Ýthức được tiềm năng và tầm quan trọng của đối tượng DNVVN nên nhiều ngânhàng đổi mới trong quan điểm kinh doanh theo hướng tập trung cho vay DNVVN.Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh nh
Trang 1Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu là trung thực Những kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Vũ Thị Trang Nhung
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ 3
1.1.2 Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ 4
1.2 Hoạt động cho vay đối với DNVVN của Ngân hàng thương mại 7
1.2.1 Vai trò của hoạt động cho vay đối với DNVVN 7
1.2.2 Các hình thức cho vay đối với DNVVN của NHTM 9
1.2.3 Qui trình cho vay đối với DNVVN 13
1.3 Hiệu quả cho vay đối với DNVVN của NHTM 15
1.3.1 Khái niệm hiệu quả cho vay 15
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay 16
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay DNVVN của NHTM 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM-CN HẢI PHÒNG 29
2.1 Giới thiệu khát quát về NHTMCP Ngoại thương VN – CN Hải Phòng 29
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29
2.1.2 Mô hình tổ chức 30
2.1.3 Khái quát về hoạt động kinh doanh của VCB- CN Hải Phòng 31
2.2 Thực trạng về hiệu quả cho vay các DNV&N tại VCB- CN Hải Phòng 37
2.2.1 Qui trình tín dụng đối với DNVVN của VCB-CN Hải Phòng 37
2.2.2 Qui định phân loại nợ 40
Trang 32.2.4 Hiệu quả cho vay đối với DNVVN tại VCB- CN Hải Phòng 46
2.3 Đánh giá về hiệu quả cho vay DNV&N tại VCB – CN Hải Phòng 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 55
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM -CN HẢI PHÒNG 64
3.1 Định hướng cho vay đối với các DNV&N tại VCB – CN Hải Phòng 64
3.1.1 Định hướng phát triển DNV&N của Nhà nước 64
3.1.2 Chiến lược tài trợ vốn cho DNV&N của Vietcombank-CN Hải Phòng 65
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với các DNVVN tại VCB – CN Hải Phòng 67
3.2.1 Đánh giá tiềm năng doanh nghiệp vừa và nhỏ 67
3.2.2 Xây dựng chính sách khách hàng hợp lí, phương châm “ngân hàng tự tìm đến khách hàng” 68
3.2.3 Tăng cường quản lý rủi ro và thẩm định tín dụng 70
3.2.4 Tăng cườngđào tạo cán bộ chuyên môn chuyên trách nhóm khách hàng DNVVN 72
3.2.5 Hỗ trợ DNVVN xây dựng hồ sơ, phương án sản xuất kinh doanh 72
3.2.6 Tiếp tục củng cố hệ thống thông tin, xếp hạng và chấm điểm khách hàng. 73
3.3 Một số kiến nghị 74
3.3.1 Đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 74
3.3.2 Đối với Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, Ngành liên quan 75
3.3.3 Đối với Ngân hàng Nhà nước 79
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4NHNN : Ngân hàng nhà nước
Vietcombank : Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt NamVietcombank Hải Phòng/
VCB HP
: Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam –
Chi nhánh Hải PhòngDNVVN/DNV&N : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 5Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN theo WB và IFC 4
Bảng 2.1: Doanh số huy động vốn giai đoạn 2006-2010 31
Bảng 2.2: Doanh số cho vay- Thu nợ- Dư nợ giai đoạn 2006-2010 32
Bảng 2.3: Các hoạt động kinh doanh khác giai đoạn 2006-2010 34
Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh VCB Hải Phòng giai đoạn 2006-2010 35
Bảng 2.5: Doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ giai đoạn 2006-2010 41
Bảng 2.6 : Cơ cấu theo hạn cho vay của DNVVN giai đoạn 2006-2010 42
Bảng 2.7: Cơ cấu cho vay DNVVN theo thành phần kinh tế 45
Bảng 2.8: Nợ quá hạn của DNVVN từ năm 2007-2010 46
Bảng 2.9: Phân loại nợ quá hạn DNVVN 48
Bảng 2.10: Tỷ lệ nợ xấu và nợ có khả năng mất vốn của DNVVN 49
Bảng 2.11: Thu nhập từ hoạt động cho vay DNVVN/dư nợ 50
Bảng 2.12 : Thu nhập từ hoạt động cho vay DNVVN/Tổng thu nhập 50
Bảng 2.13: Tăng trưởng dư nợ tín dụng DNNVV tại VCB Hải Phòng 52
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Huy động vốn của VCB từ năm 2006-2010 31
Biểu đồ 2.2: Doanh số cho vay và dư nợ của VCB HP giai đoạn 2006-2010 33
Biểu đồ 2.3: Kết quả kinh doanh 36
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế của DNVVN 44
Biểu đồ 2.5: Cơ cấu theo thành phần kinh tế 46
Biểu đồ 2.6: Nợ quá hạn của DNVVN từ năm 2007- 2010 47
Biểu đồ 2.7 : Tốc độ tăng trưởng dư nợ DNVVN giai đoạn 2006-2010 52
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của VCB Hải Phòng 30
Sơ đồ 2.2: Qui trình tín dụng 246 39
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1) Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập hiên nay, doanh nghiệp vừa và nhỏvới những đặc trưng riêng của mình đã và đang giữ một vai trò quan trọng trong sựtăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta DNVVN có nhữngđặc điểm nổi trội so với các loại hình doanh nghiệp khác như sức năng động, khảnăng thính nghi, dễ thay đổi công nghệ, hiệu quả đầu tư tương đối cao, dễ quản lý.Với những ưu điểm như vậy, đóng góp của loại hình DNVVN vào nền kinh tế là rấtđáng kể Hiện nay ở Việt Nam có khoảng 500.000 DN thuộc các thành phần kinh tế,trong đó DN vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% và đóng góp gần 40% GDP cả nước.Doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận định sẽ phát triển mạnh mẽ trong tươnglai Chính vì vậy, họ là đối tượng ngày càng được các ngân hàng quan tâm đến Ýthức được tiềm năng và tầm quan trọng của đối tượng DNVVN nên nhiều ngânhàng đổi mới trong quan điểm kinh doanh theo hướng tập trung cho vay DNVVN.Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay và sự hoạt động kém hiệu quả củarất nhiều các DN nhà nước, tập đoàn kinh tế lớn (Đặc biệt, đây vốn được coi là thịtrường chủ đạo của các NHTM nhà nước) đã khiến cho hoạt động tín dụng đối vớiDNVVN tại các NHTM ngày càng được chú trọng mở rộng Kết quả cho vay
DNVVN đã phản ánh chính sách tín dụng linh hoạt, ngày càng phù hợp hơn với
điều kiện của thị trường và xu hướng cạnh tranh của các NHTM
Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và năng lực cạnh tranh với cácngân hàng thương mại,Vietcombank Hải Phòng cũng đang từng bước chuyển đổiquan điểm tín dụng đối với DNVVN cho phù hợp hơn với điều kiện mới của thịtrường Tuy nhiên, dư nợ cho vay đối với DNV&N tại Vietcombank Hải Phòngchiếm tỷ trọng thấp, hiệu quả không cao, sản phẩm tín dụng đối với DNV&N chưa
cạnh tranh được với các NHTM khác nhất là các NHTM ngoài quốc doanh
Nhận thức được điều đó, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ số lượng doanhnghiệp vừa và nhỏ trong thời gian qua, Vietcombank Hải Phòng đã xác định thịtrường tín dụng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã trở thành một lĩnh vực đầy tiềmnăng phát triển và là nhóm khách hàng chiến lược trong chính sách phát triển dài
Trang 7hạn của mình Song qua vài năm thực hiện, hiệu quả cho vay đối với DNV&Nchưa được cải thiện đáng kể Chính vì vậy, với mong muốn góp phần giải quyết
vấn đề trên, đề tài được lựa chọn là : “Nâng cao hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam-Chi nhánh Hải Phòng”
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả hoạt động cho vay đối với DNV&N tại ngânhàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu : hoạt động cho vay DNVVN tại NH TMCP Ngoạithương VN – Chi nhánh Hải Phòng, thời gian từ năm 2006 đến năm 2010
4) Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận vănlà: điều tra nghiên cứu, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và các phương phápkhác để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn
5) Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về hiệu quả cho vay đối với DNV&N của NHTM
- Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay đối với các DNV&N tại Ngân
hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Hải phòng
- Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay đối với các DNV&N tại
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam- Chi nhánh Hải phòng
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1 Khái niệm Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân hoạt độngsản xuất kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận và tăng giátrị của chủ sở hữu Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được xem lànhững tế bào cơ bản Chính sự tồn tại của các doanh nghiệp đã tạo ra sức sống chonền kinh tế Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các DNVVN hiện nay ngày càngđóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước và đang thu hútđược đông đảo sự quan tâm từ dư luận, các cơ quan hoạch định chính sách và cácnhà đầu tư trong và ngoài nước Việc đưa ra khái niệm chuẩn xác về DNVVN có ýnghĩa lớn trong việc nghiên cứu, hỗ trợ, mở rộng và phát triển DNVVN
Hiện nay tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và quản lý mà các cơ quan, các
