1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị

98 681 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 754,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn VŨ MINH ĐỨC XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ LOẠI VI KHUẨN TRONG BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở LỢN NÁI NGOẠI SINH

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

VŨ MINH ĐỨC

XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ LOẠI VI KHUẨN TRONG BỆNH VIÊM TỬ CUNG

Ở LỢN NÁI NGOẠI SINH SẢN NUÔI TẠI THÀNH PHỐ

THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

VŨ MINH ĐỨC

XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN VÀ TỶ LỆ MỘT SỐ LOẠI VI KHUẨN TRONG BỆNH VIÊM TỬ CUNG

Ở LỢN NÁI NGOẠI SINH SẢN NUÔI TẠI THÀNH PHỐ

THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ

Chuyên ngành: Thú Y

Mã số: 60.62.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

1 TS LƯU THỊ KIM THANH

2 TS PHẠM ĐỨC CHƯƠNG

THÁI NGUYÊN, NĂM 2010

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả

Vũ Minh Đức

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành bản luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn sâu sắc về sự giúp đỡ của thầy cô

hướng dẫn khoa học: TS Lưu Thị Kim Thanh và TS Phạm Đức Chương đã

tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và xây dựng luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, công nhân viên của Trại giống lợn Tân Thái và Trang trại Chi Hùng - thành phố Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân viên, kỹ thuật viên Khoa Vi sinh - Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể bạn bè đồng nghiệp đã giúp

đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian làm việc, học tập và thực hiện luận văn

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình tôi đã tận tình giúp đỡ tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2010

Vũ Minh Đức

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn cái 4

1.1.1 Buồng trứng (Ovarium) 4

1.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus) 5

1.1.3 Tử cung (Uterus) 5

1.1.4 Âm đạo (Vagina) 6

1.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis) 7

1.1.6 Âm vật (Clitoris) 7

1.1.7 Âm hộ (Vulva) 7

1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái 7

1.2.1 Sự thành thục về tính 7

1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp 8

1.2.3 Sinh lý đẻ 11

1.3 Sơ lược về Bệnh viêm tử cung (Metritis) 14

1.3.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung 14

1.3.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung 16

1.3.3 Các thể viêm tử cung 17

1.3.4 Chẩn đoán viêm tử cung 19

1.3.5 Phòng và điều trị bệnh viêm tử cung 20

1.4 Một số vi khuẩn thường gặp trong dịch tiết đường sinh dục của lợn 24

1.4.1 Nhóm vi khuẩn cố định 25

1.4.2 Nhóm vi khuẩn không cố định 31

1.5 Hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn 32

1.6 Các loại kháng sinh sử dụng trong nghiên cứu của khóa luận 33

1.6.1 Kháng sinh Penicillin và Ampicillin 34

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.6.2 Kháng sinh Neomycin, Gentamicin và Streptomycin 35

1.6.3 Kháng sinh Tetracyclin, Doxycyclin và Oxytetracyclin 36

1.6.4 Kháng sinh Norfloxacin 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Đối tượng nghiên cứu 39

2.2 Vật liệu nghiên cứu 39

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39

2.4 Nội dung nghiên cứu 40

2.4.1 Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn tại thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 40

2.4.2 Xác định thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn nuôi cấy và phân lập được từ dịch tử cung, âm đạo của lợn nái bình thường và lợn nái bị bệnh viêm tử cung 40

2.4.3 Xác định mức độ mẫn cảm kháng sinh của các loại vi khuẩn phân lập được 40

2.4.4 Theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung 41

2.4.5 Theo dõi ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái 41

2.4.6 Khảo nghiệm mối quan hệ giữa tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung và tỷ lệ lợn con phân trắng 41

2.4.7 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh 41

2.5 Phương pháp nghiên cứu 41

2.5.1 Phương pháp điều tra số lợn, mắc bệnh viêm đường sinh dục tại các trang trại chăn nuôi lợn ngoại tập trung tại TP Thái Nguyên 41

2.5.2 Phương pháp lấy mẫu 41

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.5.3 Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn 42 2.5.4 Phương pháp làm kháng sinh đồ và xác định tính mẫn cảm với một số loại kháng sinh của các loại vi khuẩn 42 2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 43 2.6 Bố trí thí nghiệm 44 2.6.1 Thí nghiệm xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các vi khuẩn phân lập được 44 2.6.2 Thí nghiệm ứng dụng điều trị bệnh viêm tử cung lợn nái theo các phác đồ điều trị 45 2.6.3 Thí nghiệm theo dõi ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái 45

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46 3.1 Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại được nuôi ở một số trang trại tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 46 3.1.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại tại một số trại chăn nuôi lợn tập trung của thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 46 3.1.2 Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn theo tuổi sinh sản 49 3.1.3 Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn theo mùa vụ 51 3.2 Xác định thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn có trong chất tiết đường sinh dục của lợn bình thường và của lợn bị bệnh viêm tử cung 53 3.2.1 Thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập được từ chất tiết đường sinh dục của lợn bình thường 53 3.2.2 Thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập được từ dịch rỉ viêm của lợn bị bệnh viêm tử cung 55 3.2.3 Kết quả xác định số lượng các vi khuẩn phân lập được trong dịch tử cung, âm đạo của lợn bình thường và lợn mắc bệnh viêm tử cung 57

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.3 Xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các loại vi khuẩn phân lập

được từ dịch viêm tử cung, âm đạo của lợn nái bị bệnh viêm tử cung 58

3.3.1 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus 58

3.3.2 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella 61

3.3.3 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.coli 63

3.3.4 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus 65

3.3.5 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas 67

3.4 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của của tập đoàn vi khuẩn phân lập được từ dịch tử cung, âm đạo của lợn nái bị bệnh viêm tử cung 69

3.5 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc bệnh viêm tử cung 71

3.6 Kết quả theo dõi ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng suất sinh sản của lợn nái 72

3.7 Kết quả khảo nghiệm mối quan hệ giữa tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung và tỷ lệ lợn con phân trắng 74

