1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

206 921 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả GS.TS. Phạm Xuân Nam, PGS.TS. Đinh Quang Hải, PGS.TS. Vũ Kim Cương, PGS.TS. Trần Đức Cường, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Mô, TS. Lê Thanh Hà, PGS.TSKH. Nguyễn Viết Vượng, PGS.TS. Mai Văn Hải, PGS.TS. Đinh Xuân Lý, PGS.TS. Bùi Thế Cường, TS. Hà Mạnh Khoa, Th.S. Lương Thị Hồng, Th.S. Nguyễn Thị Quỳnh, Th.S. Duy Thị Hải Hường, Th.S. Nguyễn Thanh Tùng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật
Trường học Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Báo cáo tổng hợp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, dự báo triển vọng phát triển của đất nước; xác định yêu cầu và điều kiện, đề xuất hệ quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa của công nhân Việt Nam, góp phần cung

Trang 1

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HểA

CỦA GIAI CẤP CễNG NHÂN VIỆT NAM

TRONG QUÁ TRèNH ĐỔI MỚI

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Mó số: KX.03.17/06-10

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Văn Nhật

Cơ quan chủ trỡ : Viện Sử học

Viện Khoa học X∙ hội Việt Nam

8559

HÀ NỘI, 12 - 2010

Trang 2

CÁC THÀNH VIÊN CHÍNH THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

1 GS.TS Phạm Xuân Nam, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

2 PGS.TS Đinh Quang Hải, Viện KHXH Việt Nam

3 PGS.TS Võ Kim Cương, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

4 PGS.TS Trần Đức Cường, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

5 PGS.TS Nguyễn Ngọc Mão, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

6 TS Lê Thanh Hà, Viện Công nhân và Công đoàn

7 PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng, Trường Đại học Công đoàn

8 PGS.TS Mai Văn Hai, Viện Xã hội học, Viện KHXH Việt Nam

9 PGS.TS Đinh Xuân Lý, Đại học Quốc gia Hà Nội

10 PGS.TS Bùi Thế Cường, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ

11 TS Hà Mạnh Khoa, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

12 Th.S Lương Thị Hồng, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

13 Th.S Nguyễn Thúy Quỳnh, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

14 Th.S Duy Thị Hải Hường, Viện Sử học, Viện KHXH Việt Nam

15 Th.S Nguyễn Thanh Tùng, Văn phòng Chủ tịch nước

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Mục tiêu của đề tài

Trong Danh mục các đề tài kèm theo Quyết định số 1711/QĐ-BKHCN

ngày 20-8-2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ, tên của đề tài là

"Xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam trong

quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế", định hướng mục tiêu được xác định

là: "Đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay; Đề xuất được những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế" Trong

phần Yêu cầu đối với sản phẩm, Quyết định nêu rõ: "Kiến nghị với các cơ

quan Đảng, Nhà nước về các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đời

sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh mới"

Căn cứ vào định hướng và yêu cầu của Quyết định nêu trên, chúng tôi

cụ thể hóa thành ba mục tiêu chủ yếu của đề tài là:

Thứ nhất, trên cơ sở làm rõ nội hàm của khái niệm văn hóa và đời sống

văn hóa của công nhân, đề tài đi sâu phân tích tác động của quá trình đổi mới kinh tế-xã hội, bước đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế những năm qua đối với đời sống văn hóa của công nhân Việt Nam

Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng đời sống văn hóa của công nhân

Việt Nam hiện nay trong các loại hình doanh nghiệp tại những địa phương tiêu biểu cho cả nước, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra bài học thành công và yếu kém của thực trạng trên, có so sánh với kinh nghiệm xây dựng đời sống văn hóa của công nhân một số nước trên thế giới

Thứ ba, dự báo triển vọng phát triển của đất nước; xác định yêu cầu và

điều kiện, đề xuất hệ quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa của công nhân Việt Nam, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc

bổ sung, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm củng cố và phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tăng cường hội nhập quốc tế trong

thời gian tới

2 Sự cần thiết, tính cấp bách, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi công nhân và nông dân là động lực chính của cách mạng Việt Nam, và hiện nay công nhân - nông dân - trí thức là những thành phần cơ bản của xã hội và việc

Trang 4

xây dựng vững chắc khối liên minh này là yếu tố quan trọng đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước Tuy nhiên, hiện nay trong cơ chế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, cuộc sống của giai cấp công nhân ngày càng phân hóa, một bộ phận không nhỏ gặp nhiều khó khăn cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần Tại nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, điều kiện tiếp cận và hưởng thụ văn hóa của công nhân còn rất hạn chế

- Từ khi nắm vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta coi văn hóa là một trong ba cuộc cách mạng mà toàn xã hội phải tiến hành, và qua

thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta càng khẳng định "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội"1

Tuy vậy trong những năm qua, lĩnh vực văn hóa - xã hội còn nhiều vấn

đề bức xúc: "Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại"2

- Tình hình thế giới ngày nay đang có những biến động phức tạp không

có lợi cho các quốc gia đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách đưa các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập vào Việt Nam, gây tác động không nhỏ đến đời sống văn hóa của nhân dân ta, trong đó có giai cấp công nhân

Ở trong nước, sự phát triển của nền kinh tế thị trường, bên cạnh những tác động tích cực, cũng đã có không ít ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống của nhân dân Ý thức chính trị, ý thức cộng đồng có dấu hiệu bị lấn át bởi lối sống phương Tây, lối sống thực dụng

Ở góc độ khác, hội nhập quốc tế tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu được những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiêu biểu của thế giới, hiểu và kế thừa những tinh hoa văn hóa nhân loại Do vậy, nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân là trang bị kiến thức để công nhân tiếp thu có chọn lọc những giá trị lành mạnh, tiến bộ của văn hóa thế giới và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước nhà

- Thực tế đó đã đặt cho chúng ta nhiệm vụ phải xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt để giai cấp này xứng đáng là giai cấp lãnh đạo, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Chính

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa

VIII Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998, tr 55

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc

Trang 5

với tinh thần ấy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã nhấn mạnh: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng…, có trình độ học vấn, chuyên môn,

kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức… Tạo được chuyển biến rõ rệt trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân (về nhà ở tại các khu công nghiệp, tiền lương và thu nhập, bảo hiểm xã hội, nơi sinh hoạt văn hóa, cơ sở nuôi dạy trẻ…) tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp công nhân”1

Từ tất cả những điều nói trên, có thể khẳng định rằng: Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, việc đi sâu nghiên cứu và đề xuất các

giải pháp có tính khả thi nhằm xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của giai cấp công nhân là rất cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và

Điển hình là hai công trình đồ sộ của cố Giáo sư Trần Văn Giàu: "Giai cấp công nhân Việt Nam - Sự hình thành và phát triển của nó từ giai cấp "tự mình" đến giai cấp cho mình" (Sự thật, 1958) và Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công (Sử học, 1962-

1963) Trong những công trình này, tác giả đã mô tả sự tha hóa đến cùng cực

về lao động của giai cấp công nhân dưới chế độ thực dân - phong kiến, đồng thời đi sâu phân tích quá trình giác ngộ chính trị ngày càng cao của giai cấp công nhân nhờ sự tuyên truyền, giáo dục và tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ được giới hạn trong nửa đầu thế kỷ XX, nên cả hai công trình tầm cỡ đó chưa thể đề cập đến đời sống văn hóa của giai cấp công nhân trong thời kỳ công nghiệp hóa dưới chế

độ mới

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008, tr 50-51

Trang 6

Từ những năm 60 đến giữa những năm 80 của thế kỷ trước, một số tác giả khác như Ngô Văn Hòa, Dương Kinh Quốc, Cao Văn Biền, Phạm Quang Toàn, Nguyễn Hữu Hợp tiếp tục bàn về vai trò, vị trí của giai cấp công nhân trong các thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Những năm đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, thì việc nghiên cứu về giai cấp công nhân cũng có phần chững lại Phải đến khi đất nước cơ bản ra khỏi khủng hoảng, bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thì các nhà nghiên cứu trong nước mới tiếp tục cho ra đời một số cuốn sách và nhiều luận văn nghiên cứu về giai cấp công nhân

- Về giai cấp công nhân nói chung có các cuốn sách: Về thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường - 2001); Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân (Cao Văn Lượng, Nguyễn Viết Vượng, Nguyễn Văn Nhật - 2001); Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước (Dương Xuân Ngọc - 2004); Đổi mới tư duy về công nhân

và giai cấp công nhân, kinh tế tri thức và công nhân tri thức (Văn Tạo - 2002); Giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Viết Vượng - 2003); Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (Dương Văn Sao chủ biên - 2004); Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò của công đoàn (Lê Thanh Hà – 2009); Giai cấp công nhân Việt Nam – Hiện tại và xu hướng phát triển (Tổng

Liên đoàn Lao động Việt Nam – 2010), v.v

Xung quanh vấn đề về công nhân và xây dựng giai cấp công nhân, còn

có khá nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học của các tác giả Bùi Đình Thanh, Nguyễn Văn Tư, Bùi Đình Bôn, Trần Ngọc Sơn, Đan Tâm, Trần Đình Nghiêm, Đỗ Trọng Bá, Đỗ Nguyên Phương, Cù Thị Hậu, Xuân Cang, Phạm Văn Chúc, Văn Tạo, La Côn, Lê Văn Lý, Lê Khả Phiêu, Cao Thanh, Nguyễn

An Lương, Nguyễn Ngọc Phúc, Trần Văn Giàu, Phan Thanh Khôi, Trần Ngọc Tân, Hoàng Chí Bảo, v.v

- Về đời sống công nhân Việt Nam có các công trình: Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới (Bùi Thanh Hà - 2003); Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam (Mai Thị Dung - 2002); v.v

Trang 7

Gần đây, trên một số tạp chí, nhất là trên các báo của các địa phương như ở TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Long An có đăng một số bài viết của các nhà nghiên cứu và các nhà báo về cuộc sống của công nhân tại các khu công nghiệp, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, trong đó đặc biệt lưu ý đến tình trạng đáng báo động về đời sống vật chất và tinh thần của không ít công nhân trẻ

Trong số các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân Việt Nam như nêu ở trên, một số công trình có đề cập đến đời sống nói chung và đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam ở những mức độ khác nhau

Trong công trình Về thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

(Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường), sau khi mô tả kết quả điều tra, khảo sát và phân tích hiện trạng, các tác giả đã đưa ra những điều bức xúc nhất của công nhân Việt Nam về điều kiện nhà ở, về mức sống, về sức khỏe, về việc làm ổn định, về tương lai của con cái, về ý muốn vươn lên làm giàu, về việc tiếp tục đào tạo tay nghề, về việc được tiếp tục học thêm ngoại ngữ, về phương tiện đi làm, về việc được vay vốn sản xuất và về việc phấn đấu trở thành đảng viên Vấn đề văn hóa và đời sống văn hóa chỉ được

đề cập và lồng ghép trong các nội dung nêu trên

Trong công trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân (Cao Văn Lượng, Nguyễn Viết Vượng, Nguyễn Văn

Nhật ), các tác giả đã đưa ra lý luận về giai cấp công nhân, nêu lên thực trạng của giai cấp công nhân trong thời kỳ đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa Trong phần chính sách, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân, cùng với những giải pháp về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, các tác giả đề xuất đến chính nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân mà chủ yếu là chính sách phát triển các nhà văn hóa, câu lạc bộ của công nhân lao động, hình thành những trung tâm văn hóa vùng, đẩy mạnh giao lưu văn nghệ, thể thao

