Để thực hiện mục tiêu đó, chương này sẽ đi vào khái quát các khái niệm cơ bản về ngân hàng thương mại, thị trường ngoại hối, kinh doanh ngoại hối của NHTM, vì sao phải phát triển hoạt độ
Trang 1MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
HABUBANK giai đoạn 2008 – 2011
Bảng 2.4 Biểu đồ doanh số các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của
Habubank giai đoạn 2008-2011
62
Trang 3DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tổng hợp vốn huy động của ngân hàng
HABUBANK giai đoạn 2008 - 2010
37
Hình 2.2 Tổng hợp dư nợ cho vay của ngân hàng
HABUBANK giai đoạn 2008 – 2011
39
Hình 2.3 Doanh số thực hiện hoạt động kinh doanh ngoại
hối tại Ngân hàng HABUBANK
40
Hình 2.4 Quy trình nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối tại ngân
hàng Habubank
47
Hình 2.5 Kế hoạch hoạt động kinh doanh ngoại hối tại
Ngân hàng HABUBANK giai đoạn 2011-2015
50
Hình 2.6 Biểu đồ doanh số mua bán ngoại tệ hàng năm của
HABUBANK
56
Hình 2.7 Biểu đồ thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh
ngoại hối hàng năm của Việt Nam HABUBANK, Á
Châu, Sacombank
60
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế và thương mại quốc tế ngày càng phát triển trên thế giới, thanh toán quốc tế đã trở thành một hoạt động cơ bản, không thể thiếu của các ngân hàng thương mại Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại là một mắt xích không thể thiếu trong toàn
bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng ngoại thương Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động thanh toán quốc tế, các ngân hàng thương mại đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế, cho khách hàng và cho bản thân các ngân hàng
Ngày nay với sự ra đời của hàng loạt các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh với nước ngoài, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã và đang hoạt động tại Việt Nam sẽ làm cho các Ngân hàng thương mại phải nhảy vào một cuộc cạnh tranh vô cùng khó khăn và phức tạp Để nâng cao khả năng cạnh tranh, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã tích cực đổi mới toàn diện
và thích nghi với nền kinh tế thị trường như mở rộng các hoạt động kinh tế đối ngoại đặc biệt chú trọng hoạt động kinh doanh ngoại hối Nhờ vậy các ngân hàng thương mại Việt Nam đã tỏ rõ vai trò của mình là trung gian kết nối giữa nền kinh tế trong nước với thế giới, giữa thị trường ngoại hối Việt Nam với thị trường quốc tế Hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTMVN đã kích thích luân chuyển các khoản đầu tư và tín dụng quốc tế, cung ứng kịp thời ngoại hối cho các nhà xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư và các chủ thể khác trong nền kinh tế, góp phần giải quyết mối quan hệ hàng hóa tiền tệ, tạo nên sự liên tục của quá trình sản xuất và đẩy hanh quá trình lưu thông hàng hóa trên phạm vi quốc tế
Trang 5Tuy nhiên, so với hệ thống các ngân hàng liên doanh hay các ngân hàng của nước ngoài thì ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn rất non trẻ
và sơ khai về trình độ, quy mô hoạt động cũng như kỹ năng thực hiện nghiệp
vụ kinh doanh ngoại hối Đứng trước sự canh tranh khốc liệt cũng như nguy
cơ bị thu hẹp thị phần trong hoạt động ngoại hối ngân hàng thương mại Việt Nam phải kịp thời nhận thức đầy đủ về cơ hội, thách thức và những khó khăn trong kinh doanh ngoại hối để có được những chuẩn bị cần thiết không chỉ cạnh trạnh được trong nước mà còn phát triển ra thị trường nước ngoài Xuất
phát từ nhu cầu đó đề tài “Phát triển kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng
TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) ” đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu trong
luận văn này
2- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu : nhằm đề ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt
động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn
tác giả phải lần lượt trả lời được các câu hỏi sau đây:
+ NHTM là gì?
+ Thế nào là kinh doanh ngoại hối?
+ Phát triển kinh doanh ngoại hối là gì?
+ Các công việc mà Ngân hàng phải làm để phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối
+ Chỉ tiêu nào dùng để đánh giá sự phát triển của ngân hàng
+ Các yếu tố trong giai đoạn 2008 - 2011 ảnh hưởng như thế nào tới sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối nói chung và ngân hàng Habubank nói riêng?
+ Thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank từ năm 2008 đến năm 2011 ?
Trang 6+ Sử dụng các tiêu chí nào để đo lường được sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank giai đoạn 2008 – 2011 và thực trạng thực hiện các chỉ tiêu đó trong giai đoạn 2008-2011 như thế nào?
+ Việc phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank từ năm 2008 đến năm 2011 đã đạt được những kết quả gì? Những tồn tại về phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank
và nguyên nhân của những tồn tại đó là gì?
+ Phương hướng phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank như thế nào?
+ Các biện pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối là gì?+ Một số kiến nghị đối với ngân hàng Nhà nước và Chính phủ để phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối?
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển hoạt động kinh doanh
ngoại hối tại ngân hàng thương mại
Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu hoạt động kinh doanh ngoại hối tại
ngân hàng Habubank giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011, phương hướng và giải pháp đến năm 2015
4- Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu sơ cấp trong đề tài được thu thập trong thời gian làm việc và quan sát công việc kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank Dữ liệu thứ cấp được trích từ báo cáo thường niên của ngân hàng Habubank, số liệu thống kê từ phòng phát triển kinh doanh, phòng thanh toán quốc tế của ngân hàng, báo chí, internet…Các dữ liệu được trình bày qua các biểu đồ, bằng phương pháp khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp, diễn dịch- quy nạp để trình bày các vấn đề lý luận và thực tiễn
5- Tổng quan tình hình nghiên cứu.
Trang 7Đối với đề tài phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng
đã có các luận văn khác liên quan như sau:
1 “Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Sở giao dịch Ngân hàng
Đầu tư & Phát triển Việt Nam” của Lê Văn Mạnh - Luận văn thạc sỹ K12,
Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2009, do PGS.TS Phan Thị Thu Hà hướng dẫn
2 “Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam” của Đinh Vân Anh - Luận văn thạc sỹ K13, Đại học Kinh Tế
Quốc Dân, năm 2010, do PGS.TS Lưu Thị Hương hướng dẫn
3 “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Nhà Hà Nội” của Đào Hữu Thành - Luận văn thạc sỹ
năm 2003, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2003, do TS Nguyễn Thị Thu Thảo hướng dẫn
Tác giả của hai luận văn thứ nhất và thứ hai đã nghiên cứu về hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, một trong những ngân hàng lớn và có thế mạnh trên nhiều lĩnh vực kinh doanh Trong đó có một công trình nghiên cứu và đưa ra các giải pháp về đẩy mạnh hoạt động kinh doanh ngoại hối và một công trình đi vào vấn đề phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối Trong luận văn thứ ba tác giả Đào Hữu Thành nghiên cứu về hoạt động kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank nhưng lại chủ yếu nghiên cứu về hiệu quả của hoạt động và các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động đó dựa trên cơ sở vật chất sẵn có của ngân hàng Luận văn này tác giả cũng nghiên cứu về việc ngân hàng Habubank đã làm những gì để phát triển kinh doanh ngoại hối, việc phát triển này đã thực sự có kết quả chưa và trên cơ sở đó tác giả đưa ra một
số giải pháp để phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Habubank trong thời gian sắp tới
Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo và kế thừa ý tưởng của các công trình luận văn trước để phục vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận
Trang 8chung cũng như khi đề xuất kiến nghị và giải pháp để phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng Habubank trong giai đoạn 2012- 2015.
6- Bố cục của luận văn
Trong luận văn này tác giả sẽ trình bày thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về phát triển kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank giai đoạn 2008 - 2011.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng Habubank đến năm 2015.
