1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng

89 493 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tồn tại nêu trên để mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV – Chi nhánh Hải Phòng trong t

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu dẫn ra trong luận văn có nguồn gốc đầy

đủ và trung thực, kết quả đóng góp của luận văn là mới và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả

Vũ Thị Thu

Trang 2

Qua đây tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Lê Việt Thủy và các thầy cô trong khoa Ngân hàng – Tài chính trường Đại Học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này, cũng như các cán bộ nhân viên Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong cả quá trình nghiên cứu Tác giả cũng xin cảm ơn tập thể các anh chị em học viên lớp Cao học K18 Hải Phòng đã giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn này.

Hà Nội ngày 10 tháng 12 năm 2011

Tác giả

Vũ Thị Thu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ 7

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài nghiên cứu 3

6 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO 5

PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 5

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5

1.1 Những vấn đề cơ bản về TTQT của NHTM 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế 6

1.1.3 Các phương thức TTQT chủ yếu của NHTM 8

1.2 TTQT theo phương thức TDCT 11

1.2.1 Khái quát chung về phương thức TDCT 11

1.2.2 Các bên tham gia 12

1.2.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán 13

1.2.4 Nguồn luật điều chỉnh 15

Trang 4

1.2.6 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng TTQT theo phương thức TDCT 23

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng TTQT theo phương thức TDCT 25

Việc đẩy mạnh hoạt động TTQT theo phương thức TDCT chịu tác động của rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, các nhân tố này có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau và tác động tổng hợp đến hoạt động TTQT của NHTM 25

1.3.1 Các nhân tố chủ quan 25

1.3.2 Các nhân tố khách quan 28

CHƯƠNG 2 31

THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI BIDV HP 31

2.1 Giới thiệu về BIDV HP 31

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển 31

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh 32

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2008 – 2010 33

2.2 Thực trạng mở rộng TTQT theo phương thức TDCT tại BIDV HP 37

2.2.1 Thực trạng mở rộng TTQT tại BIDV HP 37

2.2.2 Thực trạng mở rộng TTQT theo phương thức TDCT tại BIDV HP 39

2.3 Đánh giá mức độ mở rộng TTQT theo phương thức TDCT tại BIDV HP 51

2.3.1 Kết quả đạt được 51

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 53

CHƯƠNG 3 61

GIẢI PHÁP MỞ RỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 62

THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 62

TẠI BIDV HẢI PHÒNG 62

3.1 Định hướng hoạt động TTQT của BIDV HP 62

3.2 Giải pháp mở rộng TTQT theo phương thức TDCT tại BIDV HP 63

Trang 5

3.2.2 Cải tiến kỹ thuật công nghệ ngân hàng 64

3.2.3 Mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý 65

3.2.4 Xây dựng chính sách khách hàng phù hợp 65

3.2.5 Đẩy mạnh dịch vụ tư vấn khách hàng 67

3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 69

3.2.7 Ổn định nguồn ngoại tệ trong kinh doanh và dịch vụ 70

3.2.8 Phân tích đối thủ cạnh tranh 71

3.2.9 Phối hợp tốt với Trung tâm tác nghiệp Tài trợ thương mại tại Hội sở chính 71

3.3 Kiến nghị 72

3.3.1 Kiến nghị với BIDV 72

3.3.2 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước 73

3.3.2 Đối với ngân hàng nhà nước 75

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 6

BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

nhánh Hải Phòng

Chamber of Commerce

Trang 7

Bảng 2.6: Thanh toán xuất khẩu tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 Error:Reference source not found

Bảng 2.7 Bảng 2.7: Doanh thu từ dịch vụ TTQT giai đoạn 2008 – 2010 49Bảng 2.8: Doanh thu dịch vụ TTQT bằng L/C giai đoạn 2008 – 2010 Error:Reference source not found

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Kim ngạch TTQT tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 Error:

Reference source not foundBiểu đồ 2.2: Kim ngạch TTQT bằng L/C tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010

Error: Reference source not foundBiểu đồ 2.3: Thanh toán L/C xuất khẩu tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010

Error: Reference source not found

Trang 8

Reference source not foundBiều đồ 2.5: Doanh thu từ dịch vụ TTQT giai đoạn 2008 – 2010 Error:

Reference source not foundBiểu đồ 2.6: Doanh thu dịch vụ TTQT bằng L/C giai đoạn 2008 – 2010Error:

Reference source not found

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Từ nửa cuối thế kỷ XX, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu thế mạnh mẽ Hội nhập là một yếu tố của phát triển Nước nào không hội nhập thì khó có cơ hội phát triển Những nước càng hội nhập tốt, sâu rộng thì càng phát triển tốt

Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới đó, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng của Việt Nam ngày càng mở rộng Đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO (World Trade Orgnization) - tổ chức thương mại lớn nhất thế giới vào ngày

07 tháng 11 năm 2006, sự giao lưu buôn bán hàng hoá giữa Việt Nam với hơn

150 nước ở khắp các châu lục trên thế giới ngày một lớn cả về số lượng và giá trị Để đáp ứng nhu cầu thanh toán khối lượng hàng hoá ngày một lớn này, các phương thức TTQT ngày càng phát triển đặc biệt là phương thức TTQT theo phương thức TDCT Đây là phương thức TTQT được áp dụng phổ biến

và phát triển nhất hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới bởi nó đáp ứng được nhu cầu hạn chế rủi ro của cả hai phía trong quá trình TTQT: Người bán hàng đảm bảo nhận tiền, người mua nhận được hàng và có trách nhiệm trả tiền

Trong nhiều năm qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng đã không ngừng đổi mới và nâng cao các nghiệp vụ TTQT của mình để phục vụ tốt cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hoá XNK của khách hàng Tuy nhiên, hoạt động TTQT nói chung và thanh toán bằng thư tín dụng nói riêng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng còn khá khiêm tốn cả về

số lượng và giá trị Đứng trước yêu cầu bức thiết đòi hỏi phải mở rộng hoạt

Trang 10

động thanh toán XNK để đáp ứng yêu cầu hội nhập trong thời gian tới, cũng như góp phần vào việc thu hút thêm khách hàng, tạo nguồn thu dịch vụ cho chi nhánh, việc đi sâu nghiên cứu đề tài “Mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng” là thật sự cần thiết và cấp bách Thông qua những giải pháp đưa ra, đề tài mong muốn đóng góp được những đề xuất có ích góp phần mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT cả về số lượng và giá trị, tăng thêm nguồn thu dịch vụ cho chi nhánh nói riêng và hệ thống BIDV nói chung.

2 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ thêm lý luận cơ bản về TTQT theo phương thức TDCT

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng, từ đó rút ra những thành quả đạt được, những tồn tại, khó khăn và nguyên nhân của những tồn tại đó tại chi nhánh

- Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tồn tại nêu trên để mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động TTQT theo phương thức TDCT của NHTM

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng giai đoạn 2008 – 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến đặc biệt là phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và phương pháp thống kê trên

cơ sở số liệu qua các năm của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trang 11

(BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng, các số liệu thống kê, các báo cáo của ngân hàng nhà nước, số liệu từ các tạp chí chuyên ngành ngân hàng, các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động ngân hàng… để so sánh và đánh giá Đồng thời sử dụng những kiến thức đã học trong môn Tài chính quốc tế và các tài liệu về TTQT để dẫn dắt vấn đề từ cơ sở lý thuyết đến thực tế, từ đó rút ra những biện pháp khả thi phù hợp với tình hình hiện tại tại chi nhánh.

5 Ý nghĩa và ứng dụng của đề tài nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở thực trạng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng: tìm ra những thành quả đạt được, những tồn tại, khó khăn và nguyên nhân của những tồn tại đó tại chi nhánh Dựa vào thực trạng đó và những lý luận đã học, kết hợp với những kinh nghiệm thực tế của bản thân và của đồng nghiệp khi tham gia tác nghiệp, đưa ra những kiến nghị, đề xuất phù hợp với thực tế, đảm bảo tuân thủ các quy tắc, thông lệ quốc tế và quy định của pháp luật đồng thời nâng cao dần tỷ trọng lợi nhuận của chi nhánh

Với những ý nghĩa đó, đề tài nghiên cứu hướng tới việc ứng dụng rộng rãi không chỉ cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng nói riêng mà còn có thể áp dụng được cho các chi nhánh khác nói chung nhằm nâng cao hiệu quả công việc, đồng thời hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra, mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT

6 Kết cấu của luận văn

Tên luận văn: “Mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng”

Trang 12

Bố cục luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục, chuyên đề gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng

chứng từ của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức

tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng

Chương 3: Giải pháp mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín

dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) – Chi nhánh Hải Phòng

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO

PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Như vậy, TTQT là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước trong đó ngân hàng

là trung gian thanh toán giữa các bên

Từ định nghĩa trên đây ta thấy TTQT có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, dịch vụ, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới TTQT khác với thanh toán trong nước là TTQT liên quan đến việc đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác Vì vậy, khi ký kết các hợp đồng mua bán ngoại thương các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của nước nào là tiền tệ tính toán và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro khi tỷ giá biến động

Thứ hai, phương tiện trong TTQT thường không phải là tiền mặt mà các phương tiện trong TTQT chủ yếu là: Hối phiếu, séc, kỳ phiếu… ghi bằng

Trang 14

ngoại tệ và được thanh toán qua ngân hàng Như vậy, về bản chất, TTQT là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Chúng được hình thành và phát triển trên cơ

sở các hợp đồng mua bán ngoại thương và việc trao đổi tiền tệ quốc tế

Thứ ba, TTQT được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán

1.1.2 Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế

Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế và thương mại quốc

tế ngày càng phát triển, TTQT đã trở thành một hoạt động cơ bản của các đồng thời nó cũng là một mắt xích không thể thiếu trong toàn bộ dây chuyền thực hiện một hợp đồng mua bán ngoại thương Thực hiện tốt vai trò trung gian thanh toán của mình trong hoạt động TTQT, NHTM đã đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế, cho khách hàng và bản thân các NHTM

1.1.2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân.

Công tác thanh toán nếu được thực hiện nhanh chóng và liên tục, giá trị XNK hàng hóa ngày càng gia tăng sẽ có tác dụng giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh Đồng thời thông qua TTQT có thể tạo ra mối quan hệ tin cậy giữa các doanh nghiệp và các ngân hàng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp được ngân hàng: tài trợ vốn trong trường hợp doanh nghiệp cần vốn, hỗ trợ doanh nghiệp về mặt thanh toán thông qua việc hướng dẫn, tư vấn cho doanh nghiệp trong TTQT, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra trong quá trình TTQT với đối tác nước ngoài

TTQT khuyến khích các doanh nghiệp tăng quy mô hoạt động, tăng khối lượng hàng hóa XNK và mở rộng các hoạt động giao dịch quốc tế khác như: Du lịch, hợp tác và đầu tư quốc tế…

TTQT giúp nhà nước có thể quản lý được nguồn ngoại tệ, tạo điều kiện thực hiện tốt cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước, quản lý hiệu quả các hoạt động kinh doanh XNK theo chính sách ngoại thương đã đề ra

Trang 15

là một hoạt động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển Hoạt động TTQT được thực hiện tốt sẽ giúp mở rộng cho hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác.

Thứ hai, hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại

tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán với các ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán

Thứ ba, hoạt động TTQT cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại của ngân hàng Thông qua việc thanh toán với nước ngoài, TTQT giúp ngân hàng tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài

và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng

1.1.2.3 Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh XNK

Trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, vấn đề thanh toán luôn luôn được đặt lên hàng đầu đặc biệt là trong thanh toán hoạt động kinh doanh XNK khi mà bạn hàng có vị trí địa lý cách xa nhau Chính vì thế, TTQT của các

Trang 16

NHTM với rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như chuyển tiền, nhờ thu, TDCT… sẽ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong việc lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp với từng giao dịch của mình.

Hơn nữa, trong từng trường hợp khách hàng là nhà xuất khẩu có nhu cầu được tài trợ về vốn thì sẽ được ngân hàng xem xét và cấp tín dụng thông qua hình thức chiết khấu hộ chứng từ xuất khẩu hay trong trường hợp khách hàng là nhà nhập khẩu muốn được tài trợ nhập khẩu bằng chính lô hàng nhập khẩu của mình cũng sẽ được ngân hàng xem xét và quyết định trong từng trường hợp cụ thể

Tóm lại, qua việc thanh toán XNK qua các NHTM, các doanh nghiệp XNK không chỉ thỏa mãn trong việc thanh toán an toàn, nhanh chóng, chính xác, thuận tiện mà còn có thể được tài trợ, được cấp tín dụng cho hoạt động XNK của mình Như vậy, TTQT ngày càng có vai trò quan trọng đối với cả nền kinh tế quốc dân, các NHTM và với cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh XNK

1.1.3 Các phương thức TTQT chủ yếu của NHTM

Phương thức TTQT là việc tổ chức quá trình trả tiền hàng trong giao dịch

mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu Thực chất phương thức thanh toán là cách thức người bán thu tiền còn người mua trả tiền

Trong buôn bán quốc tế có thể lựa chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau Tuy vậy, việc lựa chọn các phương thức đều phải xuất phát từ nhu cầu của người bán, thu tiền nhanh, đầy đủ và từ yêu cầu của người mua là nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng thời hạn đã ghi trong hợp đồng

Trong ngoại thương có 5 phương thức TTQT, mỗi phương thức thanh toán có những đặc trưng riêng về các bên tham gia, cách áp dụng cũng như

ưu, nhược điểm riêng Tuy nhiên, ba phương thức TTQT phổ biến nhất của các NHTM là:

Trang 17

Chuyển tiền (Remittance): Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (người yêu cầu trả tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng quy định.

Nhờ thu (Collection of Payment): Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng ủy thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra Theo đó, ngân hàng chỉ là trung gian thanh toán không có nghĩa vụ cam kết trả tiền

Tín dụng chứng từ (Documentay credit): là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng (Letter of Credit – L/C)

Bảng dưới đây đề cập đến những đặc trưng cơ bản nhất của ba phương thức TTQT này Trong bảng này, TTQT theo phương thức TDCT được phân tích một cách khái quát nhất về đặc trưng nhằm mục đích so sánh với đặc trưng của phương thức chuyển tiền và phương thức nhờ thu

Trang 18

Bảng 1.1: Đặc trưng của 3 phương thức TTQT chủ yếu

Phương

thức

TTQT

Các bên tham gia Ưu, nhược điểm

Trường hợp áp dụng

Mức độ rủi ro đối với nhà xuất khẩu

Mức độ rủi ro đối với nhà nhập khẩu

Mức độ rủi

ro đối với Ngân hàng

-Nhược:

không chặt chẽ trong quy trình, không ràng buộc trách nhiệm giữa các bên

Thanh toán tiền phi mậu dịch hoặc

là hai bên mua bán tin tưởng nhau

Rủi ro Không Không

ro cho các

Thanh toán giữa công ty

mẹ và công ty con hoặc các chi nhánh, các bên tin tưởng nhau

Rủi ro

vì việc nhận hàng của người mua tách khỏi khâu thanh toán

Rủi ro khi hối phiếu đến sớm hơn chứng từ hàng hoá.

-Người mua trì hoãn thanh toán -Không khống

Rủi ro khi nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ giả hay gian lận

Không

Trang 19

trình bên tham gia

khi một bên gian lận, lừa đảo

chế được việc trả tiền của người mua

Không căn

cứ vào hàng hoá

Áp dụng phổ biến trong TTQT

-Lập chứng

từ sai -Rủi ro khi vận chuyển

-Rủi ro vận chuyển hàng hoá chứng từ…

-Rủi ro do tư cách nhà nhập khẩu -Rủi ro do nhà nhập khẩu phá sản…

-Rủi ro do tỷ giá, do không tuân thủ UCP…

1.2 TTQT theo phương thức TDCT

1.2.1 Khái quát chung về phương thức TDCT

Phương thức TDCT là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng (Letter of Credit – L/C)

Thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ), trong đó ngân hàng phát hành L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C Chính vì vậy, người ta còn gọi phương thức thanh toán TDCT là thanh toán L/C

Thư tín dụng có tính chất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán này

Trang 20

Các loại thư tín dụng thương mại:

L/C)

recourse L/C)

1.2.2 Các bên tham gia

- Người yêu cầu mở thư tín dụng là người mua, người nhập khẩu hàng hoá, hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác

- Ngân hàng mở thư tín dụng là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nó cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu

- Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất

cứ người nào khác mà người người hưởng lợi chỉ định

- Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng ở nước người hưởng lợi

- Ngân hàng trả tiền là ngân hàng mở L/C và có thể là một ngân hàng khác do ngân hàng mở L/C uỷ nhiệm

- Ngân hàng xác nhận là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng

mở L/C theo yêu cầu Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có

uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế Ngân hàng mở L/C phải

Trang 21

yêu cầu một ngân hàng khác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng mở L/C Muốn xác nhận, ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí rất cao

và đôi khi còn phải đặt trước tiền - mức tiền đặt trước có thể đạt tới 100% trị giá của thư tín dụng

1.2.3 Quy trình nghiệp vụ thanh toán

(2) (5) (6)

- (4)

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ TTQT theo phương thức TDCT

(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của

mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng trên cơ sở hợp đồng ngoại thương đã ký kết

(2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ

lập một thư tín dụng và thông báo qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu

(3) Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho

người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, và khi nhận được bản gốc thư tín dụng, thì chuyển ngay cho người xuất khẩu Ngân hàng thông báo phải kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C mà mình thông báo Một L/C phải đảm bảo được tính chân thật của nó thì mới được

Ngân hàng mở L/C

Người nhập khẩu

(Người xin mở L/C)

Ngân hàng thông báo L/C

Người xuất khẩu(Người hưởng lợi

L/C)

Trang 22

phép thông báo, trái lại nếu cứ thông báo thì hậu quả gây nên thiệt hại cho người hưởng lợi từ việc thông báo đó sẽ do ngân hàng thông báo gánh chịu Ngân hàng thông báo không có trách nhiệm phải giải thích, dịch thuật nội dung L/C Mọi việc làm trái với quy định nói trên mà gây thiệt hại cho người hưởng lợi L/C thì ngân hàng thông báo phải chịu trách nhiệm.

(4) Người xuất khẩu nhận được L/C phải kiểm tra nội dung L/C Những

nội dung cần kiểm tra như sau:

- Khả năng thanh toán của ngân hàng mở

- Nội dung L/C không trái với nội dung hợp đồng

- Những yêu cầu của ngân hàng mở L/C đối với người hưởng lợi phải có tính khả thi, không trái với luật lệ có liên quan đến L/C mà hai bên đang áp dụng

- Vì chứng từ xuất trình phải phù hợp với L/C về bề mặt với các điều kiện và điều khoản của L/C, chính vì vậy người xuất khẩu cần kiểm tra kỹ lưỡng hình thức và câu chữ ghi trong L/C Câu chữ nào không rõ ràng, mơ hồ

mà có thể hiểu bằng nhiều cách khác nhau, cần yêu cầu ngân hàng mở làm rõ.Sau khi kiểm tra xong L/C, người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng

(5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của

thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo yêu cầu ngân hàng mở thư tín dụng thanh toán Thông thường bộ chứng từ bao gồm: hối phiếu, thư yêu cầu đòi tiền theo L/C, L/C bản gốc, hoá đơn thương mại, phiếu đóng gói, giấy chứng nhận xuất xứ, giấy chứng nhận chất lượng, giấy chứng nhận số lượng/trọng lượng, đơn bảo hiểm hàng hoá, vận đơn, thông báo giao hàng…

(6) Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp

với các điều kiện và điều khoản của L/C thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu thấy không phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C thì

Trang 23

ngân hàng mở L/C có quyền từ chối nhận chứng từ Theo UCP 600 quy định

rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days) Ở UCP 500, khoảng thời gian này là 7 ngày Quá thời hạn này, ngân hàng mở mất quyền từ chối tiếp nhận chứng từ Ngân hàng mở không có trách nhiệm kiểm tra hình thức, nội dung, hiệu lực pháp lý, tính thật giả, tính chính xác của bất cứ chứng từ nào

(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ

cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán

(8) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín

dụng thì hoàn tiền lại cho ngân hàng mở thư tín dụng hoặc kí chấp nhận thanh toán, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền

Nếu có thông báo của hãng tàu là tàu đã cập cảng mà bộ chứng từ chưa

về tới ngân hàng thì người mở L/C có thể làm đơn yêu cầu ngân hàng phát hành Thư bảo lãnh/Uỷ quyền nhận hàng hay ký hậu vận đơn để đi nhận hàng

để tránh hư tổn cho hàng hoá tại cảng và chi phí lưu kho lưu bãi

1.2.4 Nguồn luật điều chỉnh

Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật riêng, tập quán riêng và thể chế chính trị khác nhau nên đã cản trở hoạt động các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong đó nghiệp vụ TTQT theo phương thức TDCT Chính vì thế, cần phải có những quy tắc chung để điều chỉnh phương thức TTQT theo phương thức TDCT nhằm giảm thiểu các tranh chấp, giải quyết khó khăn, trở ngại trong thương mại quốc tế và và tăng tính hiệu quả của phương thức này Các quy tắc chung đó có thể kể đến là:

1 Các quy tắc và thực hành thống nhất về TDCT số 600 bản sửa đổi năm

2007 của phòng thương mại quốc tế - UCP 600 2007 ICC (Uniform Customs and Practice for Document Credit 2007 Revision ICC Publication No 600).Năm 1933, ICC đã ban hành bản quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng – (Uniform Customs and Practice for Document Credit – UCP)

Trang 24

UCP do Ủy ban kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng (ICC Commision on Banking Technique and Practice), còn gọi là Ủy ban Ngân hàng (Banking Commision), tập hợp các chuyên gia hàng đầu thế giới về lĩnh vực ngân hàng Mặc dù mới ra đời nhưng UCP đã được đón nhận và sử dụng rộng rãi, trở thành cơ sở cho phương thức thanh toán TDCT.

Để phù hợp với sự phát triển và thay đổi của hoạt động thương mại, ngân hàng, tài chính, giao nhận, bảo hiểm và vận tải Từ khi ra đời đến nay UCP đã qua 6 lần sửa đổi: Phát hành lần đầu năm 1933, các lần sửa đổi tiếp theo vào năm 1951, 1962 (UCP 222), 1974 (UCP 290), 1983 (UCP 400), 1993 (UCP 500), 2007 (UCP 600)

UCP 600 ra đởi trên cơ sở sửa đổi nội dung của UCP 500 cho phù hợp với sự thay đổi về chiều sâu trong công nghệ tin học, công nghệ vận tải… đồng thời nhằm mục đích giảm thiểu các trường hợp bộ chứng từ bị từ chối thanh toán và các vụ kiện tụng liên quan đến phương thức thanh toán TDCT

và có hiệu lực từ 01/07/2007

UCP là văn bản cho ICC phát hành, mà ICC là một tổ chức mang tính xã hội (phi chính phủ) chứ không phải là một tổ chức liên chính phủ, do đó, UCP không mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các hội viên cũng như các bên liên quan Là văn bản pháp lý tùy ý nên ICC sẽ miễn trách khi có sai sót, tổn thất phát sinh trong quá trình áp dụng Các bên tham gia có quyền lựa chọn có hay không dùng UCP 600 để điều chỉnh hoạt động TTQT theo phương thức TDCT Tuy nhiên, khi đã đồng ý áp dụng thì các điều khoản của UCP 600 sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các bên liên quan

Cho đến nay, UCP 600 đã tỏ rõ vai trò quan trọng của mình trong việc hướng dẫn và thực hành thống nhất TDCT ngày càng phát triển hoàn thiện cũng như giảm thiểu những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện phương thức này

2 Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế kiểm tra chứng từ theo L/C số

681 năm 2007 Phòng Thương mại Quốc tế (International Standard Banking

Trang 25

Practice for the Examination of Documents under Documentary Credits – ISBP 681 2007 ICC).

Bản phụ trương ISBP phiên bản 681 2007 phát hành nhằm bổ trợ, giúp cho những người làm TTQT có thể nắm bắt sâu hơn, thực chất hơn và có cơ

sở củng cố kiến thức về UCP 600 bởi có những điều khoản không thể phản ánh hết được trong UCP 600 sẽ được làm rõ hơn trong ISBP 681 2007

3 Bản phụ trương UCP 600 về việc xuất trình chứng từ điện tử - bản diễn giải số 1.1 (Supplement to UCP 600 for electronic presentation version 1.1 ICC – eUCP 1.1 2007 ICC)

Đây là tập quán quốc tế bổ sung cho UCP 600 nhằm điều chỉnh việc chỉ xuất trình chứng từ điện tử hoặc kết hợp với việc xuất trình chứng từ bằng văn bản

4 Các quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo TDCT (Uniform Rules for Bank – to – Bank Reimbursement under Documentary Credits No.725 2008 ICC – URR 725)

Quy tắc này có hiệu lực từ ngày 01/10/2008 thay thế cho UR 525 1995 ICC Các quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo thư tín dụng được áp dụng cho tất cả các giao dịch hoàn trả giữa các ngân hàng khi

mà các điều khoản này là bộ phận cấu thành của ủy quyền hoàn trả Quy tắc này ràng buộc các bên tham gia, trừ khi có sự thỏa thuận khác rõ ràng trong

ủy quyền hoàn trả

Bộ tập quán UCP 600, ISBP 681, eUCP 1.1, URR 725 tạo thành bộ tập quán quốc tế thống nhất dùng để điều chỉnh L/C trên phạm vi toàn thế giới

Hiện nay ở nước ta, các NHTM và các đơn vị kinh doanh ngoại thương đã thống nhất sử dụng bộ tập quán quốc tế này như một văn bản pháp lý điều chỉnh các loại thư tín dụng được áp dụng trong TTQT giữa Việt Nam và nước ngoài

1.2.5 Ưu nhược điểm của phương thức TDCT

Trong TTQT về XNK, phương thức thanh toán được các bên áp dụng phổ biến là phương thức TDCT mà trong đó thư tín dụng đóng vai trò chủ yếu, quyết định sự tồn tại của phương thức thanh toán này Điều này thể hiện ở chỗ,

Trang 26

nếu các bên không thiết lập được L/C thì sẽ không có việc giao hàng, trả tiền

và do vậy phương thức này cũng không được xác lập, chính vì vậy mà trong phương thức thanh toán TDCT có nhiều bên tham gia Do đó để hiểu được những ưu điểm và hạn chế của phương thức thanh toán chứng từ, ta đi tìm hiểu những ưu điểm và nhược điểm đối với các bên tham gia thanh toán bằng L/C.+ Đối với người nhập khẩu

- Người nhập khẩu sẽ nhận được các chứng từ về hàng hóa do mình quy định như ngân hàng phát hành ghi rõ trong L/C, đồng thời NHPH giúp kiểm tra bộ chứng từ với chuyên môn và trách nhiệm cao nhất

- Người nhập khẩu được bảo đảm rằng sẽ chỉ bị ghi nợ tài khoản số tiền L/C khi tất cả các chỉ thị trong L/C được thực hiện đúng

- Người nhập khẩu có khả năng bảo toàn được vốn vì anh ta không phải ứng trước tiền – trong trường hợp không phải ký quỹ

- Tận dụng được tín dụng của ngân hàng, đó là điều thiết yếu trong kinh doanh quốc tế, bởi vì khoảng thời gian từ lúc mở L/C cho đến khi thu được tiền hàng là khá dài

- Đảm bảo hàng hóa phù hợp với bộ chứng từ theo các điều kiện và điều khoản đã ký kết trong hợp đồng ngoại thương, như số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng

- Vì có sự bảo đảm về thanh toán, người nhập khẩu có thể thương lượng

để đạt được giá cả tốt hơn và mở rộng được quan hệ khách hàng cũng như quy mô kinh doanh

- Việc thanh toán của ngân hàng cho người thụ hưởng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào kiểm tra hàng hóa Ngân hàng chỉ kiểm tra tính "chân thật" bề ngoài của chứng từ, chứ không kiểm tra được

Trang 27

chất lượng hay số lượng hàng hóa Một nhà xuất khẩu chủ tâm gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo (có bề ngoài phù hợp với L/C) cho ngân hàng chỉ định để thanh toán

- Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu với nhà nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi, bổ sung L/C làm kéo dài thời gian giao dịch, tăng chi phí

- Trong trường hợp hàng đã về cảng mà nhà nhập khẩu cần gấp ngay hàng hóa, thì phải thu xếp để được ngân hàng phát hành phát hành cho một thư bảo lãnh/thư uỷ quyền nhận hàng hay ký hậu vận đơn để nhận hàng Để được bảo lãnh nhận hàng, nhà nhập khẩu phải trả một khoản phí cho ngân hàng và phải thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán dù bộ chứng từ có sai sót hay không

+ Đối với người xuất khẩu

- Là người hưởng lợi L/C, người xuất khẩu được bảo đảm rằng khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của L/C trong thời hạn hiệu lực của L/C thì sẽ nhận được tiền thanh toán hoặc được chấp nhận thanh toán

- Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng cam kết của ngân hàng phát hành là sẽ trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng từ xuất trình phù hợp với các điều khoản của L/C - miễn là bộ chứng từ hoàn hảo Đây là lợi thế vượt trội so với phương thức ghi sổ hay nhờ thu

- Để có ưu thế trong việc ký kết hợp đồng ngoại thương, nhà xuất khẩu

có thể đồng ý để nhà nhập khẩu trả chậm trên cơ sở ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn Nhà xuất khẩu có thể mang hối phiếu đã chấp nhận đến ngân hàng phục vụ mình (hay bất kỳ ngân hàng nào khác) để chiết khấu nhận tiền tức thời - mức chiết khấu có thể lên đến 98% giá trị bộ chứng từ

- Một L/C không hủy ngang có xác nhận miễn truy đòi sẽ đặt trách

Trang 28

nhiệm thanh toán không những cho ngân hàng phát hành mà còn cho ngân hàng xác nhận, do đó, nó cung cấp sự an toàn tốt nhất cho người xuất khẩu Điều đó có nghĩa là, đối với L/C có xác nhận thì ngân hàng xác nhận và ngân hàng phát hành sẽ cam kết bảo đảm rằng việc thanh toán/ chiết khấu/ chấp nhận quy định trong L/C được thực hiện theo nguyên tắc không truy đòi người thụ hưởng.

- Trong trường hợp L/C không có xác nhận, nếu ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán, thì cho dù bộ chứng từ xuất trình là hoàn hảo thì cũng không được thanh toán Tương tự nếu ngân hàng chấp nhận hối phiếu kỳ hạn bị phá sản trước khi hối phiếu đến hạn, thì hối phiếu cũng không được trả tiền Trừ khi L/C được xác nhận bởi một ngân hàng uy tín hạng nhất trong nước, còn lại nhà xuất khẩu luôn chịu rủi ro về hệ số tín nhiệm của ngân hàng phát hành, cũng như rủi ro chính trị hay rủi ro cơ chế chính sách của nước nhà nhập khẩu

- Những thay đổi trong hợp đồng ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải tiến hành làm thủ tục sửa đổi bổ sung L/C

- Các rủi ro khác như lựa chọn hãng tàu không tin cậy, hư hỏng hàng hoá do xếp hàng không đúng quy định…

+ Đối với ngân hàng phát hành

Trang 29

- Khi L/C không có xác nhận, ngân hàng chỉ định có thể yêu cầu ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán cho người thụ hưởng mà chưa nhìn thấy

bộ chứng từ Trong trường hợp này, nếu không có sự chấp nhận trước của người nhập khẩu về việc hoàn trả, thì ngân hàng phát hành sẽ gặp rủi ro khi

bộ chứng từ có sai sót, nên nhà nhập khẩu không chấp nhận, do đó ngân hàng

sẽ không truy hoàn được tiền từ nhà nhập khẩu Về mặt nguyên tắc, ngân hàng phát hành có quyền truy đòi ngân hàng chỉ định vì bộ chứng từ có sai sót Nhưng như đã nói ở trên, việc này gây mất thời gian và tốn kém

- Nếu ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ có lỗi, nhà nhập khẩu không chấp nhận thì không thể đòi tiền nhà nhập khẩu được.+ Đối với ngân hàng thông báo/chỉ định/ xác nhận/chiết khấu

Trang 30

- Thu phí từ việc thông báo/thanh toán/xác nhận L/C và các khoản thu nhập khác liên quan đến chuyển đổi tiền tệ.

- Thông qua việc cung cấp dịch vụ thông báo/ thanh toán/ chấp nhận giúp khách hàng phát triển kinh doanh, thì các hoạt động khác của ngân hàng cũng phát triển theo

- Tăng cường các mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau

- Đối với ngân hàng thông báo: Ngân hàng thông báo chịu trách nhiệm phải có sự "quan tâm hợp lý" để bảo đảm rằng L/C là chân thật, bao gồm cả việc xác minh chữ ký khóa mã, mẫu điện trước khi gửi thông báo cho nhà xuất khẩu Nhược điểm là khi ngân hàng thông báo gặp phải một L/C giả (hoặc sửa đổi giả) mà không có ghi chú gì mà vẫn thực hiện thông báo Theo thông lệ quốc tế thì ngân hàng thông báo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với các bên liên quan

- Đối với ngân hàng chỉ định: Trừ khi là ngân hàng xác nhận, các ngân hàng chỉ định không có một trách nhiệm nào phải thanh toán cho người xuất khẩu trước khi nhận được tiền từ ngân hàng phát hành Tuy nhiên trong thực

tế, trên cơ sở bộ chứng từ xuất trình, các ngân hành chỉ định thường ứng trước cho nhà xuất khẩu với điều kiện truy đòi (with recourse) để trợ giúp cho nhà xuất khẩu, do đó, ngân hàng này phải tự chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành hoặc nhà xuất khẩu

- Đối với ngân hàng xác nhận: Nếu bộ chứng từ là hoàn hảo, thì ngân hàng xác nhận phải trả tiền cho người xuất khẩu bất luận là có truy hoàn được tiền từ ngân hàng phát hành hay không Như vậy, ngân hàng xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành, cũng như rủi ro chính trị

và rủi ro cơ chế (hạn chế ngoại hối) của nước ngân hàng phát hành Rủi ro

Trang 31

đối với ngân hàng xác nhận xảy ra khi họ không nắm vững được năng lực tài chính của ngân hàng mở mà xác nhận theo yêu cầu của họ để rồi khi xảy

ra hậu quả thì lại phải chịu trách nhiệm thanh toán thay cho ngân hàng mở L/C do ngân hàng mở L/C thiếu thiện chí hay mất khả năng thanh toán, thậm chí bị phá sản

Nếu ngân hàng xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ có lỗi, ngân hàng phát hành không chấp nhận, thì không thể đòi tiền ngân hàng phát hành

- Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu (negotiating bank): Ngân hàng chiết khấu là ngân hàng được chỉ định cụ thể hoặc bất cứ ngân hàng nào nếu L/C cho chiết khấu tự do Cũng như ngân hàng phát hành, ngân hàng chiết khấu có thể gặp phải rủi ro nếu như không thực hiện chính xác nghiệp vụ cũng như không tuân thủ theo các điều kiện của UCP600 Rủi ro xảy ra đối với ngân hàng chiết khấu phần nhiều phụ thuộc vào thiện chí của ngân hàng

mở và nhà nhập khẩu Các rủi ro mà ngân hàng chiết khấu có thể gặp phải là: Rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng, rủi ro do nhà nhập khẩu trì hoãn thanh toán, rủi ro trong quá trình vận chuyển, rủi ro do nhà nhập khẩu từ chối thanh toán bộ chứng từ, rủi ro do ngân hàng mở bị phá sản, rủi ro do ngân hàng chiết khấu không hành động đúng theo quy định của UCP600

1.2.6 Các chỉ tiêu phản ánh mở rộng TTQT theo phương thức TDCT

1.2.6.1 Quy mô hoạt động TTQT theo phương thức TDCT

Quy mô hoạt động TTQT theo phương thức TDCT thể hiện qua 2 yếu tố

là doanh số và số món giao dịch được thực hiện

Chỉ tiêu này dễ dàng đo lường được do cả 2 yếu tố này đều biểu hiện bằng các con số cụ thể qua báo cáo tại các kỳ, các năm tài chính

Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hoạt động có phát triển mở

Trang 32

rộng hay không Thường thường, quy mô tăng thì hoạt động này được đánh giá là có sự phát triển mở rộng, còn ngược lại được coi là không phát triển.Trong một số trường hợp cụ thể 2 yếu tố này không cùng tăng hoặc giảm như doanh số tăng nhưng số món lại giảm và ngược lại Do vậy, căn cứ vaò mức độ quan tâm của từng chỉ tiêu để đưa ra kết luận hợp lý Tuy nhiên, quy

mô biểu hiện chủ yếu qua giá trị thanh toán nghĩa là mặc dù số lượng giao dịch có thể giảm nhưng trị giá giao dịch tăng thì vẫn được coi là có sự tăng về quy mô

1.2.6.2 Gia tăng số lượng khách hàng

Khi đánh giá hoạt động TTQT theo phương thức TDCT có mở rộng hay không chúng ta không thể bỏ qua chỉ tiêu về số lượng khách hàng Bên cạnh nhóm khách hàng truyền thống, các NHTM cũng cần phải tìm kiếm nhóm khách hàng mới, khách hàng tiềm năng Số lượng khách hàng đến với ngân hàng ngày một tăng đặc biệt là các khách hàng có sử dụng dịch vụ TTQT theo phương thức TDCT, chứng tỏ hoạt động này của ngân hàng đang được mở rộng và ngược lại

Chính vì thế, các NHTM muốn mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT cần có những giải pháp hữu hiệu để tăng số lượng khách hàng của mình

1.2.6.3 Doanh thu TTQT theo phương thức TDCT

Các khoản thu từ TTQT theo phương thức TDCT bao gồm các khoản phí như phí mở L/C, phí sửa L/C, phí thông báo L/C Nếu nguồn thu này gia tăng theo thời gian thì nghĩa là hoạt động TTQT theo phương thức TDCT của ngân hàng đang hoạt động tốt và ngược lại nếu nguồn thu này giảm sút hay biến động thất thường chứng tỏ hoạt động này của ngân hàng không được tốt

1.2.6.4 Uy tín của ngân hàng trong hoạt động thanh toán quốc tế

Trong TTQT theo phương thức TDCT, uy tín của trong và ngoài nước

có vai trò vô cùng quan trọng vì khi chọn TTQT theo phương thức TDCT

Trang 33

người xuất khẩu sẽ được đảm bảo thanh toán nếu xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo Điều đó có nghĩa là ngân hàng càng uy tín thì sự đảm bảo đó càng chắc chắn Chính vì thế, một ngân hàng uy tín dễ dàng mở rộng được thị trường trong nước và quốc tế Hơn nữa, một khi đã có uy tín trên trường quốc

tế, NHTM đó sẽ có điều kiện thuận lợi để thực hiện các nghiệp vụ mang tính bảo lãnh thanh toán và quan trọng hơn là dễ dàng được đối tác nước ngoài tin tưởng chọn lựa để thực hiện giao dịch Qua đó NHTM càng dễ dàng mở rộng hoạt động hoạt động của mình

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng TTQT theo phương thức TDCT

Việc đẩy mạnh hoạt động TTQT theo phương thức TDCT chịu tác động của rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, các nhân tố này có mối quan

hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau và tác động tổng hợp đến hoạt động TTQT của NHTM

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Trình độ của cán bộ TTQT

Nguồn nhân lực là nhân tố sống còn đối với mở rộng TTQT nói chung và TTQT theo phương thức TDCT nói riêng Cán bộ làm TTQT đòi hỏi không những giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, thành thạo máy vi tính mà còn phải giỏi

về ngoại ngữ, am hiểu về các quy tắc và thông lệ TTQT để thực hiện nghiệp

vụ một cách tốt nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng Không những thế, cán bộ làm công tác TTQT còn phải có tác phong nhanh nhẹn, năng động, sáng tạo, nhiệt tình có đạo đức nghề nghiệp để tư vấn hướng dẫn khách hàng đạt hiệu quả cao nhất Một ngân hàng có đội ngũ nguồn nhân lực có đủ đức đủ tài sẽ dễ dàng thu hút khách hàng, dễ mở rộng hoạt động của mình

1.3.1.2 Kỹ thuật công nghệ ngân hàng

Kỹ thuật công nghệ ngân hàng là một điều quan trọng để mở rộng và

Trang 34

phát triển các nghiệp vụ TTQT nói chung và TTQT theo phương thức TDCT nói riêng Kỹ thuật công nghệ tiên tiến sẽ giúp ngân hàng thực hiện chính xác các thao tác, đẩy nhanh tốc độ các khâu thanh toán từ phát hành, thông báo đến thanh toán L/C, phục vụ khách hàng một cách hiệu quả nhất, cung cấp cho khách hàng sản phảm dịch vụ tốt nhất Qua đó, các NHTM nâng cao uy tín và mở rộng thị phần trong và ngoài nước của ngân hàng mình.

Ngược lại, nếu kỹ thuật công nghệ ngân hàng lạc hậu sẽ làm lu mờ hình ảnh ngân hàng trong lòng khách hàng Ngày nay, khi mà công nghệ hiện đại

đã dần đi vào đời sống xã hội thì thương mại điện tử sẽ thay thế thương mại truyền thống, chính vì thế kỹ thuật công nghệ ngành ngân hàng cũng phải không ngừng biến đổi để đáp ứng các yêu cầu đó

1.3.1.3 Các hoạt động hỗ trợ thanh toán quốc tế

Các hoạt động hỗ trợ TTQT bao gồm: Hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác Ngân hàng có thể thực hiện hỗ trợ nhà XNK dưới các hình thức cho vay ký quỹ mở L/C, chiết khấu bộ chứng từ gửi hàng, bảo lãnh nhận hàng hoặc bảo lãnh mở L/C trả chậm…

Các hoạt động này có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động TTQT nói chung và hoạt động TTQT theo phương thức TDCT nói riêng Cụ thể, nếu các hoạt động này ngày càng phát triển sẽ là tiền đề tốt để hỗ trợ hoạt động tài trợ thương mại phát triển Nếu hoạt động này không phát triển thì hoạt động TTQT theo phương thức TDCT của NHTM khó mà thực hiện được

1.3.1.4 Mạng lưới ngân hàng đại lý

Ngày nay, các khách hàng có hoạt động TTQT ngày càng có xu hướng

mở rộng đối tác làm ăn ra ngoài thị trường truyền thống Do đó, nhiều thương

vụ mới sẽ phát sinh với các đối tác mới ở các nước khác nhau trên thế giới Vì

Trang 35

vậy, việc mở rộng thêm các ngân hàng đại lý trên phạm vi toàn cầu sẽ giúp đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu của khách hàng bởi ngân hàng đại lý sẽ thực hiện công việc tại nước mà chưa có chi nhánh tại đó.

Với một hệ thống ngân hàng đại lý rộng khắp, các giao dịch sẽ về thẳng ngân hàng không qua trung gian sẽ giúp các khách hàng được thanh toán nhanh chóng, chính xác, giảm chi phí và giảm rủi ro, đảm bảo được hiệu quả kinh doanh của khách hàng Đặc biệt, trong TTQT theo phương thức TDCT, ngân hàng đại lý ở nước ngoài sẽ giúp NHTM trong nước biết được năng lực của khách hàng ở nước ngân hàng đại lý, hạn chế được những giao dịch với những công ty ma, những bộ chứng từ giả mạo… Đồng thời, một NHTM có mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp thế giới và có quan hệ tốt sẽ thuận tiện trong việc liên lạc, tra soát các giao dịch thanh toán của mình

Như vậy, nào có ngân hàng đại lý càng rộng thì hoạt động TTQT nói chung

và hoạt động TTQT theo phương thức TDCT càng phát triển và ngược lại

Trang 36

Bên cạnh đó, việc có nguồn ngoại tệ ổn định và quản lý hiệu quả sẽ giúp các NHTM giảm bớt những rủi ro trong hoạt động của mình trước những biến động của lãi suất, tỷ giá ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Từ đó, các NHTM

dễ dàng mở rộng được hoạt động TTQT nói chung và TTQT theo phương thức TDCT nói riêng

1.3.1.6 Cơ chế quản lý, tổ chức điều hành

Cơ chế quản lý, tổ chức điều hành có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các NHTM, đặc biệt là trong lĩnh vực TTQT bởi một hệ thống quản lý điều hành thống nhất, tập trung từ trung ương đến chi nhánh theo một quy trình hợp lý sẽ hạn chế được rủi ro, rút ngắn thời gian thực hiện giao dịch, tạo được uy tín với khách hàng và như vậy các ngân hàng không những duy trì được với nhóm khách hàng truyền thống mà cón sẽ thu hút được nhiều khách hàng mới đến với mình Qua đó, các NHTM có thể mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT của mình một cách hiệu quả

1.3.2 Các nhân tố khách quan

1.3.2.1 Các chính sách vĩ mô của nhà nước.

Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cua NHTM nói chung và của hoạt động TTQT theo phương thức TDCT nói riêng

Thứ nhất, thông qua chính sách quản lý ngoại hối, nhà nước thực hiện quản lý ngoại hối, kiểm soát luồng vận động ra vào của ngoại hối Dựa vào những biến động trên thị trường nhà nước sẽ áp dụng các chính sách quản lý ngoại hối tự do hay thắt chặt để hướng sự vận động của hoạt động ngoại hối

đi theo đúng hướng của nhà nước

Thứ hai, các chính sách thuế là một công cụ hữu hiệu của nhà nước để quản lý XNK, qua đó ảnh hưởng lớn đến TTQT Để khuyến khích sản xuất hay nhập khẩu mặt hàng nào đó, nhà nước sẽ áp dụng mức thuế cao hay thấp

Trang 37

đối với mặt hàng đó

Thứ ba, các chính sách pháp luật cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới TTQT Những nước có hệ thống pháp luật chưa ổn định, thường xuyên phải sửa chữa, bổ sung sẽ ảnh hưởng xấu tới các hoạt động TTQT Đặc biệt, khi

mà môi trường pháp lý có sự thay đổi lớn sẽ làm cho cả ngân hàng và khách hàng không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình làm cho L/C có thể bị hủy

bỏ khi thanh toán theo phương thức TDCT

Thứ tư, TTQT cũng chịu ảnh hưởng của các chính sách kinh tế đối ngoại Khi một đất nước nào đó thực hiện chính sách đối ngoại thiên về xu hướng tự

do hóa mậu dịch sẻ tạo điều kiện thuận lợi cho ngoại thương phát triển, qua

đó thúc dẩy TTQT tăng theo và ngược lại nếu đất nước đó thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch sẽ gây khó khăn cản trở hoạt động ngoại thương

1.3.2.2 Sự phát triển cuả các doanh nghiệp kinh doanh XNK.

Hoạt động kinh doanh XNK càng sôi động thì hoạt động TTQT càng phát triển Bởi khi hoạt động kinh doanh XNK của các doanh nghiệp ngày càng được mở rộng thì doanh số sẽ tăng lên, nghĩa là kim ngạch XNK sẽ tăng lên tương ứng Và đương nhiên nhu cầu TTQT cũng sẽ tăng lên tạo điều kiện thuận lợi để các NHTM mở rộng TTQT của mình Ngược lại, nếu hoạt động kinh doanh XNK của một nước không phát triển thì hoạt động TTQT khó có thể mở rộng và phát triển được

Bên cạnh hoạt động kinh doanh XNK thì trình độ, năng lực của các cán

bộ làm công tác XNK cũng có tác động tới mở rộng TTQT theo phương thức TDCT theo hai hướng tích cực và tiêu cực Nếu cán bộ làm công tác XNK có trình độ, năng lực cao sẽ thực hiện nhanh chóng chính xác các nghiệp vụ tạo điều kiện thuận lợi cho TTQT theo phương thức TDCT phát triển và ngược lại sẽ làm cản trở tới hoạt động này

Trang 38

1.3.2.3 Sự cạnh tranh của các NHTM khác

Trong xu hướng hội nhập, kinh tế đối ngoại ngày càng mạnh mẽ thì nhu cầu TTQT cũng ngày càng phát triển đặc biệt là TTQT theo phương thức TDCT Nắm bắt được điều này, các NHTM đang rất chú tâm đến việc phát triển mở rộng mảng hoạt động này của ngân hàng mình bằng nhiều chính sách như chính sách phí, chính sách ngân hàng đại lý… Chính vì thế, hoạt động TTQT theo phương thức TDCT chịu ảnh hường không nhỏ bởi sự cạnh tranh của các NHTM khác đặc biệt là các NHTM trên cùng địa bàn

Kết luận:

Trên đây là những lý luận cơ bản nhất về TTQT theo phương thức TDCT của Để có thể giúp BIDV HP đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT thì nhất thiết cần phải đánh giá được thực trạng hoạt động này của chi nhánh trong những năm vừa qua Bằng những lý luận của chương 1, sau đây chương 2 tác giả xin nêu ra một vài nhận định về thực trạng mở rộng hoạt động TTQT theo phương thức TDCT của BIDV HP

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỞ RỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI BIDV HP

2.1 Giới thiệu về BIDV HP

2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng (BIDV HP) được thành lập ngày 27/05/1957 mà tiền thân là chi nhánh Ngân Hàng Kiến Thiết Hải Phòng – một trong 11 chi nhánh được thành lập sớm nhất cả nước

Khi mới thành lập, đội ngũ cán bộ ban đầu chỉ có 18 người, hầu hết là cán bộ có trình độ sơ cấp, với 3 phòng nghiệp vụ với nhiệm vụ chủ yếu là cấp phát, cho vay và quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế thuộc kế hoạch nhà nước Với nhiệm vụ được giao, ngay từ khi mới thành lập chi nhánh ngân hàng Kiến Thiết Hải Phòng đã tích cực tham gia vào công cuộc khôi phục và tái thiết Thành phố Hải Phòng Rất nhiều các công trình lớn, trọng điểm của thành phố Hải Phòng qua nguồn vốn của chi nhánh Ngân hàng Kiến Thiết Hải Phòng cấp phát đã được hình thành: Nhà máy ximăng Hải Phòng, Cảng Hải Phòng, Sân bay Cát Bi, Đường quốc lộ 5, các nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Bến Kiền, Nhà Máy cơ khí Duyên Hải…

Trải qua 53 năm xây dựng và phát triển, BIDV HP đã có những thành tích nổi bật và đã được tặng thưởng Huân chương độc lập hạng ba, Huân chương lao động hạng nhất, hạng nhì, hạng ba của Đảng và nhà nước, cờ thi đua, bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Thống đốc ngân hàng Nhà nước Nhiều năm liền, BIDV HP là đơn vị lá cờ đầu của hệ thống BIDV, hoàn thành suất sắc kế hoạch kinh doanh trên các chỉ tiêu tổng tài sản, huy động vốn, tín dụng, dịch vụ, lợi nhuận… Năm 2008, BIDV HP được Ủy ban Nhân dân

Trang 40

Thành phố Hải Phòng tặng danh hiệu là một trong 10 Doanh nghiệp tiêu biểu nhất thành phố Năm 2009, chi nhánh đã hoàn thành toàn diện, vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và được Ủy ban Nhân dân Thành Phố Hải Phòng tặng lá cờ thi đua xuất sắc, được BIDV công nhận là một trong 9 đơn vị hoàn thành đặc biệt xuất sắc kế hoạch kinh doanh năm 2009, đơn vị lá cờ đầu cụm Động lực phía Bắc ngoài địa bàn Hài Nội, là một trong 6 đơn vị có quy mô hoạt động vốn bán lẻ cao nhất hệ thống và là một trong 10 chi nhánh có hoạt động bán lẻ tốt nhất.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2008 – 2009, tổng tài sản năm 2010 gấp 1,3 lần, dư nợ tín dụng gấp 1,6 lần, thu dịch vụ gấp 2,6 lần so với năm 2008 Trong giai đoạn này, chi nhánh luôn luôn dẫn đầu về thị phần dịch vụ, thị phần huy động vốn, tín dụng – năm 2010 thị phần huy động vốn chiếm 20% trong tổng số 48 ngàn ngân hàng trên địa bàn và thị phần tín dụng chiếm 19% trên địa bàn Năm 2009 chênh lệch thu chi đứng đầu hệ thống ngân hàng trên địa bàn

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của chi nhánh

Từ ngày 01/10/2008, BIDV triển khai dự án TA2 tái cơ cấu lại tổ chức thống nhất trên toàn bộ hệ thống Theo đó, các chi nhánh được tổ chức theo

mô hình ngân hàng bán lẻ nhằm hướng đến khách hàng và phát huy có hiệu quả sản phẩm dịch vụ của BIDV Việc chuyển đổi mô hình tổ chức thống nhất trên toàn hệ thống được coi là cuộc cách mạng sâu rộng nhất từ trước tới nay Cuộc cách mạng nhằm hướng về khách hàng để hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất

Mô hình tổ chức của BIDV HP theo dự án TA2 gồm 13 phòng, 6 phòng giao dịch và 4 quỹ tiết kiệm dưới sự điều hành của Ban Giám đốc, được chia thành 5 khối: khối Quan hệ Khách hàng, khối Tác nghiệp, khối Quản lý rủi ro, khối Quản lý nội bộ, khối Trực thuộc

Ngày đăng: 05/10/2014, 06:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Đặc trưng của 3 phương thức TTQT chủ yếu - mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng
Bảng 1.1 Đặc trưng của 3 phương thức TTQT chủ yếu (Trang 18)
Bảng 2.1: Kết quả huy động vốn của BIDV HP giai đoạn 2008 – 2010 - mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng
Bảng 2.1 Kết quả huy động vốn của BIDV HP giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 42)
Bảng 2.2: Hoạt động tín dụng của BIDV HP giai đoạn 2008 – 2010 - mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng
Bảng 2.2 Hoạt động tín dụng của BIDV HP giai đoạn 2008 – 2010 (Trang 44)
Bảng 2.4: Kim ngạch TTQT bằng L/C tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 - mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng
Bảng 2.4 Kim ngạch TTQT bằng L/C tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 (Trang 47)
Bảng 2.5: Thanh toán nhập khẩu tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 - mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng
Bảng 2.5 Thanh toán nhập khẩu tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 (Trang 49)
Bảng 2.6: Thanh toán xuất khẩu tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 - mở rộng thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam (bidv) – chi nhánh hải phòng
Bảng 2.6 Thanh toán xuất khẩu tại BIDV HP giai đoạn 2008-2010 (Trang 53)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w