tổ chức, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra các tiêu chí khác nhau để xác địnhDNVVN Vì vậy, các định nghĩa về DNVVN là tương đối khác nhau, có xu hướngthay đổi theo tính chất hoạt động, mục đích của việc xác định và mức độ phát triểncác doanh nghiệp trong nền kinh tế Tuy nhiên, để phân biệt doanh nghiệp lớn vớiDNVVN thì hiện nay hầu hết các nước trên thế giới chủ yếu đều dựa trên hai tiêuchí: tổng vốn kinh doanh và tổng số lao động Ví dụ như : theo Liên minh Châu
Âu, DNVVN là có số lượng công nhân không vượt quá 250 Tại Mỹ là không quá
1000, trong đó doanh nghiệp có số lao động 200 trở xuống là doanh nghiệp nhỏ.Còn với Nhật Bản, các doanh nghiệp có dưới 300 lao động hoặc vốn đầu tư nhỏhơn 1 triệu USD thì được coi là DNVVN Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới(WB) và IFC, các doanh nghiệp được phân chia theo qui mô như sau:
Trang 9Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNVVN theo WB và IFC
90/2001/NĐ - CP định nghĩa về DNVVN )
Đây cũng chỉ là định nghĩa mang tính chất tương đối, bởi một doanh nghiệp có thật
sự nhỏ khi có số lao động nhỏ hơn 300 lao động hay không thì còn tùy thuộc vàolĩnh vực hoạt động Chính vì vậy, có thể xem DNVVN là một doanh nghiệp hoạtđộng độc lập trong một lĩnh vực kinh doanh nhưng không thống trị trong lĩnh vựckinh doanh của mình Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, và xuthế hội nhập kinh tế quốc tế, định nghĩa về DNVVN trong tương lai sẽ tiếp tục cònnhiều thay đổi
1.1.2 Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ngoài việc mang đầy đủ những đặc tính của một doanh nghiệp, doanh nghiệpvừa và nhỏ còn có những đặc điểm riêng Những đặc điểm này vừa tạo nên thuậnlợi cho DNVVN nhưng cũng lại trở thành những hạn chế cho chính bản thân nó Cụthể như sau:
Trang 10thể dễ dàng, linh hoạt khi tham gia vào thị truwowngfhay rút khỏi thị trường đểchuyển đổi sang lĩnh vực, ngành nghề kinhdoanh khác khi cần thiết Việc chuyểnđịa điểm sản xuất kinh doanh cũng như cơ sở vật chất tương đối dễ dàng và cũngkhông tốn nhiều chi phí.
Thứ hai, thu hút nhiều lao động, hoạt động có hiệu quả với chi phí thấp Các
doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chọn những ngành sản xuất giản đơn, vốn đầu tưvào tài sản cố định ít nên họ thường tận dụng lao động thay thế cho vốn để tiến hàngsản xuất kinh doanh.Đặc biệt là đối với các nước có nguồn lao động dồi dào với giánhân công thấp như nước ta thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài việc có đượcnguồn lao động phong phú còn giúp được nền kinh tế hạn chế được nạn thất nghiệp
Thứ ba, DNVVN có thể dễ dàng phát huy tiềm lực thị trường trong nước Nước
ta vốn là một nước còn có nhiều mặt hàng sản xuất còn phụ thuộc vào nước ngoài.Việc lựa chọn một số mặt hàng thay thế nhập khẩu với mức chi phí và vốn đầu tưthấp, kỹ thuật không phức tạp là hết sức cần thiết Sự phát triển của DNVVN ở giaiđoạn đầu là phương thức tốt nhất để sản xuất thay thế nhập khẩu Nước ta có nhiềutiềm lực kinh tế còn chưa được khai phá, các doanh nghiệp vừa và nhỏ với đặctrưng riêng của nó là một trong những yếu tố giúp nước ta dễ dàng phát huy tiềmlực thị trường trong nược đặc biệt là thị trường lao động và thị trường tài nguyênthiên nhiên.Đây chính là lợi thế mà các DNVVN Việt Nam có thể phát huy để cạnhtranh tố hơn trong điều kiện quy mô nhỏ của mình
Thứ tư, DNVVN có ít xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động Do quy mô vừa và nhỏ nên sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động và
người lao động không lớn Các nhà sử dụng lao động có thể dễ dàng nắm bắt đượctâm tư nguyện vọng của công nhân thông qua việc giám sát họ thường xuyên vàchặt chẽ Do đó rất khó để xảy ra các mâu thuẫn hay xung đột lớn bới nếu có cũng
dễ dàng giải quyết để cân bằng giữa lợi ích người lao động và lợi ích của người sửdụng lao động
Hạn chế :
Trang 11Thứ nhất, nguồn tài chính hạn chế Điều này có thể dễ dàng nhận thấy nhất ở
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Quy mô vốn của các doanh nghiệp này rất nhỏ bé lạikhó khăn hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận các nguồntài chính khác đặc biệt là các nguồn vốn của ngân hàng thương mại Thông thườngmột cách tất yếu lúc này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải tìm đến các nguồn tàichính phi chính thức với lãi suất cao Như vậy, đối với các doanh nghiệp này, “khókhăn lại càng khó khăn hơn”
Thứ hai ,công nghệ, thiết bị lạc hậu, thủ công Công nghệ thế giới đang ngày
càng hiện đại và đang phát triển với một tốc độ chóng mặt Đối với các DNVVN ởcác nước công nghiệp phát triển thì máy móc, thiết bị công nghệ thường rất hiện đại
và so với các doanh nghiệp lớn thì chỉ thua về quy mô vốn đầu tư và số lao động.Trong khi đó ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại có công nghệ còn rấtyếu kém Máy móc thiết bị chủ yếu còn sử dụng chân tay nhiều, hơn nữa việcchuyển giao các công nghệ mới hầu như rất khó khăn vì nguồn tài chính hạn hẹp
Thứ ba, thị trường nhỏ hẹp và sức cạnh tranh thấp Với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thì mở rộng và chiếm lĩnh thị trường lại càng khó khăn hơn bởi thời giangần đây, cùng với sự đổi mới trong chính sách cùng luật các doanh nghiệp thì sốlượng các doanh nghiệp cũng ngày càng nhiều hơn, sức cạnh tranh cũng ngày cànglớn mạnh hơn trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa thể chiếm lĩnhđược thị trường về cả số lượng cũng như chất lượng Một phần cũng do tâm lý củadân cư vẫn còn e ngại với chất lượng và trình độ quản lý của mọi hoạt động trongcác doanh nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh đó, sự bành trướng của các tập đoàn lớndường như cũng ngày càng làm cho sức cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa vànhỏ bị thu hẹp lại
Thứ tư, trình độ quản lý còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu biết pháp luật Đây
thực sự là sự nhức nhối và là vấn đề đáng lo ngại nhất của các doanh nghiệp vừa vànhỏ Nhiều chủ các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được đào tạo qua một trường lớpchính quy nào, thiếu những kiến thức cơ bản về kinh tế, chưa hiểu biết cặn kẽ vềpháp luật cũng như còn rất ít các kinh nghiệp trong việc quản lý doanh nghiệp Đã
Trang 12có rât nhiều chủ doanh nghiệp vì những quyết định chủ quan, thiếu cân nhắc vàkhông nắm bắt được thị trường mà làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ, thậm chí là phásản Điều này thực sự ảnh hưởng chiến lược phát triển của doanh nghiệp nói riêng
và gây nên nhiều sự lãng phí cho xã hội nói chung
Thứ năm, trình độ lao động thấp Với một nguồn tài chính hạn chế, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thể sử dụng các lao động với chi phí thấp, điều nàyđồng nghĩa với việc trình độ lao động của các doanh nghiệp này còn khá nhiều bấtcập Để thích ứng với sự phát triển của công nghệ thì việc đào tạo tay nghề cho laođộng cần được các doanh nghiệp hết sức quan tâm để việc ứng dụng công nghệ mớithật sự có hiệu quả tương xứng với số vốn đã bỏ ra Bên cạnh đó các doanh nghiệpcũng cần chú ý phát triển các chính sách nhằm thu hút các lao động có tay nghề caovới các chế độ đãi ngộ và mức lương phù hợp với năng lực của họ, tránh các tìnhtrạng chảy máu chất xám sang các doanh nghiệp lớn
Thứ sáu, chiến lược sản xuất kinh doanh còn mang tính thời vụ,chưa hướng tới sự lâu dài Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam còn tập trung vào
chiến lược phát triển thời vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tức thì của thi trường mà khôngchủ động trên thị trường Đây cũng chính là một trong những biểu hiện của sự không
tự chủ về tài chính của các doanh nghiệp này vì thực sự họ không dám đưa ra cácchiến lược tài chính mang tính chất dài hạn vì bản thân mỗi doanh nghiệp này khôngthể lường trước được hết những biến cố có thể xảy ra khi mà nền kinh tế Việt Namvốn dĩ có rất nhiều những biến động phức tạp
1.2 Hoạt động cho vay đối với DNVVN của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Vai trò của hoạt động cho vay đối với DNVVN
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các DNNVV là mộttất yếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, trong quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng phải sử dụng vốntín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hoá hiệuquả sử dụng vốn của mình
Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò rất quan
Trang 13trọng, nó chẳng những thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đótác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ, hoàn thiệncác cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối Để thấy được vai trò hoạtđộng cho vay của NHTM trong việc phát triển DNVVN, xét một số vai trò sau:
Cho vay góp phần đảm bảo cho hoạt động của các DNVVN được liên tục.
Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹthuật, thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tạiđứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế, không một doanh nghiệpnào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn tín dụngcủa ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, muasắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh Từ đó, góp phần thúc đẩytạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh được liên tục
Cho vay góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho DNVVN Khi sử
dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng,phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản củahợp đồng cho dù hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không
Do đó, đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải cóphương án sản xuất khả thi để không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp cònphải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo
tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh
có lãi Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và saukhi giả ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả
Cho vay góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNVVN Hiếm khi
doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thịtrường Nguồn vốn này chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệuquả sử dụng vốn Đối với DNVVN, do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có
để sản xuất kinh doanh là khó khăn vì nguồn vốn hạn hẹp Nếu sử dụng thì giá vốn
sẽ cao và sản phẩm mang tính cạnh tranh thấp, khó được chấp nhận trên thị trường
Để có hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất
Trang 14là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân
1.2.2 Các hình thức cho vay đối với DNVVN của NHTM
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ rất đa dạng và có thểphân theo nhiều tiêu thức khác nhau như: theo thời gian, theo loại tiền, lãi suất, đốitượng, mục đích, qui mô.v.v
Các hình thức cho vay khá phổ biến được ngân hàng thương mại thường ápdụng bao gồm:
1.2.2.1 Thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chitrội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trongkhoảng thời gian xác định Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớnkhông có tài sản đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trongtháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương và chi các khoản phải nộp mua hàng
1.2.2.2 Cho vay trực tiếp từng lần
Trang 15Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng ápdụng cho các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
để được cấp hạn mức thấu chi Phương thức này có các đặc điểm sau:
Ngân hàng xét duyệt cho vay từng lần theo từng đối tượng vay,phương án cụ thể Mỗi phương án tương ứng với một hợp đồng tín dụng Mỗi hợpđồng có thể phát tiền vay một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sửdụng vốn thực tế của khách hàng
Tổng số tiền nhận nợ không vượt quá số tiền cho vay ghi trên hợp đồngtín dụng
Loại cho vay này có kỳ hạn nợ cụ thể, được bắt đầu từ khi kháchhàng có nhu cầu mua hàng hoặc tăng dự trữ thành phẩm và chấm dứt khi hàng hoá
đã tiêu thụ và thu được tiền
Việc cho vay theo phương thức từng lần có ưu điểm lớn nhất là ngân hàng cóthể quản lý, theo dõi tiền vay cho từng đối tượng nhận nợ cụ thể Nguồn thu của đốitượng vay vốn nào được trả nợ cho đúng đối tượng đó Tuy nhiên hạn chế lớn nhấtcủa phương thức này là khách hàng rất cứng nhắc trong việc sử dụng vốn Một vàiloại chi phí chung không thể vay vốn ngân hàng do không thể phân bổ ngay chotừng phương án Hơn thế nữa, thủ tục vay vốn có phần phức tạp hơn do mỗi phương
án lại phải ký một hợp đồng tín dụng Chính vì các điểm bất lợi trên, phương thứccho vay từng lần chỉ áp dụng với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại theotừng phi vụ cụ thể hoặc sản xuất các mặt hàng đơn lẻ, dễ tách bạch như đóng tàu,xây dựng công trình
1.2.2.3 Cho vay theo hạn mức tín dụng
Phương thức cho vay này áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu cầuvay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định, vốn vay tham gia thường xuyên vàoquá trình sản xuất kinh doanh.Cho vay theo hạn mức có một số đặc điểm sau:
Khách hàng và Ngân hàng xác định nhu cầu vốn bình quân trong kỳ kếhoạch và ký một hợp đồng tín dụng hạn mức Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồngtín dụng theo hạn mức, Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử
Trang 16dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêucầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽphát tiền vay cho khách hàng.
Khách hàng có thể vừa rút vốn vay, vừa trả nợ tiền vay, song đảm bảo số dư
nợ không vượt hạn mức tín dụng đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Kỳ hạn nợ của hợp đồng tín dụng không đồng nhất với kỳ hạn nợ của từngkhoản vay Thời hạn trả nợ cụ thể của mỗi lần nhận nợ được ghi cụ thể trong giấynhận nợ mà không thể hiện trong hợp đồng tín dụng Thời hạn cho vay thường phùhợp với chu kỳ sản xuất và khả năng tài chính của từng doanh nghiệp
Ngược lại so với phương thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụngrất linh hoạt đối với doanh nghiệp nhưng lại gây khó khăn cho ngân hàng trong việctheo dõi và quản lý cho vay Vì vậy, phương thức này các NHTM hạn chế áp dụng
mà chỉ thực hiện với các doanh nghiệp có tốc độ chu chuyển vốn nhanh
1.2.2.4 Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá.Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng tài trợ cho doanh nghiệp đểmua hàng và sẽ thu nợ khi họ bán hàng Đầu năm hoặc quý doanh nghiệp phải làm đơnxin vay luân chuyển Ngân hàng và doanh nghiệp sẽ thoả thuận với nhau về phươngthức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ
Doanh nghiệp cũng phải cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán vàmọi khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được tríchtrả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng Hạn mức tín dụng có thể đượcthoả thuận trong 1 năm hoặc vài năm Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà làthời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có chovay nữa hay không dựa trên những đánh giá của ngân hàng về tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp
Hình thức cho vay luân chuyển dựa trên luân chuyển của hàng hoá nên cảngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để
dự đoán dòng ngân quĩ trong thời gian tới Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến
Trang 17ngân hàng các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số tiền cần vay Ngân hàng cho vay
và trả tiền cho người bán Theo hình thức này, giá trị hàng hoá mua vào (có hoáđơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay;thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho ngân hàng Ngân hàng sẽ cho vaytheo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng hàng hoá và chất lượng quan hệ tín dụngcủa người vay Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật đảm bảocho khoản vay Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệpthương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệvay trả thường xuyên với ngân hàng
1.2.2.5 Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng cho phép khách hàngtrả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận Cho vay trả góp thườngđược áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho các tài sản cố địnhhoặc lâu bền Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông quahạn mức nhất định
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường dùng hàng hóa mua trả góplàm tài sản thế chấp Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của kháchhàng Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ củangân hàng cũng bị ảnh hưởng Vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường caonhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng
1.2.2.6 Cho vay gián tiếp
Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian nhưcác tổ đội nhóm sản xuất, các hội nông dân, cựu chiến binh, hội phụ nữ Ngân hàngcũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm đầu vào quá trình sảnxuất nhằm hạn chế người vay tiền sử dụng vốn vay sai mục đích
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vaynhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng Như vậy, thông qua vay trung gianngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí cho vay
Trang 18Cho vay trung gian nhằm giảm bớt rủi ro và chi phí cho ngân hàng nhưngcũng bộc lộ những hạn chế nhất định như các trung gian lợi dụng vị thế của mìnhbắt các thành viên vay lại với lãi xuất cao hơn, các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bánsản phẩm kém chất lượng hoặc bán với giá cao hơn cho người vay vốn
1.2.3 Qui trình cho vay đối với DNVVN
Qui trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, qui định của ngân hàng trongviệc cấp tín dụng Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định
kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị vay vốn cho đến khi khoản cho vay được thu nợđầy đủ cả gốc và lãi Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chấtliên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó vớinhau nhằm hạn chế và kiểm soát rủi ro Về cơ bản qui trình cho vay các DNV&Ncũng tương tự qui trình cho vay chung đối với các loại hình doanh nghiệp
Hiện nay, qui trình cho vay đối với DNV&N của NHTM thường bao gồmnhững nội dung sau:
