1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội

74 312 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 754,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọi công dân đềuchịu tác động từ các hoạt động của Ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, mộtngười vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sửdụng

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Do thời gian nghiên cứu lý luận và thực tập còn ngắn với trình độ hiểu biết còn hạnchế do vậy chuyên đề này còn có nhiều thiếu sót Em xin chân thành cảm ơn cô TS.Nguyễn Thị Hiên đã tận tình chỉ bảo cũng như sự giúp đỡ của các anh chị công tác ởphòng giao dịch Techcombank Đống Đa_ Hà Nội đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đềtốt nghiệp này Em xin chân thành cảm ơn

Hà nội, tháng 1 năm 2011

Sinh viên: Phạm Thị Hoài Thu

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho đến năm 2020 là phải hoàn thành nhiệm

vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp trởthành một nước công nghiệp tiên tiến

Để thục hiện được mục tiêu này vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng, là tiền

đề cho sự tăng trưởng kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quy mô và hiệu quảvốn đầu tư Vì vậy để đáp ứng nhu cầu phát triển và cạnh tranh các doanh nghiệp Việtnam cũng đòi hỏi phải được mở rộng, phát triển với quy mô ngày càng lớn, đổi mới dâytruyền công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, vươn lên cạnh tranh với hànghoá, dịch vụ của các nước khác trong khu vực và trên thế giới Bởi vậy nhu cầu vốn đầu

tư cho nền kinh tế ngày càng tăng Một địa chỉ quen thuộc và tiện ích nhất mà người cầnvốn nghĩ đến đó là các Ngân hàng thương mại

Vốn cho đầu tư phát triển có thể được tạo thành từ nhiều nguồn, tuy nhiên trong điềukiện thị trường tài chính nước ta đang trong giai đoạn bước đầu hình thành và phát triểnthì huy động vốn qua kênh ngân hàng vẫn là phổ biến và hiệu quả nhất NHTM là mộtdoanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của ngân hàngthương mại vừa với danh nghĩa là một tổ chức hạch toán kinh tế - kinh doanh, vừa với vaitrò trung gian tài chính Với vai trò trung gian tài chính, NHTM tập trung mọi nguồn vốntạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối chúng cho các nhu cầu đầu tư, sản xuấtkinh doanh và các nhu cầu khác của các doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức trong nền kinh

tế theo các nguyên tắc tín dụng

Nhu cầu vốn đầu tư ngày càng tăng của nền kinh tế cũng tương đương với việc huyđộng vốn của các NHTM phải được tăng cường, mở rộng cho phù hợp Mặt khác việctăng cường huy động và sử dụng vốn hợp lý cũng giúp cho hoạt động kinh doanh củaNgân hàng được an toàn, hiệu quả

Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhu cầu về vốn ngày càng tăng và đòihỏi phải được đáp ứng nhanh chóng kịp thời Do vậy, trong thời gian tới để phát huy hơnnữa vai trò của mình và đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế cũng như cho chính bảnthân hệ thống ngân hàng, việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽđược đặt lên hàng đầu đối với các ngân hàng thương mại và PGD Techcombank Đống

Trang 3

Đa_ Hà Nội cũng không là ngoại lệ Vấn đề tìm ra những giải pháp để hoàn thiện công táchuy động vốn là rất thiết thực và cấp bách.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường, cùngvới những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế tạiPGD Techcombank Đống Đa vừa qua, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “GIẢI PHÁP NÂNGCAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI PHÒNG GIAO DỊCHTECHCOMBANK ĐỐNG ĐA_ HÀ NỘI” làm luận văn tốt nghiệp cho mình

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về huy động vốn và hiệu quả huy động vốn của

NHTM trong nền kinh tế thị trường

- Phân tích, đánh giá thực trạng huy động vốn tại PGD Techcombank Đống Đa

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại PGD Techcombank Đống Đa

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu là công tác huy động vốn tại PGD Techcombank Đống Đa

- Phạm vi nghiên cứu là hoạt động của PGD Techcombank Đống Đa trong 3 năm

2008, 2009 và 2010

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử củaChủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các học thuyết kinh tế,phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp…

5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn được trình bày theo 3 chương với nội dung cơ bản như sau:

Chương I : Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.

Chương II : Thực trạng huy động vốn tại PGD Techcombank Đống Đa.

Chương III : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại PGD Techcombank Đống Đa.

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHTM

Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sảnxuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế Trong các nước phát triển hầu như không cómột công dân nào là không có quan hệ giao dịch với một Ngân hàng thương mại nhấtđịnh nào đó NHTM được coi như là một định chế tài chính quen thuộc trong đời sốngkinh tế Khi nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động dịch vụ của Ngân hàng càng đi sâuvào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người Mọi công dân đềuchịu tác động từ các hoạt động của Ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, mộtngười vay hay đơn giản là người đang làm việc cho một doanh nghiệp có vay vốn và sửdụng các dịnh vụ Ngân hàng

Ngân hàng thương mại là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá trongkinh tế thị trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế Bản chất,chức năng, các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng hầu như là giống nhau song quanniệm về ngân hàng lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới

1.1.1 NHTM và vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.

1.1.1.1 Khái niệm.

Để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, người tathường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính, vàđôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tuợng hoạt động Với mỗi quốc gia khácnhau, hình thành một khái niệm khác nhau về NHTM

Theo Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930: “Những nhà băng thiết yếu bao gồm những nghiệp vụ nhận tiền gửi, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng

ra bảo hiểm ”

Trang 5

Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề

thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà

họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”

Theo Luật của các TCTD tại Việt Nam:“Ngân hàng là TCTD thực hiện toàn bộ hoạt

động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”

“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là nhận tiền gửi, sửdụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán”

“NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng vàcác hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận góp phần thực hiện cácmục tiêu kinh tế của Nhà nước”

Như vậy, mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa NHTM, nó tuỳthuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ nhưng khi đi sâu phântích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, người ta dễ dàng nhận thấy rằng: Tất cảcác NHTM đều có chung một tính chất đó là: việc nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳhạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các dịch vụ kinhdoanh khác của chính Ngân hàng

1.1.1.2 Phân loại NHTM

Trên thế giới các ngân hàng thương mại hoạt động với chức năng, nghiệp vụ khágiống nhau, đó là việc: nhận tiền gửi ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sửdụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác của chínhngân hàng Để phân loại các Ngân hàng thương mại ta có thể dựa trên các tiêu chi sau:

Căn cứ vào hình thức sở hữu: Các Ngân hàng thương mại được phân thành:

- Ngân hàng sở hữu tư nhân: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn của một cá nhân.

Đây là các ngân hàng nhỏ, thường chỉ hoạt động trong phạm vi một địa phương với đốitượng phục vụ chủ yếu là những người trong địa phương

- Ngân hàng sở hữu của các cổ đông: Là ngân hàng được hình thành từ nguồn vốn

thông qua tập trung phát hành cổ phiếu Những người nắm giữ cổ phiếu này chính lànhững người chủ của ngân hàng Họ có quyền tham gia vào các hoạt động của ngân hàng

và được chia lãi cổ tức Do huy động từ nhiều người nên các ngân hàng này có vốn chủ sởhữu lớn, có các hình thức kinh doanh đa dạng

- Ngân hàng sở hữu nhà nước: Là loại hình ngân hàng có vốn chủ sở hữu thuộc về

Nhà nước Đây là loại hình ngân hàng có thể nói là an toàn nhất, rất ít khi bị phá sản Tuy

Trang 6

nhiên, các ngân hàng này nhiều khi phải thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao, ảnhhưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Căn cứ theo tính chất hoạt động

- Ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng.

Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh, thườngchỉ cung cấp một hoặc một số dịch vụ ngân hàng nhất định

Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng Đây là xu hướngchủ yếu hiện nay của các ngân hàng thương mại

- Ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ.

Ngân hàng bán buôn là loại hình ngân hàng mà hoạt động của nó chủ yếu thực hiệnđối với các khách hàng lớn Số lượng các giao dịch của ngân hàng bán buôn nhỏ song vềgiá trị một dịch vụ lại lớn

Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó thực hiện đốivới các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân Số lượng cácgiao dịch của ngân hàng bán lẻ lớn song giá trị một giao dịch thường nhỏ

Căn cứ theo cơ cấu tổ chức

Ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty Sự phân chia này là

do pháp luật ở nhiều nước cấm không cho ngân hàng trực tiếp tham gia vào một số hoạtđộng kinh doanh như: buôn bán chứng khoán, bất động sản nên các ngân hàng tổ chức

ra các công ty riêng, có tư cách pháp nhân để kinh doanh

Việt Nam, với việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện nhất quán chínhsách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi người được tự dokinh doanh, bình đẳng trước pháp luật Nhà nước ta quan niệm: (Theo điều 4 Luật các Tổchức tín dụng của Việt nam số 47/ 2010/QH 12) “Ngân hàng thương mại là loại hìnhngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanhkhác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”

* Các loại hình ngân hàng ở Việt Nam hiện nay:

- Ngân hàng thương mại quốc doanh: Đây là các ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong

hệ thống ngân hàng ở nước ta Các ngân hàng này được nhà nước cấp vốn và hoạt độngchịu sự quản lý của nhà nước Ngoài việc tiến hành kinh doanh bình thường: huy độngvốn, cho vay và các dịch vụ khác, ngân hàng còn phải thực hiện các nhiệm vụ khi nhà

Trang 7

nước giao cho Hiện nay có các ngân hàng thương mại quốc doanh sau: Ngân hàng NôngNghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng CôngThương Việt Nam, Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng chính sách xãhội, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long