Trang 9CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGOẠI HỐI
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Chương 1 của luận văn trình bày khung lý luận cơ bản về phát triển kinh doanh ngoại hối tại NHTM
Để thực hiện mục tiêu đó, chương này sẽ đi vào khái quát các khái niệm cơ bản về ngân hàng thương mại, thị trường ngoại hối, kinh doanh ngoại hối của NHTM, vì sao phải phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại NHTM, việc phát triển kinh doanh ngoại hối tại NHTM chịu tác động của những yếu tố nào, muốn hoạt động này phát triển thì các NHTM phải thực hiện các công việc gì, và chúng ta làm thế nào để đo lường sự phát triển kinh doanh ngoại hối tại các NHTM
Để trả lời cho các câu hỏi trên nội dung của chương bao gồm 4 vấn đề lớn:
1/ Các khái niệm cơ bản về NHTM và kinh doanh ngoại hối
2/ Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các NHTM
3/ Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối
4/ Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại NHTM
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của NHTM
1.1.1.1 Khái niệm về NHTM
- Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào sự phát
Trang 10triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng Trong số đó NHTM chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô thị phần, số lượng cũng như về quy mô tài sản
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế
- Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
- Các hoạt động chính của NHTM là:
+ Hoạt động huy động vốn
+ Hoạt động sử dụng vốn
+ Các hoạt động khác như: bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, hoạt động
ủy thác đầu tư, dịch vụ bảo quản tài sản, dịch vụ bảo hiểm …
1.1.1.2 Đặc điểm NHTM
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh
tế Ngân hàng bao gồm nhiều lọai tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế
nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng
Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất
Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế đặc biệt là chính sách tiền tệ, vì vậy
là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của chính phủ nhằm ổn định kinh tế vĩ mô
Ngân hàng là một tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
Trang 11tế xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng thương mại đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng ủa nhiều hộ gia đình Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với nhà nước
Do tiền ngân hàng thực hiện cung cấp tín dụng chủ yếu là tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế nên hoạt động kinh doanh ngân hàng đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ Việc kiểm soát chặt chẽ này xuất phát từ hoạt động kinh
doanh tiền tệ của ngân hàng Do hàng ngày ngân hàng thực hiện việc lưu chuyển một khối lượng lớn tiền trong nền kinh tế nên một ngân hàng đổ vỡ có thể gây ra những ảnh hưởng rất lớn trong nền kinh tế Một sự đổ vỡ nhỏ của ngân hàng có thể gây ra hiệu ứng đôminô dẫn đến một sự đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng
Hoạt đông kinh doanh ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro Do
xuất phát từ việc kinh doanh tiền và là trung gian tài chính hoạt động cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau nên hoạt động ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro đạo đức, rủi ro tác nghiệp…
1.1.2 Khái niệm về thị trường ngoại hối
Ngoại hối là những phương tiện thanh toán thể hiện dưới dạng ngoại tệ hoặc các khoản phải thu bằng ngoại tệ, kể cả vàng theo tiêu chuẩn quốc tế Ngoại hối bao gồm: hối phiếu, séc bằng ngoại tệ,…
Thị trường ngoại hối là thị trường quốc tế, là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua – bán các ngoại tệ và các phương tiện thanh toán có giá trị ghi bằng ngoại tệ
So với các loại thị trường khác, thị trường ngoại hối có những đặc điểm riêng biệt: Đây là thị trường mang tính quốc tế chứ không phải chỉ đóng trong phạm vi một quốc gia vì hàng hóa được mua bán trên thị trường là các ngoại
Trang 12tệ Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục 24/24 giờ, do sự chênh lệch múi giờ giữa các quốc gia, giữa các Châu lục nên thị trường ngoại hối được niêm yết liên tục 24/24 giờ.
Giá cả hàng hóa của thị trường ngoại hối chính là tỷ giá hối đoái (TGHĐ) được hình thành một cách hợp lý, linh hoạt thông qua sự cọ sát của cung – cầu ngoại tệ trên thị trường
1.1.3 Khái niệm và chức năng kinh doanh ngoại hối tại NHTM
Kinh doanh ngoại hối là tiến hành các hoạt động mua bán và trao đổi các đồng ngoại tệ khác nhau nhằm mục đích kiếm lời thông qua chênh lệch tỷ giá
và lãi suất của các đồng tiền ngoại tệ đó
Kinh doanh ngoại hối bao gồm việc mua bán ngoại hối, đảm bảo sự ổn định số dư tài khoản kinh doanh ngoại hối tại nước ngoài và tìm cách thu lời thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau
Chức năng của hoạt động kinh doanh ngoại hối:
Thứ nhất, kinh doanh ngoại hối đảm bảo chắc chắn việc thực hiện thanh
toán cho các khách hàng của ngân hàng giữa các nước được diễn ra một cách trôi chảy
Thứ hai, các công cụ phái sinh trong kinh doanh ngoại hối có thể giúp cho
doanh nghiệp có khả năng tránh rủi ro thay đổi tỷ giá trong thanh toán bằng ngoại tệ
Thứ ba, kinh doanh ngoại hối tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước
ngoài bằng bản tệ tại ngân hàng trong nước
Thứ tư, kinh doanh ngoại hối tạo cho các ngân hàng khả năng tận dụng sự
chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường ngoại hối khác nhau để tạo lợi nhuận
Thứ năm, kinh doanh ngoại hối tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tính
toán hiệu quả kinh tế trong hoạt động trao đổi kinh tế đối ngoại thông qua đồng bản tệ
Trang 131.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NHTM
1.2.1 Vai trò hoạt động kinh doanh ngoại hối
Quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu diễn ra càng mạnh mẽ, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt thì vai trò của kinh doanh ngoại hối càng quan trọng với các NHTM
Thứ nhất, kinh doanh ngoại hối đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Bằng
việc kinh doanh ngoại hối, ngân hàng cung cấp ngoại tệ và dịch vụ thanh toán cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ngân hàng đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các cá nhân trong việc học tập, du lịch, công tác…và những hoạt động này đã tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Bên cạnh đó ngân hàng thực hiện kinh doanh ngoại hối thông qua việc mua bán để hưởng chênh lệch tỷ giá hay thông qua việc đầu cơ dựa trên những dự báo về biến động lãi suất có thể đem lại những khoản lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng
Thứ hai, kinh doanh ngoại hối giúp ngân hàng tăng khả năng cạnh tranh
Thực hiện việc kinh doanh ngoại hối là một cách thức đa dạng hóa hoạt động kinh doanh cũng như đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường Hơn nữa ngân hàng cũng có thể xử lý một cách linh động hơn trước những biến động của đồng nội tệ
Thứ ba, kinh doanh ngoại hối giúp ngân hàng phân tán rủi ro Ngân
hàng kinh doanh nhiều loại ngoại tệ với nhiều kỳ hạn khác nhau, bằng nhiều các công cụ phái sinh khác nhau cho nhiều đối tượng khách hàng sẽ giúp trạng thái ngoại tệ của ngân hàng luôn cân bằng, rủi ro sẽ được phân tán, đặc biệt trong tình trạng tỷ giá các đồng tiền biến động không lường
1.2.2 Các hình thức kinh doanh ngoại hối của NHTM
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của một NHTM tập trung vào bốn hình thức phổ biến sau:
Trang 14Thứ nhất NHTM mua và bán ngoại tệ cho khách hàng để tài trợ cho thanh