Ngoài những công trình vừa nêu, trong Chương trình khoa học và công

nghệ cấp Nhà nước KX.05 về Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (2001-2005) có đề tài KX.05-02 nghiên cứu về Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, đề tài KX.05-03 nghiên cứu về Đời sống văn hóa

đô thị và khu công nghiệp Việt Nam

Mặc dù không trực tiếp bàn về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân, song tập thể các nhà nghiên cứu của mỗi đề tài kể trên đều đưa ra cách

hiểu riêng của mình về nội hàm khái niệm đời sống văn hóa, mà đề tài Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa công nhân có thể tham khảo, kế thừa

và phát triển những hạt nhân hợp lý

Trang 8

* Ở ngoài nước

Vấn đề giai cấp công nhân nói chung có một số nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng rất ít công trình, bài viết về công nhân và xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở Việt Nam

Về tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam, các công trình:

Developmental Lessons of Vietnameme Transitonal Economy của Chris Dixon, Vietnam facing the challenge of intergration của Nguyễn Mạnh Hùng, Determinants of Househould Enterreneurship in a Emerging Market Economy of case of Vietnams của Kim Koriek , Civil society and social capital in Vietnam của Russell J Dalton , v.v đã đề cập đến vấn đề phát

triển kinh tế thị trường, vấn đề xã hội dân sự có ít nhiều liên quan đến công nhân Việt Nam

Về các giai tầng xã hội và văn hóa xã hội, các tác phẩm: Women as subjects: South Asian Histories của Nita Kumar, Culture and society in the Asia - Pacific của Richard Maidment đề cập đến tình hình chung ở các

nước Đông Á, châu Á Điều đó phần nào giúp chúng tôi có được cái nhìn bao quát để so sánh khi nghiên cứu, triển khai đề tài

Tóm lại, trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu

về giai cấp công nhân Việt Nam được công bố Tuy nhiên, cho đến nay chưa

có một công trình, đề tài nào nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện và hệ thống về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế

4 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu

* Cách tiếp cận:

Đề tài áp dụng cách tiếp cận tổng hợp liên ngành, trong đó đặc biệt chú ý

ba ngành chủ yếu:

- Nhân học văn hóa: Xem xét mối quan hệ qua lại giữa con người và văn

hóa, giữa văn hóa vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của con người nói chung, của người công nhân nói riêng

- Xã hội học văn hóa: Nhìn nhận nhu cầu nâng cao đời sống văn hóa của

người công nhân trong mối quan hệ với gia đình, xã hội, quốc gia, dân tộc từ góc độ xã hội học và phương pháp phân tích xã hội học

- Lịch sử văn hóa: Đặt văn hóa, nhu cầu văn hóa, đời sống văn hóa của

công nhân trong bối cảnh lịch sử của đất nước (văn hóa truyền thống), gắn với yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (giao lưu văn hóa) hiện nay

Trang 9

* Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp kế thừa: Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài

liệu từ các công trình nghiên cứu trước nhằm kế thừa có chọn lọc, bổ sung, so sánh cho kết quả nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp khảo sát thực tiễn: Lập phiếu điều tra diện rộng theo nội

dung, yêu cầu của đề tài đối với các loại hình doanh nghiệp, các địa phương trọng điểm, các đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia:

+ Chú trọng phỏng vấn sâu các đối tượng (nhà khoa học, nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, tổ chức đảng, tổ chức công đoàn, công nhân trực tiếp sản xuất, lãnh đạo chính quyền địa phương )

- Phương pháp liên ngành: Nội dung nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh

vực khoa học chuyên ngành như sử học, xã hội học, tâm lý học, văn hóa học, kinh tế học, khoa học về con người

- Phương pháp phân tích định tính và định lượng: Để có cơ sở chính xác

cho những giải pháp cụ thể, cùng với những phân tích định tính, hướng tiếp cận quan trọng là lượng hóa tối đa những thông tin và số liệu thành những hàm

số tương quan để minh chứng và dự báo cho những giải pháp chính sách

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): Nghiên cứu một số

trường hợp điển hình chọn trong các loại hình doanh nghiệp và các địa phương

để minh chứng cho nội dung nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu khu vực: Đối tượng nghiên cứu là công nhân

tại các địa phương có tính đại diện, mà mỗi địa phương lại có điều kiện sống (kinh tế, văn hóa) mang tính đặc thù khu vực

- Phương pháp phân tích, so sánh: Nghiên cứu đời sống công nhân trong

các loại hình doanh nghiệp trên các vùng, miền của cả nước, do đó đòi hỏi có

sự phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra cái chung, cái đặc thù Đồng thời, có đối chiếu, so sánh đời sống văn hóa của công nhân Việt Nam với đời sống văn hóa của công nhân một số nước khác trong khu vực

- Phương pháp dự báo: Đưa ra những dự báo trước yêu cầu phát triển của

đất nước

* Kỹ thuật sử dụng:

- Sử dụng phần mềm SPSS để phân tích các số liệu điều tra qua bảng hỏi

- Áp dụng kỹ thuật tin học để xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu, xây dựng mô hình văn hóa của công nhân Việt Nam

Trang 10

5 Những nội dung chủ yếu của đề tài

- Nội dung I: Cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu về văn hóa

và đời sống văn hóa của giai cấp công nhân

- Nội dung II: Một số nhân tố cơ bản tác động đến đời sống văn hóa

của giai cấp công nhân trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế

- Nội dung III: Thực trạng đời sống văn hóa của công nhân Việt Nam

hiện nay

- Nội dung IV: Về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân tại một số

nước trên thế giới

- Nội dung V: Triển vọng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

tăng cường hội nhập quốc tế và một số yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao đời sống văn hóa của giai cấp công nhân trong thập niên 2011-2020

- Nội dung VI: Quan điểm và các giải pháp xây dựng và nâng cao đời

sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam

6 Các cơ quan tham gia thực hiện đề tài

- Viện Sử học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam

- Viện nghiên cứu Công nhân và Công đoàn, Tổng LĐLĐ Việt Nam

- Ban Dân vận Trung ương

- Viện Xã hội học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

7 Quá trình thực hiện

1 Điều tra, khảo sát trong nước: Tại 6 tỉnh và thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh với tống số 1.400 phiếu tại 30 doanh nghiệp gồm các loại hình khác nhau: Doanh nghiệp nhà nước, DN liên doanh, DN cổ phần, DN tư nhân, DN 100% vốn nước ngoài; với các quy mô: doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ, thủ công, doanh nghiệp công nghệ cao; các loại hình kinh doanh, sản xuất: xây dựng, giao thông, khai khoáng, dệt may, giày da, chế biến thủy hải sản, thương mại, cơ khí, dịch vụ

- Khảo sát 6 khu cư trú của công nhân và các khu nhà trọ, phỏng vấn sâu 72 công nhân tại các khu lưu trú, 100 công nhân tại các khu nhà trọ tư nhân bên ngoài khu công nghiệp

- Tọa đàm, trao đổi với các cán bộ, chủ doanh nghiệp; các cán bộ công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp, cán bộ công đoàn quản lý khu công

nghiệp

2 Điều tra khảo sát tại Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức

Trang 11

3 Tổ chức 2 cuộc hội thảo khoa học tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

4 Hoàn thành 72 chuyên đề nghiên cứu

8 Các sản phẩm của đề tài

* Sản phẩm trung gian:

- Tập tài liệu Kết quả xử lý phiếu điều tra công nhân lao động

- Báo cáo kết quả điều tra về thực trạng đời sống công nhân

- 72 chuyên đề nghiên cứu

- 02 tập kỷ yếu hội thảo khoa học

- 02 sách dịch tham khảo

- 02 cuốn sách xuất bản có nội dung liên quan đến đề tài

- 12 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Lịch

sử Đảng và Lao động và công đoàn

* Sản phẩm chính:

- Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài

- Báo cáo Tóm tắt kết quả nghiên cứu của đề tài

- Bản Kiến nghị của đề tài

Trang 12

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA

CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Để có thể đánh giá đúng "thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay" và "đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng và phát triển [đời sống] văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam

trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế", như định hướng mục tiêu

mà Bộ Khoa học và Công nghệ đã nêu lên cho đề tài KX 03.17/06-10, chúng tôi thấy trước hết cần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu về những vấn đề được đặt ra trên đây, từ đó đi tới xác lập nội hàm của khái niệm đời sống văn hóa, với tư cách là khái niệm công cụ chủ chốt, bảo đảm cho sự nhất quán của những nội dung sẽ lần lượt được phân tích trong đề tài

Cũng cần nói thêm rằng, do văn hóa và đời sống văn hóa là hai khái

niệm có quan hệ mật thiết với nhau, vì thế muốn hiểu rõ nội hàm của khái niệm sau cũng cần đề cập đến khái niệm đầu ở một mức độ phù hợp

1.1 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VĂN HÓA

VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Trong toàn bộ các tác phẩm hết sức phong phú và đồ sộ của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin dường như chưa bao giờ đưa ra một định nghĩa chính thức nào về văn hóa Tuy nhiên, là những nhà sáng lập và phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử, từng đặt nền móng cho một hệ thống lý luận về mối quan hệ tác động qua lại biện chứng giữa tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của các cộng đồng người trong tiến trình lịch sử – từ cơ sở hạ tầng kinh tế, cơ cấu xã hội đến kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và các hình thức ý thức xã hội tương ứng – trên thực tế, cả C Mác và Ph Ăngghen và sau đó là V.I Lênin đã nêu lên nhiều luận điểm hết sức sâu sắc

về văn hóa nói chung và đời sống văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng,

đi sâu phân tích thực trạng của đời sống ấy trong các giai đoạn khác nhau của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu thế kỷ XIX và ở nước Nga đầu thế kỷ XX, qua

đó dự báo triển vọng phát triển của nó dưới chế độ xã hội chủ nghĩa tương lai

Sau đây là một số luận điểm chủ yếu:

Trang 13

Thứ nhất, văn hóa được hiểu là hoạt động sinh sống có ý thức của con người theo quy luật của cái đẹp

Trong Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C Mác cho rằng: "Hoạt

động sinh sống có ý thức của con người"1 là cái riêng có ở con người, phân biệt con người với con vật, đời sống con người với đời sống con vật Hoạt động đó diễn ra đồng thời với sự hình thành các mối quan hệ tất yếu giữa con người với giới tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người trong

xã hội

Con vật, loài vật không có bất cứ hoạt động và mối quan hệ nào với ý nghĩa là hoạt động và quan hệ có ý thức Con vật chỉ hoạt động, chỉ quan hệ theo nhu cầu thể xác trực tiếp của nó, tức hoạt động và quan hệ theo bản năng sinh vật

Dù sự khéo léo của bầy ong trong việc xây dựng những ngăn tổ bằng sáp có thể làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn, nhưng ngay từ đầu, điều phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là ở chỗ trước khi xây dựng những căn nhà trong thực tế, nhà kiến trúc đã hình dung việc xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi Đó là một nhận xét rất tiêu biểu của

C Mác về hoạt động sinh sống có ý thức của con người2 Hơn nữa, con người không chỉ lấy cái sẵn có trong tự nhiên mà còn biến đổi nó, làm thêm cho tự nhiên những cái mà tự nhiên không có Sự biến đổi giới tự nhiên, "tạo một cách thực tiễn ra thế giới vật thể"3, được xem như giới tự nhiên thứ hai - xã hội và lịch sử –, đó là nhờ con người có ý thức, dùng ý thức chi phối bản năng, dùng lao động mà cải biến tự nhiên, tạo ra các sản phẩm "theo quy luật của cái đẹp"4, đồng thời cải biến chính bản thân mình