- Ngân hàng thương mại cổ phần: Đây là các ngân hàng được thành lập và hoạt động

theo luật công ty cổ phần Sở hữu ngân hàng là các cổ đông, họ cùng nhau góp vốn đểhình thành và hoạt động theo quy định của pháp luật

- Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng liên

doanh Vốn điều lệ là vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nướcngoài, có trụ sở chính tại Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Là một bộ phận của ngân hàng nước ngoài (ngân

hàng nguyên xứ) hoạt động tại Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

- Ngân hàng đầu tư: Ngân hàng đầu tư hoạt động với mục tiêu đầu tư trung và dài

hạn, cũng vì sự phát triển nhưng thông qua hình thức đầu tư gián tiếp thông qua các giấy

tờ có giá

- Ngân hàng phát triển: Ngân hàng phát triển có nét đặc trưng nổi bật là những ngân

hàng này tập trung vốn huy động trung, dài hạn và đầu tư trung, dài hạn vì sự phát triển.Hoạt động đầu tư của loại ngân hàng này chủ yếu đầu tư trực tiếp qua các dự án

- Ngân hàng chính sách: Là những ngân hàng thương mại 100% vốn Nhà nước hoặc

ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước (gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu của các tổchức kinh tế quốc doanh) được lập ra để phục vụ những chính sách của Nhà nước Loạingân hàng này không hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận

- Ngân hàng hợp tác: Ngân hàng hợp tác hay gọi rộng ra là những tổ chức tín dụng

hợp tác, là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyệnlập lên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về vốn vàdịch vụ ngân hàng

1.1.1.3 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế

Từ khái niệm về NHTM nêu trên áp dụng vào thực tế nước ta, một nước có hơn 80%dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất theo chiều hướng CNH- HĐH rấtcần đến NHTM với vai trò to lớn của nó Nhất là khi quá trình CNH - HĐH của chúng ta

đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng tốc đầu tư, từngbước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu bền,

Trang 8

thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế năm thì vai trò của các NHTM càngđược Đảng và Nhà nước ta coi trọng.

- Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Ngân hàng thương mại ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoáphát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người thì có vốnnhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này giảiquyết bằng cách nào? NHTM ra đời là chìa khoá giúp cho người cần vốn có được vốn vàngười có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ vốn Các ngân hàng cũng cân đốiđược vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển Cácngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, các cá nhân sau

đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đạihơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có lợi nhuận cao hơn Xã hội càng phát triển nhu cầu vốncần cho nền kinh tế càng tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng được Chỉ có ngânhàng - một tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúpcho tất cả các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối

- Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường

Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không phải là cứ sản xuất bất cứ cái gì

mà phải luôn trả lời được 3 câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào ? và sản xuấtcho ai? Có nghĩa là sản xuất theo tín hiệu của thị trường Thị trường yêu cầu các doanhnghiệp phải sản xuất ra các sản phẩm với chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn, phù hợpvới thị hiếu của người tiêu dùng Để được như vậy các doanh nghiệp phải được đầu tưbằng dây truyền công nghệ hiện đại, trình độ cán bộ, công nhân lao động phải được nângcao Những hoạt động này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư lớn và đểđáp ứng được thì chỉ có các ngân hàng Ngân hàng sẽ giúp cho các doanh nghiệp thựchiện được các cải tiến của mình, có được các sản phẩm có chất lượng, giá thành rẻ, nângcao năng lực cạnh tranh

- NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tièn tệ của toàn bộ nềnkinh tế, đảm bảo sự phát tiển hài hoà cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạtđộng sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự dao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng

ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác Do vậy sự hoạt động có hiệu quả của NHTMthông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nứơc tiến hànhđiều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trang 9

Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các Ngân hàng trong hệ thống,NHTM đã trực tiếp góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông Mặtkhác với việc cho các thành phần trong nền kinh tế vay vốn, NHTM đã thực hiện việc dẫndắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều kiện chúng một cách cóhiệu quả, bảo đảm cung cấp đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất cũngnhư thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế.

- Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.

Ngày nay, trong su hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc hình thành hàngloạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các mối quan hệ thươngmại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng và trởnên cần thiết, cấp bách Nền tài chính của một quốc gia cần phải hoà nhập với nền tàichính thế giới Các ngân hàng thương mại là trung gian, cầu nối để tiến hành hội nhập.Ngày nay, đầu tư ra nước ngoài là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợinhuận Đồng thời các nước cần xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh vànhập khẩu những mặt hàng mà mình thiếu Các ngân hàng thương mại với những nghiệp

vụ kinh doanh như : nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh và đặc biệt là các nghiệp vụ thanhtoán quốc tế, đã góp phần tạo điều kiện, thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mởrộng và phát triển.

1.1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại

NHTM hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ huy động vốn,nghiệp vụ sử dụng vốn và các nghiệp vụ trung gian khác Ba nghiệp vụ này có quan hệmật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnhtranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động củaNgân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh củaNHTM

1.1.2.1 Nghiệp vụ huy động vốn

Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh củaNHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:

- Nghiệp vụ tiền gửi:

Đây là vốn quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn ngân hàng thương mại

và đó là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng Có 2 hình thức huy động khácnhau:

Trang 10

Tiền gửi thanh toán: Là số tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào Ngân hàngnhằm mục đích giao dịch, thanh toán, chi trả cho các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch

vụ và các khoản chi phí phát sinh trong kinh doanh Người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào

và ngân hàng phải có trách nhiệm đáp ứng kịp thời, đầy đủ Đây là nguồn huy động có chiphí thấp của ngân hàng thương mại

Tiền gửi tiết kiệm: Là những khoản tiền mà ngân hàng thương mại huy động từ doanhnghiệp hoặc từ các khoản tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư Đây là nguồn vốn ổnđịnh, vì vậy các ngân hàng thương mại luôn tìm cách đa dạng hóa huy động loại tiền gửinày bằng việc áp dụng các kỳ hạn lãi suất linh hoạt cùng với nhiều chính sách khách hàng

để thu hút tối đa nguồn vốn này

- Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:

Thực chất là ngân hàng huy động vốn bằng việc phát hành các giấy tờ có giá như: kỳphiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi; trong đó kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi là loại phiếu nợngắn hạn, trái phiếu là phiếu nợ trung dài hạn Các loại giấy tờ có giá đó được NHTMphát hành từng đợt với mục đích và số lượng cụ thể và được NHTW chấp thuận Khảnăng vay mượn tùy thuộc vào uy tín của ngân hàng, lãi suất và trình độ phát triển của thịtrường tài chính

- Nghiệp vụ đi vay:

Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinhdoanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay Ngân hàngnhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các khoản vay từNgân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTMkhi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ

- Nghiệp vụ huy động vốn khác:

Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinhdoanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM,thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các Ngân hàng phải lập ra các dự án chotừng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay

- Vốn chủ sở hữu của NHTM :

Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM Lượng vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trongtổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành

Trang 11

lập ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân hàng có thể sử dụng nó vào cácmục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố địnhphục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh.Trong thực tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanhcủa bản thân Ngân hàng mang lại.

1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn.

Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khácnhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận Nghiệp vụ tài sản

có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:

- Nghiệp vụ ngân quỹ:

Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích nhằmđảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán nhanh củaNHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra

- Nghiệp vụ cho vay:

Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại NH thương mại đivay để cho vay, do đó có cho vay được hay không là vấn đề mà mọi NH thương mại đềuphải tìm cách giải quyết Thông thường lợi nhuận từ hoạt động cho vay này chiếm tới 65-70% trong tổng lợi nhuận của ngân hàng Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại bằngnhiều cách: theo thời gian có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn, theo hìnhthức đảm bảo có cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo, theo mục đích có chovay bất động sản, cho vay thương mại, cho vay cá nhân, cho vay nông nghiệp, cho vaythuê mua

- Nghiệp vụ đầu tư tài chính:

Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được từ dân cư,

từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như : hùn vốn,góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên cáckhoản đầu tư đó

Trang 12

1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian khác

Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản trên ngân hàng còn thực hiện một số nghiệp vụ khác như:

- Kinh doanh ngoại hối: Hoạt động kinh doanh của NHTM trên thị trường ngoại tệ

thông qua các giao dịch mua bán giao ngay, giao dịch có kỳ hạn, giao dịch hoán đổi nhằm đáp ứng các nhu cầu có liên quan đến ngoại tệ của khách hàng, ngân hàng

- Dich vụ trong thanh toán: Có thể nói ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế Các doanh

nghiệp , tổ chức kinh tế sẽ không phải mất thời gian sau khi mua hoặc bán hàng hoá và dịch

vụ bởi việc thanh toán sẽ được ngân hàng thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác

- Dịch vụ tư vấn, môi giới: Ngân hàng đứng ra làm trung gian mua bán chứng khoán,

tư vấn cho người đầu tư mua bán chứng khoán, bất động sản

- Các dịch vụ khác: Ngân hàng đứng ra quản lý hộ tài sản; giữ hộ vàng, tiền; cho thuê

két sắt, bảo mật

1.2 CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM

1.2.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bảnlà: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền Để thực hiện đượccác chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏingân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động nhất định

Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau: Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác

Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thươngmại Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chínhbản thân ngân hàng và nguồn vốn huy động của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi

Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi, hoặc nhờ thu,nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng Đây chính là họ chuyểnquyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân hàng phải trả hay làm các dịch vụchính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị tiền tệ đó Nhờ việc có được nguồn vốn, cácngân hàng có thể tiến hành kinh doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê Nói chung vốn củangân hàng chi phối toàn bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của ngânhàng thương mại

Trang 13

1.2.2 Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại

Vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:

Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền

sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa Đây là nguồn vốnkhá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng Ngân hàng có to, đẹp, bề thếthì mới tạo được cảm giác an toàn kho khách hàng khi đến giao dịch Đối với mỗi ngânhàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sởhữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường

Vốn chủ sở hữu của NHTM gồm : vốn cấp 1 và vốn cấp 2

Vốn cấp 1

Vốn cấp 1 bao gồm vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tàichính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia

- Vốn điều lệ ( Nguồn vốn hình thành ban đầu)

Vốn điều lệ là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của ngân hàng thương mại.Nguồn vốn này có thể khác nhau giữa các ngân hàng, phụ thuộc vào mỗi hình thức sở hữukhác nhau của ngân hàng thương mại Nếu là ngân hàng thương mại thuộc sở hữu Nhànước thì vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp và được bổ sung trong quá trình hoạtđộng Nếu là ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh thì do các cổ đông và các bên liênquan đóng góp Vốn điều lệ của từng loại ngân hàng thương mại không được thấp hơnmức vốn pháp định mà pháp luật quy định cho từng loại ngân hàng thương mại Trongquá trình kình doanh các ngân hàng thương mại có thể bổ sung tăng vốn điều lệ nhưngphải được NHTW đồng ý và phải được công bố công khai

Trang 14

- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng không ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ cónguồn vốn bổ sung Nguồn bổ sung này có thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổphần, góp thêm, cấp thêm Nguồn vốn bổ sung này tuy không thường xuyên song đối vớicác ngân hàng lớn từ lâu đời thì nguồn bổ sung này chiếm một tỷ lệ rất lớn

- Các quỹ

Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có nhiều quỹ Mỗi quĩ có một mục đích riêng:Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quỹ khenthưởng Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận Các quỹ này thuộc toàn quyền

sử dụng của ngân hàng Tùy theo quy định của từng quốc gia, từng thời kỳ từng mức độtrích lập, quy mô và mục đích sử dụng :

 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ hàng năm được trích theo tỷ lệ nhất định từ lợinhuận sau thuế Ở Việt Nam, theo Nghị định 146/NĐ/CP/ngày 23/11/2005 mứctrích lập là 5% lợi nhuận sau thuế, mức tối đa của quỹ này có vốn điều lệ thực có

 Quỹ dự phòng tài chính là các khoản dự phòng tổn thất được xem như là một bộphận của vốn tự có để bù đắp thua lỗ Số dự trữ này không vượt quá 25% vốn điều

lệ của ngân hàng và được trích 10% từ lợi nhuận sau thuế hàng năm

 Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia…các quỹ này được trích lập

và sử dụng theo quy định của pháp luật

Ở Việt Nam vốn cấp 1 được dùng làm căn cứ để xác định giới hạn mua, đầu tư vào tàisản cố định, vào tổ chức tín dụng

Vốn cấp 2

Vốn cấp 2 bao gồm các khoản như giá trị tăng thêm của tài sản cố định được đánh giálại theo quy định của pháp luật, giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đấu từ đượcđánh giá lại theo quy định, trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD pháthành thỏa mãn các điều kiện theo quy đinh, các công cụ nợ khác đáp ứng các điều kiệncủa pháp luật, quỹ dự phòng chung

Ở Việt Nam theo quy định hiện hành vốn cấp 2 bao gồm:

- 50% phần giá tị tăng thêm của tài sản cố định được đánh giá lại

- 40% phần giá trị tăng thêm của loại chứng khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư vốngóp) được đánh giá lại

Trang 15

- Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần

Các khoản vay nợ trung và dài hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thìđược coi là một bộ phận vốn chủ sở hữu của ngân hàng Ngân hàng có thể sử dụng vốntheo các mục đích kinh doanh của mình như có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thểkhông phải hoàn trả khi đến hạn

1.2.2.2 Vốn huy động

Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại.Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phảihoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư,các tổ chức kinh tế – xã hội với nhiều hình thức khác nhau

- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch)

Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích

là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng Khoản tiền gửi thanh toán này có thểđược trả lãi (trả lãi thấp) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng Người gửitiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền với một mức phí thấp Cácngân hàng có thể sử dụng các số dư tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của mình.

- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xácđịnh Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằngtiền gửi thanh toán (do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút) nhưng bù lại tiền gửi có kỳhạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng

- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi Họ gửitiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với nhữngkhoản tiền đó Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trảlãi đã thoả thuận với ngân hàng Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồngthời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngânhàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm bằng VNĐ, bằng vàng vàbằng ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều kỳ hạn để người gửi có nhiều

cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất

Trang 16

1.2.2.3 Vốn đi vay

Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảmbảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc Các ngân hàng có thể vay ở:

- Vay ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương)

NHTW có thể cho các tổ chức tín dụng vay vốn ngắn hạn khi cần thiết dưới hình thức táicấp vốn như : cho vay lại theo hồ sơ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu, thương phiếu và cácgiấy tờ có giá ngắn hạn khác, cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu là các giấy tờ

có giá ngắn hạn khác, cho vay bổ sung vốn trong thanh toán bù trừ, cho vay đặcbiệt khi tổchức tín dụng mất khả năng thanh toán có nguy cơ mất an toàn trong hệ thống

- Vay các tổ chức tín dụng khác

Khi các NHTM có sự mất cân đối giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn, xảy rahiện tượng thiếu vốn đột xuất Để đảm bảo khả năng thanh toán của mình, các tổ chức tíndụng vay vốn của nhau qua thị trường liên ngân hàng Các khoản vay này thông thường

có thời hạn ngắn chủ yếu chỉ để giải quyết những nhu cầu tức thời Hoạt động của thịtrường này nhằm tận dụng đến mức cao nhất các khả năng sẵn có một cách triệt để củacác tổ chức tín dụng, trước khi có nhu cầu vay vốn của Ngân hàng Trung ương

Tuy nhiên, Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 vừa được ban hành và sẽ có hiệu lực từ

2011 thì không có điều khoản nào quy định việc các tổ chức tín dụng được gửi tiền- nhậntiền gửi lẫn nhau Tại Chương IV Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định về hoạt độngcủa tổ chức tín dụng, quy định các tổ chức tín dụng được vay vốn lẫn nhau (Điều 100, tiết

c khoản 1 Điều 108, khoản 3 Điều 112, tiết b khoản 4 Điều 118, khoản 2 Điều 119),không quy định về hoạt động gửi tiền lẫn nhau giữa các tổ chức tín dụng, chỉ quy địnhviệc mở tài khoản thanh toán lẫn nhau của các tổ chức tín dụng nhằm phục vụ cho mụcđích thanh toán

Các tổ chức tín dụng chỉ được thực hiện giao dịch liên ngân hàng dưới các hình thức:Giao dịch qua mạng điện tử do Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức cung ứng dịch vụđược cơ quan có thẩm quyền cho phép, hoặc qua điện thoại (có ghi âm lại) hoặc các hìnhthức khác Việc lựa chọn áp dụng hình thức giao dịch sẽ do các bên lựa chọn nhưng phảiđảm bảo thực hiện giao dịch an toàn, hiệu quả, đúng luật Mục đích của quy định này lànhằm hạn chế việc các tổ chức tín dụng đi vay quá mức trên thị trường liên ngân hàng sovới quy mô hoạt động và nguồn vốn tự có của mình, đồng thời hạn chế việc đi vay để chovay lại

Trang 17

- Vay trên thị trường vốn

Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thịtrường vốn để huy động vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng các nhu cầu cho vay trung vàdài hạn và các nhu cầu đầu tư khác Những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ cókhả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ Các ngân hàng nhỏ thường vay giántiếp thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng đầu tư Khảnăng vay mượn này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, cáchình thức phát hành, chuyển đổi, thời hạn của các công cụ nợ

1.2.2.4 Vốn khác

- Nguồn uỷ thác

Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác qua đó làm tăng nguồn vốn của ngânhàng như uỷ thác đầu tư, uỷ thác cho vay, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ

- Nguồn trong thanh toán

Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi hayngân hàng là đầu mối trong đồng tài trợ cũng giúp ngân hàng làm tăng nguồn vốn của mình

- Nguồn khác

Gồm các khoản phải nộp, phải trả như: thuế chưa nộp, lương chưa trả

1.2.3 Vai trò của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại.

1.2.3.1 Đối với toàn bộ nền kinh tế

Tiết kiệm và đầu tư là những cơ sở nền tảng của nền kinh tế Tiết kiệm và đầu tư cómối quan hệ nhân quả, tiết kiệm góp phần thúc đẩy, mở rộng phát triển sản xuất kinhdoanh, tăng cường đầu tư và đầu tư cũng góp phần khuyến khích tiết kiệm Nhưng trongnền kinh tế các khoản tiết kiệm thường nhỏ, lẻ và người tiên phong trong việc tập hợp vốnhiệu quả nhất chính là các ngân hàng thương mại Thông qua các kênh huy động vốn, cáckhoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế

Đối với những người có vốn nhàn rỗi: Việc huy động vốn của ngân hàng trước hết sẽgiúp cho họ những khoản tiền lãi hay có được các dịch vụ thanh toán đồng thời các khoảntiền không bị chết, luôn được vận động, quay vòng

Đối với những người cần vốn: Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tư, phát triển sản xuấtkinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng

Trang 18

Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về vốn,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Các cơ hội đầu tư luôn có điều kiện để thực hiện Quátrình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với việc huy động vốn của cácngân hàng thương mại Tuy việc huy động vốn có thể thực hiện bằng nhiều kênh: thịtrường chứng khoán, ngân sách nhà nước nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay thì huyđộng vốn qua các ngân hàng thương mại vẫn là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.

1.2.3.2 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.

- Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh

Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn Ngoàilượng vốn bắt buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác Ngân hàng đivay để cho vay Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có thứ để mà cho vay Nguồn vốnphản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng Đối với những ngân hàng lớn, việc thamgia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ Vốn không chỉ làphương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thươngmại Nói cách khác, không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện được các nghiệp vụkinh doanh của mình

- Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng Ngân hàng cónhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn Có được nhiều vốn ngânhàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất

từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều cácdịch vụ ngân hàng Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngânhàng nhỏ Chính vì vậy càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinhdoanh của ngân hàng

- Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường

Các ngân hàng lớn trên thế giới là các ngân hàng có uy tín, luôn được ca ngợi và nểtrọng Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn của ngânhàng Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo, các kháchhàng luôn cảm thấy yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng Trong nên kinh tế bất ổn hiệnnay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậythì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn

Trang 19

- Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngânhàng tham gia cạnh tranh Nó giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tăng cườngquan hệ với các đối tác Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân các khách hàngtruyền thống Doanh số của ngân hàng tăng lên đồng thời làm tăng nguồn vốn của ngân hàng.Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh vớicác ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi Các dịch vụngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn

1.2.4 Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại

Một hoạt động không thể thiếu của các ngân hàng thương mại là tiến hành huy độngvốn để ngân hàng đi vào hoạt động Quá trình huy động vốn đó hầu như đều giống nhau ởcác ngân hàng nhưng để phân loại các hình thức huy động thì lại rất khác nhau Điều nàycòn phụ thuộc vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại

1.2.4.1 Phân loại theo thời gian huy động

Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mậtthiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng như thời gianphải hoàn trả khách hàng Theo thời gian, hình thức huy động được chia thành:

- Huy động ngắn hạn

Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại thông qua việcphát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửingắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn số này được dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1năm) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn để thực hiện cho vay trung hạn Do thời gian ngắnnên lãi suất huy động ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém

- Huy động trung hạn

Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trênthị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm) Vốn huy động này ngânhàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn nàythường cao hơn nguồn ngắn hạn Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết đểngân hàng thực hiện các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạnvới lãi suất cao.

Trang 20

- Huy động dài hạn

Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồnhuy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên)

Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng rất cao

1.2.4.2 Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động

- Huy động vốn từ dân cư

Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng Ngân hàng huy động

từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn

để mở rộng đầu tư, kinh doanh Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định

- Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội

Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồnvốn Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏhầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng Các doanh nghiệp khi bán được hàng hoá đềugửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần Chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổchức xã hội không giống nhau Vì vậy ngân hàng luôn có trong tay một khoản tiền lớn màmình có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền nàyphụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sửdụng các dịch vụ Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổchức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng

- Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi ở lẫn nhau đểthuận tiện trong giao dịch, thanh toán Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàngcũng làm tăng nguồn vốn huy động Điều này tuy không thường xuyên song là cần thiếttrong hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng thương mại Khi xuất hiện việc thiếu hụt

dự trữ hay khả năng thanh toán bị đe doạ các ngân hàng thương mại có thể vay lẫnnhau Quá trình vay này là một thoả thuận tín dụng giữa hai bên Quá trình tăng vốn huyđộng này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường ngoại tệ

Khi các NHTM đã hết khả năng vay mượn của nhau mà vẫn thiếu vốn hoặc mất khảnăng thanh toán, các NHTM thực hiện vay vốn tại ngân hàng Trung ưng để tạo thêmnguồn vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của mình Ngân hàng trung ương đóng vaitrò là người cho vay cuối cùng để giúp cho các ngân hàng thương mại khắc phục những

sự cố về thanh khoản

Trang 21

Huy động vốn từ các Ngân hàng Trung ương và các tổ chức tín dụng khác để đảmbảo những khả năng cần thiết, nên tuy cũng khá dễ dàng nhưng số lượng thường khôngnhiều và chi phí huy động thường cao hơn Do vậy, hình thức này các ngân hàng sử dụngkhông nhiều.

1.2.4.3 Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn

Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các ngân hàng thương mại sửdụng hiện nay Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngânhàng khi tiến hành huy động Các hình thức huy động bao gồm:

Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi

- Huy động tiền gửi không kỳ hạn :

Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển có tỷ lệthanh toán không dùng tiền mặt cao Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là

để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chứckinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá,dịch vụ liên tục Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho người thứ

ba Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc Đặc biệtngười gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy rúttiền tự động (máy ATM) Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai tài khoản:tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai:

Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền sửdụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi Loại tài khoản nàyluôn luôn có số dư có

Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng chocác cá nhân Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số dư nợ thể hiện khoản tíndụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.

Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãisuất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi Tuynhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt Nam)

và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này (có những thờiđiểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn) Tỷ lệ huy động từnguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm ngân hàng chấtlượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền

Trang 22

- Huy động tiền gửi có kỳ hạn

Là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một thời hạnnhất định Khoản này thường gắn với các tổ chức kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần như xácđịnh, thời gian thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động Phần tiền gửi này ngân hàng sửdụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn Người gửi tiền ngoàimục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm lời Do đó, sự thay đổi lãisuất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn huy động của ngân hàng

Ở Việt Nam, hình thức tiền gửi có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (mà chúng

ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngân hàng có mục đích) với các thời hạn 3 tháng, 6 tháng, 1năm, 2 năm ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò hay việc tạo vốn chocác ngân hàng

- Huy động tiền gửi tiết kiệm

Đây là hình thức phổ biến nhất, lâu đời nhất của các ngân hàng thương mại Bao gồmcác loại sau:

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn : Hình thức này gần giống như huy động tiền gửikhông kỳ hạn Tuy nhiên so với tiền gửi không kỳ hạn thì số dư của phần này ổn địnhhơn, ít biến động hơn nên ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộcnhất ở nước ta Người gửi tiền gửi vào ngân hàng và rút ra sau những thời hạn xác định: 3tháng, 6 tháng Người gửi không được rút trước, nếu rút trước hạn thì sẽ bị phạt Đây lànhững khoản tiền có tính ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả khách hàng với lãi suấtgần như là cao nhất Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, để tăng sức cạnh tranh, thu hút đượcvốn các ngân hàng đã rất linh hoạt trong việc khách hàng rút ra trước thời hạn Có ngânhàng thì tính lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, có ngân hàng vẫn tính với lãisuất đó với số ngày gửi thực tế

Tiền gửi tiết kiệm gửi góp : Loại hình này khá phổ biến ở những nước phát triểnnhưng ở nước ta còn khá mới mẻ Người gửi có thể gửi tiền vào bất cứ lúc nào và chỉđược rút ra khi đến hạn (thời hạn tương đối dài) Loại hình này giúp cho ngân hàng cónguồn vốn ổn định để có thể đầu tư trung và dài hạn

Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay

Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môi trường kinh doanh đầybiến động như hiện nay Các ngân hàng thương mại có thể vay từ nhiều nguồn:

Trang 23

- Vay từ các tổ chức tín dụng

Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân hàng vay lẫn nhau trên thị trường liênngân hàng hay thị trường tiền tệ Các ngân hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt đểkhi thiếu hụt vốn có thể vay lẫn nhau chứ không vay ngân hàng trung ương

- Vay từ ngân hàng trung ương

Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khảnăng thanh toán thì người cuối cùng mà các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân hàng trungương Ngân hàng trung ương cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu Cácngân hàng thương mại có thể mang các thương phiếu lên ngân hàng trung ương để vay.Tuy nhiên việc vay này cũng có một số khó khăn do ngân hàng trung ương chỉ cho ngânhàng thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong địnhhướng của chính sách tài chính quốc gia Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ sung vốncho ngân hàng thương mại cực kỳ quan trọng trong những thời điểm nhất định

Huy động qua phát hành các công cụ nợ

Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng thương mại.Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần phải huyđộng thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn Điều đó có nghĩa là ngânhàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ra mới tính đầu vào Ngân hàngxác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra các mức chi phí hợp lýlàm cho việc tạo vốn của ngân hàng thành công nhanh chóng Để vay trên thị trường,ngân hàng có thể phát hành kỳ phiếu và trái phiếu

Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đốivới người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào mộtngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước Trái phiếu được phát hànhtrong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung và dài hạn

Kỳ phiếu: kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàngphát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinhdoanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế

Huy động vốn qua các hình thức khác.

Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanhnghiệp, các ngân hàng thương mại còn sử dụng các hình thức khác về dịch vụ xã hội: làmdịch vụ bảo lãnh, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp

Trang 24

đồng đồng tài trợ Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên càng mang lại cho ngânhàng những nguồn huy động lớn giúp cho ngân hàng có thể kinh doanh một cách an toàn

và hiệu quả

1.2.4.4 Mối quan hệ giữa vốn và sử dụng vốn

Nguồn vốn và sử dụng vốn đó là hai quá trình hoạt động của Ngân hàng Công táccân đối vốn của Ngân hàng là một chiến lược huy động vốn đúng đắn, phù hợp với kếhoạch sử dụng vốn trong từng thời kỳ sẽ tạo điều kiện cho các NHTM đạt được mục tiêulợi nhuận tối đa và tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh Sự hài hoà giữa huy động vốn và

sử dụng vốn chính là công tác cân đối vốn của Ngân hàng Công tác cân đối vốn là hếtsức quan trọng và cần thiết đối với bất kỳ ngân hàng nào Đó là một biện pháp nghiệp vụ,

là một công cụ quản lý của nhà lãnh đạo ngân hàng, thông qua bảng cân đối đa lập, cáccán bộ ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các nguồn và từng khoản sử dụng

để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương lai, từ đó có chính sách huy động vốnthích hợp

1.3 CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN

1.3.1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác HĐV

1.3.1.1 Sự đa dạng của hình thức huy động vốn.

Hình thức huy động vốn là những cách thức ngân hàng sử dụng để thu hút nguồn vốn.Hình thức huy động càng đa dạng thì vốn chảy vào ngân hàng càng nhiều Vì vậy độ đa dạngcủa các hìng thức huy động vốn chính là chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của công tác huy độngvốn ở các ngân hàng thương mại

