Tuy nhiên, để xác định đồng thời hỗn hợp nhiều cấu tử có phổ hấp thụ quang phân tử xen phủ nhau thì lại gặp khó khăn trong việc tách riêng từng cấu tử hoặc phải áp dụng các biện pháp t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
TRẦN THU NGA
XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI ACETAMINOPHEN VÀ AXIT ASCOBIC
THEO PHƯƠNG PHÁP PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
Thái Nguyên – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
-
TRẦN THU NGA
XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI ACETAMINOPHEN VÀ AXIT ASCOBIC
THEO PHƯƠNG PHÁP PHỔ HẤP THỤ PHÂN TỬ
SỬ DỤNG CHƯƠNG TRÌNH LỌC KALMAN
Chuyên ngành: Hoá Phân tích
Mã số: 60.44.29
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN TỨ HIẾU
TS MAI XUÂN TRƯỜNG
Thái Nguyên - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1.2 Một số phương pháp phân tích quang phổ UV-VIS xác định đồng thời
1.3 Tổng quan về acetaminophen , axit ascobic và một số loại thuốc giảm
1.3.3 Một số loại thuốc chứa thành phần acetaminophen và axit
Trang 4Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.3 Kiểm tra tính cộng tính độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp
3.4 Khảo sát khoảng tuyến tính sự tuân theo định luật Bughe - Lămbe - Bia của
3.5 Khảo sát sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của acetaminophen và axit
3.5.1 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch chuẩn
Trang 53.5.2 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch chuẩn axit ascobic theo thời gian 53
3.7 Khảo sát , đánh giá độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu trên mẫu tự
3.8 Xác định hàm lượng acetaminophen và axit ascobic trong mẫu thuốc trên
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2 Độ hấp thụ quang của ACE , ASC và hỗn hợp ở một số
Bảng 3.3 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của ACE theo nồng độ 47
Bảng 3.5 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của ASC theo nồng độ 49
Bảng 3.7 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của ACE theo thời gian 52 Bảng 3.8 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của ASC theo thời gian 53 Bảng 3.9 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của ACE và ASC theo
Bảng 3.10 Pha chế các dung dịch hỗn hợp ACE và ASC khi hàm
Bảng 3.11 Pha chế các dung dịch hỗn hợp ACE và ASC khi hàm
Bảng 3.12 Kết quả tính nồng độ , sai số của ACE và ASC trong
Bảng 3.13 Kết quả tính nồng độ, sai số của ACE và ASC trong
Bảng 3.14 Kết quả xác định hàm lượng ACE và ASC trong
Bảng 3.16 Thành phần các dung dịch chuẩn ACE và ASC thêm
Trang 8Bảng 3.17 Kết quả xác định độ thu hồi ACE và ASC trong mẫu
Bảng 3.18 Thành phần dung dịch chuẩn ACE và ASC thêm vào
Bảng 3.19 Kết quả xác định độ thu hồi ACE và ASC trong mẫu
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Phổ hấp thụ của dung dịch chuẩn acetaminophen
Hình 3.2 Đường hồi quy tuyến tính biểu diễn sự phụ t huộc
Hình 3.3 Đường hồi quy tuyến tính biểu diễn sự phụ thuộc
