Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệpchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong nhiều năm qua nước ta n
Trang 1Họ và tên : Cao Thị Hà
Sinh ngày : 10/10/1966
Quê quán : Xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ AnHọc viên lớp : Cao học Kinh tế - Khóa 16
Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội
Xin cam đoan: Luận văn “Vai trò Nhà nước trong xã hội hóa
y tế ở Việt Nam (lấy ví dụ trên địa bàn tỉnh Nghệ An)” là do tựbản thân tôi nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và xây dựng
Tôi xin cam đoan và chịu toàn bộ trách nhiệm về tính trungthực cũng như sự hợp pháp của vấn đề nghiên cứu
NGƯỜI CAM ĐOAN
Cao Thị Hà
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG XÃ HỘI HOÁ Y TẾ Ở VIỆT NAM 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về xã hội hoá y tế 5
1.1.1 Quan niệm về xã hội hoá và xã hội hoá y tế 5
1.1.2 Nội dung của xã hội hoá y tế 8
1.1.3 Vai trò của xã hội hoá y tế: 12
1.2 Tính tất yếu khách quan, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam 14
1.2.1 Tính tất yếu khách quan của vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam 14
1.2.2 Nội dung vai trò của nhà nước trong xã hội hoá y tế: 18
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò quản lý của nhà nước đối với công tác xã hội hoá y tế 22
1.3 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát huy vai trò của Nhà nước trong xã hội hóa y tế 28
1.3.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 28
1.3.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 29
1.3.3 Một số bài học cho địa phương Nghệ An 33
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG XÃ HỘI HOÁ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 35
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình xã hội hóa y tế trên địa bàn Nghệ An 35
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân số có ảnh hưởng đến xã hội hoá y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An 35
2.1.2 Tình hình xã hội hóa y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An 38
Trang 32.2.1 Về chỉ đạo triển khai các văn bản pháp quy của Nhà nước 40
2.2.2 Về phát triển mạng lưới y tế: 52
2.2.3 Về nguồn nhân lực y tế 59
2.2.4 Về công tác tổ chức liên kết giữa các cơ sở y tế trong khám, chữa bệnh cho người dân 61
2.2.5 Về công tác tổ chức phối hợp giữa cơ sở y tế với tổ chức bảo hiểm và người bệnh trong việc giải quyết các quan hệ tài chính liên quan đến việc khám, chữa bệnh 66
2.2.6 Về công tác thanh tra, kiểm tra của Sở Y tế và các cơ quan chức năng đối với các cơ sở y tế 74
2.3 Đánh giá chung về thực trạng vai trò của Nhà nước trong xã hội hoá y tế trên địa bàn Nghệ An 77
2.3.1 Thành tựu 77
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại 82
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG XÃ HỘI HÓA Y TẾ Ở VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG XÃ HỘI HOÁ Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN NGHỆ AN 84
3.1 Định hướng tăng cường vai trò Nhà nước trong xã hội hóa y tế ở Việt Nam nói chung 84
3.1.1 Chiến lược quốc gia về y tế và chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ 84
3.1.2 Quan điểm của Nhà nước về xã hội hóa y tế ở Việt Nam 87
3.1.3 Phương hướng tăng cường vai trò Nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam 90
3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của Nhà nước trong xã hội hoá y tế trên địa bàn Nghệ An 92
3.2.1 Căn cứ đề xuất giải pháp phát huy vai trò Nhà nước trong xã hội hóa y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An 92
3.2.2 Một số đề xuất về giải pháp 100
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4ATVSTP An toàn vệ sinh thực phẩm
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
BHYT BB Bảo hiểm y tế bắt buộc
BHYT TN Bảo hiểm y tế tự nguyện
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ĐKKV Đa khoa khu vực
ĐD Điều dưỡng
ĐDV Điều dưỡng viên
GMP Tiêu chuẩn sản xuất thuốc tốt GSP Tiêu chuẩn Bảo quản thuốc tốt GLP Tiêu chuẩn Kiểm nghiệm thuốc tốt HNĐK Hữu nghị đa khoa
HNYDTN Hành nghề y dược tư nhân
XHH BHYT Xã hội hoá Bảo hiểm y tế
YHCT Y học cổ truyền
Trang 5Bảng 2.1: Công suất sử dụng giường bệnh của các bệnh viện công lập: 56
Bảng 2.2: Cán bộ chuyên môn ngành y tế Nghệ An năm 2009 60
Bảng 2.3: Số người tham gia BHYT trên địa bàn Nghệ An (người) 68
Bảng 2.4: Mức đóng BHYT bình quân trên địa bàn Nghệ An (đồng/thẻ) 70
Bảng 2.5: Tổng thu BHYT tỉnh Nghệ An 71
Bảng 2.6: Chi phí khám chữa bệnh BHYT tỉnh Nghệ An 71
Bảng 2.7: Số thẻ BHYT do Nhà nước đảm bảo chi trả phí mua BHYT: 73
Bảng 2.8: Số thẻ BHYT do BHXH Nghệ An đã phát hành năm 2010: 74
Bảng 2.9: Ngân sách Nhà nước đầu tư cho y tế 77
Bảng 2.10: Kinh phí khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi: 78
Bảng 2.11: Tỷ lệ thu Viện phí, BHYT/chi thường xuyên (%): 79
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu y tế cơ bản của tỉnh Nghệ An 2010 – 2020 95
Trang 6TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá sự nghiệpchăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong nhiều năm qua nước ta nói
chung và tại tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
thể hiện bằng việc huy động các nguồn lực cho y tế; đa dạng hoá các loại hìnhdịch vụ CSSK; phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương, cácngành, các đoàn thể xã hội và toàn dân tham gia vào nhiệm vụ chăm lo sứckhoẻ Mạng lưới y tế ngày càng được củng cố và phát triển, nhiều dịch bệnhđược khống chế và đẩy lùi, các dịch vụ y tế ngày một đa dạng, nhiều côngnghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng, việc cung ứng thuốc và trang thiết bị
đã được tăng cường quản lý Nhân dân ở hầu hết các vùng, miền đã đượcchăm sóc sức khoẻ tốt hơn trước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ nhân dân vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và yếu kém: hệthống y tế chậm đổi mới chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật, chất lượng dịch vụ y tếchưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân; điều kiệnchăm sóc y tế cho người nghèo, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số cònnhiều khó khăn; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc còn yếu; vệ sinh môitrường, an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát đúng mức,…
Nguyên nhân chính của những yếu kém trên là do QLNN về lĩnh vực y
tế còn nhiều bất cập, việc quản lý KCB và hành nghề y dược tư nhân chưachặt chẽ; việc phân bổ và sử dụng nguồn lực trong y tế còn chưa hợp lý, kémhiệu quả Cán bộ lãnh đạo quản lý ngành y tế chưa năng động sáng tạo, chưa
có giải pháp hữu hiệu để huy động các nguồn lực từ cộng đồng và xã hội chocông tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân,
Trang 7Với mong nuốn vận dụng kiến thức đã được học vào thực tiễn và có
những đóng góp thiết thực cho địa phương, tôi chọn đề tài "Vai trò Nhà nước
trong xã hội hóa y tế ở Việt Nam (Lấy ví dụ trên địa bàn tỉnh Nghệ An)".
Về mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn phân tích, làm rõ cơ sở
lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nước trong công tác XHHYT; khảo sát,đánh giá thực trạng vai trò của nhà nước trong công tác xã hội hoá y tế trênđịa bàn tỉnh Nghệ An và đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằmphát huy, tăng cường vai trò QLNN trong công tác XHHYT
Về cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: Luận văn sửdụng phương pháp phổ biến của khoa học kinh tế là phương pháp duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ ChíMinh, phương pháp trừu tượng hoá, kết hợp sử dụng nhiều phương pháp cụthể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê so sánh,đồng thời sử dụng phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, kếthợp với khảo sát thực tế, thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho việc nghiêncứu làm sáng tỏ cho chủ đề của luận văn
2 Những kết quả đạt được và phương pháp nghiên cứu:
Thứ nhất, luận văn đã nghiên cứu và trình bày cơ sở lý luận vai trò
Nhà nước trong XHHYT ở Việt Nam
Vấn đề này bắt nguồn từ tình hình đặc điểm của hoạt động XHHYT là
có nhiều tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gianên rất cần đến vai trò của nhà nước với tư cách là người nhạc trưởng để thựchiện sự điều tiết và phối hợp chung Có sự quản lý của Nhà nước để hạn chếkhắc phục những tồn tại, những mặt trái của cơ chế thị trường trong xã hộihóa việc cung cấp các dịch vụ y tế và tạo được hành lang pháp lý cho các dịch
vụ y tế phát triển thích ứng và phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế
Trang 8Từ những cơ sở lý luận chung, luận văn trình bày vai trò Nhà nướctrong xã hội hóa y tế với một số nội dung cơ bản là:
Trước hết, Nhà nước phải xây dựng được chiến lược quốc gia về xã hộihóa y tế, gắn với đó là xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới y tế quốc gia
Với mục tiêu phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chămsóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế cóchất lượng; mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt
về thể chất và tinh thần; giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ
và phát triển giống nòi Nhất thiết nhà nước phải xây dựng được chiến lượcquốc gia về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, thực chất là chiến lược xã hội hóa y
tế của đất nước Trong bối cảnh hội nhập, gia nhập WTO, phải thực hiệnnhững cam kết với WTO trong lĩnh vực dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ y tế) thìviệc xây dựng chiến lược XHHYT càng trở nên cấp bách Đi đôi với việc xâydựng chiến lược, việc quy hoạch và xây dựng mạng lưới y tế trên phạm vi cảnước cũng vô cùng quan trọng Mạng lưới y tế cần bố trí và phát triển mộtcách hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới, kết hợp phát triển y tếcộng đồng với phát triển y tế chuyên sâu, thực hiện đông - tây y kết hợp, gắnphòng bệnh với chữa bệnh, phục hồi chức năng và rèn luyện thể lực nhằmphục vụ tốt nhất việc CSSK cho nhân dân, giảm tỉ lệ mắc bệnh, nâng cao thểlực, tăng tuổi thọ người dân
Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức
và cá nhân của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ y tế; liên kết hoạt độngcủa các tổ chức và cá nhân nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng CS&BVSKcho nhân dân
Nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các thànhphần kinh tế: nhà nước, tư nhân và các tổ chức xã hội trong và ngoài nước giacung ứng DVYT Cơ chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõ những mảng dịch
Trang 9vụ y tế cần khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài nhànước, chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các điều kiện vật chất, cácchính sách đào tạo, kiểm tra và kiểm soát, Nhà nước cần tạo ra một môitrường pháp lý chung cho tất cả các đơn vị cung ứng dịch vụ y tế, đảm bảomột sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cung ứng dịch vụ y tế
Đồng thời Nhà nước phải quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các
tổ chức và cá nhân cung ứng DVYT vì Nhà nước là người chịu trách nhiệmcuối cùng trước xã hội về số lượng cũng như chất lượng DVYT kể cả các dịch
vụ y tế được thực hiện bởi các công ty tư nhân hay các tổ chức KT-XH, nênNhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữalợi ích của Nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cá nhân tham giacung ứng dịch vụ y tế Do vậy Nhà nước phải thực hiện quản lý, kiểm tra,giám sát hoạt động của các tổ chức và cá nhân cung ứng DVYT
Nhà nước vừa với tư cách là một cơ quan quản lý, lại vừa với tư cách
là một chủ thể giữ vai trò nòng cốt trong việc cung ứng DVYT Nhà nướcchịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng DVYT trong các trường hợp mà chỉ có cơ
sở nhà nước với sự tập trung đội ngũ chuyên môn và trang thiết bị hiện đại,đắt tiền mới có đủ trình độ chuyên môn để làm Nhà nước với vai trò chủ đạocủa mình, cũng trực tiếp cung ứng các DVYT thuộc các lĩnh vực và địa bànkhông thuận lợi cung ứng (ví dụ vùng sâu, vùng xa) mà thị trường không thểhoặc không muốn tham gia do chi phí quá lớn hay không có lợi nhuận Cácđơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập để cung ứng như các bệnh viện vàtrung tâm y tế…hoạt động theo cơ chế của đơn vị sự nghiệp công tự chủ tàichính nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận Ban đầu, nhà nước đầu tư cho cácđơn vị đó, sau đó họ sẽ tự trang trải và khi cần thiết có thể nhận được sự hỗtrợ bù đắp của nhà nước
Trang 10Thứ hai, luận văn khảo sát thực trạng về vai trò nhà nước trong
XHHYT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, là một tỉnh đất rộng người đông (diệntích đứng thứ nhất, chiếm 5% diện tích tự nhiên cả nước; dân số trên 3 triệungười, đứng thứ 4, chiếm 3,5% dân số cả nước) và là trung tâm KT-XH củavùng Bắc Trung bộ
Với một tỉnh nghèo, dân số đông, địa hình phức tạp như tỉnh Nghệ An
để làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.Trong khi hệ thống khám chữa bệnh phần lớn bị xuống cấp về cơ sở vật chất,trang thiết bị, đội ngũ cán bộ y tế nhiều nơi chưa đạt chuẩn (thiếu về số lượng
và yếu về chất lượng), một số dịch bệnh, bệnh xã hội vẫn tiềm ẩn Nhưngcông tác XHHYT trên địa bàn Nghệ An được Tỉnh ủy, UBND tỉnh, ngành Y
tế và các ngành chức năng đặc biệt quan tâm chỉ đạo thực hiện nên có nhiềubước phát triển mạnh
Vai trò Nhà nước trong XHHYT ở tỉnh Nghệ An được thể hiện cụ thểbằng việc chỉ đạo triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước về XHHYT Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Nghị quyết về nâng caochất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân tỉnh Nghệ Anđến năm 2010 và những năm tiếp theo; UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết địnhban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Ban thường vụTỉnh ủy; đã phê duyệt và triển khai nhiều đề án để củng cố ngành y tế và nângcao một bước chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân như các đề án:Tăng cường nguồn nhân lực ngành y tế; Tăng cường đưa bác sỹ về xã; Nângcao y đức tại các cơ sở khám chữa bệnh; Phát triển y- dược học cổ truyền tỉnhNghệ An giai đoạn 2009 - 2015; xây dựng quy hoạch mạng lưới khám, chữabệnh tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2020, đưa ra các chương trình hànhđộng với những mục tiêu cụ thể và phân công trách nhiệm cho các ban ngànhchức năng liên quan để phối hợp triển khai thực hiện
Trang 11UBND tỉnh Nghệ An đã chủ trương bố trí, ưu tiên đầu tư ở mức caonhất cho lĩnh vực y tế trong khả năng ngân sách của tỉnh Trên cơ sở chínhsách viện phí của Chính phủ, điều chỉnh một số khoản thu một phần viện phí,điều chỉnh khung giá các dịch vụ kỹ thuật phù hợp với tỷ lệ trượt giá và tìnhhình KT-XH của địa phương Đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến, hướng dẫnthực hiện Luật BHYT và các văn bản quy phạm pháp luật về BHYT.
Đồng thời thực hiện đa dạng hoá các loại hình khám chữa bệnh, tạođiều kiện cho hệ thống y tế ngoài công lập phát triển nhằm huy động đượcmột lực lượng cán bộ y tế đáng kể có trình độ, kinh nghiệm tâm huyết thamgia cung ứng dịch vụ y tế; huy động hàng ngàn tỷ đồng kinh phí xây dựng cơ
sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cao phục vụ nhân dân
Sự tham gia của y tế tư nhân vào lĩnh vực y tế tạo cơ chế cạnh tranhlành mạnh, giúp cho nhân dân có thể lựa chọn cơ sở và dịch vụ khám chữabệnh, qua đó thúc đẩy để các bệnh viện công lập phải có chuyển biến mạnh
mẽ hơn nữa cả về chất lượng, tinh thần thái độ phục vụ, thiết bị kỹ thuật đểđáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người bệnh và phát huy vai trò chủ đạocủa y tế nhà nước
Tuy nhiên luận văn cũng chỉ ra những tồn tại hạn chế về vai trò Nhànước trong xã hội hoá y tế trong thời gian qua Đó là NSNN đầu tư cho y tếvẫn còn thấp và chưa được phân bổ hợp lý; Đội ngũ cán bộ chưa đồng bộ về
cơ cấu và chất lượng chưa cao; Nhân lực ở nhiều cơ sở y tế còn thiếu về sốlượng và yếu về chất lượng; Tinh thần và thái độ phục vụ của một bộ phậncán bộ y tế còn yếu; Diện bao phủ của BHYT còn thấp, người tham giaBHYT TN chưa nhiều; Các cơ quan chức năng của tỉnh chưa kiểm tra, kiểmsoát được tốt hoạt động hành nghề y- dược tư nhân; Sự phối kết hợp giữa cácngành, các cấp trong việc triển khai thực hiện XHH y tế chưa đồng bộ, hiệuquả chưa cao; Công tác quản lý XHHYT còn nhiều bất cập cả trong định
Trang 12hướng, quy hoạch và chỉ đạo thực hiện; Các cơ sở y tế công lập chưa mạnhdạn thực hiện cơ chế tự chủ, vẫn còn nặng về cơ chế bao cấp, trông chờ vàoNSNN; Các cơ sở y tế tư nhân còn nhỏ bé, hoạt động còn mang nặng tínhthương mại
Thứ ba, căn cứ Chiến lược quốc gia về y tế và chăm sóc, bảo vệ sức
khoẻ và quan điểm của Nhà nước về xã hội hóa y tế ở Việt Nam, Chiến lượcphát triển KT-XH tỉnh Nghệ An đến năm 2020 và dự báo nhu cầu về cácDVYT ở tỉnh Nghệ An đến năm 2020, qua nghiên cứu thực trạng về XHHYTcủa tỉnh Nghệ An và kinh nghiệm của một số tỉnh bạn, luận văn xác địnhphương phát huy vai trò Nhà nước trong XHHYT và đề xuất một số giải phápchủ yếu nhằm phát huy vai trò Nhà nước trong XHHYT trên địa bàn Nghệ Annhư sau:
Một là, hoàn thiện và đồng bộ hoá hệ thống văn bản pháp quy và chínhsách đối với hoạt động y tế cho phù hợp, tạo điều kiện cho các dịch vụ y tếphát triển và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ;
Hai là, hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch tăng cường XHHYT;
Ba là, Duy trì bộ máy triển khai xã hội hoá y tế từ tỉnh đến huyện, xã; Bốn là, tăng cường sự kết hợp y tế công lập và y tế tư nhân trên địabàn, tạo điều kiện để y tế công lập và y tế tư nhân vừa cạnh tranh đồng thờivừa hỗ trợ nhau để cùng phát triển
Năm là, xã hội hóa dịch vụ bảo hiểm y tế, đẩy mạnh tăng cường diệnbao phủ BHYT, tiến tới thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 theo đúng lộtrình đã định
Sáu là, giải quyết các quan hệ về tài chính trong việc cung ứng các dịch
vụ y tế;
Bảy là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động dịch
vụ y tế trên địa bàn và một số giải pháp trong lĩnh vực truyền thông
Trang 133 Những điểm mới và hạn chế của luận văn:
Điểm mới của Luận văn là lần đầu tiên đề cập trực diện đến vai trò Nhànước trong xã hội hoá y tế, đã rút ra những thành tựu và tồn tại, đã khái quáthoá một số vấn đề lý luận và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai tròNhà nước trong xã hội hoá y tế, nhất là trên địa bàn Nghệ An
Tuy nhiên, do điều kiện công tác, tác giả không thể tìm hiểu hết đượctình hình thực tế ở tất cả các tỉnh, các vùng miền khác nhau trên phạm vi cảnước Nên việc khảo sát, phân tích, đánh giá, tổng hợp mới chỉ nêu lên đượcnhững nét chung nhất mà chưa thật sâu sắc và đầy đủ, do vậy luận văn vẫncòn nhiều thiếu sót, phiến diện
Xã hội hoá y tế là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, bước đầu
đã đi vào cuộc sống, người dân đã có được những cơ hội để lựa chọn cơ sởkhám chữa bệnh phù hợp với từng loại bệnh và khả năng kinh tế của mình.Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động XHHYT chưa đápứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra Nhà nước cần phải tăng cường sự quản lý,giám sát, thường xuyên thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện, uốn nắnnhững sai phạm trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá y tếmột cách đồng bộ từ trung ương đến tỉnh, huyện, xã Tạo điều kiện thuận lợicho hoạt động xã hội hoá y tế phát triển đúng hướng và có những đóng gópthiết thực trong đời sống nhân dân./
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài:
Xã hội hoá công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một quanđiểm, một chủ trương lớn, cơ bản, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta, có ýnghĩa hết sức quan trọng trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp, huy độngmọi nguồn lực (nhân lực, tài lực, trí tuệ) để đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ mới, thời
kỳ đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta từng bước tiến kịp các nước phát triểntrong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới
Thực hiện chủ trương XHH sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻnhân dân, trong nhiều năm qua nước ta nói chung và tại tỉnh Nghệ An nóiriêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thể hiện bằng việc huy độngcác nguồn lực cho y tế; đa dạng hoá các loại hình dịch vụ CSSK; phát huytính chủ động, sáng tạo của các địa phương, các ngành, các đoàn thể xã hội vàtoàn dân tham gia vào nhiệm vụ chăm lo sức khoẻ Mạng lưới y tế ngày càngđược củng cố và phát triển, nhiều dịch bệnh được khống chế và đẩy lùi, cácdịch vụ y tế ngày một đa dạng, nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứngdụng, việc cung ứng thuốc và trang thiết bị đã được tăng cường quản lý Nhândân ở hầu hết các vùng, miền đã được CSSK tốt hơn trước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được công tác chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ nhân dân vẫn còn tồn tại nhiều bất cập và yếu kém Hệ thống
y tế chậm đổi mới chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa và sự thay đổi của cơ cấu bệnh tật, chất lượng dịch vụ y tế chưađáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của nhân dân; điều kiện chăm sóc
y tế cho người nghèo, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khókhăn; năng lực sản xuất và cung ứng thuốc còn yếu; vệ sinh môi trường, an
Trang 15toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ, Nguyên nhân chính củanhững yếu kém trên là do quản lý nhà nước về lĩnh vực y tế còn nhiều bấtcập, việc quản lý khám chữa bệnh và hành nghề y dược tư nhân chưa chặtchẽ; việc phân bổ và sử dụng nguồn lực trong y tế còn chưa hợp lý, kém hiệuquả Cán bộ lãnh đạo quản lý ngành y tế chưa năng động sáng tạo, chưa cógiải pháp hữu hiệu để huy động các nguồn lực từ cộng đồng và xã hội chocông tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân Đội ngũ cán bộ y tế còn yếu
và thiếu, cơ cấu chưa hợp lý, chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng Vai trò của cáccấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đến công tác bảo vệ và nâng cao sứckhoẻ nhân dân nhiều nơi còn trông chờ vào bao cấp nhà nước,
Ngành y tế cần có nhiều chuyển đổi trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa để đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhoẻ nhân dân Từ cơ chế quản lý y tế mang nặng dấu ấn của thời bao cấpđang được chuyển sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích, có đủ quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính Đẩy mạnh chủ trương XHH nhằm huy động mọi nguồn lực đểđầu tư cho y tế và quản lý tốt các nguồn lực đó để tạo điều kiện cho ngành y
tế phát triển nhanh hơn và chất lượng cao hơn theo định hướng công bằng,hiệu quả
Là một cán bộ công tác trong ngành, với mong nuốn vận dụng kiếnthức đã được học vào thực tiễn và có những đóng góp thiết thực cho địa
phương, tôi chọn đề tài " Vai trò Nhà nước trong xã hội hóa y tế ở Việt Nam (Lấy ví dụ trên địa bàn tỉnh Nghệ An)" để viết luận văn thạc sỹ.
II Tổng quan về tình hình nghiên cứu:
Trên phạm vi cả nước, đã có một số công trình nghiên cứu , bài báo bànluận về chủ trương XHH, song hiện vẫn còn rất ít tài liệu đề cập đến vai tròcủa QLNN trong lĩnh vực này về các khía cạnh khác nhau có liên quan đếnQLNN trong công tác XHH nói chung và XHHYT nói riêng
Trang 16Đặc biệt trên phạm vi địa phương, chưa có một công trình nào bàn luận
một cách có hệ thống, bài bản và đi trực diện vào đề tài " Vai trò Nhà nước trong xã hội hóa y tế ở Việt Nam (Lấy ví dụ trên địa bàn tỉnh Nghệ An)"
III Mục đích, nhiệm vụ khoa học của việc nghiên cứu đề tài luận văn:
1 Mục đích của luận văn:
Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của QLNN trongcông tác XHHYT nói chung và qua đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnhNghệ An thông qua khảo sát, đánh giá về thực trạng và đưa ra những đề xuất,kiến nghị nhằm phát huy vai trò của các cơ quan QLNN các cấp để phát triểnlành mạnh, đúng hướng công tác XHHYT trên địa bàn tỉnh Nghệ An
2 Nhiệm vụ khoa học của đề tài luận văn:
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nhà nướctrong công tác xã hội hoá y tế
- Khảo sát, đánh giá thực trạng vai trò của nhà nước trong công tác xãhội hoá y tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy, tăngcường vai trò QLNN trong công tác XHHYT trên địa bàn tỉnh Nghệ An
IV Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn:
1 Về lý luận: Luận văn luận giải những vấn đề lý luận chung về vai tròcủa nhà nước trong xã hội hoá y tế
2 Về thực tiễn: Luận văn lấy địa bàn Nghệ An làm thực tiễn để klhảosát về thực trạng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị
3 Về thời gian: Luận văn đề cập tới vai trò của quản lý nhà nước trongcông tác xã hội hoá y tế trong trạng thái vận động kể từ khi có chủ trương củaĐảng và Nhà nước về thực hiện xã hội hoá y tế đến nay
V Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp phổ biến của khoa học kinh tế làphương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin
Trang 17và tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp trừu tượng hoá, kết hợp sử dụngnhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phươngpháp thống kê so sánh, đồng thời sử dụng phương pháp kế thừa những kết quảnghiên cứu đã có, kết hợp với khảo sát thực tế, thu thập thông tin, tài liệuphục vụ cho việc nghiên cứu làm sáng tỏ cho chủ đề của luận văn.
VI Những đóng góp của luận văn:
- Làm rõ thực trạng xã hội hoá y tế Hệ thống hoá những vấn đề lý luận
về vai trò của nhà nước trong công tác xã hội hoá y tế
- Đánh giá thực trạng vai trò của quản lý nhà nước trong công tác xãhội hoá y tế trên cả 2 mặt: Thành tựu, tồn tại và nguyên nhân của những thànhtựu, tồn tại đó
- Đề xuất nhứng kiến nghị về phương hướng và giải pháp cơ bản nhằmphát huy vai trò quản lý của nhà nước trong công tác xã hội hoá y tế trên địabàn tỉnh Nghệ An
VII Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nhà nước trong xã hội
hoá y tế ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế trên địa
bàn Nghệ An
Chương 3: Định hướng tăng cường vai trò nhà nước trong xã hội hoá y
tế ở Việt Nam nói chung và giải pháp chủ yếu nhằm pháthuy vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế trên địa bàn tỉnhNghệ An
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ
NHÀ NƯỚC TRONG XÃ HỘI HOÁ Y TẾ Ở VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề cơ bản về xã hội hoá y tế
1.1.1 Quan niệm về xã hội hoá và xã hội hoá y tế.
Ở Việt Nam những năm qua, có một thực tế là thuật ngữ “xã hội hoá”được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước cũng nhưtrên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng cho đến nay chưa có mộtkhái niệm (định nghĩa) thống nhất về “xã hội hoá”, chính xác hơn là chưa có
sự giải nghĩa đầy đủ về nội hàm của thuật ngữ này Chính điều này đã gây ranhững khó khăn không nhỏ trong việc quán triệt và thực hiện ở một số lĩnhvực nằm trong chủ trương xã hội hóa mà nhà nước đề ra, trong đó có lĩnh vực
y tế Cách hiểu thông thường nhất là dùng nghĩa của từ “xã hội” cộng vớinghĩa của từ “hoá”, như các cách giải thích sau đây: (1) hoạt động sản xuất-kinh doanh là hoạt động không thể tự một người hay một gia đình làm được,
mà là một hoạt động có tổ chức và có tính tập thể cao; (2) hoạt động do nhànước quyết định, điều động và kiểm soát- huy động mọi người làm chung; (3)hoạt động chung có tính tự nguyện: như là tập thể người bỏ vốn vào công ty,quyền tuỳ thuộc số tiền bỏ vốn ra; hay là các hợp tác xã mà người lao độnglàm chung, quyết định chung mỗi người một phiếu giống nhau; hay (4) xã hộihoá là mỗi người tự đóng góp, tự lo, nhà nước có xu hướng giảm đi tráchnhiệm của mình Nhìn chung, nhiều cách hiểu về “xã hội hoá” còn ít nhiềuphiến diện, chưa làm rõ được bản chất của “xã hội hoá”
Đi tìm trong các từ điển tiếng Việt, không tìm thấy cuốn từ điển nào giảinghĩa đầy đủ cho thuật ngữ “xã hội hoá” trên tư cách là một thuật ngữ độclập Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy những sự giải nghĩa thuật ngữ “xã hội
Trang 19hoá” khi nó được ghép với các thuật ngữ khác như: “xã hội hoá sản xuất”; “xãhội hoá hình thức”; “xã hội hoá thực tế” Qua nghiên cứu các thuật ngữ trên
có thể suy ra một cách khái quát rằng: “Xã hội hoá” một hoạt động nào đó
chính là sự gia tăng tính chất “xã hội” của hoạt động ấy thông qua sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội dựa trên những điều kiện và trong khuôn khổ cơ chế nhất định Điều kiện và cơ chế cụ thể như thế nào là
phụ thuộc vào bối cảnh của xã hội hoá Những điều kiện và cơ chế đóng vaitrò then chốt đối với sự thành công của xã hội hoá Chúng quy định hình thức,phương thức “tham gia” của các chủ thể khác nhau trong xã hội vào hoạtđộng được xã hội hoá Như vậy, điều kiện và cơ chế gắn với bối cảnh xã hộihoá sẽ quyết định ý nghĩa của “xã hội hoá” trong bối cảnh ấy
Hiện nay, trong quá trình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá củaĐảng và Nhà nước vào thực tiễn; một hiện tượng nổi cộm cần phải khắc phục
đó là do chưa tìm hiểu kỹ nội dung về vấn đề này nên có một số địa phương,một số người còn có cách nhìn rất lệch lạc cho rằng xã hội hoá đơn thuần chỉ
là quá trình quyên góp tiền bạc của nhân dân hoặc bắt dân phải đóng góp theocách hiểu " Nhà nước và nhân dân cùng làm"
Không ít cán bộ lãnh đạo vẫn quan niệm rằng, xã hội hoá là huy độngtiền của trong nhân dân, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước Một sốkhác lại hiểu xã hội hoá là chuyển gánh nặng từ vai Nhà nước sang vai nhândân, chuyển cho cộng đồng tự lo liệu, dẫn đến sự buông lỏng quản lý, thiếuđầu tư vào các lĩnh vực hoạt động xã hội
Mặt khác trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội hoá; một số cán
bộ lại nhấn mạnh quá mức việc đa dạng hoá, đồng nhất khái niệm xã hội với
đa dạng hoá trong khi công tác quản lý còn yếu kém, không theo kịp dẫn đếntình trạnh "trăm hoa đua nở", đa dạng hoá một cách tuỳ tiện không kiểm soátđược Không ít cán bộ còn chưa nhận thấy được tầm quan trọng của sự phối
Trang 20hợp liên ngành trong xã hội hoá dẫn đến tình trạng một số ngành còn hoạtđộng theo xu hướng khép kín biệt lập; nhất là trong việc triển khai cácchương trình, dự án dẫn đến việc làm chồng chéo, lãng phí về nguồn lực
Thực hiện xã hội hoá y tế, tức xã hội hóa việc chăm sóc sức khoẻ nhândân sẽ làm chuyển biến về cơ bản cách tiếp cận đối với việc phát triển sứckhoẻ toàn dân, trong đó người dân giữ vai trò chủ động, tự giác và tích cực, tựquyết đinh lấy việc chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ bản thân, cộng đồngnơi họ đang sinh sống Bởi vậy mà tính chất bền vững của những hoạt độngnày sẽ đảm bảo hơn Họ không còn trông chờ ỷ lại vào nhà nước cấp trên,cũng không còn thực hiện một cách thụ động những quyết định từ trên áp đặtxuống nhiều khi không sát thực với nhu cầu sức khoẻ trong thực tiễn
Nhìn chung xã hội hoá y tế, hay xã hội hoá chăm sóc sức khoẻ nhân dân
là một sự chuyển đổi từ cách tiếp cận cũ sang cách tiếp cận mới làm cho sựnghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân thực sự là một sựnghiệp của dân, do dân, vì dân
Tuy nhiên, khái niệm xã hội hoá y tế cần phải được hiểu một cáchthống nhất Trên mỗi cương vị khác nhau, lại có có cách tiếp cận riêng vềkhái niệm xã hội hóa y tế
Về phương diện quản lý nhà nước, thì theo Viện Chiến lược và Chính
sách y tế - Bộ y tế, xã hội hóa y tế được hiểu là quá trình huy động sự tham gia
tự nguyện, có kế hoạch của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, các ban ngành đoàn thể, cá nhân, cộng đồng vào hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học Kinh tế chính trị xã hội hóa y tếthực chất là xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ y tế, một loại dịch vụ công.Trước đây ở Việt Nam, dịch vụ này chủ yếu do nhà nước cung ứng, nay cùngvới xu hướng khách quan của xã hóa sản xuất, dịch vụ y tế cũng cần đượcđược xã hội hóa để thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức, nhiều cá nhân
Trang 21thuộc các thành phần kinh tế khác nhau vào việc cung ứng dịch vụ này đểcùng với nhà nước thực hiện chương trình chăm sóc và bảo vệ sức khẻ chonhân dân.
Vì vậy, từ góc độ khoa học Kinh tế chính trị, có thể hiểu: xã hội hoá y
tế là quá trình liên kết các dịch vụ y tế của nhiều chủ thể, thuộc nhiều thành phần khác nhau thành một chương trình có tính xã hội đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đối với mọi tầng lớp dân cư
Mục tiêu của xã hội hoá y tế là tăng cường huy động nguồn lực cho y
tế, tạo cơ chế cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ y tế, bảo đảm tính hiệu quả,tính công bằng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Trongquá trình này Bộ y tế giữ vai trò nòng cốt, có trách nhiệm động viên, tuyêntruyền và quản lý việc cung ứng dịch vụ y tế của các tổ chức và cá nhân đểcho xã hội hóa y tế thực sự là một quá trình của xã hội và cũng vì sự pháttriển của xã hội
1.1.2 Nội dung của xã hội hoá y tế.
Nội dung xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người làđộng viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực chủ động của mọi người với tưcách cộng đồng và tư cách cá nhân trên cả hai mặt hoạt động và đóng góp; tăngcường sự phối hợp liên ngành và củng cố vai trò nòng cốt của Ngành Y tế
- Phát triển mạng lưới y tế với nhiều cấp độ, nhiều hình thức từ trung ương đến từng địa bàn ở các địa phương:
Thực hiện đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sứckhỏe (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân ) trong đó y tế Nhà nước có vaitrò chủ đạo, cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghềnghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới sự quản lý của Nhànước nhằm cung ứng dịch vụ ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớtsức ép về ngân sách cho Nhà nước Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân
Trang 22trong và ngoài nước thành lập các phòng khám, chữa bệnh nhân đạo Mở rộngcác dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, các nhà thuốc tư nhân, các quầy thuốc,
tủ thuốc tại trạm y tế xã phục vụ sức khỏe cộng đồng
Ða dạng hóa các loại hình CSSK: Cho phép thành lập các bệnh viện báncông, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, các xínghiệp dược phẩm tư nhân hoặc cổ phần Thực hiện tốt công tác quản lý Nhànước đối với các nhà thuốc tư nhân, các phòng khám bệnh và chẩn trị tư nhân,
kể cả các cơ sở chữa trị bằng y học cổ truyền
Nâng cao chất lượng mạng lưới y tế cơ sở, trước hết là đào tạo đủ y tá tạithôn bản, nữ hộ sinh và dược tá tại xã; có chính sách động viên bác sĩ, y sĩ,dược sĩ về công tác tại các cơ sở y tế xã
- Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong việc cung ứng dịch vụ y tế:
Xã hội hóa y tế để mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng vềnhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả cácnguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động y tế phát triển nhanhhơn, có chất lượng cao hơn, là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiệnchính sách xã hội của Ðảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời,chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạtđộng này Khi nhân dân ta có mức thu nhập cao, ngân sách Nhà nước đã dồidào vẫn phải thực hiện xã hội hóa, bởi vì giáo dục, y tế, văn hóa là sự nghiệplâu dài của nhân dân, sẽ phát triển không ngừng với nguồn lực to lớn củatoàn dân
Xã hội hóa không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước, giảmbớt phần ngân sách của Nhà nước, trái lại Nhà nước thường xuyên tìm thêmcác nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các hoạt động này, đồng thờiquản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó
Trang 23- Phát triển các quan hệ liên kết về chuyên môn giữa các cơ sở y tế trong khám, chữa bệnh: Ngoài việc phối hợp chặt chẽ, kịp thời, thường
xuyên giữa các cơ sở y tế các tuyến trong hệ thống công lập, còn liên kếtphối hợp tốt với hệ thống ngoài công lập để không ngừng nâng cao chấtlượng khám, chữa bệnh
Mặc dù hành nghề y là loại hành nghề đặc biệt và có điều kiện nghiêmngặt, nhưng hoạt động trong cơ chế thị trường, các cơ sở y tế tư nhân - do cơchế - buộc phải tính toán làm sao cho hiệu quả nhất Bởi vậy số giường, loạidịch vụ, các loại xét nghiệm, trang thiết bị đều được tính toán cẩn thận: về sốgiường, số nhân viên, nhận những bệnh gì, làm xét nghiệm gì, mua máy nào,giá xét nghiệm bao nhiêu, bệnh nào gửi đi, DVKT nào nhờ bệnh viện khác, Bên cạnh đội ngũ nhân viên làm việc thường xuyên, các bệnh viện tư thuêchuyên gia có trình độ cao (giáo sư, bác sỹ trưởng/phó khoa, các phẫu thuậtviên có kinh nghiệm, kíp mổ gây mê, ) đang làm việc tại các bệnh viện côngđến mổ hoặc chẩn đoán bệnh với hình thức khoán theo từng cas Sự kết hợpnày khiến cho bộ máy của cơ sở tư nhân bớt cồng kềnh, không phải chi phíquản lý tốn kém mà vẫn đạt hiệu quả cao trong điều trị cho người bệnh
Sự phát triển của khu vực tư nhân trong cung cấp dịch vụ và sự đóng gópcủa cá nhân vào các nguồn tài chính y tế là không thể phủ định và việc kếthợp giữa công và tư trong y tế đều cần thiết dể cải thiện chất lượng, hiệu quả
và công bằng trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
- Đa dạng hóa các loại hình bảo hiểm y tế
Sửa đổi chế độ thu viện phí cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hộihiện nay trên nguyên tắc giá viện phí được tính gần đủ các chi phí trực tiếpphục vụ người bệnh, song thực hiện từng bước để nhân dân có thể chấp nhận.Đồng thời sửa đổi chế độ BHYT cho phù hợp với giá viện phí, xóa bỏ sựphân biệt về chế độ điều trị giữa người nộp viện phí và người đóng BHYT
Trang 24Ða dạng hóa các mức đóng góp và quy định được chi từ quỹ BHYT tươngứng với mức và thời gian đóng góp Thực hiện cơ chế chi trả thích hợp, tránhtình trạng lạm dụng thẻ BHYT Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thuhút đông đảo nhân dân tham gia BHYT
Bảo hiểm y tế - bảo hiểm cho sức khoẻ là vô cùng quan trọng, đang từngbước bao phủ đến người dân, mở rộng đến cả người ăn theo của đối tượng.BHYTđang gặp trở ngại và thách thức lớn như: diện bao phủ thấp, đối tượngđóng chưa phải là toàn dân, nguy cơ bệnh hiểm nghèo gia tăng, ngân quỹkhông đáp ứng đủ Bởi vậy, phải tiến tới BHYT toàn dân, lấy số đông bù đắp,san sẻ số ít, xác định mức đóng phù hợp mới có khả năng trợ giúp kịp thờicho những người không may mắn bị bệnh hiểm nghèo có cơ hội được cứuchữa Vấn đề quan trọng là nhận thức của mọi người - phải hướng tới sự thamgia BHYTtoàn dân - khắc phục tình trạng khi biết bệnh rồi mới tham gia bảohiểm y tế
- Phối hợp giữa cơ sở y tế với tổ chức bảo hiểm và người dân trong giải quyết các quan hệ về tài chính có liên quan đến việc khám, chữa bệnh.
Phần lớn số người bệnh đi khám, chữa bệnh (nhất là người bệnh có thẻBHYT) không hài lòng bởi thủ tục hành chính rườm rà khiến người bệnh phảichờ đợi lâu; tinh thần phục vụ, ứng xử của cán bộ y tế chưa chu đáo, làmgiảm lòng tin của người dân khi khám và điều trị bằng BHYT Để giải quyếtvấn đề này các cơ sở khám chữa bệnh phối hợp với cơ quan BHYT phải nângcao tinh thần thái độ phục vụ người bệnh; cải cách thủ tục hành chính, giảmphiền hà trong đón tiếp, khám, chữa bệnh và thanh toán viện phí; nâng caochất lượng các dịch vụ y tế, bảo đảm quyền lợi của người bệnh có thẻ BHYT;chống lạm dụng thuốc, kỹ thuật, xét nghiệm, nhằm tiết kiệm nguồn lực y tế vàchi phí KCB
Trang 25Đối với người có thẻ BHYT, chi phí cho y tế của họ ngoài việc muaBHYT họ phải trả tiền cho các dịch vụ y tế nằm ngoài phạm vi thanh toán củaquỹ BHYT như: làm răng giả, thẩm mỹ, thuốc và vật tư y tế tiêu hao nằmngoài danh mục của BHYT, ngoài ra còn thực hiện cùng chi trả một phầnchi phí khám chữa bệnh theo quy định
Các nhóm dân cư có mức sống khác nhau, các vùng miền khác nhau cókhả năng chi trả chi phí các dịch vụ y tế cũng khác nhau và bệnh nhân nghèo
là người gặp khó khăn nhiều nhất khi phải đồng chi trả một phần viện phí Dovậy thực hiện phối hợp tốt giữa cơ sở y tế với tổ chức bảo hiểm và người dântrong giải quyết các quan hệ về tài chính có liên quan đến việc khám, chữabệnh là rất quan trọng để đảm bảo an sinh xã hội
1.1.3 Vai trò của xã hội hoá y tế:
Việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của mỗi ngườidân và của cả cộng đồng Ðây không chỉ là nhiệm vụ của riêng Ngành Y tế,
mà còn là trách nhiệm của các cấp uỷ Ðảng và Chính quyền, của các đoàn thểquần chúng và tổ chức xã hội Vì vậy thực hiện xã hội hóa công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế của thời đại Thực hiện xã hội hóa y tế là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãicủa nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển sự nghiệp chăm sócsức khoẻ nhân dân nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về chăm sóc sứckhoẻ và sự phát triển về thể chất, tinh thần của nhân dân, tạo điều kiện giúpcho mạng lưới y tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, góp phần giảm tải y tế nhànước trong hoạt động khám, chữa bệnh
Nhiều hoạt động, phong trào y tế được củng cố và phát triển, góp phầntích cực vào công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân như phong tràoxây dựng làng văn hoá sức khoẻ, các mô hình hoạt động từ thiện của hội chữthập đỏ, phong trào hiến máu nhân đạo, xe chuyển bệnh nhân cấp cứu,
Trang 26Thực hiện XHHYT là một nội dung trong chủ trương XHH các hoạtđộng giáo dục, y tế, văn hóa cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chínhsách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế của Ðảng và Nhànước Công bằng xã hội không chỉ biểu hiện về mặt hưởng thụ, tức là ngườidân được xã hội và Nhà nước chăm lo, mà còn biểu hiện cả về mặt người dânđóng góp, cống hiến cho xã hội theo khả năng thực tế của từng người, từngđịa phương
Thực hiện công bằng trong chính sách xã hội phải vận dụng các nguyêntắc điều chỉnh và ưu tiên, nhất là phải ưu tiên đối với người có công, phải trợgiúp người nghèo, vùng nghèo; người có công, có cống hiến nhiều hơn, được
xã hội, Nhà nước chăm lo nhiều hơn Công bằng xã hội trong việc huy độngcác nguồn lực của nhân dân vào các hoạt động văn hóa, xã hội không phải làhuy động bình quân mà là vận dụng cách huy động và mức huy động tùy theocác lớp người có điều kiện thực tế khác nhau, có mức thu nhập khác nhau.Những người thuộc diện chính sách xã hội của Ðảng và Nhà nước được miễn,giảm phần đóng góp Công bằng xã hội còn được thực hiện thông qua việcphát huy truyền thống "lá lành đùm lá rách", người giàu giúp người nghèo,vùng giàu giúp vùng nghèo Thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y
tế, văn hóa với quan niệm đúng đắn về công bằng xã hội chính là thực hiệnđịnh hướng xã hội chủ nghĩa theo đường lối của Ðảng
Vận động nhân dân tự giác tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe:các phong trào vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh, phòng dịch, bảo vệmôi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh,lành mạnh; tăng cường sử dụng y học cổ truyền dân tộc, nuôi, trồng cácloại cây, con làm thuốc Nhân dân tham gia đóng góp và chi trả cho cácdịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua chế độ viện phí, tham gia bảo hiểm y
tế tự nguyện
Trang 271.2 Tính tất yếu khách quan, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam.
1.2.1 Tính tất yếu khách quan của vai trò nhà nước trong xã hội hoá y tế ở Việt Nam.
- Tham gia vào xã hội hoá y tế gồm có nhiều tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế khác nhau nên rất cần đến vai trò của nhà nước với tư cách là người “nhạc trưởng” để thực hiện sự điều tiết và phối hợp chung.
Xã hội hoá y tế là quá trình vận động mọi tầng lớp xã hội tham gia vàoviệc cung cấp các dịch vụ y tế, nhằm biến mục tiêu của các chính sách bảo vệ
và chăm sóc sức khoẻ nhân dân thành những hoạt động xã hội cụ thể do cáctầng lớp nhân dân thực hiện góp phần cùng với các nỗ lực của nhà nước Xãhội hoá y tế là gắn y tế với xã hội với cộng đồng Xã hội hóa y tế là thể hiệnmối liên hệ phổ biến, có tính quy luật giữa y tế và cộng đồng xã hội Thiết lậpđược mối quan hệ này làm cho y tế phù hợp với sự phát triển của xã hội Việcchăm sóc và bảo vệ sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của
cả cộng đồng Ðây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành Y tế, mà còn làtrách nhiệm của các cấp uỷ Ðảng và Chính quyền, của các đoàn thể quầnchúng và tổ chức xã hội Vì vậy thực hiện xã hội hóa công tác chăm sóc vàbảo vệ sức khỏe nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế của thời đại Vai trò Nhà nước đối với xã hội hoá y tế được thực hiện thông qua quátrình tác động và điều chỉnh có tính vĩ mô của bộ máy nhà nước bằng luậtpháp, chính sách và các đòn bẩy kinh tế tới các tổ chức và cá nhân cung ứngcác dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân nhằm hướng hoạt động xã hộihoá y tế vào thực hiện những mục tiêu KT-XH đặt ra trong từng thời kỳ
Để thực hiện XHHYT, trước hết yêu cầu đặt ra là phải có trách nhiệmcao từ hai phía, đó là trách nhiệm của Nhà nước, bao gồm các tổ chức y tế củanhà nước, các cơ quan chức năng của nhà nước đối với sự nghiệp chăm sóc và
Trang 28bảo vệ sức khoẻ nhân dân và trách nhiệm của cộng đồng, của mỗi người dânđối với sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế đất nước, nền kinh tế nước tangày càng phát triển, đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, nhiều giađình đã tự túc về các nhu cầu giáo dục, y tế (như du học tự túc, khám chữabệnh ở các cơ sở tư nhân Xã hội càng phát triển, xu hướng toàn cầu hoá sẽlàm cho tình hình bệnh tật ngày càng đa dạng và gia tăng Trong khi hệ thống
y tế công lập chưa được đầu tư đúng mức về cơ sở vật chất và trang thiết bị
kỹ thuật, không phát huy được tính năng động, tự chủ và trách nhiệm, khôngđáp ứng được nhu cầu KCB và CSSKND: Đó là sự nhanh chóng và tiện lợitrong khám chữa bệnh, nhu cầu đa dạng và thuận tiện trong cung ứng thuốc,vật tư y tế Các cơ sở y tế ngoài công lập thì chưa nhiều, cơ sở vật chất cònđơn sơ nghèo nàn, đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu, chất lượng và hiệu quảhoạt động còn chưa cao, còn có những biểu hiện têu cực, thậm chí có những
cơ sở đã vi phạm pháp luật về hành nghề y tế tư nhân
Do đó thực hiện quan điểm và định hướng về thực hiện xã hội hoá y tếcủa Đảng và Nhà nước ta thì sự ra đời và phát triển của các loại hình dịch vụ
y tế, đổi mới chính sách về thu phí, y tế, là điều tất yếu Vì vậy cần tăngcường vai trò của nhà nước để tạo môi trường và hành lang pháp lý cho sựphát triển nhằm đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá vàthể dục thể thao nói chung và xã hội hoá y tế nói riêng
- Để hạn chế khắc phục những tồn tại, những mặt trái của cơ chế thị trường trong xã hội hóa việc cung cấp các dịch vụ y tế cần phát huy vai trò của nhà nước:
Dịch vụ y tế có rất nhiều loại hình và mỗi loại hình có những điều kiệnhành nghề cụ thể và đã được quy định rất cụ thể trong Pháp lệnh hành nghề ydược tư nhân và Luật Khám chữa bệnh nên việc tăng cường chỉ đạo, kiểm tra
Trang 29thường xuyên đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ y tế là hết sức cầnthiết là do:
+ Hoạt động của các đơn vị y tế công lập thực hiện quyền tự chủ về tàichính ít nhiều cũng có mục đích vì lợi nhuận; bên cạnh đó hoạt động của y tế
tư nhân nói chung thường đặt mục tiêu đầu tiên là lợi nhuận và đôi khi tronglúc hành nghề vì mục tiêu lợi nhuận mà họ bỏ qua những yêu cầu về chuyênmôn, về đạo đức nghề nghiệp gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối vớingười tiêu dùng các dịch vụ này Vì vậy cần có sự tăng cường quản lý của nhànước để có biện pháp hạn chế hoặc ngăn chặn
+ Thực hiện xã hội hoá y tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa, tất yếu sẽ phải chịu những ảnh hưởng của kinh tế thị trườngvới các quy luật vốn có của nó, sự can thiệp của nhà nước ở đây là cần thiếtnhằm hạn chế những mặt trái của cơ chế thị trường để bảo vệ lợi ích củangười tiêu dùng
+ Phát huy vai trò của nhà nước trong xã hội hóa y tế sẽ định hướng,tuyên truyền cho người tiêu dùng có được những nhận thức, hiểu biết đúng vềcác dịch vụ y tế, trên cơ sở đó mà họ có thể đưa ra những lựa chọn thích hợp,bởi vì người tiêu dùng dịch vụ y tế biết rất ít thông tin về đặc điểm của nhữngdịch vụ mà họ sử dụng (kể cả dịch vụ y tế công lập và tư nhân), vì vậy họ cóthể đưa ra những quyết định sai gây ra những tổn thất đáng tiếc về tài chính,thời gian và thậm chí là cả tính mạng của họ
- Quá trình hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với các dịch vụ y tế:
Tuyên ngôn Alma Ata tại hội nghị Alma Ata do Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) phối hợp với Quỹ Cứu trợ Trẻ em Liên hiệp quốc (UNICEF) tổ chức
từ 6-12 tháng 9 năm 1978, tập hợp các vị lãnh đạo cấp cao nhất về mặt y tếcủa các nước, đã chính thức kêu gọi sự thực hiện một phương pháp tiếp cận
Trang 30chăm sóc sức khỏe mới là Chăm sóc Sức Khỏe Ban Đầu với mục tiêu “Sứckhỏe cho mọi người đến năm 2000” đã đề cao tính xã hội hoá trong chăm sóc
và bảo vệ sức khoẻ
Việt Nam gia nhập WTO - đó vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với xãhội hoá nói chung và xã hội hoá y tế nói riêng Toàn cầu hoá với sự tham giahoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp vào các dịch vụ y tế xuyên quốc gia của các
tổ chức và cá nhân nước ngoài có tác động lớn đến việc cung ứng và tiêudùng các dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân Trong bối cảnhtoàn cầu hoá, việc cung ứng và tiêu dùng các dịch vụ y tế đã mang tính xuyênquốc gia và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tiến bộ y học thế giới
WHO - Tổ chức y tế thế giới bao gồm đại diện Bộ Y tế của các nước hộiviên họp mặt hàng năm để xem xét tiến trình phát triển chính sách y tế thếgiới trong từng thời kỳ và định hướng chiến lược phát triển y tế toàn cầu Cácchương trình và dịch vụ y tế thế giới thông qua các tổ chức quốc tế đều rấtcần đến sự tham gia và phối hợp của nhà nước của các quốc gia thành viên,nhằm giảm bớt chênh lệch trong thụ hưởng dịch vụ chăm sóc và bảo vệ sứckhoẻ cho mọi người dân Sự khác biệt trong chăm sóc sức khoẻ giữa các quốcgia giàu và nghèo ngày một tăng Ngay trong các nước đang phát triển sựphân hoá giàu nghèo cũng rõ rệt, những người giàu không thoả mãn với cácdịch vụ y tế ở trong nước, họ muốn có chất lượng dịch vụ cao hơn để nângcao hệ số an toàn trong chữa bệnh Rồi lại có những tổ chức và cá nhân nướcngoài có ưu thế về chuyên môn và công nghệ trong y học muốn sang cácnước đang phát triển để kinh doanh dịch vụ y tế, tạo nên cơ chế cạnh tranhtrong cung cấp các dịch vụ y tế hiện nay: cạnh tranh giữa y tế công và y tế tưnhân, cạnh tranh giữa y tế trong nước và y tế nước ngoài, cạnh tranh giữa các
tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ y tế với nhau, Cơ chế cạnh tranhnày một mặt tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển, nhưng mặt khác, cũng
Trang 31gây nên những tiêu cực trong cung cấp dịch vụ y tế mà suy cho đến cùngngười gánh chịu lại là những người bệnh Do vậy Nhà nước cần phải tăngcường quản lý thị trường dịch vụ y tế trong bối cảnh hội nhập để duy trì cạnhtranh lành mạnh và hạn chế những tổn thất do cạnh tranh gây ra
1.2.2 Nội dung vai trò của nhà nước trong xã hội hoá y tế:
Nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồm hai chức năng cơ bản:chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) và chức năng phục vụ(hay còn gọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội) Hai chức năng nàythâm nhập vào nhau, trong đó chức năng phục vụ là chủ yếu, chức năng quản
lý xét đến cùng cũng nhằm phục vụ Với chức năng phục vụ, nhà nước cótrách nhiệm cung ứng các dịch vụ công thiết yếu cho xã hội Bên cạnh đó, vớichức năng quản lý, nhà nước phải thực hiện vai trò quản lý và điều tiết xã hộinói chung Nhà nước bằng quyền lực của mình, thông qua các công cụ quản
lý vĩ mô như pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, để quản lý và điềutiết hoạt động kinh tế, và các dịch vụ công, qua đó làm tăng hiệu quả cungứng dịch vụ công trong toàn xã hội Dịch vụ y tế cũng là một loại dịch vụcông Với chủ trương xã hội hóa y tế, vai trò của Nhà nước trong quá trìnhnày được thể hiện tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Nhà nước phải xây dựng được chiến lược quốc gia về xã hội hóa y tế, gắn với đó là xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới y tế quốc gia.