toán xuất nhập khẩu thông qua phương thức tín dụng chứng từ là chủ yếu hoặc thông qua tín dụng cho vay ngoại tệ
Thứ hai NHTM mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho mình nhằm
mục đích thực hiện đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp
Thứ ba NHTM mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích cân bằng trạng thái
ngoại tệ hoặc phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Thứ tư NHTM mua và bán ngoại tệ nhằm kinh doanh hưởng chênh lệch tỷ
giá và lãi suất hoặc đầu cơ kiếm lời khi tỷ giá thay đổi
1.2.3 Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của NHTM
Các nghiệp kinh doanh ngoại hối cụ thể của ngân hàng bao gồm các nghiệp
Thị trường giao ngay bao gồm 2 thị trường là thị trường bán buôn và thị trường bán lẻ Thị trường bán buôn có doanh số lớn hơn rất nhiều so với thị trường bán lẻ do đó thông thường người ta coi thị trường giao ngay là thị trường bán buôn Ngòai ra thị trường bán buôn này cũng được gọi là thị trường liên ngân hàng vì thị trường này thực hiện giao dịch giữa các ngân hàng với nhau và mỗi một giao dịch với khối lượng rất lớn Còn với thị trường bán lẻ thì giao dịch thực hiện giữa ngân hàng với các khách hàng lẻ
Tỷ giá được hình thành trên thị trường bán buôn hay thị trường liên ngân hàng gọi là tỷ giá bán buôn hay tỷ giá liên ngân hàng do các ngân hàng trực
Trang 15tiếp giao dịch với nhau và do mức cung cầu trên thị trường mà tạo nên tỷ giá này Dựa trên cơ sở tỷ giá này thì các ngân hàng sẽ quy dịnh tỷ giá bán lẻ áp dụng cho khách hàng lẻ So với tỷ giá bán buôn thì độ rộng (spread) của tỷ giá bán lẻ rộng hơn (khoảng cách giữa tỷ giá bán và tỷ giá mua của ngân hàng) Các ngân hàng không nhất thiêt phải tham gia giao dịch liên ngân hàng thì mới có được tỷ giá bán lẻ mà có thể cập nhập số liệu giao dịch trên thị trường liên ngân hàng thông qua một mạng máy tính nối mạng với nhau để có thể đưa ra tỷ giá bán lẻ của ngân hàng
Đối với các giao dịch giao ngay, lãi và lỗ được xác định trên cơ sở tính giá trị luồng tiền ròng cuối ngày ứng với tỷ giá đóng cửa của ngày giao dịch đó
b Arbitrage
Nghiệp vụ acbit là một dạng của nghiệp vụ giao ngay Theo nghĩa đơn giản thì hiểu nghiệp vụ acbit là là việc sử dụng chênh lệch tỷ giá giữa các đồng tiền khác nhau để thu lợi thông qua việc mua và bán ngoại tệ
Nghiệp vụ này được tiến hành thông qua việc mua bán ngoại tệ đồng thời trên các thị trường ngoại hối khác nhau theo nguyên tắc mua ở nơi rẻ và bán ở nơi đắt hay mua với tỷ giá thấp và bán với tỷ giá cao
1.2.3.2 Giao dịch kỳ hạn (Forward)
Giao dịch kỳ hạn là giao dịch được thảo thuận ngày hôm nay nhưng việc thực hiện giao dịch là vào một ngày trong tương lai với mức tỷ giá đã thỏa thuận trước, thông thường ngày trong tương lai thường là 30, 60, 90, 120 hay
180 ngày
Tỷ giá áp dụng trong giao dịch kỳ hạn khác với tỷ giá giao ngay goi là tỷ giá kỳ hạn Tỷ giá kỳ hạn trong giao dịch kỳ hạn được thỏa thuận ngay từ ngày hôm nay và sẽ là tỷ giá thực hiện cho giao dịch trong tương lai Công thức để xác định tỷ giá kỳ hạn được xác định như sau:
Trang 16FR = SR + (-) FM
Trong đó: FR: forward rate - tỷ giá kỳ hạn
SR: spot rate – tỷ giá giao ngay
FM: forward point – điểm kỳ hạn
Dấu + khi dự đoán các yếu tố tác động làm cho FM > SR gọi là premium
Dấu – khi dự đoán các yếu tố tác động làm cho FM < SR goi là discount
Điểm kỳ hạn FM được tính toán dựa trên chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền theo công thức sau:
FM =
Tỷ giá giao ngay * số ngày kỳ hạn * chênh lệch lãi suất 2 đồng tiền
360 + số ngày kỳ hạn * lãi suất của đồng tiền đi vay
Ngoài ra FM còn được gọi là điểm SWAP
Như vậy căn cứ vào mức lãi suất của các đồng tiền ta sẽ biết được đồng tiền nào lên giá và đồng tiền nào giảm giá kỳ hạn
Các yếu tố tác động đến tỷ giá kỳ hạn:
• Chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền: theo công thức tính FM ở trên thì chênh lệch lãi suất giữa 2 đồng tiền tác động đến FM
• Lạm phát cũng là yếu tố tác động đến tỷ giá kỳ hạn: giả sử tỷ giá giữa
2 đồng tiền 1A = 1B Nếu tiền của nước B bị lạm phát 10% còn nước A thì không bị lạm phát Vậy tiền nước B giảm giá trị 10% tức là tỷ giá kỳ hạn sau một năm sẽ có thêm 10% với đồng tiền bị mất giá, lúc này 1A=1,1B
• Sự kỳ vọng (Expectation): sự kỳ vọng với biến chuyển tương lai của 1 đồng tiền cũng làm thay đổi tỷ giá giữa 2 đồng tiền dù yếu tố này mang tính chủ quan
Các giao dịch kỳ hạn được áp dụng khá phổ biến trong các ngân hàng
Trang 17NHTM có thể thực hiện giao dịch kỳ hạn nhằm làm dịch vụ cho khách hàng
là các công ty xuất nhập khẩu để họ có thể bảo hiểm cho các khoản thu nhập hoặc các khoản chi nhập khẩu của họ Trên thị trường kỳ hạn các NHTM còn
là những nhà kinh doanh chênh lệch giá với mục đích tạo lợi nhuận nhưng không chịu rủi ro trên cơ sở sự chênh lệch về lãi suất và điểm kỳ hạn
Kết quả kinh doanh ngoại hối kỳ hạn cũng được xác định vào cuối ngày giao dịch Kết thúc ngày giao dịch, các ngân hàng có trạng thái ngoại hối ròng của các hợp đồng còn hiệu lực với những ngày giá trị khác nhau Kết quả kinh doanh có thể được tính dựa trên giả định rằng tất cả các hợp đồng kỳ hạn còn hiệu lực đều được thanh lý ngay lập tức và tỷ giá được áp dụng để định giá lại
là tỷ giá kỳ hạn lúc đóng cửa của ngày giao dịch hôm đó
1.2.3.3 Giao dịch hoán đổi ngoại tế (SWAP)
Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là việc mua và bán ra một đồng tiền nhất định với cùng một khối lượng nhưng ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau hay nói cách khác giao dịch hoán đổi ngoại tệ là sự kết hợp của một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn với cùng một lượng ngoại tệ nhưng theo 2 chiều trái ngược nhau
Một hợp đồng hoán đổi ngoại tệ có những đăc điểm sau:
• Hợp đồng mua vào và bán ra một đồng tiền nhất định được ký kết đồng thời tại ngày hôm nay và nếu không có thỏa thuận gì khác, thì việc mua một đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá mua vào đồng tiền yết giá và bán
ra một đồng tiền có nghĩa là ngân hàng yết giá bán ra đồng tiền yết giá
• Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền trong hợp đồng hoán đổi là giống nhau Vì thế giao dịch này không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng cho ngân hàng nên tránh được rủi ro tỷ gía
• Ngày giá trị của hợp đồng mua vào và bán ra là khác nhau vì thế mà
Trang 18có độ lệch về mặt thời gian với luồng tiền khiến cho ngân hàng phải chịu rủi
1.2.3.4 Giao dịch hợp đồng tương lai (Future)
Giao dịch hơp đồng tương lai là việc hai ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với khách hàng thỏa thuận về việc mua bán ngoại tệ trong tương lai tại một mức tỷ giá cố định thỏa thuận ngày hôm nay
Giao dịch tương lai được thực hiện trên thị trường tập trung, các hợp đồng đều được tiêu chuẩn hóa và chỉ giới hạn trong một số ngày giá trị Trên sở giao dịch có các nhà thanh toán bù trừ, họ hạch toán các khoản lỗ lãi của các bên mua, bán vào số tiền ký quỹ của các bên Để tránh rủi ro cho nhà thanh toán bù trừ khi giá tăng hoặc giảm qua mức Nhà thanh toán bù trừ sẽ yêu cầu nhà kinh doanh ký quỹ bổ sung trong trường hợp số dư trên tài khoản ký quỹ giảm xuống một mức nào đó
Các hợp đồng tương lai thường được dùng vào mục đích phòng ngừa rủi
Trang 19ro Với hợp đồng tương lai mua bán ngoại tệ được thỏa thuận giữa các bên mua, bán vào thời điểm hợp đồng đến hạn là cố định do đó các bên có thể tránh được những ảnh hưởng của sự lên xuống của tỷ giá trong tương lai Điểu này rất có ý nghĩa với nhà kinh doanh trong bối cảnh tỷ giá biến động liên tục khó dự báo