3.8 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh 76

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 80

4.1 Kết luận 80

4.2 Đề nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

CS: Cộng sự

M.M.A: Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa

KS: Kháng sinh TBVK: Tế bào vi khuẩn VK: Vi khuẩn

VTC: Viêm tử cung

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 20Bảng 2.1 Tiêu chuẩn đánh giá kháng sinh đồ theo Kirby - Bauer 43Bảng 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được nuôi tại thành

phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 46Bảng 3.2 Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn nái theo tuổi sinh sản 49Bảng 3.3 Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn theo mùa 51Bảng 3.4 Thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn có trong chất tiết đường

sinh dục của lợn không bị bệnh 53Bảng 3.5 Thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập được từ dịch rỉ

viêm của lợn bị bệnh viêm tử cung 55Bảng 3.6 Số lượng các vi khuẩn phân lập được trong dịch tử cung, âm

đạo lợn nái bình thường và nái mắc bệnh (TBVK/ml) 57Bảng 3.7 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus 59Bảng 3.8 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella 61Bảng 3.9 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.coli 64Bảng 3.10 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus 66Bảng 3.11 Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas 68Bảng 3.12 Kết quả xác định tính mẫn kháng sinh của tập đoàn vi khuẩn

trong dịch viêm tử cung, âm đạo ở lợn nái 69Bảng 3.13 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn

nái bị mắc bệnh viêm tử cung 71Bảng 3.14 Kết quả theo dõi ảnh hưởng của bệnh viêm tử cung đến năng

suất sinh sản của lợn nái 73Bảng 3.15 Kết quả khảo sát mối quan hệ giữa bệnh viêm tử cung ở lợn

mẹ và bệnh lợn con phân trắng 75Bảng 3.16 Kết quả thử nghiệm điều trị bệnh viêm đường sinh dục ở lợn

nái ngoại sinh sản theo các phác đồ 77

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Cơ chế điều khiển quá trình sinh đẻ 13

Hình 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tính mẫn cảm kháng sinh 44

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được nuôi tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 47

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của lợn nái theo tuổi sinh sản 49

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo mùa vụ 52

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ các loại vi khuẩn có trong chất tiết đường sinh dục của lợn không bị bệnh 53

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ các loại vi khuẩn có trong dịch rỉ viêm tử cung của lợn nái bị mắc bệnh 55

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus 59

Hình 3.7 Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella 62

Hình 3.8 Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.coli 64

Hình 3.9 Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus 66

Hình 3.10 Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas 68

Hình 3.11 Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của tập đoàn vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung ở lợn nái 70

Hình 3.12 Biểu đồ tỷ lệ lợn con của lợn nái khỏe và nái mắc bệnh viêm tử cung bị bệnh lợn con phân trắng 75

Hình 3.13 Biểu đồ kết quả điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại tại các trang trại theo các phác đồ điều trị 77

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi luôn là ngành cung cấp thực phẩm chủ yếu cho con người Cùng với nhu cầu thực phẩm của con người ngày càng cao, ngành chăn nuôi cũng đạt nhiều thành tựu nhằm đáp ứng nhu cầu đó Trong ngành chăn nuôi, nghề chăn nuôi lợn chiếm vị trí rất quan trọng Theo thống kê của FAO (2006), tổng sản lượng thịt trên toàn thế giới là 232,1 triệu tấn, trong đó thịt lợn là 103 triệu tấn chiếm gần 44 %; thịt bò là 52,9 triệu tấn chiếm 22,79 %, thịt gà là 48,6 triệu tấn chiếm 20,93 %

Ở nước ta, nghề chăn nuôi lợn đã có từ lâu đời và ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực như: chọn tạo giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăn nuôi quy trình vệ sinh và thú y… Do vậy, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi lợn không ngừng được nâng cao

Số lượng đầu lợn tăng với tốc độ ngày càng nhanh Theo số liệu của Cục thống kê năm 2007, tổng đàn lợn ở Việt Nam năm 2005 đạt 27,434 triệu con, năm 2006 đạt 26,85 triệu con, đã sớm đạt và vượt mục tiêu phấn đấu đến năm

2010 đạt 25 triệu con

Thực hiện mục tiêu cải tạo chất lượng dựa vào nạc hoá đàn lợn cũng như chuyển sang hướng chăn nuôi tập trung, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai nhiều biện pháp nhằm tăng dần tỉ lệ đàn nái ngoại và nái lai trong thành phần và tỷ lệ đàn, đáp ứng nhu cầu sản phẩm có chất lượng cao ở trong nước cũng như hướng tới xuất khẩu

Cùng với xu thế của cả nước, tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện các dự án nạc hoá đàn lợn, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ từ những năm 90 của thế kỷ XX Đến nay, đã có rất nhiều cơ sở chăn nuôi lợn nái ngoại quy

mô từ 50 - 150 nái/trại

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tuy vậy, trong chăn nuôi dịch bệnh luôn là mối đe dọa thường xuyên

và nó có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi Đặc biệt là bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại sinh sản luôn chiếm tỷ lệ cao và là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất sinh sản của đàn lợn Bệnh chủ yếu do các loại vi khẩn gây nên Trong chăn nuôi lợn bệnh thường xảy quanh năm với diễn biến phức tạp, hiệu quả điều trị bệnh không cao và chi phí cho việc điều trị bệnh chiếm tỷ lệ không nhỏ trong chi phí cho chăm sóc lợn nái

Vì vậy, để có những nghiên cứu về căn nguyên gây bệnh từ đó tạo định hướng cho việc sử dụng kháng sinh một cách hợp lý trong phòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản, đồng thời hạn chế thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi và đảm bảo sức khoẻ của con người, chúng

tôi tiên hành nghiên cứu đề tài “Xác định thành phần và tỷ lệ một số loại

vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản nuôi tại thành phố Thái Nguyên và biện pháp điều trị”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản của một số trang trại chăn nuôi lợn ngoại tập trung tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010