Ở Việt nam, nhiều năm qua Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm tớiyếu tố con người trong chiến lược phát triển xã hội, coi con người vừa là chủthể sáng tạo, vừa là mục tiêu phấn đấu cao nhất Luật bảo vệ sức khoẻ nhândân đã khẳng định trách nhiệm của Nhà nước, thông qua các cấp chính quyềntrong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Nghị quyết 37/CP ngày20/6/1996 của Chính phủ về Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khoẻ nhân dân đã nêu ra các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ của nhân dân
Trang 32ta đến năm 2020 “Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 15%
vào năm 2020 và chiều cao trung bình của thanh niên Việt nam đạt 1m65 vào năm 2020 ” Mục tiêu là phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ
chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế
có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triểntốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổithọ và phát triển giống nòi Để đạt được mục tiêu nói trên, nhất thiết nhà nướcphải xây dựng được chiến lược quốc gia về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe,thực chất là chiến lược xã hội hóa y tế của đất nước trong bối cảnh hội nhập,gia nhập WTO, phải thực hiện những cam kết với WTO trong lĩnh vực dịch
vụ (bao gồm cả dịch vụ y tế) thì việc xây dựng chiến lược xã hội hóa y tếcàng trở nên cấp bách
Đi đôi với việc xây dựng chiến lược, việc quy hoạch và xây dựng mạnglưới y tế trên phạm vi cả nước cũng vô cùng quan trọng Mạng lưới y tế cần
bố trí và phát triển một cách hợp lý, phù hợp với xu thế phát triển của thếgiới, kết hợp phát triển y tế cộng đồng với phát triển y tế chuyên sâu nhằmphục vụ tốt nhất việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, giảm tỉ lệ mắc bệnh,nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ người dân Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị,con người nhằm nâng cao chất lượng CSSK ở tất cả các tuyến y tế trong cáclĩnh vực phòng bệnh, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, và ứng dụng cáctiến bộ khoa học kỹ thuật góp phần tích cực vào việc thực hiện đạt được cácmục tiêu của chiến lược Quốc gia về CSBVSK nhân dân để ngành y tế ViệtNam phát triển tiến gần với trình độ của khu vực và thế giới
Để đảm bảo tính khả thi của quy hoạch cần phải:
+ Có cơ chế chính sách mang tính đặt thù khuyến khích sự phát triển củangành về khoa học kỹ thuật, về thu hút nhân tài, về chế độ đãi ngộ cho những
xã miền núi - vùng xa có nhiều khó khăn thiệt thòi, cho các chuyên ngành
Trang 33điều kiện công tác khó khăn, độc hại thu nhập thấp như các chuyên khoa Lao,Tâm thần, Da Liễu, phòng chống các bệnh xã hội và các bệnh dịch nguy hiểm
kể cả HIV/AIDS
+ Có chế độ chính sách đãi ngộ, phụ cấp đặc thù đối với cán bộ ngành y
tế nói chung và y tế cơ sở nói riêng nhằm đảm bảo được đời sống giúp chocán bộ y tế an tâm và toàn tâm toàn ý vào công tác CSSK nhân dân + Có chế độ chính sách khuyến khích cán bộ đi học nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ, quản lý để cán bộ y tế có điều kiện đi học xa, lâungày giảm được khó khăn về đời sống và tập trung cho học tập
- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức
và cá nhân của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ y tế và liên kết hoạt động của các tổ chức và cá nhân nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
Thực hiện vai trò này, nhà nước cần xây dựng cơ chế, chính sách khuyếnkhích các thành phần kinh tế: nhà nước, tư nhân và các tổ chức xã hội trong
và ngoài nước gia cung ứng dịch vụ y tế Cơ chế, chính sách ấy bao gồm:vạch rõ những mảng dịch vụ y tế cần khuyến khích sự tham gia của các thànhphần kinh tế ngoài nhà nước, chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, cácđiều kiện vật chất, các chính sách đào tạo, kiểm tra và kiểm soát, Nhà nước cầntạo ra một môi trường pháp lý chung cho tất cả các đơn vị cung ứng dịch vụ y tế,đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cung ứng dịch vụ y tế
Không chỉ như vậy, Nhà nước còn cần phải chuyển một phần hoạt động cung ứng dịch vụ y tế cho thị trường dưới các hình thức:
+ Uỷ quyền cho các công ty tư nhân hoặc tổ chức phi chính phủ cungứng một số dịch vụ y tế mà nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và thường cónguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước như vệ sinh môi trường, thu gom và xử
lý rác thải, xây dựng và xử lý hệ thống cống thoát nước v.v…Công ty tư nhân
Trang 34hoặc tổ chức phi chính phủ được uỷ quyền phải tuân thủ những điều kiện donhà nước quy định và được nhà nước cấp kinh phí (loại dịch vụ nào có thutiền của người thụ hưởng thì chỉ được nhà nước cấp một phần kinh phí) + Liên doanh cung ứng dịch vụ y tế giữa nhà nước và một số đối tác trên
cơ sở đóng góp nguồn lực, chia sẻ rủi ro và cùng phân chia lợi nhuận Hìnhthức này cho phép nhà nước giảm phần đầu tư từ ngân sách cho dịch vụ y tế
mà vẫn tham gia quản lý trực tiếp và thường xuyên các dịch vụ này nhằmđảm bảo lợi ích chung
+ Chuyển giao trách nhiệm cung ứng dịch vụ y tế cho các tổ chức khácđối với các dịch vụ mà các tổ chức này có điều kiện thực hiện có hiệu quả nhưđào tạo, khám chữa bệnh, tư vấn, giám định, đặc biệt là, các tổ chức này tuy
là đơn vị tư nhân hoặc phi chính phủ nhưng được khuyến kích hoạt động theo
cơ chế không vì lợi nhuận, chỉ thu phí để tự trang trải
+ Nhà nước bán phương tiện và quyền chi phối của mình đối với dịch vụnào đó cho tư nhân song vẫn giám sát và đảm bảo lợi ích công bằng pháp luật.+ Mua dịch vụ phục vụ y tế từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tưnhân có thể làm tốt và giảm được số người làm việc trong các cơ sở y tế củanhà nước, như bảo dưỡng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, các phươngtiện tin học, đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việcphục vụ trong bệnh viện, phòng khám…
- Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý và thực hiện quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức và cá nhân cung ứng dịch vụ y tế
Xét cho cùng, nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng trước
xã hội về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ y tế, kể cả các dịch vụ y tếđược thực hiện bởi các công ty tư nhân hay các tổ chức kinh tế-xã hội Trongkhi đó, đối với các công ty tư nhân, các tổ chức, cá nhân đảm nhận các dịch
vụ y tế, lợi ích của chính bản thân họ không phải bao giờ cũng thống nhất với
Trang 35lợi ích, của xã hội Vì vậy, nhà nước phải tạo ra cơ chế để các tổ chức và cánhân khi đảm nhận các dịch vụ y tế thực hiện mục tiêu xã hội Xây dựng hệthống chỉ tiêu chất lượng dịch vụ y tế để đánh giá hoạt động của các đơn vịcung cấp, giám sát và kiểm tra hoạt động của các cơ sở này Nhà nước cầnđịnh hướng phát triển đối với khu vực tư nhân, hướng khu vực tư nhân vàonhững lĩnh vực mà tư nhân hoạt động hiệu quả, đồng thời tạo môi trườngcạnh tranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch vụ y tếcho xã hội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyếtthỏa đáng mối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổchức và cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ y tế.
- Nhà nước vừa với tư cách là một cơ quan quản lý, lại vừa với tư cách
là một chủ thể giữ vai trò nòng cốt trong việc cung ứng dịch vụ y tế
Theo hình thức này, nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng dịch
vụ y tế trong các trường hợp mà chỉ có cơ sở nhà nước với sự tập trung độingũ chuyên môn và trang thiết bị hiện đại, đắt tiền mới có đủ trình độ chuyênmôn để làm Nhà nước với vai trò chủ đạo của mình, cũng trực tiếp cung ứngcác dịch vụ y tế thuộc các lĩnh vực và địa bàn không thuận lợi cung ứng (ví
dụ vùng sâu, vùng xa) mà thị trường không thể hoặc không muốn tham gia dochi phí quá lớn hay không có lợi nhuận Các đơn vị sự nghiệp do nhà nướcthành lập để cung ứng như các bệnh viện và trung tâm y tế…hoạt động theo
cơ chế của đơn vị sự nghiệp công tự chủ tài chính nhưng không vì mục tiêulợi nhuận Ban đầu, nhà nước đầu tư cho các đơn vị đó, sau đó họ sẽ tự trangtrải và khi cần thiết có thể nhận được sự hỗ trợ bù đắp của nhà nước
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến vai trò quản lý của nhà nước đối với công tác xã hội hoá y tế.
- Điều kiện tự nhiên.
Các dịch vụ y tế trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, bao gồm
cả các dịch vụ y tế công lập và dịch vụ y tế tư nhân trong những năm qua phát
Trang 36triển mạnh mẽ cả về quy mô đầu tư cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị vàtrình độ chuyên môn kỹ thuật Tuy nhiên, vẫn tập trung chủ yếu ở các vùng
đô thị và thành phố lớn (xét trên phạm vi cả nước thì tập trung chủ yếu ở HàNội, Huế, thành phố Hồ chí Minh; xét trên phạm vi tỉnh Nghệ An tập trungchủ yếu ở thành phố Vinh)
Điều kiện tự nhiên ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, các tỉnh,các vùng miền có điều kiện giao thông thuận lợi, kinh tế - xã hội phát triển lànơi hội tụ của các nhà đầu tư cung cấp dịch vụ cũng như lực lượng nhân dân,người lao động có mức thu nhập khá, có đời sống cao, có nhiều cơ hội tiếpcận dịch vụ y tế chất lượng cao, tạo ra sự khác biệt, chênh lệch với các vùng,miền chưa phát triển ngang tầm Cũng chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởngđến vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội hoá y tế
Nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Trong nền kinh tế thị trường, sự vận hành của nền kinh tế chịu tácđộng đáng kể của những quy luật thị trường như quy luật cung - cầu, quy luậtcạnh tranh, quy luật giá trị, Cơ chế thị trường là guồng máy chi phối sự vậnđộng của nền kinh tế thông qua các quy luật kinh tế vốn có của nó Các tổchức và cá nhân cung cấp các dịch vụ y tế cũng vận hành không nằm ngoàiguồng máy trên Vì vậy, quản lý Nhà nước trong xã hội hoá y tế không thể
Trang 37dùng những mong muốn chủ quan, duy ý chí để gò ép hoạt động của phíacung cấp dịch vụ, mặc dù những mong muốn của nhà nước về cơ bản đềuxuất phát từ những mục tiêu nhân đạo và nhân văn cao cả Nhưng nếu bỏ quanhững quy luật của thị trường có thể gây ra những kết quả ngược lại.
Mục đích quản lý Nhà nước trong xã hội hoá y tế là nhằm chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ của nhân dân - là những người sử dụng dịch vụ y tế - ngàymột tốt hơn
Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế khác nhau mà khả năng tiếp cận và thụhưởng các dịch vụ y tế để chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của người dân khácnhau Do vậy, trình độ phát triển kinh tế của đất nước là một nhân tố có ảnhhưởng lớn đến quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hoá y tế Để đánhgiá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia người ta thường dùng chỉ sốthu nhập quốc dân bình quân đầu người Về tổng thể, khi thu nhập bình quânđầu người thấp thì sức khoẻ sẽ kém, vì khi nghèo khó thì đời sống thấp: ănuống thường kham khổ thiếu thốn, chế độ dinh dưỡng nghèo nàn, nhà cửachật chội, điều kiện vệ sinh không đảm bảo, Đó chính là nguyên nhân làmcho thể lực của con người kém và bệnh tật sẽ phát sinh và hoành hành Cuộcsống của người dân trong điều kiện khó khăn về kinh tế, một mặt phải mangnhững gánh nặng bệnh tật do nghèo đói sinh ra như suy dinh dưỡng, dịchbệnh, Mặt khác, lại phải gánh những căn bệnh của xã hội hiện đại như timmạch, ung thư, tiểu đường, Với mức sống đa số là ở mức thấp, việc ngườidân nông thôn phải tự chi trả chi phí khám chữa bệnh làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến việc tiếp cận các dịch vụ y tế của họ
Do đó, Nhà nước là cơ quan quản lý vĩ mô cần có cơ chế chính sách đểđiều tiết, quản lý và phát triển các hoạt động cung cấp và tiêu dùng các dịch
vụ y tế để đảm bảo mọi vùng miền, thành thị cũng như nông thôn, miền xuôicũng như miền ngược, người giàu cũng như người nghèo, trẻ em, người già
và mọi tầng lớp nhân dân đều được quan tâm chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
Trang 38- Nhân tố chính trị.
Chủ trương, Đường lối chính sách của Đảng ta trong sự nghiệp chăm sóc
và bảo về sức khoẻ nhân dân là một nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởngđến vai trò quản lý Nhà nước trong xã hội hoá y tế
Với mục tiêu nhằm xây dựng hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảmcung ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáodục và đào tạo, tạo việc làm, chăm sóc sức khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dụcthể thao Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thốngBHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân Phát triển hệ thống y tế công bằng
và hiệu quả, bảo đảm mọi người dân được chăm sóc và nâng cao sức khoẻ.Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, hệ thống các chính sách bảo vệ,chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân Đổi mới cơ chế khám, chữa bệnh.Nhà nước tăng đầu tư, nâng cao mức và chất lượng chăm sóc sức khoẻ cơ bảncho toàn dân, quan tâm nhiều hơn nữa cho các đối tượng chính sách, đồngbào dân tộc thiểu số và vùng sâu, vùng xa, hộ nghèo Chú trọng phát triển cácdịch vụ y tế công nghệ cao, khuyến khích phát triển đa dạng, các dịch vụ y tếngoài công lập Tăng cường hiệu lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực y tế Cóchiến lược, quy hoạch phát triển và cơ chế chính sách hợp lý để phát triển hệthống sản xuất, lưu thông, phân phối thuốc chữa bệnh, từng bước xây dựngngành công nghiệp dược, ngành công nghiệp thiết bị y tế trở thành ngành kinhtế- kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Nghị quyết 46-NQ/TW và Chỉ thị 06-CT/TW được các cấp, các ngành từtrung ương đến địa phương triển khai nghiêm túc, nên đã tạo ra bước chuyểnbiến mới trong nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân,đặc biệt là vai trò và trách nhiệm lãnh đạo của các cấp ủy đảng về công tácbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, do đó, đã đạt nhiều kết quảkhả quan, một số kết quả đạt được tốt so với mục tiêu đề ra Nhiều dịch bệnh
Trang 39được khống chế và đẩy lùi Hệ thống y tế ngày càng được củng cố; hành langpháp luật ngày càng được hoàn thiện; công tác XHH chăm sóc sức khoẻ nhândân đã đạt được nhiều kết quả tích cực Quy mô và năng lực cung ứng dịch vụcủa hệ thống y tế được nâng cao Nhiều kỹ thuật mới, kỹ thuật cao đã đượcthực hiện làm cho trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam đang dần tiến bộ kịpvới các nước tiên tiến trong khu vực Người dân được tiếp cận với các DVYTngày càng dễ dàng hơn Đầu tư từ NSNN cho y tế ngày càng tăng và mứctăng hàng năm cao hơn mức tăng chung của tổng chi ngân sách
- Nhân tố văn hóa, xã hội và con người.
So với cư dân sống ở khu vực thành thị, cư dân vùng nông thôn nước ta
có ít cơ hội hơn để tiếp cận được với các dịch vụ y tế (DVYT)
Nguyên nhân chủ yếu là do khả năng tiếp cận của họ đang phụ thuộc rấtlớn vào sự hiểu biết của bản thân họ về những vấn đề liên quan đến các dịch
vụ y tế Nhận thức của người dân về dịch vụ y tế còn chưa đầy đủ cùng vớithói quen, tập quán của từng nơi, điều kiện kinh tế của từng gia đình ảnhhưởng không nhỏ đến tâm lý của người dân khi tham gia vào hoạt động xã hộihoá y tế Đòi hỏi Nhà nước phải tăng cường cung cấp thông tin, phổ biến kiếnthức, tuyên truyền, giáo dục để nhân dân hiểu đúng và tích cực tham gia Bên cạnh yếu tố nhận thức, điều kiện kinh tế, thì khu vực sinh sống,yếu tố dân tộc có ảnh hưởng lớn đến khả năng tham gia và tiếp cận cácDVYT của nhân dân: người sống ở khu vực thành thị, miền xuôi có điều kiệnhiểu biết và tiếp cận các DVYT thuận lợi, dễ dàng hơn người sống ở khu vựcnông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa; người Kinh có khả năng tham gia vàtiếp cận tốt hơn đồng bào dân tộc thiểu số;
Thái độ và ứng xử của người dân đối với các dịch vụ y tế là một nhân tố
có ảnh hưởng đến quản lý của nhà nước đối với các dịch vu y tế tư nhân Đểchủ trương xã hội hoá trong việc cung cấp các dịch vụ y tế thực sự đi vào
Trang 40cuộc sống, công tác quản lý của Nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đốivới công tác xã hội hoá y tế nói riêng cần phải minh bạch, công khai và rõràng Mọi hành vi trục lợi, thiếu dân chủ, thiếu công bằng sẽ làm giảm lòngtin của nhân dân và sẽ không được dân ủng hộ
- Nhân tố quốc tế.
Quá trình hội nhập quốc tế đặt ra không ít vấn đề mới mẻ đối với quản lýNhà nước trên tất cả các lĩnh vực, do vậy quản lý của Nhà nước về xã hội hoá
y tế trong điều kiện hiện nay không thể tách rời với bối cảnh quốc tế
Trong xu thế hội nhập, do phải tuân thủ những quy định chung và nhữngcam kết quốc tế nên các vấn đề đều mang tính quốc tế và khu vực Vì vậyQLNN đối với các DVYT cần phải có cơ chế, chính sách thích hợp Nhữngvấn đề đặt ra trong QLNN đối với y tế nói chung và y tế tư nhân nói riêng là:Những vấn đề y tế mang tính toàn cầu, ví dụ: vấn đề bùng nổ dân số, vấn đềdịch bệnh, vấn đề ô nhiễm môi trường, Sự xuất hiện của những DVYTxuyên quốc gia: nhu cầu được chữa bệnh ở nước ngoài; sự xuất hiện của cácDVYT có yếu tố nước ngoài như: việc mời các chuyên gia nước ngoài sanglàm việc với các tổ chức y tế ở Việt Nam, các bệnh viện quốc tế, bệnh việnliên kết, các dịch vụ CSSK cho người nước ngoài đang sinh sống và làm việctại Việt Nam, Sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài đối với nhucầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của người dân, các chương trình y tế thếgiới được triển khai trên quy mô quốc gia
Tham gia vào các dịch vụ y tế có tính quốc tế này phần lớn là các cơ sở y
tế của nhà nước, nhưng xu thế chung của thế giới hiện nay là việc cung ứng
và tiêu dùng các dịch vụ y tế không có sự phân biệt công - tư, điều quan trọngnhất là chất lượng dịch vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu người bệnh Đâycũng là vấn đề đặt ra cho QLNN trong xã hội hoá y tế ở nước ta hiện nay