C Mác viết: Bằng lao động tự do, "con người nhân đôi mình không chỉ

về mặt trí tuệ như xảy ra trong ý thức nữa, mà còn nhân đôi mình một cách hiện thực, một cách tích cực, và con người ngắm nhìn bản thân mình trong thế giới do mình sáng tạo ra"5

Như vậy, trong tư tưởng của C Mác, chỉ những hoạt động nào là tích cực, hướng tới sự nảy nở và phát triển, có ích cho cuộc sống của con người, nâng cao trí tuệ và phẩm giá của con người thì những hoạt động ấy mới được xem là văn hóa

Những hoạt động nào đối lập với tính chất và mục đích ấy đều xa lạ với văn hóa, thậm chí là phản văn hóa Những hoạt động như thế "luôn thể

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 42 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr 136

2 Xem C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 23 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1993, tr 266

3 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 42 Sđd, tr 136

4 Như trên, tr 137

5 Như trên, tr 137

Trang 14

hiện tính chất phi nhân tính, làm lu mờ bản chất con người, thậm chí dừng lại ở tính động vật Nó uốn lệch và phá vỡ các hoạt động định hướng trước cái hoàn thiện Nó bị cầm tù trong sự chi phối của cái giả, cái ác, cái xấu"1

Khu biệt những hoạt động văn hóa với những hoạt động phản văn hóa

để thấy rõ khái niệm văn hóa, theo quan niệm của C Mác, chỉ dung nạp những cái gì tốt đẹp, tích cực, tiến bộ, phát triển, bồi dưỡng và phát huy nhân tính, xứng đáng với bản chất của con người

Thứ hai, hoạt động sinh sống có ý thức của con người trước hết thể hiện ở những mặt cơ bản là sản xuất, tái sản xuất ra đời sống vật chất của chính bản thân mình cũng như sản xuất ra những người khác, và từ đó nảy sinh nhu cầu giao tiếp giữa những con người với nhau

Trong tác phẩm viết chung Hệ tư tưởng Đức (1845-1846), C Mác và

Ph Ăngghen chứng minh rằng: "Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể "làm ra lịch sử" Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như

vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất"2 của chính con người với tư cách là sinh thể có ý thức của xã hội

Nhưng những tư liệu dùng để thỏa mãn nhu cầu sinh sống của con người không thể chỉ được cung cấp một lần mà suốt cả cuộc đời Vì thế, một khi bản thân cái nhu cầu đầu tiên đã được thỏa mãn, cùng với hành động thỏa mãn và công cụ thỏa mãn mà người ta đã có được, sẽ tất yếu đưa tới những nhu cầu mới cần được đáp ứng Từ đó, việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa

mãn nhu cầu sinh sống của con người bao giờ cũng là một quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng ra những tư liệu ấy

Ngoài sản xuất và tái sản xuất ra đời sống vật chất của bản thân mình,

"con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở – đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình Gia đình lúc đầu là quan

hệ xã hội duy nhất, về sau trở thành một quan hệ phụ thuộc khi mà những nhu cầu đã tăng lên đẻ ra những quan hệ xã hội mới và dân số đã tăng lên đẻ

ra những nhu cầu mới"3 của cộng đồng xã hội từ nhỏ đến lớn: từ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc đến quốc gia, dân tộc

1 Như Thiết: Phản văn hóa và quá trình phát triển xã hội Việt Nam hiện nay In trong: Mấy vấn

đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay, do Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Cao Xuân Phổ

đồng chủ biên Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1993, tr 97 - 98

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 3 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr 39-40

Trang 15

Phân tích ba mặt hay ba nhân tố tồn tại đồng thời ngay từ buổi đầu của lịch sử và tiếp tục biểu hiện ra trong suốt tiến trình lịch sử, C Mác và Ph Ăngghen đi đến nhận định cho rằng: "Như vậy là sự sản xuất ra đời sống – ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái – biểu hiện ngay ra một quan hệ song trùng: một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa là sự hợp tác của nhiều cá nhân"1

Đến lượt nó, quan hệ xã hội của con người trong sản xuất, tái sản xuất

ra đời sống vật chất của bản thân mình và ra sản xuất ra đời sống của người khác tất yếu làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp giữa những con người với nhau

Và chính từ nhu cầu của sự giao tiếp ấy mà ngôn ngữ xuất hiện với tư cách là

một trong những yếu tố cấu thành văn hóa

Tất cả một chuỗi các mối quan hệ tác động qua lại nêu trên đều là biểu

hiện của hoạt động sinh sống có ý thức của con người, tức của đời sống văn hóa trong hàm nghĩa bao quát nhất của khái niệm này

Thứ ba, đặc trưng nổi bật của hoạt động sinh sống có ý thức của con người là hoạt động sáng tạo – sáng tạo ra những giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần

Nhìn lại lịch sử tiến hóa của nhân loại, chúng ta từng biết đến những sáng tạo lớn lao của con người được ghi nhận là những mốc đánh dấu các thời kỳ phát triển văn hóa ví như những sáng chế đầu tiên ra các loại công cụ sản xuất từ đồ đá đến đồ đồng, đồ sắt ; những phát minh ra chữ viết, con số ; những sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học và giáo dục, đạo đức và pháp luật, văn học và nghệ thuật, triết học và tôn giáo, v.v

Có thể khẳng định, tất cả những sáng chế, phát minh, sáng tạo trên đều

là sự thăng hoa của những hoạt động sinh sống có ý thức của con người nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân mình Xét về thực chất, thì

đó chính là những giá trị văn hóa Như vậy, những hình thái biểu hiện của văn hóa có thể là vật phẩm, công cụ, phương tiện (giá trị văn hóa vật thể); cũng có thể hình ảnh và hình tượng nghệ thuật, đạo lý và niềm tin, ý thức và

tư tưởng (giá trị văn hóa phi vật thể)

Do hoạt động của con người, năng lực sáng tạo của con người là hết sức đa dạng, nên những giá trị mà họ sáng tạo ra cũng rất đa dạng Nhiều giá trị được tập hợp theo một hệ thống nào đó thì gọi là hệ giá trị

Hầu hết, nếu không nói là tất cả các nhà nghiên cứu và hoạt động văn

hóa đều xem chân - thiện - mỹ là hệ giá trị phổ quát của văn hóa Vấn đề khác

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 3 Sđd, tr 42

Trang 16

nhau là ở chỗ hệ giá trị phổ quát này được cụ thể hóa và vận dụng như thế nào đối với từng dân tộc, từng giai tầng xã hội, từng nhóm người, thậm chí đến từng cá nhân trong các thời gian và không gian khác nhau

Nếu trừu tượng hóa đi những khác biệt, ta có thể thấy:

- Biểu hiện nổi bật của "chân" là cái thật, cái đúng "Chân" yêu cầu

không chỉ năng lực hiểu biết, khám phá, sáng tạo mà còn cả thái độ ứng xử một cách trung thực, chân thành Chân giá trị là giá trị đích thực, nó đối lập với cái giả – cả sự giả dối, lừa bịp lẫn sự giả tạo, khiên cưỡng

- Biểu hiện tập trung của "thiện" là cái tốt, sự tử tế, là tình cảm vị tha, lòng nhân ái "Thiện" là đặc trưng của tính người và tình người Định hướng giá trị vào cái "thiện", con người có khả năng vươn tới cái tốt, nảy nở lòng

nhân ái, từ đó mà có thái độ khoan dung, độ lượng trong văn hóa ứng xử

- Biểu hiện điển hình của "mỹ" là cái đẹp Cái đẹp thể hiện nổi bật

trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cái đẹp có mặt trong tất cả các mặt của đời sống con người, trong lao động và sản xuất, trong đạo đức và lối sống, trong lời nói và cử chỉ giao tiếp, trong thái độ và hành vi ứng xử giữa người với người

Cần lưu ý rằng, chân - thiện - mỹ (cái thật, cái tốt, cái đẹp) không tách

rời nhau mà đan xen với nhau, bổ sung cho nhau Cái thật chỉ trở thành cái đẹp khi nó gắn với cái tốt Cái tốt làm cho cái thật và cái đẹp được tôn lên Còn cái đẹp trước hết phải là cái tốt và cái thật

Theo C Mác, từ những con người mà hai bàn tay đã thành chai vì lao động tới những người lao động đang làm việc thật sự cật lực để tạo ra những sản phẩm tốt và có ích cho xã hội, ta nhìn ra cái thật, cái tốt, cái đẹp của loài người Nhưng C Mác không chỉ nói đến cái thật, cái tốt, cái đẹp của lao động

cơ bắp mà còn thấy những giá trị đó được nhân lên trong hoạt động trí tuệ sáng tạo của con người, thể hiện ở những thành tựu khoa học ngày càng cao, đến mức trở thành "lực lượng sản xuất trực tiếp", trở thành "những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực"1

Thứ tư, những hoạt động sáng tạo giá trị văn hóa đích thực chỉ thật sự

có được khi con người được lao động tự do; trong một xã hội còn tồn tại chế

độ người áp bức bóc lột người, thì những giá trị văn hóa do những người công nhân tạo ra nhiều khi lại trở thành cái xa lạ, đối lập với đời sống của chính họ

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, tập 46, phần II Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr

Trang 17

Vẫn trong Bản thảo kinh tế - triết học 1844, C Mác đã phân tích sâu

sắc tình trạng tha hóa lao động của người công nhân, kéo theo sự tha hóa trong đời sống văn hóa, tha hóa trong hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của họ dưới chế độ tư bản chủ nghĩa ở châu Âu nửa đầu thế kỷ XIX Ông viết: "Lao động [của người công nhân] sản xuất ra những vật phẩm kỳ diệu cho những người giàu, nhưng chính nó lại sản xuất ra sự bần cùng hóa công nhân Nó tạo ra lâu đài, nhưng cũng tạo ra cả những nhà ổ chuột cho công nhân Nó sáng tạo ra cái đẹp, nhưng cũng làm què quặt công nhân Nó sản xuất ra trí tuệ, nhưng cũng sản xuất ra cả sự đần độn, ngu ngốc cho công nhân"1

C Mác cho rằng sự tha hóa lao động của người công nhân không chỉ thể hiện ở phương diện quan hệ của người công nhân với sản phẩm lao động của anh ta mà còn thể hiện ngay trong bản thân hành vi sản xuất, trong bản thân quá trình lao động sản xuất Ông viết: "Trong tình trạng bị tha hóa, lao động là một cái gì đó bên ngoài đối với người công nhân, không thuộc về bản chất anh ta; trong lao động của anh ta, anh ta không cảm thấy mình sung sướng mà cảm thấy mình khổ sở; không phát huy một cách tự do nghị lực thể chất và tinh thần của mình, mà làm kiệt quệ thân thể của mình và phá hoại tinh thần của mình"2