- Xác định thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh

- Xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các loại vi khuẩn gây bệnh phân lập được

- Đánh giá hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Xác định chính xác thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm làm hạn chế thiệt hại của bệnh viêm tử cung

ở lợn

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Xác định tính mẫn cảm kháng sinh của các vi khuẩn căn nguyên gây bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn cái

Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình)

1.1.1 Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của lợn gồm một treo ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng

Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các

hoocmon: Estrogen, Progesteron và Inhibin Các hoocmon này tham gia vào

việc điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng

tiết ra giúp duy trì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của

tuyến vú Oxytocin được tiết chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng

được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi thú gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa

Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh dục khi lợn sắp sinh Inhibin có tác dụng ức

chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kỳ Trần Thị Dân, (2004) [6]

Cấu tạo buồng trứng gồm hai phần: Miền vỏ và miền tủy Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa gồm mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mô liên kết miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng có tác dụng về sinh dục vì nó xảy ra quá trình trứng chín và rụng trứng Trên buồng trứng có

từ 70.000 -100.000 noãn bào ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng

1.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus)

Ống đãn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu

mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng ½ chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo tiếp nối sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và có ít nếp gấp hơn

Vai trò của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung

1.1.3 Tử cung (Uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu, hai sừng tử cung ở phía trước xoang chậu Tử cung được giữ lại tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng

Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung: Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non, thông với ống dẫn trứng Thân tử cung dài 3 - 5cm Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lược, thông với âm đạo

Vách tử cung gồm 3 lớp được cấu tạo từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Lớp tương mạc: Là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và

nối tiếp vào hệ thống các dây chằng

- Lớp cơ trơn: Theo Đặng Đình Tín, 1986) [43], lớp cơ trơn tử cung

gồm cơ vòng rất dày ở trong, co dọc mỏng hơn ở ngoài Giữa 2 tầng cơ chứa

tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng vừa dày vừa vững chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khỏe nhất trong cơ thể, do vậy nó có đặc tính co thắt

- Lớp nội mạc tử cung: Là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một

lớp tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông, khi lông rung động thì gạt những chất nhày được tiết ra về phía tử cổ tử cung

Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone Sự phân tiết của tuyến

tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ động dục

1.1.4 Âm đạo (Vagina)

Theo Đặng Đình Tín (1986) [43], âm đạo lợn có chiều dài 10 -12cm

Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh

Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi qua trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp: Lớp tổ chức liên kết ở ngoài, lớp cơ trơn

có cơ dọc bên ngoài, cơ vòng bên trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các lớp cơ tử cung

1.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm: Màng trinh và hành tiền đình Sau màng trinh là lỗ niệu đạo

1.1.6 Âm vật (Clitoris)

Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, từ đó khuyến cáo các thú y viên chú ý khi thụ tinh nên kích thích lên âm vật để gây mê ì cho nái động dục làm tăng hiệu quả thụ tinh

1.1.7 Âm hộ (Vulva)

Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với

nó bởi vùng hội âm Bên ngoài có 2 môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới Môi âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính

1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái

1.2.1 Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo… đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ

về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục

Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc nuôi dưỡng

- Giống

Các giống lợn khác nhau có độ tuổi thành thục về tính khác nhau Theo Phạm Hữu Danh (1985) [5], các giống lợn nội có tuổi thành thục về tính vào 4

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Trong khi đó tuổi động dục ở lợn ngoại là

từ 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội x ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi

- Điều kiện nuôi dưỡng quản lý

Chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý tốt thì gia súc sẽ sớm thành thục về tính và ngược lại

- Điều kiện ngoại cảnh

Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con lợn đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con lợn cái hậu bị thì sẽ đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo một số tác giả nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực 2 lần/ngày, với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn cái (trên 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi

Tuy nhiên, một vấn đề cần lưu ý là tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Vì vậy, để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và đảm bảo những phẩm chất giống của thế hệ sau nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tùy theo giống Ngược lại, cũng không nên cho gia súc phối giống quá muộn vì sẽ ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của một nái đồng thời cũng ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng

1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp

- Chu kỳ tính

Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn

ra liên tục và có tính chu kỳ Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm trên bề mặt buồng trứng gọi là nang Graaf Khi nang Graaf vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chất chu

kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ

Một chu kỳ tính của lợn giao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi

+ Giai đoạn trước động dục

Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, giai đoạn này kéo dài 1 - 2 ngày Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ

tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục,

âm hộ sưng lên, hơi mở, có màu hồng tươi cuối giai đoạn này có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm

ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình

Nếu ở giai đoạn này tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tùy theo loài gia súc thì chu kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Giai đoạn sau động dục

Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hòa ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, cảm giác ăn uống được tăng cường trở lại, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

+ Giai đoạn nghỉ ngơi

Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà trứng không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu hủy Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu

kỳ sinh dục tiếp theo

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

- Thời điểm phối giống thích hợp

Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng

45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, do vậy phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực

Đối với lợn nái ngoại, lợn lai thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối, thường cho phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng

1.2.3 Sinh lý đẻ

Theo TS Trần Tiến Dũng, TS Trương Đình Long, TS Nguyễn Văn Thanh (2002) [9], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ dưới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần, nút niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đáu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chăt mạch máu và đám rối thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hoocmon gây đẻ Mặt khác thai chèn ép, co đạp vào tử cung làm kích thích tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài

- Nội tiết: Trong thời gian mang thai thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến chửa kỳ cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesterone giảm (chỉ còn 0,22mg%) Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocin, nhau thai tăng tiết Relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết Oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocin trước khi đẻ

- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: Khi bào thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ

Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ

2 - 6 giờ, được tính từ khi cổ tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [42],

Cơ chế điều khiển quá trình đẻ được mô tả tại hình 1.1:

