
Bởi cái đúng, cái tốt với cái đẹp là những chị em sinh ba nên cái đúng có ảnh hưởng đến cái tốt và cái đẹp, ngược lại, cái đẹp cũng ảnh hưởng sâu sắc đến cái đúng và cái tốt
Bằng lao động năng suất cao trong một xã hội mà tính chất áp bức bóc lột bị lên án, chủ nghĩa xã hội đã tạo cơ sở bền vững và đúng đắn cho các hoạt động sáng tạo tự do có điều kiện mang lại mỹ cảm cho người lao động hơn hẳn các hình thái xã hội tiền tư bản Về lý thuyết mà nói, chủ nghĩa xã hội phải thủ tiêu những gốc rễ sâu xa của sự thù địch với các