Sự đa dạng các công cụ huy động được thể hiện trước hết là ở số lượng các công cụ ngânhàng sử dụng Tuỳ theo đặc điểm, mục tiêu chiến lược kinh doanh, mỗi ngân hàng đưa ranhững loại công cụ huy động Thực tế, số lượng các công cụ huy động càng nhiều thì ngânhàng càng có nhiều điều kiện thu hút được vốn, tuy nhiên số lượng các công cụ vốn lại bị hạnchế bởi khả năng quản lý của ngân hàng Một ngân hàng sử dụng nhiều công cụ huy động vốnkhông hoàn toàn đồng nghĩa với việc công tác huy động vốn của ngân hàng đó có hiệu quả tốt,

mà nó chỉ được coi là có hiệu quả khi những công cụ đó thực sự thích hợp với ngân hàng Cụthể đối với các ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng, đội nhũ cán bộ công nhân viênngân hàng có trình độ cao thì ngân hàng nên đa dạng hoá các loại công cụ huy động vốn

Trang 25

Đa dạng về số lượng các công cụ là chưa đủ , mà ngân hàng phải đa dạng về kỳ hạnhuy động, loại tiền sử dụng nữa Đó là khả năng huy động vốn với các kỳ hạn khác nhautrong đó có cả nội tệ , ngoại tệ và với mức lãi suất khác biệt tương ứng sao cho người gửitiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý Do vậy, để công tác huy động vốn của ngânhàng thực sự đạt được hiệu quả cao, ngân hàng cần phải tính toán, nghiên cứu tìm hiểunhu cầu của thị trường, trên cơ sở năng lực bản thân đưa ra các hình thức huy động đadạng về kỳ hạn, loại tiền Nếu những ngân hàng có quan hệ quốc tế rộng thì nguồn vốnhuy động bằng ngoại tệ phải lớn, hay nếu có chiến lược sử dụng vốn để cho vay dài hạnthì cần tăng cường huy động vốn trung và dài hạn.

1.3.1.2 Quy mô của nguồn vốn

Quy mô ở đây bao gồm tính ổn định về khối lượng, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu nguồn vànăng lực quản lý nguồn vốn

Thật vậy, công tác huy động vốn không thể có hiệu quả khi mà nguồn vốn huy độngđược lại không đạt được quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng haykhông đáp ứng nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh; cơ cấu vốn của ngân hànglại không có sự hợp lý giữa các nguồn vốn huy động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, giữavốn ngoại tệ và vốn nội tệ Đối với ngân hàng, do mỗi nguồn vốn có những điểm mạnh,điểm yếu riêng trong việc khai thác và huy động nên cơ cấu vốn biến đổi sẽ dẫn tới sựbiến đổi trong cơ cấu “đầu ra”: cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo sự thay đổi trong lợinhuận, rủi ro trong hoạt động kinh doanh Cơ cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc khôngchỉ vào một phần kế hoạch của ngân hàng mà còn chịu sự tác động của các nhân tố bênngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu tiếp cận thị trường

Khối lượng vốn huy động phản ánh quy mô vốn Quy mô vốn lớn sẽ tạo điều kiệncho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Trong tổng nguồn vốn của ngânhàng thì quy mô vốn huy động là một bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất và có vai trò quantrọng hơn cả Sau khi đã huy động được khối lượng vốn lớn thì cái mà ngân hàng cầnquan tâm lúc này là tốc độ tăng trưởng ổn định của nó vì có thể lúc này quy mô vốn lớn,nhưng sẽ là khó khăn cho ngân hàng khi đưa ra quyết định cho vay hay đầu tư nếu ngânhàng không kiểm soát, không dự đoán được xu hướng biến động của dòng tiền rút ra vàdòng tiền gửi vào Nguồn vốn của NHTM được coi là ổn định khi nguồn vốn từ dân cưchiếm tỷ trọng lớn và biết tận dụng nguồn tiền gửi giao dịch của các tổ chức kinh tế- tuykhông ổn định nhưng cũng đem lại cho ngân hàng một nguồn tiền lớn với chi phí rẻ Tăngtrưởng quy mô vốn huy động được thể hiện:

Trang 26

Tốc độ tăng trưởng vốn huy động = Vốn huy động kỳ báo cáo trước

Vốn huy động kỳ trước

Chỉ tiêu này cho biết sự mở rộng về quy mô vốn huy động đồng thời cũng phản ánh sựbiến động về nguồn vốn Gia tăng vốn là điều kiện để Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động,nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định của vốn Tuy nhiên tăng vốn đến quy mô nào là hiệuquả là vấn đề Ngân hàng cần quan tâm

Bên cạnh đó, tính ổn định về năng lực quản lý nguồn vốn cũng là một yếu tố phảnánh về quy mô vốn Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản nợ, tài sản có, tức

là trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, ngân hàng dự đoán được những rủi roxảy ra, dự đoán được môi trường đầu tư của mình có hiệu quả hay không thì quá trìnhhoạt động của ngân hàng đảm bảo được an toàn vốn, tăng uy tín, tạo điều kiện thu hútkhách hàng gửi tiền cũng như vay vốn

1.3.1.3 Cơ cấu huy động vốn

Để đánh giá cơ cấu vốn huy động, cần đánh giá tỷ lệ vốn huy động trong tổng vốn:

- Vốn huy động / Tổng nguồn vốn: Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng vốn huy động có

trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, đồng thời chỉ ra một đồng vốn chủ sở hữu huyđộng được bao nhiều đồng vốn huy động Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu hút vốn từnền kinh tế của NHTM

- Cơ cấu vốn theo kỳ hạn

Tỷ lệ vốn huy động ngắn hạn = Vốn huy động ngắn hạn / Tổng nguồn vốn huy động

Tỷ lệ vốn huy động trung hạn = Vốn huy động trung hạn / Tổng nguồn vốn huy động

Tỷ lệ vốn huy động dài hạn = Vốn huy động dài hạn / Tổng nguồn vốn huy động

Ba tỷ lệ này cho ta biết tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn chiếm tỷtrọng bao nhiêu trong tổng nguồn vốn huy động Mỗi loại vốn có những yêu cầu khácnhau về thời hạn, chi phí hoạt động Sự biến đổi cơ cấu nguồn vốn sẽ gây ảnh hưởng trựctiếp đến cơ cấu cho vay, đầu tư của Ngân hàng…từ đó dẫn đến việc thay đổi lợi nhuận,doanh thu của Ngân hàng Dựa vào tiêu chí này, ta có thể điều chỉnh cơ cấu vốn cho phùhợp nhằm đảm bảo Ngân hàng có thể thu được lợi nhuận mà không gặp vấn đề gì về tínhthanh khoản

Trang 27

1.3.1.4 Cơ cấu sử dụng vốn

Huy động và sử dụng vốn là hai vấn đề không thể tách rời, nó có quan hệ mật thiếtvới nhau

Hệ số sử dụng vốn huy động trong kỳ = Dư nợ cho vay bình quân / Nguồn huy động

Hệ số này phản ánh khả năng sử dụng vốn huy động của Ngân hàng, cho biết với mộtđồng huy động được Ngân hàng cho vay bao nhiêu đồng Tỷ lệ này thấp chứng tỏ Ngânhàng đang gặp vấn đề trong việc cho vay vốn Giải pháp trong trường hợp này là cácNgân hàng mua trái phiếu chính phủ hoặc tín phiếu kho bạc Thông thường các Ngânhàng cố gắng cho vay tối đa nguồn vốn huy động được và cố gắng duy trì tỷ lệ này tiếngần đến 1

Hệ số sử dụng vốn ngắn hạn = Dư nợ cho vay ngắn / Nguồn vốn huy động ngắn hạn

Hệ số sử dụng vốn trung hạn = Dư nợ cho vay trung hạn / Nguồn vốn huy động trung hạn

Hệ số sử dụng vốn dài hạn = Dư nợ cho vay dài hạn / Nguồn vốn huy động dài hạn

Ba chỉ tiêu này phản ánh trong tổng nguồn vốn huy động được thì tỷ trọng vốn huyđộng được để dùng cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn là bao nhiêu Theonguyên tắc thì các Ngân hàng sẽ lấy vốn huy động ngắn hạn để tiến hành cho vay ngắnhạn, còn vốn huy động trung dài hạn để tiến hành cho vay trung dài hạn Tuy nhiên, trongthực tế nhu cầu vay trung, dài hạn thường lớn trong khi nguồn vốn trung và dài hạn huyđộng được không đủ đáp ứng Do đó, NHTM có thể linh hoạt chuyển đổi kỳ hạn tức làdùng nguồn vốn huy động ngắn hạn để tiến hành cho vay trung và dài hạn Điều này sẽđem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, tuy vậy nếu không tính toán một tỷ lệ chuyển đổihợp lý Ngân hàng sẽ phải đối mặt với những vấn đề về tính thanh khoản

1.3.1.5 Chi phí huy động vốn :

- Lãi suất huy động

Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế Người gửimuốn một lãi suất cao , người vay lại muốn lãi suất thấp Là trung gian đóng vai trò cầu nốigiữa hai đối tượng trên , ngân hàng phải tìm cách điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhấtđối với các bên , trong đó điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng Vì vậy tronghuy động vốn , mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm đượcnhững nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó đểcho vay với một mức lãi suất chấp nhận được trên thị trường Chi phí huy động được đánh giáqua hệ thống các chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia quyền

Trang 28

của lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của từng nguồn và đặcbiệt là lãi suất cạnh tranh NEC