Ngòai ra, hợp đồng tương lai cũng được sử dụng vào mục đích đầu cơ kiếm lợi nhuận thông qua sự dự đoán về tỷ giá trong tương lai
1.2.3.5 Giao dịch hợp đồng quyền chọn (Option)
Giao dịch quyền chọn ngoại tệ được thực hiện thông qua việc ký kết các hợp đồng quyền chọn Một hợp đồng quyền chọn tiền tệ cho phép người mua hợp đồng có quyền mua hoặc bán một đồng tiền với một đồng tiền khác tại một mức tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước trong hợp đồng trong một khoảng thời gian xác định
Như vậy trong một hợp đồng quyền chọn thì người mua hợp đồng có quyền thực hiện hợp đồng mua hay bán một loại tiền tệ khi đến hạn nếu tỷ giá lúc đó là có lợi cho họ còn nếu tỷ giá bất lợi thì người mua có thể sẽ không thực hiện hợp đồng, nhưng người mua sẽ phải mất phí để mua quyền Còn đối với người bán, anh ta không có bất cứ sự lựa chọn nào khác ngoài việc sẵn sàng tiến hành giao dịch theo ý định của người mua và sẽ thu phí mở quyền từ người bán Ý nghĩa trên chỉ áp dụng cho trường hợp người mua hợp đồng quyền chọn đầu tiên (cũng là người yêu cầu mở hợp đồng) nắm giữ hợp đồng đến khi đáo hạn mà không bán hay chuyển nhượng hợp đồng cho người khác.Giống như bất cứ một hợp đồng kinh tế nào, bào giờ cũng có một bên mua
và một bên bán nên sẽ có ngừơi bán hợp đồng và người mua hợp đồng Vì hợp đồng này luôn có quyền chọn bán và quyền chọn mua nên sẽ có người bán hợp đồng chọn mua hoặc hợp đồng chọn bán và người mua hợp đồng chọn mua hoặc hợp đồng chọn bán
Có 2 loại quyền chọn cơ bản là quyền chọn kiểu Châu Âu và quyền chọn
Trang 20kiểu Mỹ Quyền chọn kiểu Châu Âu thì việc thực hiện quyền chỉ có thể khi hợp đồng đến hạn Còn quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào trong thời gian hợp đồng còn hiệu lức đến lúc đáo hạn
Việc thanh lý hợp đồng quyền chon được gọi là thực hiện quyền chọn
Tỷ giá áp dụng khi thực hiện quyền là tỷ giá quyền chọn Tỷ giá này không chỉ phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường mà còn phụ thuộc vào mức phí của quyền chọn là cao hay thấp Mức phí của hợp đồng quyền chọn phải là một mức phí phù hợp sao cho đủ bù đắp rủi ro vể tỷ giá xét từ góc độ của người bán và phải phù hợp không quá đắt xét từ góc độ của người mua Nếu khi hợp đồng đáo hạn mà giao dịch không xảy ra thì chỉ có một khoản phí được thực hiện
Các hợp đồng quyền chọn cũng thường được sử dụng để phòng ngừa rủi
ro tỷ giá, vì cũng giống như các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi hay tương lai hợp đồng quyền chọn cho phép thực hiện việc mua bán tại mức giá đã thỏa thuận trước nên các bên tham gia có thể tránh được tổn thất do sự biến động của tỷ giá
Ngoài ra giao dịch quyền chọn cũng được sử dụng nhằm mục đích đầu cơ Trong trường hợp này thì hợp đồng quyền chọn có ưu thế hơn so với các hợp đồng khác Vì người mua có quyền tiến hành giao dịch nếu thấy có lợi cho mình và không tiến hành giao dịch nếu thấy tỷ giá biến động bất lợi nếu thực hiện giao dịch
DOANH NGOẠI HỐI TẠI NHTM
Trong phần này tác giả sẽ đề cập đến những nhân tố trong giai đoạn 2008-2011 có ảnh hưởng đến việc phát triển kinh doanh ngoại hối tại NHTM Tác giả đi theo hướng phân tích xem nhân tố nào có thay đổi lớn và rõ trong giai đoạn này để thấy các nhân tố đó tác động thuận lợi hay bất lợi tới việc
Trang 21phát triển kinh doanh ngoại hối của NHTM Các nhân tố này có nhiều tiêu chí phân loại khác nhau, nhưng trong luận văn này tác giả sẽ tiếp cận theo hai hướng là những nhân tố từ môi trường bên ngoài và những nhân tố từ môi trường bên trong ngân hàng.
1.3.1 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới sự phát triển kinh doanh ngoại hối của NHTM
Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng tới sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối chính là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng hay nói cách khác đây là các nhân tố nội tại tồn tại trong ngân hàng Các nhân tố chủ quan có tác động đến sự phát triển của ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng
1.3.1.1 Nguồn nhân lực
Trong tất cả mọi hoạt động con người luôn đóng vai trò quan trọng nhất bởi vì con người tổ chức nên những hoạt động đó đồng thời cũng thực hiện việc quản lý duy trì cho hoạt động tồn tại và phát triển Trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng yếu tố con người cũng vậy luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu Hoạt động kinh doanh ngoại hối đòi hỏi một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Không chỉ vậy hoạt động này còn rất phức tạp do đối mặt với nhiều rủi ro đặc biệt là rủi ro tỷ giá Tỷ giá trên thị trường ngoại hối luôn biến động từng giờ do đó đòi hỏi cán bộ kinh doanh phải luôn theo dõi thị trường, đưa ra những nhận xét phân tích về xu thế của tỷ giá trong trong tương lai thì mới có thể thực hiện kinh doanh ngoại hối mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Do đó cán bộ kinh doanh ngoại hối ngoài việc có đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn đóng vai trò giống như một nhà phân tích thị trường Trong một xã hội mà công nghệ thông tin phát triển như ngày nay thì ngoài chuyên môn nghiệp vụ là bắt buộc cho công việc một cán bộ ngân hàng
Trang 22nói chung và cán bộ kinh doanh ngoại hối nói riêng cần có khả năng sử dụng các trang bị máy móc hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh ngoại hối được thành công Việc giao dịch trực tiếp như ngày xưa đã không còn phổ biến nữa mà ngày nay giao dịch không có giới hạn không gian Lấy một ví dụ trong việc giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng được thực hiện cho một mạng máy tính nối mạng giữa các ngân hàng với nhau, nếu cán bộ kinh doanh ngoại hối không biết sử dụng máy tính thì làm sao có thể thực hiện giao thành công được Không chỉ vậy giao dịch liên ngân hàng chủ yếu sử dụng các thuật ngữ riêng phục vụ cho giao dịch do đó đòi hỏi giao dịch viên (dealer) còn phải nắm vững cả những thuật ngữ này
Bởi vậy một cán bộ kinh doanh ngoại hối có đủ năng lực trình độ, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, khả năng phân tích, khả năng đưa ra các chiến lược kinh doanh và sự nhanh nhạy trong việc thực hiện các giao dịch ngoại tệ thì có thể thực hiện thành công giao dịch ngoại hối, thu hút khách
hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh ngoại hối tại
các NHTM
1.3.1.2 Quy trình thủ tục về kinh doanh ngoại hối
Một yếu tố hết sức quan trọng khác để có thể phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đó là quy trình thủ tục Quy trình thủ tục ở đây chính là những quy định của bản thân ngân hàng về hoạt động kinh doanh ngoại hối bên cạnh các quy định pháp luật của nhà nước Các quy định do chính ngân hàng đặt ra về hoạt động kinh doanh ngoại hối giúp hoạt động này được thực hiện và có thể phát triển Quy định cần phải thông thoáng và phù hợp với điều kiện của từng ngân hàng và từng giai đoạn của thị trường ngoại hối Quy trình thủ tục mà ngân hàng đưa ra phải phù hợp với các ngân hàng hiện đại trên thế giới và cũng phải phù hợp với thị trường Việt Nam thì hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đó mới có thể phát triển được, nếu
Trang 23các quy định đưa ra là quá cứng nhắc cũng sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động kinh doanh này Hay trên thị trường ngoại hối có những cơ hội kinh doanh kiếm lời mà nếu ngân hàng không có quy định về việc thực hiện hoạt động kinh doanh đó thì hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng sẽ phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, và như vậy thì hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng cũng sẽ không phát triển được.