Rất gần với quan điểm của C Mác, trong tác phẩm Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh (xuất bản lần đầu năm 1845), Ph Ăngghen đã tập trung

mô tả một cách cụ thể, chi tiết đời sống hàng ngày (every - day life) của công nhân Anh thời bấy giờ, và qua đó rút ra những kết luận có tác dụng định hướng cho sự phát triển của phong trào công nhân Ông cho rằng: mặc dù với lao động cực nhọc, thời gian làm việc kéo dài (thường là 12 - 14 giờ một ngày) và đồng lương chết đói; điều kiện ăn, mặc, ở (nhất là ở) hết sức tồi tàn; điều kiện sinh hoạt gia đình và nuôi dạy con cái vô cùng thiếu thốn; các mặt thể chất, trí tuệ và đạo đức đều bị giai cấp thống trị bỏ rơi, nhưng bằng chính

sự trải nghiệm thực tiễn của mình, giai cấp công nhân Anh "vẫn biết rất rõ lợi ích của bản thân và lợi ích của toàn dân tộc là thế nào; họ cũng biết lợi ích riêng của giai cấp tư sản là gì và họ có thể trông đợi được gì ở giai cấp ấy ,

họ không hiểu gì về những vấn đề trên trời mà các cha cố cố gắng dạy cho

họ, nhưng về những vấn đề trần thế, chính trị và xã hội thì họ lại hiểu rõ ràng"3 Đây chính là những nguyên nhân sâu xa thúc đẩy giai cấp công nhân Anh đứng lên đấu tranh vì những quyền lợi sống còn và vì phẩm giá con người của họ

Trang 18

Thứ năm, do yêu cầu của sự phát triển công nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản, bản thân giai cấp tư sản cũng dần dần nhận thấy sự cần thiết phải từng bước cải thiện đời sống văn hóa của công nhân làm thuê; nhưng chỉ đến khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng thành công, thì giai cấp công nhân mới thật

sự trở thành người làm chủ đời sống văn hóa của chính mình

Đứng vững trên lập trường duy vật biện chứng triệt để, trong khi phân tích, mô tả thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Anh và một số nước tư bản phương Tây khác kể từ sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đều không nhìn thực trạng

ấy theo quan điểm tĩnh tại, chết cứng mà theo quan điểm vận động, phát triển

Điều đó giải thích tại sao, ngay từ cuối những năm 50 của thế kỷ XIX,

trong tác phẩm Phê phán khoa kinh tế chính trị (Bản sơ thảo những năm 1857-1858), C.Mác đã sớm dự báo: "Theo đà phát triển của đại công nghiệp,

việc tạo ra của cải thực tế trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và vào

số lượng lao động đã chi phí [mà] phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất"1 Trong điều kiện như thế, theo C Mác, "lao động thặng

dư của quần chúng công nhân không còn là điều kiện để phát triển của cải phổ biến, cũng giống như sự không lao động của một số ít người không còn

là điều kiện cho sự phát triển những sức mạnh phổ biến của đầu óc con người nữa , mà nói chung là việc giảm lao động cần thiết của xã hội xuống mức tối thiểu, tương ứng với điều đó trong những điều kiện ấy là sự phát triển nghệ thuật, khoa học, v.v của các cá nhân nhờ thời gian đã được giải tỏa cho mọi người và nhờ những phương tiện đã được tạo ra để thực hiện điều đó"2

Tương tự như dự báo sáng suốt của C Mác, trong Lời tựa viết cho lần xuất bản bằng tiếng Anh cuốn "Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh" năm

1892, Ph.Ăngghen cũng đi tới nhận xét cho rằng: Cùng với quá trình ứng

dụng khoa học vào sản xuất công nghiệp, bản thân giai cấp tư sản Anh đã dần dần nhận thấy sự cần thiết phải quy định bằng pháp luật giới hạn tương đối hợp lý của ngày lao động của công nhân (ngày làm việc 10 giờ)(*), xóa bỏ chế

độ trả công bằng hàng hóa và tiến hành một số cải cách khác nhằm cải thiện phần nào đời sống văn hóa của công nhân (nhất là bộ phận công nhân kỹ thuật, công nhân trí thức), khôi phục thể chất của họ, đem lại cho họ một trình độ học vấn và chuyên môn cũng như một quyền dân chủ nhất định về

Trang 19

chính trị - xã hội, thể hiện qua hoạt động của Hội công liên1 Bởi chỉ có như vậy, thì công nhân mới có được một trạng thái thể lực, trí lực và đạo đức khả

dĩ đủ để vận hành những máy móc và phương tiện kỹ thuật ngày càng được cải tiến, tạo ra nhiều sản phẩm với giá thành hạ và chất lượng cao hơn, qua đó đem lại cho giai cấp tư sản số lợi nhuận lớn hơn gấp bội so với việc áp dụng thủ đoạn vắt kiệt sức lao động của công nhân và đẩy họ vào một cuộc sống thảm hại hoàn toàn không xứng đáng với phẩm giá con người

Tuy nhiên, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, khi việc chạy theo lợi nhuận tối đa của giai cấp tư sản dựa trên sự bóc lột ngày càng tinh vi giá trị thặng dư

do lao động của người công nhân làm ra vẫn còn là một xu thế tất yếu cho sự tồn tại và phát triển của chế độ đó, thì người công nhân chưa thể hoàn toàn làm chủ đời sống vật chất và đời sống tinh thần của mình được

Bằng việc nghiên cứu sự chuyển biến về đời sống mọi mặt của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặt trong mối quan hệ gắn bó hữu

cơ với hàng loạt sự kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã đi đến nhận định cho rằng: Do quy luật vận động nội tại của mình, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ tạo ra trong tiến trình phát

triển của nó những tiền đề cần thiết – cả tiền đề vật chất kỹ thuật thể hiện ở

nền sản xuất đại công nghiệp dựa trên những thành tựu khoa học tiên tiến và

tiền đề xã hội mà lực lượng chủ yếu là giai cấp công nhân có trình độ học vấn

và kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao – bảo đảm cho sự thay thế chế độ tư bản bằng một chế độ xã hội tiến bộ và công bằng hơn, mà các ông gọi đó là chủ nghĩa xã hội, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản văn minh

Theo dự báo của C Mác và Ph Ăngghen, dưới chủ nghĩa xã hội, hoạt động lao động sản xuất của người công nhân không còn là một đối tượng để

bị bóc lột nữa mà trở thành một phương tiện thúc đẩy sự gia tăng của nền sản xuất xã hội, "bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội không những một đời sống hoàn toàn đầy đủ về vật chất mà còn đảm bảo cho họ phát triển và vận dụng một cách hoàn toàn tự do và đầy đủ những năng khiếu thể lực và trí lực của họ nữa"2

Thứ sáu, trong điều kiện cách mạng vô sản giành được thắng lợi trước tiên tại một nước còn nhiều tàn tích của chế độ nông nô với sức sản xuất lạc hậu, thì chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt tới một trình độ văn hóa đủ để tiếp thu và làm chủ những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến, tạo ra năng suất lao động cao hơn so với chủ nghĩa tư bản, thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của họ mới có thể xem là thắng lợi hoàn toàn

Trang 20

Sau khi C Mác và Ph Ăngghen qua đời, trong bối cảnh mới của lịch

sử thế giới và của nước Nga vừa hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười năm 1917, V.I Lênin đã tiếp tục làm rõ, phát triển và bổ sung cho lý luận của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học về văn hóa

và nâng cao đời sống văn hóa của giai cấp công nhân dưới chế độ mới

Đặc biệt, từ sáng kiến tổ chức Ngày thứ bảy cộng sản lao động tình

nguyện của công nhân tuyến đường sắt Mátxcơva – Cadan vào giữa thời kỳ cộng sản thời chiến (tháng 5-1919), V.I Lênin đã khái quát và nâng lên thành một luận điểm có ý nghĩa chỉ đạo hành động thực tiễn hết sức sâu sắc là: "Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới"1 Theo Người, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô Chủ nghĩa tư bản có thể bị thay thế và sẽ bị thay thế bằng một chế độ tiến bộ và công bằng hơn nếu chủ nghĩa xã hội tạo ra được một năng suất lao động cao hơn nhiều Nhưng đây là một sự nghiệp rất khó khăn và rất lâu dài Sự nghiệp đó chỉ có

thể hoàn thành khi có hai điều kiện chủ yếu: Một là, những người công nhân

bình thường tỏ ra quan tâm đến việc nâng cao năng suất lao động, giữ gìn từng pút lúa mì, than đá, sắt và các sản phẩm khác không những chỉ vì lợi ích

của bản thân họ mà còn vì lợi ích của toàn xã hội Hai là, trong hoàn cảnh cụ

thể của nước Nga – một nước vốn có chủ nghĩa tư bản phát triển ở mức trung bình, trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật của đa số lực lượng lao động xã hội còn thấp kém so với các nước tư bản phát triển khác –, thì giai cấp công nhân phải được đào tạo và tự đào tạo để có khả năng "nắm lấy toàn bộ kinh nghiệm của chủ nghĩa tư bản có văn hóa, có kỹ thuật và tiên tiến"2 Không có những điều kiện tối thiểu cần thiết này, thì chủ nghĩa xã hội rốt cuộc vẫn chỉ là một nguyện vọng tốt đẹp mà thôi

Từ mùa xuân năm 1921, sau khi đã lãnh đạo Hồng quân đánh tan bọn bạch vệ và sự can thiệp của 14 nước đế quốc, giữ vững được chính quyền Xô-viết, V.I Lênin chủ trương chuyển sang thời kỳ thực hiện chính sách kinh

tế mới (NEP) ở nước Nga Theo Người, những nội dung chủ yếu của NEP là

áp dụng nền kinh tế nhiều thành phần, tiến hành hạch toán kinh tế tại tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh, từng bước xây dựng một nền thương nghiệp văn minh, thu hút vốn đầu tư cùng với kỹ thuật tiên tiến của tư bản nước ngoài nhằm phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân

1 V.I Lênin: Toàn tập, tập 39 Nxb Tiến bộ, Mátxcơva 1977, tr 25

Trang 21

Để biến những nội dung đó thành hiện thực, trước hết V.I Lênin kêu gọi mọi cán bộ, đảng viên phải chống thói "kiêu ngạo cộng sản", phải học buôn bán, phải học tập các chuyên gia tư sản am hiểu các lĩnh vực khoa học,

sử khoảng 10 - 20 năm để "phát triển văn hóa của toàn thể nhân dân"1, mà trong đó công nhân là lực lượng sản xuất hàng đầu Người chỉ rõ: "Nếu không trải qua thời kỳ lịch sử ấy, không làm cho mọi người có trình độ học vấn phổ thông, không có một trình độ hiểu biết đầy đủ công việc, không giáo dục đầy đủ cho dân cư biết dùng sách báo – không có tất cả những điều đó thì chúng ta sẽ không thể đạt tới mục đích"2

1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ VỀ NHIỆM VỤ CHĂM LO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG TIẾN TRÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Nắm lấy tinh thần cốt lõi trong các luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, đồng thời tham khảo và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu có liên quan trong kho tàng trí tuệ của nhân loại, Hồ Chí Minh đã đưa ra một cách tiếp cận khá toàn diện về khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng

Người viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra tiếng nói, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống

và đòi hỏi của sự sinh tồn"3

Người còn chỉ ra 5 điểm lớn trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc

Đó là xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường; xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng; xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên

Trang 22

quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; xây dựng chính trị: dân quyền; xây dựng kinh tế

Rõ ràng, so với hàng trăm định nghĩa khác về văn hóa lần lượt được nhiều nhà khoa học đề ra, kể từ định nghĩa đầu tiên của Edward B Tylor năm

1871 đến nay, quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa bao hàm những nội dung quan trọng sau:

- Văn hóa là những sáng tạo và phát minh của con người, thuộc về con người và vì mục đích nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của chính con người

- Những sáng tạo và phát minh đó thể hiện sự thích ứng một cách có

ý thức của con người trong quan hệ với tự nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển

- Các yếu tố cấu thành văn hóa là rất phong phú, phản ánh những nhu cầu đa dạng của đời sống con người trong xã hội, chứ không chỉ là văn học, nghệ thuật

