Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là sinh lợi và phát
Trang 1-
TĂNG ANH TRƯỜNG
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2-
TĂNG ANH TRƯỜNG
XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số 60 - 34 - 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ QUANG QUÝ
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã được ghi trong lời cảm
ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn“ Xây dựng phương án đảm bảo tài
chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên” tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên
của những cá nhân và tập thể Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các
cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cám ơn Thầy giáo - PGS, TS Đỗ Quang Quý đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ về mặt khoa học để hoàn thành cuốn luận văn này Tôi xin trân trọng cám ơn các Cơ quan, Ban, Ngành tỉnh Thái nguyên, Ban giám đốc và các phòng ban, đơn vị thuộc Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Tuy nhiên, vì những lý do về trình độ và thời gian, luận văn này không tránh khỏi có những hạn chế, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy hướng dẫn, các thầy cô giáo và các đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn
Tác giả luận văn
Tăng Anh Trường
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học 2
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường 4
1.1.1 Cơ sở lý luận của đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp 4
1.1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 5
1.1.1.3 Nội dung chủ yếu của đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp 7
1.1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính của doanh nghiệp 9
1.1.1.5 Nội dung và phương pháp đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của doanh nghiệp 12
1.1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác huy động đảm bảo nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam và Nhật Bản 28
Trang 61.1.2.1 Thực tiễn công tác huy động vốn của các doanh nghiệp Việt nam
hiện nay 28
1.1.2.2 Kinh nghiệm hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhật bản 32
1.2 Phương pháp nghiên cứu đề tài 34
1.2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 34
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
1.2.2.1 Thu thập, tổng hợp dữ liệu 34
1.2.2.2 Phương pháp phân tích 35
1.2.2.3 Phương pháp dự báo 36
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
Chương 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀCÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN 38
2.1 Đặc điểm và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 38
2.1.1 Đặc điểm tình hình chung của công ty 38
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 41
2.1.2.1 Nhân tố sản phẩm, dịch vụ, khách hàng và môi trường cạnh tranh 41
2.1.2.2 Đặc điểm về công nghệ 44
2.1.2.3 Đặc điểm về vật tư 45
2.1.2.4 Đặc điểm về nhân lực 46
2.1.2.5 Đặc điểm về vốn kinh doanh 48
2.1.3 Tình hình hiệu quả kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên trong 3 năm 2008 - 2010 50
2.2 Phân tích thực trạng công tác đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 53
Trang 72.2.1 Phương pháp xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của
Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 53 2.2.1.1 Các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu năm 2010 54 2.2.1.2 Cách xác định 54 2.2.1.3 Đánh giá mức độ chính xác của xác định nhu cầu vốn năm
2010 của công ty và phân tích các nguyên nhân 55 2.2.2 Phân tích tình hình các chính sách đảm bảo tài chính cho hoạt động
của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên 57 2.2.2.1 Phân tích tình hình đảm bảo nhu cầu vốn cố định 58 2.2.2.2 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng máy móc thiết bị 59 2.2.2.3 Phân tích tình hình thanh toán thu hồi vốn 60 2.2.2.4 Phân tích tình hình huy động các nguồn vốn 61
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO TÀI CHÍNH CHO CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THÁI NGUYÊN 63 3.1 Định hướng chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái nguyên giai đoạn 2011 - 2015 63 3.1.1 Mục tiêu chiến lược phát triển của Công ty 63 3.1.2 Một số chỉ tiêu dự kiến chiến lược phát triển của công ty giai đoạn
2011 - 2015 64 3.1.3 Một số chủ trương định hướng cho chiến lược phát triển của Công
ty giai đoạn 2011 - 2015 66 3.2 Xác định phương án đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty giai đoạn 2011 - 2015 68 3.2.1 Xác định phương án đảm bảo tài chính cho hoạt động của Công ty
năm 2011 68 3.2.2 Xác định phương án tài chính cho hoạt động của Công ty năm 2012 - 2015 72
Trang 83.3 Các giải pháp nhằm đảm bảo tài chính để thực hiện thành công chiến
lược phát triển của công ty giai đoạn 2011 - 2015 73
3.3.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 73
3.3.2 Giảm chi phí đầu vào 75
3.3.3 Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, tăng tỷ lệ cổ tức 75
3.3.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng 77
3.3.5 Đổi mới, nâng cao công nghệ 78
3.3.6 Thu hút các nguồn vốn đảm bảo nhu cầu tài chính cho chiến lược kinh doanh của Công ty 79
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp máy móc thiết bị chủ yếu của công ty thời điểm
31/12/2010 44
Bảng 2.2: Thống kê đội ngũ lao động hiện có thời điểm 31/12/2010 46
Bảng 2.3: Bảng kê tình hình vốn của Công ty năm 2008-2010 49
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của Công ty từ năm 2008-2010 53 Bảng 2.5: Bảng kết cấu vốn lưu động thời điểm 31/12/2010 60
Bảng 3.1: Bảng các chỉ tiêu đặt ra từ năm 2011- 2015 65
Bảng 3.2: Dự án dự kiến đầu tư chiều sâu từ năm 2011-2015 65
Bảng 3.3: Bảng cân đối kế toán dự báo năm 2011 70
Bảng 3.4: Các chỉ tiêu dự báo năm 2011 so sánh với năm trước và với lãi suất ngân hàng 71
Bảng: 3.5: Các chỉ tiêu dự báo năm 2012 - 2015 so sánh với năm trước và với lãi suất ngân hàng 72
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: 3 nguồn huy động vốn chính của doanh nghiệp 30 Biểu đồ 1.2: 3 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tiếp cận các kênh vay
vốn của doanh nghiệp Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 1.3: 3 khó khăn lớn nhất doanh nghiệp phải đối mặt trong việc huy
động vốn thời gian qua 31 Biểu đồ 1.4: Các biện pháp doanh nghiệp sử dụng để đảm bảo vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh 31 Biểu đồ 1.5: 3 giải pháp được doanh nghiệp ưu tiên hàng đầu để tái cấu trúc
lại cơ cấu vốn hiện tại 32 Biểu đồ 1.6: Xu hướng thay đổi cơ cấu vốn trong 1 năm tới 32
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là sinh lợi và phát triển, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn tối thiểu nhất định Quá trình sản xuất kinh doanh từ góc độ tài chính cũng là quá trình phân phối
để tạo lập và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trong quá trình đó, luôn diễn ra sự chuyển hoá biến đổi liên tục của các nguồn tài chính Muốn tồn tại
và phát triển trong môi trường cạnh tranh gay gắt và khốc liệt như hiện nay, mỗi doanh nghiệp phải có một năng lực tài chính nhất định
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư, người cho vay, Nhà nước và người lao động Qua đó họ sẽ thấy được thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh Thông qua tình hình tài chính doanh nghiệp họ có thể rút ra được những quyết định đúng đắn liên quan đến hiệu quả doanh nghiệp và có các giải pháp nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đảm bảo tài chính đối với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung, bằng những kiến thức lý luận đã học được qua nhà trường, tài liệu tham khảo kết hợp với kiến thức thực tế tại nơi công tác, bản thân với nhiệm vụ là một cán
Trang 12bộ quản lý tài chính của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên Tôi mạnh dạn đi sâu và nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên”
2 Ý nghĩa khoa học
Hiện nay, việc đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh chưa được các doanh nghiệp quan tâm và hiểu biết đúng mức, rất nhiều các doanh nghiệp hết sức thụ động và lúng túng trong xây dựng và hoạch định chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển doanh nghiệp Các căn cứ, phương pháp, quy trình để xây dựng phương án đảm bảo tài chính còn có nhiều sai lệch, thiếu cơ sở do vậy dẫn đến phương án không đảm bảo và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng, nhiều doanh nghiệp không đạt được các mục tiêu của chiến lược kinh doanh của mình
Có nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, một trong các biện pháp quan trọng là xác định chính xác, đầy đủ lượng vốn bỏ ra, đảm bảo cung cấp đầy đủ lượng vốn này một cách có kế hoạch cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong trước mắt và trong một thời kỳ lâu dài Khi thực hiện các công việc trên, tức là thực hiện đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Việc nghiên cứu thực hiện đề tài không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn mang tính thực tiễn cao đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hy vọng sự thành công của đề tài sẽ có ý nghĩa tiền đề cho sự thành công trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty cổ phần môi trường và công trình
đô thị Thái Nguyên trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ đô thị và xây dựng, là cơ
sở cho các doanh nghiệp khác tham khảo, xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình được tốt hơn
Trang 133 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu và hệ thống hóa những lý luận và thực tiễn về công tác đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Đánh giá thực trạng tình hình đảm bảo tài chính cho hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên hiện nay
- Xác định nhu cầu tài chính, đưa ra các chính sách, giải pháp đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên giai đoạn năm 2011 - 2015
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Kế hoạch, chiến lược phát triển SXKD của công ty cổ phần môi trường
và công trình đô thị Thái Nguyên trước và trong giai đoạn 2011 - 2015;
- Thực trạng, giải pháp xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Công
ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên;
4.2.2 Phạm vi về nội dung: Xây dựng phương án đảm bảo tài chính
cho chiến lược phát triển của công ty;
4.2.3 Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác tài chính
của công ty qua 3 năm, từ năm 2008 - 2010; xây dựng phương án đảm bảo tài chính cho Công ty từ năm 2011 đến 2015;
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Kết quả nghiên cứu đảm bảo tài chính cho chiến lược phát
triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên
Chương 3: Các giải pháp nhằm đảm bảo tài chính cho chiến lược phát
triển của Công ty cổ phần môi trường và công trình đô thị Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường
1.1.1 Cơ sở lý luận của đảm bảo tài chính đối với hoạt động của doanh nghiệp
1.1.1.1 Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm hoạt động, cung ứng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lời
Trong nền kinh tế thị trường tiền đề để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh là phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Quá trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Trong quá trình đó phát sinh các luồng tiền tệ gắn với hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, các luồng tiền tệ bao hàm các luồng tiền tệ đi vào doanh nghiệp và các luồng tiền tệ xuất ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp
Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế hợp thành các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu sau:
- Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước: Quan hệ này được thể hiện trong việc Nhà nước cấp vốn cho doanh nghiệp và doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp các khoản thuế, lệ phí
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác: Quan hệ này được biểu hiện cụ thể trong các quan hệ:
+ Quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác phát sinh trong việc mua bán tài sản, vật tư, hàng hóa dịch vụ
Trang 15+ Quan hệ thanh toán giữa các doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác trong việc vay hoặc cho vay vốn hay đầu tư vốn
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với công nhân viên trong doanh nghiệp: quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền lương, thưởng , phạt với công nhân viên của doanh nghiệp
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: được thể hiện trong việc quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
Từ những vấn đề nêu trên có thể rút ra:
- Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp [ 9,7]
- Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp [ 9,7]
1.1.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Trước đây trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, do cơ chế quản lý tài chính bao cấp dẫn đến tình trạng tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ giữ một vai trò hết sức thụ động và yếu ớt
Trong điều kiện hiện nay, các doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, hoạt động tài chính của doanh nghiệp ngày càng trở nên quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại, phát triển và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, bởi những lẽ chủ yếu sau:
- Hoạt động tài chính của doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất
cả các hoạt động của một doanh nghiệp
Trang 16- Trong điều kiện kinh doanh hiện nay, nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng lớn Do vậy, sự lựa chọn và sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn và việc sử dụng vốn hiện có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp
- Các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp càng trở nên hết sức quan trọng và cần thiết cho người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp
để kiểm soát và chỉ đạo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:
- Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục [ 9,9]
Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn
và dài hạn cho hoạt động kinh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp Việc thiếu vốn sẽ làm cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được Do vậy, việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp
- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [ 9,10]
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời
và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp chớp được các cơ hội kinh doanh Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện
có vào hoạt động kinh doanh có thể làm giảm bớt và tránh được những thiệt
Trang 17hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được tiền trả lãi vay
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp [ 9,10]
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, người lãnh đạo và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện được kịp thời các tồn tại, vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh
1.1.1.3 Nội dung chủ yếu của đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp
Đảm bảo tài chính doanh nghiệp thường bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Tham gia đánh giá lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh
Việc xây dựng đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tư do nhiều bộ phận trong doanh nghiệp cùng phối hợp thực hiện Trên góc độ tài chính, điều chủ yếu là phải xem xét là hiệu quả tài chính của dự án tức là cần xem xét, cân nhắc giữa chi phí bỏ ra, rủi ro có thể gặp phải và khả năng thu lời khi thực hiện dự án Việc đánh giá phân tích bằng thước đo tài chính nhằm lựa chọn các dự án có mức sinh lời cao Vấn đề quan trọng ở đây là tài chính cần xem xét sử dụng vốn như thế nào? Trên cơ sở tham gia đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, tài chính doanh nghiệp tham gia định hướng phát triển doanh nghiệp Trong đó khi xem xét việc bỏ vốn đầu tư thực hiện dự án cần chú ý tới việc tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao trước mắt cũng như lâu dài
- Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải xác định các nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kỳ hay nói cách khác phải trả lời câu hỏi
Trang 18cần bao nhiêu vốn? Bao hàm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn Và điều cực kỳ quan trong đối với tài chính doanh nghiệp là tổ chức huy động các nguồn vốn đảm bảo kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp Điều
đó có nghĩa là phải trả lời câu hỏi lấy vốn từ đâu Để đi đến việc quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp cần xem xét, cân nhắc trên nhiều mặt Trong đó cần chú ý đến một số vấn đề chủ yếu như: Kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi và bất lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng các nguồn vốn
- Tổ chức sử dụng tốt vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi
và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp phải thường xuyên tìm biện pháp góp phần huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn bị ứ đọng Theo dõi chặt chẽ và thực hiện tốt việc thanh toán thu hồi tiền bán hàng và các khoản thu khác, đồng thời quản lý chặt chẽ mọi khoản chi tiêu phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán Đây là một vấn đề hết sức quan trọng trong công tác đảm bảo tài chính của doanh nghiệp
- Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp
- Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thực hiện tốt việc phân tích tài chính
Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho phép thường xuyên kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác định kỳ phải tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trang 19- Thực hiện tốt việc kế hoạch hóa tài chính
Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch đảm bảo tài chính Thực hiện tốt việc lập kế hoạch tài chính là công việc cần thiết giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động đưa ra các giải pháp kịp thời khi có sự biến động của thị trường Quá trình thực hiện kế hoạnh tài chính cũng là quá trình ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.1.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu tài chính của doanh nghiệp
Nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, sau đây ta xem xét một số nhân tố chủ yếu dưới đây
a) Đặc điểm kinh tế của ngành
Mỗi ngành kinh tế có đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh không giống nhau Sự không giống nhau đó được phản ánh qua những dấu ấn khác nhau về mặt tài chính và cơ chế quản lý tài chính của các doanh nghiệp trong mỗi ngành
- Doanh nghiệp ngành công nghiệp
Đặc điểm tài chính của doanh nghiệp ngành công nghiệp là: Toàn bộ có thể chia thành nhiều xí nghiệp đồng thời có thể hạch toán kết quả kinh doanh trong phạm vi từng xí nghiệp Vì là ngành có năng suất lao động cao, không những có thể trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, nên nói chung các doanh nghiệp công nghiệp có kỹ thuật hiện đại Chu kỳ sản xuất của hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp đều ngắn (trừ ngành đóng tàu và một vài ngành
cơ khí khác ra) Do đó vốn sản phẩm dở dang không nhiều Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được tiến hành thường xuyên Bởi vậy doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với thị trường hàng hóa và thị trường vốn [ 10,13]
- Các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng
Đây là ngành công nghiệp đặc biệt, tài chính ngành xây dựng có những đặc điểm sau đây:
Trang 20+ Vì thời gian thi công dài, nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng phần khối lượng công trình chứ không phải chờ đến khi công trình hoàn tất mới thanh toán như trong công nghiệp
+ Phần lớn số vốn của ngành xây dựng bỏ vào những công trình chưa hoàn thành Vì vậy phải cố gắng tập trung tiền vốn để rút ngắn thời gian thi công xây dựng Việc rút ngắn kỳ hạn thi công xây dựng có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiết kiệm vốn, tăng thêm lợi nhuận cho ngành xây dựng [10,13]
- Các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp
Quá trình tăng trưởng sản phẩm của ngành nông nghiệp là quá trình tăng trưởng tự nhiên của cây trồng hoặc vật nuôi, vì vậy chúng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Khi điều kiện tự nhiên thuận lợi thì được mùa, bội thu Ngược lại khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì mất mùa, có khi mất trắng Do đó hiệu quả của tiền vốn bỏ ra trong nông nghiệp không ổn định như các ngành kinh tế khác
Tài sản cố định của ngành nông nghiệp ngoài máy móc thiết bị, nhà xưởng còn có cả cây, con Vì thế tài sản cố định của ngành nông nghiệp có thể tăng giá sau quá trình sử dụng Đòi hỏi chính sách quản lý tài chính của doanh nghiệp nông nghiệp có những đặc thù riêng [ 10,14]
- Các doanh nghiệp thương mại dịch vụ
Chu kỳ kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp thương mại dịch vụ thường rất ngắn Vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ vốn kinh doanh, chủ yếu là vốn hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, vì thế vốn vay ngắn hạn của doanh nghiệp thường cao hơn các ngành khác
b) Chính sách của Nhà nước
Các chính sách kinh tế của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến tài chính của các doanh nghiệp như chính sách thuế, khấu hao, lãi vay
Trang 21- Thuế: Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp phải nộp nhiều khoản thuế cho Nhà nước Các chính sách thuế của nhà nước đều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Hầu hết các quyết định trong quản
lý tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng đến đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp
- Khấu hao tài sản cố định: Khấu hao được xem như là một khoản chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế doanh nghiệp, do đó nó được xem như là một yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm thuế Chính sách khấu hao tài sản cố định của nhà nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp
- Lãi vay: Về nguyên tắc, các doanh nghiệp chỉ vay khi hoạt động có hiệu quả cao, số lãi đạt được do sử dụng vốn vay phải lớn hơn lãi tiền vay phải trả Tuy nhiên theo quy định của nhà nước, cho phép các doanh nghiệp được tính khấu trừ lãi vay vào thu nhập chịu thuế làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, cho nên nó là yếu tố giúp công ty tiết kiệm thuế [10,18]
c) Hệ thống tài chính
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có lúc tạm thời thừa vốn, nhưng cũng có lúc tạm thời thiếu hụt vốn Việc giải quyết những nhu cầu thừa thiếu trên được thông qua hệ thống tài chính Tùy theo mức độ khác nhau nhưng hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đều gắn liền với hệ thống tài chính bao gồm: Thị trường tài chính, các tổ chức tài chính và các công cụ tài chính
Khi doanh nghiệp thừa vốn, lãnh đạo doanh nghiệp cần quyết định nên đầu tư số vốn tạm thời dư ra vào thị trường tài chính hay vào các tổ chức tài chính nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tạm thời thiếu hụt vốn, cần quyết định nên tìm nguồn tài trợ từ thị trường tài chính hay
Trang 22từ các tổ chức tài chính Ngoài ra doanh nghiệp còn phải quyết định xem xét nên đầu tư hay nên phát hành loại công cụ tài chính nào cho phù hợp Vì vậy đảm bảo tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp luôn gắn liền với hệ thống tài chính [ 10,19]
1.1.1.5 Nội dung và phương pháp đảm bảo tài chính cho chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Để các mục tiêu chiến lược phát triển của doanh nghiệp thực hiện thành công, doanh nghiệp cần phải sử dụng đồng bộ một loạt các chính sách, trong
đó chính sách đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh là một chính sách hết sức quan trọng Để xây dựng chính sách đảm bảo tài chính cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp chính xác, đầy đủ, có tính thực thi ta phải dựa trên các căn cứ, cơ sở phù hợp đáng tin cậy, và có phương pháp tiên tiến tuân thủ theo quy trình
Vấn đề đầu tiên được đặt ra trong xây dựng chính sách đảm bảo tài chính là phải xác định nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở nhu cầu tài chính ta xây dựng phương án để đáp ứng nhu cầu theo một cơ cấu hợp lý
a) Xác định nhu cầu vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
* Vốn kinh doanh
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời [ 9,57]
Các đặc trưng của vốn kinh doanh bao gồm:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định, có nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp
- Vốn phải vận động để sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 23- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào kinh doanh
- Vốn phải có giá trị về mặt thời gian, điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và tính hiệu quả của đồng vốn
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn
vô chủ và không ai quản lý
- Vốn được quan niệm như là một hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt, có thể mua hoặc bán quyền sử dụng vốn trên thị trường, tạo nên sự giao lưu sôi động trên thị trường vốn, thị trường tài chính
- Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng tiền của các tài sản vô hình
Nội dung của vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định
Vậy: Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng
trước về tài sản cố định; đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố định về mặt giá trị [ 9,64]
Vốn cố định của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh Việc đầu tư đúng hướng vào vốn cố định sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao trong kinh doanh, góp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và phát triển bền vững trong kinh tế thị trường
Trang 24- Vốn lưu động
Trước khi bước vào kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần một số vốn
để đầu tư vào các tài sản trên, số tiền ứng trước về các tài sản đó được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu
từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư - hành hóa và quay lại hình thái tiền
tệ Vì trong quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục cho nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng có tính chất chu kỳ thành sự chu chuyển của tiền vốn
Do sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các
bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong kinh doanh
Tóm lại: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình
thành lên các tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục [ 9,85]
Căn cứ vào công dụng của các loại tài sản lưu động của doanh nghiệp thì vốn lưu động bao gồm các khoản vốn sau:
+ Vốn lưu động trong quá trình dự trữ
+ Vốn lưu động nằm trực tiếp trong quá trình sản xuất - kinh doanh + Vốn lưu động trong quá trình tiêu thụ
Dựa theo hình thái biểu hiện và chức năng của các thành phần vốn lưu động có thể chia thành:
+ Vốn vật tư, hàng hóa
+ Vốn tiền tệ
Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng của từng loại vốn lưu động trong tổng
số vốn lưu động Nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp chúng ta thấy được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn chiếm trong mỗi giai đoạn luân chuyển, từ đó xác định được trọng điểm quản lý vốn lưu động
Trang 25* Phương pháp xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp
- Căn cứ xác định nhu cầu vốn kinh doanh
Xác định vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp tức là xác định mức tài sản, nhu cầu tài sản bổ sung để đáp ứng thực hiện chỉ tiêu doanh thu và các tỷ số tài chính mục tiêu của kỳ kế hoạch Như vậy căn cứ để xác định nhu cầu vốn kinh doanh cho hoạt động của doanh nghiệp được thông qua các chỉ tiêu sau:
+ Doanh thu kỳ kế hoạch
+ Các tỷ số tài chính kỳ kế hoạch
Các tỷ số khả năng thanh toán
Các chỉ số quản lý tài sản
Vòng quay Doanh thu
Hàng tồn kho Hàng tồn kho trong kỳ
thu nợ Doanh thu/360
Trang 26Vòng quay Doanh thu
tổng tài sản Tổng tài sản
Các chỉ số khả năng quản lý vốn vay
số nợ Tổng tài sản
thanh toán lãi vay Lãi vay
Các chỉ số khả năng sinh lợi
thuế trên doanh thu Doanh thu
thuế trên tài sản Tổng tài sản
thuế trên vốn cổ phần Tổng vốn góp cổ phần
Dựa trên chỉ tiêu doanh thu và các tỷ số tài chính nêu trên chúng ta xây dựng phương pháp xác định nhu cầu vốn cho kinh doanh của doanh nghiệp
- Phương pháp xác định nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp
Phương pháp xác định nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện qua các bước sau đây:
Bước1: Xác định chỉ tiêu doanh thu kỳ kế hoạch (DTKH) cho các loại sản phẩm, dịch vụ
Ta biết doanh thu tiêu thụ đòi hỏi phải có sự cân bằng nhất định với nhu cầu vốn của doanh nghiệp Do đó khi tăng doanh thu đòi hỏi phải có sự tăng nhu cầu vốn Tuy nhiên sự gia tăng doanh thu không nhất thiết dòi hỏi sự gia tăng cùng tỷ lệ của nhu cầu vốn mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và khả năng quản trị của doanh nghiệp
Trang 27Căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, môi trường kinh doanh, đối thủ cạnh tranh, các sản phẩm thay thế của từng loại sản phẩm để xác định doanh thu của từng loại sản phẩm, dịch vụ trong kỳ kế hoạch
Bước 2: Xây dựng chỉ tiêu doanh thu trên tổng nhu cầu vốn cho từng loại sản phẩm (vòng quay của tổng tài sản)
Ta có chỉ số:
tài sản (VQTTS) Tổng tài sản (Tổng nhu cầu vốn)
Căn cứ vào chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ trước để xây dựng các chỉ tiêu vòng quay tổng tài sản kỳ kế hoạch của từng loại sản phẩm ở mức độ tin cậy nhất
Bước 3 Tính toán sự gia tăng của các khoản phải thu của kỳ kế hoạnh
so với kỳ trước của từng loại sản phẩm
Căn cứ vào các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ trước, tính toán và dự báo khả năng thu nợ của từng loại sản phẩm để xây dựng các chỉ tiêu kỳ thu nợ kỳ kế hoạch
Sự gia tăng Kỳ thu nợ Kỳ thu nợ Doanh thu
khoản phải = kỳ kế hoạnh - kỳ trước x kỳ kế hoạch 360 thu (GTKPT) (KTN KH) (KTN KT) (DT KH)
Đây là khoản chênh lệch gia tăng khoản phải thu giữa kỳ kế hoạch và
kỳ trước Nói cách khác đây là khoản chênh lệch vốn gia tăng bị khách hàng chiếm dụng của kỳ kế hoạch so với kỳ trước
Bước 4 Xác định nhu cầu vốn để đầu tư đổi mới tài sản cố định: Căn
cứ vào dây chuyền công nghệ hiện có, phân tích khả năng đáp ứng các mục tiêu của kế hoạch kỳ tới và chiến lược phát triển của doanh nghiệp, xác định
=
=
Trang 28có phải sửa chữa, đầu tư mở rộng hay thay đổi dây chuyền công nghệ hay không Nếu có sự thay đổi phải tính toán xem xét các phương án hợp lý giữa mua mới hoặc thuê tài sản Nếu đầu tư mới, ta căn cứ vào nhu cầu cần thiết phải đổi mới các loại tài sản cố định của doanh nghiệp, giá bán dự báo của các tài sản đó và sau khi trừ đi phần giá trị thanh lý tài sản cũ thu hồi (nếu có)
Nhu cầu vốn Giá trị mua Giá trị thu
tài sản cố định = mới của tài - hồi của tài sản cố
đầu tư (VTSCĐĐT) sản cố định định thanh lý
+ Tính toán nhu cầu vốn cố định kỳ kế hoạch
Nhu cầu vốn Doanh thu Vòng quay
cố định kỳ = dự kiến của : vốn cố định
kế hoạch (VCĐKH) kỳ kế hoạch kỳ kế hoạch
Ta biết nhu cầu vốn cố định năm kế hoạch do phần vốn cố định còn lại sau khi đã thanh lý một số tài sản và một phần vốn cố định mới đầu tư tài sản đáp ứng do đó:
Phần vốn cố định Nhu cầu Phần vốn cố định
đầu tư mới đáp ứng = vốn cố định - kỳ trước còn lại sau cho nhu cầu vốn cố định kỳ kế hoạch khi đã thanh lý tài sản
kỳ kế hoạch (VCĐBS)
Bước 5 Xác định tổng nhu cầu vốn
+ Nhu cầu vốn cần cho kinh doanh các loại sản phẩm (VKD)
Trang 29Bước 6: Xác định nhu cầu vốn bổ sung
Sau khi đã xác định được tổng nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kỳ kế hoạch, ta phải xác định được nhu cầu vốn
bổ sung là bao nhiêu? và nhu cầu vốn bổ sung này được đảm bảo bằng các nguồn như thế nào Vấn đề đặt ra là khi sử dụng vốn doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí và khoản chi phí này sẽ ảnh hưởng đến lãi của doanh nghiệp Mặt khác ta cũng cần phải xem xét khi sử dụng nguồn vốn bổ sung này nó ảnh hưởng như thế nào, có đảm bảo được các tỷ số tài chính mục tiêu hay không? các tỷ số tài chính này cho thấy doanh nghiệp đang ở mức nào?
Để giải quyết các vấn đề trên ta phải thiết lập được báo cáo tài chính cho kỳ kế hoạch của doanh nghiệp Thông thường người ta sử dụng phương pháp bảng cân đối dự toán để lập báo cáo tài chính cho kỳ kế hoạch
Phương pháp bảng cân đối dự toán được thực hiện qua các bước như sau: + Lập báo cáo thu nhập cho kỳ kế hoạch
Mục đích của việc lập báo cáo thu nhập là để xác định phần lợi nhuận giữ lại mà doanh nghiệp có thể có trong kỳ hoạt động tới
Ta biết khi doanh thu tăng lên thì cần được hỗ trợ bởi mức tài sản cao hơn, hoặc nói cách khác khi doanh thu tăng thì tài sản của doanh nghiệp nhất thiết phải tăng lên Doanh nghiệp cần nhiều tiền mặt hơn cho các nghiệp vụ, doanh thu tăng dẫn tới mở rộng diện và quy mô bán chịu làm khoản phải thu tăng lên, đồng thời hàng lưu kho sẽ tăng
Mặt khác một khi tài sản tăng lên thì phần tài sản gia tăng cũng phải được cung cấp tài chính tương ứng, tức nguồn vốn của doanh nghiệp phải được đáp ứng
Trước hết ta dự kiến tỷ lệ tăng giá thành, khấu hao, thuế, tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu
Tỷ lệ cổ tức được xác định theo mục tiêu kế hoạch
Trang 30 Vì chưa biết vốn vay cần bổ xung, nên ta giả định lãi vay không tăng Trên cơ sở các dự kiến trên ta xác định được khoản lợi nhuận giữ lại để
bổ sung vốn (chưa tính đến yếu tố tăng lãi vay)
+ Lập bảng cân đối dự toán cho kỳ kế hoạch
Theo đẳng thức kế toán:
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Khi doanh thu tăng lên thì các tài sản của doanh nghiệp như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định cũng phải tăng lên; do đó phần nguồn vốn của doanh nghiệp cũng phải tăng tương ứng Ta xác định mức tăng của các nguồn vốn này
Một số khoản mục có xu hướng tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu:
phải trả tăng lên
Doanh thu tăng làm cho các khoản nợ định mức (nợ định kỳ) cũng tăng lên
Một số khoản mục có xu hướng tăng không cùng tăng tỷ lệ với doanh thu:
thu vì:
Lợi nhuận giữ lại mới = Lợi nhuận giữ lại cũ + Gia số
Tương tự các khoản vay ngắn hạn, dài hạn, vốn cổ phần sẽ tăng nhưng không tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu, sự thay đổi của chúng phụ thuộc vào quyết định của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp
Ở bước này, các khoản mục phía nguồn vốn có xu hướng tăng cùng với
tỷ lệ tăng doanh thu được xác định tăng tương ứng; còn các khoản có xu hướng không tăng cùng với tỷ lệ tăng doanh thu thì tạm giữ nguyên như kỳ trước (sẽ điều chỉnh ở các bước sau)
Trang 31Như vậy ở bước này, ta xác định được nhu cầu vốn bổ sung bằng sự chênh lệch giữa nhu cầu tài sản và vốn tự phát; phần vốn này sẽ được trang trải bằng các nguồn vốn huy động từ bên ngoài
+ Dự kiến huy động vốn bổ sung
Việc huy động vốn bổ sung từ bên ngoài có nhiều hình thức, lựa chọn hình thức nào, Mỗi hình thức là bao nhiêu phải căn cứ dựa trên:
Cơ cấu vốn mục tiêu
Thực trạng thị trường vốn vay
Các quy chế vay nợ hiện hành
Vấn đề nảy sinh khi doanh nghiệp vay thêm vốn, lãi vay sẽ tăng, đồng thời nếu phát hành thêm cổ phiếu, tổng cổ tức sẽ tăng Điều này phải được phản ánh vào báo cáo thu nhập trong quá trình kế hoạch
+ Điều chỉnh phản hồi
Từ các bước trên ta nhận thấy:
Tăng doanh thu dẫn tới tài sản tăng
Tăng tài sản dẫn tới cần thiết huy động vốn bổ sung
Huy động vốn bổ sung làm tăng thêm chi phí
Các chi phí tăng dẫn đến gia số lợi nhuận giữ lại giảm
Để giải quyết các vấn đề trên được gọi là quá trình điều chỉnh phản hồi Quá trình được tiến hành như sau:
thu nhập giảm xuống
Phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng:
lợi nhuận giữ lại mới giảm bao nhiêu?
Trang 32 Khi lợi nhuận giữ lại giảm sẽ làm cho nguồn vốn giảm đi và mất cân bằng với tài sản Khoản chênh lệch này lại là phần vốn cần bổ sung thêm
Tiếp tục phản ánh các thay đổi và xem xét ảnh hưởng
Quá trình điều chỉnh được tiếp tục thực hiện với phần vốn bổ sung mới sau một số lần điều chỉnh sự chênh lệch giữa tài sản và nguồn vốn nhỏ ở mức doanh nghiệp chấp nhận được thì kết thúc quá trình điều chỉnh Sau khi kết thúc quá trình điều chỉnh, xác định nhu cầu vốn bổ sung
Nhu cầu vốn bổ sung (NCVBS) = Tổng nhu cầu vốn kỳ kế hoạch (TNCV) - Tổng vốn hiện có(VHC) - Vốn tự phát gia tăng (VTPGT) - gia số lợi nhuận giữ lại (GSLNGL)
nhờ các nghiệp vụ thường kỳ của hoạt động kinh doanh, bao gồm: Khoản phải trả khách hàng khi mua chịu, nợ tích lũy (tiền lương, thuế giữa các kỳ thanh toán)
lại nhằm tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh [ 13,37]
+ Phân tích kết quả dự báo
Từ kết quả của việc lập báo cáo thu nhập, báo cáo kế toán, ta tiến hành phân tích các chỉ số tài chính chủ yếu như:
Chỉ số lưu động
Vòng quay hàng tồn kho
Kỳ thu nợ
Vòng quay tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế trên doanh thu
Lợi nhuận trước thuế trên tài sản
Lợi nhuận trước thuế trên vốn cổ phần
Trang 33So sánh các chỉ số tài chính của doanh nghiệp với các chỉ số năm trước, chỉ số mục tiêu Từ đó nhận định về vị thế tài chính của doanh nghiệp và cần phải có biện pháp, phương hướng, chính sách quản lý để thay đổi các chỉ số tài chính không tốt, không phù hợp mục tiêu
Ngoài việc xác định tổng nhu cầu vốn và nhu cầu vốn bổ sung cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói trên, nhiều khi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần những thông tin nhanh chóng về nhu cầu vốn để có những quyết định phù hợp, các doanh nghiệp có thể xác định thêm nhu cầu vốn cố định và vốn lưu động đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
b) Cơ cấu nguồn vốn và phương pháp đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Cơ cấu nguồn vốn
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả (nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp)
Tỷ trọng giữa nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp so với tổng số nguồn vốn gọi là cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn cho ta biết trong tổng số vốn đang sử dụng có bao nhiêu phần là vốn được huy động từ bên ngoài qua đó thấy được mức độ tham gia của vốn chủ sở hữu Một cơ cấu nguồn vốn hợp lý phản ánh được sự kết hợp hài hòa giữa các khoản vay nợ dài hạn, nợ ngắn hạn với các khoản vốn hình thành từ vốn góp (hoặc ngân sách), từ khấu hao và lợi nhuận để lại Vậy xem xét cơ cấu nguồn vốn cho ta biết nghệ thuật điều hành, sử dụng các khoản nợ đi vay của doanh nghiệp để làm tăng lợi nhuận Thông qua cơ cấu nguồn vốn, có thể
đo được sự đóng góp của vốn chủ sở hữu so với số nợ đi vay thông qua cơ cấu nguồn vốn cao hay thấp có thể biết được mức độ đảm bảo cho các khoản
nợ đi vay có khả năng hoàn trả đúng hạn hay không
Trang 34- Các chính sách tài chính của doanh nghiệp
Tùy theo tình hình tài chính cụ thể của từng doanh nghiệp, các chỉ số mục tiêu kỳ kế hoạch; doanh nghiệp chọn chính sách tài chính cho phù hợp
+ Đối với vốn cố định
Để cung cấp vốn cố định cho nhu cầu vốn bổ sung của doanh nghiệp, ta
có thể lựa chọn hai hình thức là mua tài sản và thuê tài sản
Thông thường, người ta so sánh giá trị hiện tại của chi phí mua với giá trị hiện tại của chi phí thuê tài sản trên cơ sở xác định dòng tiền của dự án mua và dòng tiền của dự án thuê tài sản để quyết định Nếu hình thức nào có giá trị hiện tại lớn hơn sẽ là hình thức để doanh nghiệp quyết định
+ Đối với vốn lưu động
Chính sách vốn lưu động là tập hợp các chủ trương và biện pháp cơ bản của doanh nghiệp liên quan đến: Mức tài sản lưu động mục tiêu, tức là tổng giá trị của mỗi loại tài sản lưu động mà doanh nghiệp cần duy trì và cách thức cung cấp tài chính cho các tài sản lưu động đó
Căn cứ vào chu kỳ vận động của tiền và các chỉ số tài chính mục tiêu
để xác định giá trị của mỗi loại tài sản lưu động doanh nghiệp cần duy trì
Các chính sách đầu tư vốn lưu động:
Chính sách vốn lưu động “lỏng lẻo”: Là một chính sách theo đó người ta duy trì một khối lượng lớn tiền mặt, chứng khoán dễ bán và hàng lưu kho, đồng thời doanh thu bán ra được khuyến khích bằng các điều khoản bán chịu rộng rãi, do đó các khoản phải thu cũng tăng lên
Đây là một chính sách an toàn cho công ty trước khả năng nhu cầu thị trường tăng lên đột ngột, tuy nhiên hiệu quả kinh doanh thấp [ 13, tr.49]
gắng duy trì một khối lượng hạn chế về tiền mặt, chứng khoán và hàng lưu kho, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các điều khoản bán chịu để giảm tới mức thấp nhất khoản phải thu
Trang 35Đây là một chính sách có thể mang lại lợi nhuận cao cho công ty, nhưng đồng thời cũng là một chính sách rủi ro nếu có những biến động bất thường [ 13,50]
người ta cố gắng duy trì mức đầu tư trung bình vào vốn lưu động, do đó lợi nhuận và rủi ro ở mức trung bình [ 13,50]
Các doanh nghiệp phải căn cứ vào thực tế năng lực tài chính, vào môi trường kinh doanh, đặc điểm ngành nghề kinh doanh và dặc biệt là các tỷ
số tài chính mục tiêu để lựa chọn chính sách đầu tư hợp lý
Các chính sách tài trợ vốn lưu động (chính sách cung cấp tài chính cho các tài sản lưu động)
Tài sản lưu động thường xuyên là các tài sản doanh nghiệp vẫn duy trì ngay cả trong một thời kỳ không cao điểm của hoạt động kinh doanh
Tài sản lưu động tạm thời là những tài sản thường biến đổi theo các biến động mang tính thời vụ hoặc chu kỳ của hoạt động kinh doanh
nhận rủi ro bằng cách dùng các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời và một phần tài sản lưu động thường xuyên
các nguồn vốn dài hạn để tài trợ cho toàn bộ tài sản thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời Đây là một chính sách an toàn cho các hoạt động của các doanh nghiệp
Chính sách phối hợp kỳ hạn: Là một chính sách theo đó doanh nghiệp cố gắng đến mức cao nhất nhằm phối hợp kỳ hạn của tài sản và nguồn vốn, sao cho: Tài sản lưu động lâm thời được tài trợ bằng nợ ngắn hạn không
tự phát và tài sản lưu động thường xuyên, tài sản cố định được tài trợ bởi nợ dài hạn hoặc vốn cổ phần cộng nợ tự phát [ 13,50-51]
Trang 36Việc doanh nghiệp lựa chọn chính sách tài trợ nào phải tuỳ thuộc và điều kiện tài chính cụ thể của từng doanh nghiệp và trong các thời kỳ nhất định để đạt được hiệu quả cao nhất
- Phương pháp huy động nguồn vốn đảm bảo nhu cầu tài chính cho doanh nghiệp
Trên cơ sở xác định được nhu cầu vốn bổ sung cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải tổ chức huy động các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh này
Huy động vốn để đảm bảo nhu cầu tài chính cho hoạt động của doanh nghiệp có thể thực hiện từ hai nguồn: Nguồn vốn từ bên trong và nguồn vốn
từ bên ngoài
+ Huy động nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp
Nhìn nhận về cơ bản lâu dài, nguồn vốn từ bên trong là yếu tố đảm bảo cho sự phát triển vững chắc của một doanh nghiệp và cũng chính là sự thể hiện phát huy nội lực của doanh nghiệp Nguồn vốn bên trong bao gồm các nguồn sau:
Tiền khấu hao cơ bản tài sản cố định
Lợi nhuận để lại tái đầu tư
Tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành thêm cổ phiếu
Giải phóng thu hồi nhanh vốn các tài sản vật tư ứ đọng không cần dùng + Huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
Nhìn chung huy động vốn bên trong của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay còn hạn chế Để đáp ứng nhu cầu về vốn doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài
Những điểm lợi và bất lợi của hình thức huy động vốn: Thông thường mỗi hình thức huy động vốn đều đưa lại những lợi ích nhất định
Trang 37cho doanh nghiệp, đồng thời nó cũng có những hạn chế và đưa lại những điểm bất lợi
bên ngoài doanh nghiệp phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn Điều đó đòi hỏi phải tính toán chi phí sử dụng vốn huy động từ các nguồn khác nhau Điều quan trọng là đánh giá được hiệu quả của đồng vốn huy động bỏ vào kinh doanh, cần tính đến yếu tố rủi ro có thể gặp phải Vấn đề chủ yếu để quyết định lựa chọn nguồn vốn huy động kinh doanh là so sánh chi phí sử dụng vốn
và hiệu quả vốn đầu tư mang lại Trong đó, cần tính đến chi phí cơ hội đầu tư
dụng Đây là hình thức huy động vốn từ bên ngoài có tính chất truyền thống của các doanh nghiệp
Mua thiết bị trả chậm của các hãng cung cấp thiết bị
Thực hiện liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác
Thuê tài sản
Trong hoạt động kinh doanh, thuê tài sản là một phương thức giúp cho doanh nghiệp thiếu vốn vẫn có được tài sản cần thiết sử dụng vào hoạt động kinh doanh của mình Có hai phương thức giao dịch chủ yếu: Thuê vận hành
và thuê tài chính
Trái phiếu doanh nghiệp là chứng chỉ vay vốn do doanh nghiệp phát hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của doanh nghiệp thanh toán số lợi tức
và tiền vay vào những thời hạn đã xác định cho người nắm giữ trái phiếu
Doanh nghiệp là người phát hành và với tư cách là người đi vay Thông qua việc bán trái phiếu ra công chúng doanh nghiệp có thể thực hiện vốn vay
Trang 38trung hạn và dài hạn để đầu tư phát triển Người mua trái phiếu với tư cách là người cho vay
Việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của doanh nghiệp còn rất hạn chế Tuy nhiên khi thị trường chứng khoán phát triển thì trái phiếu sẽ trở thành công
cụ quan trọng để doanh nghiệp huy động thêm vốn đầu tư qua thị trường
1.1.2 Kinh nghiệm thực tiễn về công tác huy động đảm bảo nguồn vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam và Nhật Bản
1.1.2.1 Thực tiễn công tác huy động vốn của các doanh nghiệp Việt nam hiện nay
Dù kinh tế vĩ mô đã có chuyển biến theo hướng tích cực, một số lĩnh vực có dấu hiệu trở lại quỹ đạo ổn định, nhưng tình hình kinh tế 6 tháng cuối năm 2011 được dự đoán còn nhiều khó khăn, thách thức Đặc biệt là tăng trưởng kinh doanh của doanh nghiệp sẽ giảm trong thời gian tới Bởi lãi suất cho vay cao, trong khi giá nguyên nhiên liệu có nhiều biến động đã khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp tục sản xuất, thậm chí là phá sản Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất (bao gồm
cả nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu và sản xuất trong nước) tăng 18,32%, trong đó có một số loại còn tăng cao hơn, như giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản tăng tới 26,2%, cho sản xuất thực phẩm, đồ uống và thuốc lá tăng 19,8%, cho sản xuất than cốc, sản phẩm dầu
mỏ tinh chế tăng 19,6%
Theo tổng hợp của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI), trong sáu tháng đầu năm có 39.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động Nhưng điều quan trọng là số lượng doanh nghiệp đang thực sự hoạt động không nhiều như số liệu đăng ký, do có khoảng 30% doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động hoặc chưa hoạt độ
Lãi suất vay ngân hàng ở mức cao và kéo dài, nhiều doanh nghiệp đã phải thu hẹp sản xuất, lao động phải ngừng nghỉ việc do khó tiếp cận được
Trang 39nguồn vốn này, hoặc vay được nhưng với lãi suất vượt xa so với khả năng sinh lời của doanh nghiệp Tăng trưởng tín dụng của ngân hàng vì thế cũng thấp và nợ xấu của ngân hàng vì thế mà tăng lên
Theo kết quả khảo sát tại Hội nghị Thường niên Việt Nam CFO năm
2011 với 300 doanh nghiệp tham dự, 32% doanh nghiệp được hỏi cho biết vay vốn ngân hàng vẫn là nguồn huy động vốn chính trong thời gian qua Hai hình thức huy động vốn phổ biến tiếp theo là huy động vốn trong nội bộ doanh nghiệp (21%) và vốn đối ứng của khách hàng (17%)
Mặc dù tín dụng ngân hàng vẫn là kênh truyền thông được ưa chuộng, nhưng các doanh nghiệp cho rằng lạm phát và lãi suất cao, cộng với tỷ giá không ổn định và thắt chặt cho vay và hạn mức tín dụng quá khắt khe của các ngân hàng đang là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
Có tới 40% doanh nghiệp cho rằng khó khăn lớn nhất mà họ phải đối mặt là lãi suất và các loại phí đi vay quá cao, đồng thời, khó đáp ứng điều kiện cho vay của các nhà đầu tư hay bên cung ứng vốn
Trong bối cảnh siết tín dụng và thị trường chứng khoán ảm đạm như hiện nay, doanh nghiệp cho rằng quan trọng nhất là phải tái cấu trúc nguồn vốn để sử dụng hiệu quả đồng vốn hiện có của doanh nghiệp, tối ưu hóa các nguồn vốn nhàn rỗi và thu hẹp danh mục đầu tư với những dự án chưa cần thiết để tiết kiệm chi phí
Dưới đây là một số kết quả khảo sát được thực hiện tại Hội nghị thường niên Vietnam CFO Summit 2011 được tổ chức ngày 10/06/2011 tại Khách
sạn Sheraton (Hà Nội) với chủ đề: "Tối ưu hóa cấu trúc vốn và Hiệu quả huy
động vốn - Tận dụng cơ hội bứt phá trong giai đoạn bất ổn":
Trang 40Biểu đồ 1.1: 3 nguồn huy động vốn chính của doanh nghiệp
Biểu đồ 1.2: 3 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến việc tiếp cận các kênh vay vốn
của doanh nghiệp
Vốn đối ứng của khách hàng
Phát hành trái phiếu Phát hành cổ phiếu Huy động vốn trong nội bộ doanh nghiệp
Vay vốn ngân hàng
11%
34%
Khác Những yếu tố liên quan đến quản trị DN Những yêu cầu từ phía nhà đầu tư Thắt chặt cho vay và hạn mức tín dụng khắt khe của các NH
Tỷ giá không ổn định
Sự suy giảm của thị trường chứng khoán
Lạm phát và lãi suất cao
16%
27%
4%
7%