độ hấp thụ quang A vào nồng độ ASC (0,2-20,0 g/ml) 50 Hình 3.4 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch
Hình 3.5 Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch
Trang 10có nhiều ưu điểm hơn như sử dụng máy móc đơn giản , hóa chất phổ biến và thời gian phân tích nhanh tiết kiệm được hóa chất , hạ giá thành phân tích mẫu đồng thời do thời gian phân tích nhanh cũng tránh được sự nhiễm bẩn
Tuy nhiên, để xác định đồng thời hỗn hợp nhiều cấu tử có phổ hấp thụ quang phân tử xen phủ nhau thì lại gặp khó khăn trong việc tách riêng từng cấu tử hoặc phải áp dụng các biện pháp thêm chất che, loại trừ ảnh hưởng của từng cấu tử, đó là quy trình phức tạp mất nhiều thời gian và dễ gây sai số trong quá trình thực hiện, đôi khi không thể thực hiện được [3, 4, 5]
Đã có n hiều công trình nghiên cứu phương pháp trắc quang xác định đồng thời hỗn hợp nhiều cấu tử có phổ hấp thụ quang phân tử xen phủ nhau
mà không phải tách chúng ra khỏi nhau như: phương pháp sai phân, phương pháp phổ đạo hàm, phương pháp hồi quy, phương pháp Vierordt, phương pháp bình phương tối thiểu, phương pháp lọc Kalman
Phương pháp trắc quang dùng phổ toàn phần kết hợp với kỹ thuật tính toán và ứng dụng phần mềm máy tính đã bước đầu được nghiên cứu và cho nhiều ưu điểm: quy trình phân tích đơn giản, tốn ít thời gian, tiết kiệm hóa chất và đạt độ chính xác cao [3, 4, 6, 7, 12]
Trang 11Phép phân tích có thể dùng để kiểm tra hàm lượng các biệt dược một cách tương đối đơn giản, nhanh chóng Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp trắc quang dùng phổ toàn phần kết hợp áp dụng thuật toán lọc Kalman để xây dựng qui trình định lượng đồng thời acetaminophen (ACE) và axit ascorbic (ASC) trong thuốc giảm đau - hạ sốt Hapacol Kids và trong thuốc Effe-Paracetamol, phương pháp đề xuất có thể áp dụng trong thực tiễn phân tích và kiểm nghiệm dược
Xuất phát từ những lý do trên , chúng tôi thực hiện đề tài : "Xác định
đồng thời acetaminophen và axit ascobic t rong thuốc Hapacol Kids và Effe-Paracetamol theo phương pháp phổ hấp thụ phân tử sử dụng chương trình lọc Kalman"
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Định luật hấp thụ quang
1 1.1 Định luật Bughe - Lămbe - Bia
Khi chiếu một chùm tia sáng có năng lượng nhất định vào một dung dịch chứa cấu tử hấp thụ ánh sáng thì cấu tử đó sẽ hấp thụ chọn lọc một số tia sáng Độ hấp thụ quang của cấu tử tỷ lệ thuận với nồng độ của cấu tử trong dung dịch và bề dày lớp dung dịch mà ánh sáng truyền qua [5, 9]
Phương trình toán học biểu diễn định luật Bughe - Lămbe - Bia
A = b C (1.1) Trong đó : A: độ hấp thụ quang của cấu tử ở bước sóng (A không
có thứ nguyên)
: hệ số hấp thụ mol phân tử của cấu tử tại bước sóng b: bề dày lớp dung dịch (cm)
C: nồng độ của cấu tử trong dung dịch (mol/lit)
1.1.2 Những nguyên nhân gây sai lệch định luật hấp thụ quang
là hàm số của ba biến: (bước sóng của chùm sáng chiếu qua dung dịch ), b (bề dày lớp dung dịch) và C (nồng độ chất: mol/lit) Do đó mọi sự sai lệch của các tham số này đều có thể đưa đến làm sai lệch quy luật hấp thụ quang, gây sai số cho phép đo độ hấp thụ quang của chất, bao gồm:
cu vét không thật đồng nhất, bề mặt cu vét gây các hiện tượng quang học phụ như tán xạ, hấp thụ
Trang 13- Các yếu tố làm sai lệch nồng độ C thực của chất cần đo độ hấp thụ quang A như: sự phân li của phân tử chất đo quang sao cho rất nhỏ không đáng kể và càng nhỏ càng tốt Môi trường pH của dung dịch mẫu Sự tồn tại, lượng dư nhiều hay ít của thuốc thử tạo phức sinh ra hợp chất cần đo quang Sự có mặt của các ion, các chất lạ khác có trong dung dịch mẫu
định suốt trong thời gian đo Vì trong một mức độ nhất định độ hấp thụ quang
A phụ thuộc vào nhiệt độ
sự hấp thụ, sự tán xạ, sự phản xạ ánh sáng của các thấu kính, lăng kính, cách
tử, các hệ gương và tính không đồng nhất cao của chúng [5, 9, 11]
1.1.3 Tính chất cộng tính độ hấp thụ quang
Độ hấp thụ quang của một dung dịch hỗn hợp nhiều cấu tử tại một bước sóng bất kỳ bằng tổng độ hấp thụ quang của tất cả các cấu tử trong hỗn hợp tại bước sóng đó
Phương pháp trắc quang muốn xác định đồng thời các cấu tử trong một hỗn hợp mà phổ hấp thụ quang phân tử của chúng xen phủ nhau thì độ hấp thụ quang của các cấu tử trong hỗn hợp đó phải tuân theo định luật Bughe - Lămbe - Bia và có tính chất cộng tính
Phương trình toán học biểu diễn tính cộng tính về độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp n cấu tử tại bước sóng :
Trang 14Từ (1.1) có thể viết lại phương trình (1.2) như sau :
Nguyên nhân làm sai lệch tính cộng tính độ hấp thụ quang có thể là nguyên nhân hóa học do tương tác hóa học giữa các cấu tử trong hỗn hợp, cũng có thể do tương tác vật lý (lực ion, các cấu tử có sự hút, đẩy lẫn nhau .), do hiện tượng khuếch tán, tán xạ ánh sáng của máy đo, nguyên nhân dụng
Trang 151.2.1 Phương pháp phổ đạo hàm [3, 12]
Phương pháp phổ đạo hàm hiện nay được ứng dụng khá phổ biến trong phân tích các hỗn hợp chất vô cơ, hữu cơ và đặc biệt là các chế phẩm dược dụng
Nguyên tắc của phương pháp:
Độ hấp thụ quang của các cấu tử là hàm của độ dài bước sóng của ánh sáng tới A = f()
Phương trình toán học biểu diễn phổ đạo hàm của độ hấp thụ quang theo bước sóng như sau:
Trang 16Để tính đạo hàm tại bước sóng người ta chọn một cửa sổ n điểm số liệu từ phổ bậc 0 và một đa thức hồi quy được tính bằng phương pháp bình phương tối thiểu Đa thức này có dạng:
A = a0 + a1. + a2.2
+ + ak.k
(1.7) Các hệ số a0, a1, ak tại mỗi bước sóng tương ứng là các giá trị đạo hàm bậc 0, 1, 2, k Để có phổ đạo hàm đối với tập số liệu phổ bậc không, đầu tiên ta phải sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu để tìm được hàm hồi quy là đa thức bậc cao Sau đó lấy đạo hàm của hàm này ta sẽ được các phổ đạo hàm
Như vậy, dùng phương pháp phổ đạo hàm ta có thể tách phổ gần trùng nhau thành những phổ mới và khi đó ta có thể chọn được những bước sóng
mà tại đó chỉ có duy nhất 1 cấu tử hấp thụ quang còn các cấu tử khác không hấp thụ, nhờ đó mà có thể xác định được từng chất trong hỗn hợp Bằng toán học, người ta xây dựng được phần mềm khi đo phổ của dung dịch hỗn hợp có thể ghi ngay được phổ đạo hàm các bậc của phổ đó Căn cứ vào các giá trị phổ đạo hàm ta lựa chọn được bước sóng xác định đối với từng cấu tử, với