- Văn hóa không đứng ngoài mà ở bên trong và có nhiệm vụ xây dựng tâm lý, luân lý, xã hội, chính trị, kinh tế, trong đó xây dựng tâm lý, luân lý – thực chất là xây dựng nhân cách văn hóa của con người – được đặt lên hàng đầu

Do nhận thức rõ văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm "thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn", nên trong suốt quá trình đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người ở nước ta,

Hồ Chí Minh bao giờ cũng xem việc nâng cao đời sống văn hóa cho toàn thể

nhân dân nói chung và giai cấp công nhân nói riêng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của tiến trình cách mạng Việt Nam Và nhiệm vụ này lại được Người cụ thể hóa cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện của từng giai đoạn khác nhau:

- Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp

Sau Cách mạng tháng Tám thành công và trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ở các vùng tự do, Đảng và Chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã chủ trương thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần Theo Người, tại các xí nghiệp quốc doanh thì "xưởng trưởng, công trình sư và công nhân đều có quyền tham gia quản lý, đều là chủ nhân"1 Vì vậy, mọi người đều phải chăm lo đến việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của chính

Trang 23

mình Còn tại các xí nghiệp của tư bản tư nhân, thì phải thực hiện khẩu hiệu:

"chủ và thợ đều có lợi" Trong tác phẩm Đời sống mới (1947), Hồ Chí Minh

đã sớm chỉ rõ: Từ trước đến nay, chủ bao giờ cũng muốn lời nhiều, mà trả công ít Thợ thì muốn làm việc ít mà được trả tiền công nhiều Vì thế mà sinh mâu thuẫn, không có lợi cho cả hai bên Giờ đây, nếu làm theo "đời sống mới" thì có lợi cho cả chủ lẫn thợ Người cho rằng: "Chủ muốn được việc, thì đối với lương bổng, nhà ở, vệ sinh và cách đối đãi công nhân, phải rộng rãi tử

tế Lại nên có những lớp học cho thợ và con thợ Thợ học cho tinh xảo hơn Con thợ học sẽ dễ thế cho những người thợ già về hưu Cũng nên mở hợp tác

xã cho công nhân mua các thứ cần dùng được rẻ hơn Phí tổn làm những việc

đó, không mất đi đâu Thợ vui vẻ làm việc thì chủ sẽ lợi gấp 5 gấp 10 số phí tổn đó Một khi chủ đã cư xử như thế, thì thợ phải cố gắng làm Làm nhanh hơn, khéo hơn Tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm vật liệu Vì lợi ích cho chủ tức là lợi cho mình một phần Chủ và thợ hợp tác chặt chẽ thì hai bên đều có lợi"1

- Giai đoạn bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng đã bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sau khi hoàn thành khôi phục và cải tạo nền kinh tế quốc dân, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) được triển khai mà trọng tâm là bước đầu thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng miền Bắc vững mạnh, làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Bằng việc phát huy cao độ nội lực của miền Bắc cộng với sự giúp đỡ của các nước anh em, hàng loạt nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, nông lâm trường quốc doanh đã lần lượt ra đời Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng, chất lượng từng bước được nâng lên Nhưng từ đầu năm 1965, cùng với việc mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ còn ngang nhiên tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc Sản xuất

và đời sống của các tầng lớp nhân dân nói chung và của giai cấp công nhân nói riêng, do đó, gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn

Trước tình hình ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đảng, chính quyền và công đoàn các cấp phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng giai cấp công nhân về mọi mặt để nó có thể "làm tròn vai trò tiên phong cách mạng trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội"2 Người chỉ rõ: "Khác hẳn với trước kia, công nhân bây giờ là người chủ đất nước, chủ xã hội, chủ cuộc sống Muốn thực hiện đúng vai trò làm chủ, giai

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5 Nxb Sự thật, Hà Nội 1995, tr 106

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12 Nxb Sự thật, Hà Nội 1996, tr 564

Trang 24

cấp công nhân phải tham gia quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt xí nghiệp, làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xã hội ngày càng nhiều, với phẩm chất tốt, giá thành hạ"1

Không chỉ dừng lại ở việc đề ra quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn tổng quát nêu trên, Hồ Chủ tịch còn nhiều lần kêu gọi cán bộ, công nhân các nhà máy, xí nghiệp đoàn kết chặt chẽ, đẩy mạnh thi đua yêu nước, gìn giữ tốt máy móc, quản lý sức người, sức của theo đúng các chế độ Nhà nước đã ban hành, nâng cao cảnh giác, bảo vệ nhà máy, bảo hộ lao động, hoàn thành

và hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất được giao

Nhưng muốn làm tốt tất cả những nhiệm vụ cụ thể đó, thì lãnh đạo các nhà máy và bản thân anh chị em công nhân "phải ra sức học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật để tiến bộ không ngừng; phải thực hiện tốt kỷ luật lao động; phải tăng cường việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần; phải chú ý chăm sóc các cháu bé ở nhà trẻ, mẫu giáo; phải bảo đảm sức khỏe cho công nhân

và cán bộ gái"2 Nói tóm lại, mọi nhà máy, xí nghiệp đều phải hết sức "chăm

lo đời sống vật chất và văn hóa của công nhân"3

1.3 CHỦ TRƯƠNG, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và về việc nâng cao đời sống văn hóa của giai cấp công nhân vào điều kiện cụ thể của nước nhà trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, từ Đại hội VI của Đảng (12-1986) đến nay, Đảng ta đã lần lượt đề ra nhiều chủ trương và quan điểm lớn có ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và phát triển giai cấp công nhân nói riêng

Xét trên tầm chỉ đạo vĩ mô, có thể nêu bật những chủ trương, quan điểm đổi mới của Đảng về bốn lĩnh vực chính yếu sau:

Thứ nhất, chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung quan

liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế mới, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; các giai cấp, tầng lớp xã hội "đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 12 Sđd, tr 564

2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr 193

Trang 25

dưới sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi

ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"1

Thứ hai, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã

hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường Xem "văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế

- xã hội"2 Chăm lo "xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa"3 của toàn thể nhân dân, mà trong đó giai cấp công nhân là nòng cốt

Thứ ba, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, đồng thời xây dựng

một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì

nhân dân, "lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do đảng cộng sản lãnh đạo"4

Thứ tư, mở cửa tăng cường giao lưu, hợp tác với bên ngoài, tích cực và chủ động hội nhập ngày càng sâu với thế giới theo tinh thần: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển"5

Sau gần 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đến giữa những năm 90 của thế kỷ trước, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ bản đã hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII của Đảng (6-1996) chỉ rõ: "Mục tiêu

của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, văn minh"6

Để có thể hoàn thành được mục tiêu nêu trên, Đại hội đặc biệt nêu cao nhiệm vụ: "Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt, phát triển về

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2001,tr 85 - 86

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 1996,tr 119

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa

VIII Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998,tr 69

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

hội Nxb Sự thật, Hà Nội 1991, tr 9

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Sđd, tr.119

6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Sđd, tr 80

Trang 26

số lượng, giác ngộ về giai cấp, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề, có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác phong công nghiệp và

có ý thức tổ chức, kỷ luật, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao"1

Đến Đại hội IX của Đảng (4-2001), do nhạy bén nắm bắt xu hướng

phát triển mới của thế giới, Báo cáo chính trị tại Đại hội đã nhận định: "Thế

kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất"2 Vì vậy, "con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt"3 Với triển vọng đó, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa ở nước ta nhất thiết phải gắn liền với từng bước phát triển kinh tế tri thức

nhằm tạo ra nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nhưng muốn biến những điều nói trên thành hiện thực, thì phải phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của toàn dân tộc, của mọi giai tầng xã hội Riêng đối với giai cấp công nhân, Đảng đề ra chủ trương: "Coi trọng phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện

trí thức hóa công nhân"4

Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh những chủ trương, quan điểm do Đại hội

IX nêu lên về phương hướng, nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển giai cấp công nhân trong thập niên đầu thế kỷ XXI,

Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng (4-2006) một lần nữa khẳng định:

"Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa"5

Từ phương hướng phát triển lớn này, Đảng yêu cầu phải coi trọng hơn nữa việc phát triển giai cấp công nhân về mọi mặt; nâng cao giác ngộ và bản

lĩnh chính trị, trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp để xứng đáng là "lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"6

Đến Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X 2008), lần đầu tiên sau hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã

(1-1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Sđd, tr 123

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Sđd, tr 64

3 Như trên, tr 91

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Sđd, tr 124

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 2006, tr 87

Trang 27

ra một nghị quyết chuyên đề Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trên cơ sở phân tích, đánh giá sâu sắc thực trạng giai cấp công nhân những năm qua, Nghị quyết nêu rõ mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2020 là: "Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng, có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hóa: có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao"1

Nghị quyết còn đề ra các giải pháp lớn nhằm chăm lo toàn diện đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân trong thời gian tới:

Thứ nhất, đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ

học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, đặc biệt là công nhân trẻ, công nhân từ nông thôn, công nhân nữ, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu để nước ta có một đội ngũ công nhân đủ khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Thứ hai, thường xuyên quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao trình

độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân Qua đó giúp họ không ngừng trau dồi ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba, bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống

chính sách, pháp luật về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập, nhà ở, cơ

sở sinh hoạt văn hóa sao cho tương xứng với những thành quả của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và những đóng góp của giai cấp công nhân

Trước mắt, cần thực hiện tốt những chính sách cụ thể như:

- Bổ sung, sửa đổi để bảo đảm thực hiện đúng các quy định về ký hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể tại tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X

Lưu hành nội bộ Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2008, tr 50

Trang 28

- Nâng cao tính khả thi các chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tăng cường chăm sóc sức khỏe công nhân, nhất là đối với công nhân nữ

- Ban hành Luật Tiền lương, nâng lương tối thiểu đối với khu vực sản

xuất kinh doanh; quy định các nguyên tắc xây dựng thang bảng lương để người lao động và người sử dụng lao động có cơ sở xác định tiền lương hợp

- Ban hành chính sách khuyến khích các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân, nhất là tại các khu công nghiệp Nhà nước đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho công nhân diện thu nhập thấp

- Ban hành quy định pháp luật về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Quy định rõ quyền, trách nhiệm của người sử dụng lao động và công nhân trong xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ

- Nhà nước đầu tư và có chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng các nhà văn hóa lao động, nhà văn hóa thanh niên, câu lạc bộ công nhân, hệ thống truyền thông đại chúng ở các khu công nghiệp tập trung

Khái quát lại, Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam đến năm 2020 đã đặc biệt nhấn mạnh: Việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho công nhân phải

được xem là "trách nhiệm của Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân"1

Đây chính là một quan điểm có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng trong suốt quá trình đưa Nghị quyết vào cuộc sống

1.4 XÁC LẬP NỘI HÀM KHÁI NIỆM ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ VẬN DỤNG CỤ THỂ VÀO ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Trở lên trên, chúng tôi đã lần lượt trình bày những quan điểm lý luận, phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và của Đảng ta về văn hóa và đặc biệt về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Những quan điểm đó có vai trò định hướng rất quan trọng cho việc xác

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X

Trang 29

lập nội hàm của khái niệm đời sống văn hóa và việc vận dụng cụ thể vào đời sống văn hóa của giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay

Tuy nhiên, sẽ là không đầy đủ nếu đề tài này không tham khảo các công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan của các nhà khoa học trong và ngoài nước Vì thế, trước khi đưa ra nhận thức của mình về vấn đề đang được bàn tới, dưới đây chúng tôi sẽ điểm qua ý kiến của một số nhà khoa học Việt Nam và thế giới