Quy trình thủ tục về kinh doanh ngoại hối của NHTM cần phải chặt để giúp ngân hàng phòng tránh được rủi ro nhưng nếu quy trình này rườm rà sẽ gây mất thời gian giao dịch, ảnh hưởng không tốt đến tâm lý khách hàng sẽ là
bất lợi cho việc phát triển kinh doanh ngoại hối tại các NHTM
1.3.1.3 Cơ sở vật chất của ngân hàng
Trước hết hoạt động KDNT cần một nơi để thực hiện giao dịch và đương nhiên ngân hàng phải là người đưa ra những địa điểm giao dịch thì mới có khách hàng đến Vì vậy yếu tố cơ sở vật chất cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng, nếu chỉ có con người mà không có các trang thiết bị hỗ trợ thì con người cũng không thể làm gì được nhất là đối với hoạt động kinh doanh ngoại hối
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng nó trong nhiều lĩnh vực của cuộc sồng mà đặc biệt là công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong kinh doanh ngân hàng cũng như trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối Do đó đỏi hỏi ngân hàng phải trang bị đầy đủ hệ thống công nghệ thông tin để có thể thực hiện thành công các giao dịch chẳng hạn như để thực hiện giao dịch liên ngân hàng cần có hệ thống máy tính nối mạng với các ngân hàng khác hay như để thực hiện giao dịch từ xa với các khách hàng cần
Trang 24lợi cho phát triển kinh doanh ngoại hối.
Thông thường để quản lý rủi ro thì một phòng kinh doanh ngoại hối thường được tổ chức thành 3 bộ phận chính sau:
Bộ phận trực tiếp kinh doanh (Front Office – FO)
Các nhân viên kinh doanh chính chịu trách nhiệm kinh doanh trực tiếp với khách hàng của mình và họ sẽ thực hiện việc yết tỷ giá hàng ngày Ngoài ra các nhân viên kinh doanh chính còn chịu trách nhiệm thực hiện cả việc marketing tức là đôi khi họ sẽ thực hiện hỗ trỡ và tư vấn cho khách hàng về biến động của một đồng tiền nào đó Những nhân viên này chịu trách nhiệm chính về trạng thái ngoại tệ của ngân hàng và họ cũng là những người chịu trách nhiệm về kinh doanh đầu cơ Trong các ngân hàng lớn thì mỗi một đồng tiền sẽ có một người phụ trách riêng
Bộ phận kế toán điều vốn (Back Office – BO)
Bộ phận này sau khi nhận được xác nhận về các giao dịch của bộ phận front office thì sẽ thực hiện việc kế toán và thanh toán cho các giao dịch
Bộ phận trung gian (Middle Office – MO)
Trang 25Trong cấu trúc của một ngân hàng hiện đại thì nghiệp vụ mua bán tiền tệ ngoại trừ 2 bộ phận trên còn có một bộ phận trung gian ở giữa thực hiện việc phối hợp với 2 bộ phận trên để kiểm tra, giám sát và quản lý rủi ro trong kinh doanh ngoại hối.
Khi các NHTM xây dựng thành công cơ cấu tổ chức như trên đồng thời các
bộ phận trên hoạt động phối hợp với nhau một cách nhịp nhàng sẽ giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, kiểm soát rủi ro trong kinh doanh ngoại hối sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh ngoại hối tại NHTM.
1.3.1.5 Chiến lược của ngân hàng về kinh doanh ngoại hối
Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều có chiến lược hoạt động của riêng mình Chiến lược được xây dựng trên cơ sở nền tảng của những cuộc nghiên cứu, điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng, môi trường kinh tế, nguồn lực của ngân hàng Căn cứ vào đó để đưa ra các kế hoạch phát triển trong khoảng thời gian nhất định đối với dịch vụ đã, đang và sẽ cung ứng trên thị
trường Xây dựng một chiến lược đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới sự phát triển kinh doanh ngoại hối của NHTM
1.3.2.1 Môi trường pháp lý cho kinh doanh ngoại hối
Như chúng đã biết thì hoạt động kinh doanh ngân hàng là một lĩnh vực rất quan trọng do hàng ngày ngân hàng luân chuyên một khối lượng vốn rất lớn trong nền kinh tế Ngân hàng là một kênh huy động vốn gián tiếp cung cấp cho các hoạt động đầu tư cũng như ngân hàng cung cấp rất nhiều hoạt động dịch vụ cho các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Do đó hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng chịu sự quản lý của nhà nước mà cơ quản trực tiếp quản lý là ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước của mỗi nước thực hiện việc quản lý đồng thời ban hành
Trang 26luật để hướng dẫn và kiểm soát hoạt động của ngân hàng Nhưng thông thường một văn bản luật ra đời thường dựa trên nhu cầu thực tế nên đôi khi các văn bản luật có thể đi sau các hoạt động của thị trường làm cho hoạt động của thị trường nói chung và của từng ngân hàng nói riêng sẽ kém phát triển Nếu như quy trình thủ tục là những quy định trực tiếp của ngân hàng về hoạt động kinh doanh ngoại hối thì cơ sở pháp lý là những quy định của nhà nước về hoạt động kinh doanh ngoại hối đối với các ngân hàng Nếu hệ thống khung pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngoại hối gồm nhiều văn bản
hướng dẫn rườm rà, chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế sẽ gây bất lợi, khó
khăn cho phát triển kinh doanh ngoại hối tại các NHTM
1.3.2.2 Mức độ phát triển thị trường ngoại hối
Điều kiện thị trường ở đây chính là sự phát triển chung của thị trường Sự phát triển chung của thị trường hoàn toàn phụ thuộc vào nền kinh tế của mỗi nước Mỗi nước có một thị trường ngoại hối phát triển khác nhau nên hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng cũng sẽ phát triển khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển chung của thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối chưa phát triển sẽ dẫn đến bị các hoạt động của chợ đen lấn át, điều này sẽ
gây bất lợi cho phát triển kinh doanh ngoại hối.
1.3.2.3 Rủi ro tỷ giá
Hầu hết các quốc gia đều có đồng tiền riêng của mình Thương mại, đầu
tư, các quan hệ tài chính quốc tế đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau Thanh toán giữa các quốc gia dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền với nhau Hai đồng tiền được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá
Như vậy tỷ giá được định nghĩa như sau: Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua một đồng tiền khác
Có các loại tỷ giá sau:
Trang 27• Tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra: tỷ giá mua vào là tỷ giá tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá Tỷ giá bán ra là tỷ giá tại đó ngân hàng sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.