1.2.3.1 Tiếp nhận hồ sơ vay vốn và thu thập thông tin.
Một khoản cho vay chỉ được thực hiện khi ngân hàng đã tin tưởng chắc chắnvào thái độ sẵn sàng trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng Để có được mộtquyết định chính xác về việc có cho vay hay không, ngân hàng phải thu thập vàphân tích hàng loạt các nguồn thông tin có liên quan, và nguồn sơ khởi đầu tiên cóđược là lấy từ hồ sơ đề nghị vay vốn Xét về mặt kinh tế, mặc dù quan hệ vay mượnchưa hình thành, nhưng đây là giai đoạn chuẩn bị những điều kiện cần thiết để quan
hệ vay vốn được thiết lập một cách lành mạnh
Qua công tác này, ngân hàng bước đầu có những thông tin sơ bộ về kháchhàng, để từ đó bắt đầu tiến hành việc thẩm định cho vay đối với khách hàng
1.2.3.2 Thẩm định khách hàng và phương án vay vốn của khách hàng.
Thẩm định phương án vay vốn chính là quá trình phân tích khách hàng dựatrên những dữ liệu được khách hàng cung cấp và những dữ liệu khác mà ngân hàngthu thập được Thẩm định khách hàng có thể nói là giai đoạn quyết định và quantrọng nhất đối với sự thành công của ngân hàng khi đầu tư
Trang 19Đối với DNV&N, do thông tin tài chính không có độ tin cậy cao nên một nộidung quan trọng khi thẩm định đó là các yếu tố phi tài chính Việc xem xét uy tín và
vị thế của khách hàng trong kinh doanh, khả năng quản trị Ban điều hành, mức độhợp tác trong hội đồng quản trị sẽ đóng góp lớn trong sự thành bại của Doanhnghiệp Ngoài ra, một khâu không thể thiếu trong thẩm định tài chính là xác minhmức độ tin cậy của các dữ liệu tài chính đầu vào
1.2.3.3 Ra quyết định cho vay.
Quyết định cuối cùng của việc chấp thuận hay không chấp thuận cho vay đượcđưa ra bởi Ban điều hành của NHTM Quyết định đúng giúp cho ngân hàng thu hútthêm được khách hàng và tăng thu nhập trong hoạt động kinh doanh của mình.Ngược lại, ra quyết đinh sai có thể dẫn đến tình trạng khách hàng không trả được
nợ, ngân hàng bị thất thoát về vốn hoặc thị phần bị thu hẹp, uy tín bị giảm sút.Thậm chí việc từ chối một khách hàng/phương án/dự án tốt cũng là một rủi ro đáng
kể của NHTM
Nguyên tắc ra quyết định: Một quyết định cho vay chỉ được thực hiện khi đãđảm bảo chấp hành mọi qui chế tín dụng hiện hành, thực hiện đúng chính sách tíndụng của NHTM đó và người quyết định có đầy đủ thông tin
1.2.3.4 Giám sát, thu nợ và thanh lý hợp đồng vay vốn.
Mục tiêu của việc giám sát là kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã camkết trong hợp đồng tín dụng: Khoản vay có được sử dụng đúng mục đích; Phương
án có được thực hiện đúng kế hoạch; Nguồn thu của Khách hàng có được sử dụnghợp lý để đảm bảo trả nợ…
Đến thời hạn trả nợ, nếu khoản cho vay được thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãithì coi như nghĩa vụ của khách hàng với ngân hàng đã được thực hiện xong Ngânhàng sẽ làm thủ tục thanh lý hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản thế chấp hoặc giảitoả tài sản cầm cố, lập biên bản giao nhận tài sản (nếu có), đồng thời tất toán tàikhoản vay, chuyển hồ sơ tín dụng vào lưu trữ
Trang 201.3 Hiệu quả cho vay đối với DNVVN của NHTM
1.3.1 Khái niệm hiệu quả cho vay
Để đánh giá một khoản vay được coi là có hiệu quả hay không thì khoản vay đóphải đáp ứng được rất nhiều tiêu chí của các chủ thể tham gia vào hoạt động này.Các chủ thể đó là : Ngân hàng thương mại, khách hàng vay vốn và toàn bộ nền kinh
tế Song ta chỉ xét đến hiệu quả cho vay đối với Ngân hàng thương mại
Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện cácmục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trongnhững điều kiện nhất định
Theo khái niệm này thì hiệu quả cho vay là phép so sánh dùng để phản ánh mốiquan hệ giữa doanh lợi từ hoạt động cho vay của NHTM và chi phí mà NHTM bỏ
ra để có được doanh lợi đó
Cụ thể hơn là đánh giá hiệu quả cho vay theo 2 giác độ: mức độ an toàn và khảnăng sinh lời của khoản vay
- Mức độ an toàn của khoản vay: Một khoản vay là có hiệu quả khi khoản vay
đó là an toàn Yếu tố an toàn đây muốn nói đến khả năng hoàn trả các khoảnlãi và vốn vay của khách hàng Đồng thời còn xem xét cả việc khách hàng có
sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả thiết thực hay không? Mộtkhoản vay có hiệu quả trên giác độ an toàn là khoản vay mà ngân hàng thuđược gốc và lãi đúng thời hạn mà không phải bù đắp bất cứ chi phí nào Mộtkhoản vay không trả được nợ hay chứa đựng nhiều nguy cơ không trả được
nợ thì được coi là khoản vay có hiệu quả kém
- Khả năng sinh lời : bên cạnh yếu tố an toàn thì yếu tố khả năng sinh lời là
một mục tiêu mà bất cứ một khoản vay có hiệu quả phải mang lại Khi cấpmột khoản cho vay, mục tiêu cốt lõi của NHTM luôn là lợi nhuận – yếu tố antoàn được xem xét trước hết nhưng yếu tố sinh lời mới là cơ bản Một khoảnvay an toàn mà không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng thì cũng không baogiờ là một khoản vay hiệu quả
Trang 21 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả cho vay của NHTM:
Việc nâng cao hiệu quả cho vay có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cácngân hàng thương mại Như chúng ta biết, cho vay là hoạt động mang lại lợi nhuậncao nhất đối với ngân hàng tương mại Nâng cao hiệu quả cho vay chính là nhằmmục đích gia tăng lợi nhuận của ngân hàng thương mại Nâng cao hiệu quả cho vayđồng nghĩa với việc nâng cao khả năng thu nợ đầy đủ và đúng hạn đồng thời tạođiều kiện mở rộng các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng Bất cứ một ngânhàng nào trong suốt quá trình hoạt động của mình cũng luôn luôn chú trọng vấn đề
mở rộng tín dụng Việc nâng cao hiệu quả cho vay là một hoạt động rất cần thiết để
mở rộng tín dụng cho ngân hàng đối với khách hàng Vì việc nâng cao hiệu quả chovay giúp ngân hàng xây dựng hình ảnh, uy tín với khách hàng, thu hút thêm nhiềukhách hàng mới đồng thời tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thịtrường Mặt khác, hiện nay các ngân hàng thương mại có xu hướng chuyển sang cạnhtranh bằng chất lượng dịch vụ nên việc nâng cao hiệu quả cho vay là yêu cầu kháchquan và là xu thế phát triển chung của hoạt động ngân hàng trong giai đoạn này
Bên cạnh việc mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại, nâng cao hiệu quảcho vay còn có ý nghĩa đối với khách hàng đi vay và toàn nền kinh tế nói chung
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay
Để đánh giá hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại, người ta thương dùngmột tập hợp các chỉ tiêu sau:
Dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng của nó phản ánh quy mô và xu hướng hoạtđộng cho vay của ngân hàng là đang mở rộng hay thu hẹp Tổng dư nợ cho vay thấpchứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng đó kém Tuy nhiên tổng dư nợ cho vay
Trang 22mà cao thì cũng chưa hoàn toàn phản ánh hiệu quả hoạt động cho vay của ngânhàng đó tốt vì còn tiềm ẩn yếu tố rủi ro tín dụng Do vậy cần xem xét yếu tố dư nợcho vay trong mối quan hệ với việc phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan cóảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng để đánh giá được chínhxác hơn.