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 1.1 Cơ chế điều khiển quá trình sinh đẻ

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3 Sơ lƣợc về Bệnh viêm tử cung (Metritis)

1.3.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái xảy ra ở nái sau khi đẻ, có thể xảy ra ở nái sau khi phối giống và ít xảy ra ở lợn nái hậu bị

Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung:

- Do lợn là loài sinh sản đa thai, đẻ nhiều con, thời gian sinh sản kéo dài làm cho cơ quan sinh dục hoạt động liên tục tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh

- Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [17], bệnh viêm tử cung do vi

khuẩn Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang

lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

- Do lứa trước lợn bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung bị biến dạng nên nhau thai không ra ngoài hết hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, phát triển và gây viêm

- Ngoài ra nái ngoại nhập nội cũng dễ mắc bệnh do chưa thích nghi với điều kiện môi trường của Việt Nam là nóng, ẩm…

- Theo Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002) [9], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

- Theo các tác giả Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [20], thì

do trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động, hoặc

bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis); sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm

cho cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến việc sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Theo Lê Xuân Cương (1986) [2], lợn nái chậm sinh sản do nhiều nguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lý sinh dục chiếm tỷ lệ khá cao Đặc biệt, các lợn nái đẻ khó cần áp dụng các thủ thuật ngoại khoa thì niêm mạc đường sinh dục rất dễ bị tổn thương và dẫn tới viêm tử cung

- Theo các tác giả Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng (2000) [10], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung của lợn nái gây viêm

+ Lợn nái được phối giống trực tiếp từ lợn đực mắc các bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khỏe

+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

+ Lợn nái sau khi đẻ bị sát nhau và không được xử lý triệt để

+ Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Xảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… gây viêm

+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn cái trước và sau khi đẻ không sạch sẽ…

Theo F.Madec và C.Neva (1995) [21], bệnh viêm tử cung và các bệnh

ở đường tiết niệu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lại lên tử cung là rất dễ xảy ra

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một

cơ quan nào đó kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.3.2 Hậu quả của bệnh viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [9], và PGS.TS Trần Thị Dân (2004) [6], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới những hậu quả chính sau:

- Lợn mắc bệnh viêm tử cung sẽ dễ dẫn tới hiện tượng xảy thai Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phá hủy thể vàng Thể vàng bị phá hủy, hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực cơ tử cung tăng lên nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai

- Lợn mẹ mắc bệnh viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc gây hiện tượng thai chết lưu

- Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục có mặt rất

nhiều vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết

kích thích tạo sữa của Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít sữa hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi làm cho lợn con thường bị tiêu chảy và còi cọc

- Lợn nái mắc bệnh viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không rụng trứng được

Theo F.Madec và C.Neva (1995) [21], viêm tử cung là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hội chứng M.M.A ở lợn, hội chứng này

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn cái sau này Tỷ lệ phối không đạt tăng lên ở đàn lợn nái bị viêm tử cung sau đẻ Hiện tượng viêm tử cung

âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước sang lứa là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ và

số lứa đẻ/năm của lợn nái sinh sản Đặc biệt, nếu viêm tử cung kéo dài kèm theo hiện tượng viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng và các bệnh liên quan đến hệ tiêt niệu

Như vậy, ta thấy hậu quả của bệnh viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp phòng và điều trị bệnh hiệu quả mang lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn sinh sản

1.3.3 Các thể viêm tử cung

Theo Đặng Đình Tín (1986) [43], bệnh viêm tử cung được chia làm 3 thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

* Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Nguyễn Văn Thanh (1999) [31], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong những nguyên nhân chính làm giảm năng suất sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các thể bệnh viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh sản, nhất là trong các trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung dễ bị tổn thương, tiếp đó các vi khuẩn

Streptococcus, Staphylococcus, Salmonella, E.coli, C.pyogenes, Brucella, roi trùng Trichomonas Foetus… xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc của tử

cung và gây viêm

Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, giảm ăn, giảm lượng sữa Con vật

có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn và tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ,

có lợn cợn những mảnh tổ chức chết… Khi con vật nằm xuống, dịch viêm thải ra ngày càng nhiều hơn

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

* Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [25], viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải

mà tử cung bị thủng hoặc bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh ở thể này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ rệt: Thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng và có màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn chảy ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh sản những lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

* Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperralis)

Theo Đặng Đình Tín (1986) [43], viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường thể hiện cấp tính và cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Nếu bị viêm nặng nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể Paramestritis), thành tử cung dày lên

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

biểu hiện đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ rệt, rặn nhanh hơn, từ âm hộ chảy ra nhiều dịch hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mạn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

1.3.4 Chẩn đoán viêm tử cung

Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái

Ở thể viêm cơ và viêm tương mạc, mô bào tử cung bị tổn thương nặng,

tử cung xuất huyết và có nhiều vết loét Nếu sức khỏe nái giảm sút, bệnh không được can thiệp sớm, vi trùng có thể vào máu đến tuyến vú gây viêm toàn bộ tuyến vú hoặc gây nhiễm trùng máu tạo nên thể điển hình của hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (M.M.A) Để hạn chế tối thiểu hậu quả

do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa

ra phác đồ điều trị có hiệu quả cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau:

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 1.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung

STT Các chỉ tiêu phân biệt Viêm nội mạc Viêm cơ Viêm tương

Mùi Tanh Tanh,

5 Bỏ ăn Bỏ ăn một phần

hoặc hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

Bỏ ăn hoàn toàn

Theo Lê Văn Năm (1997) [23], lấy protid muxin trong dịch nhày chảy

ra từ âm đạo lợn nái rồi cho vào 1ml dung dịch acid axetic 1% hay (dấm chua) nếu phản ứng dương tính khi Muxin kết tủa điều đó chứng tỏ lợn không

bị viêm tử cung, nếu ngược lại muxin không kết tủa phản ứng âm tính kết luận lợn bị viêm tử cung