1.4.1 Ý kiến của một số nhà khoa học Việt Nam

Từ cuối những năm 50 của thế kỷ trước đến nay, giới khoa học xã hội nước ta đã có không ít công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân Trong

đó, một số công trình từng đề cập đến đời sống nói chung và đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam ở những mức độ khác nhau

Điển hình là hai công trình đồ sộ (tất cả gần 2000 trang) của cố Giáo sư

Trần Văn Giầu: Giai cấp công nhân Việt Nam - Sự hình thành và sự phát triển của nó từ giai cấp "tự mình" đến giai cấp "cho mình" (Sự thật, 1958) và Giai cấp công nhân Việt Nam từ Đảng Cộng sản thành lập đến cách mạng thành công (Sử học, 1962-1963) Ở mỗi công trình, tác giả đều dành ra một

chương để mô tả tỉ mỉ về đời sống của giai cấp công nhân dưới chế độ thực dân - phong kiến, thể hiện ở các điều kiện lao động và sinh hoạt hết sức tồi tệ như: Giờ làm việc quá dài, tiền lương chết đói, nạn thất nghiệp tràn lan, tệ chửi mắng và đánh đập diễn ra phổ biến, bệnh tật và chết thóc thảm thương Song, do phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ giới hạn trong khoảng thời gian

từ khi giai cấp công nhân ra đời đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, nên cả hai công trình tầm cỡ đó chưa thể nói đến đời sống văn hóa của giai cấp công nhân dưới chế độ mới

Những thập niên tiếp theo, nhất là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, một số cuốn sách như: Về thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay (Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường - 2001), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển của giai cấp công nhân (Cao Văn Lượng, Nguyễn Viết Vượng, Nguyễn Văn Nhật - 2001), Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Dương

Văn Sao chủ biên - 2004) đã lần lượt ra mắt bạn đọc Theo các tác giả của những cuốn sách vừa nêu, cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tinh thần của bộ phận công nhân có trình độ học vấn và tay nghề cao đã được cải thiện đáng kể trên cơ sở mức sống vật chất từng bước được nâng lên Tuy vậy, tình hình việc làm và thu nhập, điều kiện nhà ở và chăm sóc sức khỏe, cơ hội được đào tạo và triển vọng thăng tiến, định hướng giá trị và

Trang 30

mức độ hưởng thụ văn hóa của đa số công nhân vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Ngoài ra, một số tạp chí và báo hàng ngày cũng đăng tải khá nhiều bài điều tra nghiên cứu về đời sống văn hóa công nhân tại các khu công nghiệp tập trung, đặc biệt là tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nhưng nội hàm của khái niệm đời sống văn hóa là gì, thì hầu như chưa có cuốn sách hoặc bài báo nào bàn đến

Trong tình hình ấy, chúng tôi rất chú ý đến mấy công trình sau: Một là,

Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long do Phan Hồng Giang chủ biên; Hai là, Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam do Đình Quang chủ biên

Mặc dù không trực tiếp bàn về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân, song tập thể tác giả của mỗi công trình nêu trên đều đưa ra cách hiểu của mình về nội hàm khái niệm đời sống văn hóa

Theo Phan Hồng Giang và cộng sự, "Khái niệm đời sống văn hóa là một khái niệm phái sinh từ khái niệm đời sống của sinh học Mà đời sống sinh học lại là quá trình trao đổi chất Vì thế, có thể hiểu đời sống văn hóa

là quá trình hấp thu - trao đổi văn hóa và quá trình này cũng bao gồm tất cả các khâu: sáng tạo văn hóa - tác phẩm văn hóa - các khâu trung gian và tiếp nhận (tiêu thụ) văn hóa"1

Đình Quang và cộng sự lại quan niệm: "Đời sống văn hóa bao hàm tất

cả những hoạt động để tồn tại của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết"

Đó là những hoạt động nhằm đáp ứng 6 nhu cầu cơ bản: "Nhu cầu sinh sống vật chất; nhu cầu lưu truyền huyết thống; nhu cầu sinh hoạt chính trị; nhu cầu hiểu biết; nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng; nhu cầu sáng tạo và giải trí"2

1.4.2 Ý kiến của một số học giả Trung Quốc

Công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc diễn ra hơn 30 năm nay

đã đem lại nhiều đổi thay tại đất nước này Nhưng bên cạnh những thành tựu lớn lao, xã hội Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với không ít vấn đề trên bước đường phát triển Một trong những vấn đề đó là sự diễn biến phức tạp

về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân

Với bài viết Văn hóa công nhân Trung Quốc trong sự biến thiên của thời đại, Tiến sĩ Mâu Đại - Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Liêu Ninh – đã

đưa ra nhận định cho rằng: Ở Trung Quốc hiện nay, do mô hình kinh tế đã chuyển đổi, doanh nghiệp quốc hữu được cải cách, doanh nghiệp phi quốc

1 Phan Hồng Giang (chủ biên): Đời sống văn hóa ở nông thôn đồng bằng sông Hồng và sông Cửu

Long Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 2005, tr 11

2 Đình Quang (chủ biên): Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam Nxb Văn hóa -

Trang 31

hữu được mở mang, cơ cấu ngành nghề được điều chỉnh, phân tầng xã hội ngày càng sâu sắc, giá trị quan thay đổi rõ rệt nên đã tác động mạnh đến đời sống văn hóa của các giai tầng xã hội khác nhau, trong đó giai cấp công nhân

là một lực lượng xã hội đông đảo Về lý luận, giai cấp công nhân vẫn được xem là chủ nhân của đất nước, nhưng trên thực tế, đa số công nhân không còn

là chủ nhân của công xưởng, nhà máy phi quốc hữu nữa, mà chỉ là người làm thuê Địa vị kinh tế của công nhân bị hạ thấp, đời sống văn hóa của họ do đó cũng lâm vào thế yếu1

Bàn sát hơn vào những yếu tố cấu thành đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Trung Quốc, hai nhà nghiên cứu Triệu Văn Tường và Dương Lập Hoa lại quan niệm: Đời sống văn hóa của công nhân Trung Quốc ngày nay

được biểu hiện bằng những hoạt động nhằm hiện thực hóa "niềm tin cơ bản, tiêu chuẩn giá trị và quy phạm hành vi theo hướng tự lập, tự cường và tự bảo

vệ quyền lợi"2 (gọi tắt là "tam tự") Trong đó:

Tự lập là những hoạt động của công nhân nhằm tự lo liệu việc làm,

đào tạo, thu nhập, nhà ở, chữa bệnh , chứ không còn có thể trông chờ vào

sự bao cấp của Nhà nước và doanh nghiệp như ở thời trước cải cách mở cửa

Tự cường là kết quả của sự cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị

trường Trong cơ chế mới, người công nhân muốn có lương cao để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của mình thì phải nỗ lực làm việc, làm việc với năng suất và hiệu quả cao

Tự bảo vệ quyền lợi bắt nguồn từ chỗ vai trò của công hội trong các

doanh nghiệp phi công hữu mờ nhạt, quyền lợi của công nhân bị xâm hại nghiêm trọng, nên công nhân phải hết sức nhạy bén trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính mình

Mặc dù không chính thức đưa ra định nghĩa về khái niệm đời sống văn hóa, song qua sự phân tích của các tác giả nêu trên về những khía cạnh khác nhau thuộc đời sống văn hóa của công nhân Trung Quốc ngày nay, ta có thể

thấy: Trong quan niệm của họ, đời sống văn hóa là một hệ thống những giá trị định hướng cho các hành vi nhằm biến những giá trị ấy thành hiện thực

1.4.3 Ý kiến của một số học giả phương Tây

Nhìn chung, tại nhiều nước tư bản phát triển trên thế giới ngày nay, đa

số học giả đều xem việc nghiên cứu về giai cấp công nhân và về đời sống của

1 Mạng Công nhân đương đại (Trung Quốc) ngày 25-11-2009 Dẫn theo bài tổng thuật của Đặng

Thúy Hà, Viện Nghiên cứu Trung Quốc.

2 Triệu Văn Trường, Dương Lập Hoa: Văn hóa công nhân Trung Quốc đương đại và thúc đẩy tối

đa hóa lợi ích của công nhân Xem bài tổng thuật đã dẫn.

Trang 32

giai cấp này là đã lỗi thời Theo họ, trong các xã hội hậu công nghiệp, đại bộ phận dân cư đã trở nên khá giả nhờ có trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp cao Vì thế, việc phân chia xã hội thành giai cấp, trong đó có giai cấp công nhân là không còn cơ sở thực tế nữa

Tuy vậy, ngay tại những nước tư bản phát triển nhất, vẫn có không ít nhà khoa học danh tiếng như William Thompson, Joseph Hickey (Hoa Kỳ),Tominaga Kenichi, Mamada Takao (Nhật Bản), Eric Hobsbawn, Ross

Mc Kibbin (Anh), v.v cho rằng, việc nghiên cứu cơ cấu xã hội tại những nước này không thể không thừa nhận sự tồn tại hiển nhiên của các giai cấp, trong đó giai cấp công nhân chiếm khoảng trên dưới 1/3 lực lượng lao động

xã hội1 Nhưng không phải ai trong số những nhà khoa học ấy cũng quan tâm đến vấn đề đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Một số ít người

nghiên cứu về vấn đề này thì thường có xu hướng quy đời sống văn hóa vào phương thức sống và nếp sống, thể hiện ở thị hiếu và thói quen hoạt động của con người trong một loại hình văn hóa nào đó

Theo học giả Anh E Hobsbawn, đời sống văn hóa của giai cấp công nhân ở nước ông chủ yếu biểu hiện bằng những hoạt động giải trí, thể thao - tức văn hóa tiêu khiển (leisure culture) vào thời gian rỗi Những hoạt động này dẫn đến một lối sống chung và một tình đoàn kết giữa những người công nhân2

Có phần giống và cũng có phần khác với ý kiến của E Hobsbawn,

R Mc Kibbin thì quan niệm: Văn hóa tiêu khiển của giai cấp công nhân tuy đồng nhất về cấu trúc, nhưng đa dạng về kiểu loại và thị hiếu Hơn nữa, sự eo hẹp về điều kiện vật chất nhiều khi còn hạn chế đáng kể việc tham gia của không ít công nhân vào những hoạt động đáp ứng đúng thị hiếu của họ3

1.4.4 Nhận thức của bản thân đề tài về nội hàm khái niệm đời sống văn hóa và việc vận dụng cụ thể vào đời sống văn hóa của giai cấp công nhân

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo những quan điểm lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về văn hóa và đời sống văn hóa của giai cấp công nhân, đồng thời mở rộng tầm nhìn, tham khảo những ý kiến ít nhiều có liên quan của các

1 Xem William Thompson & Joseph Hickey: Society in focus Boston 2005; Mamada Takao: Cơ

cấu giai tầng của Nhật Bản hiện đại; Tominaga Kenichi: Xã hội Nhật Bản hiện đại (Tài liệu của

Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, 1998).

2 Xem Eric Hobsbawn: Worlds of labour London, 1984.

Trang 33

nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng tôi đi đến nhận thức về nội hàm đời sống văn hóa như sau:

Theo nghĩa rộng: Đời sống văn hóa là toàn bộ những hoạt động sinh sống có ý thức của con người – cả cá nhân và cộng đồng – trong quá trình hấp thu và sáng tạo các giá trị vật chất và giá trị tinh thần theo hướng chân, thiện, mỹ nhằm thích ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội, mà trung tâm là sự tồn tại và phát triển của chính con người

Theo nghĩa hẹp: Đời sống văn hóa thường được dùng để chỉ đời sống tinh thần của con người, phân biệt với đời sống vật chất Song trên thực tế, đời sống tinh thần và đời sống vật chất luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Không có một đời sống tinh thần nào mà lại thiếu những cơ sở vật chất nhất định Chẳng hạn, muốn trau dồi kiến thức thì phải có sách vở Ngược lại, cũng không có một đời sống vật chất nào mà không có yếu tố tinh thần hàm chứa ở bên trong Ví dụ như ăn uống không chỉ đơn thuần để cho khỏi đói khát mà còn ăn uống theo nghệ thuật ẩm thực nữa

Trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu dùng khái niệm đời sống văn hóa theo nghĩa rộng Với nghĩa đó, có thể suy ra đời sống văn hóa của giai cấp công nhân bao gồm một phức thể những hoạt động cơ bản sau:

- Sản xuất và tái sản xuất ra bản thân đời sống vật chất của chính người công nhân, thể hiện ở việc làm, thu nhập và tiêu dùng về ăn, mặc, ở và các nhu yếu phẩm khác;

- Xây dựng gia đình, tái sản xuất ra con người, nuôi dạy con cái;

- Nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp;

- Thực hiện định hướng giá trị đạo đức và chuẩn mực hành vi trong lao động sản xuất và quan hệ con người tại nhà máy, xí nghiệp ;

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong các sinh hoạt chính trị - xã hội của cộng đồng;

- Thưởng thức và sáng tạo trong các sinh hoạt thể thao, du lịch, văn hóa - nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật

Những hoạt động kể trên có mối quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau Trong một bối cảnh cụ thể nào đó, những hoạt động ấy có thể bị tha hóa ở mức độ này hay mức độ khác Nhưng cùng với đà phát triển của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, sự tha hóa ở các mức độ khác nhau ấy sẽ dần dần được khắc phục nhờ thực hiện những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cộng với sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của bản thân giai cấp công nhân

Đó là những vấn đề sẽ được đi sâu phân tích ở các phần tiếp theo

Trang 34

Chương II MỘT SỐ NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1 TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI TỪ NỀN KINH

TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG QUAN LIÊU BAO CẤP SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG NHIỀU THÀNH PHẦN ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

2.1.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng và đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp (nhà nước, cổ phần, tư nhân, cá thể, liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài)

Tại Đại hội lần thứ VI (tháng 12-1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế với nhiều hình thức rất phong phú, đa dạng và sáng tạo Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, chỉ sau hơn 10 năm, vẫn những con người ấy, cũng những điều kiện

tự nhiên ấy, từ một nền kinh tế lạc hậu do sự kìm hãm của hệ thống quản lý quan liêu bao cấp, từ một đất nước mà đại đa số nhân dân thiếu ăn quanh năm, trông chờ chủ yếu vào sự viện trợ từ bên ngoài; hàng tiêu dùng khan hiếm, người lao động không có việc làm đã nhanh chóng trở thành một đất nước không những đủ ăn, có lương thực dự trữ, mà còn xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới; nhu cầu tiêu dùng trong nước được thỏa mãn về nhiều mặt, kết cấu hạ tầng phát triển, nền kinh tế - xã hội sôi động, đất nước không ngừng phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, mở cửa hội nhập với thế giới bên ngoài trên tình thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi Chính nhờ đổi mới cơ chế, chính sách nhằm không ngừng phát triển các thành phần kinh tế, các tiềm năng của xã hội được khai thác một cách hợp lý, nội lực được phát huy tối đa, nguồn lực của bên ngoài được huy động, Việt Nam đã trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới, hình ảnh Việt Nam ngày càng được bè bạn quốc tế nể trọng

Có thể nói, chính sách phát triển và mở rộng các thành phần kinh tế là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng

và Nhà nước Việt Nam Từ chỗ không thừa nhận kinh tế tư nhân đến chỗ thừa nhận nó; từ chỗ thừa nhận kinh doanh nhỏ ở một số ngành nghề, đến chỗ

Trang 35

làm, đến chỗ được làm, mỗi lần thay đổi tư duy như vậy là một lần nhận thức của chúng ta được mở rộng, sâu thêm và kinh tế tư nhân cùng các thành phần kinh tế khác đều phát triển Những biến đổi quan trọng và mang tính bước ngoặt như vậy đã thúc đẩy các thành phần kinh tế nhanh chóng phát triển, có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), giải quyết công ăn việc làm, tạo cơ hội cho đại đa số người lao động và những chủ thể kinh tế, các doanh nhân mới năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm với chính bản thân mình và với xã hội, đất nước

Trải qua 25 năm kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định thực hiện nhất quán nền kinh tế nhiều thành phần với ý nghĩa nêu trên và được coi như một giải pháp chiến lược góp phần giải phóng và khai thác mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất Nghị

quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6, khóa VI, chỉ rõ: "Trong điều kiện nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội" Đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng nêu 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân Tiếp đó, Đại hội IX của Đảng xác định, ở

nước ta hiện nay, cần phát triển 6 thành phần kinh tế, tức là ngoài 5 thành

phần kinh tế nêu trên, có thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

và nhấn mạnh các thành phần kinh tế đó đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân

Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các doanh nghiệp nhà

nước, các tài nguyên quốc gia và các tài sản sở hữu nhà nước như hầm mỏ, đất đai, rừng, biển, ngân sách, các quỹ dự trữ ngân hàng nhà nước, hệ thống bảo hiểm, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phần vốn nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác

Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở chỗ là "làm đòn bẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn

đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết

và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới"1

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội 1996, tr 93

Trang 36

Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế vĩ

mô Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt, đi đầu ứng dụng khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả và chấp hành pháp luật

Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sự cạnh tranh càng gay gắt thì những người lao động riêng rẽ, các hộ cá thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có yêu cầu phải liên kết, hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển Vì thế, phát

triển kinh tế hợp tác và hợp tác xã là con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa

sản xuất nhỏ manh mún với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế

Kinh tế hợp tác là hình thức kinh tế mang tính tập thể, xã hội hóa, là nhân tố quan trọng để xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nó góp phần củng cố ý thức cộng đồng, tinh thần hợp tác hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên xã hội, giữa các thành phần kinh tế để sản xuất, kinh doanh đúng pháp luật

Hợp tác xã kiểu mới được hình thành trong giai đoạn này về cơ bản đã khắc phục được những hạn chế của hợp tác xã kiểu cũ Nó do các thành viên bao gồm cả thể nhân và pháp nhân (người lao động, hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ ), cả người ít vốn và người nhiều vốn, người góp sức hoặc góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng các nguyên tắc, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ Hợp tác xã không tập thể hóa mọi tư liệu sản xuất của các thành viên mà dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể Tổ chức và hoạt động của hợp tác xã không bị giới hạn bởi quy mô, lĩnh vực và địa bàn, hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và tự chịu trách nhiệm trong cơ chế thị trường Hình thức phân phối vừa theo lao động, vừa theo cổ phần và mức độ tham gia, dịch vụ…

Trong chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa, Đại hội IX của Đảng coi kinh tế cá thể, tiểu chủ có vị trí quan

trọng, lâu dài Loại hình kinh tế này xuất hiện và phát huy tác dụng ở cả thành thị và nông thôn, cả trong nông nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Sự phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ trong điều kiện nền kinh

tế hàng hóa gắn với thị trường có vai trò quan trọng trước mắt cũng như lâu dài trong việc thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

Qua thực tế 25 năm đổi mới cho thấy, kinh tế hộ cá thể, tiểu chủ là loại hình tổ chức sản xuất, kinh doanh mang tính chất của một xí nghiệp gia đình chứa đựng những khả năng lớn của sáng kiến cá nhân Ở đây, nguyên tắc kinh doanh, theo đuổi mục tiêu doanh lợi kết hợp hài hòa với các giá trị gia

Trang 37

đình Những thành viên trong hộ gắn bó với nhau bằng quan hệ ruột thịt, nên

có tính cộng đồng trách nhiệm cao dễ thống nhất Ngoài các hoạt động sản xuất, kinh doanh, chủ hộ còn quan tâm đến việc học hành, giáo dục truyền thống, đạo đức, pháp luật cho các thành viên để hướng tới sự thành đạt Quan

hệ sản xuất ở đây là trực tuyến, bỏ qua các khâu trung gian, nên việc quản lý rất chặt chẽ, hiệu quả Chất lượng sản phẩm, thương hiệu hàng hóa được quan tâm đầu tiên, bởi nó tạo nên chữ tín của gia đình, nó bảo đảm cho hiệu quả kinh tế của hàng hoá sản xuất ra Các yếu tố trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề, bí quyết sản xuất, kinh doanh… được tích lũy qua nhiều đời là tiềm năng, "chất xám" quan trọng của kinh tế cá thể, tiểu chủ được phát huy Kinh

tế cá thể, tiểu chủ có khả năng huy động mọi nguồn lực phân tán như vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹ thuật… kết hợp lại với nhau, qua đó giải quyết việc làm cho đông đảo người lao động, tăng thu nhập, tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tạo

cơ hội cho người lao động tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất và hưởng thụ các thành quả tăng trưởng kinh tế Kinh tế cá thể, tiểu chủ còn góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo, nâng cao mặt bằng kinh tế - xã hội, cải thiện đáng kể bộ phận đông đảo dân cư ở thành thị và nông thôn

Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất, kinh doanh

dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta, thành phần kinh tế này có vai trò quan trọng xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa, giải quyết việc làm cho người lao động Đại hội VIII của Đảng khẳng định: "Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước Khuyến khích kinh tế tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh"1 Văn kiện Đại hội IX của Đảng cũng khẳng định

rõ hơn vai trò vị trí của kinh tế tư bản tư nhân và Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX, xác định: "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực của đất nước trong hội nhập kinh

tế quốc tế"2

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Sđd, tr 96

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr 57

Trang 38

Từ Đại hội IX Đảng ta khẳng định thêm thành phần kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài, phản ánh đúng thực tế đang diễn ra trong nền kinh tế nước ta

hiện nay

Việc thu hút các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra một khối lượng đáng kể năng lực sản xuất, tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế như bưu chính viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, nâng cấp hệ thống giao thông vận tải, phát triển điện lực, sản xuất phụ tùng, lắp ráp xe máy, hóa chất, chế biển nông - lâm - thủy sản, xây dựng khách sạn cao cấp, sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng có chất lượng cao Đồng thời đã tiếp thu được một số phương pháp quản lý tiến bộ, một số kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, kinh doanh Mặt khác, việc triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã góp phần hình thành nên các khu công nghiệp sản xuất tập trung tại nhiều địa phương, hình thành nên các cụm sản xuất công nghiệp làm đòn bẩy thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế trên khắp mọi miền đất nước; và cũng từ đó một đội ngũ công nhân lao động được hình thành, được tập trung vào quá trình sản xuất với những điều kiện làm việc mới, loại hình công việc mới tại các nhà máy, xí nghiệp với tác phong công nghiệp hiện đại, với trình độ tay nghề và chất lượng khoa học kỹ thuật mới

Trong xu thế toàn cầu hóa, để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, với chính sách kinh tế mở, Nhà nước ta luôn tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam ngày một tăng, hiện chiếm tỷ trọng trên 18% trong cơ cấu GDP của đất nước1 Cho nên việc tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu kinh tế - xã hội gắn với chuyển giao công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm là chủ trương đúng của Đảng và Nhà nước, phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

2.1.2 Tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng,

đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, bước đầu tiến hành công nghiệp hoá-hiện đại hoá đối với sự thay đổi về lao động, việc làm, thu nhập, các điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần của công nhân

