Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết nêu trên, đề tài Sự biến đổi văn hoá ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc hiện nay qua thực tế các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Đ
Trang 1BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
MÃ SỐ B.10-19
sự biến đổi văn hoá ở vùng tái định c−
của đồng bào dân tộc thiểu số tây bắc hiện nay
(QUA THỰC TẾ CÁC TỈNH SƠN LA, LAI CHÂU, ĐIỆN BIấN)
Cơ quan chủ trỡ : Viện Văn hoỏ và Phỏt triển Chủ nhiệm đề tài : TS Nguyễn Thị Tuyến Thư ký đề tài : ThS Lờ Xuõn Kiờu
8546
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Trang
Chương 1: SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA VÀ CÁC NHÂN TỐ TẠO NÊN SỰ
BIẾN ĐỔI VĂN HÓA Ở VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CỦA ĐỒNG
1.2 Các nhân tố tạo nên sự biến đổi văn hoá ở vùng tái định cư của
Chương 2: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA Ở VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ
CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC HIỆN NAY 46 2.1 Biến đổi về văn hoá vật chất 46
2.2 Biến đổi về văn hoá tinh thần 71
2.4 Đánh giá chung về biến đổi văn hoá vùng tái định cư của đồng
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN VĂN HÓA Ở VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC HIỆN NAY 100 3.1 Định hướng xây dựng và phát triển văn hoá ở vùng tái định cư
3.2 Giải pháp phát triển văn hoá vùng tái định cư của đồng bào dân
3.3 Một số kiến nghị 120
Trang 35 TS Lê Trung Kiên
6 ThS Lê Xuân Kiêu - Thư ký khoa học
7 ThS Nghiêm Thị Thu Nga
8 TS Nguyễn Văn Thắng
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tái định cư là quá trình lập lại các khu định cư phục vụ cho di dân theo mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự
án phát triển kinh tế xã hội theo kế hoạch của Nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên quy hoạch khu vực và vùng lãnh thổ
Trong quá trình đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác tái định cư diễn ra ở hầu khắp các địa bàn trên cả nước, từ đô thị đến nông thôn, miền núi Riêng ở Tây Bắc, bao gồm 6 tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu
số cũng đã và đang diễn ra trên diện rộng, chủ yếu nhằm phục vụ cho các dự
án phát triển thuỷ điện (ngoài ra còn để xây dựng các khu công nghiệp và đô thị) Để có được địa điểm xây dựng các hồ chứa và công trình nhà máy, số đồng bào dân tộc thiểu số phải tham gia di dân là hết sức lớn: thuỷ điện Thác
Bà là 6000 hộ với 30.000 khẩu, thuỷ điện Hoà Bình là 14.414 hộ với 89.720 khẩu Hiện nay, tại Tây Bắc, việc di dân đối với đồng bào thiểu số trên diện rộng chủ yếu để phục vụ xây dựng thuỷ điện Sơn La trên địa bàn 3 tỉnh Sơn
La, Lai Châu và Điện Biên và số dân phải tham gia di cư lên tới 91.0000 khẩu Đây là số dân di dời lớn nhất từ trước đến nay ở nước ta nhằm phục vụ xây dựng thuỷ điện
Việc xây dựng các công trình thuỷ điện ở khu vực Tây Bắc trên cơ sở khai thác tiềm năng tài nguyên nước có một ý nghĩa quan trọng phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ngoài việc hàng năm sản xuất hàng chục tỷ kw/h điện với giá trị nhiều tỷ đồng, các công trình thuỷ điện còn cắt lũ, cấp và điều tiết nước cho đồng bằng Bắc Bộ, điều hoà khí hậu trong vùng, tạo điều kiện cho phát triển du lịch đường thuỷ Tuy nhiên, do đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số chủ yếu gắn với sản xuất nông nghiệp
và khai thác lâm sản, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, khả năng tiếp thu các yếu
Trang 5tố kỹ thuật còn hạn chế, nhiều tập quán, hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại và duy trì trong các bản làng nên việc thay đổi điều kiện, môi trường sống của người dân là một vấn đề gây ảnh hưởng hết sức lớn đến đời sống của đồng bào
Việc phải rời bỏ quê hương, bản quán truyền thống nhiều đời để tạo quỹ đất xây dựng các công trình thuỷ điện cho đất nước là một sự hy sinh lớn lao của đồng bào các dân tộc Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta chủ trương không chỉ đền bù thoả đáng những tài sản của đồng bào bị thiệt hại, mà còn phải đầu tư để "bảo đảm người dân tái định cư ổn định chỗ ở, ổn định cuộc sống, có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, cuộc sống vật chất và văn hoá tốt hơn nơi ở cũ, ổn định lâu dài, bền vững góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc"1.Thực tế cho thấy, cơ sở hạ tầng gồm các hạng mục công trình giao thông, trường học, trạm xá, điện, nước sinh hoạt… tại các khu tái định cư đang là những điều kiện mới làm thay đổi bộ mặt các thôn bản, góp phần nâng cao dân trí, từng bước thúc đẩy kinh tế - xã hội khu vực chịu ảnh hưởng của các công trình thuỷ điện, góp phần đảm bảo an ninh chính trị khu vực Tây Bắc
Nhưng bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tái định cư ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay còn bộc lộ không ít những hạn chế đòi hỏi sự đầu tư, chăm lo, khắc phục lâu dài, đặc biệt là trong việc xây dựng văn hoá xã hội theo đặc thù từng tiểu vùng, từng nhóm dân tộc trong điều kiện môi trường sống mới
Với địa hình đa dạng (thung lũng lòng chảo, sườn núi thấp và các rẻo cao), Tây Bắc là vùng nhiều dân tộc (hơn 30 tộc người, sử dụng tới 7/8 nhóm ngôn ngữ trong cả nước) và có một nền văn hoá vô cùng đa dạng, độc đáo Những tác động của các nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội trong quá trình tái định cư đang tạo ra những biến đổi trong đời sống văn hoá của các tộc người
1 Theo Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 9/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án thuỷ điện Sơn La, điều 4
Trang 6thiểu số trên các phương diện cấu trúc văn hoá, các giá trị văn hoá và sẽ làm ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên cộng đồng xã hội tái định cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực
Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững, cần xác định, ngoài yếu tố vật chất phải đi tìm những mục tiêu, động lực từ những yếu tố tinh thần, yếu tố văn hoá Văn hoá ở các vùng miền núi nghèo có mối quan hệ chặt chẽ với phát triển
xã hội Và biến đổi văn hoá có tính quyết định đối với sự phát triển của vùng tái định cư của đồng bào thiểu số Tây Bắc Sự thành công của công tác tái định cư với số vốn đầu tư lớn không chỉ ở việc bố trí lại dân cư, chuyển đổi cơ cấu sản xuất mà còn là phải xây dựng được một môi trường văn hoá mới trên cơ sở bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số trước yêu cầu hội nhập và phát triển, đảm bảo cho các vùng tái định cư có sự phát triển bền vững
Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết nêu trên, đề tài Sự biến đổi
văn hoá ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc hiện nay (qua thực tế các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên) được triển khai
nhằm bước đầu đánh giá những biến đổi văn hoá dưới tác động của quá trình
di dân, tái định cư đối với đồng bào thiểu số, từ đó góp phần đề xuất những giải pháp thích hợp trong xây dựng và phát triển văn hoá xã hội vùng tái định
cư cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay
2 Các văn bản pháp quy và tình hình nghiên cứu có liên quan đến
đề tài
Có thể nhận thấy một số nội dung có liên quan đến việc nghiên cứu của
đề tài như sau:
Thứ nhất là các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về lãnh đạo, quản lý công tác xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, đó là:
Các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam; Đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm
Trang 7Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII (1998) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Chương trình
phối hợp số 556/CTPHH /VHTT- UBDTMN ngày 21 tháng 2 năm 2000 của
Bộ Văn hoá thông tin và Uỷ ban dân tộc miền núi về đẩy mạnh công tác bảo tồn, phát triển văn hoá thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số năm 2000
- 2005; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX về công tác dân tộc; Kết luận của Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ngày 20/7/2004 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về "xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam đậm
đà bản sắc dân tộc" trong những năm sắp tới… Các văn kiện này tạo cơ sở lý
luận cho việc triển khai nghiên cứu đề tài
Thứ hai là các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai và công tác di dân tái định cư bao gồm các bộ Luật, các Nghị định, Thông tư làm cơ
sở pháp lý cho việc xem xét các vấn đề liên quan đến đề tài như:
Luật đất đai đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003; Nghị định
số 22/1998/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg ngày 9/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ di dân
và tái định cư Dự án thuỷ điện Sơn La; Quyết định số 190/2003/QĐ-TTG ngày 16/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư giai đoạn 2003-2010…
Thứ ba là các công trình nghiên cứu về công tác di dân, tái định cư trên một số phương diện như hiệu quả của chính sách tái định cư, thực trạng
tái định cư và các khuyến nghị bổ sung hoàn thiện chính sách và các giải pháp triển khai công tác tái định cư ở các công trình thuỷ điện Đây là những nội
Trang 8dung tham khảo hữu ích tạo được cái nhìn tổng thể làm căn cứ cho những đánh giá của đề tài bao gồm:
Công tác định canh, định cư đối với đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc của Nguyễn Đức Truyền,Viện Xã hội học (Viện KHXH Việt Nam - http://www.tapchicongsan.org.vn/); Đánh giá của Đoàn giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về di dân, tái định cư công trình Thuỷ điện Sơn La: đảm bảo công bằng, dân chủ, công khai (http://www.cpv.org.vn/);
Di dân 30 năm vẫn chưa xong của Hà Yên (http://www.vietbao.vn/Xa-hoi/);
Di dân tái định cư công trình thuỷ điên Sơn La, một số vấn đề cần quan tâm của Trần Lê Trân (http://www nea.gov.vn/tạp chi/toan văn/); Nghiên cứu một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thuỷ điện của Nguyễn Lâm Thành (Viện Dân tộc, Hà Nội 2004); Vấn đề tái định cư cho người dân vùng lòng hồ thuỷ điện nhìn từ góc
độ xã hội học quản lý của Tống Văn Chung (Tạp chí Quản lý nhà nước số 9 năm 2005); Tái định cư cho khu vực lòng hồ thuỷ điện - Công tác quy hoạch
và những vấn đề kinh tế - xã hội của Đỗ Đức Viêm; Một số kinh nghiệm từ hiện trạng qui hoạch, thiết kế xây dựng nhà ở tái định cư khu vực miền núi của Nguyễn Trọng Khang, Lê Thuý Hà; Tác động của tái định cư đến thiết
kế không gian ở của Nguyễn Thị Thanh Mai; Tái định cư trong các dự án phát triển: Chính sách và thực tiễn của Phạm Mộng Hoa, Lâm Mai Lan
(Nxb Khoa học xã hội, 2000)
Thứ tư là những nghiên cứu chuyên sâu về biến đổi văn hoá và biến đổi văn hoá sau di dân tái định cư có liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như:
Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển
đất nước, đề tài khoa học cấp Nhà nước thuộc chương trình KX.06 do PGS
Nguyễn Văn Huy làm chủ nhiệm đề tài (Viện Sử học - Trung tâm Khoa học
xã hội và Nhân văn Quốc gia, 1996) đã đề cập nội dung nghiên cứu tính đa dạng của văn hoá các dân tộc nước ta; nghiên cứu ưu và khuyết của sự phát
Trang 9triển văn hoá các dân tộc ở giai đoạn 1945-1975; phác hoạ một mô hình tổng thể phát triển văn hoá các dân tộc nước ta
Văn hoá làng của các dân tộc Thái, Hmông ở một số tỉnh miền núi Tây Bắc và việc phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện hiện nay - đề tài
cấp Bộ do TS Ngô Ngọc Thắng làm Chủ nhiệm đề tài (Học viện CTQG Hồ Chí Minh,1997) đã xác định ảnh hưởng của văn hoá các dân tộc Thái, Hmông đối với văn hoá xã hội các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc trong điều kiện hiện tại, trình bày các yếu tố hợp thành văn hoá bản làng ở các dân tộc như văn hoá vật chất, văn hoá xã hội, văn hoá tinh thần; xem xét việc sử dụng các yếu tố văn hoá bản làng truyền thống trong việc xây dựng bản làng văn hoá các dân tộc trong điều kiện hiện tại và đề xuất những giải pháp nhằm phát huy các yếu tố truyền thống trong việc xây dựng bản làng văn hoá dân tộc;
Đánh giá một số tác động ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát huy văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số (1991-2000) - đề tài cấp cơ sở
do Chu Tuấn Thanh làm chủ nhiệm đề tài (Vụ Chính sách dân tộc, Hà Nội, 2001) đã trình bày khái quát những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống; phân tích, đánh giá các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến một số khía cạnh của văn hoá: nhà cửa, y phục, trang sức, văn hoá vật chất - lễ hội, văn hoá phi vật thể - quan hệ dòng họ, gia đình văn hoá và quan hệ xã hội; đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số
Nghiên cứu một số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thuỷ điện do Ths Nguyễn Lâm Thành làm Chủ
nhiệm đề tài (Viện Dân tộc, Hà Nội, 2004) đã đánh giá về vấn đề tái định cư ở các công trình thuỷ điện, về chính sách của Đảng và Nhà nước ta và khuyến nghị các giải pháp trong việc triển khai công tác tái định cư ở các công trình thuỷ điện;
Trang 10Một số giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống vùng dân tộc thiểu số do Th.s Hoàng Công Dũng làm chủ nhiệm đề tài
(Viện Dân tộc, 2004) đã cho thấy một số vấn đề cơ bản liên quan đến phát triển du lịch và bảo tồn văn hoá truyền thống; Nêu thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và vấn đề bảo tồn văn hoá dân tộc; Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số
Lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc nước ta hiện nay do
PGS,TS Đỗ Đình Hãng làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005) đã đề cập về không gian văn hoá của người Thái
ở Tây Bắc nước ta, đánh giá thực trạng lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc nước ta và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong lễ hội truyền thống của người Thái ở Tây Bắc;
Đời sống văn hoá và xu hướng phát triển văn hoá một số dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Đề tài cấp Nhà nước thuộc chương trình KX.05 giai đoạn 2001 - 2005 do GS,TS Trần Văn Bính làm chủ nhiệm đề tài (Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Hà Nội, 2005) đã đề cập về văn hoá các dân tộc thiểu số trước yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và văn hoá một số dân tộc ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; đánh giá thực trạng đời sống văn hoá các dân tộc ở Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ và đưa ra kiến nghị về các giải pháp phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số ở nước ta trong tình hình hiện nay;
Phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc nhằm đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nước ta hiện nay do PGS,TS Nguyễn Quốc Phẩm làm chủ nhiệm đề
tài (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005) đã chỉ ra đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội, dân cư - tộc người và những tiềm năng, nội lực của các tỉnh miền núi, vùng cao Tây Bắc nước ta; Phân tích thực trạng quá
Trang 11trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở các tỉnh Tây Bắc và việc phát huy nội lực từng vùng và các dân tộc; Đề xuất phương hướng và giải pháp khai thác tiềm năng, phát huy nội lực từng vùng, từng dân tộc nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn miền núi, vùng cao Tây Bắc hiện nay
Văn hoá, xã hội trong quá trình xây dựng thuỷ điện Sơn La, quá trình hội nhập, những giải pháp cơ chế, chính sách đáp ứng do CN Nguyễn Như Hải làm
Chủ nhiệm đề tài (Sở KHCN Sơn La, 2006) đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội Sơn La trong thời kỳ 1996-2003, phân tích nguyên nhân ảnh hưởng tác động chủ yếu đối với sự phát triển và mặt hạn chế về kinh tế-xã hội của tỉnh; Dự báo những biến động về kinh tế - xã hội nhân văn trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống dân
cư khi xây dựng thuỷ điện Sơn La và quá trình hội nhập; Đề xuất những giải pháp
cơ chế nhằm đưa kinh tế - xã hội Sơn La tiếp tục phát triển đi lên
Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ tổ chức lãnh thổ và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc dưới tác động của công trình thuỷ điện Sơn La do TS Nguyễn Bá Ân làm chủ nhiệm đề tài (Viện Chiến
lược phát triển - Bộ Kế hoạch Đầu tư, Hà Nội, 2007) đã đưa ra một số vấn đề
lý luận về tổ chức lãnh thổ kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc; Phân tích, đánh giá các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường vùng Tây Bắc; Đề xuất phương hướng tổ chức lãnh thổ vùng Tây Bắc dưới tác động của công trình thuỷ điện Sơn La, các giải pháp phát triển vùng Tây Bắc theo hướng phát triển bền vững dưới tác động của thuỷ điện Sơn La
Sự biến đổi các giá trị văn hoá trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta - Đề tài cấp Bộ do PGS,TS
Nguyễn Duy Bắc làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007) đã đề cập một số vấn đề lý luận về văn hoá, giá trị văn hoá, biến đổi giá trị văn hoá; nêu sự vận động của các giá trị văn hoá ở nước ta thời kỳ trước đổi mới; phân tích sự biến đổi giá trị nhân cách văn hoá, giá trị
Trang 12văn hoá trong điều kiện xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đề xuất các giải pháp xây dựng giá trị văn hoá trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La
do ThS Nguyễn Thị Thanh Huyền làm chủ nhiệm đề tài (Học viện Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008) đề cập về vị trí, tầm quan trọng của việc khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn
La, đánh giá thực trạng khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La
Nhìn chung, tuy không trực tiếp đi sâu vào vấn đề biến đổi văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay nhưng những nội dung nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra trong công tác tái định cư ở Tây Bắc của các công trình nêu trên cũng là những nội dung tham khảo thiết thực mà chúng tôi sẽ kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ sự biến đổi văn hoá vùng tái định cư phục vụ xây dựng thuỷ điện Sơn La của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn, xây dựng và phát triển văn hoá vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc nước ta hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quán triệt đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, đồng thời vận dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Nghiên cứu lý thuyết: Đề tài nghiên cứu những cơ sở lý luận khoa học
về biến đổi văn hoá nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích, đánh giá trong nhận
Trang 13diện biến đổi văn hóa trong điều kiện tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu
số ở Tây Bắc hiện nay
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Áp dụng trong phân tích làm rõ
những biến đổi văn hoá dưới sự tác động của những biến đổi trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội vùng tái định cư ở Tây Bắc
- Phương pháp thống kê so sánh: Đề tài sử dụng các số liệu thống kê để
hệ thống hóa, khái quát hóa, phân loại, so sánh nhằm đưa ra những kết luận về thực trạng biến đổi văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay
- Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chủ yếu của đề tài, trên cơ
sở nghiên cứu thực địa, thực hiện quan sát, phỏng vấn, ghi chép, chụp ảnh, ghi hình, ghi âm để nắm bắt về đời sống văn hóa của các dân tộc thiểu số vùng tái định cư ở Tây Bắc để làm căn cứ cho việc nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp chuyên gia: Trên cơ sở các ý kiến phân tích, đánh giá
của các chuyên gia thông qua các hội thảo và tọa đàm khoa học sẽ được tổ chức trong quá trình nghiên cứu để điều chỉnh, thẩm định nội dung nghiên cứu của đề tài
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Xác định rõ quan niệm về văn hóa, biến đổi văn hóa
- Chỉ ra những biến đổi tích cực và cả những nguy cơ cần được xử lý trong việc xây dựng và phát triển văn hoá vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, từ đó góp phần xác lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa xã hội vùng Tây Bắc nói chung và vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc hiện nay nói riêng
- Là tài liệu tham khảo hữu ích trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Phụ lục và Thư mục tham khảo, đề tài gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 14Chương 1
SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HOÁ VÀ CÁC NHÂN TỐ TẠO NÊN SỰ BIẾN ĐỔI VĂN HÓA Ở VÙNG TÁI ĐỊNH CƯ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC
1.1 Sự biến đổi văn hóa
1.1.1 Quan niệm về văn hóa
Một số quan niệm về văn hóa
Trong đời sống xã hội, thuật ngữ văn hóa được sử dụng một cách phổ biến với việc gắn với hàng loạt các hoạt động sống của con người, đồng thời nó cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn: khảo cổ học, dân tộc học, nhân loại học, xã hội học, triết học, văn hoá học, lịch sử… Mỗi ngành khoa học kể trên lại bao gồm nhiều trường phái lý thuyết khác nhau, cho nên mỗi nhà khoa học khi triển khai công việc nghiên cứu đều phải giới thuyết quan niệm của mình
về văn hoá Từ đó, khái niệm văn hoá trở nên ngày càng đa nghĩa, số lượng định nghĩa văn hoá tăng và không dừng lại ở những con số đã được thống
kê Nói như Giăc-cơ Đê-ri-đa (Jaques Dérrida), “văn hoá chính là cái tên
mà chúng ta đặt cho điều bí ẩn không cùng với những ai ngày nay đang tìm cách suy nghĩ về nó”2
Trong nghiên cứu về văn hoá, lâu nay nhiều nhà khoa học thường xuất phát từ định nghĩa văn hoá của nhà dân tộc học người Anh E.B.Tylor (1832 -
1917) trong công trình Văn hoá nguyên thuỷ (1871): “Văn hoá hoặc văn minh
hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là một phức thể bao gồm: hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và những khả năng, tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên xã hội” Đây
là một định nghĩa do E.B.Taylor đặt ra để tiện cho việc miêu tả đời sống văn
2 Dẫn theo F.May-ơ, Ban đầu và cuối cùng là văn hoá, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, số 10/1993, tr.35
Trang 15hoá của các tộc người, sống trong trạng thái của xã hội truyền thống (tiền công nghiệp)
Một quan niệm khác cho rằng văn hoá là toàn bộ những gì do con người làm ra, là “thiên nhiên thứ hai” do nhân tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống, gồm văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần 3
Trong văn hoá học ở phương Tây, từ văn hoá luôn luôn có hai nghĩa,
được sử dụng trong hai ngữ cảnh khác nhau: Thứ nhất, giữa các chủng loại sinh vật, văn hoá là phẩm chất tinh thần chỉ có ở loài người Đó là năng lực
sáng tạo ra những ý niệm, hành vi nhằm tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người Ở đây, văn hoá là thế giới ý niệm - tức thế giới tinh
thần của con người; Thứ hai, trong phạm vi loài người, văn hoá còn là dấu hiệu, làm phân biệt giữa cộng đồng xã hội này với cộng đồng xã hội khác Đó
chính là lối sống thể hiện các giá trị và chuẩn mực xã hội và những truyền thống khác nhau mà các cộng đồng người đã tạo nên trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ Văn hóa không di truyền theo kênh sinh học mà được trao truyền thông qua các hệ thống biểu tượng (ngôn ngữ) theo hình thức bắt chước, học tập
C Mác và Ph Ăngghen quan niệm, về bản chất, văn hóa gắn với lực lượng bản chất người “Căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người biến thành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cải tạo thì có thể xét được trình độ văn hoá chung của con người”.4 Một trong các lực lượng bản chất ấy là sức lao động, là tài năng sáng tạo của con người Đó không phải là các lực lượng bẩm sinh xuất hiện một cách tự nhiên Chúng biến đổi dưới tác động của các quan hệ xã hội, của trình độ phát triển văn hoá
và được khách thể hoá thông qua hoạt động cải tạo thế giới của con người Lao động sáng tạo chính là bản chất của văn hóa5
3 Ý của nhà triết học Đức J.G.Herder, sau được M.Gorky nhắc lại
4 Dẫn theo Phạm Duy Đức (chủ biên), Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, Nxb CTQG,
H.2008, tr 28
5 Dẫn theo Phạm Duy Đức (chủ biên), Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa, Nxb CTQG,
H.2008, tr.29
Trang 16Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nhật ký trong tù (1943), ở mục đọc sách
đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”6
Tại hội nghị quốc tế về văn hóa do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982 ở Mêhicô, với sự tham dự của đại diện hơn 100 quốc gia, đã
có khoảng 200 định nghĩa được đưa ra và bản tuyên bố chung của Hội nghị khẳng định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền căn bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Chính văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hoá làm cho chúng
ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những lựa chọn Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân mình”7
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO F.May-ơ (Federico Mayor Zaragoza) cho rằng: “Văn hoá là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình
6 Hồ Chí Minh toàn tập, T 3, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, tr.431
7 Tuyên bố về những chính sách văn hóa - hội nghị Quốc tế do UNESCO chủ trì từ 27/7 đến 6/8/1982 tại Mêhicô
Trang 17thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.”8
Như vậy, mặc dù có nhiều cách hiểu về văn hóa, nhiều định nghĩa về văn hóa do các cách tiếp cận khác nhau, nhưng rõ ràng, các quan niệm về văn hóa đều đi đến một điểm chung là văn hóa gắn với con người, được đúc kết thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, biểu hiện thông qua vốn di sản văn hoá
và hệ ứng xử văn hoá của cộng đồng người
Quan niệm văn hóa của đề tài
Thứ nhất, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo ra nhằm mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người
Thứ hai, văn hóa có mặt trong toàn bộ hoạt động sống của con người,
thể hiện trong mọi lĩnh vực thuộc về con người như ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ phục vụ đời sống sinh hoạt, các phương thức sản xuất, cách thức tổ chức, quản lý đời sống cộng đồng xã hội nhằm bảo đảm sự sinh tồn và phát triển cho cộng đồng ấy
Thứ ba, về bản chất, dù được thể hiện dưới dạng vật chất - vật thể hóa
trong các vật dụng hay các khí cụ, các công trình kiến trúc, nhà cửa, trang phục, tiện nghi… hay dưới dạng tinh thần như các nghi lễ, phong tục, tập
quán, tín ngưỡng, lý thuyết khoa học… thì thực chất văn hóa vẫn là hoạt động tinh thần, vẫn thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội và chịu sự quy
định của điều kiện kinh tế - xã hội
Nói cách khác, văn hóa là sản phẩm trực tiếp của hoạt động tinh thần, của ý thức con người thuộc một cộng đồng xã hội nhất định Trong bản chất, văn hóa là hệ giá trị nhân bản, là bộ mặt tinh thần của đời sống xã hội, là gương mặt bản sắc của một cộng đồng người Do vậy, sự tồn tại và phát triển của một nền văn hóa chịu sự quy định của một cơ sở kinh tế - xã hội nhất định Cơ sở kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố như phương thức sản
8 F.M Zaragaza, Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, Tạp chí Thông tin UNESCO, số tháng 11/1988
Trang 18xuất vật chất, điều kiện địa lý sinh thái, hoàn cảnh dân số, điều kiện vật chất,
kỹ thuật đạt được, kết cấu xã hội tương ứng … Xét đến cùng, sự khác biệt văn hóa là do những khác biệt về môi trường sống quy định Từng nền văn hóa là kết quả của sự thích ứng của cộng đồng với môi trường để tồn tại và phát triển Sự tồn tại, vận động và phát triển của văn hóa tất yếu phải dựa trên một
nền tảng vật chất nhất định Trong nền tảng vật chất ấy, cần lưu ý đến điều kiện tự nhiên mà đặc biệt là môi trường sinh thái Bởi yếu tố này tham gia tác
động mạnh mẽ một cách toàn diện, thường xuyên, tất yếu với bất cứ nền văn hóa nào trong việc tạo ra yếu tố đặc trưng bản chất của mỗi nền văn hóa
Thứ tư, về mặt cấu trúc, văn hóa không phải là một tập hợp tùy tiện của
những hiện tượng rời rạc mà là một chỉnh thể mang tính cấu trúc bao gồm các yếu tố có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Các nhà nghiên cứu văn hóa, tùy từng cách tiếp cận đã đưa ra nhiều cách phân loại văn hóa khác nhau Khi nghiên cứu văn hóa tộc người, các nhà dân tộc học căn cứ vào hình thái của sản phẩm mà chia văn hóa thành ba phạm trù lớn:
- Văn hóa vật chất (hình thái sản phẩm: vật thể);
- Văn hóa tinh thần (hình thái sản phẩm: phi vật thể);
- Văn hóa xã hội (hình thái sản phẩm: quan hệ xã hội)
Văn hóa vật chất (Material Culture) là chỉ hoạt động mưu sinh (kiếm sống), thông qua việc tìm kiếm, khai thác, thu lượm các dạng vật thể trong thiên nhiên, đáp ứng các nhu cầu trong đời sống vật chất của con người, được cho là môi trường nhân tạo - kết quả hoạt động vật chất của con người
Các vật thể liên quan đến đời sống vật chất gồm có:
+ Công cụ sản xuất: công cụ làm ruộng, săn bắt, hái lượm, đánh cá, chăn nuôi, v.v…
+ Vũ khí để bảo vệ cộng đồng người, chống thú dữ và các kẻ thù khác + Phương tiện sinh hoạt liên quan đến các việc: ăn uống, trang phục, nhà ở, phương tiện đi lại
Trang 19Văn hóa tinh thần chỉ các hoạt động nhằm bồi dưỡng và phát triển đời sống tinh thần của con người Liên quan đến hoạt động tinh thần, gồm có: tín ngưỡng - tôn giáo, thờ cúng, lễ hội, các sinh hoạt văn nghệ dân gian, giáo dục
và các hình thức vui chơi - giải trí khác
Văn hóa xã hội chỉ những sản phẩm do con người đặt ra, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững Gồm có: các tổ chức xã hội, luật tục, hương ước, tổ chức quản lý xã hội, v.v…
Sự phân chia văn hóa thành ba phạm trù lớn như trên là phù hợp với ngành Dân tộc học, có nhiệm vụ miêu tả văn hóa tộc người - một hình thái văn hóa còn đang ở dạng chưa phát triển
Khi xã hội phát triển cao hơn, văn hóa trở nên phong phú và rất đa dạng Văn hóa các dân tộc đã phát triển trong xã hội công nghiệp (tức là xã hội đã phân tầng sâu sắc, trong xã hội đã xuất hiện nhà nước, các phương tiện truyền thông đại chúng, phục vụ công việc quản lý xã hội) là đối tượng nghiên cứu của ngành Văn hóa học Trong trường hợp này, Văn hóa học có thể dùng cách phân loại khác Chẳng hạn, người ta có thể dựa vào các hình thái của hoạt động sản xuất để phân chia văn hóa: sản xuất ra con người, sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sản xuất ra thể chế để quản lý xã hội Trong
đề tài này, đối tượng nghiên cứu là văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và mục đích nghiên cứu là sự biến đổi văn hóa, chúng tôi lựa chọn phân loại văn hóa theo các hình thái của hoạt động sản xuất, các dạng hoạt động sống chủ yếu của con người Từ cái nhìn cấu trúc theo kiểu hình thái này, văn hóa có thể trình bầy thành sự thống nhất giữa văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội
Văn hóa vật chất là môi trường nhân tạo - kết quả hoạt động sản xuất vật
chất của con người - bao gồm công cụ lao động, phương tiện sản xuất, hoạt động mưu sinh của con người, trang phục, ăn uống, nhà cửa, phương tiện giao tiếp… Hoạt động mưu sinh, mà văn hóa học gọi là văn hóa sản xuất, được coi là yếu tố cần được nhấn mạnh khi phân tích cấu trúc bên trong của văn hóa vật chất
Trang 20Văn hóa sản xuất là phương thức hoạt động kinh tế của con người trong
xã hội, phản ánh những đặc điểm cụ thể về sản xuất, phân phối và đổi mới hệ thống giá trị chủ đạo của hoạt động kinh tế trong thời điểm lịch sử nào đó của
xã hội Văn hóa sản xuất thể hiện đặc điểm về phân công lao động; trình độ thực hiện các mục tiêu kinh tế; trình độ phát triển lực lượng sản xuất (công cụ lao động, công nghệ); tính chất phát triển của chủ thể hoạt động sản xuất
Văn hóa tinh thần là môi trường nhân tạo - kết quả của hoạt động tinh
thần bao gồm các thành tố hệ tư tưởng, đạo đức, giao tiếp tinh thần, sáng tạo nghệ thuật và tôn giáo Văn hóa tinh thần phát triển như là “khía cạnh lý tưởng của hoạt động sản xuất vật chất Tuy vậy, trong các điều kiện cụ thể, từng được khách thể hóa và được củng cố trong các cơ chế của ký ức xã hội, văn hóa tinh thần giống như khuôn mẫu tri giác và tư duy, tâm thức xã hội có thể đóng vai trò chủ đạo trong các giai đoạn phát triển xã hội khác nhau”9 Nếu xuất phát từ chỗ cho rằng; hoạt động xã hội có cấu trúc phức hợp, bao hàm trong đó bốn dạng hoạt động: cải tạo, nhận thức, định hướng giá trị, giao tiếp (truyền thống), thì trong văn hóa tinh thần có thể phân chia thành 4 lĩnh vực: (1) Lĩnh vực hoạt động dự phóng, biểu thị ở tính chủ động (tích cực) sáng tạo của sức tưởng tượng con người; (2) Hoạt động nhận thức (khoa học, giáo dục) tạo ra những tri thức về tự nhiên, xã hội, con người và thế giới nội tâm của nó; (3) Hoạt động định hướng giá trị cuộc sống gồm 3 tiểu hệ thống là: Văn hóa đạo đức, Văn hóa nghệ thuật, Văn hóa tôn giáo; (4)Hoạt động giao tiếp tinh thần
Văn hóa xã hội là quá trình sản xuất, phát triển và hoàn thiện các điều
kiện xã hội phục vụ cuộc sống con người Dạng văn hóa này đặc trưng bởi các hoạt động của nhà nước, của các thiết chế xã hội khác, của xã hội công dân, bao gồm toàn bộ tính đa dạng của các cơ quan và các hành động thực tiễn, chúng tạo ra thể chế để duy trì hiện thực cho đời sống xã hội Thực tiễn xã hội
9 GS.TS Đơ-ra-đrơ(Chủ biên) , Văn hóa học, Nxb Phượng Hoàng, Rotxtop 2007 ( GS Hoàng Vinh dịch), tr 213
Trang 21sẽ loại bỏ đi các thiết chế già cỗi, hoạt động tổ chức xây dựng nên các trật tự mới, cũng thuộc về lĩnh vực văn hóa này
Văn hóa xã hội tự bộc lộ ra trong các mối quan hệ xã hội, nó chỉ ra những quá trình xảy ra trong xã hội, nêu lên cấu trúc xã hội của nó, tổ chức quyền lực chính trị, thực hiện các chuẩn mực pháp lý, các dạng quản lý và các phong cách lãnh đạo Văn hóa xã hội ở đây được hiểu chính là những thể chế Đó là toàn bộ những luật, lệ do cộng đồng xã hội quy định, được các thành viên trong cộng đồng ấy thừa nhận và tự giác thực hiện Thể chế xã hội phản ánh hệ giá trị mà cộng đồng xã hội ấy lựa chọn, đồng thời nó quy định hệ thống chuẩn mực ứng
xử, để các thành viên theo đó mà thực hiện Không có thể chế, các hoạt động xã hội không thể vận hành được và ngay bản thân xã hội cũng không tồn tại
1.1.2 Sự biến đổi văn hóa
Một số nghiên cứu về biến đổi văn hóa
Biến đổi văn hóa được các nhà khoa học khởi xướng thuyết tiến hóa luận như E.Taylor, l Morgan đề cập đến từ thế kỷ XIX khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội và biến đổi văn hóa E.Taylor cho rằng: “sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này
là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào trong một trật tự xác định, mà không thể làm ngược lại.”10 Theo mô hình phát triển tiến hóa đơn tuyến này, những nền văn hóa ngoài phương Tây được nhìn nhận là “kém văn minh”, con người sống trong sự ràng buộc chặt chẽ của phong tục, do đó sự biến đổi diễn ra rất chậm chạp…đối ngược với văn hóa phương Tây “văn minh”, năng động và biến đổi nhanh Mô hình tiến hóa luận đơn tuyến về sự phát triển và biến đổi văn hóa này đã bị phản đối rộng khắp trong giới nghiên cứu văn hóa và đây cũng là tiền đề cho nhiều lý thuyết mới về biến đổi văn hóa ra đời và phát triển ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX
10 A.A Belik, Văn hóa học Những lý thuyết nhân học văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, H.2000, tr 53
Trang 22Truyền bá luận như một phương thức nghiên cứu văn hóa xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX Khái niệm truyền bá, tiếp nhận từ vật lý học, có nghĩa là sự lan tỏa, sự loang ra, sự thẩm thấu Trong nghiên cứu văn hóa, khái niệm này
có nghĩa là truyền bá các hiện tượng văn hóa thông qua những cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc bằng buôn bán, di dân, xâm lược Các đại biểu của xu hướng này cho rằng, truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn hóa là nội dung chủ yếu của qúa trình lịch sử Phân tích những đặc điểm về không gian, thời gian của các nền văn hóa, nhằm cụ thể hóa đối tượng (khách thể) nghiên cứu khi đối chiếu với thuyết tiến hóa, là một đặc điểm quan trọng của phương pháp tiếp cận nghiên cứu thuộc xu hướng này Các nhà truyền bá luận đã đối lập tư tưởng về tính quyết định luận địa lý với tư tưởng Tiến hóa luận, chủ trương có sự tự phát và phát triển những hiện tượng văn hóa tương tự trong điều kiện giống nhau Truyền bá luận đã phổ biến ở các nước Âu - Mỹ Ở
Đức, Ph.Ratxen (1844-1904) với các công trình như Địa lý học nhân loại, Nhập môn dân tộc học đã đưa ra những kết luận về sự truyền bá các nền văn
hóa trong không gian, về sự sinh thành và nguồn gốc của chúng Đối với Ph.Ratxen thì vùng văn hóa được xem là khái niệm bao quát, thể hiện những đặc điểm không gian của sự phân bố văn hóa Ph.Ratxen đã giải thích những yếu tố giống nhau trong các nền văn hóa thuộc các dân tộc khác nhau là do chúng có chung cùng nguồn gốc Ông nhìn nhận nguồn gốc cơ bản của những biến đổi trong các nền văn hóa là ở những tiếp xúc qua lại giữa chúng Theo ông, cần phải xem xét tất cả những vấn đề của con người trong mối quan hệ của nó với môi trường tự nhiên Trong môi trường tự nhiên như vậy, sự di chuyển của các cộng đồng người và văn hóa của họ là không ranh giới Ông coi sự tiếp xúc và truyền bá (lan truyền) các thành tựu văn hóa là thuộc tính căn bản của văn hóa Ông cũng nêu ra phương thức lan truyền, đó là: lan truyền toàn bộ văn hóa từ cộng đồng này sang cộng đồng khác còn gọi là hỗn
Trang 23dung văn hóa; lan truyền dịch chuyển từng yếu tố văn hóa riêng lẻ theo những
hình thức khác nhau từ điểm dân cư này sang điểm dân cư khác
Ở Anh, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởng lớn
từ những năm 1920 đến 1950, đó là thuyết chức năng có liên quan đến cả
Radcliffe Brown và Malinowski Thuyết chức năng cho rằng các xã hội và
các nền văn hóa hòa nhập tương đối tốt và ổn định Với quan điểm này, nếu
một nền văn hóa thay đổi thì sau đó nó sẽ phải chịu những tác động bên
ngoài Những nhà chức năng luận không có ý định nghiên cứu thay đổi, mối
quan tâm chính của họ là các mối quan hệ qua lại về chức năng của các hệ
thống văn hóa và xã hội chứ không phải cách thức các hệ thống này được thay
đổi Văn hóa của mỗi cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, ứng xử
của mỗi cá nhân trong xã hội và đối với thiên nhiên Trong quá trình vận động
phát triển của loài người, văn hóa biến động và thay đổi không ngừng Có
nhiều giá trị cũ được thay bằng các giá trị mới Nhưng cũng có những giá trị
tồn tại và phát triển lâu dài cùng thời gian và tạo nên bản sắc của mỗi cộng
đồng, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
Phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa quan trọng khác trong nhân học
Bắc Mỹ là về vấn đề sinh thái văn hóa Phương pháp này đầu tiên do Julian
Steward (1955) khởi xướng và có ảnh hưởng lớn trong những năm 1960
Steward luôn phê phán trào lưu tán xạ văn hóa, ông cho rằng biến đổi có thể
được hiểu là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch sử hay sự kiện tình cờ do tiếp
xúc giữa các nền văn hóa với nhau Ngoài ra, Steward cũng tìm cách chứng
minh rằng biến đổi văn hóa có thể được giải thích chủ yếu xét về sự thích
nghi tiến bộ của một nền văn hóa nào đó với môi trường của mình, kết quả là
định hướng thay đổi có thể dự đoán được: căn cứ vào cơ sở tồn tại của một xã
hội, có thể dự đoán được xã hội sẽ thay đổi như thế nào theo thời gian để
thích nghi với những điều kiện môi trường nào đó Các nhà sinh thái học văn
hóa có xu hướng cho rằng tất cả các dân tộc sẽ có phản ứng giống nhau trong
Trang 24những hoàn cảnh tương tự nhau và những đặc điểm như các giá trị và đức tin văn hóa không đóng một vai trò quan trọng trong việc chi phối sự biến đổi văn hóa Quan điểm lựa chọn là môi trường được điều chỉnh về văn hóa: mọi người không hiểu về thế giới theo cách trực tiếp mà chỉ thông qua các hệ thống tư duy văn hóa, kết quả là các dân tộc với các quan niệm khác nhau về thế giới sẽ thích nghi với thế giới theo các cách khác nhau Như vậy, với quan điểm này, các nhà sinh thái học văn hóa đã nhầm lẫn khi họ không thể xem xét các hệ thống tư duy văn hóa trong quá trình phân tích sự biến đổi văn hóa
Trong điều kiện hiện nay, giới nghiên cứu văn hóa, khi đề cập đến biến đổi văn hóa, khuynh hướng chung là đặt biến đổi văn hóa trong sự ảnh hưởng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, của những quá trình giao lưu vượt phạm vi quốc gia, của những xã hội đang chuyển đổi Để nghiên cứu các chiều cạnh của biến đổi văn hóa, các nhà nhân học, xã hội học, văn hóa học…thường gắn nó với phát triển, với toàn cầu hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa Trên thực tế, hiếm các công trình khoa học chỉ khảo sát về biến đổi văn hóa dựa trên một khía cạnh nêu trên mà thường xuyên có sự tác động qua lại với nhau Ở mức
độ cụ thể hơn, sự biến đổi văn hóa được tìm hiểu trong quá trình hiện đại hóa gắn với sự phát triển kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở những xã hội đang chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp, từ xã hội truyền thống sang
xã hội hiện đại Trong các nghiên cứu này, quan điểm của nhà nhân học Mỹ S.Spindler về mối quan hệ giữa biến đổi văn hóa với văn hóa truyền thống đáng được chú ý hơn cả Nghiên cứu của ông đối diện với mô hình lớn của sự biến đổi văn hóa xã hội trong đó xác định ba cấp độ phân tích (văn hóa, xã hội, cá nhân) trong những quá trình biến đổi đa dạng, trong đó quan tâm đến những nhân tố gây ra sự biến đổi cả từ phía bên trong và ngoài hệ thống Ở những mô hình nhỏ hơn, tác giả phân tích sự đổi mới, truyền bá, tiếp biến văn hóa cùng các khía cạnh biến đổi tâm lý - văn hóa cộng đồng Điểm nổi bật là ông nêu lên luận điểm về tính biển đổi song hành cùng tính bền bỉ của văn
Trang 25hóa, mặc dù kinh tế phát triển có mang đến sự biến đổi thì văn hóa truyền thống tiếp tục thể hiện những dấu ấn bền vững trong đời sống xã hội Như vậy, sự biến đổi văn hóa trong xã hội hiện đại hóa là những quá trình đa chiều, đa dạng, phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể với sự chi phối của văn hóa truyền thống
Ở nước ta, trong thời gian gần đây đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa PGS,TS Nguyễn Duy Bắc trong đề tài cấp Bộ: “Sự biến đổi các giá trị văn hoá ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2007) đã cho rằng: biến đổi văn hoá chính là quá trình thay đổi các phương thức sản xuất, bảo quản, truyền bá… các sản phẩm và giá trị văn hoá phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở những thời kỳ nhất định trong sự phát triển của các quốc gia dân tộc và nhân loại Sự biến đổi văn hoá là hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau ở các dân tộc Sự biến đổi văn hoá thường là một bước tiến bộ trong sự phát triển dân tộc và nhân loại Bốn nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa được đề cập trong công trình này bao gồm: Thứ nhất là sự vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội; Thứ hai là nhân tố tư tưởng, chính trị; Thứ ba là kỹ thuật và công nghệ mới; Thứ
tư là giao lưu văn hoá
Như vậy, dù có nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về biến đổi văn hóa nhưng rõ ràng, các nhà nghiên cứu thống nhất ở luận điểm cho rằng sự biến đổi văn hóa là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người, quá trình toàn cầu hóa và sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa dạng, ở nhiều cấp độ và theo nhiều chiều hướng khác nhau
Quan niệm về biến đổi văn hóa của đề tài
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm nghiên cứu có trước, xuất phát từ nhiệm vụ nghiên cứu, quan niệm về biến đổi văn hóa của đề tài được xác định trên một số điểm sau:
Trang 26Thứ nhất, biến đổi văn hóa là một quy luật trong phát triển của văn
hóa Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào, cho dù có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa, cũng luôn luôn biến đổi Và sự biến đổi của văn hóa trong xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn
Thứ hai, biến đổi văn hóa là một sự thay đổi so sánh với một tình
trạng văn hóa hoặc một nền văn hoá có trước dưới tác động của những nhân
tố chính trị - kinh tế - xã hội Trong một phạm vi hẹp hơn, sự biến đổi văn hoá được đề cập đến là sự biến đổi về cấu trúc của văn hoá, về các thành tố của văn hóa và các giá trị văn hóa
Thứ ba, cơ chế biến đổi của văn hóa gồm ba loại: truyền bá, tiếp biến
và phát minh độc lập11 Trong đó:
Cơ chế truyền bá văn hóa là sự khuếch tán hoặc vay mượn các yếu tố
giữa các nền văn hóa đã diễn ra trong suốt chiều dài của lịch sử loài người thể hiện là sự truyền bá trực tiếp khi hai văn hóa giao thương, kết hợp với nhau;
là sự truyền bá cưỡng bức khi một nền văn hóa chi phối văn hóa khác và áp đặt phong tục của nó lên văn hóa bị thống trị; là sự truyền bá gián tiếp khi các yếu tố di chuyển từ nhóm A sang nhóm C qua nhóm B mà không có giao tiếp trực tiếp giữa A và C Trong truyền bá gián tiếp, nhóm B có thể là nhóm những thương nhân mang hàng hóa từ các chỗ khác nhau đến một thị trường mới Hoặc nhóm B có thể nằm giữa A và C về mặt địa lý, vì thế những gì có được từ A thường được đưa đến C và ngược lại Sự truyền bá là tác nhân kích thích cho sự phát triển làm nảy sinh những hiện tượng văn hóa mới Trong truyền bá văn hóa, các yếu tố văn hóa vật chất thường phổ biến bằng sự tiếp xúc đơn giản và không ảnh hưởng gì tới những đặc trưng văn hóa khác Các hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng thì ảnh hưởng qua lại khó hơn Trong thế giới ngày nay, nhiều sự truyền bá khuếch tán xuyên qua biên giới là kết quả của việc mở rộng thông tin đại chúng và kỹ thuật thông tin tiên tiến
11 Xem Vũ Minh Chi, Một số thuật ngữ Nhân loại học văn hóa, Tạp chí Nghiên cứu con người số 2 (2008), tr.68
Trang 27Cơ chế tiếp biến văn hóa là sự thay đổi của các yếu tố văn hóa như là kết
quả xảy ra khi các nhóm có giao tiếp trực tiếp, liên tục Văn hóa của một bên hoặc của cả hai bên đều có thể thay đổi bởi sự giao tiếp này Trong tình trang có sự giao tiếp liên tục, văn hóa sẽ biến đổi và pha trộn như với trường hợp ăn uống, trang phục, âm nhạc, công cụ, công nghệ
Cơ chế phát minh độc lập là quá trình mà trong đó những phát minh
của con người - những phát hiện mang tính sáng tạo nhằm tìm cách giải quyết vấn đề của thực tiễn Khi phải đối mặt với những vấn đề và thách thức tương
tự, con người trong các xã hội khác nhau có thể có những phát minh và biến đổi theo cùng một kiểu và đó chính là một lý do khiến cho sự giống nhau về văn hóa nảy sinh và tồn tại
Thứ tư, những nhân tố cơ bản tạo nên sự biến đổi văn hoá gồm:
(1) Những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội thể hiện qua những
chính sách đầu tư phát triển, về môi trường sống, về phương pháp, cách thức sản xuất; về nhu cầu nhận thức, giáo dục nhiều hơn của con người nhằm đáp ứng đòi hỏi của trình độ phát triển xã hội
(2) Điều kiện về kỹ thuật và công nghệ mới Đây là một yếu tố cơ bản
của sự biến đổi văn hoá Trong cuộc sống, kỹ thuật công nghệ mới góp phần làm thay đổi trình độ nhận thức, tạo sự phát triển của sản xuất vật chất, làm xuất hiện các loại hình văn nghệ mới như nhiếp ảnh, điện ảnh, rồi những hình thức hiện đại của thông tin như truyền thanh, truyền hình cũng như phổ cập rộng rãi những sản phẩm đó đến với mọi tầng lớp xã hội
(3) Sự giao lưu văn hoá Đây cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên
biến đổi văn hoá Sự biến đổi văn hóa đi liền với sự xuất hiện cái mới trong mỗi nền văn hóa Cái mới trong văn hóa các cộng đồng là các hiện tượng văn hóa mới dần dần xuất hiện và nảy sinh do sự phát triển nội tại của nền văn hóa, là sản phẩm của quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa các cộng đồng Sự phát triển nội tại của một hiện tượng văn hóa, một nền văn hóa nhất
Trang 28định bởi những nhân tố bên trong của nó, không có tác động kích thích từ bên ngoài Điều kiện quan trọng tạo nên sự đổi mới và phát triển của văn hóa là sự phát triển tương ứng của cơ sở kinh tế - xã hội, nó tạo ra nhu cầu và khả năng cho sự sản sinh cũng như sự tiếp thu những nhân tố mới, phát triển văn hóa phải đồng bộ và trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội
Định hướng của đề tài trong nghiên cứu thực trạng biến đổi văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và mục đích nghiên cứu của đề tài là sự biến đổi văn hóa Như vậy, đây không phải là nghiên cứu biến đổi văn hóa nói
chung trên bình diện văn hóa quốc gia dân tộc mà là văn hóa của các cộng đồng tộc người thiểu số khu vực Tây Bắc trong điều kiện di dân đến những vùng tái định cư Sự biến đổi văn hóa vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc sẽ không thể được làm rõ nếu chỉ nhìn nhận dưới quan điểm tộc người thuần túy mà phải kết hợp giữa tộc người với vùng, tức là kết hợp giữa nhân tố chủ thể và khách thể của sự biến đổi
Về mặt chủ thể, từ hàng nghìn năm nay, các dân tộc Tây Bắc đã
chung sống với nhau và hình thái cư trú xen cài giữa các tộc người trở nên
rõ rệt Hiện nay, ở khu vực này hầu như không có địa phương thuần túy một tộc người Tuy nhiên, mỗi tộc người tùy vào địa bàn sinh sống thường hình thành các nhóm địa phương với những khác biệt nhất định về thổ ngữ, trang phục, phong tục tập quán, nghi lễ , thậm chí, trong một số trường hợp, như các nhóm địa phương của tộc người Hmông, Dao là rất lớn, ngôn ngữ tộc người giữa các nhóm cũng rất khác nhau Việc cư trú xen cài giữa các tộc người, một mặt, tạo môi trường thuận lợi cho sự giao lưu văn hoá, mặt khác cũng làm cho sự tách biệt giữa các nhóm địa phương của tộc người càng trở nên sâu sắc, khiến bức tranh văn hoá tộc người càng trở nên
đa dạng và phức tạp hơn Đây là nhân tố quan trọng không thể không chú ý
Trang 29đến khi tiếp cận sự biến đổi văn hóa ở vùng Tây Bắc nói chung, vùng tái định cư nói riêng
Về mặt khách thể, do các tộc người cư trú xen cài như vậy, một số
nhóm các tộc người có cùng nguồn gốc lịch sử và truyền thống văn hóa, hình thành nên những kiểu thích ứng môi trường nhất định cũng như truyền thống kinh tế, xã hội và văn hóa chung gắn với những lãnh thổ xác định, gọi là vùng văn hóa, "một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế -
xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác."12
Như vậy, đểnghiên cứu sự biến đổi văn hóa ở vùng tái định phục xây dựng thuỷ điện Sơn La của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, đề tài sẽ tập trung vào nghiên cứu sự biến đổi trong các yếu
tố cấu trúc của văn hóa tộc người trên cơ sở đặt các yếu tố văn hóa trong mối quan hệ với văn hóa vùng và triển khai bằng các phương pháp mang tính liên ngành của văn hóa học
1.2 Các nhân tố tạo nên sự biến đổi văn hoá ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc
1.2.1 Sơ lược về kinh tế-xã hội vùng Tây Bắc trước khi xây dựng thủy điện Sơn La
Về tiềm năng, thế mạnh của Tây Bắc
Tây Bắc hiện còn khoảng 2 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm 61,1% đất
tự nhiên toàn vùng Có thể nói đây là một trong số ít vùng của cả nước còn giàu tiềm năng đất đai, nếu bố trí cơ cấu sản xuất hợp lý theo hướng kinh tế
12 Ngô Đức Thịnh, Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Trẻ, 2004, tr.64 ể
Trang 30sinh thái để phát triển hàng hóa nông, lâm sản thì sẽ tạo được sức bật Nguồn lao động tại chỗ của Tây Bắc là khá dồi dào, tỷ lệ sức trẻ cao Sản xuất nông nghiệp đang trên đà phát triển từ phá thế độc canh, tự cấp, tực túc sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường
Vấn đề cân đối lương thực trên địa bàn đã đạt được mức bình quân gần 300kg/người/năm, trong đó chủ yếu là gạo Đã hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung: Lương thực ở Lòng Chảo Điện Biên Phủ và cánh đồng Bình Lư (Lai Châu); các vùng chè Lương Sơn (Hòa Bình), Mộc Châu (Sơn La), Tam Đường (Lai Châu) có quy mô hàng nghìn ha gắn với các nhà máy chế biến để xuất khẩu; vùng cà phê ở Sơn La, Lai Châu; vùng dâu tằm Sơn La, vùng đậu tương Phú Nhung; Lai Châu; vùng mía đường, vùng ngô ở Sơn La… Đã xuất hiện nhiều mô hình trang trại làm ăn có hiệu quả Tính đến năm 2000, toàn vùng có gần 9 nghìn trang trại (riêng Sơn La có
4800 trang trại)
Những khó khăn, hạn chế của vùng Tây Bắc
Địa hình nhiều núi cao, chia cắt mạnh, gây nhiều khó khăn trong bố trí
sản xuất phát triển cơ sở hạ tầng Sản xuất ở nhiều nơi còn manh mún Khí hậu tuy mát mẻ, nhưng ẩn chứa nhiều yếu tố bất lợi như: gió nóng, mưa đá, lũ quét vào mùa hè, xuất hiện sương muối, băng giá vào mùa đông
Là vùng có nguồn nội lực thấp, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách chiếm
70 - 80% tổng vốn đầu tư toàn vùng Các dự án đầu tư vào vùng còn ít, khả năng tái tạo đầu tư cũng rất hạn chế Nhân dân trong vùng nhìn chung còn nghèo nên vốn tự có trong dân rất ít, chủ yếu là đóng góp bằng lao động công ích Cở sở hạ tầng của Tây Bắc, nhất là giao thông, còn khá lạc hậu Hệ thống cấp điện, cấp nước, giáo dục - đào tạo, y tế, phát thanh truyền hình nhìn chung còn kém Phần lớn các công trình thuỷ lợi chưa được kiên cố hoá, mới huy động được từ 50-60% công suất Là vùng có nhiều dân tộc sinh sống với nhiều phong tục tập quán khác nhau, nhiều hủ tục lạc hậu chậm được khắc
Trang 31phục Nguồn lao động tại chỗ tuy dồi dào nhưng phần lớn là đồng bào có trình
độ văn hoá thấp nên việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh
sẽ bị hạn chế Tài nguyên thiên nhiên Tây Bắc có nhiều vấn đề đang lo ngại do
bị khai thác quá mức Độ che phủ trong toàn vùng rất thấp đã ảnh hưởng rõ rệt, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho đời sống nhân dân và hoạt động sản xuất An ninh quốc phòng, vùng biên giới với nhiều vấn đề nổi cộm
Có thể nói, hiện Tây Bắc là vùng nghèo nhất so với các vùng trong cả nước (số hộ đói nghèo ở Lai Châu là 38,5%, Sơn La là 37,5%) Nền kinh tế của Tây Bắc hiện đang ở điểm xuất phát thấp, phổ biến sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ
Đặc điểm về đời sống văn hoá
Đời sống tinh thần thể hiện tính thẩm mỹ của các dân tộc Tây Bắc có nhiều nét độc đáo tạo dấu ấn đặc trưng của văn hoá vùng Tây Bắc Do những điều kiện về mặt lịch sử - xã hội, từ lâu người Thái đã trở thành cư dân có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như có ảnh hưởng lớn đến đời sống của các tộc người ở Tây Bắc Nhiều yếu tố văn hoá Thái đã được các dân tộc anh em tiếp thu và bổ sung vào kho tàng văn hoá của mình Chính nguyên nhân này đã dẫn đến những điểm chung cho vùng văn hoá Tây Bắc
mà ở đó “các biểu tượng văn hoá Thái thể hiện tính vượt trội”
Ở Tây Bắc, trong các dân tộc thiểu số, chỉ có người Thái là dân tộc có chữ viết, chính vì thế mà các tác phẩm được mang tính sử thi, văn học lớn của người Thái còn lưu truyền tới ngày nay Những tác phẩm đó có giá trị lớn trong nghiên cứu người Thái và các dân tộc khác ở Tây Bắc có thể kể đến như
Quán Tố Mường - chuyện bản mường, Táy pú xớc - chuyện chinh chiến của người Thái, Xống chụ xon xao - tiễn dặn người yêu Chính vì có chữ để ghi
lại, có sách để lưu giữ mà văn học Thái, dân ca Thái đã chiếm lĩnh đời sống văn nghệ và trở thành kho tàng chung của nhiều dân tộc Ngày nay, nhiều dân tộc trong các sinh hoạt cộng đồng đều hát dân ca Thái bằng tiếng Thái Các
Trang 32dân tộc Kháng, La Ha, Xinh Mun… dường như đã hoàn toàn quên mất dân ca của dân tộc mình, thay vào đó là dân ca Thái
Đối với nghệ thuật biểu diễn, xoè là một vũ điệu dân gian phổ biến ở Tây Bắc, được biết đến dưới cái tên xoè Thái gắn liền với tục ăn tết, các nghi
lễ có tính chất tập quán Các điệu xoè đều có nguồn gốc từ các điệu múa dân gian trong các nghi lễ Chẳng hạn, múa khăn được khai thác và phát triển từ lễ thức của “Kin Pang then”, một nghi lễ mà người ngoài người Thái, nhiều dân tộc khác cũng có, nhưng có tên gọi khác (người Xinh Mun gọi là Mạ Ma); múa nón, múa quạt, múa xạp…cũng có nguồn gốc tương tự như vậy Ngày nay, không những người Thái xoè, mà các dân tộc khác cũng xoè vào những dịp lễ hội, đón khách quý…
Các dân tộc thiểu số Tây Bắc có nhiều tập tục sinh hoạt văn hoá tinh thần truyền thống khác nhau nhưng chủ yếu các hoạt động tín ngưỡng vẫn là thờ cúng tổ tiên, thờ thần núi, thần sông,…cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa
màng tươi tốt… mang đậm nét cư dân nông nghiệp Tín ngưỡng vạn vật hữu
linh đa thần, tin rằng vạn vận đều có linh hồn Do quan niệm mọi vật đều có linh hồn, nên theo họ mọi thứ đều có ma (phi) như: ma rừng, ma núi, ma sông, ma đá, ma cây…có ma tốt, ma xấu được tạo nên từ mối quan hệ giữa người với các đấng thần linh thông qua cúng lễ, cầu xin Bằng cách tổ chức các nghi thức cúng tế các đáng siêu nhiên nhằm tạo nên sự cân bằng trong tâm thức, tạo sự hài hoà giữa con người và tự nhiên Những người có thể đứng ra làm trung gian, có thể giao tiếp được với các đấng siêu nhiên là ông
mo, bà một - lực lượng duy trì và tiến hang các lễ thức cầu cúng Theo tín ngưỡng truyền thống, người Thái tin rằng trên trời có Then Luông cai quản trời đất, vạn vật Ở trần gian có ma (phi) cai quản Muốn canh tác phải xin phép ma như ma nhà, ma họ, ma nương, ma suối, ma rừng Người Thái có nơi thờ tộc, thờ họ hoặc thờ khu rừng cấm, gốc cây, hòn đá Việc thờ cúng thể
hiện trong các nghi thức trong lễ hội hàng năm để xin lộc cho con cháu và bảo
Trang 33vệ mùa màng Các tập tục, nghi thức, nghi lễ trong đời sống hàng ngày của các dân tộc Tây Bắc chịu ảnh hưởng nhiều từ người Thái Nghiên cứu về đám cưới, đám ma, việc dựng nhà mới, lễ xên bản, lễ mừng cơm mới… ở các dân tộc Tây Bắc, chúng ta đều thấy có những điểm chung Các dân tộc như La Ha, Kháng, Xinhmun tổ chức đám ma, đám cưới giống người Thái, từ nghi thức đến nội dung các bài mo, bài hát Các điểm chung ấy chính là những yếu tố Thái được các dân tộc này tiếp thu Lễ hội mùa màng liên quan đến quá trình sinh trưởng của cây trồng, từ chọn đất, gieo hạt, đơm bông… đều có các lễ hội tương ứng Lễ hội cầu mưa (hay còn gọi là lễ hội Xến Xó Phốn) vùng Tây Bắc thường được tổ chức vào đầu mùa mưa (khoảng cuối tháng 10, đầu tháng
11 âm lịch hàng năm) được biểu hiện qua tiếng sấm, tức là lời phán quyết của vua trời, qua hình tượng thuỷ thần, thuồng luồng Lễ hội cầu an bản Mường liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần, tâm linh của cả bản mường, đến mùa màng, sức khoẻ và sự làm ăn của cộng đồng năm ấy, được tổ chức rất trọng thể, vui vẻ, thu hút sự tham gia của đông đảo bà con dân tộc ở bản, mường Đây là dịp để mọi người tụ họp, gặp gỡ tổ tiên, thần linh, gặp gỡ nhau trong cả sinh hoạt đời thường lẫn hành động tâm linh; vừa bộc lộ niềm thành kính, ngưỡng vọng thánh thần, vừa thể hiện sức mạnh của con người; vừa cầu phúc cho một cuộc đời hạnh phúc, an bình, vừa bộc lộ khả năng vui chơi, thi tài Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự tăng cường giao lưu hội nhập giữa các vùng miền, văn hoá tinh thần của các dân tộc thiểu
số Tây Bắc đã có những biến đổi mạnh mẽ trong giai đoạn vừa qua, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Điều đó có nghĩa là không phải đến khi di dân, tái định cư, văn hoá tinh thần ở khu vực này mới có sự biến đổi
1.2.2 Các nhân tố cơ bản tạo nên sự biến đổi văn hoá ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc
Sự biến đổi văn hoá ở nước ta ở nước ta hiện nay đang chịu sự chi phối tác động của hàng loạt nhân tố mà nổi bật là những biến đổi mạnh mẽ trong
Trang 34quá trình cấu trúc lại nền sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hoá Văn hoá vùng Tây Bắc nói chung, vùng tái định cư khu vực Tây Bắc nói riêng cũng ở trong bối cảnh chung đó
Dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và sự tăng cường giao lưu hội nhập giữa các vùng miền, nền văn hoá của các dân tộc thiểu số đã có những biến đổi rõ rệt Một mặt là sự tiếp thu những nét đặc sắc, độc đáo của các nền văn hoá khác làm phong phú thêm bản sắc văn hoá dân tộc mình, mặt khác, đã có những biểu hiện của sự mất dần bản sắc truyền thống Xuất phát
từ nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi không đi sâu vào phân tích sự tác động của các nhân tố này đối với sự biến đổi văn hoá vùng tái định cư mà chỉ trình bày những nhân tố trực tiếp gây nên sự biến đổi văn hoá ở khu vự tái định cư phục
vụ xây dựng thuỷ điện Sơn La của đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên
(1) Những biến đổi về kinh tế - xã hội
Thứ nhất: Sự thay đổi về định hướng đầu tư, chính sách phát triển kinh
tế-xã hội vùng Tây Băc nói chung và vùng tái định cư thuỷ điện Sơn La nói riêng
Trước hết, phải khẳng định rằng những biến đổi ở vùng tái định cư các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc về kinh tế - xã hội có nguyên nhân trực tiếp từ
sự biến đổi về định hướng đầu tư các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đối với khu vực này
Các chính sách vĩ mô tác động gián tiếp đến cộng đồng người tái định
cư thông qua các chương trình kinh tế - xã hội, các chính sách quy hoạch phát triển, những sự sắp xếp, điều chỉnh, quản lý xã hội cùng với những chính sách
hỗ trợ trực tiếp đã giúp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp làm nên sự biến đổi văn hóa tại đây
Đặc thù của các dự án thuỷ điện là được triển khai xây dựng chủ yếu tại các tỉnh miền núi, nơi đồng bào dân tộc sinh sống theo cộng đồng và có
Trang 35phong tục, tập quán canh tác và truyền thống văn hoá đa dạng, đại đa số là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo (theo khảo sát, dân cư vùng lòng hồ có hơn 90% là đồng bào dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm đến 83%, La Ha 4%, Khơ Mú 2-3%) Việc di dời, tái định cư trong các công trình thuỷ điện miền núi khác biệt với các dự án giải phóng mặt bằng ở miền xuôi, đồng thời tạo nên nhiều biến động đến đời sống của người dân vùng chịu ảnh hưởng Vì vậy, tái định cư luôn là vấn đề quan trọng và phức tạp, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống dân sinh, nhất là đối với thuỷ điện Sơn La, một dự án thuỷ điện lớn Theo phương án quy hoạch di dân tái định cư tại Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ
về thiệt hại và số dân phải di chuyển đến năm 2010 là13:
Tổng diện tích đất bị ngập là 23.333 ha, trong đó: đất nông nghiệp 7.670 ha; đất lâm nghiệp có rừng 3.170 ha; đất chuyên dụng 879 ha; đất ở 527 ha; đất chưa sử dụng 11.087 ha
Tổng hợp giá trị thiệt hại về tài sản của hộ tái định cư, công trình kiến trúc
và kết cấu hạ tầng khoảng 1.788 tỷ đồng, trong đó giá trị thiệt hại của các tổ chức là 737 tỷ đồng, giá trị thiệt hại của hộ gia đình và cá nhân là 1051 tỷ đồng
Số dân phải di chuyển dự tính đến 2010 (đã tính dự phòng 10%) là 18.897 hộ, 91.0000 khẩu (Tỉnh Sơn La 12.479 hộ, 62.394 khẩu; tỉnh Điện Biên 3.840 hộ, 14.959 khẩu; tỉnh Lai Châu 2578 hộ, 13.747 khẩu) thuộc 8 huyện, thị xã bị ảnh hưởng (tỉnh Sơn La 3 huyện, tỉnh Điện Biên 3 huyện và tỉnh Lai Châu 2 huyện)
Qua đó, có thể nói rằng, tái định cư không chỉ liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề sinh hoạt, lao động việc làm, thu nhập, lối sống… của cộng đồng dân cư Điều này đòi hỏi cần có những chính sách đặc biệt trong công tác di dân, tái định cư
13 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hệ thống các văn bản về công tácdi dân, tái định cư dự án thủy
điện Sơn La, Nxb Nông nghiệp, H.2005, tập 1, tr.56
Trang 36nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến tài nguyên, con người, môi trường văn hoá, xã hội
Trong thời gian qua, công tác tái định cư là mối quan tâm lớn của Đảng
và chính quyền các cấp Chính phủ đã xây dựng và thực thi chính sách tái định cư đặc biệt với cơ chế riêng dành cho công trình trọng điểm cấp quốc gia Thuỷ điện Sơn La Chính phủ cũng đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp Nhà nước, trong đó có tiểu ban di dân tái định cư do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm Tại mỗi tỉnh có liên quan đều thành lập các Ban chỉ đạo công tác di dân tái định cư do Bí thư Tỉnh uỷ hoặc Chủ tịch Uỷ Ban nhân dân tỉnh làm chủ dự án và là Trưởng ban chỉ đạo Kế hoạch di dân tái định cư được thực hiện theo từng giai đoạn, từ xây dựng quy hoạch tổng thể đến phương án đền bù bao gồm: mức độ thiệt hại, số hộ bị ảnh hưởng, số điểm tái định cư dự kiến và nguồn vốn đền bù hỗ trợ Bên cạnh hệ thống pháp lý hiện hành cho việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (bao gồm: các Nghị định của Chính phủ số 22/1998/NĐ-CP; số 84/2007/NĐ-CP; số 197/2004/NĐ-CP), Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh liên quan còn có hàng loạt các văn bản chỉ đạo thực hiện
tổ chức công tác này Chính phủ cũng thường xuyên điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của Dự án và địa phương, chỉ đạo, hướng dẫn và tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện Dự án Các chính sách di dân tái định cư bao gồm: chính sách bồi thường, chính sách hỗ trợ tái định cư và chính sách xây dựng khu tái định cư theo nguyên tắc di dân tái định cư Dự án thủy điện Sơn La phải tạo được các điều kiện để đồng bào tái định cư sớm ổn định chỗ ở và đời sống, trên cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 37Các chính sách tái định cư được thực hiện như là các dự án phát triển kinh tế - xã hội của vùng, là cơ hội cho các cộng đồng thông qua việc bố trí di chuyển đến nơi tốt hơn và được hưởng lợi từ dự án Theo đó, các điều kiện xã hội vùng sẽ được cải thiện, đáp ứng được cơ bản các nhu cầu thiết yếu về ăn,
ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, vui chơi, giải trí của nhân dân vùng tái định cư Các chính sách của Nhà nước được thực hiện sẽ góp phần quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực qua đó tác động đến đời sống văn hóa tại khu vực này.Cụ thể là:
Hình thành các điểm dân cư mới, theo quy hoạch của Dự án tái định cư thủy điện Sơn La, các hộ di dân được bố trí cư trú tại 21 vùng thuộc 21 huyện, thị xã Tổng số khu, điểm tái định cư tập trung của dự án là 81 khu, 272 điểm, tái định cư xen ghép vào 39 bản thuộc 18 xã và tái định cư tự nguyện; đảm bảo bố trí 20.260 hộ dân phải di chuyển, bao gồm: dự án thuỷ điện Sơn La 20.070 hộ; 190 hộ thuộc dự án tránh ngập Quốc lộ 12 của tỉnh Điện Biên; ngoài ra còn bố trí 242 hộ dân thuộc dự án tránh ngập đường Mường Lay - Nậm Nhùn Phương án bố trí cụ thể gồm: tái định cư tập trung nông thôn 70 khu, 249 điểm cho 13.597 hộ; tái định cư tập trung đô thị 11 khu, 23 điểm cho 5.445 hộ; tái định cư xen ghép, tự nguyện là 1.460 hộ14
Trong các điểm dân cư mới này, có nhiều khu đô thị mới, các trung tâm
đô thị thứ cấp (thị trấn, thị tứ, trung tâm cụm xã) được thành lập Hệ thống đô thị bao gồm: Than Uyên - Tam Đường - Lai Châu - Phong Thổ - Ma Lù Thàng; hệ thống đô thị Nậm Hằng - Mường Tè - Pắc Ma; khu đô thị có Chiềng Ngần - Chiềng An, Chiềng Sinh, Chiềng Cơi - Hua La; thị trấn Mường La (nơi có công trình thủy điện Sơn La), thị trấn mới của Qùynh Nhai tại Phiêng Lanh (Mường Giàng) Hàng loạt các trung tâm xã được quy hoạch thành thị trấn gồm trung tâm cụm xã Chiềng Khương, Mường Lầm (Sông
14 Số: 801/QĐ-TTg, Phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La, Hà Nội, ngày
04 tháng 6 năm 2010
Trang 38Mã), Phỏng Lái, Cò Mạ, Tông Lệnh (Thuận Châu), Chiềng Ve, Tô Múa (Mộc Châu); Gia Phù, Mường Coi (Phù Yên); Phiêng Khoài (Yên Châu); Cò Nòi, Chiềng Ban (Mai Sơn)
Từ việc sinh sống ở những vùng nông thôn, miền núi còn có nhiều khó khăn, kinh tế chủ yếu dựa vào tự nhiên thì việc tổ chức thành những khu đô thị sẽ có tác động lớn đến mọi hoạt động trong đời sống của người dân tái định cư, đặc biệt là tập quán sản xuất cũng như lối sống Đồng thời, việc quy hoạch bố trí di dân tái định cư gắn với điều chỉnh lại dân cư, bố trí lại sản xuất, lao động, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo nên sự chuyển đổi căn bản phương thức sản xuất kinh doanh từ mang tính tự nhiên sang phương thức sản xuất hàng hóa theo
cơ chế thị trường, sự tiếp nhận kỹ thuật sản xuất mới để hình thành tập quán canh tác mới
Phát triển và tổ chức hệ thống cơ sở hạ tầng của cả vùng nói chung và tại các điểm tái định cư nói riêng về giao thông, thủy lợi, cấp nước…phù hợp với điều kiện của Tây Bắc để phát triển sản xuất Trong đó, hệ thống giao thông đảm bảo được tính liên hoàn, liên kết giữa các phương thức vận tải Hệ thống giao thông đường bộ là xương sống, gắn với hệ thống đường thủy và sân bay, nối liền với các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, các khu công nghiệp, các cửa khẩu biên giới và nối thông ra các cảng biển phía Bắc Quốc
lộ 6, quốc lộ 12 nối liền các tỉnh Tây Bắc với Hà Nội; quốc lộ 32, 70 bổ trợ cho quốc lộ 6 và 12 nối liền Tây Bắc với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ bằng hệ thống các trục đường ngang được đầu tư, nâng cấp
Tại các điểm tại định cư, Chính phủ đã quy định, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư xây dựng trước khi đón dân tái định cư theo quy hoạch bao gồm:
(1) Đường giao thông nông thôn loại A, mặt trải nhựa gồm đường đến điểm tái định cư và đường trong điểm tái định cư
Trang 39(2) Đường điện sinh hoạt, công tơ đến từng hộ dân tái định cư
(3) Hệ thống cấp nước sinh hoạt tự chảy
(4) Công trình thủy lợi
(5) Nhà văn hóa thôn, thuộc loại nhà kiên cố
(6) Nhà trẻ mẫu giáo, lớp tiểu học
(7) Khu nghĩa địa xây mới
Chính sách đầu tư của Nhà nước đang tạo nên diện mạo mới cho khu vực Tây Bắc, các chương trình này đã làm cơ sở hạ tầng thay đổi rất nhiều ở nông thôn miền núi nói chung, vùng tái định cư nói riêng Sự thay đổi hạ tầng
cơ sở như đường giao thông tốt hơn tạo thuận lợi cho các địa phương tăng cường giao lưu, liên kết trong nội vùng cũng như với các trung tâm kinh tế khác Tương tự như vậy, nhân dân các vùng tái định cư có nhiều thuận lợi trong hoạt động giao lưu, buôn bán trên cùng địa bàn cũng như với những người ở các địa phương khác Người dân tái định cư cũng được hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng mà nơi cũ không có Những điều kiện này tác động mạnh mẽ đến việc tiêu dùng các sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần, hoạt động cộng đồng… Chẳng hạn, việc người dân được dùng điện cũng đã tác động quan trọng về sự thay đổi đối với nhận thức, khả năng tiếp nhận cách thức lao động mới, sử dụng công cụ sản xuất phù hợp hơn và sử dụng các tiện nghi sinh hoạt hiện đại hơn
Bên cạnh những thuận lợi mà công trình thủy điện Sơn La đem lại cho Tây Bắc, cho sự phát triển của đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số khu vực này, còn nhiều thách thức đặt ra đối với cộng đồng các dân tộc Tây Bắc nói chung, với cư dân tại vùng tái định cư nói riêng trong việc ổn định cuộc sống
và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa giàu bản sắc Báo cáo tổng kết khoa học của Đề tài cấp Nhà nước
Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ tổ chức lãnh thổ và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc dưới tác động của thủy điện Sơn La
do Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) thực hiện đã chỉ ra
Trang 40những tác động liên quan đến điều kiện tự nhiên (tổn thất về tài nguyên và môi trường; tài nguyên đất; sinh vật; khoáng sản) đến điều kiện văn hóa, kinh
tế, đến không gian Tây Bắc… là hết sức lớn
Đối với sự biến đổi văn hóa, rõ ràng là, để xây dựng công trình thủy điện Sơn La cũng như nhiều công trình lớn đang thực hiện ở Tây Bắc, Nhà nước phải di chuyển cả một cộng đồng dân cư từ nơi ở cũ gắn bó rất nhiều thế
hệ đến một nơi ở mới Mức độ di dời càng lớn thì cuộc sống của các cộng đồng bị ảnh hưởng ít có khả năng được phục hồi Chính sách di dân tái định
cư chắc chắn sẽ tạo nên sự xáo trộn đến toàn bộ đời sống, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng dân cư nơi đi và nơi đến Với việc hình thành thủy điện Sơn La sẽ tạo ra sức ép dân số, tăng sức ép nhu cầu quỹ đất, nước và nhu cầu sống khác; sự thay đổi phương thức sản xuất và sự tiếp nhận
kỹ thuật sản xuất mới
Thứ hai : Sự biến đổi về môi trường sinh thái tộc người
Một đặc trưng quan trọng của sự phân bố tộc người ở nước ta là sự kết hợp chặt chẽ giữa tộc người và vùng cảnh quan với những đặc trưng riêng về địa hình, khí hậu, thế giới động, thực vật, tạo nên môi trường sinh thái tộc người Quá trình sinh sống gắn với các điều kiện lợi thế sinh thái đã quy định lối sống của từng cộng đồng xã hội, quy định sự hình thành và phát triển của mỗi nền văn hoá Sinh thái tộc người không chỉ tác động đến cuộc sống vật chất mà còn tác động đến đời sống tinh thần của con người Ngược lại các nền văn hóa, cách ứng xử của con người với thiên nhiên cũng ảnh hưởng hết sức lớn tới sự bền vững của môi trường sinh thái
Khi môi trường sinh thái tộc người thay đổi, sẽ có tác động lớn đến đời sống văn hóa và sẽ tạo nên những biến đổi nhất định với các cộng đồng nằm trong vùng sinh thái đó Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng cần được nhận thức một cách sâu sắc, cần được xem là vấn đề căn cốt của các vấn đề trên bình diện văn hóa, nhất là trong xem xét về văn hóa các tộc người thiểu số