• Tỷ giá tiền mặt và tỷ giá chuyển khoản: tỷ giá tiền mặt áp dụng cho các ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch, thẻ tín dụng Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng Thông thường tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn tỷ giá chuyển khoản
• Tỷ giá chéo: tỷ giá giữa hai đồng tiền được xác định thông qua đồng tiền thứ ba Trên thực tế do vai trò của đồng USD rất lớn nên tỷ giá chéo được định nghĩa là tỷ giá giữa hai đồng tiền không có sự tham gia của đồng USD Hay nói cách khác tỷ giá giữa hai đồng tiền bất kỳ đều được suy ra từ tỷ giá giữa chúng với USD
Như vậy tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng vì các giao dịch ngoại tệ đều phải thông qua tỷ giá để thực hiện trao đổi Nhưng tỷ giá lại biến động hằng ngày và phụ thuộc vào chính sách quản lý của từng quốc gia mà chính sách tỷ giá lại khác nhau, do
đó ảnh hưởng cũng khác nhau tới hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng Có thể nói rằng rủi ro tỷ giá làm cho các quyết định kinh doanh của ngân hàng thiếu chính xác dẫn đến ảnh hưởng đến lợi nhuận của hoạt động
kinh doanh ngoại hối, gây ra ảnh hưởng bất lợi cho phát triển kinh doanh
ngoại hối tại các NHTM
Trang 281.4 PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NHTM
1.4.1 Khái niệm về phát triển kinh doanh ngoại hối tại NHTM
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu rất lớn cho các NHTM Phát triển kinh doanh ngoại hối làm tăng thu nhập cho ngân hàng, doanh thu từ kinh doanh ngoại hối chiếm một phần không nhỏ trong tổng doanh thu của ngân hàng
1.4.2 Vai trò của việc phát triển kinh doanh ngoại hối
Phát triển kinh doanh ngoại hối của mỗi ngân hàng sẽ giúp nâng cao khả năng canh tranh, nâng cao vị thế của ngân hàng đó trên thị trường cả trong nước và quốc tế Các ngân hàng hiện nay không chỉ cạnh tranh với các ngân hàng trong nước mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
Việt Nam gia nhập WTO đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội trao đổi mua bán hàng hóa với các doanh nghiệp nước ngoài Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của các NHTM cũng là một mắt xích giúp cho kinh tế đối ngoại của Việt Nam ngày càng phát triển
Phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối góp phần tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển Việc kinh doanh ngoại hối của ngân hàng liên quan đến rất nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực sản xuất, nhiều dịch vụ khác nhau trong nền kinh tế Bởi vậy nếu kinh doanh ngoại hối của ngân hàng phát triển thì kéo theo các ngành nghề khác của nền kinh tế cũng phát triển theo
1.4.3 Những công việc để phát triển kinh doanh ngoại hối tại NHTM
1.4.3.1 Nghiên cứu thị trường ngoại hối trong và ngoài nước
Các NHTM cần tìm hiểu sự biến động của thị trường ngoại hối trong và ngoài nước, tìm hiểu về nhu cầu của thị trường, xu hướng biến động của giá trị các đồng ngoại tệ để từ đó đề ra các chính sách phù hợp cho sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối Càng bám sát nhu cầu
Trang 29thị trường thì việc phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối càng diễn ra thuận lợi
1.4.3.2 Nghiên cứu và vận dụng dự báo tỷ giá để phòng ngừa và hạn
chế rủi ro
Việc dự báo tỷ giá có tính chất rất quan trọng trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro Nếu dự báo tốt ngân hàng có thể quyết đoán được xu hướng biến động của những ngoại tệ mạnh để kịp thời điều chỉnh trạng thái nguồn vốn, trạng thái ngoại hối của phòng kinh doanh tiền tệ
1.4.3.3 Nghiên cứu ứng dụng các công cụ phái sinh, cạnh tranh tỷ giá
với các ngân hàng khác
Với tình hình biến động bất ổn của tỷ giá hiện nay mỗi ngân hàng thực hiện nhanh chóng các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá để đảm bảo thu chi ngoại tệ và có thể kiếm được lợi nhuận cao
Ngân hàng có thể tư vấn các nghiệp vụ phái sinh để khách hàng hiểu rõ hơn về hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn,…hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể lựa chọn các nghiệp vụ hối đoái phù hợp với tình hình kinh doanh của mình, giải quyết được mâu thuẫn giữa lợi nhuận và rủi ro
Ngân hàng thường xuyên cập nhật tỷ giá của các ngân hàng khác để có thể cạnh tranh về tỷ giá nhằm thu hút được khách hàng nhiều hơn
1.4.3.4 Phát triển đội ngũ cán bộ kinh doanh ngoại hối có năng lực
Ngân hàng cần chú trọng tuyển dụng, đào tạo một đội ngũ chuyên viên kinh doanh ngoại hối có năng lực, nghiệp vụ, am hiểu về hoạt động kinh doanh ngoại hối để giúp cho hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng được diễn ra ít rủi ro và nâng ca tính canh tranh trên thị trường Đây là một trong những công việc quan trọng hàng đầu mà mỗi ngân hàng cần chú trọng để phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung
và phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối nói riêng
Trang 301.4.3.5 Đẩy mạnh hoạt động Marketing, nâng cao chất lượng dịch vụ
khách hàng
Ngân hàng cần tập trung phát triển nhiều các sản phẩm, đa dạng hóa các dịch vụ có liên quan tới nghiệp vụ ngoại hối để biến nó thành lợi thế cạnh tranh trên thị trường ngoại hối Bên cạnh sự tăng lên về số lượng thì ngân hàng cũng cần nâng cao chất lượng phục vụ đối với các sản phẩm kinh doanh ngoại hối nhằm thu hút khách hàng lựa chọn ngân hàng mình
Các ngân hàng cũng cần tăng cường quảng bá thương hiệu của mình
để thu hút khách hàng đến với dịch vụ ngoại hối của ngân hàng Với số lượng khách hàng ngày một tăng lên thì ngân hàng mới có thể đạt được sự phát triển trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của mình
1.4.3.6 Mở rộng hệ thống mạng lưới chi nhánh, đại lý
Ngân hàng cần tăng cường mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài để mở rộng mạng lưới đại lý Thông qua quan hệ này, ngân hàng
có thể hỗ trợ kinh doanh xuất nhập khẩu, đầu tư ra nước ngoài cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam dễ tiến hành trao đổi mua bán với các công
ty nước ngoài
Với xu thế mở cửa hội nhập như hiện nay, mỗi ngân hàng cần hướng hoạt động ra thị trường nước ngoài (trước tiên là thị trường ASEAN, tiếp là thị trường châu Á, rồi tới châu Mỹ, ), chủ động hội nhập, ký kết hợp đồng hợp tác với nhiều đối tác có tiềm lực mạnh và có tầm ảnh hưởng trên thế giới Nghiên cứu thị trường của từng khu vực về luật, tôn giáo, văn hóa, ngành sản xuất,…để có những sản phẩm – dịch vụ phù hợp nhất với khách hàng nước ngoài
Trang 311.4.4 Các tiêu chí đo lường sự phát triển kinh doanh ngoại hối tại
NHTM
1.4.4.1 Khối lượng giao dịch ngoại hối
Đây là tiêu chí đánh giá sự phát triển hoạt động ngoại hối của ngân hàng về số lượng Khối lượng giao dịch là số lượng mua bán ngoại hối của ngân hàng diễn ra hàng ngày, quý hay năm Khối lượng giao dịch ngoại hối càng nhiều cũng phản ánh sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đó
Trong rổ tiền tệ thì USD được dùng làm đồng tiền chuẩn trong giao dịch và USD cũng là đồng ngoại tệ được giao dịch nhiều nhất trên thị trường tiền tệ Khi thị trường tiền tệ có sự biến động về tỷ giá hối thì sẽ ảnh hưởng đến khối lượng giao dịch trên thị trường Điều này cũng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng và của khách hàng vì khó lường trước được biến động tỷ giá nên sẽ khó dự báo được giao dịch trên thị trường sẽ xảy ra theo chiều hướng nào Nếu tỷ giá hối đoái trên thị trường cao hơn giá trần của Ngân hàng Nhà nước đưa ra sẽ làm cho khối lượng giao dịch hối đoái trong ngân hàng ít lại, vì ngân hàng sẽ không dám mua vượt qua giới hạn giá mà Ngân hàng Nhà nước quy định Nguồn vốn của ngân hàng sẽ chậm thanh khoản gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh Trường hợp nếu tỷ giá của loại ngoại tệ này (USD) tăng lên cao sẽ dẫn đến khối lượng giao dịch về USD tăng lên gây khó khăn cho ngân hàng vì thiếu nguồn USD bán cho khách hàng
1.4.4.2 Doanh thu và lợi nhuận từ việc mua bán ngoại hối
Doanh thu ngoại hối là luồng tiền có được khi ngân hàng mua bán ngoại tệ trên thị trường Lợi nhuận là số tiền có được từ doanh thu sau khi trừ
đi chi phí, tính toán lãi lỗ từ việc kinh doanh ngoại hối
Trang 32Khi doanh thu ngoại tệ của ngân hàng cao hơn số lượng bán ngoại tệ chứng tỏ ngân hàng đang hoạt động có lãi và hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đang phát triển Ngược lại khi doanh thu ngoại hối thấp hơn thì ngân hàng kinh doanh có thể đang bị lỗ, sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đó đang bị đình trệ.