Công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Chính sách kinh tế nhiều thành phần đã góp phần to lớn giải phóng và phát triển sức sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Quá trình thực hiện CNH-HĐH đất nước và

Trang 39

thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, từng bước xây dựng, đổi mới quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN đã và đang tác động mạnh mẽ đến

sự phát triển, biến động của đội ngũ công nhân trong các thành phần kinh tế những năm qua Việc chuyển mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần với cấu trúc ngành nghề được đa dạng hóa như phân tích ở trên,

đã trở thành điều kiện cơ bản cho sự phát triển cả về số lượng, chất lượng cũng như thành phần, nghề nghiệp của đội ngũ công nhân Trong quá trình đổi mới, bước đầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đội ngũ công nhân Việt Nam không chỉ bó hẹp trong các nhà máy, xí nghiệp nhà nước, trong các doanh nghiệp tập thể như trước mà được phân bố rộng rãi trong tất cả các thành phần kinh tế (nhà nước, tập thể, cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), trong hầu hết các ngành sản xuất, kinh doanh

Đặc biệt dễ nhận thấy nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng về mặt số lượng của đội ngũ công nhân Nếu như năm 1985 cả nước chỉ có 3,38 triệu công nhân, năm 1998 là trên 5,646 người, năm 2000 là trên 7,639 triệu người1, thì đến năm 2007 đội ngũ giai cấp công nhân Việt Nam đã đạt khoảng 9,5 triệu người, chiếm tỷ lệ 11% dân cư cả nước và 21% lực lượng lao động xã hội

Về mặt cơ cấu ngành, theo số lượng thống kê, hiện nay ở nước ta đội ngũ công nhân làm việc trong ngành công nghiệp chiếm 44,8%, ngành xây dựng chiếm 9,78%, ngành thương mại, dịch vụ chiếm 29,46%, vận tải chiếm 6,69%, các ngành khác chiếm 9,24%2

a Trong doanh nghiệp nhà nước

Sự phát triển và sự biến đổi của đội ngũ công nhân nước ta, trong đó có đội ngũ công nhân khu vực doanh nghiệp nhà nước có liên quan chặt chẽ với đường lối phát triển kinh tế, với chính sách sử dụng các thành phần kinh tế, tiến hành CNH – HĐH và xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN Đây

là khu vực rất đáng quan tâm, vì lực lượng công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước vốn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng kinh tế, những biến động trong khu vực này sẽ ảnh hưởng lớn đến các khu vực khác

Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp nhà nước Dưới tác động của cơ chế thị trường, trong các doanh nghiệp nhà nước đã diễn ra

sự sàng lọc với quy mô lớn Trừ những doanh nghiệp vẫn tiếp tục phát

1 Tổng cục Thống kê Kết quả sơ bộ điều tra các cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002

Nxb Thống kê, Hà Nội, 2002

2 Lê Thanh Hà Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò của công đoàn Nxb Lao động, Hà Nội, 2009, tr 61

Trang 40

triển vì đã biết chuyển hướng sang hạch toán kinh doanh theo cơ chế mới, nhạy bén tiếp cận thị trường và đổi mới công nghệ, còn không ít doanh nghiệp nhà nước đã gặp phải nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, phải sản xuất cầm chừng, thậm chí có nhiều doanh nghiệp còn bị phá sản, giải thể Đi đôi với nó là lực lượng lao động chính trong những doanh nghiệp đó - công nhân bị mất việc làm, thất nghiệp tăng lên

Như vậy, trong những năm qua, thực hiện chủ trương sắp xếp, đổi mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhanh chóng Cùng với sự giảm nhanh về số lượng doanh nghiệp nhà nước, số lượng công nhân ở khu vực kinh tế này cũng giảm mạnh Năm 1986 có trên 12.000 doanh nghiệp nhà nước với trên 3,3 triệu công nhân; năm 1995 còn 7.090 doanh nghiệp với 2,26 triệu công nhân; đến năm 2007 chỉ còn khoảng gần 3.500 doanh nghiệp với 1,73 triệu công nhân Nếu so với năm 1986, số doanh nghiệp nhà nước năm

2007 giảm đi 71% và đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp loại hình này đã giảm 42,5%1 Nếu so sánh với năm 2003, thì số lượng công nhân khu vực doanh nghiệp nhà nước vào năm 2007 giảm 15%, trong lúc đó tốc

độ tăng trưởng của đội ngũ công nhân trong cả nước là 30,5%2 Đặc biệt trong quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đã xuất hiện một

bộ phận công nhân có cổ phần trong doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

b Trong doanh nghiệp ngoài nhà nước

Kinh tế ngoài quốc doanh là một khu vực rộng lớn trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong quá trình phát triển, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã phải trải qua những bước thăng trầm Từ năm 1986, nhất là từ năm 1991, kinh tế ngoài quốc doanh ở nước ta phát triển rất mạnh mẽ Cuối năm 1991, số doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần mới chỉ có 123 doanh nghiệp, tháng 6-1995 là 22.445 doanh nghiệp3; năm 1998 là 34.000 doanh nghiệp thì đến năm 2007 đã tăng lên tăng lên trên 250.000 doanh nghiệp4 Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, số công nhân làm việc trong khu vực kinh tế này cũng tăng lên đáng kể Theo thống kê các năm, số công nhân trong các doanh nghiệp này ngày càng tăng lên: Từ 1,5 triệu năm 1990 lên 3,64 triệu năm

1 Lê Thanh Hà Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò của công đoàn Nxb Lao động, Hà Nội, 2009, tr 58-59

2 Chiến lược xây dựng giai cấp công nhân Việt nam (2010-2020)

3 Cao Văn Lượng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triển giai cấp công nhân Nxb

Chính trị Quốc gia, tr 102

4 Đặng Ngọc Tùng (chủ biên) Xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ

Ngày đăng: 05/10/2014, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Thanh Hà, Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới, Nxb KHXH, H. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Bùi Thị Thanh Hà, Vị thế nữ công nhân công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội), Nxb.Khoa học Xã hội, H. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế nữ công nhân công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội)
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
3. Cao Văn Biền..., Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21: Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Lao động, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21: Kỷ yếu hội thảo khoa học
Nhà XB: Nxb Lao động
4. Cao Văn Lượng, Nguyễn Viết Vượng, Nguyễn Văn Nhật..., Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ông nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
5. Công tác tư tưởng với vấn đề dân số và phát triển trong công nhân lao động, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác tư tưởng với vấn đề dân số và phát triển trong công nhân lao động
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
6. Đan Tâm, Giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước, Nxb Lao động, H. 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân và công đoàn Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
Nhà XB: Nxb Lao động
7. Đinh Quang (chủ biên), Đời sống văn hoá đô thị và khu công nghiệp Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, H. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá đô thị và khu công nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
8. Đỗ Ngọc Minh, Nguyễn Văn Giạng (chủ biên), Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
9. Đỗ Tiến Sâm (chủ biên), Xây dựng nền văn hóa tiên tiến ở Trung Quốc, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nền văn hóa tiên tiến ở Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
10. Đỗ Tiến Sâm, Phạm Duy Đức, Văn hóa Đông Á trong tiến trình hội nhập, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Á trong tiến trình hội nhập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
11. Dương Văn Thao, Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Lao động, H. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhà XB: Nxb Lao động
12. Dương Xuân Ngọc, Giai cấp công nhân Việt nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giai cấp công nhân Việt nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
13. Lê Thanh Hà, Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò của công đoàn, Nxb. Lao động, H. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và vai trò của công đoàn
Nhà XB: Nxb. Lao động
14. Mai Thị Thanh Dung, Giá trị bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Lao động, H. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
15. Nguyễn Viết Chức, Vũ Khiêu, Trần Văn Bính..., Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Viện Văn hoá Thông tin, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hoá ở thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
16. Nguyễn Xuân Mai, Đời sống của công nhân quốc doanh thực trạng vấn đề và giải pháp, Nxb KHXH, H.1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống của công nhân quốc doanh thực trạng vấn đề và giải pháp
Nhà XB: Nxb KHXH
17. Phạm Duy Đức (chủ biên), Phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
18. Phạm Quang Trung, Cao Văn Biền, Trần Đức Cường, Về thực trạng giai cấp công nhân hiện nay, Nxb KHXH, H. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thực trạng giai cấp công nhân hiện nay
Nhà XB: Nxb KHXH
19. Phạm Xuân Nam, Văn hoá vì phát triển (In lần thứ hai), Nxb Khoa học xã hội, H. 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá vì phát triển
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
21. Phan Xuân Biên, Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang, Con người và văn hoá trên đường phát triển, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và văn hoá trên đường phát triển
Tác giả: Phan Xuân Biên, Lê Khả Phiêu, Trương Tấn Sang
Nhà XB: Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Thống kê tình hình công nhân tại các doanh nghiệp - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 2 Thống kê tình hình công nhân tại các doanh nghiệp (Trang 65)
Bảng 3: Trình độ học vấn của công nhân trong các thành phần kinh tế - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 3 Trình độ học vấn của công nhân trong các thành phần kinh tế (Trang 68)
Bảng 7: Kết quả khảo sát được trang cấp phương tiện bảo hộ lao động cá nhân - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 7 Kết quả khảo sát được trang cấp phương tiện bảo hộ lao động cá nhân (Trang 85)
Bảng 8: Các phương tiện phục vụ công nhân tại doanh nghiệp (% trả lời có) - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 8 Các phương tiện phục vụ công nhân tại doanh nghiệp (% trả lời có) (Trang 87)
Bảng 9: Tổng hợp ý kiến của công nhân nhận thức khi “mình là công nhân” - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 9 Tổng hợp ý kiến của công nhân nhận thức khi “mình là công nhân” (Trang 88)
Bảng 10: Nhận thức của công nhân về công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 10 Nhận thức của công nhân về công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế (Trang 89)
Bảng 11:  Ý kiến của công nhân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 11 Ý kiến của công nhân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (Trang 90)
Bảng 13: Tỷ lệ công nhân tham gia sinh hoạt văn hóa trong năm qua - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 13 Tỷ lệ công nhân tham gia sinh hoạt văn hóa trong năm qua (Trang 95)
Bảng 14: Mức chi tiêu của công nhân cho các hoạt động văn hoá tinh thầ n - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 14 Mức chi tiêu của công nhân cho các hoạt động văn hoá tinh thầ n (Trang 96)
Bảng 15: Mức độ tham gia  hoạt động ngoài giờ của công nhân - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 15 Mức độ tham gia hoạt động ngoài giờ của công nhân (Trang 97)
Bảng 16: Tỷ lệ công nhân xem các chương trình trên truyền hình - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 16 Tỷ lệ công nhân xem các chương trình trên truyền hình (Trang 98)
Bảng 17: Tỷ lệ công nhân tham gia sáng tác, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 17 Tỷ lệ công nhân tham gia sáng tác, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật (Trang 100)
Bảng 18: Thái độ ứng xử của công nhân khi quyền lợi bị vi phạm - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 18 Thái độ ứng xử của công nhân khi quyền lợi bị vi phạm (Trang 101)
Bảng 19: Ý kiến công nhân về sinh hoạt văn hóa và xây dựng đời sống văn hoá - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 19 Ý kiến công nhân về sinh hoạt văn hóa và xây dựng đời sống văn hoá (Trang 102)
Bảng 20: Mức độ quan tâm đến đời sống văn hóa công nhân tại doanh nghiệp - đề tài nghiên cứu xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân việt nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Bảng 20 Mức độ quan tâm đến đời sống văn hóa công nhân tại doanh nghiệp (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w