thụ của các chất càng cách xa nhau, tức là độ phân giải tốt nhưng cường độ hấp thụ giảm đi nên độ nhạy của phép xác định cũng bị giảm theo Do đó trong thực tế, không nên chọn bậc đạo hàm quá cao mà chỉ nên chọn đến khi
mà đỉnh hấp thụ của hai chất vừa tách khỏi nhau và không còn sự xen phủ hoặc xen phủ rất ít là được
Dùng phổ đạo hàm tăng độ tương phản giữa các phổ có độ bán rộng khác nhau, làm rõ miền hấp thụ đặc trưng của cấu tử nên phương pháp có khả năng chọn lọc tương đối cao
Hạn chế của phương pháp phổ đạo hàm là khi hỗn hợp nghiên cứu có nhiều cấu tử có phổ hấp thụ xen phủ nhau và trường hợp các cấu tử có phổ
Trang 17hấp thụ quang phân tử tương tự nhau thì không thể áp dụng phương pháp phổ đạo hàm, vì khi đó rất khó khăn để lựa chọn được một bước sóng thích hợp để xác định một cấu tử nào đó, mặt khác khi đạo hàm lên thì các cực đại hấp thụ vẫn trùng nhau Đây là hạn chế lớn nhất của phương pháp phổ đạo hàm [3, 12]
1.2.2 Phương pháp Vierordt [3, 6, 12]
hỗn hợp các chất hữu cơ, dược phẩm và hỗn hợp các chất màu Phương pháp Vierordt chủ yếu được dùng với các hệ có từ hai đến ba cấu tử mà độ hấp thụ quang của các cấu tử đó xen phủ nhau không nhiều
Điều kiện để áp dụng phương pháp này là độ hấp thụ quang của các cấu
tử trong hỗn hợp phải tuân theo định luật Bughe - Lămbe - Bia và thoả mãn tính cộng tính
Để xác định nồng độ của các cấu tử trong hỗn hợp, lần đầu tiên Vierordt đã đo độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp ở các bước sóng khác nhau, sau đó thiết lập hệ phương trình bậc nhất mà số phương trình bằng
số ẩn số (số cấu tử trong hỗn hợp), giải hệ phương trình này sẽ tính được nồng
1, bước sóng 2 , và bước sóng n
Trang 18in: hệ số hấp thụ mol phân tử của cấu tử i tại bước sóng n (được xác định bằng cách đo độ hấp thụ quang của dung dịch chỉ chứa cấu tử i ở bước sóng n)
b: bề dày lớp dung dịch (cm)
Ci: nồng độ của cấu tử thứ i trong hỗn hợp (mol/lit) Với i, j = 1 n Giải hệ n phương trình với n ẩn số là C 1, C2 Cn sẽ tìm được nồng độ của các cấu tử
Phương pháp Vierordt chủ yếu được vận dụng để tìm cách giải hệ phương trình như: giải bằng đồ thị, giải bằng ma trận vuông, phương pháp khử Gauss, để xác định nồng độ của mỗi cấu tử
Phương pháp Vierordt đơn giản, dễ thực hiện nhưng chỉ áp dụng được khi số cấu tử trong dung dịch hỗn hợp ít, phổ hấp thụ quang phân tử xen phủ nhau không nhiều, tính chất cộng tính độ hấp thụ quang được thoả mãn nghiêm ngặt, thiết bị đo quang tốt thì phương pháp cho kết quả khá chính xác Đối với hệ nhiều cấu tử, đặc biệt là khi phổ của các cấu tử xen phủ nhau nhiều, tính chất cộng tính độ hấp thụ quang không được thoả mãn nghiêm ngặt, thiết bị đo có độ chính xác không cao thì phương pháp không chính xác
và có sai số lớn [3, 6, 12]
1.2.3 Phương pháp bình phương tối thiểu [3, 12]
Phương pháp bình phương tối thiểu có thể ứng dụng trong việc phân tích các hệ phức tạp có phổ hấp thụ phân tử của các cấu tử xen phủ nhau nhiều Nguyên tắc của phương pháp bình phương tối thiểu cho hệ đa biến (Least Squares – LS) là áp dụng định luật Bughe - Lămbe - Bia và tính chất cộng tính của độ hấp thụ quang để thiết lập số phương trình lớn hơn nhiều số cấu tử trong hỗn hợp
Trong hệ n cấu tử thoả mãn định luật Bughe - Lămbe - Bia và tính chất cộng tính độ hấp thụ quang ta có:
Trang 19A1 = 11bC1 + 21bC2 + + n1bCn
A2 = 12bC1 + 22bC2 + + n2bCn
Am = 1mbC1 + 2mbC2 + + nmbCn (1.10) Một cách tổng quát có thể viết lại hệ phương trình (1.10) là:
Aj =
n
ij i i=1
ε b.C
với Aj là độ hấp thụ quang của hỗn hợp ở bước sóng j
ij: hệ số hấp thụ mol phân tử của cấu tử i ở bước sóng j b: bề dày lớp dung dịch (cm)
Ci: nồng độ của cấu tử i (mol/ lit) Với i = 1 n; j =1 m
Vì ở bước sóng j thì ij và b không đổi nên đặt ij.b = K, phương trình (1.10) được viết lại dưới dạng ma trận:
Với A là véc tơ độ hấp thụ quang có m hàng, 1 cột
C là véc tơ nồng độ của các cấu tử có 1 hàng, n cột
K là ma trận m hàng, n cột của hệ số hấp thụ mol phân tử
Ma trận hệ số hấp thụ K được tính:
A AC' K= =
Dựa vào các giá trị độ hấp thụ quang A0 và các hằng số K, nồng độ của các cấu tử cần phân tích C0 trong các mẫu được tính theo phương trình:
0 0 0
A A K'
C = =
Trang 20Trong đó:
C’, K’ là ma trận chuyển vị của ma trận C và ma trận K
C0, A0 là véc tơ của nồng độ mẫu và của độ hấp thụ quang chuẩn Phương pháp bình phương tối thiểu có thể sử dụng toàn bộ số liệu đo phổ để lập ra hệ m phương trình n ẩn số (m > n) Quá trình biến đổi ma trận theo nguyên tắc của phép bình phương tối thiểu sẽ mắc sai số nhỏ nhất, do đó nâng cao độ chính xác của phép xác định Cho phép sử dụng máy tính hỗ trợ trong việc nhập dữ liệu từ kết quả của máy đo và giải hệ phương trình cho kết quả nhanh chóng chính xác
Hạn chế: Để phân tích cần phải biết thành phần định tính của hỗn hợp, trường hợp chưa biết rõ thành phần của hỗn hợp hoặc các cấu tử có sự tương tác với nhau làm thay đổi hệ số hấp thụ mol phân tử của từng cấu tử thì không thể áp dụng được vì sai số sẽ rất lớn
Về nguyên tắc, có thể sử dụng phổ toàn phần để lập m phương trình n
ẩn (với m >n trong đó m là số bước sóng đo quang, n là số cấu tử trong hỗn hợp) Tuy nhiên phương pháp không chỉ rõ giới hạn dùng những bước sóng
có độ hấp thụ quang A như thế nào cũng như số lượng cấu tử trong hỗn hợp tối đa là bao nhiêu thì kết quả mới chính xác [3, 12]
1.2.4 Phương pháp mạng nơ ron nhân tạo [12]
Phương pháp mạng nơ ron nhân tạo được ứng dụng để xác định đồng thời các cấu tử theo phương pháp trắc quang
Nguyên tắc: Đặt các nơ ron sao cho chúng ở trong những lớp cách biệt, mỗi nơ ron trong một lớp được nối với tất cả các nơ ron khác ở lớp kế tiếp và xác định bằng những tín hiệu chỉ được truyền theo một hướng qua mạng Đó chính là mô hình mạng nơ ron
Quá trình vận hành mạng nơ ron: mỗi nơ ron nhận một tín hiệu từ nơ ron của lớp trước và mỗi tín hiệu này được nhân với hệ số riêng Những tín hiệu