Sau khi tổng kết giao dịch theo quý, kết quả lợi nhuận cao hay thấp sẽ đánh giá được sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đó
1.4.4.3 Mức độ phát triển của dịch vụ kinh doanh ngoại hối
Các sản phẩm ngoại hối chính là các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, các sản phẩm ngoại hối ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng cũng phản ánh sự phát triển của hoạt động kinh doanh ngoại hối kể cả về số lượng và chất lượng Cung cấp dịch vụ ngoại hối ngày một an toàn hơn cho khách hàng cũng là một tiêu chí phản ánh hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng đó đang thực sự phát triển
Tóm lại, chương 1 đã trình bày những khái niệm cơ bản về phát triển kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Qua đó xác định được vai trò quan trọng của việc phát triển kinh doanh ngoại hối, xác định được các công việc cần thực hiện, các chỉ tiêu phát triển kinh doanh ngoại hối Bên cạnh đó đánh giá, phân tích được các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Chương này là cơ sở để phân tích đi sâu làm rõ hơn thực trạng hoạt động phát triển kinh doanh ngoại hối tại ngân hàng HABUBANK ở chương 2.
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG HABUBANK GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN NĂM 2011
Chương 1 đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thương mại Trong chương 2 tác giả sẽ phân tích thực trạng phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng Habubank giai đoạn từ năm 2008 - 2011.
Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ của chương này sẽ nghiên cứu những vấn đề sau: (1) Giới thiệu chung về ngân hàng Habubank: Sự phát triển và kết quả hoạt động kinh doanh trong năm 2008 – 2011 như thế nào?(2) Trong giai đoạn 2008 – 2011 những nhân tố nào đã tác động đến
sự phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Ngân hàng và tác động theo hướng nào?(3) Hoạt động phát triển dịch vụ kinh doanh ngoại hối tại Habubank gồm những công việc gì? (4) Tình hình phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối tại Habubank được đo lường thông qua các chỉ tiêu nào? (5) Những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại ở NH Habubank về phát triển hoạt động kinh doanh ngoại hối giai đoạn 2008 –
Trang 34Sau đây là nội dung chi tiết của chương 2:
2.1 NGÂN HÀNG HABUBANK VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NH HABUBANK GIAI ĐOẠN 2008-2011
2.1.1 Giới thiệu chung về ngân hàng Habubank
2.1.1.1 Sơ lược về quá trình thành lập và phát triển của NH HABUBANK
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước đã đề ra trong Đại hội VI, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định nghiên cứu thí điểm thành lập mô hình ngân hàng cổ phần, bước đầu là thành lập Ngân hàng cổ phần bất động sản tại 3 thành phố là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, lấy Hà Nội là điểm đột phá đầu tiên Từ cuối năm 1986, công tác chuẩn
bị cho sự thành lập mô hình ngân hàng cổ phần đã gấp rút được tiến hành Cuối năm 1986, Ban chuẩn bị thành lập Ngân hàng phát triển nhà Hà Nội (tiền thân của Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội - Habubank ngày nay) được thành lập tại trụ sở Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội dưới sự chủ trì của Nguyên Phó Thống đốc Nguyễn Văn Chuẩn cùng với sự tham gia của đại diện Văn phòng Chính phủ, Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Tháng 7/1988, Tổng giám đốc Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam ra quyết định số 192/TCCB-QĐ “lập ban chuẩn bị thành lập Ngân hàng chuyên hoạt động tín dụng và dịch vụ trong lĩnh vực phát triển nhà tại Thành phố Hà Nội”
Tháng 12/1988, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quyết định số 139-NH/QĐ về “Điều lệ Ngân hàng phát triển Nhà Thành phố Hà Nội” đồng thời UBND Thành phố Hà Nội cũng ra Quyết định số 6719/QĐ-UB cho phép “Ngân hàng phát triển Nhà Thành phố Hà Nội được
Trang 35hoạt động kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội kể từ ngày 2/1/1989”.
Tháng 3/1989, Tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư xây dựng Việt Nam
ra Quyết định số 223/NHĐTXD/QĐ giao cho Giám đốc Ngân hàng Đầu tư xây dựng Hà Nội cùng 1 số cán bộ của Ngân hàng Đầu tư xây dựng Hà Nội sang công tác biệt phái tại Ngân hàng Phát triển Nhà Thành phố Hà Nội Cũng trong thời gian này, Đại hội cổ đông lần thứ nhất đã diễn ra, bầu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát đầu tiên.Tháng 4/1989, Habubank chính thức khai trương hoạt động tại số 125 Bà Triệu, Hà Nội
Tháng 6/1992, sau 3 năm hoạt động thử nghiệm, với sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng và Hợp tác xã tín dụng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ra Quyết định số 104/QĐ-NH5 cho Phép Ngân hàng phát triển Nhà Thành phố Hà Nội trở thành một ngân hàng thương mại đa năng, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng cho khách hàng và chính thức đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội với số vốn điều lệ là 5 tỷ đồng, thời gian hoạt động 99 năm Theo đó, Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội đã cấp giấy đăng ký kinh doanh cho Habubank số 055673
Tháng 10/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Quyết định số 215/QĐ-NH7 cho phép Habubank thực hiện một số hoạt động kinh doanh ngoại hối và làm dịch vụ ngân hàng bằng ngoại tệ Tháng 2/1993, Habubank chuyển trụ về số 57 Hàng Cót, Hà Nội
Tháng 3/1995, Habubank hoàn thành việc phát hành cổ phiếu và tăng vốn điều lệ lên 24,3 tỷ đồng Đến tháng 11, Habubank chuyển trụ sở về Tòa nhà B7 Giảng Võ, Hà Nội
Tháng 3/1996, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có Quyết định số 58/GP-NH5 cho phép Habubank tăng vốn điều lệ lên 50 tỷ đồng Tháng 5/1996, Habubank được mở tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực
Trang 36hiện hoạt động kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế.
Tháng 2/1999, Habubank chính thức được Hiệp hội Ngân hàng cấp giấy chứng nhận là hội viên của Hiệp hội ngân hàng
Tháng 8/2000, Habubank được Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cấp giấy chứng nhận Bảo hiểm tiền gửi
Năm 2001, Habubank hoàn thành việc trang bị phần mềm quản lý ngân hàng tập trung và trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thực hiện việc quản lý dữ liệu tập trung và online toàn hệ thông Cũng trong năm này, Habubank chính thức trở thành thành viên Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT) và mở chi nhánh đầu tiên ngoài địa bàn Hà Nội: Chi nhánh Habubank Quảng Ninh trên cơ sở sáp nhập với Ngân hàng nông thôn Quảng Ninh
Năm 2003, Habubank khai trương chi nhánh đầu tiên tại khu vực miền Nam - Chi nhánh Habubank Hồ Chí Minh Năm 2008, Habubank triển khai dịch vụ Ngân hàng tự động, phát hành thẻ Habubank Vantage, trang bị hệ thống ATM/POS và gia nhập liên minh thẻ VNBC nhằm mở rộng hệ thống chấp nhận thẻ với các ngân hàng thành viên, phục vụ khách hàng tốt hơn
Tháng 4/2009, Habubank thành lập Công ty Chứng khoán và nhanh chóng trở thành một đơn vị hoạt động có uy tín trên thị trường bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp Tháng 11, Habubank là một trong bốn ngân hàng đầu tiên tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng Cũng trong năm này, Habubank được Tạp chí The Banker - tạp chí chuyên ngành về tài chính ngân hàng (Anh) bình chọn là Ngân hàng Việt Nam của năm Habubank giữ vững danh hiệu này trong 2 năm tiếp theo 2010, 2008
Tháng 2/2010, Habubank hoàn thành việc lựa chọn ngân hàng Deutsche Bank (Đức) là đối tác chiến lược nước ngoài và tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng Với những thành tích đã đạt được, Thủ tướng Chính Phủ đã
Trang 37trao tặng bằng khen cho Habubank vào tháng 10/2010.
Tháng 12/2008, Habubank đã vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Huân chương lao động hạng Ba
Tháng 12/2009, Habubank hoàn thành việc tăng vốn điều lệ lên 3.000
tỷ đồng và ra mắt chính thức Trung tâm dịch vụ khách hàng - mở ra một kênh tiếp cận sản phẩm, dịch vụ mới cho khách hàng của Ngân hàng ngoài thẻ và Internet
Tháng 8/2010, phát hành thành công 10,5 triệu trái phiếu chuyển đổi (tương ứng 1.050 tỷ đồng) Tháng 11/ 2010, Habubank chính thức niêm yết toàn bộ 300 triệu cổ phần, tương đương giá trị là 3.000 tỷ đồng lên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), mã cổ phiếu là HBB
Tháng 9/2011, Habubank đã hoàn tất việc chuyển đổi 10,5 triệu trái phiếu phát hành tháng 8/2010 thành 105 triệu cổ phiếu phổ thông, nâng mức vốn điều lệ lên 4.050 tỷ đồng
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của ngân hàng HABUBANK
Habubank hiện có mô hình tổ chức báo cáo ít tầng nhằm giảm thiểu tính quan liêu trong hệ thống cũng như nâng cao tính năng động của tổ chức Ðặc điểm nổi bật của mô hình Habubank là tập trung vào khách hàng, đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và quản lý rủi ro hiệu quả Rủi ro là một phần gắn liền với mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng Kiểm tra và quản lý rủi ro sao cho cân bằng được mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận trước hết đòi hỏi một cơ cấu
tổ chức phù hợp và chính sách nhất quán trong toàn hệ thống Do đó, cơ cấu Habubank hoàn toàn được tổ chức theo chiến lược phát triển do Hội đồng Quản trị đề ra và liên quan chặt chẽ đến quản lý rủi ro Đồng thời tính linh hoạt và giảm thiểu quan liêu cũng luôn được đề cao giúp Ngân hàng dễ thích ứng và thay đổi khi môi trường kinh doanh biến chuyển Hiện nay Ngân hàng HABUBANK cũng như các ngân hàng khác có cơ cấu Hội đồng quản trị, ban Giám đốc, ban Kiểm soát theo quy định của Luật doanh nghiệp đối với loại
Trang 38hình Công ty cổ phần và chức năng cụ thể của từng bộ phận do đặc thù của ngành còn tuân thủ theo quy định riêng của Pháp luật đối với các tổ chức tín dụng Đứng đầu ngân hàng là Đại hội cổ đông, Đại hội cổ đông lập ra Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc điều hành mọi hoạt động của ngân hàng, tiếp theo là các phòng ban chức năng, các khối có trách nhiệm giúp đỡ Ban lãnh đạo trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của ngân hàng.
Hiện tại, Habubank có 1 Hội sở chính, 1 Sở giao dịch và 66 chi nhánh, phòng giao dịch với sản phẩm kinh doanh đa dạng gồm dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp (tài trợ thương mại quốc tế, ngoại hối, quản lý tiền mặt…), dịch
vụ ngân hàng cá nhân (huy động, cho vay tiêu dùng, mua nhà…) và các hoạt động đầu tư khác trên thị trường chứng khoán
2.1.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng HABUBANK giai đoạn 2008-2011
2.1.1.3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh chung của Ngân hàng
Trải qua một quá trình dài phát triển, Habubank đang dần chứng minh được tầm cỡ phát triển của mình, trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu của Việt Nam Habubank luôn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đa dạng với chất lượng dịch vụ cao, an toàn
Một số kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Habubank qua các năm 2008-2011:
Bảng 2.1: Một số kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng HABUBANK
( Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng HABUBANK)
Từ bảng báo cáo hoạt động kinh doanh qua các năm của ngân hàng, ta
Trang 39có thể nhận thấy các chỉ tiêu như tổng tài sản, vốn điều lệ, lợi nhuận trước thuế và sau thuế đều tăng trưởng mạnh qua các năm, tuy nhiên tỷ lệ tăng giữa các năm là khác nhau Chẳng hạn như lợi nhuận sau thuế năm 2008 là
315 tỷ đồng thì đến năm 2010 con số này đã tăng lên 602 tỷ đồng (tăng gần gấp đôi) và dự kiến đến năm 2011 sẽ tăng lên 715 tỷ đồng (tăng 18,7% so với năm 2010) Tuy nhiên trong giao đoạn nền kinh tế khó khăn hiện nay thì ngân hàng Habubank vẫn hi vọng đạt được con số đó Trên đây là những con
số rất ấn tượng của ngân hàng Habubank, đặc biệt là lợi nhuận năm 2010, nó thể hiện sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngân hàng trong những năm vừa qua đồng thời phản ánh được việc lựa chọn định hướng của ngân hàng là đúng đắn và phù hợp Một chỉ tiêu khác cũng tăng một cách nhanh chóng là vốn điều lệ: năm 2009 vốn điều lệ của ngân hàng là 1.000 tỷ đồng, đến năm 2010
là 2.000 tỷ đồng (tăng lên gấp đôi) Năm 2011 với việc phát hành trái phiếu chuyển đổi, vốn điều lệ của Habubank đã tiếp tục tăng gấp đôi lên 4.050 tỷ đồng Điều này cho thấy, ngân hàng càng ngày càng tạo được uy tín trên thị trường, thu hút được nhiều nhà đầu tư
2.1.1.3.2 Hoạt động huy động vốn tại HAUBANK
Huy động vốn là những hoạt động cơ bản và quan trọng của ngân hàng Qua nhiều năm phát triển hoạt động huy động vốn của ngân hàng HABUBANK đã có những bước tiến vượt bậc
Trang 40Hình 2.1:Tổng hợp vốn huy động của ngân hàng HABUBANK giai đoạn
2008 - 2010
Nhìn vào hình trên, ta thấy nguồn huy động vốn qua các năm luôn có sự tăng trường mạnh mẽ, các năm sau đều tăng so với năm trước Năm 2009, tăng so với năm 2008 là 23,3 % Năm 2010 tăng so với năm 2009 là 30,7%
Dự kiến năm 2011 tăng so với năm 2011 là 22% Ta thấy rằng tốc độ tăng của năm 2011 có giảm so với năm 2010 vì từ cuối năm 2010 đến nay đã có những khó khăn nhất định về mặt kinh tế, lạm phát ngày càng tăng, không những ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến các ngành nghề nói riêng Tuy nhiên, trước những khó khăn chung của nền kinh tế Habubank luôn nỗ lực để giữ vững niềm tin với khách hàng, nâng cao chỉ tiêu huy động nhưng vẫn thực hiện đúng theo quy định của nhà nước
Không những tăng về vốn huy động Cơ cầu vốn của ngân hàng ngày càng đa đạng, thể hiện trong bảng biểu sau: