1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của việt nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015

89 446 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 770,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 - Lý luận chung về xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiếnxuất khẩu quốc gia đối với nhóm hàng nông sản Chương 2 - Thực trạng xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xu

Trang 1

Luận văn Thạc sỹ khoa học chuyên ngành Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế

quốc tế (Kinh tế đối ngoại) với đề tài “Xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015” được tác giả viết dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thường Lạng.

Luận văn được viết trên cơ sở định hướng xuất khẩu, định hướng về phát triển thịtrường, ngành hàng và thực trạng xúc tiến xuất khẩu nông sản của Việt Nam nhằmxây dựng một chương trình tổng thể để đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng nông sản,đặc biệt là các nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam một cách bền vững,chuyên nghiệp và hiệu quả

Trong quá trình viết luận văn, tác giả có tham khảo và sử dụng những thôngtin, số liệu từ một số tài liệu, báo cáo chuyên ngành, một số tạp chí, báo điện tử,website theo danh mục tài liệu tham khảo

Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình và không có

sự sao chép nguyên văn từ bất kỳ luận văn hay đề tài nghiên cứu nào hay nhờngười khác làm hộ Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan của mình

Tác giả luận văn

Bùi Liên Thảo

Trang 2

TÓM TẮT LUẬN VĂN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN XUẤT KHẨU QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN 4

1.1 Tầm quan trọng của Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia đối với nhóm hàng nông sản 4

1.1.1 Các khái niệm liên quan 4

1.1.2 Nội dung của Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 7

1.1.3 Vai trò của Chương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản 9

1.2 Căn cứ và phương pháp xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản 11

1.2.1 Căn cứ xây dựng Chương trình 11

1.2.2 Qui trình xây dựng và thực hiện Chương trình 13

1.2.3 Phương pháp xây dựng Chương trình 13

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về xúc tiến xuất khẩu nông sản và những vấn đề rút ra đối với Việt Nam 15

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng và thực hiện Chương trình XTXK nông sản 15

1.3.2 Những vấn đề rút ra đối với Việt Nam 19

CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XTXK QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN 22

2.1 Thực trạng xuất khẩu nhóm hàng nông sản của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 22

2.1.1 Kim ngạch và thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam 22

2.1.2 Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu 24

2.2 Thực trạng xây dựng và thực hiện Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006 - 2010 26

2.2.1 Thực trạng xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010 26

2.2.2 Thực trạng thực hiện Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010 28

Trang 3

2.3.1 Thành công 31

2.3.2 Hạn chế 36

2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 39

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN XUẤT KHẨU QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN ĐẾN NĂM 2015 43

3.1 Phương hướng xuất khẩu nông sản Việt Nam đến năm 2015 43

3.1.1 Mục tiêu xuất khẩu nông sản dến năm 2015 43

3.1.2 Phương hướng xuất khẩu nông sản của Việt Nam đến năm 2015 43

3.2 Phương hướng xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 44

3.2.1 Mục tiêu của Chương trình 44

3.2.2 Phương hướng xây dựng Chương trình 44

3.2.3 Đối tượng của Chương trình 45

3.2.4 Nguyên tắc xây dựng Chương trình 46

3.2.5 Nội dung Chương trình XTXK của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 47

3.3 Các giải pháp triển khai thực hiện Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 61

3.3.1 Về tài chính 61

3.3.2 Về nguồn nhân lực 62

3.3.3 Các điều kiện khác 64

3.4 Kiến nghị 65

3.4.1 Phân công thực hiện 65

3.4.2 Phối hợp thực hiện 66

3.4.3 Giám sát thực hiện 67

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 73

Trang 4

STT Chữ viết

tắt

Nghĩa đầy đủ

1 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean2

ASEM The Asia - Europe

3 ASEAN Association of South East

Asia Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông NamÁ

5 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

6 FTA Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do

7 GlobalGAP Global Good Agricultural

Organization

Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

Bảng 2.1: KNXK nông sản trong tổng KNXK của cả nước giai đoạn 2006-2010 22Bảng 2.2: Số liệu xuất khẩu một số nông sản chủ yếu giai đoạn 2007-2010 24Bảng 2.3: Tổng hợp các hoạt động XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản

theo nội dung (giai đoạn 2006-2010) 30

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các ngành kinh tế tham gia chương trình XTTM quốc gia 31Biểu đồ 2.2: Tương quan số lượng đề án Chương trình XTTM quốc gia của các

ngành hàng giai đoạn 2006 - 2010 33Biểu đồ 2.3: Tương quan hỗ trợ của Nhà nước cho chương trình XTTM quốc gia

của các ngành giai đoạn 2006 - 2010 33

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Việt Nam là nước có nền kinh tế nông nghiệp phát triển lâu đời Với đặc thù

là ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, nông nghiệp Việt Nam góp phần giảiquyết việc làm cho phần lớn lao động ở nông thôn, góp phần ổn định đời sống một

bộ phận không nhỏ dân cư, đảm bảo ổn định xã hội

Trong thời kỳ đầu của công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH), sảnphẩm nông nghiệp là một nguồn xuất khẩu chủ yếu tạo ra tích lũy ban đầu cho đấtnước Nhờ những sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu mà Nhà nước có ngoại tệ đểnhập khẩu máy móc, thiết bị cũng như nguyên, nhiên, vật liệu cần thiết cho sự pháttriển công nghiệp, xây dựng và các hoạt động dịch vụ khác Thực tế cho thấy hiệnnay nhiều mặt hàng nông sản có những đóng góp rất tích cực vào việc tăng kimngạch xuất khẩu của Việt Nam như gạo, cà phê, rau quả, hạt điều, chè, Các sảnphẩm nông sản Việt Nam đang ngày càng chiếm một thị phần không nhỏ trênthương trường quốc tế

Mặc dù là nước có sản lượng xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản đứng đầutrên thế giới (như gạo, cà phê, hạt điều) nhưng giá trị xuất khẩu những mặt hàng nàyvẫn phụ thuộc rất lớn vào biến động giá cả quốc tế Bên cạnh giá cả bấp bênh, thịtrường và đơn đặt hàng không ổn định là những yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sảnxuất nông sản trong nước cũng như tác động sâu sắc tới đời sống của người làmnông nghiệp

Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và tự do hóa thương mại là một tất yếukhách quan mà không một quốc gia nào có thể bỏ qua Việt Nam cũng đang hộinhập ngày càng sâu sắc hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua việctham gia vào các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, AFTA, ASEM, WTO, Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào sân chơi thương mại thế giới khiến cho cácnền kinh tế càng phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn Cuộc khủng hoảngkinh tế thế giới 2008-2009 đã chứng minh sự mong manh của nền kinh tế thế giới,

và trong khủng hoảng, nông nghiệp đã thể hiện vai trò là “trụ đỡ” của nền kinh tế

Trang 7

Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thuỷ sản vẫn tăng bù vào

sự giảm sút của các nhóm hàng xuất khẩu nhiên liệu, khoáng sản, hàng chế biếncông nghiệp và thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, hiện nay nhóm hàng nông sản củaViệt Nam đã tới hạn về số lượng do bị hạn chế về cơ cấu (diện tích, năng suất, thờitiết, ) Vì vậy định hướng xuất khẩu mặt hàng nông sản trong thời gian tới là đẩymạnh xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, tăng cường các sản phẩmchế biến, những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩuthô Do đó, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất lượng, tăng giá trịhàng hoá xuất khẩu, đặc biệt là đối với mặt hàng nông sản, trong đó việc xây dựngmột chương trình tổng thể nhằm đưa các sản phẩm nông sản của Việt Nam chiếmlĩnh thị trường xuất khẩu, nâng cao kim ngạch xuất khẩu và có đóng góp ngày cànghiệu quả cho nền kinh tế đất nước là điều hết sức cần thiết Với mục tiêu đó, tác giả

lựa chọn đề tài “Xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015” để nghiên cứu.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượctrình bày trong 3 chương

Chương 1 - Lý luận chung về xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiếnxuất khẩu quốc gia đối với nhóm hàng nông sản

Chương 2 - Thực trạng xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuấtkhẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản

Chương 3 - Phương hướng và giải pháp xây dựng và triển khai thực hiệnchương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nôngsản đến năm 2015

CHƯƠNG 1 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XTXK QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN

Xúc tiến xuất khẩu nông sản là hoạt động hết sức quan trọng nhằm khuyếnkhích và hỗ trợ đẩy mạnh việc trao đổi sản phẩm nông nghiệp với các đối tácthương mại nước ngoài Một nền kinh tế cần tích cực thực hiện các biện pháp xúc

Trang 8

tiến xuất khẩu vì xúc tiến xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thácnhững cơ hội mà tự do hóa thương mại tạo ra.

Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống, sản xuất, xuất khẩu nôngnghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong việc

ổn định xã hội, do đó, việc xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Namđối với nhóm hàng nông sản là hết sức cần thiết Chương trình XTXK quốc gia gópphần đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng nông sảnxuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, kỹ năng xúc tiến xuấtkhẩu, đồng thời Chương trình cũng góp phần định hướng cho các hoạt động XTXKđối với nhóm hàng nông sản trong thời gian tới

Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sảnđến năm 2015 là tổng hợp các hoạt động xúc tiến được xây dựng một cách đồng bộ,

có tổ chức, có phương pháp trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp, định hướng pháttriển ngành nông nghiệp cũng như định hướng phát triển xuất khẩu giai đoạn 2011-

2015 nhằm đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản Nội dung của Chương trìnhXTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 rất đa dạng, bao gồmcác hoạt động thông tin thương mại, hoạt động quảng bá, hỗ trợ thâm nhập thịtrường nước ngoài cho sản phẩm nông sản xuất khẩu, hoạt động phát triển thịtrường xuất khẩu, hoạt động tổ chức tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoàinước, hoạt động hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu nông sản, hoạt động đàotạo và phát triển nguồn nhân lực

Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu một số sản phẩm nôngnghiệp như lúa gạo, cà phê, hạt điều, cao su, hồ tiêu, nhưng giá trị xuất khẩu chưacao, chưa xây dựng được những thương hiệu có uy tín, xứng đáng với tiềm năngcủa nước ta Nghiên cứu kinh nghiệm về xây dựng chiến lược phát triển nôngnghiệp, xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp của hai quốc gia có nhữngđiều kiện tương đồng với Việt Nam hoặc có điều kiện ít thuận lợi hơn Việt Nam làThái Lan và Trung Quốc, luận văn đã rút ra được những bài học hết sức có ý nghĩacho phát triển nông nghiệp của Việt Nam

Trang 9

Thứ nhất, cần xây dựng được những chương trình xúc tiến đẩy mạnh xuấtkhẩu hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông sản xuất khẩu;

Thứ hai, tăng cường công tác định hướng của Chính phủ, tập trung phát triểncây trồng hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao, những mặt hàng nông sản thế mạnh;

Thứ ba, hỗ trợ nâng cao chất lượng nông sản, xây dựng thương hiệu mạnhcho nông sản xuất khẩu;

Thứ tư, xây dựng chính sách chiến lược định hướng và thu hút đầu tư để pháttriển thế mạnh của từng vùng miền, kể cả những vùng có điều kiện khó khăn nhằmxây dựng vùng sản xuất nông nghiệp mũi nhọn

CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XTXK QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN

Từ khi Việt Nam bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới đến nay, hoạtđộng xúc tiến xuất khẩu ngày càng được quan tâm và đầu tư thích đáng Xúc tiếnxuất khẩu nông sản của Việt Nam được thực hiện thông qua nhiều nguồn ở nhiềucấp độ và với nhiều thành phần tham gia Nhờ có những hoạt động xúc tiến tíchcực, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kể, kimngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chủ lực tăng cao, nhiều mặt hàngđạt kim ngạch trên 1 tỷ USD (gạo, cao su, hạt điều) Hoạt động XTXK của ngànhnông nghiệp đã dần dần được các doanh nghiệp, các Bộ ngành, Chính phủ quantâm, tạo điều kiện thuận lợi nên đã thu được những kết quả tích cực Chương trìnhXTXK đối với nhóm hàng nông sản bước đầu đã được xây dựng một cách có trọngtâm, trọng điểm, có định hướng; hàng nghìn lượt doanh nghiệp kinh doanh xuấtkhẩu nông sản đã được hỗ trợ tham gia các hoạt động XTXK nhằm nâng cao nănglực, kỹ năng và tư duy XTXK; thị trường xuất khẩu truyền thống được củng cố, thịtrường xuất khẩu mới được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh Tuy nhiên,

về tổng thể, xúc tiến xuất khẩu ngành nông nghiệp vẫn còn manh mún, chưa có sựphối hợp các nguồn lực để thực hiện những chương trình mang tầm cỡ quốc gia,chưa tạo được tiếng vang lớn

Trang 10

Thời gian qua, Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhómhàng nông sản do các Hiệp hội và các cơ quan XTTM ngành nông nghiệp chủ trìxây dựng thực hiện Tuy nhiên, do chưa có sự chỉ đạo thống nhất nhiều chươngtrình còn trùng lắp, chồng chéo, gây lãng phí nguồn lực Việc xây dựng Chươngtrình cũng chưa có phương pháp cụ thể nên hiệu quả thực hiện không cao Giai đoạn2006-2010, nhóm hàng nông sản được Nhà nước ưu tiên hỗ trợ về mặt kinh phítương đối nhiều so với các ngành hàng xuất khẩu khác, tuy nhiên các chương trìnhXTXK quốc gia đối với nhóm hàng này chủ yếu vẫn tập trung vào các hoạt độngXTXK truyền thống, những hoạt động XTXK mới, chuyên sâu chưa được chú ý vàđầu tư đúng mức, qui mô các chương trình được thực hiện vẫn còn nhỏ lẻ, cục bộ,

tổ chức rời rạc do năng lực xây dựng và thực hiện Chương trình XTXK quốc giacủa các đơn vị chủ trì ngành nông nghiệp còn yếu, hiệu quả của nhiều chương trìnhXTXK chưa cao, nhất là những chương trình có sự hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngânsách Nhà nước Nguyên nhân của những bất cập hạn chế trong quá trình xây dựng

và thực hiện Chương trình XTXK đối với nhóm hàng nông sản là do thiếu mộtchương trình xúc tiến tổng thể ngành nông nghiệp, nguồn kinh phí dành cho hoạtđộng xúc tiến xuất khẩu ngày càng eo hẹp, năng lực và kinh nghiệm của đội ngũnhân sự trong xây dựng và thực hiện XTXK còn yếu Do đó, để tăng cường hiệuquả hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam thời gian tới, trước hết cần thiếtphải xây dựng một chương trình xúc tiến đồng bộ với các hoạt động xúc tiến đadạng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, Bộ, ngành liên quan, được Nhà nước hỗtrợ một phần kinh phí thực hiện, có cơ chế kiểm tra giám sát chặt chẽ, đảm bảo hiệuquả thực hiện, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam

CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XTXK QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN ĐẾN NĂM 2015

Để đạt được mục tiêu đẩy mạnh và đổi mới hoạt động XTXK, hỗ trợ thúcđẩy phát triển thương mại quốc tế đối với nhóm hàng nông sản mà Việt Nam cótiềm năng và thế mạnh, tiến tới chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến xuất khẩu

Trang 11

trong ngành nông nghiệp nhằm xây dựng thương hiệu, tăng cường khả năng cạnhtranh của hàng nông sản Việt Nam, tiến tới phát triển và ổn định vững chắc thịtrường tiêu thụ hàng nông sản Việt Nam ở nước ngoài, Chương trình XTXK quốcgia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 sẽ được xây dựngtheo hướng: đồng bộ và đầy đủ về nội dung và hình thức xúc tiến, tập trung vào cácthị trường trọng điểm, có tiềm năng theo hướng khai thác lợi thế tại những thịtrường đã ký kết FTA đồng thời củng cố và mở rộng vững chắc thị phần hàng nôngsản của Việt Nam tại thị trường EU, Bắc Mỹ, tạo bước đột pháp mở rộng thị trườngxuất khẩu tại Nga và Đông Âu, Mỹ La tinh, Tây Á, Nam Á và Châu Phi; dưới sựchỉ đạo thống nhất của Bộ NN&PTNT.

Trên cơ sở đó, luận văn đã nghiên cứu và đưa ra một chương trình tổng thểbao gồm những hoạt động cần phải thực hiện để đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩunông sản, như: Tổ chức và tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước; Tổchức đoàn khảo sát giao thương tại thị trường nước ngoài; Thuê chuyên gia hỗ trợviệc tư vấn phát triển sản phẩm xuất khẩu; Đào tạo và nâng cao năng lực, nghiệp

vụ XTXK, kỹ năng kinh doanh thương mại ở nước ngoài; Tổ chức hội nghị quốc

tế ngành hàng xuất khẩu tại Việt Nam; Tổ chức tiếp xúc các nhà nhập khẩu nướcngoài vào Việt Nam giao dịch mua hàng; Hỗ trợ xây dựng thương hiệu và xúc tiếnquảng bá thương hiệu nông sản; Thông tin thương mại; và các hoạt động xúc tiếnthương mại khác

Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sảnđến năm 2015 được đề xuất trong luận văn là chương trình khung, trên cơ sở đó,hàng năm các đơn vị chủ trì sẽ xây dựng đề án cụ thể với phương án triển khai và

dự toán kinh phí chi tiết, gửi Bộ NN&PTNT xem xét duyệt cấp kinh phí Kinh phíxây dựng chương trình được đưa ra trên cơ sở tỷ lệ kinh phí được phê duyệt hỗ trợgiai đoạn 2006-2010, cũng như có bổ sung cho một số nội dung XTXK mới cần đẩymạnh trong giai đoạn 2011-2015 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động XTXK nhómhàng nông sản

Trang 12

Luận văn cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm triển khai một cách hiệu quảcác hoạt động thuộc Chương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sảnbao gồm các giải pháp về đảm bảo tài chính, về nâng cao chất lượng nguồn nhânlực và năng lực của các cơ quan xúc tiến thương mại, về tăng cường công tác địnhhướng của các Bộ, ngành, về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ công tác xúctiến xuất khẩu ngành nông nghiệp, … Bên cạnh đó, để Chương trình XTXK quốcgia đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 đem lại những kết quả tích cực,cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ ngành, các địa phương và các đơn vịtham gia trong công tác định hướng, xây dựng cũng như việc triển khai và giámsát thực hiện chương trình

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam là nước có điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp, nhiềumặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay đang ngày càng chiếm thị phần khôngnhỏ trên thị trường thế giới và đóng góp tích cực vào việc tăng kim ngạch xuất khẩucủa cả nước Trong thời gian tới, xuất khẩu nông sản vẫn được xem là một trongnhững mặt hàng chủ lực để phát triển đất nước

Những năm vừa qua, hoạt động xúc tiến xuất khẩu nhóm hàng nông sảnbước đầu được chú trọng nhằm đẩy mạnh và nâng cao kim ngạch xuất khẩu nhưngkết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, nhiều mặt hàng nông sản củaViệt Nam có sản lượng xuất khẩu đứng đầu thế giới (như gạo, cà phê, hạt điều)nhưng giá trị xuất khẩu vẫn phụ thuộc rất lớn vào biến động giá cả quốc tế Nguyênnhân là do hoạt động xúc tiến xuất khẩu còn manh mún, nhỏ lẻ, cục bộ, các hoạtđộng xúc tiến mới, chuyên sâu chưa được chú ý đầu tư đúng mức nên hiệu quả củanhiều chương trình chưa cao, nhất là những chương trình có sự hỗ trợ kinh phí từngân sách Nhà nước Đặc biệt, ngành nông nghiệp còn thiếu rất nhiều nhữngchương trình xúc tiến hữu hiệu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu bền vững nhóm hàngnông sản

Trên cơ sở trình bày thực trạng xây dựng và thực hiện chương trình XTXKđối với nhóm hàng nông sản của Việt Nam giai đoạn 20065-2010, phân tích nhữngthành công và bất cập, hạn chế cũng như nguyên nhân dẫn tới những bất cập, hạnchế đó, luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng một chương trìnhxúc tiến tổng thể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu bền vững nhóm hàng nông sản củaViệt Nam

Với mục tiêu đó, luận văn lựa chọn đề tài “Xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015”.

Trang 14

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến

đề tài:

Dự án “Xây dựng chương trình xúc tiến thương mại ngành nông nghiệp vàphát triển nông thôn giai đoạn 2009-2015 và Định hướng đến năm 2020 của BộNN&PTNT” (2009) Dự án đã phân tích thực trạng xúc tiến thương mại của ngànhnông, lâm, thủy sản từ đó đưa ra định hướng thực hiện xúc tiến thương mại, đẩymạnh xuất khẩu đến năm 2020

Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thúy Nga (2003) “Nâng cao năng lựccạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu trên thị trường Liên Bang Nga”.Luận văn đã phân tích thế mạnh, hạn chế của hàng nông sản Việt Nam cũng nhưđặc điểm thị trường Liên Bang Nga, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao nănglực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang thịtrường này

Luận án tiến sĩ kinh tế của Đỗ Thị Hương (2010) “Hoàn thiện hoạt động xúctiến nhằm thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường EU”.Luận án đã phân tích tình hình thực hiện các hoạt động xúc tiến của doanh nghiệpViệt Nam từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động xúc tiến xuất khẩu vàothị trường EU Tuy nhiên, luận án chưa đề cập đến việc xây dựng và thực hiệnchương trình xúc tiến xuất khẩu của Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn phân tích thực trạng chương trình XTXK nông sản, đánh giá nhữngthành công và hạn chế trong việc xây dựng và thực hiện chương trình XTXK đốivới nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010, phân tích nguyên nhân của nhữnghạn chế và đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng và triển khai thực hiệnchương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nôngsản đến năm 2015

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc xây dựng và thực hiệnchương trình xúc tiến xuất khẩu nhóm hàng nông sản của Việt Nam

Trang 15

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng chương trình xúc tiếnxuất khẩu đối với nhóm hàng nông sản của Việt Nam, từ đó đề xuất chương trìnhxúc tiến xuất khẩu tổng thể đối với nhóm hàng này đến năm 2015.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích,tổng hợp tài liệu; phương pháp thống kê; phương pháp khảo sát thực tiễn; phươngpháp dự báo

Những thông tin sử dụng trong luận văn được lấy từ một số tài liệu, báo cáochuyên ngành, một số tạp chí, báo điện tử, website của các tổ chức xúc tiến thươngmại quốc tế, các hiệp hội ngành hàng Việt Nam, được thống kê trong danh mụctài liệu tham khảo

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn đượctrình bày trong 3 chương

Chương 1 - Lý luận chung về xây dựng và thực hiện Chương trình XTXKquốc gia đối với nhóm hàng nông sản

Chương 2 - Thực trạng xây dựng và thực hiện Chương trình XTXK quốc giađối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010

Chương 3 - Phương hướng và giải pháp xây dựng và triển khai thực hiệnChương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đếnnăm 2015

Trang 16

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH XÚC TIẾN XUẤT KHẨU QUỐC GIA ĐỐI VỚI

NHÓM HÀNG NÔNG SẢN

1.1 Tầm quan trọng của Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia đối với nhóm hàng nông sản [8] [10] [12] [13]

1.1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1.1 Xúc tiến xuất khẩu

Trước khi đề cập đến khái niệm xúc tiến xuất khẩu, có thể xem xét một sốkhái niệm có liên quan đến xúc tiến xuất khẩu như khái niệm “xúc tiến”, “xuấtkhẩu” và “xúc tiến thương mại”

Từ điển tiếng Việt 1997 của Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng địnhnghĩa “Xúc tiến là làm cho tiến triển nhanh hơn” Còn Từ điển Oxford AdvancedLearners’ Dictionary định nghĩa từ “promotion” (từ tương đương trong tiếng Anhliên quan đến thương mại) là các hoạt động được thực hiện nhằm tăng doanh số củamột sản phẩm, dịch vụ nào đó

Trên quan điểm marketing, xúc tiến là “hoạt động đặc biệt, có chủ đích đượcđịnh hướng vào việc chào hàng, chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhấtgiữa doanh nghiệp với các đối tác và tập hợp khách hàng tiềm năng” (Theo Dennis

W Goodwin)

Luật Thương mại Việt Nam 2005, Chương 1, Mục 1, Điều 1 định nghĩa “xúctiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cungứng dịch vụ thương mại, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại,trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại”

Như vậy, có thể thấy xúc tiến thương mại có phạm vi lớn, bao gồm cả xúctiến mua và xúc tiến bán Khi tính đến yếu tố địa lý là biên giới quốc gia thì xúc tiếnmua là xúc tiến nhập khẩu còn xúc tiến bán là xúc tiến xuất khẩu Tuy nhiên, hiệnnay ở Việt Nam vì hoạt động xuất khẩu thu hút sự quan tâm chính của các các cơ

Trang 17

quan Chính phủ và doanh nghiệp nên “xúc tiến thương mại” vẫn hay được đề cậpđến như là “xúc tiến xuất khẩu”

Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ của một quốc gia cho phần cònlại của thế giới dựa trên cơ sở dùng tiền tệ làm chức năng thanh toán Hình thức banđầu của xuất khẩu chỉ là trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia nhưng cho đến nay nó

đã thay đổi rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và các cấp độkhác nhau Xuất khẩu có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Hoạtđộng xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh củamình, tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu công nghệ, góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, v.v Vì vậy, hiện nay chính phủ các nước rất coitrọng việc đẩy mạnh xuất khẩu thông qua các hoạt động xúc tiến

Như vậy, xúc tiến xuất khẩu là các chương trình được xây dựng nhằmkhuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu thông qua các hoạt động hỗ trợphát triển sản phẩm, tìm kiếm thị trường, hỗ trợ tài chính cho việc vận chuyển hànghoá, đào tạo, các kế hoạch bảo lãnh thanh toán, tổ chức và tham gia hội chợ thươngmại, thăm viếng thương mại, đặt đại diện thương mại ở nước ngoài, v.v

Ở cấp độ vĩ mô, xúc tiến xuất khẩu là xây dựng chương trình và thi hành cácchính sách, các hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của nhiều ngành hàng, nhiều mặthàng, của cộng đồng doanh nghiệp với những công cụ, phương tiện và cách thứcđều mang tính cộng đồng, ở cấp độ quốc gia Một nền kinh tế cần phải tích cực thựchiện các biện pháp xúc tiến xuất khẩu vì xúc tiến xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợicho việc khai thác những cơ hội mà tự do hoá thương mại tạo ra Ở cấp độ vi mô,khi doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu đưa hàng hóa và dịch vụ của mình qua biêngiới quốc gia thì hoạt động marketing mà doanh nghiệp tiến hành cho mặt hàng haydịch vụ là hoạt động xúc tiến xuất khẩu

1.1.1.2 Xúc tiến xuất khẩu nông sản

Xúc tiến xuất khẩu nông sản là các hoạt động được thực hiện nhằm khuyếnkhích và hỗ trợ đẩy mạnh việc trao đổi sản phẩm nông nghiệp với các đối tácthương mại nước ngoài

Trang 18

Đối với nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nông nghiệp làngành kinh tế chủ chốt Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùngtrong nước; cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến; tạo công ănviệc làm cho phần lớn lao động Tuy nhiên, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực nông nghiệp ban đầu thường gặp rất nhiều khó khăn khi tham gia vào các quan

hệ thương mại với nước ngoài và lúng túng để tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm.Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hiểu biết về những thách thức phức tạp trongthương mại quốc tế, thiếu thông tin về thị trường xuất khẩu, năng lực marketingyếu, thiếu nguồn lực để thực hiện giao dịch thương mại một cách hiệu quả với đốitác nước ngoài Do đó, hoạt động xúc tiến xuất khẩu nông sản là hết sức cần thiết đểtăng sản lượng và giá trị xuất khẩu nhằm thu ngoại tệ phục vụ nhu cầu phát triểncủa nền kinh tế quốc dân

Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu nông sản có thể được thực hiện trên haicấp độ: cấp độ doanh nghiệp và cấp độ quốc gia Ở cấp độ doanh nghiệp, haiphương diện xuất khẩu thường được chú trọng là: (i) tăng cường xuất khẩu nhữngsản phẩm hiện có thông qua việc duy trì thị trường truyền thống và tìm kiếm nhữngthị trường mới; và (ii) phát triển những dòng sản phẩm mới có giá trị gia tăng cao,

có khả năng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu Ở cấp độ quốc gia, xúc tiến xuất khẩu nôngsản là một phần trong định hướng và chiến lược phát triển kinh tế toàn diện củaChính phủ thông qua các công cụ kinh tế phù hợp Vì vậy, việc thiết kế những chínhsách thương mại liên quan là chìa khoá thành công của các chương trình xúc tiếnxuất khẩu của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, việc đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm nông sản được thực hiệnchủ yếu thông qua các hoạt động xúc tiến xuất khẩu truyền thống như tổ chức, thamgia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, tổ chức khảo sát thị trường, tìm kiếm cơhội kinh doanh, cung cấp thông tin thương mại quốc tế ngành nông nghiệp cho cácdoanh nghiệp xuất khẩu và đào tạo nâng cao năng lực Các hoạt động xúc tiến xuấtkhẩu khác như tư vấn phát triển sản phẩm, thị trường, hỗ trợ xây dựng và phát triểnthương hiệu, tư vấn kinh doanh chưa thực sự được chú trọng và đầu tư đúng mức

Trang 19

1.1.1.3 Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản

Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản làtổng hợp các hoạt động xúc tiến được xây dựng một cách đồng bộ, có tổ chức dựatrên định hướng phát triển ngành nông nghiệp cũng như định hướng phát triển xuấtkhẩu giai đoạn 2011-2015 nhằm đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản

Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sảnđược xây dựng nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm nông sảnxuất khẩu, xúc tiến phát triển thương hiệu nông sản xuất khẩu, tạo điều kiện thuậnlợi cho nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường nước ngoài và phát triển thị trườngxuất khẩu Để thực hiện mục tiêu đó, Chương trình sẽ được xây dựng với nhiều hoạtđộng qui mô và đa dạng, được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện

Các hoạt động được đề xuất trong Chương trình XTXK quốc gia của ViệtNam đối với nhóm hàng nông sản bao gồm hoạt động tham gia hội chợ triển lãmquốc tế, tổ chức đoàn giao thương với đối tác nước ngoài, cung cấp thông tinthương mại, xây dựng thương hiệu cho các nông sản xuất khẩu chủ lực, đào tạonâng cao năng lực cho các cán bộ làm công tác xúc tiến, Các hoạt động này sẽgóp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản duy trì, củng cố,tiếp cận và phát triển bạn hàng, thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm hộinhập sâu rộng và bền vững

1.1.2 Nội dung của Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015

Chương trình XTXK của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm

2015 bao gồm nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu nông sản nângcao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu mặthàng nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đượcthực hiện trong giai đoạn 5 năm Nội dung bao gồm:

(i) Hoạt động thông tin thương mại nhằm cung cấp thông tin thương mạiquốc tế ngành hàng cho doanh nghiệp xuất khẩu, thông tin về đối tác thương mại,

Trang 20

thông tin cơ hội kinh doanh, kết nối doanh nghiệp, thông tin thị trường, Nhờ cónhững thông tin về tình hình giá cả quốc tế, biến động cung cầu trên thị trường, cácdoanh nghiệp có thể phân tích, đánh giá, làm cơ sở xây dựng chiến lược sản xuất,kinh doanh hiệu quả, người nông dân ổn định tâm lý để yên tâm sản xuất, các nhàhoạch định chính sách có cơ sở để đưa ra định hướng phát triển ngành hàng Cáchoạt động thông tin khác sẽ giúp doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, thẩm định đối tác

để phát triển xuất khẩu bền vững, tránh rủi ro trong việc thực hiện hoạt động kinhdoanh ở nước ngoài

(ii) Hoạt động quảng bá, hỗ trợ thâm nhập thị trường nước ngoài cho sảnphẩm nông sản xuất khẩu Nông sản Việt Nam có nhiều ưu điểm và lợi thế cạnhtranh so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, thực tế là hàngnông sản Việt Nam ít có tiếng tăm hơn so với các sản phẩm cùng loại của các nướckhác như gạo Thái Lan, cà phê Braxin, chè Đài Loan,…

Do đó, giá trị xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam còn thấp, thị trườngxuất khẩu không ổn định, giá cả bấp bênh Vì vậy, việc quảng bá, thâm nhập thịtrường nước ngoài cho sản phẩm nông sản của Việt Nam là hết sức cần thiết nhằmđẩy mạnh giá trị và sản lượng xuất khẩu của mặt hàng này trong giai đoạn tới

(iii) Hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu Trong bối cảnh nền kinh tếthế giới ngày càng có những biến động sâu sắc và khó lường, cạnh tranh trongthương mại quốc tế ngày càng gay gắt thì việc duy trì thị trường truyền thống đi đôivới tìm kiếm, mở rộng và phát triển thị trường xuất khẩu mới, đối tác, bạn hàng mới

là hết sức cần thiết để đẩy mạnh xuất khẩu nói chung và xuất khẩu hàng nông sảnnói riêng Hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu bao gồm tổ chức các đoànnghiên cứu, khảo sát thị trường, giao dịch thương mại ở nước ngoài, tổ chức mờicác nhà nhập khẩu nước ngoài đến Việt Nam giao dịch mua hàng, tổ chức hội thảoquốc tế về ngành hàng xuất khẩu

(iv) Hoạt động tổ chức tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước Đây

là một trong những hoạt động xúc tiến truyền thống được rất nhiều quốc gia sửdụng nhằm mở rộng quan hệ bạn hàng, thị trường Việc tổ chức và tham gia các hội

Trang 21

chợ triển lãm ở trong và ngoài nước sẽ giúp doanh nghiệp giữ vững mối quan hệ vớicác bạn hàng thân thiết, thị trường truyền thống đồng thời thiết lập được quan hệhợp tác kinh doanh với nhiều đối tác mới, mở rộng thị trường xuất khẩu.

(v) Hỗ trợ xây dựng, phát triển và quảng bá thương hiệu Thương hiệu là tàisản vô hình nhưng hết sức quan trọng, quyết định sự tồn tại lâu dài và bền vững củasản phẩm trên thị trường Vì vậy, việc xây dựng, phát triển và quảng bá thương hiệu

sẽ góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, mở rộng thị trường, nâng cao giá trị giatăng cho hàng xuất khẩu, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu

(vi) Hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nhân

tố quyết định sự thành công của hoạt động xúc tiến Việc được trang bị tốt, đầy đủnhững kiến thức về thương mại quốc tế, đàm phán quốc tế, marketing xuất khẩu sẽgiúp cho các cán bộ thực hiện công tác xúc tiến xuất khẩu chủ động và tự tin tronghội nhập, tránh bị đối tác lợi dụng, gây khó dễ, ép giá, tránh vi phạm những rào cảntrong thương mại quốc tế, nhờ đó đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá

1.1.3 Vai trò của Chương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản

1.1.3.1 Chương trình góp phần đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng nông sản xuất khẩu

Việt Nam có nhiều sản phẩm nông sản thế mạnh và ngày càng chiếm thịphần không nhỏ trên thị trường thế giới nhưng giá trị xuất khẩu hàng nông sản củaViệt Nam vẫn còn phụ thuộc rất lớn vào biến động giá cả trên thị trường quốc tế.Các hoạt động xúc tiến xuất khẩu hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận mở rộngthị trường, bạn hàng, hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng chohàng nông sản, cũng như phát huy tối đa những lợi thế so sánh riêng có của hàngnông sản Việt Nam Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang có nhiều biến động vàbất ổn như hiện nay, các hoạt động xúc tiến đã góp phần không nhỏ trong việc đẩymạnh xuất khẩu nông sản, tăng kim ngạch xuất khẩu nông sản nói riêng và GDP củanền kinh tế nói chung Nhu cầu của thị trường đối với hàng nông sản của Việt Namtăng còn giúp đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp trong nước, góp phần giảiquyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động ngày càng tăng của Việt Nam, đảmbảo ổn định cho đời sống của người nông dân

Trang 22

1.1.3.2 Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, kỹ năng xúc tiến xuất khẩu

Trong xu thế hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đang từng bướcchuyển mình, phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu để hội nhập với thế giới.Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới(WTO), bên cạnh những thời cơ không thể phủ nhận, doanh nghiệp xuất khẩu củaViệt Nam cũng phải đối đầu với những khó khăn, thách thức không nhỏ, cũng như

sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt ở cả thị trường trong nước lẫn thị trường nướcngoài Trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Việt Nam chủ yếu

là doanh nghiệp vừa và nhỏ, kinh nghiệm hợp tác quốc tế chưa nhiều, độ nhạy bén

và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường thế giới chưa cao nêncác hoạt động xúc tiến xuất khẩu nông sản có vai trò hết sức quan trọng trong việc

hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm hội nhậpsâu rộng và bền vững

Thông qua chương xúc tiến xuất khẩu quốc gia, các doanh nghiệp được tạođiều kiện tiếp cận nguồn thông tin thương mại cập nhật về giá cả, cung cầu thịtrường, về các hiệp định thương mại, thuế quan, hàng rào phi thuế quan, về cơ hộikinh doanh, tìm kiếm đối tác Đây là những thông tin rất hữu ích nhằm giúp doanhnghiệp chủ động trước những thay đổi của thị trường Ngoài ra, chương trình còn hỗtrợ doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở nước ngoài như thamgia hội chợ triển lãm quốc tế, tham gia các đoàn khảo sát thị trường, giao dịchthương mại nhằm tìm kiếm đối tác, phát triển thị trường xuất khẩu Chương trìnhcũng hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhằm nângcao khả năng cạnh tranh, năng lực xuất khẩu và năng lực hội nhập kinh tế quốc tếcủa các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản

1.1.3.3 Chương trình góp phần định hướng cho các hoạt động XTXK đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015

Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản làchương trình được xây dựng dựa trên cơ sở định hướng phát triển xuất khẩu quốc

Trang 23

gia và định hướng phát triển của ngành hàng đến năm 2015 Do đó, các hoạt độngđược đề xuất trong chương trình cũng góp phần định hướng cho hoạt động xúc tiếnxuất khẩu của các doanh nghiệp và các tổ chức xúc tiến xuất khẩu từ Trung ươngđến địa phương

1.2 Căn cứ và phương pháp xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản [2] [3] [4] [5] [9] [11] [25]

1.2.1 Căn cứ xây dựng Chương trình

1.2.1.1 Nhu cầu của doanh nghiệp

Thời gian qua, xúc tiến xuất khẩu nhóm hàng nông sản đã có những thànhtựu đáng mừng thể hiện ở việc kim ngạch xuất khẩu tăng đáng kể, nhiều mặt hàngnông sản chủ lực của Việt Nam đã xây dựng được vị thế trên thị trường quốc tế.Tuy nhiên, các hoạt động xúc tiến xuất khẩu vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, qui môchưa lớn, chưa tạo được tiếng vang Nhiều doanh nghiệp mặc dù có nhu cầu nhưngcũng chưa tiếp cận được với các Chương trình xúc tiến xuất khẩu từ Trung ươngđến địa phương Nguyên nhân là do kinh phí dành cho Chương trình chưa tươngxứng với tầm quốc gia của các hoạt động XTXK, vẫn còn tồn tại nhiều đầu mối làmđơn vị chủ trì các hoạt động XTXK, mỗi đơn vị lại ưu tiên cho các doanh nghiệphội viên tham gia khiến cho nhiều doanh nghiệp chưa có điều kiện được hưởng lợi

từ Chương trình Thêm vào đó, việc tồn tại nhiều đầu mối chủ trì các hoạt độngXTXK cấp quốc gia cũng khiến cho các hoạt động chưa nhất quán, chưa tạo được

sự liên kết giữa các ngành nhằm đẩy mạnh hiệu quả xúc tiến xuất khẩu

Do đó, việc xây dựng một chương trình XTXK tổng thể cho ngành nôngnghiệp đến năm 2015, thống nhất một đầu mối chủ trì tổ chức thực hiện nhằm tạođiều kiện cho đông đảo doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể tham giahưởng lợi là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cộng đồngdoanh nghiệp về xúc tiến xuất khẩu

1.2.1.2 Định hướng xuất khẩu nông sản đến năm 2015

- Về thị trường: Trong thời gian tới, định hướng xuất khẩu của nông sản ViệtNam là chú trọng các thị trường có sức mua lớn như Nhật, Mỹ, EU, đồng thời tăng

Trang 24

cường mở rộng thị phần các thị trường Trung Quốc, Hồng Kông, Asean, Hàn Quốc,Đài Loan, Việc tìm kiếm thị trường mới, thị trường khe, thị trường ngách để chủđộng phòng ngừa những đột biến thị trường cũng là một mục tiêu của ngành nôngnghiệp Do đó, Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàngnông sản đến năm 2015 sẽ đẩy mạnh tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại,thực hiện quảng bá sản phẩm nông sản vào các thị trường lớn, tiềm năng như EU,

Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Nga, đồng thời, quan tâm mở rộng thị trường mới ởcác khu vực Trung Đông, Bắc Phi, Trung Nam Mỹ và khai thông trở lại thị trườngĐông Âu

- Về sản phẩm xuất khẩu: định hướng xuất khẩu đối với nhóm hàng nông sảnđến năm 2015 là phát triển các loại cây trồng hàng hoá có khả năng cạnh tranhmạnh, hiệu quả cao phục vụ thị trường xuất khẩu Đồng thời không ngừng nâng caochất lượng nông sản, tăng cường những sản phẩm có giá trị gia tăng cao nhằm tăngkim ngạch xuất khẩu Trên cơ sở định hướng đó, Chương trình XTXK quốc gia củaViệt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 sẽ đề xuất nhiều chương trìnhnhằm đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Namnhư gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao su, chè Những hoạt động nhắm tới việc thựchiện định hướng này bao gồm cung cấp thông tin thương mại nhằm kịp thời dự báonhu cầu và diễn biến thị trường cho doanh nghiệp và người sản xuất để chủ độngđiều tiết giữa sản xuất và tiêu thụ; xây dựng và quảng bá thương hiệu nhằm nângcao hiệu quả xuất khẩu nông sản, …

1.2.1.3 Định hướng xúc tiến xuất khẩu đến năm 2015

Định hướng xúc tiến xuất khẩu đến năm 2015 là đẩy mạnh và đổi mớiphương thức xúc tiến xuất khẩu, duy trì các hoạt động XTXK truyền thống đồngthời tích cực triển khai các hoạt động XTXK mới nhằm nâng cao hiệu quả XTXK.Trên cơ sở đó, Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàngnông sản đến năm 2015 sẽ đề xuất một hệ thống đồng bộ các hoạt động XTXK từ tổchức tham gia hội chợ triển lãm, khảo sát thị trường, quảng bá thương hiệu đến việcthực hiện các hoạt động xúc tiến trong nước hướng tới mục tiêu xuất khẩu nhằm tiết

Trang 25

kiệm chi phí đồng thời nâng cao hiệu quả cho các hoạt động xúc tiến như mời đoàndoanh nghiệp nước ngoài đến Việt Nam mua hàng, tổ chức hội nghị quốc tế vềngành hàng xuất khẩu, tổ chức hội chợ thương mại quốc tế ngành nông nghiệp,

1.2.2 Qui trình xây dựng và thực hiện Chương trình

Chương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015được xây dựng và thực hiện theo một qui trình chặt chẽ và logic nhằm đảm bảo hiệuquả thực hiện cũng như hiệu quả quản lý

Đầu tiên, trên cơ sở nghiên cứu thị trường và định hướng phát triển thịtrường của từng ngành hàng, các đơn vị chủ trì sẽ đưa ra được yêu cầu đối với hoạtđộng xúc tiến xuất khẩu ở từng thị trường mục tiêu của ngành hàng mình, từ đó xâydựng đề án Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia để trình các cấp có thẩmquyền phê duyệt

Sau khi nhận được đề án của các đơn vị chủ trì, dựa trên các tiêu chí đánh giá

đề án XTXK quốc gia, các cấp có thẩm quyền sẽ xem xét, thẩm định để phân loại

đề án đạt, đề án đạt nhưng cần bổ sung để yêu cầu các đơn vị chủ trì làm rõ hoặc đề

án không đạt và ra quyết định phê duyệt

Trên cơ sở quyết định phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, các đơn vị chủtrì tiến hành triển khai thực hiện đề án theo đúng tiến độ và nội dung được phêduyệt Nếu có bất kỳ sự thay đổi nào trong quá trình thực hiện đề án (về nội dung,

về thời gian, về kinh phí, ), đơn vị chủ trì cần báo cáo cơ quan có thẩm quyền đểxin phép điều chỉnh bổ sung hoặc chấm dứt thực hiện

Sau khi hoàn thành đề án, đơn vị chủ trì có trách nhiệm báo cáo kết quả thựchiện chương trình với cơ quan có thẩm quyền theo đúng qui định

1.2.3 Phương pháp xây dựng Chương trình

Chương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015được xây dựng theo phương pháp chuyên gia

Do đặc điểm của các đề án xúc tiến nhằm đẩy mạnh xuất khẩu là xây dựng

kế hoạch cho tương lai, các số liệu định lượng thường không đầy đủ, chưa đủ tầmbao quát lớn hoặc việc thu thập, xử lý các số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác

Trang 26

định xu hướng vận động của hiện tượng trong tương lai gặp khó khăn nên thườngphải dựa trên những nhận xét, phán đoán mang tính chất định tính, vì vậy phươngpháp chuyên gia là phương pháp phù hợp nhất để sử dụng trong việc xây dựngChương trình XTXK đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 Phương phápchuyên gia là phương pháp xây dựng chương trình dựa trên những ý kiến của cácchuyên gia có kinh nghiệm, có trình độ, có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực cụ thể để

có thể đưa ra những phán đoán và những gợi ý đáng tin cậy

Khi áp dụng phương pháp chuyên gia vào công tác xây dựng Chương trìnhXTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015 cần thiếtphải lựa chọn các chuyên gia đảm bảo tiêu chuẩn, cụ thể:

- Chuyên gia phải có trình độ hiểu biết chung cao;

- Có kiến thức sâu về lĩnh vực xúc tiến thương mại và xuất khẩu nông sản;

- Có khả năng phân tích và đánh giá một cách sâu sắc xu hướng thị trường,

xu hướng phát triển sản phẩm nông sản và đưa ra được những gợi ý, định hướng,khuyến nghị về việc xây dựng chương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàngnông sản

Việc trưng cầu ý kiến các chuyên gia có thể thực hiện trực tiếp hoặc giántiếp, có thể trưng cầu ý kiến từng cá nhân hoặc lấy ý kiến của một nhóm các chuyêngia thông qua thảo luận tập thể Ý kiến đánh giá và gợi ý, định hướng của chuyêngia là cơ sở cho việc xây dựng Chương trình XTXK hiệu quả

Thông thường, khi xây dựng Chương trình XTXK nông sản, các đơn vị chủtrì cần tham vấn các tham tán thương mại để tìm hiểu thông tin về thị trường, thamvấn các chuyên gia từ các cơ quan chuyên ngành (Bộ NN&PTNT, Bộ CôngThương, các Vụ, Viện chiến lược, ) để biết về xu hướng phát triển sản phẩm, địnhhướng xuất khẩu nông sản cũng như định hướng xuất khẩu chung đối với hàng hóa.Các đơn vị chủ trì cũng cần tìm hiểu nhu cầu của các doanh nghiệp về phát triển thịtrường, định hướng đẩy mạnh xuất khẩu nhằm xây dựng các chương trình xúc tiếnthiết thực, đáp ứng được đòi hỏi của cộng đồng doanh nghiệp đối với công tácXTXK Ngoài ra, tuỳ từng chương trình xúc tiến cụ thể, các đơn vị chủ trì sẽ lên

Trang 27

danh sách chuyên gia cần tham vấn ý kiến để việc xây dựng các chương trìnhXTXK được hiệu quả và việc triển khai thực hiện mang tính khả thi cao.

Thời gian qua, việc xây dựng chương trình XTXK quốc gia đối với nhómhàng nông sản của các đơn vị khá chủ quan, chưa có sự tham khảo ý kiến của cácchuyên gia đáng tin cậy nên nhiều chương trình chưa thực sự hiệu quả, một sốchương trình thiếu khả thi, không thực hiện được

1.3 Kinh nghiệm của một số nước về xúc tiến xuất khẩu nông sản và những vấn đề rút ra đối với Việt Nam [14]

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng và thực hiện Chương trình XTXK nông sản

1.3.1.1 Thái Lan

Thái Lan là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có điều kiện tựnhiên và xuất phát điểm kinh tế khá tương đồng với Việt Nam Là một nước có khíhậu nhiệt đới gió mùa, cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của Thái Lan và của Việt Namtương đối giống nhau với những sản phẩm chính là nông sản và rau quả nhiệt đới.Thái Lan cũng vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thônchiếm khoảng 80% dân số cả nước, nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ qua

có vai trò quan trọng, góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chất lượng cuộc sốngcho người dân

Là quốc gia có nền nông nghiệp tương đồng với Việt Nam, thậm chí cónhững điều kiện còn hạn chế hơn nhưng Thái Lan đã vươn lên trở thành nước đứngđầu về xuất khẩu nông sản trong khu vực và trên thế giới với giá trị cao hơn hẳn ViệtNam Trên thị trường quốc tế, hàng nông sản của Thái Lan là đối thủ cạnh tranh rấtlớn với Việt Nam và thực tế là nhiều mặt hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp ViệtNam không thể cạnh tranh được với hàng Thái Lan ngay cả trên thị trường nội địa.Nông nghiệp Thái Lan có được thành công như vậy là do Chính phủ Thái Lan xácđịnh hướng chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnhtranh mạnh, từ đó Chính phủ tích cực chỉ đạo thực hiện các hoạt động xúc tiến xuấtkhẩu để đạt được mục tiêu chiến lược đề ra đối với ngành nông nghiệp

Trang 28

Những năm gần đây, Thái Lan tập trung mũi nhọn phát triển mạnh hàng chếbiến nông sản và công nghiệp phục vụ nông nghiệp Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4

số xí nghiệp gia công sản phẩm được xây dựng ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạodựng sự vững mạnh và ổn định về kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa người nông dân Bên cạnh đó, Chính phủ còn chú trọng xây dựng các tổ chứcnông nghiệp và phát triển hệ thống điều hành nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở

sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới phát triểnbền vững

Để thúc đẩy phát triển bền vững xúc tiến xuất khẩu nông sản, Thái Lan đãthực hiện tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức xúc tiến thương mại hoạtđộng trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độxúc tiến thương mại của từng cá nhân và tập thể thông qua các khoá đào tạo chuyênmôn Đối với các sản phẩm nông sản, Nhà nước tăng cường sức cạnh tranh củahàng hóa nông sản bằng việc tăng khả năng tổ chức và tiếp thị thị trường, phân bổkhai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, thực hiện các biệnpháp nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng nông nghiệp khác đặc biệt là cácloại cây trồng phục vụ xuất khẩu

Xuất khẩu nông sản của Thái Lan thời gian qua đạt được những thành tựuđáng kể một phần là nhờ Chính phủ đã thực hiện đồng bộ nhiều chính sách có tácdụng trực tiếp cũng như gián tiếp tới đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu nông sản Cụ thể:

Chính sách phát triển nông nghiệp: Bộ Nông nghiệp Thái Lan thực hiện kếhoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đíchnâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản xuất khẩu lớn, trong đó

có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Nhiều sáng kiến làm gia tăng giátrị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình “Mỗi làng, một sản phẩm”(One Tambon, One Product – OTOP) và “Chương trình quỹ làng” (Village FundProgram)

Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thườngxuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm 2004, Thái

Trang 29

Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm” và “Thái Lan là bếp ăn củathế giới” (Thailand: Kitchen to the world) Mục đích chương trình này là khuyếnkhích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thựcphẩm để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ở TháiLan, đa số nông dân được chính phủ hướng dẫn và hỗ trợ cặn kẽ quy trình sản xuấttheo tiêu chuẩn GAP (thực hành nông nghiệp tốt) từ khâu chọn cây giống cho đếnbón phân, thu hoạch, chế biến và bảo quản sau thu hoạch Bên cạnh đó, Chính phủthường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thựcphẩm Do đó, thực phẩm chế biến của Thái Lan đều được người tiêu dùng ở các thịtrường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU chấp nhận.

Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài: Chính phủ Thái Lan xúc tiến đầu tư,thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trongnước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm thông qua việc mở cửacho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Thái Lan cũng định hướngđầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào việc khai thác đặc sản của từng vùng, thậmchí cả những vùng khó khăn nhất Các dự án FDI trong nông nghiệp được miễngiảm 50% thuế nhập khẩu đối với các loại máy móc, thiết bị Các dự án đầu tư vàovùng đặc biệt khó khăn và có sản phẩm xuất khẩu được miễn hoàn toàn thuế thunhập doanh nghiệp trong vòng 5 năm Chính sách này đã làm cho nền nông nghiệpThái Lan có được những lợi thế về chất lượng và giá cả trên thị trường nông sản thếgiới và tạo được thương hiệu tốt

Về xúc tiến tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đạidiện thương lượng với Chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thếcạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan

có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào cơ

sở hạ tầng như: Cảng kho lạnh, kho trữ lúa gạo, xây dựng sàn đấu giá, đầu tư vàocác hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Cơ quan xúc tiến thương mại củaThái Lan (DEP) cũng thường xuyên tổ chức cho các doanh nghiệp Thái Lan thamgia các hội chợ quốc tế lớn trên thế giới nhằm tìm kiếm bạn hàng, thị trường

Trang 30

Chính vì vậy bài học xây dựng chiến lược xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu sảnphẩm nông sản của Thái Lan rất đáng để chúng ta học tập

1.3.1.2 Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia có đất tự nhiên rộng, người đông nhưng tỷ trọng đấtcanh tác trong tổng số đất tự nhiên nhỏ (chiếm 10,8%), đất canh tác bình quân đầungười thấp Tuy vậy, Trung Quốc vẫn là một trong những nước hàng đầu trên thếgiới về xuất khẩu nông sản (đứng thứ 5 thế giới về xuất khẩu gạo, đứng thứ 2 thếgiới về xuất khẩu chè, đứng số một thế giới về xuất khẩu rau quả, thịt lợn) Có đượcnhững thành tựu như vậy là do Trung Quốc đã thực hiện nhiều chính sách nhằmchuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tích cực, tăng năng suất cây trồng, vậtnuôi, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa phục vụ xuất khẩu Đồng thời, Trung Quốccũng thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu nông sản

Tăng đầu tư cho khoa học kỹ thuật nông nghiệp: Trung Quốc chú trọng việc

áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, đặc biệt là việc đầu tư cho nghiên cứugiống tốt, phân bón hoá học, phòng trừ sâu bệnh cho những cây nông nghiệp có khảnăng tăng sản, hiệu quả cao Do vậy, chất lượng nông sản xuất khẩu của TrungQuốc luôn đảm bảo

Khuyến khích sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu: Trung Quốc tậptrung sản xuất các sản phẩm có ưu thế như ngũ cốc, cây công nghiệp, chăn nuôi đạigia súc và chăn nuôi lợn Tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt lànhững sản phẩm có hàm lượng chất xám cao như các giống lai (lúa lai, ngô lai)

Thực hiện chính sách ưu tiên xuất khẩu: như hạ thuế xuất khẩu, đa dạng hoácác hình thức xuất khẩu kể cả hình thức xuất khẩu phi mậu dịch, thực hiện xóa bỏthuế nông nghiệp và phụ thu thuế nông nghiệp, trợ cấp cho nông dân sản xuất lươngthực; xoá bỏ những kiểm soát mang tính kế hoạch trong sử dụng ngoại hối

Chính sách cạnh tranh bằng giá của các doanh nghiệp xuất khẩu Trung Quốccũng là một chính sách nổi bật nhằm xúc tiến xuất khẩu nông sản Ở khắp các thịtrường trên thế giới, hàng nông sản của Trung Quốc luôn có mức giá thấp hơn sovới các sản phẩm cùng loại của các nước khác Chính phủ Trung Quốc cũng linh

Trang 31

hoạt né tránh các qui định của luật bán phá giá của các nước chủ nhà Chính phủTrung Quốc không tiến hành trợ cấp và trợ giá cho các doanh ghiệp nhưng đã tạo ramột môi trường kinh doanh có chi phí thấp cho các doanh nghiệp nên cơ cấu giáthành hợp lý, giá cả các sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc luôn rẻ

Trung Quốc cũng xây dựng các cơ quan chuyên trách xúc tiến thương mại(China Council for the Promotion of International Trade - CCPIT, InternationalExhibition Center Group Corporation - CIEC) nhằm tổ chức hội chợ triển lãm trongnước, hỗ trợ các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia hội chợ quốc tế lớn trên thếgiới, hỗ trợ doanh nghiệp trong các lĩnh vực như xây dựng thương hiệu, tư vấn phápluật, … Nhờ đó, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Trung Quốc có nhiềuđiều kiện thuận lợi trong công tác xúc tiến, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, tìm kiếmđối tác, phát triển thị trường

1.3.2 Những vấn đề rút ra đối với Việt Nam

1.3.2.1 Về xây dựng các chương trình xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu

Trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã nhận biết rõ hơn sự “mong manh”của thị trường thế giới, của các mối quan hệ kinh tế quốc tế Những biến động,khủng hoảng của một nền kinh tế có thể ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế toàn cầu

Và trong hội nhập, nông nghiệp đã thể hiện được vai trò là “trụ đỡ” trong việcchống trọi với những tác động của khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên, chúng ta chưaxây dựng được những chương trình hiệu quả nhằm đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu cácmặt hàng nông sản chủ lực Việc xây dựng và thực hiện các chương trình XTXKthời gian qua cũng chưa chọn được phương pháp và kỹ thuật hợp lý do đó hiệu quảXTXK chưa cao

Nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan và Trung Quốc cho thấy để tạo điềukiện thuận lợi cho việc xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản, các nước nàyđều xây dựng nhiều chương trình nhằm nâng cao chất lượng, nâng cao năng lựccạnh tranh, tạo tiếng vang cho sản phẩm nông sản xuất khẩu hàng nông sản Do đó,Việt Nam cần học tập kinh nghiệm về xây dựng các chương trình xúc tiến đẩy mạnhxuất khẩu của Thái Lan, Trung Quốc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho xúc tiến xuất

Trang 32

khẩu nông sản, nâng cao giá trị gia tăng cho hàng nông sản xuất khẩu, góp phần vàotăng trưởng kinh tế đất nước.

1.3.2.2 Về tập trung phát triển những mặt hàng nông sản thế mạnh

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu sắc như hiện nay,nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, nhiều ưu đãi và hàng rào bảo hộđược dỡ bỏ, nông sản cùng loại giá rẻ của các nước làm mưa làm gió trên thịtrường, nhất là trong thời gian gần đây gạo, đường, trái cây giá rẻ của Campuchia,Thái Lan tràn ngập “vựa” nông sản Nam Bộ Việt Nam Do đó, việc định hướng tậptrung phát triển những mặt hàng nông sản thế mạnh, có sức cạnh tranh cao để tậptrung xuất khẩu là hết sức cần thiết

Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy mặc dù là nước đứng đầu thế giới vềxuất khẩu gạo song các nhà xuất khẩu Thái Lan vẫn đang xây dựng nhiều chiếnlược cạnh tranh với các nước xuất khẩu gạo khác trong đó có Việt Nam, Ấn Độ,Pakistan, như tăng sản lượng gạo có chất lượng cao, tăng xuất khẩu sản phẩm gạochế biến, mở rộng diện tích trồng lúa, giảm chi phí hậu cần cho sản xuất lúa gạotăng sức cạnh tranh về giá, đa dạng hoá các sản phẩm gạo xuất khẩu, Trung Quốccũng khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm nông sản có ưu thế như ngũ cốc, câycông nghiệp, chăn nuôi đại gia súc Chính vì vậy, nông nghiệp các nước này đã đạtđược những thành tựu đáng kể trong thời kỳ hội nhập Vì vậy, đẩy mạnh xúc tiếnxuất khẩu theo hướng tập trung vào những mặt hàng nông sản thế mạnh là rất phùhợp với điều kiện của Việt Nam

1.3.2.3 Về nâng cao chất lượng nông sản, tạo thương hiệu cho nông sản xuất khẩu

Hiện nay, nhiều mặt hàng nông sản của Việt Nam khẳng định được vị thếtrên thị trường khu vực và thế giới như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều, trái cây Tuy nhiên, hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng thô, ít qua chếbiến, giá trị gia tăng thấp, hợp đồng bấp bênh, luôn phải đối mặt với rất nhiều ràocản thương mại, xuất khẩu theo số lượng, mượn thương hiệu, chất lượng ít đượcquan tâm khiến sức cạnh tranh của hàng hoá có nguy cơ giảm mạnh

Trang 33

Trong sản xuất, nền nông nghiệp Việt Nam cũng thiếu qui hoạch, nông dânmạnh ai người ấy làm, đua nhau ồ ạt trồng những loại cây có lợi trước mắt mà ítquan tâm đến chất lượng, bất chấp qui luật cung cầu và dự báo thị trường tiêu thụ.Thêm vào đó, vì chạy theo lợi nhuận mùa vụ trước mắt, các doanh nghiệp kinhdoanh xuất khẩu tìm mọi cách thu mua đủ số lượng với giá rẻ mà bỏ qua nhiều khâukiểm tra, đánh giá chất lượng đối với các loại hàng hoá nông sản.

Chính vì cung cách sản xuất, kinh doanh như thế nên chất lượng nông sảnxuất khẩu ít được quan tâm so với nông sản cùng loại của các nước trong khu vực,điều này thể hiện rất rõ như gạo xuất khẩu của Việt Nam thường thấp hơn gạo TháiLan 15 - 20USD/tấn, cà phê từ 100 - 150USD/ tấn, chè thấp hơn 400 - 500USD/tấn.Chính do chất lượng không cao nên buộc các doanh nghiệp phải “núp bóng” thươnghiệu sản phẩm nước ngoài để xuất thô nông sản làm cho hàng hoá ngậm ngùi mangdanh người khác Vì vậy, bài học về nâng cao chất lượng nông sản, xây dựngthương hiệu mạnh, tăng cường sức cạnh tranh cho hàng nông sản xuất khẩu trên thịtrường thế giới nhằm xúc tiến xuất khẩu nông sản bền vững là bài học mà Việt Namcần học tập

1.3.2.4 Về định hướng đầu tư, khai thác thế mạnh vùng miền

Việt Nam là quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp, mỗi địa phương, vùng miền trên cả nước đều có lợi thế phát triển một mặthàng đặc sản của mình như cà phê Buôn Mê Thuột, thanh long Bình Thuận, hồ tiêuChư Sê, lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long, chè Thái Nguyên, Tuy nhiên, việcđầu tư cũng như thu hút đầu tư để tập trung khai thác thế mạnh của từng vùng miền,đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chưa thực

sự hiệu quả

Bài học từ Thái Lan cho thấy nhờ có những chính sách ưu đãi của Chínhphủ, vốn đầu tư đã đến được cả những nơi có điều kiện khó khăn nhất, tạo điềukiện phát triển đặc sản vùng miền, xây dựng thương hiệu nông sản tốt, đẩy mạnhxuất khẩu

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN

CHƯƠNG TRÌNH XTXK QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM

ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG NÔNG SẢN 2.1 Thực trạng xuất khẩu nhóm hàng nông sản của Việt Nam giai đoạn

2006 – 2010 [1] [2] [15] [16] [17] [18] [19] [20] [24]

2.1.1 Kim ngạch và thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam

2.1.1.1 Kim ngạch xuất khẩu

Từ khi Việt Nam bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới đến nay, hoạtđộng xúc tiến xuất khẩu ngày càng được quan tâm và đầu tư thích đáng Nhờ cónhững hoạt động xúc tiến tích cực, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có nhữngbước chuyển biến đáng kể Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong năm 2010, kimngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chủ lực tăng cao so với năm 2009như: gạo đạt 3,2 tỷ USD, tăng 20,6%; cao su đạt 2,4 tỷ USD, tăng 93,7%; hồ tiêu đạt

421 triệu USD, tăng 17%; chè đạt 199 triệu USD, tăng 7,8% Nhiều mặt hàng xuấtkhẩu tuy giảm so với năm trước song vẫn đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD như

cà phê (1,85tỷ USD), hạt điều (1,14tỷ USD)

Xuất khẩu nông sản thời gian qua cũng đã có những đóng góp tích cực vàotổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu nông sảntrong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng dần qua các năm từ 2006 – 2010(ngoại trừ năm 2009 tỷ trọng này bị giảm theo xu hướng chung do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cuối năm 2008)

Bảng 2.1: KNXK nông sản trong tổng KNXK của cả nước giai đoạn 2006-2010

(Nguồn: Số liệu thống kê hải quan 2000-2010, Cục công nghệ thông tin và thống

kê hải quan - Tổng cục Hải quan)

Trang 35

2.1.1.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam thời gian qua ngày càng được

mở rộng và đa dạng hoá Cơ cấu thị trường xuất khẩu đã có sự chuyển dịch theohướng giảm dần lệ thuộc vào thị trường Châu Á Xuất khẩu vào khu vực thị trườngChâu Mỹ tăng đột biến kể từ sau khi Hiệp định Thương mại Việt Mỹ có hiệu lực vàduy trì mức độ ổn định trong giai đoạn 2006-2010 Châu Âu là thị trường mục tiêucủa nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Khu vực thị trường ChâuĐại Dương tăng chậm nhưng khá ổn định Thị trường Châu Phi cũng bắt đầu đượccác doanh nghiệp xuất khẩu chú ý khai thác và mở rộng

Dưới đây là thống kê thị trường xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chủ yếu:Mặt hàng gạo: Phillipin vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất, chiếm 40%tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam; Indonesia đứng thứ hai với tỷ trọng25,44% tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam Nhìn chung, phạm vi thịtrường xuất khẩu của sản phẩm gạo Việt Nam trong những năm qua không thay đổinhiều về số lượng Tuy nhiên, ngành gạo đã bước đầu mở rộng xuất khẩu sang cácthị trường mới ở Châu Mỹ và Châu Phi

Mặt hàng cà phê: Việt Nam đã xuất khẩu cà phê sang 74 nước trên thế giới.Thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng đã hình thành một số thị trường lớn, ổnđịnh Các thị trường nhập khẩu cà phê hàng đầu của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU

Mặt hàng cao su: Việt Nam đã vươn lên là nước xuất khẩu cao su tự nhiênlớn thứ 4 trên thế giới sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia Thị trường xuất khẩucao su tự nhiên lớn nhất của Việt Nam là Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan Ngoài

ra, cao su Việt Nam cũng đã và đang được đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường EU,Châu Mỹ

Mặt hàng hạt tiêu: Xúc tiến xuất khẩu ngành hồ tiêu thời gian qua đã gópphần duy trì các thị trường xuất khẩu chính là Đức, Hoa Kỳ, các tiểu vương quốc Ảrập thống nhất, Hà Lan, … Ngoài ra, nhiều hoạt động xúc tiến xuất khẩu cũngkhông ngừng được đẩy mạnh sang các thị trường mới, tiềm năng như Hàn Quốc,Nhật Bản, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, …

Trang 36

Mặt hàng điều: Sản phẩm nhân điều của Việt Nam đã được xuất khẩu sang

52 nước trên thế giới, chiếm khoảng 20% thị phần xuất khẩu thế giới Chất lượngnhân điều Việt Nam được đánh giá là tốt và có chất lượng cao Những thị trườnglớn của sản phẩm nhân điều Việt Nam là Mỹ, Trung Quốc, EU

Mặt hàng chè: Cơ cấu các nhóm thị trường nhập khẩu chè của Việt Namkhông thay đổi nhiều trong những năm qua Thị trường chính của sản phẩm chèViệt Nam xuất khẩu là Đài Loan, Nga, Pakistan, Ấn Độ Ngoài ra, Hiệp hội chèViệt Nam cũng tổ chức thực hiện nhiều chương trình xúc tiến thương mại sang cácnước như Singapore, Canada, Nhật Bản, … nhằm mở rộng thị trường xuất khẩutiềm năng cho sản phẩm chè

Mặt hàng rau quả: Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu rau quả củaViệt Nam không ngừng tăng nhanh và tiềm năng xuất khẩu vẫn còn rộng mở Năm

2010, Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan là những thị trường nhập nhiều nhất sảnphẩm rau quả của Việt Nam

2.1.2 Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu

Việt Nam là một nước có điều kiện thuận lợi phát triển nhiều loại sản phẩmnông nghiệp nhiệt đới trong đó các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu là gạo, hạtđiều, cà phê, hồ tiêu, cao su thiên nhiên, chè

Bảng 2.2: Số liệu xuất khẩu một số nông sản chủ yếu giai đoạn 2007-2010

ĐVT: Lượng: nghìn tấn; Trị giá: triệu USD

(Nguồn: Hiệp hội Lương thực, cây điều, hồ tiêu, cao su, chè, cà phê ca cao, Tổng cục Thống kê)

Hoạt động XTXK đã đem lại hiệu quả tích cực cho nhiều ngành hàng, khốilượng và giá trị xuất khẩu của nhiều mặt hàng nông sản đều được cải thiện rõ rệt, cụ

Trang 37

thể là:

Gạo: Từ mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực trong nước, hiện nay, ViệtNam đã vươn lên thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo Năm 2009, xuất khẩu gạo đạt kỷlục 6 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2008, đạt kim ngạch 2,7 tỷ USD Năm

2010, xuất khẩu gạo đạt 6,88 triệu tấn với kim ngạch 3,24 tỷ USD

Hạt điều: Xuất khẩu hạt điều 4 năm liên tiếp (từ 2006 -2010) dẫn đầu thếgiới, xuất khẩu không ngừng tăng cả về giá trị và sản lượng

Cao su: Từ vị trí là nước sản xuất cao su đứng thư 6, Việt Nam đã vươn lênhàng thứ 5, trong tương lai, Việt Nam có thể là nước xuất khẩu lớn thứ 3 về mặthàng cao su, chỉ sau Thái Lan và Indonesia Thị trường cao su xuất khẩu được giatăng đáng kể, từ 40 nước năm 2005 đã tăng lên 70 nước năm 2009 Lượng cao suxuất khẩu năm 2005 chỉ đạt 554 nghìn tấn, trị giá 804 nghìn USD đã tăng lên 731nghìn tấn năm 2009, trị giá 1,22 tỷ USD Năm 2010, xuất khẩu cao su đạt 773 nghìntấn, kim ngạch đạt 2,32 tỷ USD chỉ tăng 5,7% về lượng nhưng kim ngạch tăng tới89,1%

Rau quả: Tổng kim ngạch xuất khẩu ngành rau quả giai đoạn 2006-2009 ướcđạt 1.351 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 14,8%/năm Năm 2010, kimngạch xuất khẩu đạt 450 triệu USD Đến nay, trái cây xuất khẩu của Việt Nam đã cómặt tại 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, sản lượng trái cây xuất khẩu đạt trung bình

260 nghìn tấn/năm Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng, mặt hàng qua chếbiến, có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ trọng ngày càng nhiều

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và nhiều thách thức của hội nhập kinh tếquốc tế, các hoạt động xúc tiến xuất khẩu thuộc chương trình XTXK quốc gia cóvai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản Ngày càng nhiều mặthàng nông sản có mặt trong nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD như cà phê, hạtđiều, gạo, Xuất khẩu nông sản góp phần không nhỏ giúp kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam định kỳ tăng qua các năm Đặc biệt, trong bối cảnh suy giảm kinh tế

Trang 38

toàn cầu năm 2009, xuất khẩu nông sản đã đóng vai trò làm “trụ đỡ” cho nền kinh

tế, góp phần ngăn chặn đà suy giảm kinh tế trong những năm khủng hoảng cũngnhư nhanh chóng vượt qua khủng hoảng

2.2 Thực trạng xây dựng và thực hiện Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006 – 2010 [8] [13]

2.2.1 Thực trạng xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010

Giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối vớinhóm hàng nông sản chủ yếu được xây dựng theo Quy chế xây dựng và thực hiệnChương trình XTTM quốc gia giai đoạn 2006-2010 ban hành kèm theo Quyết định

số 279/2005/QĐ-TTg ngày 03 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ vàQuyết định số 80/2009/QĐ-TTg ngày 21 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chínhphủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế xây dựng và thực hiệnChương trình XTTM quốc gia giai đoạn 2006-2010 ban hành kèm theo Quyết định

số 279/2005/QĐ-TTg Với mục tiêu tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại,phát triển thị trường xuất khẩu, góp phần nâng cao năng lực kinh doanh của cộngđồng doanh nghiệp, Chương trình XTTM quốc gia giai đoạn 2006-2010 thực chất làmột chương trình xúc tiến thương mại định hướng xuất khẩu có phạm vi rộng, được

áp dụng cho tất cả các ngành hàng từ nông lâm thủy sản tới công nghiệp, chế biến,điện tử và các ngành xuất khẩu mới

Chương trình XTTM quốc gia giai đoạn 2006-2010 được giao cho Bộ CôngThương (Cục XTTM) là cơ quan quản lý chung từ khâu tiếp nhận đề án, đánh giá,thẩm định, phê duyệt đề án, theo dõi việc thực hiện đề án, tổng hợp kết quả thựchiện của các đơn vị chủ trì đến khâu thực hiện báo cáo tổng kết về Chương trình.Đơn vị chủ trì xây dựng đề án là các Hiệp hội ngành hàng, các tổ chức XTTM chínhphủ và phi Chính phủ Do đó, Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối vớinhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010 tuy nhằm thực hiện các mục tiêu và địnhhướng phát triển xuất khẩu của ngành nông nghiệp nhưng lại được các Hiệp hội và

Trang 39

các cơ quan XTTM ngành nông nghiệp chủ trì xây dựng dưới sự quản lý trực tiếpcủa Bộ Công Thương (Cục XTTM) Các đơn vị chủ trì Chương trình bao gồm:Trung tâm XTTM nông nghiệp, Hiệp hội cây điều Việt Nam, Hiệp hội cà phê cacao Việt Nam, Hiệp hội lương thực Việt Nam, Hiệp hội chè Việt Nam, Hiệp hội cao

su Việt Nam, Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam, Hiệp hội trái cây Việt Nam, Tổng công tyrau quả nông sản

Thời gian qua các đơn vị chủ trì ngành nông nghiệp chưa thực hiện tốtphương pháp xây dựng Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhómhàng nông sản, việc xây dựng chương trình chủ yếu vẫn dựa vào những định hướngcủa riêng Hiệp hội, ít có sự tham vấn từ các chuyên gia có kinh nghiệm, chưa tuântheo qui trình thống nhất Phương pháp xây dựng chương trình chưa nhất quán, tùythuộc vào nguồn lực của từng cơ quan làm đơn vị chủ trì khiến cho nhiều đề ánchương trình XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010chưa thực sự hiệu quả, đôi khi còn chủ quan Việc không tham khảo ý kiến của cácchuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực còn khiến cho nhiều chương trình không thực hiệnđược Chẳng hạn như Chương trình khảo sát và giao dịch dầu vỏ hạt điều tại thịtrường Braxin của Hiệp hội cây điều Việt Nam (năm 2008), do không tìm hiểu kỹtình hình thị trường, không liên hệ, xin ý kiến tham tán thương mại Việt Nam tạiBraxin nên Hiệp hội không nắm được tình hình chính trị bất ổn của quốc gia này,dẫn tới chương trình dù đã được phê duyệt nhưng vẫn không thực hiện được Hoặcchương trình “Thuê chuyên gia tư vấn, nghiên cứu khả thi dự án xây dựng sàn giaodịch điện tử cao su thiên nhiên Việt Nam” do Hiệp hội cao su Việt Nam làm đơn vịchủ trì, do không xem xét trước phí thuê chuyên gia nên chương trình cũng khôngthực hiện được do chuyên gia yêu cầu phí vượt mức kế hoạch được phê duyệt Việcmột số chương trình được phê duyệt nhưng không thực hiện được do không thựchiện tốt từ khâu xây dựng đề án khiến cho chương trình không hiệu quả và làm mất

cơ hội thực hiện của nhiều chương trình khác

Công tác nghiên cứu thị trường để xác định thị trường mục tiêu, thị trườngtrọng điểm nhằm xây dựng các đề án xúc tiến xuất khẩu phù hợp với yêu cầu thị

Trang 40

trường, đảm bảo hiệu quả chưa được các đơn vị chủ trì thực hiện một cách bài bản.Các đề án XTXK chủ yếu vẫn được các đơn vị chủ trì xây dựng một cách chủ quan,thiếu cơ sở, do đó nhiều chương trình được thực hiện thiếu hiệu quả, gây lãng phínguồn ngân sách Nhà nước.

2.2.2 Thực trạng thực hiện Chương trình XTXK quốc gia của Việt Nam đối với nhóm hàng nông sản giai đoạn 2006-2010

Giai đoạn 2006-2010, các đơn vị chủ trì ngành nông nghiệp vẫn chủ yếu tậptrung vào đề xuất và thực hiện các hoạt động XTXK truyền thống, những hoạt độngXTXK mới, chuyên sâu chưa được chú ý và đầu tư đúng mức Hoạt động xúc tiếnthương mại, xúc tiến xuất khẩu ngành nông nghiệp hiện nay mới chỉ tập trung chủyếu vào việc duy trì, tìm kiếm, mở rộng thị trường chứ chưa chú ý đúng mức đếncác hoạt động chuyên sâu như nghiên cứu, phát triển sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm

có giá trị gia tăng cao, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của từng thị trường; hoạt động

tư vấn xuất khẩu, xây dựng và quảng thương hiệu nông sản nhằm nâng cao sức cạnhtranh quốc tế của hàng hoá, Cụ thể:

Hoạt động tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế; tổ chức các đoàn nghiên cứu,khảo sát thị trường, tìm kiếm cơ hội giao thương được tập trung xây dựng và thựchiện Tính chung cả giai đoạn 2006-2010, các đơn vị chủ trì ngành nông nghiệpđược phê duyệt thực hiện 77 hoạt động tổ chức và tham dự hội chợ triển lãm quốc

tế trong và ngoài nước, 70 đoàn khảo sát thị trường nước ngoài, 21 đoàn tham dựhội chợ kết hợp khảo sát thị trường nước ngoài được phê duyệt, chiếm 72,4% tổng

số các hoạt động XTXK quốc gia của ngành nông nghiệp Tuy đây là các hoạt độngXTXK truyền thống, có vai trò rất quan trọng đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp duytrì quan hệ với bạn hàng, đối tác, tìm kiếm thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, nhưngcác chương trình này thường tốn kém vì tổ chức ở nước ngoài, chi phí đi lại nhiều,công tác tổ chức đoàn không chủ động nên các đơn vị chủ trì cần nghiên cứu, đềxuất thực hiện một cách cân đối giữa các chương trình trong nước và nước ngoài,các loại hình XTXK truyền thống và các loại hình XTXK mới nhằm đảm bảo vừa

Ngày đăng: 05/10/2014, 06:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số liệu xuất khẩu một số nông sản chủ yếu giai đoạn 2007-2010 - xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của việt nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015
Bảng 2.2 Số liệu xuất khẩu một số nông sản chủ yếu giai đoạn 2007-2010 (Trang 35)
Bảng 2.3: Tổng hợp các hoạt động XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản - xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia của việt nam đối với nhóm hàng nông sản đến năm 2015
Bảng 2.3 Tổng hợp các hoạt động XTXK quốc gia đối với nhóm hàng nông sản (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w