1.3.5 Phòng và điều trị bệnh viêm tử cung

* Phòng ngừa bệnh viêm tử cung

Công tác vệ sinh thú y đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng bệnh viêm tử cung Vệ sinh chuồng nái đẻ 1 tuần trước khi đưa nái

từ chuồng nái chửa sang chuồng đẻ, bằng cách rửa sạch sau đó phun thuốc sát trùng Tắm chải sạch sẽ cho lợn trước khi đưa lên chuồng đẻ, vệ sinh bầu vú và bộ phận sinh dục của lợn nái (phun thuốc sát trùng Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình lợn)

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bệnh viêm tử cung là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hội chứng M.M.A nên việc phòng và điều trị hội chứng M.M.A có tác dụng và ứng dụng tốt trong việc phòng, điều trị bệnh viêm tử cung

Tại khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và sử dụng các kháng sinh: Streptomycin phối hợp với Penicillin tiêm 1 lần trước khi sinh, hoặc tetracycline cho lợn ăn liên tục trong 3 ngày sau khi sinh đã cho kết quả tốt trong việc phòng hội chứng M.M.A nói chung và bệnh viêm tử cung nói riêng

Ở nước ngoài Bilkei và Horn (1991) [49], dùng Ampicillin phòng ngừa hội chứng M.M.A với liều 200ml thụt rửa tử cung, âm đạo cho lợn sau khi sinh đạt kết quả tốt

Ngoài ra theo Mercy (1990) [54], Bilkei và cs (1991) [49] cho rằng Oxytocin có tác dụng kích thích thải sữa, tăng cường co bóp tử cung để tống sản dịch hoặc nhau thai ra ngoài có tác dụng tốt trong việc phòng bệnh mất sữa và viêm tử cung

Theo một số tác giả các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh sản, cổ tử cung mở, vi khuẩn dễ dàng xâm nhập và gây bệnh

Do đó theo Lerch (1987) [52], Gajecki (1990) [51], McIntosh (1996) [53], Smith và ctv (1985) [56], Taylor (1995) [58], thì việc tăng cường điều kiện vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố rất quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh sản

* Điều trị bệnh viêm tử cung

Để điều trị bệnh viêm tử cungcó hiệu quả cần phải theo dõi sát đàn lợn

để chẩn đoán chính xác và có biện pháp điều trị sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, lợn mau hồi phục và giảm chi phí điều trị

Theo Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân và Trương Văn Dung (2002) [17],thì Oxytetracyclin có tác dụng rộng với các nhóm vi khuẩn Gr +

và Gr- đặc

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

biệt với nhóm vi khuẩn E.coli, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn yếm khí, xoắn khuẩn, phẩy khuẩn…

Ngoài Oxytetracyclin thì Penicillin bán tổng hợp cũng có tác dụng với hầu hết các vi khuẩn Gr +

và Gr- Theo các tác giả trên điều trị bệnh viêm tử cung bằng phác đồ như sau: + Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch thuốc sát trùng như: Biocid - 30 (1%), Lugol 5%, Han - Iodine 5%

+ Tiêm một trong các loại kháng sinh: Gentamicin, Oxytetracyclin và Penicillin…

+ Tiêm Oxytocin để tống các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài

+ Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE Bcomplex, Calci - B12, Calci - fort…

Cũng theo Phạm Sỹ Lăng (1997) [15], dùng phác đồ điều trị: Tiêm bắp Steptomyccin 15 - 20mg/Kg thể trọng cho lợn bệnh trong liên tục từ 3 đến 5 ngày (bệnh cấp tính) và từ 6 đến 8 ngày (bệnh mạn tính)

Theo Trương Lăng (2002) [18], để điều trị bệnh viêm tử cung nên sử dụng phác đồ: Tiêm bắp Penicillin 2.000.000UI/nái/ngày, dùng liên tục từ 3 đến 5 ngày (bệnh cấp tính) và từ 6 đến 8 ngày với bệnh ở thể mạn tính

Tác giả Nguyễn Văn Thanh (2000) [32], cho rằng khi dùng 25ml PGF2α tiêm dưới da một lần sau đó tiến hành dùng 200ml dung dịch Lugol thụt vào tử cung bị lợn viêm cũng mang lại hiệu quả điều trị cao

Còn theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [20], dùng Oxytocin với liều 20 - 40UI/con/ngày, để làm dạ con co bóp tống chất ứ bẩn, dịch viêm ra ngoài Sau đó thụt rửa tử cung bằng Han - Iotdine 5%, tiêm kháng sinh: Gentamicin 4% 1ml/6Kg thể trọng hoặc Lincomycin 10% 1ml/10Kg thể trọng liên tục trong 3 đến 5 ngày

Theo một số tác giả của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên thì nếu bơm rửa tử cung mỗi 1 đến 2 lần, mỗi lần từ 3 đến 4 lít dung dịch thuốc

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tím 0,1% hoặc nước muối sinh lý 0,9%, dùng 2 đến 3 triệu UI PenicillinG hoặc dùng 5 đến 10g Sulfamid pha với 20ml nước bơm vào tử cung để phòng và điều trị bệnh viêm tử cung cũng mang lại hiệu quả điều trị cao

Tác giả Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài và Phương Song Liên (2002) [8], đã dùng một số bài thuốc nam trong việc điều trị bệnh viêm tử cung cho những kết quả tốt

Theo Phạm Trí Thành, Lê Tuấn Hùng và Đặng Quang Nam (1976 - 1978) [35], dùng Rivanol 1%, Lugol 5% và kháng sinh điều trị cho trâu, bò bị viêm tử cung đạt kết quả cao

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2000) [19], kháng sinh Ampicillin và Oxytetracyclin có tác dụng tốt trong việc điều trị các hiện tượng viêm và nhiễm trùng sản khoa và ngoại khoa trong đó có bệnh viêm tử cung

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.4 Một số vi khuẩn thường gặp trong dịch tiết đường sinh dục của lợn

Trong dịch tiết đường sinh dục của lợn cả trong điều kiện sinh lý và bệnh lý luôn có hệ vi sinh vật cư trú Số lượng và chủng loại các loài vi khuẩn không ổn định mà thường xuyên thay đổi theo mức độ vệ sinh, theo mùa và theo từng cá thể khác nhau

Theo Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên (2002) [8],

cho rằng viêm tử cung, âm đạo ở lợn chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại vi khuẩn: E.coli, proteus, krebsiella… gây ra

Từ các mẫu sữa, dịch âm đạo của lợn nái mắc hội chứng M.M.A Herberler (1954), Sammer (1957), Broodsbank (1958), Tharp (1980), Amstrong (1986), More (1966) đã phân lập và công bố các loại vi khuẩn sau

đây gây nhiễm trùng tử cung và viêm vú gây nên hội chứng M.M.A: E.coli, Staphylococcus, Streptococcus, Krepsiella aerogenes, Pseudomonas spp (các

nghiên cứu này được Đặng Đắc Thiệu trích dẫn vào năm 1978) [41], Urban

và cộng sự (1983) [59], Berstchinger (1993) [48] cũng ghi nhận các loại vi khuẩn trên gây nên hội chứng M.M.A trong đó có tác dụng gây nên bệnh viêm tử cung

Theo Takagi và cộng sự (1997) [57], đã phân lập được 30 dòng vi

khuẩn E.coli gây hội chứng M.M.A và cho biết các vi khuẩn này không sản

sinh ra enterotoxin chịu nhiệt

Theo Lê Minh Chí và Nguyễn Như Pho (1985) [3], đã công bố thì tại

khu vực TP Hồ Chí Minh các loại vi trùng như: E.coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus spp, Proteus mirabilis và Pseudomonas là nguyên nhân

gây lên bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái và chúng là những vi khuẩn cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng trại, lợi dụng khi lợn sinh sản cổ tử cung

mở chứa nhiều sản dịch, bị xây xát chúng sẽ xâm nhập và tấn công hệ thống niêm mạc sinh dục và gây lên các hiện tượng nhiễm trùng

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Các tác giả Awad và cs (1990) [47], Gardner và cs (1990) [50] và Radostits, O.M, Blood, D.C (1997) [55] Trong các nghiên cứu của mình các

tác giả đều cho rằng các loại vi khuẩn: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Salmonella, E.coli và Pseudomonas spp là nguyên nhân chính gây bệnh

viêm tử cung ở lợn nái và từ đó làm tăng nguy cơ mắc hội chứng M.M.A trên đàn lợn sinh sản

Dựa vào sự có mặt và không có mặt thường xuyên trong dịch tiết đường sinh dục của lợn có thể chia vi khuẩn ra làm hai nhóm chính:

- Nhóm vi khuẩn cố định là những vi khuẩn thường gặp trong dịch tiết

đường sinh dục của lợn như: Staphylococcus, Streptococcus, Salmonella, E.coli

- Nhóm vi khuẩn không có định là những vi khuẩn ít gặp trong dịch tiết

đường sinh dục của lợn như: Pseudomonas, Proteus…

1.4.1 Nhóm vi khuẩn cố định

1.4.1.1 Staphylococcus (Tụ cầu khuẩn)

- Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu

Là những vi khuẩn hình cầu, đường kính 0,7 - 1µm, không có lông, không di động được, không sinh nha bào, không có vỏ và thường bắt màu gram âm

Trong bệnh phẩm Staphylococcus thường xếp thành từng đôi, từng đám nhỏ có hình chùm nho

Trong canh khuẩn vi khuẩn xếp thành từng đám hình chùm nho

- Đặc tính nuôi cấy

Staphylococcus sống hiếu khí hoặc kỵ khí tùy tiện, nhiệt độ thích hợp:

32 - 370C, Ph: 7,2 - 7,6

+ Môi trường nước thịt: Sau khi nuôi cấy 5 - 6 giờ, vi khuẩn làm đục

môi trường, sau 24 giờ môi trường đục rõ hơn và lắng cặn, không có màng

+ Môi trường thạch thường: Sau khi cấy 24 giờ, vi khuẩn hình thành

khuẩn lạc dạng S, mặt hơi ướt, bờ đều nhẵn Màu sắc của khuẩn lạc là do vi

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

khuẩn sinh ra Màu vàng thẫm là S.aureus, có độc lực và có khả năng gây bệnh cho động vật Màu trắng hoặc vàn chanh là S.citreus, không có độc lực

và không gây bệnh

+ Môi trường thạch máu: Sau khi cấy 24 giờ, vi khuẩn hình thành

khuẩn lạc dạng S Nếu là tụ cầu gây bệnh sẽ có hiện tượng dung huyết

+ Môi trường Sapman: Là môi trường dùng để nuôi cấy và phân lập tụ

cầu khuẩn Nếu là tụ cầu gây bệnh sẽ lên men đường Manit làm Ph thay đổi (Ph = 6,8) và môi trường có màu vàng Ngược lại, Ph = 8,4, môi trường sẽ có màu đỏ

+ Môi trường Gelatin: Cấy theo đường trích sâu, nuôi cấy ở nhiệt độ

200C, sau 2 - 3 ngày, Gelatin bị tan chảy trông giống như dạng cái phễu

- Đặc điểm sinh hóa

+ Chuyển hóa đường: Tụ cầu có khả năng lên men đường: Glucose,

Lactose, Levulose, Mannose, Mannit, Saccarose Không lên men đường Galactose

+ Các phản ứng sinh hóa: Phản ứng Catalase dương tính

1.4.1.2 Streptococcus (Liên cầu khuẩn)

- Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu:

