Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chon đề tài nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điện tại NHTMCP Công Thương Việ
Trang 1tin và số liệu trong luận văn được trích dẫn trung thực chính xác từ các tài liệutham khảo và xuất phát từ tình hình thực tế tại Ngân hàng TMCP Công thươngViệt Nam.
Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Hoàn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
Trang 3NHTM : Ngân hàng thương mại
Trang 4Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của Ngân hàng Công thưong Việt Nam Error:
Reference source not found
Bảng 2.2 Doanh số hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu Error: Reference source not
found
Bảng 2.3 : Dư nợ cho vay theo thời hạn của NHTMCPCT Việt Nam qua các năm
Error: Reference source not foundBảng 2.4: Phân chia các dự án theo tỷ lệ tham gia của vốn chủ sở hữu Error:
Reference source not found
Bảng 2.5: Tăng trưởng nhu cầu điện của các ngành (2011-2020) Error: Reference
source not found
Bảng 2.6: Dư nợ cho vay ngành điện tại các chi nhánh NH TMCP CTVN Error:
Reference source not found
Bảng 2.7 Cơ cấu dư nợ theo mục đích Error: Reference source not foundBảng 2.8: Tổng mức đầu tư của dự án Error: Reference source not foundBảng 2.9: Tiến độ giải ngân nguồn vốn Error: Reference source not foundBảng 2.10: Khấu hao cơ bản hàng năm Error: Reference source not foundBảng 2.11: Dòng tiền hàng năm của dự án Error: Reference source not found
SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
Công tác thẩm định dự án tại NHTMCPCTVN vẫn còn nhiều hạn chế như: Nhận thức đối với công tác thẩm định dự án ngành điện; Phương pháp thẩm định; Nội dung thẩm định dự án ngành điện; Trình độ cán bộ thẩm định; Nguồn thông tin cho hoạt động thẩm định: vii Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của Ngân hàng Công thưong Việt Nam 41 Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của Ngân hàng Công thưong Việt Nam 41 Bảng 2.4: Phân chia các dự án theo tỷ lệ tham gia của vốn chủ sở hữu 51
Trang 5Bảng 2.5:Tăng trưởng nhu cầu điện của các ngành (2011-2020) 52
- Thẩm định tài chính của dự án: 64
Bảng 2.9: Tiến độ giải ngân nguồn vốn 66
Bảng 2.9: Tiến độ giải ngân nguồn vốn 66
Bảng 2.11: Dòng tiền hàng năm của dự án 69
Bảng 2.11: Dòng tiền hàng năm của dự án 69
- Nhận thức đối với công tác thẩm định dự án ngành điện: 75
- Phương pháp thẩm định: 76
- Nội dung thẩm định dự án ngành điện: 77
- Trình độ cán bộ thẩm định: 80
- Nguồn thông tin cho hoạt động thẩm định: 81
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
Việt Nam đang từng bước thay đổi nhanh chóng trên mọi phương diện vớicông cuộc hội nhập của đất nước với nền kinh tế thế giới trong công cuộc đổi mớicùng với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, ngành ngân hàng càng tỏ rõ vị tríquan trọng hàng đầu của mình đối với sự phát triển của đất nước
Hoạt động của NHTM đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đấtnước đặc biệt là đối với hiện đại hóa cơ sở hạ tầng trong đó có ngành điện Công tácthẩm định dự án đầu tư của NHTMCP Công Thương Việt Nam trong những nămgần đây đã được nâng cao, đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư của các kháchhàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có các doanh nghiệp ngành điện Tuyvậy, đối với ngành điện thì việc đầu tư của nhiều dự án còn mang tính dàn trải,không có hiệu quả Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã
chon đề tài nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư
cho vay ngành điện tại NHTMCP Công Thương Việt Nam”
Luận văn nghiên cứu vai trò chất lượng thẩm định dự án đối với ngành điện
và phân tích thực trạng hoạt động thẩm định dự án của Ngân hàng TMCP Côngthương Việt Nam đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định
dự án ngành điện tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương:Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng thẩm định dự án đầu tư củaNHTM
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điệntại NHTMCP Công Thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư cho vayngành điện tại NHTMCP Công Thương Việt Nam
Trang 7NỘI DUNG LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 DỰ ÁN ĐẦU TƯ – THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM
1.1.1 Dự án đầu tư
Hoạt động đầu tư được tiến hành với nhiều công đoạn và có những đặc điểmkinh tế đa dạng, thường được thực hiện dưới dạng một hay nhiều dự án đầu tư Dự
án đầu tư là “sản phẩm” đem lại cho công cuộc đầu tư một hiệu quả mong muốn
Để lập nên một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia,khi lập dự án cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản như: Dự án phải có tính khoahọc; Dự án phải đảm bảo đầy đủ tính pháp lý; Dự án phải mang tính thực tiễn; Tínhthống nhất; Tính phỏng định
Dự án đầu tư được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy thuộc vàomục tiêu quản lý, công tác tổ chức, kế hoạch hóa vốn đầu tư Để phân loại dự ánđầu tư thì cần phải dựa vào các căn cứ như: Căn cứ vào đặc tính hoạt động dự ánđầu tư ; Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay dự án đầu tư được chia thành 2 loại:Dự
án đầu tư vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản và Dự án đầu tư vay vốn có bảođảm bằng tài sản.; Căn cứ vào thời gian vay vốn dự án đầu tư được chia thành: Dự
án ngắn hạn và dự án trung dài hạn;
Cho vay theo dự án đầu tư với mục đích để đáp ứng nhu cầu tài chính trung
và dài hạn của khách hàng nhằm tăng năng lực sản xuất thông qua việc đầu tư bổsung, đầu tư thay thế, sửa chữa, cải tạo hoặc xây dựng mới
1.1.2 THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM
Thẩm định dự án đầu tư là việc tiến hành nghiên cứu phân tích một cách kháchquan, khoan học và toàn diện tất cả các nội dung kinh tế - kỹ thuật của dự án, đặt trong mốitương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội để cho phép đầu tư và tài trợ vốn
Trang 8Nội dung thẩm định dự án bao gồm: Thẩm định tính pháp lý của dự án đầutư; Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu của dự án;Thẩm định kỹ thuậtcủa dự án đầu tư; Thẩm định về mặt kinh tế - xã hội của dự án đầu tư; Thẩm định vềphương diện thị trường của dự án;Thẩm định tài chính của dự án
Đối với ngân hàng thì việc thẩm định dự án quan trọng nhất để cho ra quyếtđịnh cho vay là việc thẩm định tài chính của dự án Do đó, chất lượng về thẩm địnhtài chính dự án có ảnh hưởng rất lớn đến việc ra quyết định tài trợ của ngân hàng
1.2 CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM
Nhìn chung việc thẩm định một dự án được coi là có chất lượng khi việcthẩm định đó đạt được các mục tiêu thẩm định của Ngân hàng đồng thời thỏa mãnđược yêu cầu của doanh nghiêp
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng được phản ánh cả về mặtđịnh lượng và định tính
Về mặt định tính, chất lượng thẩm định dự án đầu tư có thể được đánh giá
một cách tương đối ngay sau thời điểm kết thúc quá trình thẩm định thông qua một
số tiêu chí như: Việc thẩm định phải theo đúng quy trình khoa học và toàn diện; Sửdụng tốt nguồn thông tin đa dạng làm căn cứ để phân tích, đánh giá và đưa ra quyếtđịnh đúng đắn, khách quan; Chi phí cho việc thẩm định dự án phải hợp lý; Khảnăng phát hiện và dự báo các xu hướng, các rủi ro liên quan đến quá trình đầu tư để
có biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro; Áp dụng các chỉ tiêu, phương pháp thẩmđịnh phù hợp với từng dự án;Thỏa mãn các yêu cầu của chủ đầu tư
Việc thẩm định theo một trình tự hợp lý, khoa học và logíc sẽ tạo điều kiệnthuận lợi trong việc thu thập xử lý thông tin, tính toán nhanh chóng và có chấtlượng
Về mặt định lượng, chất lượng thẩm định dự án được thể hiện thông qua các
chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ dự án đầu tư không thành công:
Có những dự án hoàn toàn khả thi nhưng khi Ngân hàng đã quyết định tài trợmới bộc lỗ rõ những hạn chế về các mặt kỹ thuật, thị trường và tài chính Do vậy
Trang 9chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng vận hành của dự án và ngân hàng sẽ khó cókhả năng thu hồi toàn bộ số tiền gốc đã bỏ ra
- Tỷ lệ vốn đầu tư bị thất thoát do dự án đầu tư không có khả năng trả nợ
Thực tế đây cũng là biểu hiện của dự án đầu tư không thành công dẫn đếnvốn đầu tư của ngân hàng thu hồi không đúng hạn hoặc không có khả năng thuhồi được
- Tỷ lệ dự án tốt bị bác bỏ
Không ít những dự án bị ngân hàng này từ chối cho vay nhưng khi sang ngânhàng khác lại được tài trợ vốn ngay Chính vì vậy tỷ lệ dự án tốt bị bác bỏ cũng làmột tiêu chí đánh giá chất lượng thẩm định dự án tại ngân hàng có tốt hay không
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ
ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM.
Chất lượng thẩm định dự án đầu tư chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tốchủ quan và khách quan Để nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư cần phảinghiên cứu, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đó
Xét về các nhân tố chủ quan: Đây là nhân tố thuộc về ngân hàng và các nhân
tố này bao gồm: Một là, tổ chức công tác thẩm định; Hai là, đội ngũ cán bộ thẩm
định; Ba là, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ thẩm định; Bốn là, chi phí thẩm định;
Năm là, thời gian thẩm định
Xét về các nhân tố khách quan: Các nhân tố này bao gồm nhân tố thuộc vềchủ đầu tư và nhân tố thuộc khác
Nhân tố thuộc về chủ đầu tư bao gồm: Một là, chất lượng của bản thân dự ánđầu tư; Hai là, tính phức tạp, mới mẻ của dự án đầu tư; Ba là, các yếu tố thuộc chủđầu tư
Nhân tố khác bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định dự
án đầu tư khác như: Yếu tố thị trường; Chất lượng thông tin; Các chính sách, quiđịnh của Nhà nước ; Biến động về chính trị, kinh tế, xã hội
Trang 10CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ CHO VAY NGÀNH ĐIỆN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Ngân hàng Công thương Việt Nam được thành lập từ năm 1988, là một trong
5 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam Ngày 15/04/2008 Ngân hàng TMCPCông thương Việt Nam đổi thương hiệu từ Incombank sang thương hiệu mới làVietinbank (lấy tên tiếng Anh là Industrial and Trade Bank of Vietnam, gọi tắt làVietinbank)
Trong những năm qua, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đã tíchcực đổi mới nhiều mặt Ngoài những hoạt động chính là huy động vốn, cho vayđược đẩy mạnh hàng năm, Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam cũng đẩymạnh hoạt động phát triển công nghệ và hiện đại hóa ngân hàng, hoạt động xuấtnhập khẩu,….Với những mặt hoạt động phát triển vượt bậc qua hàng năm thì Ngânhàng TMCP công thương Việt Nam đã ngày càng khẳng định thêm vị trí của mìnhtrên thị trường trong nước cũng như nước ngoài
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN TẠI NHTMCP CT VN
Điện là hàng hóa không thể thiếu đối với hoạt động của toàn xã hội Cùngvới sự phát triển ổn định của nền kinh tế Việt Nam thì nhu cầu về điện cho sản xuất,tiêu dùng ngày càng tăng
Trong quá trình quản lý và khai thác các công trình điện, hiện có rất nhiềucác vấn đề cần nghiên cứu, phân tích, đánh giá Việc khai thác hiệu quả các côngtrình điện mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và toàn xã hội Do đó thẩm định dự ánđầu tư ngành điện có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình đầu tư phát triển hệthống điện lực quốc gia
Trang 11Sau hơn 22 năm xây dựng và trưởng thành (1988-2011), NHTMCPCT VN
đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách vươn lên khẳng định vị trí là một trong nhữngNHTM hàng đầu ở Việt Nam với thị phần tín dụng là hơn 25% của toàn bộ hệthống ngân hàng thương mại trong nước
Hiện nay, dư nợ cho vay đối với nguồn điện chiếm 78% dư nợ cho vay ngànhđiện, còn lại là cho vay đối với truyền tải, lưới điện và mục đích khác Trong đó: Dư
nợ cho vay đối với các dự án thủy điện chiếm 44% tổng dư nợ cho vay ngành điện,
dư nợ cho vay đối với các dự án nhiệt điện khí chiếm 34% dư nợ cho vay ngành tậptrung vào cho vay PVN (dự án khí điện cà mau), Nhiệt điện Quảng Ninh, Dự án nhàmáy nhiệt điện Phú Mỹ và Dự án nhiệt điện Uông Bí
Tại thời điểm 31/10/2010, dư nợ của ngành là 16.805,9 tỷ đồng, chiếm 7,92%tổng dư nợ toàn hệ thống NHTMCPCTVN Trong đó 99,87% là dư nợ đủ tiêuchuẩn, nợ nhóm 2 chiếm tỷ lệ rất nhỏ 0,13%
Quy trình thẩm định dự án đầu tư ngành điện tại NHTMCPCTVN
Bước 1: Hướng dẫn, tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ vay vốn
Bước 2: Thẩm định những nội dung cần thiết
Bước 3: Lập tờ trình thẩm định
Bước 4: Kiểm soát và trình duyệt tờ trình thẩm định
Bước 5: Thẩm định rủi ro tín dụng độc lập và trình duyệt báo cáo kết quả thẩmđịnh rủi ro tín dụng
Bước 6: Tái thẩm định khoản vay
Bước 7: Xét duyệt khoản vay
Thực trạng nội dung thẩm định dự án đầu tư ngành điện được minh họathông qua việc thẩm định cho vay dự án “ Nhà máy thủy điện Khe Bố ” của Công ty
cổ phần Phát triển Điện lực Việt Nam
2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN TẠI NHTMCPCTVN
Công tác thẩm định dự án đầu tư ngành điện trong hoạt động cho vay tạiNHCTVN nhìn chung được tổ chức theo đúng quy trình nghiệp vụ, hợp lý, khoa
Trang 12học và đánh giá được những nội dung cơ bản về hiệu quả kinh tế và tài chính của dự
án Điều này đựoc thể hiện ở một số điểm sau:
Thứ nhất, công tác tổ chức thẩm định được thực hiện tương đối hợp lý, quy trình thẩm định ngày càng được hoàn thiện.
Thứ hai, thông tin sử dụng để thẩm định được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, có cơ sở khoa học đảm bảo độ chính xác, tin cậy.
Thứ ba, nội dung thẩm định ngày một bao quát hơn, hoàn thiện hơn và được
sử dụng linh hoạt theo tính chất và mức độ phức tạp của từng dự án
Thứ tư, chất lượng thẩm định các dự án đầu tư ngành điện được nâng cao thể hiện qua số lượng dự án đã được cho vay và phát huy hiệu quả kinh tế xã hội trên toàn quốc
Công tác thẩm định dự án tại NHTMCPCTVN vẫn còn nhiều hạn chế như: Nhận thức đối với công tác thẩm định dự án ngành điện; Phương pháp thẩm định; Nội dung thẩm định dự án ngành điện; Trình độ cán bộ thẩm định; Nguồn thông tin
cho hoạt động thẩm định:
Từ thực tế có thể thấy những hạn chế đã nêu của công tác thẩm định dự ánđầu tư ngành điện tại NHCTVN xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó cónguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan:
Với nguyên nhân khách quan chủ yếu: Hệ thống các văn bản hướng dẫn côngtác thẩm định còn nhiều bất cập; Do áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng; Do áp lựccho vay theo mệnh lệnh của Chính phủ; Do chính sách phát triển ngành điện của Chínhphủ; Trình độ lập và quản lý dự án của các chủ đầu tư nói chung còn kém
Với nguyên nhân chủ quan chủ yếu: Nhận thức về vai trò của thẩm định đối với các dự án điện chưa cao; Tổ chức công tác thẩm định chưa hợp lý; Quy trình vànội dung thẩm định dự án chưa cụ thể; Trong quá trình thẩm định, cán bộ thẩm định đôi khi vẫn còn nhiều quyết định mang tính chủ quan để cho vay nhằm đạt mức dư nợ cao; Thiếu trang thiết bị và phần mềm chuyên dụng phục vụ công tác thẩm định tài chính dự án
Trang 13CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CHO VAY NGÀNH ĐIỆN TẠI NHTMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTMCTVN
Với chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công tác sau cổ phần hóa, tăng vốn nhằmđảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh, đầu tư công nghệ hiện đại hóa ngân hàng,chuẩn hóa toàn diện hoạt động quản trị điều hành, sản phẩm dịch vụ, cơ chế quychế, từng bước hội nhập quốc tế để giá trị thương hiệu VietinBank được nâng caotrên cả thị trường trong nước và quốc tế
Đối với ngành điện, NHTMCPCTVN đã cho vay và cam kết cho vay nhiều
dự án, dư nợ cho vay ngành điện luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vaynền kinh tế của NHTMCPCTVN
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTMCPCTVN Với giải pháp tổng thể
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò của công tác thẩm định dự án đối vớicác dự án đầu tư của ngành điện trong hoạt động cho vay của NHCTVN
Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định dự ánđầu tư, thường xuyên đào tạo và đổi mới công nghệ thẩm định
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tổ chức trong các khâu thẩm định dự án đầu tưngành điện trong hoạt động cho vay
Thứ tư, tăng cường trang thiết bị và ứng dụng công nghệ tin học phục vụcông tác thẩm định
Thứ năm, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng nguồn thông tin phục vụ côngtác thẩm định dự án đầu tư nói chung và ngành điện nói riêng
Với giải pháp về hoàn thiện nội dung chính trong thẩm định dự án đầu tư ngành điện.
Trang 14Các giải pháp chính được đưa ra bao gồm về Thẩm định tổng vốn đầu tư vànguồn vốn của dự án;Về thẩm định dòng tiền và xác định lãi suất chiết khấu; Về thẩmđịnh hiệu quả và chi phí của dự án; Về thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tàichính; Về thẩm định khả năng trả nợ; Về phân tích rủi ro của dự án.
3.3 KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ NGÀNH ĐIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NHTMCPCTVN.
Thẩm định dự án đầu tư là hoạt động phức tạp, có phạm vi xem xét rộng liênquan đến nhiều đối tượng khác nhau Để nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự
án của các Ngân hàng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp dựa trên
cơ sở một kế hoạch tổng thể thống nhất Có như vậy những giải pháp đề ra mới cótính khả thi, đáp ứng được yêu cầu của hoạt động cho vay tại các ngân hàng thươngmại Qua nghiên cứu thực tiễn công tác thẩm định dự án đầu tư ngành điện tạiNHTMCPCTVN, tác giả xin đề xuất một số kiến nghị với các cấp quản lý nhằmnâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án tại NHTMCPCTVN
KẾT LUẬN
Để đánh giá năng lực của một ngân hàng có rất nhiều tiêu chí khác nhautrong đó chất lượng tín dụng là một thước đo quan trọng, là cơ hội và cũng là tháchthức đối với mỗi ngân hàng trong cơ chế thị trường Song song với sự cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực cũng cần có sự hỗ trợ lẫn nhau đểcùng phát triển Tuy nhiên, ngân hàng khi quyết định đầu tư phải đảm bảo nguồnvốn phát triển an toàn và hiệu quả trong khi các dự án ngành điện không phải dự ánnào cũng hiệu quả Do đó các ngân hàng đặc biệt là NHCTVN rất quan tâm tới việcnâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư ngành điện hiện nay
Trang 15
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang từng bước thay đổi nhanh chóng trên mọi phương diện vớicông cuộc hội nhập của đất nước với nền kinh tế thế giới trong công cuộc đổi mớicùng với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, ngành ngân hàng càng tỏ rõ vị tríquan trọng hàng đầu của mình đối với sự phát triển của đất nước
Hoạt động của NHTM đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đấtnước đặc biệt là đối với hiện đại hóa cơ sở hạ tầng trong đó có ngành điện Chấtlượng thẩm định dự án tốt thì không những ngân hàng thu hồi được đầy đủ và đúnghạn nguồn vốn vay mà còn góp phần sàng lọc và hạn chế việc sử dụng lãng phínguồn vốn của Nhà nước vào các dự án đầu tư không mang lại hiệu quả của ngànhđiện, giúp cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững Đồng thời thông qua đócũng góp phần thực hiện các nhiệm vụ kinh tế vĩ mô của Nhà nước như hợp lý hóa
cơ cấu nền kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống người dân,củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt góp phần vào công cuộc công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước
Hiện nay trong ngành điện, tình trạng đầu tư một cách dàn trải, tràn lan,nhiều dự án bất khả thi được triển khai thực hiện đang là nguy cơ đe dọa đến sựtăng trưởng ổn định của nền kinh tế cũng như các NHTM Do đó đòi hỏi phải có sựkiểm tra, thẩm định dự án chặt chẽ để việc đầu tư đảm bảo có hiệu quả cho cả ngânhàng và khách hàng
Việc thẩm định dự án đầu tư được thực hiện trên các phương diện thẩm địnhnăng lực chủ đầu tư, thẩm định kỹ thuật, thẩm định thị trường, thẩm định tài chính.Trong đó thẩm định tài chính là căn cứ quan trọng để quyết định cho vay hay khôngcho vay đối với dự án
Công tác thẩm định dự án đầu tư của NHTMCP Công Thương Việt Namtrong những năm gần đây đã được nâng cao, đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự ánđầu tư của các khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó có các doanh
Trang 16nghiệp ngành điện – một trong những ngành có nhu cầu vốn đầu tư lớn, góp phầnxứng đáng vào thành tựu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tuy vậy, đối vớingành điện thì việc đầu tư của nhiều dự án còn mang tính dàn trải, không có hiệuquả Còn đối với ngân hàng thì công tác thẩm định dự án đầu tư còn bộc lộ nhữnghạn chết nhất định Chính vì vậy đòi hỏi cần phải được nghiên cứu tòan diện để tìm
ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án để đảm bảo an tòanvốn trong hoạt động tín dụng và đem lại hiệu quả cao nhất.Xuất phát từ những cơ
sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã chon đề tài nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao
chất lượng thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điện tại NHTMCP Công Thương Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư,đặc điểm riêng trong thẩm định dự án đầu tư ngành điện trong hoạt động cho vaycủa NHTM
- Đánh giá thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điện tạiNHTMCPCTVN
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự
án đầu tư cho vay ngành điện tại NHTMCPCTVN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về nội dung thẩm định dự án đầu tưngành điện, được minh họa qua dự án “Dự án đầu tư nhà máy thủy điện Khe Bố”
- Phạm vi nghiên cứu: Các dự án đầu tư ngành điện được thẩm định cho vaytại NHTMCPCTVN
4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp luậnduy vật lịch sử, phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phântích, so sánh, … để phân tích đánh giá, trên cơ sở đó rút ra các kết luận về vấn đềnghiên cứu
Trang 175 Nội dung và kết cấu của luân văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương:Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng thẩm định dự án đầu tư củaNHTM
Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án đầu tư cho vay ngành điệntại NHTMCP Công Thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư cho vayngành điện tại NHTMCP Công Thương Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH
DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 DỰ ÁN ĐẦU TƯ – THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NHTM
1.1.1 Dự án đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
Hoạt động đầu tư được tiến hành với nhiều công đoạn và có những đặc điểmkinh tế đa dạng, thường được thực hiện dưới dạng một hay nhiều dự án đầu tư Dự
án đầu tư là “sản phẩm” đem lại cho công cuộc đầu tư một hiệu quả mong muốn
Dự án đầu tư tạo cơ sở vật chất kỹ thuật nguồn lực mới cho sự phát triển, là phươngtiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế, giải quyết quan hệ cung cầu vềvốn, về sản phẩm dịch vụ trên thị trường, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinhthần cho nhân dân, tiến bộ mặt kinh tế xã hội cho đất nước Tuy vậy, Một số dự ánđòi hỏi nguồn lực cần huy động lớn, tập trung vốn vào một thời điểm nhất định, thờigian thực hiện dài, việc quản lý vận hành dự án thường phức tạp Do vậy, hoạt độngđầu tư cần có quá trình chuẩn bị nghiêm túc và phải thực hiện theo dự án mới đạtkết quả mong muốn Có thể xem xét dự án đầu tư dưới nhiều góc độ khác nhau:
Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày mộtcách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt đượcnhững kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
Đối với doanh nghiệp nói chung, dự án đầu tư là tổng hợp các hoạt động cóliên quan đến nhau, được kế hoạch hóa nhằm thực hiện các mục tiêu xác định bằngviệc tạo ra các kết quả cụ thể trong một khoảng thời gian xác định thông qua việc sửdụng các nguồn lực xác định
Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụngvốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong mộtthời gian dài
Trang 19Trên góc độ kế hoạch hóa, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chitiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làmtiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
Đối với các NHTM, dự án đầu tư là dự án được tài trợ trên cơ sở nghiệp vụtín dụng của NHTM hay nói cách khác đó chính là khoản tiền mà NHTM cho cácdoanh nghiệp hay chủ đầu tư vay theo những điều khoản mà hai bên đã thỏa thuậnnhằm thực hiện một dự án đầu tư nào đó của chủ đầu tư
1.1.1.2 Vai trò và yêu cầu của dự án đầu tư
* Vai trò của dự án đầu tư
- Với chủ đầu tư, dự án đàu tư là căn cứ quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu
tư Dự án đầu tư được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứuđầy đủ các mặt về thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý,… Do đó, chủ đầu
tư sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án để có đuợc lợi nhuận vàgiảm thiểu rủi ro
- Với Nhà nước, dự án là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét, phêduyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư, Vốn ngân sách nhà nước sử dụng để đầu tưphát triển theo kế hoạch thông qua các dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội, hỗ trợ vốn doanh nghiệp nhà nước, các dự án quy trọng quốcgia trong từng thời kỳ Dự án sẽ được phê duyệt, cáp giấy phép đầu tư khi mục tiêucủa dự án phù hợp với đường lối chính sách phát triển kinh tế của đất nước, hoạtđộng của dự án không làm ảnh hưởng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội
- Với các nhà tài trợ vốn cho dự án, các nhà tài trợ xem xét các nội dung cụ thểcủa dự án, đặc biệt là phương diện tài chính của dự án Dự án chỉ được đầu tư vốnkhi dự án có tính khả thi và ngược lại
* Yêu cầu của dự án đầu tư
Để lập nên một dự án đầu tư có tính thuyết phục và thu hút các bên tham gia,khi lập dự án cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
Trang 20- Một là, Dự án phải có tính khoa học Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu của
dự án đầu tư Dự án triển khai và thực hiện thành công khi có yếu tố này Tính khoahọc của dự án được thể hiện trên các khía cạnh:
+ Những dữ liệu, thông tin để xây dựng dự án phải đảm bảo trung thực,chính xác Tức là số liệu và thông tin phải có nguồn gốc và xuất sứ rõ ràng
+ Các nội dung của dự án không tồn tại riêng biệt mà phải nằm trong một thểthống nhất, có tính nhất quán Từ đó, quá trình lập dự án phải đảm bảo tính lôgíc vàchặt chẽ
+ Việc thực hiện tính toán các chỉ tiêu cần phải đảm bảo đơn giản vàchính xác
- Hai là, dự án phải đảm bảo đầy đủ tính pháp lý Khi triển khai, thực hiện dự ánphải được cấp phép của cơ quan có thẩm quyền
- Ba là, dự án phải mang tính thực tiễn Tính thực tiễn thể hiện ở chỗ nó có khảnăng ứng dụng và triển khai trong thực tế
- Bốn là, tính thống nhất Dự án được lập lên trên cơ sở thống nhất về lợi ích cácbên có liên quan đến dự án
- Năm là, tính phỏng định Dự án được lập lên với những nội dụng, tính toán về quy
mô sản xuất, chi phí, giá cả, doanh thu, lợi nhuận,… tỏng dự án chỉ mang tính chất
dự trù, dự báo Thực tế xảy ra không bao giờ xảy ra không hoàn toàn đúng với dựbáo, thậm chí trong nhiều trường hợp thực tế xảy ra lại khác xa so với dự kiến banđầu trong dự án Vì vậy, dự án chỉ mang tính phỏng định
1.1.1.3 Phân loại dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của NHTM
Dự án đầu tư được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau tùy thuộc vàomục tiêu quản lý, công tác tổ chức, kế hoạch hóa vốn đầu tư
+ Căn cứ vào đặc tính hoạt động dự án đầu tư được chia thành:
- Các dự án đầu tư về sản xuất, kinh doanh dịch vụ có khả năng hoàn vốn
- Các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội
- Các dự án đầu tư tổng hợp phát triển kinh tế vùng
+ Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay dự án đầu tư được chia thành 2 loại:
Trang 21- Dự án đầu tư vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản: Đây là những dự ánđược cho vay không phải thực hiện các biện pháp bảo đảm mà dựa trên cơ sở sựđánh giá, tin tưởng vào khả năng tài chính, khả năng quản lý, uy tín trong quan hệđối với ngân hàng và tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư.