Mặt khác , cũng với một mức chi phí trả lãi bình quân , sự đa dạng hoá trong lãi suất chophù hợp với mỗi hình thức huy động vốn là cần thiết , Sự đa dạng hoá lãi suất làm cho tăng tínhhiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra Nếu có chính sách lãi suất phù hợp ,hiệu quả , ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí trong khi vẫn hoàn thanh kế hoạch về nguồnvốn Trên thực tế, để thu hút được khách hàng, các Ngân hàng thi nhau tăng lãi suất huy độngkhiến cho tổng chi phí huy động vốn ngày càng tăng

- Chi phí khác

Bên cạnh chi phí chính là lãi suất , trong quá trình huy động vốn còn có các chi phí khácnhư chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí in ấn phát hành , chi phí cơ sở vật chất ,chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí này chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếutiết kiệm được cũng góp phần giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng

Do đó, chi phí huy động vốn được thể hiện qua lãi suất huy động bình quân, chênh lệch lãisuất bình quân, khả năng sinh lời của vốn huy động và tỷ suất chi phí huy động Trong đó chiphí vốn huy động được tính :

Chi phí huy động = Lãi phải trả cho nguồn huy động + Chi phí huy động khác

Lãi suất huy động bình quân = Tổng lãi phải trả / Tổng tiền gửi và tiềnvay

Chỉ tiêu này cho biết chi phí mà Ngân hàng phải bỏ ra để thu hút về một đồng vốn là baonhiêu Lãi suất huy động bình quân đóng vai trò trong việc xác định mức chênh lệch giữa lãisuất tiền vay và lãi suất cho vay - nhân tố phản ánh khả năng sinh lời của Ngân hàng

- Khả năng sinh lời của vốn huy động = Lợi nhuận sau thuế / Vốn huy động

Huy động vốn phải luôn gắn liền với quá trình sử dụng vốn Đó là hai vấn đề không thểtách rời nhau được Khả năng sinh lời của vốn huy động giúp ta biết với 1 đồng vốn huy độngđược Ngân hàng sẽ tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này chính là thước đo đánhgiá hiệu quả sử dụng vốn Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ vốn huy động đã đáp ứng được nhu cầu

sử dụng vốn và đang đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng

- Tỷ suất chi phí huy động = Chi phí huy động vốn / Doanh thu

Với chỉ tiêu này, giúp chúng ta thấy để tạo ra một đồng doanh thu Ngân hàng cần bỏ

ra bao nhiêu đồng chi phí Bất cứ doanh nghiệp nào hay Ngân hàng đều mong muốn tỷ lệ

Trang 29

này thấp, tức là chi phí bỏ ra thấp và thu lợi nhuận cao Muốn đạt được điều này Ngânhàng cần giảm chi phí huy động vốn hoặc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

• Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định

• Một số chỉ tiêu khác như : số lượng vốn bị rút ra trước thời hạn , kỳ hạn thực tế củanguồn vốn…

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn

Trong cả môi trường tự nhiên và xã hội, mỗi sự vật, hiện tượng đều có những tácđộng đến sự vật, hiện tượng khác và đồng thời cũng phải chịu những tác động ngược trởlại Việc huy động vốn của các ngân hàng cũng vậy Vấn đề đặt ra cho chúng ta là phảinhận thức được những yếu tố tác động đến việc huy động vốn Những tác động này rấtphong phú, đa dạng Dựa vào bản chất của các tác động ta chia các yếu tố đó thành nhữngyếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan

1.3.2.1 Yếu tố khách quan

Đây là các yếu tố mà khi tác động đến ngân hàng sẽ không thể chống được, đó là cácrủi ro không thể tránh Ngân hàng chỉ có thể nhận thức, dự báo và tìm cách giảm thiểu cácrủi ro khi nó xảy ra

- Pháp luật, chính sách của Nhà nước

Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội Do vậy tất cả mọi hoạtđộng của ngân hàng đều chịu sự điều chỉnh của luật pháp Cụ thể là Luật các tổ chức tíndụng (2010), Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính (1990), Luậtngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), các văn bản pháp luật khác như: chỉ thị, thôngtư Lĩnh vực hoạt động của ngân hàng là vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy cáchoạt động của ngân hàng luôn được Nhà nước quản lý chặt chẽ bằng các văn bản phápquy Mỗi văn bản đều có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của Ngân hàng, cụ thể là hoạtđộng huy động vốn

Trang 30

Chính phủ đề ra chính sách tiền tệ quốc gia và hệ thống ngân hàng là công cụ đắc lực

để thực hiện Chẳng hạn khi nền kinh tế lạm phát tăng, Nhà nước có chính sách thắt chặttiền tệ bằng cách tăng lãi suất tiền gửi để thu hút tiền ngoài xã hội thì lúc đó ngân hàngthương mại huy động vốn dễ dàng hơn Hoặc khi Nhà nước có chính sách khuyến khíchđầu tư, mở rộng sản xuất thì ngân hàng khó huy động vốn hơn vì người có tiền nhàn rỗi

họ bỏ tiền vào sản xuất có lợi hơn gửi ngân hàng

Các quy định của pháp luật đòi hỏi các ngân hàng thương mại luôn phải tuân thủ.Pháp luật quy định số tiền huy động của ngân hàng không được lớn hơn 20 lần vốn chủ sởhữu Hay thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc chính phủ điều chỉnh việc cung ứng tiền cho nềnkinh tế Việc điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc hay lãi suất tái chiết khấu là tuỳ theo địnhhướng phát triển của từng thời kỳ Các chính sách đầu tư, ưu đãi, ưu tiên phát triển mũinhọn cũng ảnh hưởng sâu sắc tới việc huy động vốn của ngân hàng thương mại Nóichung bất cứ ngân hàng thương mại nào khi cần huy động vốn đều phải xem xét các quyđịnh của luật pháp

- Tình hình chính trị – kinh tế – xã hội trong và ngoài nước

Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh tế, khôngriêng gì ngân hàng Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài nước có tác động rất rõ Cáccuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình trạng huy động vốn củangân hàng bị trì trệ bởi người dân không còn tin tưởng Ngược lại, sự đồng tâm, nhất trí,

ổn định trong bộ máy lãnh đạo sẽ làm cho các ngân hàng thương mại huy động vốn được dễdàng Như Achentina năm 2002, sau khi có những vấn đề về chính trị, người dân kéo đếnngân hàng rút tiền ồ ạt làm cho cả hệ thống ngân hàng chao đảo Cuộc chiến Irac cũng ảnhhưởng đến nền kinh tế thế giới trong đó có sự khó khăn về huy động vốn của ngân hàngthương mại Về kinh tế thì ko thể không nhắc đến cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ 2008, sựphá sản hàng loạt các ngân hàng uy tín lâu năm đã làm cho thế giới ảnh hưởng đến tận bâygiờ Hay tiêu biểu cho thời gian gần đây nhất là việc Hy Lạp vỡ nợ, một trong những nguyênnhân khiến đồng Euro rớt giá và bị tẩy chay trên thị trường thế giới

Nền kinh tế ở vào trạng thái tăng trưởng hay suy thoái đã tác động tới việc huy độngvốn của ngân hàng ở tình trạng tăng trưởng, người dân cần nhiều vốn để đầu tư mở rộngquy mô, trang thiết bị Các ngân hàng phải huy động nhiều vốn và càng có điều kiện đểhuy động do tích luỹ được nhiều hơn Ngược lại ở tình trạng suy thoái, sản xuất đình trệ,đầu tư bị thu hẹp, ngân hàng huy động vốn khó khăn

Trang 31

- Tâm lý, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền

Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc huyđộng vốn của ngân hàng Rõ ràng ở những vùng, người dân thường có thói quen gửi tiềnvào ngân hàng thì ngân hàng sẽ huy động được dễ dàng hơn nhiều ở những vùng ngườidân thường hay cất trữ tiền trong nhà bằng vàng, bất động sản Đồng thời ngay thói quenthanh toán khi mua hàng hoá cũng góp phần làm tăng hay giảm nguồn vốn huy động củangân hàng ở nhiều nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt là phổ biến, hầunhư người dân nào cũng có tài khoản trong ngân hàng và ngân hàng là cái gì đó không thểthiêú trong cuộc sống Ngược lại, ở một số nước, thói quen thanh toán bằng tiền mặt vẫncòn ăn sâu thì nguồn vốn huy động của ngân hàng sẽ gặp khó khăn Các tập quán tiêudùng này khó có thể được thay đổi ngay một sớm một chiều Do đó để mở rộng nguồnhuy động, các ngân hàng phải nỗ lực hết mình: cải cách quy trình, thủ tục, phát triển chínhsách khách hàng

Một trong những đặc tính của cộng đồng dân cư đó là tính lan truyền nhanh chóng.Cuộc đổi tiền năm 1985 – 1986 với tốc độ lạm phát chóng mặt 600-700 % đã khiến ngườigửi tiền kéo ồ ạt đến ngân hàng để rút Điều này đã kéo theo sự sụp đổ của hơn 7500 quỹtín dụng nhân dân và làm cả hệ thống ngân hàng lao đao Đồng thời gần đây các vụ bêbối, tham nhũng liên quan đến các ngân hàng như dệt Nam Định, vụ Tamexco, MinhPhụng-Epco đã làm suy giảm uy tín của các ngân hàng trong con mắt của người gửi tiền

Nó không tạo cho người gửi tiền cảm giác an toàn và nó đã làm hạn chế khả năng hoạtđộng của các ngân hàng

Một trong những lý do nữa là người dân chưa hiểu biết nhiều về các hoạt động củangân hàng, các tiện ích mà ngân hàng có thể cung cấp Điều này đòi hỏi các ngân hàngphải tăng cường tuyên truyền sâu rộng, quảng cáo, quảng bá về các hoạt động của mình,các lợi ích của người gửi tiền cũng như các thủ tục cần thiết

1.3.2.2 Yếu tố chủ quan

- Chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Chiến lược kinh doanh có thể nói là đường lối, phương hướng hoạt động cho mộtngân hàng Mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác nhau Điều này phụ thuộcvào từng điểm mạnh, điểm yếu, khả năng cũng như hạn chế của ngân hàng Chiến lượckinh doanh xác định quy mô huy động có thể mở rộng hay thu hẹp, cơ cấu vốn có thể thayđổi về tỷ lệ các loại nguồn, chi phí hoạt động có thể tăng hay giảm

Chiến lược kinh doanh có liên quan đến huy động vốn bao gồm: Chính sách về giá cả,

Trang 32

lãi suất tiền gửi, tỷ lệ hoa hồng và phí dịch vụ Đây là các yếu tố quan trọng Với việc lãisuất huy động tăng thì sẽ dẫn đến nguồn vốn vào ngân hàng tăng, rất lớn Nhưng đồngthời thì hiệu quả của việc huy động vốn có thể giảm do chi phí huy động tăng Do đó sốlượng nguồn vốn huy động được sẽ phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược kinh doanh hayđúng hơn là phụ thuộc vào chính bản thân ngân hàng.

- Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng

Không chỉ riêng ngân hàng mà trong bất cứ hoạt động nào, ngành nghề nào, yếu tốcon người cũng phải được đặt lên hàng đầu Các cán bộ nhân viên ngân hàng có năng lực

sẽ phán đoán, xử lý chính xác các tình huống sẽ làm cho các hoạt động huy động vốnđược thực hiện một cách tốt đẹp Trình độ của cán bộ ngân hàng cao sẽ làm cho các thaotác nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Thái độ trong tiếp xúc của nhânviên với khách hàng cũng rất quan trọng Nó có thể lôi kéo khách hàng làm tăng nguồnvốn huy động đồng thời cũng có thể làm khách hàng rơì bỏ gây ra những hậu quả vô cùngnghiêm trọng trong hoạt động của ngân hàng, trước hết là trong khâu huy động vốn Cácnhân viên ngân hàng là những người mang hình ảnh cho cả ngân hàng Do đó, để tăngcường huy động vốn thì một điều cực kỳ quan trọng là các nhân viên ngân hàng phải có

đủ những tiêu chí của một nhân viên ngân hàng chuyên nghiệp: Hiểu biết khách hàng,Hiểu biết nghiệp vụ, Hiểu biết quy trình, Hoàn thiện phong cách phục vụ

- Uy tín của ngân hàng

Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đốivới ngân hàng Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một quátrình lâu dài Người gửi tiền khi gửi thường lựa chọn những ngân hàng lâu đời chứ khôngphải là những ngân hàng mới thành lập Ngân hàng lớn thường được ưu tiên lựa chọn sovới các ngân hàng nhỏ Hình thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng độ an toàn, tăng uy tín củangân hàng Một điều quan trọng ở nước ta là hình thức sở hữu cũng có ảnh hưởng quantrọng tới huy động vốn Các ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an toàn cao hơncho người gửi tiền, uy tín của các ngân hàng thương mại quốc doanh cao hơn so với cácngân hàng khác Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng làtiền đề cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiếtkiệm được thời gian

- Trình độ công nghệ ngân hàng

Trang 33

Có thể nói công nghệ ngân hàng hiện đại khác xa so với trước đây Việc áp dụng máytính là một cuộc cách mạng trong hoạt động của ngân hàng Nhờ có hệ thống tin học hiệnđại, ngân hàng có thể thu thập thông tin về khách hàng, về thị trường tốt Từ đó, có thểhoạch định ra các hình thức huy động, thời gian huy động, hình thức trả lãi Mặt khác,nhờ hệ thống thông tin tốt khiến cho ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả huy động vốn.Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến, đó là một

xu thế tất yếu Việc thanh toán không dùng tiền mặt sẽ khiến cho các ngân hàng ngàycàng gắn liền với các hoạt động xã hội Ngoài ra mạng lưới phục vụ cho việc huy độngvốn cũng tác động tới việc huy động vốn của ngân hàng Mạng lưới huy động rộng rãi,tạo điều kiện cho người gửi tiền Mạng lưới hẹp thì sẽ gây khó khăn cho khách hàng cótiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng, chi phí giao dịch lớn, mất nhiều thời gian

Nhìn chung có rất nhiều những yếu tố ảnh hưởng đến việc huy động vốn của ngânhàng Các yếu tố này tác động đến mọi hoạt động, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh củangân hàng Mỗi ngân hàng khi hoạt động đều cần phải tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu.Những yếu tố tác động này có tính hai mặt: có thể có tác động tích cực đồng thời có thểtác động tiêu cực tới ngân hàng Ngân hàng nào xác định đúng, chính xác các yếu tố tácđộng sẽ huy động được vốn lớn với chi phí rẻ, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động

1.4 KINH NGHIỆM VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước

1.4.1.1 Singapore

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, làn sóng cải cách hệ thống ngânhàng dâng lên mạnh mẽ vào những thập niên 80, 90 hình thành nên những tập đoàn tư bảnngân hàng vững mạnh, mở rộng mạng lưới chi nhánh khắp nơi trên thế giới, ngân hàngtrở thành bà đỡ cho nền kinh tế công nghiệp hóa-hiện đại hóa toàn cầu, có khả năng tài trợcũng như huy động các nguồn vốn khổng lồ

Dưới đây là kinh nghiệm huy động vốn của hệ thống ngân hàng, tài chính ở mộtnước châu Á điển hình: Singapore

Quá trình phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao trong quá trình công nghiệphoá của quốc gia này cần phải kể đến sự thành công của lĩnh vực tài chính, ngân hàng,những toà nhà chọc trời tập trung ở khu vực trung tâm kinh tế lớn trở thành biểu tượnghùng vĩ của ngành dịch vụ tài chính Singpore Đến cuối thập niên 80 ở Singapore đã có

Trang 34

hơn 200 ngân hàng thương mại (commercial bank), và ngân hàng dịch vụ thương mại(merchant bank) với vốn tự có lên đến 200– 300 tỷ USD Đến giữa thập niên 90,Singapore đã có trên 140 ngân hàng thương mại sau giai đoạn cải cách sắp xếp lại hệthống ngân hàng nhằm xây dựng hệ thống ngân hàng vững mạnh có khả năng cung cấpđầy đủ dịch vụ tài chính đáp ứng cho nền kinh tế cùng với sự phát triển của thị trường tàichính vững mạnh

So với các nước trong khối ASEAN thì Singapore có thị trường tài chính phát triểnnhất, năm 1975 ở Singapore lãi suất tiền vay và tiền gửi trong nước đã được tự do hóa.Năm 1978, việc kiểm soát hối đoái cũng đã được nới lỏng, đem lại việc tự do hóa tàichính đầy đủ… nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng Singapore huy động tối đa nguồnvốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tiền tệ

đã huy động được, đáp ứng nhu cầu vốn cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa

1.4.1.2 Nhật

Bên cạnh đó, Nhật Bản là nước có nền kinh tế phục hồi sau chiến tranh với tốc độđáng ngạc nhiên mà trên phương diện bài luận văn này em xin tìm hiểu về công tác huyđộng vốn

Các nhà kinh tế Nhật Bản đã tổng kết được 5 tác nhân cơ bản thúc đẩy tăng trưởngkinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhật Bản, đó là

- Đa dạng hóa cơ cấu sản xuất

- Đẩy mạnh công tác ứng dụng và nghiên cứu khoa học kỹ thuật

- Tăng cường vai trò quản lý và điều hành của Nhà nước

- Mở rộng thị trường

Như vậy, yếu tố vốn vẫn là yếu tố được đặt lên hàng đầu trong 5 yếu tố trên Bêncạnh đó, các Ngân hàng tại Nhật Bản không chỉ chú trọng phát triển tín dụng mà tập trungchủ yếu đến huy động vốn và phát triển dịch vụ đó là những mục tiêu an toàn, chi phí rẻ Sau chiến tranh thế giới thứ hai, vào năm 1945 Nhật Bản là một nước bại trận, nềnkinh tế bị kiệt quệ nặng nề, nhất là sau khi bị thảm họa hạt nhân liên tiếp do quân đội Mỹthực hiện Nhật Bản cũng là nước không giàu tài nguyên và liên tục phải đối phó với thảmhọa thiên nhiên như: Động đất, sóng thần… Tuy nhiên bước vào thời kỳ CNH, HĐH,Nhật Bản đã duy trì được tỷ lệ tích lũy vốn so với tổng sản phẩm xã hội là 21,8%, gấp hailần so với Mỹ và gần bằng Anh Việc duy trì được mức tích lũy vốn cao như trên là nhờcác nhân tố sau:

Trang 35

- Duy trì mức lương thấp Trong khi lao động của Nhật Bản tăng rất nhanh thì tiềnlương của công nhân Nhật Bản lại thấp nhất so với các nước có nền kinh tế phát triển

- Huy động được khối lượng lớn tiết kiệm của dân chúng đưa vào kinh doanh Mặc dùtiền lương của người Nhật thấp xa so với các nước công nghiệp phát triển, song ngườiNhật lại có mức hạn chế tiêu dùng cao Đó là một lợi thế của Nhật Bản trong việc hìnhthành và duy trì khả năng tiết kiệm cao trong dân chúng

Chi phí sử dụng vốn thấp cũng quyết định đến tỷ lệ đầu tư của các xí nghiệp trongcác kế hoạch đầu tư dài hạn của Nhật Bản Thực tế những năm trước đây, Nhật Bản chưa

hề có thị trường chứng khoán và các công ty chưa hề bán cổ phiếu để huy động vốn Dovậy, các Công ty buộc phải cố gắng duy trì mối quan hệ với một Ngân hàng để cùng cólợi Nhờ thế Ngân hàng có thể thu thập các số liệu về các công ty dễ dàng thay vì phải trảchi phí để tìm hiểu khách hàng khi cho vay Ngoài ra với các ngành công nghiệp đượcxem là quan trọng như năng lượng, giao thông, thép…được hưởng các ưu đãi đặc biệt củaChính phủ như vay tiền của Nhà nước với lãi suất thấp trong thời gian dài

1.4.1.3 Mỹ

Ở Mỹ tiền lương được thanh toán hầu hết qua tài khoản Ngân hàng, qua đó Ngânhàng đã thu hút được một lượng vốn khá lớn từ hình thức này Các Ngân hàng đều liênkết với nhau trong phát hành, thanh toán thẻ NHTW Mỹ (FED) đã nhất thể hóa và độcquyền phát hành thẻ quốc gia Nghiệp vụ thẻ phát triển rất đa dạng với nhiều tính năngvượt trội như thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, thanh toán học phí…các loại hình thẻ tíndụng, thẻ ghi có…đã đáp ứng được nhu cầu thanh toán của người dân

Ngoài ra, các doanh nghiệp tại Mỹ thường sử dụng thanh toán không dùng tiềnmặt, hầu hết các khoản thu trong ngày đều nộp vào Ngân hàng nên tập trung được nguồnvốn tạm thời lớn để kinh doanh

Bên cạnh các dịch vụ Ngân hàng truyền thống, các Ngân hàng tại Mỹ rất quan tâmđến việc đa dạng hóa dịch vụ Từ việc bán bảo hiểm hay thu cước điện thoại cũng nhưthanh toán tiền điện, nước, mua vé máy bay, bạn cũng có thể giao dịch tại Ngân hàng.Qua đó, Ngân hàng đã huy động được một lượng vốn lớn để hoạt động kinh doanh cóhiệu quả mà không tốn kém nhiều chi phí

1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Qua kinh nghiệm một số nước trong khu vực và thế giới, định hướng phát triển côngnghiệp hóa ở Việt Nam gần giống với các nước ASEAN, diễn ra trong môi trường quốc tế

Trang 36

thuận lợi, nền kinh tế thế giới đang trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Từchính sách kinh tế và sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong tiến trình công nghiệphóa cần rút ra những bài học kinh nghiệm sau :

- Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt

Việc thanh toán bằng tiền mặt ở nước ta hiện nay chủ yếu do thói quen sử dụng tiềnmặt trong thanh toán, đồng thời các dịch vụ thanh toán điện tử của NHTM đang cònchậm Chính vì vậy các Ngân hàng thương mại cần đa dạng các dịch vụ, hiện đại hóa hìnhthức không dùng tiền mặt, như thẻ thanh toán cá nhân, thẻ thương mại, thanh toán quamobile, internet… Bảo đảm tính thuận tiện của hạ tầng thanh toán, phát triển mạng lướichấp nhận phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt Hệ thống thanh toán gồm cácmáy ATM, đặc biệt là các điểm chấp nhận thanh toán, không nên chỉ tập trung ở cáckhách sạn, nhà hàng, siêu thị lớn như hiện nay mà nên đầu tư lắp đặt phổ biến ở mọivùng miền để người dân thấy được tiện ích, sử dụng…

- Đa dạng hóa hình thức huy động

Hiện nay, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn Để khai tháctốt nguồn vốn này thì các NHTM cần đa dạng hóa các hình thức huy động Trong đó, cầnphát triển các công cụ huy động như: tiền gửi, tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tráiphiếu, tiết kiệm đảm bảo theo vàng, tiết kiệm dự thưởng…Bên cạnh đó cần phải đa dạnghóa cả phương thức trả gốc, phương thức trả lãi, không chỉ chú trọng đến những món lớn

mà cả những món huy động nhỏ lẻ với phương châm “năng nhặt, chặt bị”

- Có chính sách chăm sóc khách hàng mềm dẻo, linh hoạt

Các NHTM cần phải có chính sách khách hàng đúng đắn đó là: thu hút, mở rộng kháchhàng mới, duy trì, củng cố khách hàng truyền thống đảm bảo sự phát triển bền vững

+ Có một bộ phận quản lý khách hàng, đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ duy trì các mốiquan hệ thường xuyên với khách hàng, đưa ra các chính sách khách hàng kịp thời Bộ phậnnày làm luôn cả nghiên cứu khách hàng, tìm hiểu khả năng, sở thích và nhu cầu của họ + Chủ động tham gia vào xem xét các chiến lược, hoạch định kinh doanh của doanhnghiệp nhằm giúp đỡ doanh nghiệp khắc phục những khó khăn yếu kém, tạo mối quan hệlâu dài

+ Những khách hàng lâu năm có số dư tiền gửi lớn, thường xuyên giao dịch thì Ngânhàng có chính sách ưu tiên về lãi suất, phí dịch vụ

+ Thường xuyên thu thập ý kiến khách hàng qua phiếu thăm dò ý kiến

Trang 37

- Nâng cao chất lượng dịch vụ

Các NHTM tại Việt Nam nên liên kết với nhau trong dịch vụ thẻ nhằm tiết kiệm chiphí, mang lại tiện ích cho khách hàng Qua đó tất cả các khách hàng dùng thẻ rút tiền tựđộng của mỗi Ngân hàng khác nhau có thể giao dịch ở tất cả các máy ATM

- Đổi mới công nghệ cũng như chú trọng đào tạo nguồn nhân lực

Để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như nâng cao được tốc độ thanh toán, giaodịch nhất thiết các NHTM phải không ngừng đổi mới công nghệ nhằm hạn chế lượng tiềnmặt trong lưu thông và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt Đồng thời, cũng cầnchú trọng đầu tư nhân lực để đáp ứng và vận hành tốt công nghệ đó

- Chú trọng công tác tuyên truyền, quảng cáo

Để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng nhanh nhất và rộng rãi nhất thì cácNHTM phải chú trọng đầu tư vào công tác tuyên truyền, quảng cáo Qua đài, báo,internet, pano, áp phích người dân có thể so sánh được lợi thế, ưu điểm của các sản phẩmgiữa các Ngân hàng với nhau từ đó lựa chọn cho mình sản phẩm tốt nhất

Bên cạnh đó, đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính nhằm khai thông vốn trongnước, đồng thời thu hút tư bản nước ngoài để đáp ứng vốn và kỹ thuật cho quá trình côngnghiệp hóa Bên cạnh đó, Chính phủ cần có biện pháp mở cửa đồng bộ cắt giảm thuếquan, chính sách ưu đãi tín dụng… để nâng cao chất lượng tín dụng

Trong thời gian gần đây, có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng khối nội trongviệc chạy đua lãi suất để lôi kéo khách hàng Các ngân hàng này gần như không có nhiềuthời gian tập trung vào nghiệp vụ, phát triển sản phẩm và đặc biệt là chăm sóc kháchhàng Trong khi đó, chiến lược khối ngoại lại tập trung ở các nghiệp vụ ngân hàng bán

lẻ, các dịch vụ tài chính toàn cầu, ngoại hối và thanh toán quốc tế với đội ngũ nhân viênrất chuyên nghiệp…Đây mới thực sự là tiêu chí để giữ được khách hàng lâu dài

Theo tôi, các ngân hàng Khối ngoại có vẽ lại được bức tranh thị phần hay không, điều

đó còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp chặt chẽ của hệ thống ngân hàng trong nướctrong việc không ngừng vận động và tự thân mình phát triển

Từ đặc điểm kinh tế xã hội Việt Nam cùng với việc phát huy những kinh nghiệm quýbáu là những bài học cần thiết để phát triển hệ thống ngân hàng, khai thác, huy động và sửdụng vốn có hiệu quả trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa Việt Nam

Ngày đăng: 05/10/2014, 08:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm (2008_ 2010) - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 1 Tình hình huy động vốn qua các năm (2008_ 2010) (Trang 46)
Bảng 2: Hoạt động cho vay của Techcombank Đống Đa - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 2 Hoạt động cho vay của Techcombank Đống Đa (Trang 47)
Bảng 4: Cơ cấu nguòn huy động theo phương thức huy động - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 4 Cơ cấu nguòn huy động theo phương thức huy động (Trang 56)
Bảng 5: Cơ cấu  nguốn vốn huy động theo thời gian - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 5 Cơ cấu nguốn vốn huy động theo thời gian (Trang 59)
Bảng 6: Cơ cấu nguồn huy động vốn theo thành phần kinh tế - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 6 Cơ cấu nguồn huy động vốn theo thành phần kinh tế (Trang 61)
Bảng 7:Cơ cấu nguồn huy động vốn phân theo loại tiền tệ - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 7 Cơ cấu nguồn huy động vốn phân theo loại tiền tệ (Trang 63)
Bảng 8: Các sản phẩm huy động vốn PGD Techcombank Đống Đa - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 8 Các sản phẩm huy động vốn PGD Techcombank Đống Đa (Trang 65)
Bảng 10: Hiệu quả huy động vốn theo chỉ tiêu về cơ cấu sử dụng vốn - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 10 Hiệu quả huy động vốn theo chỉ tiêu về cơ cấu sử dụng vốn (Trang 67)
Bảng 11: Hiệu quả huy động vốn theo chỉ tiêu chi phí huy động vốn - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 11 Hiệu quả huy động vốn theo chỉ tiêu chi phí huy động vốn (Trang 69)
Bảng 12: Hiệu quả huy động vốn theo chỉ tiêu sinh lời của vốn huy động - giải pháp nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại phòng giao dịch techcombank đống đa_ hà nội
Bảng 12 Hiệu quả huy động vốn theo chỉ tiêu sinh lời của vốn huy động (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w