Cùng với chỉ tiêu dư nợ cho vay, NHTM còn sử dụng thêm chỉ tiêu tỷ trong dư nợcho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên tổng dư nợ của ngân hàng thương mại
Tỷ trọng Dư nợ cho vay DNVVN
dư nợ cho vay DNVVN =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này là một số tương đối, cho biết hoạt động cho vay đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số dư nợ của toàn ngân hàng
Chỉ tiêu nợ quá hạn của DNVVN và tỷ trọng nợ quá hạn DNVVN
Chỉ tiêu Nợ quá hạn DNVVN là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu
quả cho vay của NHTM Nợ quá hạn là một phần hay toàn bộ (cả gốc và lãi) củadoanh nghiệp vay vốn đã đến hạn thanh toán nhưng doanh nghiệp không thanh toánđược mà vẫn chưa được ngân hàng xử lý cho điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ, xoá
nợ hay bất kỳ một biện pháp nào khác
Xét về mặt bản chất, cho vay là quan hệ vay mượn dựa trên cơ sở ngân hàng tintưởng người đi vay có khả năng và sẵn sàng hoàn trả vào một thời điểm nhất địnhtrong tương lai, vì thế tính an toàn là yếu tố quan trọng hàng đầu để đánh giá chấthiệu quả cho vay Khi một khoản vay được chuyển thành nợ quá hạn sẽ phải chịu lãisuất cao hơn lãi suất vay trước đó Tuy nhiên thực tế thì nếu các khoản nợ quá hạncàng nhiều thì ngân hàng sẽ càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì ngân hàng phảiđối diện với nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và lợi nhuận sẽ giảm sút
Tỷ lệ nợ quá hạn DNVVN là tỷ lệ phần trăm giữa dư nợ quá hạn và tổng dư nợ
tại một thời điểm nhất định thường là vào cuối quý hay cuối năm
Trang 23có nhiều khoản vay bị nợ quá hạn không những làm giảm uy tín của ngân hàng mà
có thể làm cho ngân hàng bị mất vốn và mất khả năng thanh toán Một NHTM cónhiều khoản vay bị nợ quá hạn có nguy cơ bị mất vốn chứng tỏ chất lượng hoạtđộng cho vay của ngân hàng đó là yếu kém Nếu tỷ lệ nợ quá hạn vượt quá khảnăng tự bù đắp của NHTM có thể làm cho ngân hàng thương mại bị đẩy đến bờ vựccủa sự phá sản Thời gian quá hạn của khoản vay càng dài thì nguy cơ mất vốn củangân hàng thương mại càng lớn, các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày được xem làcác khoản nợ quá hạn khó đòi
Các khoản nợ quá hạn có thể do những nguyên nhân chủ quan như: trình độquản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hậu,doanh nghiệp không thích nghi được với môi trường kinh doanh đầy biến động…
và cũng có thể do những nguyên nhân khách quan như: sự bất ổn của thị trường, sựthay đổi chính sách của Nhà nước, rủi ro trong kinh doanh… Nhưng hậu quả của nó
là doanh nghiệp có thể bị đình trệ sản xuất, thua lỗ nặng nề và khó có thể đủ khảnăng trả nợ ngân hàng
Tại Việt Nam : “ Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của các tố chứctín dụng, các ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn < 5% được xếp loại A, nghĩa là chấtlượng tín dụng tương đối tốt, từ 5% đến 8% xếp loại B và từ 8% trở lên xếp loại C,nghĩa là chất lượng tín dụng yếu kém” ( Theo quyết định 49/2004/TT-BTC ngày 04tháng 6 năng 2004 hướng dẫn ) Do vậy các ngân hàng thương mại luôn cố gắngduy trì tỷ lệ này càng thấp càng tốt
Trang 24 Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi DNVVN
Để đánh giá chính xác hơn chất lượng hoạt động cho vay, chỉ tiêu nợ quá hạn cókhả năng thu hồi cũng thường xuyên được sử dụng Chỉ tiêu này xác định như sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn có khả năng thu hồi DNVVN
có khả năng thu hồi = - x 100%
Nợ quá hạn DNVVN
Khi phân tích về tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi, cũng cần đưa ra nhữngtiêu chí để xác định về nợ quá hạn có khả năng thu hồi Theo đó nợ quá hạn có khảnăng thu hồi là những khoản nợ quá hạn còn đối tượng để thu hồi do hàng hoá bị ứđọng, tiêu thụ kém, do việc sản xuất, lưu thông hàng hoá gặp khó khăn, do việc thutiền hàng của khách hàng bị chậm… nên khách hàng không thể trả được nợ vay đúnghạn Ngoài ra, nợ quá hạn có khả năng thu hồi cũng bao gồm những khoản nợ quáhạn nhưng khách hàng vay vốn có tài sản thế chấp, bảo lãnh và Ngân hàng đang tiếnhành các thủ tục để phát mại tài sản thế chấp hoặc phát thư đòi tiền người bảo lãnh…Tuy nhiên việc xác định nợ quá hạn có khả năng thu hồi phải được tiến hànhsau khi phân tích kỹ lưỡng tình trạng của khách hàng có nợ quá hạn Việc phân tíchnày đôi khi mang tính chủ quan Ngoài ra việc bán (giá cả, thời gian) các tài sản/vật
tư hàng hoá, thu hồi các khoản nợ để trả nợ ngân hàng không chỉ phụ thuộc vàokhách hàng, ngân hàng cho vay mà còn phụ thụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài.Chính vì vậy, chỉ tiêu này khó được định lượng một cách chính xác
Trang 25Cùng với các qui định về cơ cấu lại nợ (gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ) và chuyển nợquá hạn, chất lượng tín dụng được xem xét toàn diện hơn do đã tính đến cả cáckhoản nợ đã được cơ cấu lại Nếu như trước đây việc chuyển nợ quá hạn chỉ đượcthực hiện khi khoản nợ đã đến hạn mà không trả được nợ và không được cơ cấu lạithì hiện nay NHTM có thể chuyển nợ quá hạn khi khoản nợ đó chưa đến hạn nhưng
bị đánh giá là không có khả năng trả Bất kỳ một khoản nợ nào bị cơ cấu lại/chuyển
nợ quá hạn thì toàn bộ dư nợ của hợp đồng tín dụng đó cũng được ghi nhận là nợ cơcấu lại/quá hạn
Chỉ tiêu tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay DNVVN
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt cũng hoạt động
vì mục tiêu lợi nhuận nên những chỉ tiêu liên quan đến thu nhập chính là chỉ tiêuđánh giá chất lượng hoạt động của ngân hàng Hiệu quả hoạt động cho vay cũngđược đánh giá thông qua chỉ tiêu tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay
Thu nhập từ cho vay DNVVN
Tỷ trọng thu nhập từ cho vay DNVVN =
Tổng thu của ngân hàng
Chỉ tiêu này cho thấy trong tổng thu nhập của ngân hàng thương mại thì thunhập từ hoạt động cho vay DNVVN chiếm tỷ lệ bao nhiêu từ đó cho thấy được vaitrò của hoạt động cho vay nói chung và cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏnói riêng của một ngân hàng thương mại Các nguồn thu của ngân hàng bao gồm:thu từ lãi cho vay, thu từ tiền gửi tại các TCTD, thu từ dịch vụ,thu từ hoạt động đầu
tư, và các khoản thu khác
Một khoản vay được coi là có hiệu quả phải là một khoản vay được thu hồi đầy
đủ cả gốc và lãi, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Việc tính toán chỉ tiêu này giúp các ngân hàng thương mại nhận biết được khả năngsinh lời từ hoạt động cho vay DNVVN trong tổng thu nhập của ngân hàng, từ đóđánh giá được tình hình cho vay và giúp ngân hàng thương mại có thêm những biệnpháp kịp thời để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trang 26 Chỉ tiêu tỉ lệ thu lãi từ cho vay DNVVN / dư nợ bình quân DNVVN
Chỉ tiêu này cho biết một đồng cho vay bình quân thu được bao nhiêu đồng lãi.Chỉ tiêu này phản ánh khả năng kiểm soát chi phí trong cho vay của ngân hàng vàmức độ sinh lời từ cho vay Thu nhập từ lãi là phần chênh lệch giữu thu từ lãi trừchi phí trả lãi huy động
Tỉ lệ này càng cao phản ánh mức sinh lời từ hoạt động cho vay càng cao, dokiểm soát tốt chi phí và tăng cường lợi nhuận
Tuy nhiên chỉ tiêu này quá thấp lại chứng tỏ 2 điều: thứ nhất là hiệu quả khoảncho vay đối với nhóm đối tượng này còn thấp; thứ hai là có thể nếu dư nợ cao màthu lãi thấp thì có thể là ngân hàng đang trong giai đoạn mở rộng cho vay đối vớinhóm đối tượng này Hơn nữa một phần qua chỉ tiêu này cũng đánh giá được khảnăng thu lãi và thu nợ của ngân hàng Cuối quý hoặc cuối năm, các ngân hàng cóthể tính toán chỉ tiêu này nhằm đánh giá hiệu quả của khoản cho vay này đồng thời
có biện pháp kịp thời trong việc cải cách chính sách cho vay với nhóm đối tươngkhách hàng này
Chỉ tiêu thu nhập từ cho vay DNVVN trên chi phí cho vay DNVVN
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng chi phí bỏ ra để thực hiện cho vay DNVVNthì ngân hàng sẽ được bao nhiêu đồng thu nhập Khi tiến hành bất cứ một hoạt độngkinh doanh nào cũng cần có các chi phí; chi phí đối với khoản cho vay doanhnghiệp đây có thể là chi phí cho cán bộ tín dụng, chi phí thực hiện hợp đồng….hoặc có thể là chi phí cơ hội của món tiền đem cho vay đó
Nguyên tắc tối thiểu trong kinh doanh là phải “lấy thu bù chi”; do vậy chi tiêunày luôn phải lớn hơn hoặc bằng 1 còn nếu thấp hơn hơn thì tức là ngân hàng đang
bị lỗ hoặc ngân hàng đang có chính sách hỗ trợ đối với nhóm đối tượng này Tuynhiên điều này rất ít khi xảy ra bới với các ngân hàng thương mại với đặc trưng làdoanh nghiệp kinh doanh tiền tệ thì việc để chỉ tiêu này thấp hơn 1 là điều khôngbao giờ mong muốn Vì thế vì một lý do nào đó, các ngân hàng chỉ có thể chấp nhậnchỉ tiêu này bằng 1 hoặc cao hơn
Trang 271.3.2.2 Nhóm các chỉ tiêu định tính
Tính toán và đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay thông qua các chỉ tiêu địnhlượng là hết sức trực quan song bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận sự cần thiếtcủa việc xem xét các chỉ tiêu định tính Những chỉ tiêu định tính thường được cácngân hàng thương mại xem xét thêm thường là:
- Sự tuân thủ các nguyên tắc tín dụng
- Uy tín của ngân hàng trong việc cung cấp các dịch vụ
- Chất lượng, trình độ của cán bộ tín dụng
- Quy trình nghiệp vụ của ngân hàng
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay DNVVN của NHTM.
Khi nói đến hiệu quả cho vay, bên cạnh việc đánh giá thông qua các chỉ tiêunhư trên thì cũng cần phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt độngcho vay của ngân hàng thương mại Đây thực sự là một việc làm cần thiết trong quátrình nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng Tìmhiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại sẽcho ngân hàng thương mại thấy những điều gì đang tác đông đến hiệu quả hoạtđộng cho vay của ngân hàng và những tác động đó là tích cực hay tiêu cực cùng vớimức độ tác động của yếu tố đó như thế nào Từ đó sẽ tìm ra được những biện pháptác động trở lại các nhân tố này nhằm điều chỉnh và hạn chế các tác động tiêu cực;phát triển và nâng cao các tác động tích cực đối với hoạt động cho vay của NHTM
Có rất nhiều nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàngthương mại nhưng chung quy lại có thể chia thành 2 nhóm các nhân tố như sau:
1.3.3.1 Các nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng của NHTM
Chính sách tín dụng của NHTM quyết định toàn bộ hướng phát triển củangân hàng đó Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng,trở thành hướng dẫn chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng Chínhsách tín dụng của ngân hàng được xây dựng dựa trên những nhân tố cơ bản sau:
Trang 28nhu cầu tín dụng, khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của khách hàng Chính sáchcủa chính phủ và ngân hàng Nhà nước, qui mô, kết cấu, tính ổn định của các khoảntiền gửi, khả năng vay mượn của ngân hàng, qui mô vốn chủ sở hữu cũng đượccân nhắc kỹ khi xây dựng chính sách tíndụng.
Nội dung chính sách tín dụng của NHTM bao gồm :
- Chính sách khách hàng
- Chính sách qui mô và giới hạn tín dụng
- Lãi suất và phí suất tín dụng
đã có định hướng đầu tư cho DNV&N , họ sẽ có các chính sách tín dụng riêng, các
ưu đãi đối với bộ phận khách hàng này
Chất lượng công tác thẩm định
Như chúng ta đã biết, thẩm định là một khâu quan trọng bậc nhất của quy trìnhcho vay Đó là việc xem xét một cách toàn diện ,khách quan các nội dung cơ bảnảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoàn trả của khách hàng Do vậy, cán bộ thẩmđịnh cần phải xem xét một cách chính xác, khoa học về tính khả thi của dự án, thẩmđịnh khách hàng cũng như thẩm định tài sản đảm bảo trước khi ra quyết định chovay hay không Nếu việc thẩm định không thực hiện đúng với các trình tự nội dungcủa quy trình tín dụng, không đầy đủ, chính xác, hợp lý thì khả năng xảy ra rủi rocho ngân hàng là rất lớn Tuy nhiên các khâu thẩm định cũng cần được thực hiệnmột cách linh hoạt, gọn nhẹ, phù hợp với từng đối tượng khách hàng để tránh sựrườm rà không cần thiết, gây lãng phí thời gian và tiền bạc cho cả ngân hàng vàkhách hàng Công tác thẩm định yêu cầu các nhân viên tín dụng phải có trình độchuyên môn cao, có kĩ năng phân tích tài chính doanh nghiệp, biết đánh giá các tàisản, trung thực trong công việc… để từ đó có những quyết định chính xác qua đóvừa tạo cho ngân hàng có những khoản cho vay có hiệu quả mang lại thu nhập cho ngân
Trang 29hàng đồng thời giúp ngân hàng hạn chế đến mức tối thiểu các rủi ro có thẻ xảy ra
Sự đổi mới của hoạt động tín dụng và các sản phẩm hỗ trợ
Sự đổi mới của hoạt động ngân hàng nhất là hoạt động tín dụng tạo sức hútmạnh mẽ đối với khách hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa cácNHTM như hiện nay Với DNV&N, họ rất nhanh nhạy và đặc biệt quan tâm đếnchất lượng của các dịch vụ như: thủ tục nhanh chóng, giá cả hợp lý, có nhiều sự lựachọn, sản phẩm trọn gói, phục vụ chuyên nghiệp…
Ngân hàng cũng cần phải chứng minh với khách hàng về uy tín và trình độphát triển của mình thông qua các sản phẩm bổ trợ cho hoạt động tín dụng nhưthanh toán, tài trợ thương mại, chuyển tiền…Chúng ta cũng cần nhấn mạnh đếnhoạt động maketting ngân hàng Thông qua đó, NHTM đưa sản phẩm đến với cáckhách hàng Hoạt động Maketting hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng thị phần,tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận cũng tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng
Trong quá trình cho vay, cán bộ tín dụng đóng vai trò rất quan trọng bởi họ
là người trực tiếp tiếp xúc, hướng dẫn khách hang thủ tục hồ sơ, phân tích kháchhàng, kiểm tra tư cách khách hàng, thẩm định dự án xin vay của khách hàng…Chính vì thế, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đếnhiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Khách hàng đến xin vaythường hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau và rất phức tạp nên đòi hỏi cán bộtín dụng phải có năng lưc để phân tích và đánh giá chính xác khách hàng vay vốntránh tình trạng đánh giá sai về khách hàng hoặc có thể bị lừa đảo, lợi dụng Bêncạnh trình độ chuyên môn thì một điều cần chú ý nữa đó chính là tính trung thực vàtrách nhiệm nghề nghiệp của người cán bộ tín dụng bởi vì cán bộ tín dụng hàngngày phải xử lý nghiệp vụ có tính biến động liên quan đến nhiều lĩnh vực, ngànhnghề kinh tế; gặp gỡ trực tiếp với nhiều loại khách hàng; đối mặt với nhiều cám dỗ;
có nhiều cơ hội để thực hiện những hành vi vụ lợi…Vì vậy, cán bộ tín dụng phảiđược lựa chọn một cách cẩn thận, được bố trí hợp lý và cần được quan tâm giáo dụcrèn luyện cũng như có chính sách bồi dưỡng phụ hợp
Trang 30 Công nghệ ngân hàng
Công nghệ ngân hàng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm dich vụ củangân hàng, là ưu thế cạnh trạnh của các ngân hàng lớn có mạng lưới rộng Cáctrang thiết bị phục vụ cho hoạt động cung cấp dich vụ, quản lý, phân tích kháchhàng đóng một vai trò rất lớn tới chính sách khách hàng của một ngân hàng và chấtlượng tín dụng Chất lượng của một sản phẩm phải được đánh giá trên quan điểmcủa khách hàng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng cách tốt hơn các đối thủ cạnhtranh Khi càng gắn nhiều tiện ích cho sản phẩm thì đòi hỏi công nghệ phải cànghiện đại Muốn áp dụng công nghệ hiện đại thì ngân hàng phải có vốn chủ sở hữu
đủ lớn và năng lực tiếp thu, vận hành của đội ngũ nhân viên tốt
Quan niệm của NHTM về DNVVN
Các ngân hàng thương mại hiện nay đang có những chuyển biến tích cựctrong việc đánh giá các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trước kia các ngân hàng vẫn cótâm lý rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường chỉ vay những khoản nhỏ nên dẫnđến tình trạng chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc kiểm tra giám sáttình hình tài chính và việc sử dụng vốn vay của khách hàng Bên cạnh đó vẫn cònnhiều những vướng mắc trong quá trình tiếp cận tín dụng do vốn thực của cácdoanh nghiệp và nhỏ luôn nhỏ hơn số vốn đăng ký Vả lại các ngân hàng thươngmại thường rất ngại trong việc kiểm tra tính minh bạch và chính xác trong hồ sơ vayvốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì luồng thông tin ngân hàng nhận đượcthường thiếu độ chính xác Tuy nhiên, cùng với sự chuyển biến tích cực của nềnkinh tế, khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng ngày càng khẳng định được vị thếcủa mình Chính vì thế doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang trở thành khách hàngtiềm năng của nhiều ngân hàng
Các yếu tố khác
Quy trình tín dụng: Các cán bộ tín dụng xem xét, thực hiện cho vay theo mộtquy trình tín dụng do ngân hàng xây dựng Để đảm bảo tính an toàn nhanh gọn quytrình tín dụng thường được xây dựng riêng cho từng nhóm đối tượng khách hàng.Quy trình tín dụng phù hợp sẽ tiết tiệm thời gian, cũng như chi phí cho ngân hàng
Trang 31và khách hàng xin vay vốn.
Hệ thống thông tin tín dụng: Thiếu thông tin sẽ làm cản trở rất lớn tới quyếtđịnh cấp tín dụng và tăng rủi ro cho ngân hàng Thông tin tín dụng được cung cấpchủ yếu từ khách hàng và từ mạng lưới thông tin của ngân hàng Thông tin liênquan đến khách hàng chính xác, đầy đủ, kịp thời sẽ giúp cán bộ tín dụng ra quyếtđịnh nhanh chóng, chính xác
1.3.3.2 Các nhân tố khách quan
Môi trường pháp lý
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại mang lại nhiều lợi nhuậnnhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro Chính vì thế sự điều hành của Nhà nước cũngnhư sự quản lý khắt khe của ngân hàng Nhà nước thông qua những quy định, nghịđịnh cụ thể là rất cần thiết Môi trường pháp lý lành mạnh sẽ là cơ sở để giải quyếtcác các mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế Các ngân hàng cũng như cácdoanh nghiệp đều phải tuân thủ những quy định đó một cách nghiêm chỉnh thì hiệuquả và lợi ích mới được đảm bảo Nếu môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, thiếuđồng bộ và chặt chẽ sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp và ngân hàng, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Môi trường kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng vàhoạt động của doanh nghiệp Trong một nền kinh tế mở, sự ổn định kinh tế, xã hộitrong và ngoài nước tạo môi trường và đà phát triển cho cả NHTM và các DNV&N.Một môi trường kinh tế, xã hội ổn định thì các doanh nghiệp có nhiều điều kiệnthuận lợi trong việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, hạn chế được các yếu tố rủi rongoài dự kiến, có điều kiện trả nợ vay ngân hàng đúng hạn, đầy đủ Ngược lại, ngânhàng cũng có đủ nguồn vốn, niềm tin để tăng trưởng các khoản cho vay đối vớidoanh nghiệp
Sự ổn định của môi trường kinh tế xã hội còn được thể hiện ở sự kiện toàn và
ổn định của chính sách Nhà nước Nếu chính sách thông thoáng, thuận lợi sẽ tạođiều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao
Trang 32hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn trả nợ vay ngân hàng Trong một chừngmực nào đó, đôi khi chính sách của Nhà nước không thể là tối ưu cho mọi phươngdiện của đời sống kinh tế - xã hội
Bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có đặc điểm chung là quy mô sản xuất kinhdoanh không lớn, năng lực tài chính còn hạn chế và nhu cầu vay vốn còn rất tiềmnăng.Tát cả những yếu tố đó đều ảnh hưởng đến hoạt đông cho vay của ngân hàngthương mại thông qua việc quyết định cho vay hay không
Thứ nhất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực tài chính không lớn nên
cơ cấu vốn đầu tư thường không hợp lý Họ thường chú trọng đầu tư vào tài sản cốđịnh nên dẫn đến thiếu hụt vốn lưu động để tiến hành sản xuất kinh doanh dẫn đếnkhả năng thanh toán bị hạn chế Bên cạnh đó trong trường hợp phương án kinhdoanh của doanh nghiệp sau khi được cấp vốn không có khả thi thì doanh nghiệp sẽkhó có khả năng trả lãi và vốn vay cho ngân hàng đúng hạn vì nguồn vốn tự có củadoanh nghiệp ít, lợi nhuận của doanh nghiệp lại thấp
Thứ hai, với quy mô sản xuất nhỏ gọn, ngành nghề đa dạng, công nghệ kĩ
thuật không quá phức tạp thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng thích ứng hơncác doanh nghiệp lớn trước các biến động của thị trường Chính vì thế nên khả năngkhai thác, sử dụng vốn vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ rất linh hoạt và thường cóđiều kiện khấu hao máy móc thiết bị để thu hồi vốn, trả nợ ngân hàng Tuy nhiên sovới các doanh nghiệp lớn thì doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu thông tin thịtrường, thiếu chuyên gia phân tích kinh tế, thiếu các dữ liệu đầu vào để tiến hànhphân tích kinh tế nên dẫn đến tình trạng là việc tính toán và triển khai dự án khôngchính xác với thực tế, gây nên những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp và cả rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Thứ ba, trình độ quản lý của ban lãnh đạo, ban giám đốc của các doanh
nghiệp vừa vẫn nhỏ vẫn còn chưa cao nên ngân hàng vẫn còn ngân ngại trong việcđưa ra các quyết định cho vay Bên cạnh đó các ngân hàng thương mại còn đặc biệtquan tâm tới uy tín của doanh nghiệp trên thương trường bởi vì yếu tố nảy quyết
Trang 33định mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp Dựa trên uy tín của các doanhnghiệp, ngân hàng sẽ sẵn sàng cho vay bằng tín chấp khi doanh nghiệp đó đã chứngminh được hiệu quả kinh doanh của mình
Thứ tư là về nhu cầu vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hay chính là nhu
cầu vốn cho phương án sản xuất kinh doanh được trình lên Nhu cầu vốn của doanhnghiệp phải phù hợp với mục đích sử dụng vố Ngân hàng sẽ cấp vốn cho doanhnghiệp trong trường hợp doanh nghiệp đó thực sự thiếu vốn và có một dự án thật sựkhả thi Tuỳ vào tính cấp thiết của việc sử dụng vốn mà ngân hàng quyết đinh cócho vay hay không, cho vay bằng hình thức nào là phù hợp với cơ cấu nguồn vốncủa ngân hàng mà vẫn ddapr ứng được nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Thứ năm là tính minh bạch của DNV&N và thiện chí trả nợ Để có thể đầu tư
vốn, điều quan trọng là ngân hàng phải có thông tin đầy đủ về khách hàng và thôngtin đó phản ánh đúng thực tế Tuy nhiên, thực trạng doanh nghiệp nhất là doanhnghiệp ngoài quốc doanh có 2-3 hệ thống sổ sách kế toán, chủ doanh nghiệp chedấu thông tin rất phổ biến đã làm mất lòng tin của các nhà đầu tư
Còn tại các doanh nghiệp Nhà nước tình trạng hạch toán dấu lỗ, nâng giá tàisản để vay vốn ngân hàng, kinh doanh không vì lợi nhuận mà hầu như không cóbiện pháp kiểm soát không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới doanh nghiệp mà còn ảnhhưởng không nhỏ đến ngân hàng cho vay
Thiện chí trả nợ của Chủ doanh nghiệp cũng là một trong các yếu tố quantrọng Trong điều kiện hệ thống pháp luật còn chưa hoàn chỉnh, doanh nghiệp lạiđược tự do kinh doanh và giao dịch với các NHTM thì ngân hàng cho vay thực sựkhó khăn trong việc quản lý nguồn thu nợ Nếu chủ doanh nghiệp thiếu thiện chíthì mặc dù hợp đồng tín dụng có qui định chặt chẽ thế nào cũng chưa phải là giải
pháp chắc chắn nhất.
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM-CN HẢI PHÒNG
2.1 Giới thiệu khát quát về NHTMCP Ngoại thương VN – CN Hải Phòng 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trước năm 1969, tiền thân của Ngân hàng Ngoại thương Chi nhánh HảiPhòng chỉ là Phòng quản lý ngoại hối thuộc Cục quản lý ngoại hối của Ngân hàngNhà nước Sau khi Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập, Phòng quản
lý ngoại hối Hải Phòng về mặt đối ngoại được giới thiệu như là một Chi nhánh thuộc
hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam để thực hiện một số nghiệp vụ đốingoại tại chỗ như: thanh toán tiểu ngạch giữa Hồng Kông, Trung Quốc và thanh toántiền ký ngân của các hãng tàu biển nước ngoài tới Cảng Hải Phòng
Tháng 07/1969, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Chi nhánh nghiệp
vụ ngân hàng Cảng thành phố được thành lập, thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam Phòng quản lý ngoại hối từ đó được sát nhập với Chi nhánhnghiệp vụ ngân hàng Cảng
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh phát triển hoạt động ngân hàng và tạo điềukiện thúc đẩy kinh tế xã hội của thành phố Cảng phát triển, ngày 27/12/1969 Tổnggiám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ra quyết định thành lập Chi nhánhNgân hàng Ngoại thương tại Hải Phòng, trực thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 01/01/1977
Qua hơn 30 năm hoạt động đến nay, VCB Hải Phòng có vị trị quan trọngtrong hệ thống Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam cũng như trên địa bànthành phố Hải Phòng Tính đến 31/12/2010 VCB Hải Phòng đã huy đồng vốn trên3.354 tỉ quy VND, chiếm trên 10% thị phần huy động Tổng dư nợ đạt trên 4.381 tỉquy VND, chiếm gần 15% dư nợ trên toàn địa bàn Hiện Chi nhánh có 1 trụ sở
Trang 35chính và 7 phòng giao dịch cùng hệ thống máy ATM gồm 27 chiếc được phân bốphù hợp trong toàn địa bàn Hải Phòng.
PHÒNG
KẾ TOÁN
PHÒNG KINH DOANH DỊCH VỤ
PHÒNG KHÁCH HÀNG
PHÒNG NGÂN QUỸ
PHÒNG THANH TOÁN QUỐC TẾ
Trang 362.1.3 Khái quát về hoạt động kinh doanh của VCB- CN Hải Phòng
Năm 2010
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2006 đến 2010- VCB Hải Phòng)
Huy động vốn từ khách hàng tăng liên tục qua các năm, tốc độ tăng trưởng bìnhquân đạt 13.5 %/năm trong giai đoạn 2006-2010, là tốc độ tăng trưởng ở mức trungbình so với tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành và trên địa bàn Tốc độ tăngtrưởng của huy động vốn được thể hiện:
Biểu đồ 2.1: Huy động vốn của VCB từ năm 2006-2010
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2006 đến 2010- VCB Hải Phòng)
Từ những năm trở lại đây, các chi nhánh Ngân hàng TMCP được thành lập tại
Trang 37Hải Phòng rất nhiều đi kèm theo đó là các chính sách khuyến mại, tặng quà, tặng lãisuất,… nhằm thu hút khách hàng đã ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn vốn huy độngcủa Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải Phòng Công tác huy độngvốn ngày càng được các Ngân hàng TMCP cạnh tranh gay gắt Tuy nhiên, do ápdụng linh hoạt các sản phẩm dịch vụ mới đối với khách hàng cá nhân cũng nhưdoanh nghiệp, nguồn vốn của Vietcombank HP vẫn tăng trưởng Nguồn vốn huyđộng năm 2010 đạt 3.354 tỉ đồng cao hơn so với các năm trước Vốn huy động
từ thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm qua các năm và chiếm tỉ trọng nhỏ
so với tổng số vốn huy động
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng.
Mặc dù hiện nay với chủ trương thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước,các ngân hàng phải hạn chế cho vay và tăng cường huy động vốn nên hoạt động tíndụng của Vietcombank Hải Phòng cũng trầm lắng hơn Song hoạt động tín dụngvẫn là hoạt động quan trọng và mang lại thu nhập chính cho Chi nhánh
Bảng 2.2: Doanh số cho vay- Thu nợ- Dư nợ giai đoạn 2006-2010
(Đơn vị: Tỷ đồng)
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2006 đến 2010- VCB Hải Phòng)
Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 33,5%/năm, làtốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của hệ thống
Trang 38Vietcombank Thu nhập từ lãi cho vay cũng tăng mạnh theo tốc độ tăng trưởng tíndụng và đóng góp chủ yếu vào kết quả kinh doanh chung của VCB Hải Phòng Tuynhiên tăng trưởng tín dụng với tốc độ quá nóng trong khi khả năng quản trị rủi ro vàyếu tố con người chưa theo kịp sẽ có thể dẫn tới sự phát triển thiếu bền vững trongtương lai
Biểu đồ 2.2: Doanh số cho vay và dư nợ của VCB HP giai đoạn 2006-2010
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2006 đến 2010- VCB Hải Phòng)
2.1.3.3 Các hoạt động kinh doanh khác
Hoạt động thanh toán quốc tế:
Hoạt động thanh toán quốc tế được xem là thế mạnh của hệ thốngVietcombank nói chung và Vietcombank Hải Phòng nói riêng Trong hoạt độngthanh toán quốc tế Vietcombank Hải Phòng là một trong những ngân hàng đầu tiêntham gia hệ thống thanh toán bù trừ toàn cầu qua mạng SWIFT Chi nhánh cũng rấtchú trọng đến việc mua ngoại tệ bằng nhiều nguồn và áp dụng nhiều biện pháp linhhoạt nhằm cung cấp đầy đủ, kịp thời ngoại tệ cho nhu cầu thanh toán của cácdoanh nghiệp
Trang 39Thị phần về thanh toán quốc tế của Vietcombank Hải Phòng chiếm khoảng hơn30% thị phần thanh toán trên địa bàn thành phố Hải Phòng và chủ yếu là thanh toánhàng nhập khẩu Năm 2008 là năm hoạt động thanh toán quốc tế đạt doanh số thanhtoán cao nhất cả về hàng xuất và hàng nhập khẩu trong giai đoạn từ 2006- 2010
Bảng 2.3: Các hoạt động kinh doanh khác giai đoạn 2006-2010
(Đơn vị: Triệu đồng)
Chỉ tiêu
Năm 2006
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
I, Thanh toán quốc tế
1, Thanh toán hàng xuất khẩu
(nghìn USD) 69.568 30.441 304.425 61.652 90.457
2, Thanh toán hàng nhập khẩu
(nghìn USD) 173.423 380.729 381.169 192.495 117.438
II, Kinh doanh ngoại tệ
1, Doanh số mua vào
2, Thanh toán thẻ ATM 607.952 1.137.900 1.600.554 1.700.000 1.841.793
4, Chuyển tiền nhanh 16.512 19.337 21.221 16.524 2.465.136
(Nguồn: Báo các thực hiện từ 2006 đến 2010- VCB Hải Phòng)
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ:
Đây được coi như là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động tín dụng và thanh toánquốc tế, phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng Với sự tăng trưởng củatín dụng và thanh toán quốc tế, hoạt động mua bán cũng có sự tăng trưởng mạnhqua các năm Tuy nhiên từ năm 2009 trở lại đây, do cơ chế điều hành tỉ giá cónhững thay đổi làm cho Vietcombank Hải Phòng gặp phải khó khăn về nguồn cungngoại tệ, cung không đáp ứng đủ cầu ngoại tệ dẫn đến doanh số thanh toán quốc tếgiảm và nhu cầu vay vốn bằng đồng ngoại tệ của khách hàng cũng gặp khó khăn
Hoạt động kinh doanh dịch vụ:
Bên cạnh dịch vụ bán buôn vốn có uy tín quốc tế dành cho các tổ chức kinh
Trang 40tế (corporate banking), Vietcombank Hải Phòng trong 5 năm qua cũng đã triểnkhai các dịch vụ đa dạng và hiện đại dành cho khách hàng cá nhân (dịch vụ ngânhàng bán lẻ - retail banking) như các sản phẩm cho vay linh hoạt, thẻ thanh toán,
hệ thống máy rút tiền tự động ATM, các sản phẩm huy động vốn đa dạng, các dịch
vụ ngân hàng trực tuyến, dịch vụ chuyển tiền kiều hối
Chi nhánh Vietcombank Hải Phòng là một trong những đơn vị đi đầu triểnkhai kịp thời và thành công các ứng dụng công nghệ ngân hàng vào hoạt độngnghiệp vụ, nhất là áp dụng công nghệ vào các chương trình thanh toán Sau hơn 5năm, cơ cấu các sản phẩm thẻ của Vietcombank Hải Phòng đã đầy đủ, bao gồmthẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, nội địa và quốc tế; hoạt động thanh toán và phát hànhthẻ luôn được song song chú trọng với công tác chăm sóc khách hàng Hiện tại,Vietcombank chấp nhận thanh toán tất cả các loại thẻ tín dụng phổ biến nhất trênthế giới (Visa, MasterCard, American Express); phát hành thẻ tín dụngVietcombank Visa, Vietcombank MasterCard Cội nguồn, Vietcombank AmericanExpress, thẻ ghi nợ Vietcombank Visa Debit, Vietcombank MTV và VietcombankConnect 24
Với các tiện ích trong dịch vụ chuyển tiền nhanh ở trong nước cũng nhưnước ngoài như : thủ tục đơn giản, nhanh chóng, tiền được chuyển nhanh, an toànchi phí thấp nên doanh số chuyển tiền nhanh tăng mạnh qua các năm Năm 2010 cókết quả ấn tượng với doanh số chuyển tiền nhanh đạt 2.465 tỉ đồng gấp 149 lần sovới năm 2009
2.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2006- 2010
Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank Hải Phòng tăng trưởng khátốt qua các năm, tăng trưởng mạnh mẽ nhất là năm 2008 đạt hơn 90 tỷ đồng, tăng18% so với năm 2007 Hai năm 2009, 2010 kết quả kinh doanh có giảm hơn so vớigiai đoạn từ năm 2006-2008 Song đây vẫn là một kết quả tích cực so với các ngânhàng trên địa bàn thành phố do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và hậuquả của lạm phát năm 2008
Bảng 2.4: Kết quả kinh doanh VCB Hải Phòng giai đoạn 2006-2010
(Đvt: Tỷ đồng)