- Dự án đầu tư vay vốn có bảo đảm bằng tài sản: Là những dự án mà kháchhàng vay vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba đượcNgân hàng chấp thuận
+ Căn cứ vào thời gian vay vốn dự án đầu tư được chia thành:
- Dự án ngắn hạn: Là những dự án vay vốn có thời gian sử dụng vốn vaydưới 12 tháng và chủ yếu để bù đắp hoặc bổ sung những thiếu hụt vốn lưu động vàcác nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của khách hàng
- Dự án trung dài hạn: Là những dự án có thời hạn sử dụng vốn vay trên 12tháng Đây là những dự án chủ yếu để mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị sảnxuất hoặc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng …
+ Theo Nghị định 112/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tưxây dựng công trình, dự án đầu tư được chia thành 4 loại: Dự án quan trọng cấpquốc gia do Quốc hội thông qua về chủ trương và cho phép đầu tư, các dự án còn lạiđược chia thành 3 nhóm A, B, C để phân cấp quản lý điều hành và chủ động hơntrong việc thực hiện dự án
Ngoài ra còn rất nhiều cách phân loại dự án đầu tư khác nhau tùy thuộc vàotính chất, mức độ quan trọng của từng dự án
1.1.1.4 Cho vay theo dự án đầu tư của NHTM
Cho vay theo dự án đầu tư là việc các NHTM hỗ trợ các khách hàng có đủnguồn lực tài chính để thực hiện các dự định đầu tư mà thời gian thu hồi vốn đầu tưvượt quá 12 tháng
Trên thế giới, hoạt động cho vay theo dự án đầu tư đã trở thành một hoạtđộng tín dụng cơ bản của hầu hết các NHTM Với khả năng và uy tín trong lĩnh vựckinh doanh tiền tệ của mình, các NHTM có thể thực hiện cho vay đơn lẻ nhưng cũng
Trang 22có thể cho vay theo hình thức đồng tài trợ đối với những khoản vay lớn nhằm chia sẻrủi ro Dù tài trợ dưới hình thức nào thì một công việc quan trọng không thể thiếu đượctrước khi thực hiện cho vay đó là việc thẩm định hiệu quả của dự án đầu tư.
Cho vay theo dự án đầu tư để đáp ứng nhu cầu tài chính trung và dài hạn củakhách hàng nhằm tăng năng lực sản xuất thông qua việc đầu tư bổ sung, đầu tư thaythế, sửa chữa, cải tạo hoặc xây dựng mới Các khoản chi về đầu tư có thể bao gồmchi về đất đai, chi cho công tác xây lắp, chi mua sắm máy móc, thiết bị và đầu tưvốn lưu động phục vụ cho hoạt động của dự án
Cho vay theo dự án đầu tư để đáp ứng nhu cầu tài chính trọn gói thực hiện dự
án đầu tư (bao gồm cả đầu tư vào tài sản cố định và tài sản lưu động ban đầu), tạo ramột đòn bẩy tài chính, khắc phục việc thiếu hụt nguồn vốn dài hạn
So với thuê mua tài chính thì việc cho vay theo dự án đầu tư khách hàng vẫnduy trì được quyền sở hữu của mình đối với kết quả đầu tư trong thời gian vay vốn
Việc cho vay căn cứ vào hiệu quả tài chính của dự án đầu tư thông qua cácchỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV) và tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)
Cho vay theo dự án đầu tư được giải ngân theo tiến độ thực hiện của dự án.Cho vay theo dự án đầu tư phải xem xét trong mối quan hệ tổng thể của cáchạng mục công trình của dự án để đảm bảo dự án được thực hiện đồng bộ theo đúng
kế hoạch, tạo điều kiện cho dự án hoàn thành đúng tiến độ, tạo nguồn trả nợ ngânhàng
Nội dung cho vay theo dự án đầu tư bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa, máymóc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện dự án sản xuất kinhdoanh, dịch vụ, đời sống và đầu tư phát triển trừ số lãi tiền vay trả cho các ngânhàng trong thời gian thi công chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đốivới cho vay trung dài hạn để đầu tư tài sản cố định mà khoản lãi được tính trong giátrị của tài sản cố định đó
Trang 23• Quy trình cho vay theo Dự án đầu tư của các NHTM
Việc cho vay theo dự án đầu tư của các NHTM thông thường gồm 3 giaiđoạn: thẩm định dự án, giải ngân và cuối cùng là thu nợ
a Thẩm định dự án đầu tư:
Dự án được lập, chủ đầu tư dự án xem xét nguồn tài trợ của dự án để mangtính hiệu quả cao nhất Chủ đầu tư dự án có nhu cầu vay vốn gửi hồ sơ đến ngânhàng bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ về tình hình tài chính của chủ đầu tư, hồ sơ về
dự án và các hồ sơ khác Sau khi nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng do khách hànggửi, NHTM sau khi thẩm định sơ bộ về tính chất pháp lý cũng như năng lực của chủđầu tư sẽ thực hiện thẩm định dự án trên các mặt làsự cần thiết phải đầu tư, mụctiêu của dự án, phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế - xã hội và phương diệntài chính để xem xét tính khả thi của dự án đầu tư Sau quá trình thẩm định NHTM
sẽ có những tiêu chí cụ thể để xem xét lại hiệu quả của dự án đầu tư trên quan điểmcủa Ngân hàng từ đó đưa ra quyết định tài trợ cho dự án hay không Nếu dự ánkhông khả thi, NHTM sẽ trả lời khách hàng bằng văn bản trong đó có nêu rõ lý do
từ chối cấp tín dụng Còn nếu dự án có tính khả thi thì NHTM sẽ nhận hồ sơ và tiếnhành ký kết hợp đồng cho vay
b Thực hiện cho vay:
Sau quá trình thẩm định và đồng ý cho vay Ngân hàng sẽ công bố khoản đầu
tư và ký kết hợp đồng tín dụng và các hợp đồng liên quan Sau khi thực hiện cácthủ tục pháp lý về việc cấp tín dụng cho dự án NHTM phải chuẩn bị sẵn sàng cáckhoản vốn để giải ngân theo đúng tiến độ thỏa thuận trong hợp đồng Trong quátrình thực hiện đầu tư, NHTM phải luôn giám sát việc triển khai dự án của chủ đầu
tư để có biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra điều bất trắc
c Thu nợ:
Sau khi giải ngân và hết thời gian ân hạn NHTM sẽ có lịch trả nợ thông báođến khách hàng Trong thời gian thu nợ theo hợp đồng đã ký NHTM sẽ thực hiệnthu số tiền phải trả cả gốc, lãi, phí (nếu có) khi đến hạn Căn cứ vào thông báo củaNgân hàng chủ đầu tư sẽ tiến hành thực hiện trả số tiền gốc, lãi theo kỳ đã thông
Trang 24báo của ngân hàng, còn nếu có vấn đề sai lệch với thỏa thuận trong hợp đồng thì haibên phải tiếp tục thỏa thuận để giải quyết nhanh chóng.
Trong 3 giai đoạn trên thì giai đoạn thẩm định dự án đầu tư được coi là giaiđoạn quan trọng nhất và là nền tảng của quá trình đầu tư cho vay đặc biệt là việcthẩm định tài chính của dự án
1.1.2 Thẩm định dự án đầu tư của NHTM
1.1.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là việc tiến hành nghiên cứu phân tích một cách kháchquan, khoan học và toàn diện tất cả các nội dung kinh tế - kỹ thuật của dự án, đặt trongmối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội để cho phép đầu tư và tài trợvốn
Việc thẩm định dự án đầu tư được thực hiện với những mục đích dưới nhữnggiác độ khác nhau cụ thể:
Đối với chủ đầu tư, việc thực hiện độc lập với quá trình soạn thảo dự án sẽcho phéo chủ đầu tư nhin nhận lại dự án của mình một cách khách quan hơn, từ đóthấy được thiếu sót trong quá trình lập dự án để bổ sung kịp thời
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng,mục đích thẩm định là nhằm đánh giá được tính phù hợp của dự án đối với sự pháttriển chung của ngành, của địa phương và của cả nước trên các mặt: mục tiêu, quy
mô, quy hoạch và hiệu quả
Đối với các tổ chức tài chính, ngân hàng công tác thẩm định nhằm mục đích:Rút ra kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và nhữngrủi ro có thể xảy ra cua rdự án để đưa ra quyết định cho vay hoặc từ chối; Thôngqua thông tin và kinh nghiệm thẩm định về các dự án các tổ chức tài chính hayngâng hàng có thể sẽ chủ động tham gia góp ý, tư vấn cho chủ đầu tư nhằm bổsung, điều chỉnh những nội dung còn thiếu sót của dự án, góp phần nâng cao hơnnữa tính hiệu quả của dự án; Là cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời gian chovay, mức thu nợ hợp lý, đảm bảo vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạtđộng hiệu quả, vừa có khả năng thu hồi vốn đã cho vay đúng hạn
Trang 25Tuy vậy, Các dự án đầu tư khi soạn thảo dù đã được nghiên cứu kỹ vẫn mớichỉ là đứng trên quan điểm của nhà đầu tư Do vậy, quá trình thẩm định phải đượctiến hành một cách độc lập, khách quan để đảm bảo đánh giá chính xác hiêu quảkinh tế xã hội mà nó mang lại Thẩm định được coi là quá trình phản biện của quátrình lập dự án.
1.1.2.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư được xem xét trên các phương diện khác nhau nhằmđảm bảo dự án có đủ độ tin cậy và tính thuyết phục cao Muốn vậy quá trình thẩmđịnh phải xem xét đầy đủ, chính xác các nội dung của dự án đầu tư Quá trình đóthường bao gồm các nội dung chính như sau:
• Thẩm định tính pháp lý của dự án đầu tư:
Tính pháp lý của dự án là yếu tố quan trọng để dự án được triển khai và vậnhành thông suốt Yêu cầu về mặt pháp lý nhằm đảm bảo dự án không trái với mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội nói chung có liên quan đến đối tượng của dự án, phùhợp với quy hoạch phát triển theo ngành, vùng, lãnh thổ được cấp có thẩm quyềnphê duyệt Các đối tượng mà dự án hướng tới sản xuất kinh doanh không thuộcdanh mục hàng hóa cấm mà pháp luật qui định Khi tiến hành thẩm định cần xemxét các yếu tố pháp lý thông qua các văn bản của các cơ quan nhà nước như quyếtđịnh thành lập, giấy phép đầu tư, quyết định phê duyệt thiết kế, các giấy tờ liênquan đến việc thực hiện dự án như kết quả thăm dò địa chất, đánh giá tác động môitrường, giấy phép khai thác tài nguyên …
• Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu của dự án
Một dự án được lập ra trước hết phải xem xét đến sự cần thiết phải đầu tư vàmục tiêu của dự án cần đạt được là cái gì Đây là mối quan tâm hàng đầu khi thựchiên thẩm định một dự án đầu tư
Khi thực hiên thẩm định sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu của dự án cầnphải làm rõ được các nội dung chủ yếu như:
Trang 26- Mục tiêu dự án có phù hợp và đáp ứng mục tiêu của ngành, của địa phương
và của của nước hay không (Mục tiêu này có thể căn cứ vào định hướng phát triểnkinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước hoặc của địa phương trong từng thời kỳ)
- Đánh giá về sự cần thiết phải phát triển doanh nghiệp trước những đòi hỏingày càng cao và đa dạng của thị trường Dự án nếu được thực hiện sẽ mang lại lợiích cho chủ đầu tư, cho nền kinh tế - xã hội như thế nào
- Đánh giá quan hệ cung cầu của sản phẩm hiện tại và dự đoán trong tươnglai, từ đó xác định được khả năng tham gia thị trường cũng như tiềm năng phát triểncủa dự án
• Thẩm định kỹ thuật của dự án đầu tư:
Trong khi xây dựng dự án việc nghiên cứu kỹ thuật công nghệ của dự án đầu
tư có vị trí quan trọng Đây là tiền đề cho việc tiến hành nghiên cứu về kinh tế - tàichính của các dự án đầu tư Không có số liệu của nghiên cứu kỹ thuật, công nghệ thìkhông thể tiến hành nghiên cứu kinh tế - tài chính tuy rằng các thông số kinh tế cóảnh hưởng đến các quyết định về mặt kỹ thuật Các dự án không khả thi về mặt kỹthuật phải được bác bỏ để tránh những tổn thất trong quá trình thực hiện đầu tư vàvận hành kết quả đầu tư sau này Chính vì vậy khi thẩm định dư án đầu tư thì khâuthẩm định kỹ thuật của dự án cũng hết sức quan trọng
Thẩm định kỹ thuật là việc thẩm định các mặt của dự án bao gồm:
- Thẩm định địa điểm thực hiện dự án: Đây là một trong những khâu quantrọng ban đầu của dự án, việc lựa chọn địa điểm xây dưng phải đảm bảo được cácyêu cầu như: Gần với nơi cung cấp nguyệt vật liệu chủ yếu hoặc nơi tiêu thụ chính;giao thông thuận tiện, chi phí vận chuyển, bốc dỡ hợp lý; Tận dụng cơ sở hạ tầngsẵn có: đường sá, bến cảng,điện,…để tiết kiệm chi phí đầu tư; Mặt bằng phải phùhợp với quy mô hiện tại và dự phòng khả năng mở rộng trong tương lai
- Thẩm định quy mô của dự án: Thực hiện thẩm định mức độ yêu cầu của thịtrường hiện tại và tương lai với sản phẩm của dự án; công suất sử dụng với khảnăng chấp nhận sản phẩm của thị trường, với khả năng đáp ứng vốn, khả năng cung
Trang 27ứng nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cũng như khả năng quản lý dự án của cácnhà quản lý.
- Thẩm định công nghệ và trang thiết bị: Công nghệ và thiết bị của dự án lànhân tố quyết định chủ yếu đến chất lượng sản phẩm Thiết bị là bộ phận chủ lựccủa tài sản cố định, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và quá trìnhsản xuất kinh doanh Do đó, dự án cần xác định rõ căn cứ lựa chọn công nghệ, máymóc, thiết bị, mức độ đảm bảo về chuyển giao công nghệ …
- Thẩm định nguồn nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác: Đây là yếu tốquyết định đến hiệu quả đầu tư của dự án, do vậy cần phải tính tóan kỹ lưỡng tổngnhu cầu hàng năm của nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu, năng lượng, điện, nước,…
có sự nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng và đầy đủ
- Thẩm định quy mô, giải pháp xây dựng công trình: Cần phải xem xét việc
bố trí cơ sở vật chất phù hợp với công nghệ và thiết bị được lựa chon để đảm bảoquá trình sản xuất diễn ra thuận lợi; Trên cơ sở yêu cầu kỹ thuật khối luơnựg côngtác cần phải thực hiện và các định mức từ đó kiểm tra lại các tính tóan nhu cầu vốncho từng hạng mục công trình
- Thẩm định phương án kiến trúc: mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, độbền vững, việc áp dụng các quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng …
• Thẩm định về mặt kinh tế - xã hội của dự án đầu tư
Bất kỳ chủ đầu tư nào khi bỏ vốn để thực hiện dự án đầu tư đều có mục tiêuchủ yếu là thu được nhiều lợi nhuận Khả năng sinh lợi của một dự án là thước đochủ yếu để thu hút các nhà đầu tư, mức sinh lợi càng cao thì sức hấp dẫn càng lớn.Tuy nhiên trong thực tế không phải dự án đầu tư nào có khả năng sinh lợi lớn vàmức an toàn tài chính cao thì đều có lợi ích về mặt kinh tế, xã hội và môi trườngcao Tính kinh tế của dự án đầu tư chính là những lợi ích xã hội được thụ hưởng từchính dự án đó mang lại Do đó, bất kỳ dự án đầu tư nào cũng đều phải được thẩmđịnh về mặt kinh tế - xã hội
Thẩm định kinh tế nhằm rà soát lại mục tiêu của dự án về các mặt kinh tế và
xã hội Mục tiêu kinh tế của dự án chính là lợi ích trực tiếp cần đạt được của chủ
Trang 28đầu tư Mục tiêu xã hội chính là lợi ích xã hội có được do thực hiện dự án Chẳnghạn dự án thực hiện góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, tạo công ăn việc làm vàthu nhập cho người lao động, lơi ích về môi trường hay các mục tiêu phát triển mộtngành sản xuất, một địa phương nào đó Một dự án thành công phải đảm bảo hàihòa lợi ích chung và lợi ích chính đáng của chủ đầu tư trên cơ sở pháp luật.
Đối với NHTM việc thẩm định kinh tế - xã hội của dự án là một căn cứ đểquyết định có tài trợ vốn hay không Nếu dự án không chứng minh được các lợi íchkinh tế - xã hội thì rất khó nhận được giấy phép đầu tư của cơ quan có thẩm quyền
và tài trợ của ngân hàng
• Thẩm định về phương diện thị trường của dự án
Thẩm định thị trường giúp cho chủ đầu tư xác định và đánh giá xem dự ánđầu tư sẽ khai thác sản phẩm nào là triển vọng nhất, khu vực nào là sẽ tiêu thụ đượcsản phẩm đó Với ngân hàng việc thẩm định thị trường sẽ giúp đánh giá được khảnăng tiêu thụ sản phẩm, đồng thời đánh giá được tính đúng đắn về chiến lược về sảnphẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối sản phẩm Nội dung thẩm định vềphương diện thị trường bao gồm:
- Thẩm định về lựa chọn sản phẩm và dịch vụ cho dự án: Cần phải xem xétmột cách cụ thể sản phẩm của dự án là sản phẩm gì, sản phẩm có nhu cầu lớn trênthị trường hay không, mứa độ sản xuất và cung ứng hiện tại có đáp ứng đựợc nhucầu tiêu thụ hay không,…
- Xác định khu vực thị trường và thị hiếu của khách hàng: Cần phải xác định
rõ khu vực thị trường và thị hiếu của khách hàng từ đó hình thành nên định hướngsản xuất sản phẩm cũng như cách thức phân phối bán hàng đến tưng khu vực đạthiệu quả cao nhất
- Phân tích tình hình cạnh tranh sản phẩm trong tương lai trên thị trường và chỉ
ra lợi thế cạnh tranh của dự án: Cần phải xác định rõ múc độ cạnh tranh trên thịtrường về loại sản phẩm của dự án Đã có sản phẩm của doanh nghiệp nào tiêu thụtrên thị trường, chất lượng, giá cả của sản phẩm đó ra sao….Từ đó phân tích đánh
Trang 29giá xem sản phẩm của dự án có những thế mạnh canh tranh như thế nào so vớidoanh nghiệp khác đang hoạt động.
Thẩm định tài chính của dự án là việc tổ chức, xem xét, phân tích đánh giámột cách khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên những giácđộ: tính pháp lý, tính khả thi, hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án đầu tư nhằmđưa ra những quyết định đúng đắn nhất
Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của NHTM là việc tổchức một cách khoa học, hợp lý và tiến hành xem xét khách quan, toàn diện mọikhía cạnh về tài chính liên quan đến tính khả thi của dự án từ đó đưa ra quyết địnhcho vay hay không cho vay đối với chủ đầu tư dự án đó
Mục đích của thẩm định tài chính dự án đầu tư là để đánh giá khách quan tínhkhả thi về mặt tài chính của dự án, từ đó lựa chọn và không bỏ sót dự án tốt đồng thờiloại bỏ những dự án có rủi ro cao, không hiệu quả và không đảm bảo khả năng trả nợcho Ngân hàng Bên cạnh đó, thẩm định tài chính dự án còn đánh giá được mức độ rủi
ro của dự án để tư vấn cho khách hàng những giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả hoạtđộng của dự án và giảm thiểu rủi ro cho khoản vay Trên cơ sở kết quả thẩm định vàđánh giá mức độ rủi ro có thể đưa ra các quyết định về số tiền cho vay, thời gian, lãisuất cho vay, kế hoạch thu nợ và biện pháp bảo đảm tiền vay
Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với nhautrong đó thường chú trọng vào các nội dung chủ yếu sau:
- Thẩm định tổng mức vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn đầu tư và tiến độ sử dụng vốn.
Tổng mức vốn đầu tư là toàn bộ chi phí đầu tư và xây dựng (kể cả vốn sảnxuất ban đầu) và là giới hạn chi phí tối đa của dự án được xác định trong quyết địnhđầu tư Đây là giá trị của toàn bộ tài sản cần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạtđộng và là số vốn cần thiết để thực hiện dự án
Việc thẩm định tổng vốn đầu tư là rất quan trọng nhằm tránh việc khi thựchiện vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu dẫn đến việckhông cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án
Trang 30Cơ sở thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án tùy thuộc vào quy mô dự án, mức độhiện đại của trang thiết bị và hình thức cấp vốn Theo qui định hiện nay tổng vốnđầu tư của dự án bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn dự phòng.
Vốn cố định bao gồm chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí xây lắp và mua sắmthiết bị và chi phí khác Chi phí chuẩn bị đầu tư là các chi phí không trực tiếp tạo ratài sản cố định mà liên quan gián tiếp đến việc tạo ra và vận hành, khai thác các tàisản đó để đạt được mục tiêu đầu tư như chi phí điều tra, khảo sát để lập dự án vàtrình duyệt dự án, chi phí tư vấn thiết kế dự án Chi phí xây lắp và mua sắm thiết bịnhư chi phí ban đầu về mặt bằng, chi phí đền bù, chi phí san lấp mặt bằng, chi phíxây dựng công trình tạm, chi phí mua sắm thiết bị, phương tiện vận tải mới … Chiphí khác như chi phí quản lý dự án, chi phí đào tạo huấn luyện, chi phí thuê chuyêngia, chi phí bảo hiểm, chi phí trả lãi vay…
Vốn lưu động là khoản vốn đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên sau khi kếtthúc giai đoạn thực hiện đầu tư huy động vào sản xuất theo các điều kiện kinh tế kỹthuật để đạt công suất đề ra Nhu cầu vốn lưu động cho dự án thông thường đượcxác định trên cơ sở dự trù tài sản lưu động trong các năm vận hành của dự án nhưnhu cầu dự trữ bình quân của các yếu tố tiền mặt, nguyên nhiên vật liệu, bán thànhphẩm, thành phẩm
Vốn dự phòng là khoản chi phí chỉ để dự trù cho các đối tượng phát sinh dothay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyền chấp thuận,đối tượng phát sinh mà không lường trước được, hay là khoản dự phòng do trượtgiá trong quá trình thực hiện dự án…
Việc thẩm định lại tổng mức vốn đầu tư của Ngân hàng không chỉ đơn giản
là tính toán cộng trừ về mặt số học các số liệu khách hàng cung cấp mà phải đánhgiá mức độ tin cậy của các số liệu đó để tính toán lại nhu cầu vốn đầu tư trên quanđiểm của Ngân hàng
Trên cơ sở tính toán tổng mức vốn đầu tư, vốn chủ sở hữu và vốn từ cácnguồn khác tham gia vào dự án cũng như năng lực tài chính của doanh nghiệp,Ngân hàng sẽ xác định lại nhu cầu vốn vay để thực hiện dự án
Trang 31Vốn vay = Tổng nhu cầu vốn – Vốn chủ sở hữu – Vốn khác
Ngân hàng thẩm định lại tổng mức vốn đầu tư đảm bảo cho việc tài trợ vốnđúng, đủ, kịp thời, tránh tình trạng tính tổng vốn đầu tư quá thấp có thể làm cho dự
án không tiến hành được hoặc tính quá cao sẽ dẫn đến phản ánh sai lệch hiệu quả tàichính của dự án, đồng vốn được sử dụng lãng phí, kém hiệu quả Tổng vốn đầu tưcần được xem xét theo từng giai đoạn của quá trình thực hiện dự án Đối với Ngânhàng đó là cơ sở để xác định tiến độ giải ngân phù hợp, từ đó chủ động về nguồnvốn và sử dụng vốn Bên cạnh đó, Ngân hàng còn theo dõi được các hoạt động đầu
tư và đánh giá được mức độ hiệu quả của những đồng vốn đã đầu tư
Các nguồn tài trợ cho dự án bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn vay Ngân hànghoặc vốn huy động từ các nguồn khác Do đó, khi thẩm định cơ cấu nguồn vốn đầu
tư, NHTM phải phân tích tính hiện thực, tính sẵn có và tính khả thi của từng nguồnvốn Đối với nguồn vốn tự có cần đánh giá khả năng rút vốn cho dự án từ vốn lưuđộng hoặc các tài sản đã được đầu tư bằng nguồn vốn tự có, tính thanh khoản và giátrị của những tài sản này để xác định doanh nghiệp có vốn để bỏ vào dự án haykhông Đối với nguồn vốn vay hoặc huy động khác cần xem xét các hợp đồng vayvốn hoặc cam kết tài trợ của bên thứ ba cho dự án
Việc xem xét tính khả thi của các nguồn tài trợ là rất quan trọng vì nó ảnhhưởng lớn đến hiệu quả cũng như khả năng trả nợ Ngân hàng của dự án
Việc thiếu vốn hay mất cân đối nguồn vốn hoặc không phù hợp về thời hạn
có thể khiến cho một dự án có hiệu quả về mặt tài chính nhưng vẫn tiềm ẩn rủi rokhông trả được nợ cho Ngân hàng Vì thế cần xem xét, đánh giá về tiến độ thựchiện của dự án và nhu cầu vốn hợp lý cho từng giai đoạn, đảm bảo tiến độ thi côngcủa dự án Đây cũng là căn cứ cho Ngân hàng trong việc xây dựng kế hoạch giảingân và thu nợ
Ngoài vốn đầu tư bỏ ra ban đầu, để vận hành dự án hàng năm cần phải bổsung một lượng vốn lưu động nhất định Nếu không dự kiến được một cách tươngđối chính xác nhu cầu vốn lưu động tăng lên hàng năm và cân đối nguồn tài trợ có
Trang 32thể khiến cho một dự án được đánh giá là có hiệu quả nhưng trên thực tế lại khôngvận hành được.
- Thẩm định dòng tiền của dự án
Dòng tiền của dự án được hiểu là chênh lệch giữa dòng tiền thu vào và dòngtiền chi ra của dự án
Dòng tiền thuần của dự án = Dòng tiền vào của dự án – Dòng tiền ra của dự án.
Dòng tiền thu vào của dự án bao gồm doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính, thu hồi thanh lý TSCĐ và thu hồi vốn lưuđộng ban đầu
Dòng tiền ra của dự án bao gồm chi phí bỏ ra để đầu tư dự án và chi phí thựchiện dự án và chi phí vận hành hàng năm
Hầu hết các doanh nghiệp đi vay để đầu tư sản xuất kinh doanh và dòng tiềncủa dự án đó là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh Khi đó dòng tiền được xác địnhnhư sau:
Dòng tiền hoạt động kinh doanh = Lợi nhuận sau thuế năm t + Khấu hao
TSCĐ + Lãi vay – Vốn đầu tư ban đầu.Thông thường dòng tiền của dự án có giá trị âm trong những năm đầu của dự
án khi các khoản đầu tư ban đầu đã được thực hiện và dự án chưa thu được nhiềulợi ích từ việc bán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của dự án Sau một thời gian, khisản phẩm hàng hóa, dịch vụ của dự án đã được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường,dòng thu của dự án sẽ lớn hơn dòng chi phí bỏ ra và dòng tiền của dự án sẽ dương.Dòng tiền của dự án có xu hướng tăng dần trong những năm tiếp theo của dự án
Về mặt lý thuyết, thẩm định các tiêu chuẩn tài chính là dễ dàng, tuy nhiêntrên thực tế việc xác định các chỉ tiêu này không đơn giản Việc xác định doanh thuqua các năm khi dự án đi vào hoạt động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như tăngtrưởng kinh tế, giá cả, thái độ của người tiêu dùng, phản ứng của đối thủ cạnh tranh.Sai lầm trong xác định dòng tiền cụ thể sẽ dẫn đến những kết luận sai về chất lượngtài chính dự án đầu tư và hậu quả là một quyết định đầu tư sai lầm Chính vì vậy, đểcông tác thẩm định chất lượng tài chính dự án đầu tư có hiệu quả, cán bộ thẩm định
Trang 33không chỉ đơn thuần xem xét đánh giá và tính toán các chỉ tiêu trên phương diện tàichính mà còn tiến hành xem xét, đánh giá các yếu tố thuộc phương diện thị trường,
kỹ thuật có ảnh hưởng đến dòng tiền của dự án
- Thẩm định tỷ lệ chiết khấu (DR – Discount Rate):
Tỷ lệ chiết khấu là lãi suất sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu đối với
dự án, nó cũng là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền của dự án trong việc tính giá trịhiện tại Nếu dự án được tài trợ từ nhiều nguồn vốn, tỷ lệ chiết khấu được chọn là
lãi suất trung bình rWACC:
rWACC = ∑
=
m t
- Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án:
Việc quyết định đầu tư một dự án đòi hỏi phải cân nhắc trên nhiều mặt Đểxem xét hiệu quả kinh tế của dự án có nhiều tiêu chuẩn khác nhau được sử dụng đểđánh giá Thông thường khi thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của
dự án người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
+ Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (NPV – Net Present Value)
Giá trị hiện tại thuần của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiệntại của các khoản thuần do đầu tư đưa lại trong tương lai với giá trị hiện tại của vốnđầu tư bỏ ra và được xác định theo công thức sau :
)1(
)(
+
−
Bt: Thu nhập của DA năm t
Ct: Chi phí của DA năm t (bao gồm cả chi phí đầu tư, chi phí vận hành vàthuế TNDN)
n: Số năm hoạt động của DA
r: Tỷ lệ chiết khấu được chọn
Trang 34Dự án được chấp nhận khi NPV ≥ 0, khi đó tổng các khoản thu của dự án ≥tổng các khoản chi phí sau khi đã qui đổi về mặt bằng hiện tại NPV càng lớn thìhiệu quả tài chính càng cao, dự án càng hấp dẫn
Dự án không được chấp thuận khi NPV < 0, khi đó tổng thu nhập của dự ánkhông đủ bù đắp chi phí bỏ ra
Trường hợp NPV ≥ 0 cần xem xét nếu các dự án độc lập, tức là các dự ánđược lập ra để thực hiện các công việc khác nhau, do đó khi lựa chọn dự án này sẽkhông ảnh hưởng đến dự án kia thì đều có thể chấp nhận được Trong trường hợpcác dự án thuộc loại loại trừ nhau và đều có thời gian hoạt động như nhau thì dự ánnào có NPV dương lớn nhất là dự án được lựa chọn
Giá trị hiện tại thuần thể hiện giá trị tăng thêm của khoản đầu tư có tính đếnyếu tố giá trị thời gian của tiền đầu tư Nó cho phép nhìn nhận hiệu quả của dự ánxác đáng hơn, giúp cho việc đánh giá và lựa chọn dự án phù hợp với mục tiêu tối đahóa lợi nhuận của doanh nghiệp Tuy nhiên, chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần khôngphản ánh được mức sinh lời của đồng vốn đầu tư và mối liên hệ giữa mức sinh lờicủa vốn đầu tư với chi phí sử dụng vốn
NPV phản ánh qui mô tiền lãi ròng thu được của cả đời dự án và đã được quiđổi về hiện tại Đối với Ngân hàng, vấn đề được quan tâm là khả năng thu hồi vốnvay đầy đủ, đúng hạn chứ không phải dòng tiền ròng suốt đời dự án Vì vậy, NPVchỉ là bước đầu đánh giá hiệu quả của dự án, không phải là yếu tố quyết định đốivới việc tài trợ dự án Nhiều dự án có NPV nhỏ nhưng vẫn được cho vay nếu chủ
dự án có đầy đủ khả năng hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng
+ Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR – Internal Rate of Return)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là tỷ suất chiết khấu đó làm cho giá trị hiện tại củacác khoản thu trong tương lai do đầu tư đưa lại bằng với giá trị hiện tại của vốn đầu
tư Như vậy, tỷ suất hoàn vốn nội bộ cũng chính là một tỷ suất chiết khấu mà với tỷsuất chiết khấu đó làm cho giá trị hiện tại thuần của dự án bằng không
Thông thường IRR được tính bằng phương pháp nội suy tuyến tính hoặc xử
lý sai số Các phương pháp tính thủ công này hiện nay ít được sử dụng vì phức tạp,
Trang 35mất nhiều thời gian mà độ chính xác không cao Việc tính toán chỉ tiêu IRR đượctính bằng phần mềm Excel cho kết quả nhanh và giảm được sai số trong quá trìnhtính toán.
Chỉ tiêu này phản ánh lãi suất mà dự án đầu tư có thể mang lại Do vậy khi
sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá, lựa chọn thì cần so sánh với tỷ lệ chiết khấu hoặc
so sánh với lãi suất vay vốn thay cho tỷ lệ chiết khấu Nếu IRR < chi phí sử dụngvốn thì dự án cần loại bỏ Nếu IRR = chi phí sử dụng vốn thì tùy điều kiện cụ thể và
sự cần thiết của dự án mà chủ đầu tư có thể quyết định loại bỏ hay chấp thuận dự
án Nếu IRR > chi phí sử dụng vốn, trường hợp các dự án đầu tư độc lâp thì đều cóthể chấp nhận được Nếu các dự án thuộc loại loại trừ nhau thì không thể căn cứtrực tiếp vào IRR để lựa chọn vì dự án có IRR lớn hơn chưa chắc đã hiệu quả hơn
Chỉ tiêu này cho phép so sánh mức sinh lời của dự án với chi phí sử dụngvốn, thấy được mối liên hệ giữa việc huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn trongviệc thực hiện dự án đầu tư Sử dụng phương pháp này còn giúp ta có thể tính toánđược mức lãi vay cao nhất mà dự án có khả năng thanh toán Tuy nhiên IRR lạikhông đề cập đến qui mô, độ lớn của dự án đầu tư và không giả định đúng tỷ lệ táiđầu tư nên nhà đầu tư có thể bỏ qua những dự án có giá trị lợi nhuận cao nhưng tỷ
lệ sinh lời thấp
+ Chỉ số doanh lợi (PI – Profit Index)
Chỉ số sinh lời PI cho biết thu nhập được tạo ra từ một đồng vốn đầu tư, do
đó dự án chỉ được chấp nhận khi PI ≥ 1 Đây là một thước đo khả năng sinh lợi của
dự án đầu tư có tính đến giá trị thời gian của tiền tệ PI được tính bằng tỷ lệ giá trịhiện tại của các khoản thu nhập do đầu tư mang lại với giá trị hiện tại của vốn đầu
tư Tỷ số này được tính như sau:
PI =
K
OC B
t t t
r K r
OC B
11
PVB: Giá trị hiện tại của các khoản thu bao gồm thu nhập ở các năm của đời DA
PVOC: Giá trị hiện tại của các khoản chi
Trang 36Bt: Thu nhập của DA năm t
1 : Giá trị hiện tại của vốn đầu tư
r: Tỷ lệ chiết khấu của DA
Chỉ số PI phản ánh mối quan hệ giữa các khoản thu nhập do đầu tư đem lại
và số vốn đầu tư đã bỏ ra để thực hiện dự án Ngân hàng có thể căn cứ vào chỉ sốnày so sánh với các dự án có vốn đầu tư khác nhau để thấy được mức sinh lời của
dự án Tuy nhiên do PI không phản ánh khối lượng lợi nhuận ròng của dự án nênnếu sử dụng chỉ số này nhiều khi dẫn đến những kết luận không thỏa đáng do đóphải kết hợp chỉ tiêu này với một số chỉ tiêu khác để có những đánh giá kết luậntổng quan hơn về dự án đầu tư
+ Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn đầu tư (Tp – The Payback period)
Thời gian hoàn vốn đầu tư là khoảng thời gian cần thiết để dự án đầu tư tạo
ra dòng tiền thu nhập bằng chính số vốn đầu tư để thực hiện dự án Nó chính làkhoảng thời gian để hoàn vốn đầu tư ban đầu bằng khoản lợi nhuận và khấu hao thuđược hàng năm Nếu lợi nhuận và khấu hao hàng năm như nhau thì thời gian thu hồivốn đầu tư được xác định như sau:
T =
D P
K
+
T: Thời gian thu hồi vốn đầu tư
K: Vốn đầu tư ban đầu
P: Lợi nhuận thu được bình quân năm
D: Khấu hao hàng năm
Nếu khấu hao và lợi nhuận ròng của các năm khác nhau, người ta tính Tpbằng cách lấy vốn đầu tư trừ dần thu nhập mỗi năm cho đến khi thu hồi hết vốn.Khi số vốn đầu tư còn phải thu hồi nhỏ hơn số thu nhập của năm kế tiếp thì lấy sốvốn đầu tư chưa thu hồi chia cho số thu nhập bình quân 1 tháng của năm kế tiếp đểtính ra số tháng còn phải tiếp tục thu hồi vốn đầu tư
Trang 37Tp là một chỉ tiêu mà Ngân hàng rất quan tâm khi xác định thời hạn trả nợvốn vay Cùng với thời gian đầu tư xây dựng cần phải xác định thời hạn cho vayhợp lý, phù hợp với dòng tiền của dự án Một dự án có Tp càng nhỏ càng tốt vì vốnđầu tư nhanh chóng được thu hồi để tái đầu tư Mặt khác Tp nhỏ sẽ hạn chế đượcrủi ro thua lỗ có thể xảy ra nhất là trong điều kiện sản xuất kinh doanh phải chịu sựcạnh tranh mạnh mẽ Trong thực tế Ngân hàng thường cho vay đúng bằng thời gianhoàn vốn đầu tư để đảm bảo khách hàng có khả năng trả nợ, đồng thời tránh tìnhtrạng khách hàng sử dụng nguồn trả nợ ngân hàng để tiếp tục đầu tư, sử dụng vàomục đích khác do xác định thời gian cho vay quá dài.
+ Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận bình quân vốn đầu tư là mối quan hệ giữa số lợi nhuậnbình quân hàng năm thu được do đầu tư mang lại trong suốt thời gian bỏ vốn đầu tư
và số vốn đầu tư bỏ ra ban đầu
Số lợi nhuận bình quân hàng năm do đầu tư mang lại trong suốt thời gian đầu
tư được tính theo bình quân số học kể từ lúc bắt đầu bỏ vốn đầu tư cho đến khi kếtthúc dự án
Với các dự án khác nhau, dự án nào có tỷ suất bình quân vốn đầu tư cao hơn
là dự án tốt hơn Chỉ tiêu này tính toán đơn giản nhưng lại chưa tính đến các thờiđiểm khác nhau nhận được lợi nhuận trong tương lai của mỗi dự án
+ Chỉ tiêu tỷ số lợi ích và chi phí (BCR):
Chỉ tiêu tỷ số lợi ích và chi phí đươc xác định bằng tỷ số giữa lựi nhuận thuđược và chi phí bỏ ra Lợi nhuận và chi phí của dự án có thể tính về thời điểm hiệntại hoặc thời điểm tương lai Thông thường chỉ tiêu BCR được xác định theo côngthức sau:
r Bt
1
1
)1(1
)1(
1 =
)(
)(
C PV
B PV
Bt: Thu nhập của DA trong năm t
Ct: Chi phí của DA năm t
Trang 38r: Tỷ lệ chiết khấu
PV(B): Giá trị hiện tại của các khoản thu gồm thu nhập ở các năm của DAPV(C): Giá trị hiện tại của các khoản chi
Dự án được chấp thuận khi B/C ≥ 1 Khi đó tổng các khoản thu của dự án đủ
để bù đắp các chi phí phải bỏ ra của dự án và dự án có khả năng sinh lợi cao
Chỉ tiêu B/C được sử dụng như một tiêu chuẩn trong so sánh, lựa chọn các
dự án đầu tư độc lập Trường hợp phải lựa chọn giữa các dự án xung khắc thì khôngthể sử dụng chỉ tiêu BCR được
- Thẩm định mức độ rủi ro của dự án :
Rủi ro là sự không chắc chắn, nó chính là sự sai biệt giá trị thực tế so với giátrị kỳ vọng Rủi ro của dự án có thể hiểu là sự sai biệt lợi nhuận thực tế so với lợinhuận kỳ vọng Rủi ro luôn tiềm ẩn và có thể có những tác động, ảnh hưởng đếnhiệu quả dự án
Một dự án thường có tuổi thọ từ 10 đến 50 năm Các dự án được lập và tínhtoán hiệu quả tài chính trên cơ sở dự tính quá trình kinh doanh và thu lợi nhuận sẽdiễn ra trong tương lai Trong nền kinh tế thị trường, các số liệu dự báo luôn có sựbiến đổi, đặc biệt là trong tương lai xa nên khả năng dự án gặp phải những rủi ro làkhó tránh khỏi Trong phân tích trên, các yếu tố doanh thu và chi phí mới chỉ thểhiện một giá trị duy nhất Tính bất định và rủi ro của dự án xảy ra khi mà tại bất kỳmột thời điểm nào của dự án thì dự án có thể tạo ra nhiều hơn một kết quả Vì vậy,khi đánh giá và phân tích dự án chúng ta cần xem xét các khả năng mà dự án có thểgặp phải để có biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng thu hồi
và sinh lãi của dự án Đặc biệt đối với ngân hàng là người cho vay thì việc các rủi rongoài dự kiến xảy ra làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của dự án và có nguy cơmất vốn của ngân hàng Do đó, phân tích rủi ro trở nên hết sức cần thiết trong thẩmđịnh dự án Việc đánh giá được mức độ rủi ro dự án cũng là một thông tin rất quantrọng trong việc ra quyết định đầu tư
Để có thể dự đoán được mức độ rủi ro của dự án Ngân hàng thường sử dụngcác phương pháp sau :
Trang 39+ Phương pháp phân tích độ nhạy của dự án (Sensitivity Analysis)
Hiệu quả của dự án phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố được dự báo trong khi lập
dự án Đã là dự báo thì có thể có sự sai lệch nhất là những biến động xảy ra trong tươnglai Vì vậy, khi thẩm định dự án cần phải đánh giá được sự ổn định của các chỉ tiêuhiệu quả của dự án khi các nhân tố đầu vào, đầu ra của dự án có sự biến động, nói khác
đi là phải phân tích độ nhạy của dự án theo các nhân tố biến động đó
Trong khi phân tích độ nhạy, người ta dự kiến một số tình huống thay đổi,những rủi ro trong tương lai làm cho giá nguyên vật liệu tăng, giá thuê công nhântăng, sản lượng và doanh thu giảm … Từ đó tính lại các chi tiêu hiệu quả tài chínhnhư NPV, IRR, PI …nếu vẫn đạt yêu cầu thì dự án được coi là ổn định và chấpnhận được Ngược lại dự án bị coi là không ổn định buộc phải xem xét điều chỉnhtính toán lại mới đầu tư Phân tích độ nhạy của dự án thông thường được thực hiệnqua 4 bước sau:
Bước 1: Xác định xem những nhân tố nào có khả năng biến động theo chiềuhướng xấu, mà để xác định được xu hướng này cần căn cứ vào các số liệu thống kêtrong quá khứ, các số liệu dự báo và đặc biệt là kinh nghiệm thực tế của các chuyêngia phân tích
Bước 2: Trên cơ sở các nhân tố đã lựa chọn, dự đoán biên độ biến động có thểxảy ra tối đa là bao nhiêu so với giá trị chuẩn ban đầu
Bước 3: Chọn một chỉ tiêu hiệu quả của dự án để đánh giá độ nhạy, chẳng hạnphân tích độ nhạy theo chỉ tiêu NPV hay IRR
Bước 4: Tiến hành xác định lại NPV và IRR theo các biến số mới, trên cơ sởcho các biến số tăng, giảm cùng một tỷ lệ phần trăm nào đó
∆Fi là mức biến động (%) của chỉ tiêu hiệu quả
∆Xi là mức biến động (%) của nhân tố ảnh hưởng
Trang 40Kết quả của việc phân tích độ nhạy cho ta biết nhân tố nào trong dự án cầnđược nghiên cứu kỹ, cần thu thập đủ thông tin để phòng ngừa và hạn chế rủi ro xảy
ra trong quá trình khai thác và vận hành dự án Tuy nhiên phương pháp này cũng cómột số hạn chế như : Khi phân tích độ nhạy không tính đến xác suất xảy ra sự kiện,mối quan hệ tương quan giữa các biến số và việc thay đổi giá trị các biến số nhạycảm theo một tỷ lệ phần trăm nhất định không phải lúc nào cũng có mối liên hệ với
sự biến thiên của các biến số hiệu quả quan sát được
+ Phương pháp phân tích tình huống (Scenario Alalysis)
Mặc dù phân tích độ nhạy là kỹ thuật phân tích rủi ro khá phổ biến, tuy nhiên
nó cũng có những hạn chế như đã phân tích ở trên Do đó trong thẩm định rủi ro của
dự án người ta còn sử dụng phương pháp phân tích tình huống Đây là phương phápphân tích kết hợp cả hai nhân tố là tính đến xác suất xảy ra của các biến rủi ro và sựtác động của chính biến đó đối với dự án Trong sự phân tích này đòi hỏi phải xétđến cả một tập hợp những tình huống tốt và xấu từ đó so sánh với các giá trị cơ sở.Tuy nhiên phương pháp phân tích này vẫn tồn tại một số hạn chế như không thể xácđịnh được tất cả các trường hợp kết hợp lẫn nhau của các yếu tố và chỉ phân tíchđược một vài khả năng (biến cố) rời rạc, trong khi thực tế có thể có vô số khả năngkết hợp có thể xảy ra giữa các biến cố của dự án
+ Phương pháp phân tích Monter Carlo
Phương pháp phân tích này có tính đến xác suất và mối tương quan đồng thờinhận biết những tác động có thể có của một biến cố đến kết quả dự án Nó cũng cóthể xét đến sự trì hoãn hoặc các sự kiện khác có động chạm đến kết quả dự án Quantrọng hơn là nó giúp cho việc đánh giá giá trị hiện tại ròng của dự án, phân phối xácsuất của kết quả và xác suất dự án thất bại Và bằng cách xếp hạng các biến cố theotác động của chúng đến kết quả dự án và xác suất xảy ra, phương pháp phân tíchMonter Carlo giúp cho các nhà tài chính phân tích dự án được tốt hơn và nhận diệnđược các biến cố cần phải theo dõi trong quá trình vận hành dự án Ngày nay, với
sự phát triển và ứng dụng của công nghệ tin học trong ngân hàng kỹ thuật phân tích