Streptococcus có hình cầu hoặc hình bầu dục, đường kính ≤ 1µm, đôi khi có vỏ, không di động được, bắt màu gram dương Ở bệnh phẩm liên cầu khuẩn có hình chuỗi ngắn (6 - 8 đơn vị có khi dưới hình thái song cầu) Ở môi trường lỏng liên cầu có chuỗi dài 10 - 100 đơn vị Ở môi trường đặc liên cầu

có chuỗi ngắn

- Đặc tính nuôi cấy:

Streptococcus sống hiếu khí hay yếm khí tùy tiện, nhiệt độ thích hợp 370

C

+ Môi trường nước thịt: Vi khuẩn hình thành dạng hạt hoặc dạng bông,

rồi lắng xuống đáy ống nghiệm Vì vậy, sau 24 giờ nuôi cấy, môi trường trong

và đáy không có cặn

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Môi trường thạch thường: Hình thành khuẩn lạc dạng S, nhỏ, tròn,

lồ, bóng, màu hơi xám

+ Môi trường thạch máu: Dựa vào tính chất dung huyết ta thấy

Streptococcus có 3 typ:

Typ beta (β): Độc lực cao

Tyb anpha (α): Không có độc lực

Tyb gamma (γ): Không có khả năng gây dung huyết, thường là vi khuẩn không gây bệnh

- Đặc tính sinh hóa:

+ Chuyển hóa đường: Streptococcus có khả năng lên men đường

Glucose, Lactose, Salixin, Saccarose Không lên men đường Mannit, Inulin

- Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu

Salmonella có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, kích thước 0,4 - 0,6 x 1 - 3µm, không hình thành giáp mô và nha bào, có khả năng di động (trừ S.gallinarum - pullorum), bắt màu gram âm

- Đặc tính nuôi cấy

Salmonella sống hiếu khí và kỵ khí không bắt buộc, nhiệt độ thích hợp:

370C (có thể phát triển được ở nhiệt độ từ 6 - 420

C), Ph: 7,6 (6 - 9)

+ Môi trường nước thịt: Cấy sau vài giờ đã đục nhẹ, sau 18 giờ đục đều,

nuôi lâu dưới đáy ống nghiệm có cặn, trên mặt môi trường có màng mỏng

+ Môi trường thạch thường: Mọc thành khuẩn lạc tròn, trong sáng hoặc

xám, nhẵn bóng, hơi lồi lên ở giữa, nhỏ và trắng hơn khuẩn lạc của E.coli

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Môi trường Macconkey - agar: Khuẩn lạc dạng S, màu trắng xanh + Môi trường Brilliant - green - agar: Khuẩn lạc dạng S, màu đỏ

- Đặc tính sinh hóa:

Chuyển hóa đường: Phần lớn loài Salmonella lên men sinh hơi đường

Glucose, Mannit, Mantose, Galactose, Levulose, Arabinose Không lên men đường Lactose và Saccarose

1.4.1.4 Escherichia coli

Trực khuẩn ruột già Escherichia coli còn có tên khác là Bacterium coli commune, Bacillus coli communis, do Escherich phân lập năm 1885 từ phân

trẻ em

Những chủng E.coli phổ thông về mặt huyết thanh học được chia thành

một số type Trong đó 1 số type đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra 1 số

bệnh ở động vật và người Việc phân chia vi khuẩn E.coli thành các type được

căn cứ vào cấu trúc kháng nguyên

Theo Lê Văn Tạo (2006) [28] cho biết cấu trúc kháng nguyên của vi

khuẩn E.coli gồm: kháng nguyên thân O (Somatic), kháng nguyên lông H

(Flagellar), kháng nguyên vỏ K (Capsular) hoặc còn gọi là kháng nguyên OMP (Outer Memberance Protein), và kháng nguyên bám dính F (Fimbriae) Cho đến nay đã xác định được 170 type kháng nguyên O, 80 type kháng nguyên H, 56 type kháng nguyên K và 1 số kháng nguyên F

- Đặc điểm hình thái và tính chất bắt màu

Là cầu trực khuẩn hình gậy ngắn, kích thước 2 - 3 x 0,6µm Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn có khi trong môi trường nuôi cấy có trực khuẩn dài 4 - 8µm, những loại này thường gặp trong canh khuẩn gà

Phần lớn E.coli di động do có lông xung quanh thân, nhưng một số không thấy di động Vi khuẩn không sinh nha bào, có thể có giáp mô, bắt màu

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

gram âm.Bình thường E.coli là vi khuẩn cộng sinh, thường trực trong đường ruột gia súc, gia cầm và người Escherichia coli là trực khuẩn thuộc họ Enterobacteriaceae, là vi khuẩn bắt màu Gram âm (-), 2 đầu tròn, kích thước

2 - 3 x 0,6, có lông ở xung quanh nên vi khuẩn có khả năng di động Vi

khuẩn E.coli không hình thành nha bào nên sức đề kháng yếu, dễ bị diệt ở

nhiệt độ 550C trong vòng 1 giờ, ở 600C sống được 15 - 30 phút Các chất sát trùng như acid phenic, clorua thủy ngân (HgCl2), formol có thể diệt E.coli

trong vòng 5 phút, nhưng vi khuẩn đề kháng mạnh với sự sấy khô

- Đặc tính nuôi cấy

Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [44] thì E.coli là trực khuẩn hiếu

khí và yếm khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 15 - 240C và nhiệt độ thích hợp là 370

C, Ph thích hợp là 7,4 Vi khuẩn dễ dàng phát triển trên các môi trường nuôi cấy thông thường như:

- Môi trường nước thịt: Phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt Canh trùng mùi phân hôi thối

- Môi trường thạch thường: Ở 370C sau 24 giờ hình thành những khuẩn lạc hình tròn ướt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính 2 - 3mm Để lâu khuẩn lạc phát triển rộng ra và có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng

R (Rough) và M (Mooth);

- Môi trường Endo: Hình thành khuẩn lạc màu đỏ;

- Môi trường EMB (Eosin Methyl Blue): Hình thành khuẩn lạc màu tím đen

+ Môi trường Mule Kopman (Meller Kauffman), môi trường lục

Malasit (malachite): E.coli không mọc, môi trường Endo E.coli có khuẩn lạc

màu dỏ, môi trường EMB có khuẩn lạc màu tím đen, môi trường thạch SS có khuẩn lạc đỏ, còn trong môi trường Vison - Blai E.coli bị ức chế

Ngày đăng: 05/10/2014, 06:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Kim Anh (1991), Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh vật học, NXB Văn hóa Hà Nội, tr 32 -34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh vật học
Tác giả: Phạm Kim Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa Hà Nội
Năm: 1991
2. Lê Xuân Cương (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái. NXB Khoa học Kỹ thuật, tr 18 -21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Tác giả: Lê Xuân Cương
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1986
3. Lê Minh Chí, Nguyễn Như Pho (1985), “Hội chứng MMA ở heo nái sinh sản”, Kết quả nghiên cứu khoa học 1981-1985, Trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM, tr 48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội chứng MMA ở heo nái sinh sản”, "Kết quả nghiên cứu khoa học 1981-1985
Tác giả: Lê Minh Chí, Nguyễn Như Pho
Năm: 1985
4. Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan, (2003), Giáo trình Dược lý học thú y, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr 157 - 219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Phạm Đức Chương, Cao Văn, Từ Quang Hiển, Nguyễn Thị Kim Lan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2003
5. Phạm Hữu Danh (1985), Bệnh sinh sản ở lợn, NXB Nông Nghiệp, tr 67 - 69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản ở lợn
Tác giả: Phạm Hữu Danh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1985
6. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con. NXB Nông nghệp TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: NXB Nông nghệp TP HCM
Năm: 2004
7. Nguyễn Văn Dịp (1997), “Kết quả thực nghiệm loại trừ plasmid đề kháng với kháng sinh của Staphylococcus aureus invivo”, Tạp chí thú y thực hành số 3. NXB bộ Y Tế, tr 45 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thực nghiệm loại trừ plasmid đề kháng với kháng sinh của Staphylococcus aureus invivo”, "Tạp chí thú y thực hành số 3
Tác giả: Nguyễn Văn Dịp
Nhà XB: NXB bộ Y Tế
Năm: 1997
8. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên (2002), Phòng và trị một số bệnh trong thú y bằng thuốc nam. NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh trong thú y bằng thuốc nam
Tác giả: Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài, Phương Song Liên
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
9. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Giáo trình sinh sản gia súc. NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
10. Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng, (2000). Bệnh ở lợn lái và lợn con. NXB Nông Nghiệp, tr 78 -81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn lái và lợn con
Tác giả: Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
11. Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương (1997), Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò, Nxb Nông Nghiệp, tr 34 - 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ sinh sản trong chăn nuôi bò
Tác giả: Hoàng Kim Giao, Nguyễn Thanh Dương
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1997
12. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1978), “Kiểm tra tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli gây bện ở lợn con”, Hội nghị công tác khoa học kỹ thuật năm 1976 - 1978, trường ĐHNNI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra tính mẫn cảm và tính kháng thuốc của E.coli gây bện ở lợn con
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho
Năm: 1978
13. Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho (1999), Một số kết quả nghiên cứu tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh trong thú y, Kết quả nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật - Khoa Chăn nuôi Thú y, NXB Nông nghiệp. Tr 134 - 138 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu tính kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh trong thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho
Nhà XB: NXB Nông nghiệp. Tr 134 - 138
Năm: 1999
14. Nguyễn Thế Khanh, Phạm Tử Dương (2001), Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng
Tác giả: Nguyễn Thế Khanh, Phạm Tử Dương
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2001
15. Phạm Sỹ Lăng (1997), Bệnh ở lợn, NXB Nông Nghiệp, tr 76 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở lợn
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1997
16. Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài (1997), Thuốc điều trị và vacxin sử dụng trong thú y , Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc điều trị và vacxin sử dụng trong thú y
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1997
17. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
18. Trương Lăng (2002), Hướng dẫn điều trị các bệnh ở lợn, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị các bệnh ở lợn
Tác giả: Trương Lăng
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
19. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí (2000), Thuốc thú y và cách sử dụng, NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc thú y và cách sử dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2000
20. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ở lợn
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cơ chế điều khiển quá trình sinh đẻ - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 1.1. Cơ chế điều khiển quá trình sinh đẻ (Trang 24)
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung (Trang 31)
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tính mẫn cảm kháng sinh - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tính mẫn cảm kháng sinh (Trang 55)
Bảng 3.1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được nuôi tại  thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.1. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được nuôi tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 (Trang 57)
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được  nuôi tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái ngoại được nuôi tại thành phố Thái Nguyên trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010 (Trang 58)
Bảng 3.2. Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn nái theo - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.2. Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn nái theo (Trang 60)
Bảng 3.3. Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn theo mùa - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.3. Tình hình bệnh viêm tử cung của lợn theo mùa (Trang 62)
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo mùa vụ - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.3. Biểu đồ tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo mùa vụ (Trang 63)
Bảng 3.5. Thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập được từ dịch rỉ - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.5. Thành phần và tỷ lệ các loại vi khuẩn phân lập được từ dịch rỉ (Trang 66)
Bảng 3.6. Số lượng các vi khuẩn phân lập được trong dịch tử cung, âm đạo - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.6. Số lượng các vi khuẩn phân lập được trong dịch tử cung, âm đạo (Trang 68)
Bảng 3.7. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.7. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn (Trang 70)
Bảng 3.8. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.8. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn (Trang 72)
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 3.7. Biểu đồ tỷ lệ mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Salmonella (Trang 73)
Bảng 3.9. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.coli - xác định thành phần và tỷ lệ một số loại vi khuẩn trong bệnh viêm tử cung ở lợn nái ngoại sinh sản tại thành phố thái nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 3.9. Kết quả xác định tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn E.coli (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm