1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn Lý thuyết tài chính tiền tệ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi

27 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 346 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận môn Lý thuyết tài chính tiền tệ Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế dài hạn ở Việt Nam. Quá trình hội nhập quốc tế và tự do hóa tài chính mạnh mẽ trong khi những nền tảng kinh tế vĩ mô còn lỏng lẻo khiến nhiều người hoài nghi về khả năng ổn định và kiểm soát lạm phát trong những năm tới. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận lại cơ chế điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta hiện nay.

Trang 1

BỢ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

KHOA KIỂM TOÁN



Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ

Đề tài: Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và

ngưỡng bội chi

Giáo Viên Hướng Dẫn : Trương Minh Tuấn

Sinh Viên Thực Hiện : Nhĩm 8

Tp HCM Ngày 30, tháng 10 năm 2012

Trang 3

M c L c ục Lục ục Lục

Các Thuật Ngữ Viết Tắt 4

Lời Mở Đầu 5

I Lạm phát mục tiêu 6

1 Khái niệm 6

2 Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu 6

3 Các bước thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu 8

4 Cơ sở đưa ra chỉ tiêu lạm phát 8

5 Khả năng áp dụng Chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam 11

II Bội chi ngân sách nhà nước 15

1 Khái niệm bội chi NSNN 15

2 Nguyên nhân bội chi NSNN 16

3 Các giải pháp xử lý bội chi NSNN 17

4 Thực trạng bội chi ngân sách ở Việt Nam 19

III Mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi 21

IV Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm chế lạm phát 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 27

Trang 5

Lời Mở Đầu

Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa đối với sự ổn định kinh tế vĩ

mô và tăng trưởng kinh tế dài hạn ở Việt Nam Quá trình hội nhập quốc tế và tự dohóa tài chính mạnh mẽ trong khi những nền tảng kinh tế vĩ mô còn lỏng lẻo khiếnnhiều người hoài nghi về khả năng ổn định và kiểm soát lạm phát trong những nămtới Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận lại cơ chế điều hành chínhsách tiền tệ ở nước ta hiện nay Một câu hỏi đã và đang thu hút sự quan tâm củanhiều đại biểu Quốc hội và các chuyên gia kinh tế là phải chăng cơ chế điều hànhchính sách tiền tệ hiện nay không thực sự mang lại hiệu quả trong bối cảnh kinh tếtrong nước diễn biến phức tạp và ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tếthế giới đầy biến động.Với chính sách tiền tệ đa mục tiêu, chúng ta kỳ vọng vừađẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, vừa kiểm soát giá cả - lạm phát, ổn định tiền tệ cũngnhư sử dụng chính sách tiền tệ như một công cụ bổ trợ ổn định ngân sách, xóa đóigiảm nghèo, bảo đảm an ninh quốc gia

Trong những năm gần đây cơ chế này đã bộc lộ rõ những hạn chế của mình Kinhnghiệm nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy lạm phát mục tiêu có thể là một lựachọn hợp lý cho chính sách tiền tệ ở nước ta trong thời gian tới, theo đó duy trìmức lạm phát hợp lý và ổn định trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ

để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 6

I Lạm phát mục tiêu

1 Khái niệm

Lạm phát mục tiêu là một trong những khuôn khổ chính sách tiền tệ mà theo đó,NHTW hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát vàNHTW cam kết đạt được những mục tiêu này

2 Điều kiện để thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu

Các điều kiện cơ bản để một quốc gia có thể theo đuổi được khuôn khổ lạm phátmục tiêu có thể được chia thành 4 nhóm chính:

1 Nhóm điều kiện đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất đó là NHTW đượctrao quyền cao và sự tín nhiệm để theo đuổi lạm phát mục tiêu:

- Ngân hàng Trung ương phải có quyền đặc biệt để theo đuổi mục tiêu lạmphát và tự mình đặt ra các công cụ của chính sách tiền tệ

- Công chúng phải được thông báo về khuôn khổ chính sách tiền tệ và việcthực hiện chính sách tiền tệ

2 Nhóm điều kiện thứ hai liên quan đến vấn đề đảm bảo mục tiêu lạm phát

là mục tiêu chính, không phải là mục tiêu hỗ trợ cho mục tiêu khác Nhóm này baogồm các điều kiện:

- Chính sách tiền tệ không bị chi phối bởi các ưu tiên về ngân sách Chínhphủ; Chính phủ tăng ngân sách bằng việc huy động các nguồn vốn trên thịtrường tài chính và hạn chế tuyệt đối việc cấp tín dụng cho Chính phủ

- Vị thế bên ngoài đủ mạnh để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi mụctiêu lạm phát là mục tiêu hàng đầu

Trang 7

- Khi bắt đầu thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu thì lạm phát cần ở mứcthấp để đảm bảo cho sự điều chỉnh kiểm soát tiền tệ thích hợp.

3 Nhóm điều kiện thứ 3 liên quan đến vấn đề phát triển và ổn định thịtrường tài chính để thực hiện khuôn khổ này Nhóm này bao gồm các điều kiện:

- Cần phải có thị trường tài chính ổn định để đảm bảo cho chính sách tiền tệ theo đuổi các mục tiêu lạm phát và không bị tác động bởi các lo lắng về sức khoẻ của thị trường tài chính

- Thị trường tài chính cần phát triển ở mức nhất định để đảm bảo chính sách tiền tệ được thực hiện bằng các công cụ thị trường tài chính và đảm bảo việcthực hiện chính sách tiền tệ không gặp rắc rối do sự yếu kém của thị trường tài chính

4 Nhóm điều kiện thứ 4 liên quan đến các công cụ của chính sách tiền tệ:

- NHTW phải ở vị thế tác động đến lạm phát thông qua các công cụ chínhsách và cần thiết phải hiểu các mối quan liên kết giữa vị thế chính sách vàlạm phát

- Các mục tiêu về tỷ giá phải hỗ trợ cho mục tiêu lạm phát Do đó, NHTWnên cố gắng làm sáng tỏ vấn đề can thiệp vào thị trường ngoại hối và cácthay đổi về chính sách lãi suất để tác động đến tỷ giá chỉ nhằm mục đích làmgiảm nhẹ ảnh hưởng của các cú sốc tạm thời

- Chính sách tài khoá và các hoạt động quản lý nợ công cộng nên hỗ trợ chomục tiêu lạm phát

Các nhóm điều kiện trên không có nghĩa tạo thành các điều kiện tiên quyết để thựchiện lạm phát mục tiêu Điều đó có nghĩa là không nhất thiết phải có tất cả các điềukiện này thì một quốc gia mới có thể thực hiện khuôn khổ lạm phát mục tiêu Thực

tế đã cho thấy mặc dù gặp khó khăn trong việc thoả mãn một số điều kiện, khuôn

Trang 8

khổ lạm phát mục tiêu vẫn hoạt động tốt Quyết định có theo đuổi khuôn khổ lạmphát mục tiêu cần phải dựa trên sự cân nhắc thận trọng các chi phí và lợi ích củakhuôn khổ lạm phát mục tiêu so với các khuôn khổ khác.

3 Các bước thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu

- Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở pháp lý về hoạt động tiền tệ ngân hàng theohướng hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế

- Thứ hai, cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của NHTW trở thànhNHTW hiện đại

- Thứ ba, chuẩn bị điều kiện về hạ tầng kỹ thuật để chuyển sang điều hànhchính sách tiền tệ theo lạm phát mục tiêu sau năm 2010

- Thứ tư, tái cơ cấu hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng theo chuẩn mựccủa Basel I tiến tới Basel II, đặc biệt chú trọng chuẩn mực về an toàn vàquản trị rủi ro

- Thứ năm, tái cơ cấu toàn diện và triệt để các ngân hàng thương mại và tổchức tín dụng nhân dân, bao gồm việc cổ phần hoá, tái cơ cấu sở hữu và xâydựng thể chế

4 Cơ sở đưa ra chỉ tiêu lạm phát

Quyết định của QH về chỉ tiêu lạm phát hàng năm liên quan trực tiếp đến việc QH

có giám sát hiệu quả việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia hay không Có thểnói ngay rằng, QH không có đủ thông tin và cơ sở để tự tính ra chỉ số lạm phát củanăm kế hoạch Vì đó không phải là chức năng của QH và QH cũng không đủ điềukiện để tính toán, xác định một cách cụ thể chỉ số lạm phát của năm kế hoạch Tuynhiên, nói như vậy không có nghĩa là QH sẽ bị động trước các chỉ tiêu mà Chínhphủ trình QH vẫn có thể và có khả năng phân tích để chuyển từ thế bị động sangchủ động quyết định một cách chính xác các chỉ tiêu mà Chính phủ trình

Các Ủy ban của QH và các ĐBQH cần phân tích những nguyên nhân gây ra lạmphát của năm báo cáo, dự báo các tình huống có thể xảy ra trong năm kế hoạch để

Trang 9

có thể thảo luận về chỉ tiêu lạm phát được Chính phủ trình QH Nhiệm vụ của cácĐBQH và các cơ quan của QH là phải phân tích một cách chính xác các nguyênnhân của lạm phát trong năm trước và dự kiến các khả năng có thể xảy ra trongnăm sau để có thái độ nhìn nhận khách quan về mục tiêu lạm phát của năm kếhoạch Ví dụ, mục tiêu chỉ số lạm phát năm 2011 được Chính phủ trình và được

QH thông qua là 7%, nhưng trên thực tế, trong năm 2011, Chính phủ đã phải điềuchỉnh mục tiêu lạm phát đến 3 lần: tháng 5.2011 điều chỉnh mục tiêu lạm phát lên15%; tháng 7.2011 điều chỉnh lên 17%, tháng 8.2011 mục tiêu lạm phát được điềuchỉnh lên 18% và thực tế là đến tháng 12.2011, chỉ tiêu lạm phát ở mức 18,13%.Qua ví dụ điển hình cho việc xác định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền và kiểmsoát lạm phát này, có thể thấy, hình như QH chưa phân tích cụ thể những nguyênnhân tại sao lạm phát năm 2010 lại cao hơn năm 2009 (lạm phát năm 2010 là11,75% và lạm phát năm 2009 là 6,8%) và phân tích trong năm 2011 sẽ có nhữngyếu tố gì sẽ tác động đến lạm phát?

Phân tích nguyên nhân lạm phát năm 2010 sẽ thấy: thứ nhất, giá các mặt hàng

xăng dầu, điện, than trong năm 2011 có xu thế ổn định không hay là vẫn có yêucầu tăng? Thực tế ngay từ tháng 3.2011 giá các mặt hàng được điều chỉnh tăng liên

tục và dồn dập Báo chí gọi đó là cú sốc liên tiếp khơi mào cho lạm phát khi mà

ngay từ đầu năm tỷ giá đã tăng 9,3% vào tháng 2, xăng tăng 17% từ tháng 2 và

điện tăng 15,2% từ ngày 1.3 Thứ hai là yếu tố tỷ giá có ổn định hay không? Nhìn

nhận xu thế thị trường của năm 2010 để suy đoán cho năm 2011 sẽ thấy, cuối năm

2010 áp lực điều chỉnh tỷ giá rất lớn, quan hệ cung cầu ngoại tệ luôn luôn căngthẳng, tỷ giá thị trường tự do luôn luôn cao hơn tỷ giá chính thức Với áp lực củathị trường như vậy thì năm 2011 tỷ giá không thể đứng yên Và thực tế, ngày11.2.2011 tỷ giá đã được điều chỉnh tới 9,3% Tỷ giá tăng làm cho giá hàng nhập

khẩu tăng, chi phí cho sản xuất tăng và tất yếu sẽ đẩy giá tăng Thứ ba là tình hình

giá cả của hàng hóa trên thị trường thế giới sẽ tăng hay giảm? Năm 2011, xu thếtăng giá của thị trường thế giới vẫn rất lớn sẽ ảnh hưởng tới giá của các nguyên vật

Trang 10

liệu đầu vào của hàng hóa nước ta Và thực tế trong năm 2011, mức tăng này trung

bình là 24%, xăng dầu tăng 41,5%, bông tăng 110%, kim loại tăng 110% Thứ tư là

tình hình lạm phát của các nước xung quanh cao hay thấp và có ảnh hưởng gì đến

Việt Nam không? Thứ năm là tình hình thực hiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam

như thế nào, chặt chẽ hay nới lỏng? Bội chi ngân sách ở mức bao nhiêu phần trăm

GDP? Tốc độ tăng trưởng tín dụng có hợp lý không? Thứ sáu là mối quan hệ giữa

chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong thực tế có sự phối hợp tốt không?Năm 2011, Nghị quyết 11 của Chính phủ yêu cầu chính sách tài khóa và chínhsách tiền tệ phải thắt chặt Nhưng khi thực hiện thì chính sách tiền tệ được thắt quáchặt với các chỉ tiêu đặt ra là tín dụng chỉ được tăng dưới 20%; tổng phương tiệnthanh toán chỉ được tăng trưởng 15 – 16% và thực tế thực hiện của năm 2011 thìtổng phương tiện thanh toán chỉ tăng khoảng 10%, tín dụng tăng 12% Trong khi

đó, Nghị quyết 11 cũng yêu cầu chính sách tài khóa phải thắt chặt: giảm đầu tưcông, tiết giảm chi thường xuyên khoảng 10%; thực tế kết quả giảm đầu tư công vàtiết kiệm chi tiêu ngân sách đạt được rất hạn chế Như vậy sự thiếu đồng bộ giữahai chính sách này cũng làm cho hiệu quả kiểm soát lạm phát bị hạn chế

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế cũng nên xác định ở mức độ tăng trưởng hợp lý:

không quá nóng và cũng không quá nguội Tốc độ này tăng bao nhiêu là hợp lý thì

phải tùy thuộc và khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước còn nhiềuhay ít? Hơn nữa nó còn phụ thuộc vào quan điểm có để dành tài nguyên này chothế hệ mai sau không? Khả năng tích luỹ, khả năng tài chính của đất nước ra sao?Nếu đầu tư cộng với chi tiêu của Chính phủ lớn hơn khả năng tích luỹ và năng lựctài chính thì sẽ phải bội chi lớn, phải vay nợ nhiều Vì vậy, cần xác định mức bộichi hợp lý Kinh nghiệm chỉ ra rằng, bội chi ngân sách nhỏ hơn hoặc bằng 3%GDP là mức hợp lý nhất, không gây áp lực cho lạm phát và bảo đảm tăng trưởng

có hiệu quả, bền vững Thực tế trong nhiều năm đầu đổi mới nước ta đã đạt đượcmức bội chi xoay quanh 3% GDP Vì vậy, nếu mục tiêu tăng trưởng không được

Trang 11

đặt ra quá cao thì sẽ giúp giảm bội chi ngân sách và không gây áp lực cho lạmphát Giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát phải tìm ra được điểm cân bằng: vừatăng trưởng vừa kiểm soát được lạm phát.

Bên cạnh chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, QH cũng cần phải phân tíchthêm về chính sách thương mại, cán cân thương mại, nhập siêu để thấy đượcnhững tác động của thương mại đến thị trường tiền tệ trong nước Nhập siêu lớn sẽảnh hưởng ngay đến cung – cầu ngoại tệ, gây áp lực tới sự phá giá đồng bản tệ dẫnđến tỷ giá không ổn định, thị trường ngoại hối rối ren và ảnh hưởng lớn đến kếtquả kiểm soát lạm phát cũng như hiệu quả của chính sách tiền tệ

Tất cả những yếu tố trên đây, chúng ta có quyền phân tích và dự báo để thấy rằng,quyết định lạm phát năm 2011 là 7% nhưng thực tế thực hiện lại cách xa so vớimục tiêu đề ra, làm giảm ý nghĩa của quyết định quan trọng này Rút kinh nghiệmcủa năm 2011, theo tôi, tại Kỳ họp thứ Tư sắp tới, khi thảo luận và quyết định mụctiêu lạm phát của năm 2013, QH cần phân tích tất cả các yếu tố nêu trên để quyếtđịnh mục tiêu lạm phát sát với thực tế hơn Vì khi biểu quyết mục tiêu lạm phát,

QH cũng sẽ phải giám sát việc thực hiện mục tiêu đó Nếu QH quyết định lạm phát7% mà Chính phủ thực hiện đến 18% thì QH cũng sẽ rất khó khăn trong giám sátviệc triển khai thực hiện mục tiêu mà QH đã quyết định

5 Khả năng áp dụng Chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu “Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sáchtiền tệ ở Việt Nam” của nhóm tác giả Tô Thị Ánh Dương, Bùi Quang Tuấn, Phạm

Sỹ An, Dương Thị Thanh Bình, Trần Thị Kim Chi (Viện Kinh tế Việt Nam) đã đưa

ra nhận định cho rằng: “Chưa thể chuyển đổi ngay sang cơ chế lạm phát mục

tiêu toàn phần, song trong điều kiện hiện nay Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng hình thức lạm phát mục tiêu ngầm định ngay từ 2012.”

Trang 12

Theo TS Tô Thị Ánh Dương, lạm phát mục tiêu có thể được mô tả như một cơ chếđiều hành chính sách tiền tệ dựa trên nền tảng sử dụng việc dự báo lạm phát làmchỉ số mục tiêu trung gian Ngân hàng Trung ương sẽ dự báo xu hướng lạm phátnăm tới để đưa chỉ số lạm phát mục tiêu (định hướng bằng một chỉ số hoặc mộtkhoảng biên độ) cho năm kế hoạch mà không có trách nhiệm thực hiện bất cứ chỉtiêu nào khác Trong giới hạn của mình, Ngân hàng Trung ương có thể linh hoạtlựa chọn và sử dụng các công cụ để đạt một mục tiêu duy nhất - đó là chỉ số lạmphát mục tiêu.

Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng, đối với Việt Nam việc hướng tới chính sách tiền

tệ lạm phát mục tiêu là phù hợp với Chiến lược phát triển hệ thống Ngân hàng ViệtNam, theo đó xây dựng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành Ngân hàngTrung ương hiện đại có nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát lạm phát để ổn định tiền tệ

và giám sát để đảm bảo hoạt động lành mạnh của hệ thống ngân hàng

Để đưa ra áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu thành công tại Việt Nam,cần đáp ứng được các điều kiện cần thiết Trong đó, hai điều kiện được coi là mụctiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả và khả năng dự báo lạm phát

kỳ vọng của NHTW “Tuy nhiên, tại Việt Nam ngay cả việc tính toán CPI cũngcòn nhiều hạn chế", nhóm nghiên cứu nhận xét

Nghiên cứu cũng dẫn kinh nghiệm từ các nước áp dụng chính sách lạm phát mụctiêu cho thấy, đa số các nước áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu hoàn toàn (full– fledged inflation targeting -FFIT) vào thời điểm kiềm chế lạm phát thành công,chỉ số lạm phát đang giảm xuống Do đó, việc thực thi chính sách đã tạo niềm tincho công chúng vào khả năng của Ngân hàng Trung ương trong việc đạt được mụctiêu lạm phát thấp và ổn định Trong khi đó, mức lạm phát tại Việt Nam từ năm

2004 tới nay biến động phức tạp, áp lực lạm phát ngày càng tăng Bởi vậy, trongthời điểm hiện tại Ngân hàng Trung ương chưa thể áp dụng được ngay chính sách

Trang 13

tiền tệ lạm phát mục tiêu hoàn toàn Mà khởi đầu, Việt Nam có thể áp dụng lạmphát mục tiêu ngầm định (ngân hàng Trung ương có thể thảo thuận với Chính phủ

về việc thực hiện lạm phát mục tiêu mà không cần công bố cho toàn thể côngchúng)

Ngoài ra, theo Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Phúc, Giám đốc dự án

“Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩmô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Pháttriển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), cho rằng “Ở nghiên cứu về lạm phátmục tiêu, việc duy trì lạm phát thấp và ổn định nên trở thành mục tiêu hàng đầucủa chính sách tiền tệ để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phải gắn liềnvới nâng cao hiệu quả các chính sách về cơ cấu kinh tế.”

Lý thuyết cho rằng tỷ lệ lạm phát lý tưởng nên bằng 0 (trong mô hình Keynesmới), hoặc là âm (theo Quy tắc của Friedman) Trong thực tế, tất cả ngân hàngtrung ương ở các quốc gia áp dụng lạm phát mục tiêu đều đưa ra những mục tiêudương Tại sao có sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn như vậy?

Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho sự khác biệt nói trên Nguyên nhân đầu tiên

là thống kê thuần túy Lạm phát đo lường có khuynh hướng được phóng đại hơn sovới lạm phát thực tế trong khoảng 0,5% điểm, do đó một con số tiệm cận với 0nhưng lớn hơn 0 được đưa ra sẽ “bù đắp” cho hiệu ứng này Nguyên nhân thứ hai

là chi phí của giảm phát Dường như chi phí của giảm phát còn cao hơn chi phí cholạm phát, do đó một mục tiêu lạm phát dương được nhiều quốc gia hướng tới nhằmtránh rủi ro giảm phát Thật vậy, giảm phát đi cùng với suy thoái kinh tế sâu sắc,thậm chí là đình đốn như những năm 30 và giảm phát hiện nay ở Nhật Bản là mộttrong những nguyên nhân làm suy yếu hệ thống tài chính và nền kinh tế Các mứclạm phát mục tiêu trên 0 sẽ làm giảm khả năng có những thời kỳ giảm phát Cuối

Ngày đăng: 05/10/2014, 13:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w