Trang 21vào có trọng số được gom lại và qua một hàm hạn chế dùng để căn chỉnh tín hiệu ra (kết quả) vào một khoảng giá trị xác định Sau đó, tín hiệu ra của hàm hạn chế được truyền đến tất cả các nơ ron của lớp kế tiếp Như thế, để sử dụng mạng giải bài toán, chúng ta sử dụng những giá trị tín hiệu vào cho các lớp đầu Cho phép tín hiệu lan truyền qua mạng và đọc các giá trị kết quả sau lớp ra
Mô hình hoạt động của mạng nơ ron được thể hiện ở hình 1.1
lớp ẩn
Hình 1.1 Mô hình hoạt động của mạng nơ ron
Độ chính xác của tín hiệu ra (kết quả) phụ thuộc vào trọng số của các
nơ ron, nên cần phải hiệu chỉnh các trọng số để giải với từng bài toán cụ thể
Để hiệu chỉnh được trọng số cần các thông tin lan truyền ngược Quá trình lan truyền ngược được thực hiện với một số bước lặp Lúc đầu, các kết quả thu được sẽ là hỗn loạn Kết quả này được so sánh với kết quả đã biết và tín hiệu sai số bình phương trung bình sẽ được tính Sau đó, giá trị sai số sẽ được lan truyền trở lại mạng và những thay đổi nhỏ được thực hiện đối với các trọng số trong mỗi lớp Sự thay đổi trọng số được tính toán sao cho giảm tín hiệu sai số đối với truờng hợp đang xét Toàn bộ quá trình được lặp lại đối với mỗi bài toán và sau đó lại quay trở về bài toán đầu tiên và cứ thế tiếp tục Vòng lặp được lặp lại cho đến khi sai số toàn cục rơi vào vùng xác định bởi một ngưỡng hội tụ nào đó Tất nhiên, không bao giờ các kết quả thu được
có độ chính xác tuyệt đối
Trang 22Hạn chế của phương pháp mạng nơron là việc thực hiện các thí nghiệm phức tạp, khó áp dụng vào thực tế Để xây dựng được chương trình theo phương pháp mạng nơ ron có kết quả cao là rất khó và đòi hỏi người lập trình phải có kiến thức tốt về tin học [12].
1.2.5 Phương pháp lọc Kalman [7, 12]
Thuật toán lọc Kalman được ứng dụng để xác định đồng thời thành phần các chất , các nguyên tố đất hiếm hay một số tá dược trong hỗn hợp bằng phương pháp trắc quang
Nguyên tắc: Thuật toán lọc Kalman hoạt động trên cơ sở các file dữ liệu phổ đã ghi được của từng cấu tử riêng rẽ và của hỗn hợp các cấu tử, xác định sự đóng góp về phổ của từng cấu tử trong hỗn hợp tại các bước sóng Khi chương trình chạy, những kết quả tính toán liên tiếp sẽ càng tiến gần đến giá trị thực
Trong thực tế, người ta sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu để giảm sai số giữa phổ của hỗn hợp với phổ nhân tạo được tiên đoán bởi các xấp xỉ lọc Kalman Kết quả tính toán là lý tưởng khi phổ của hỗn hợp trừ đi phổ nhân tạo được tính bởi lọc Kalman sẽ tạo ra một đường thẳng có độ lệch không đáng kể Độ đúng của phép xác định phụ thuộc vào độ nhiễu của nền, vào việc tách các đỉnh phổ hấp thụ của các cấu tử và sự tương tác giữa các cấu tử Hỗn hợp có càng ít cấu tử, các đỉnh hấp thụ càng cách xa nhau thì sai số của phép tính toán sẽ càng nhỏ
Việc tính toán sẽ được thực hiện trên toàn bộ khoảng bước sóng được chọn Nếu kết thúc quá trình tính toán, độ lệch chuẩn tương đối của giá trị nồng độ các cấu tử trong hỗn hợp vẫn lớn hơn giá trị sai số cho phép thì nồng độ của cấu tử đó sẽ phải xác định lại Trong trường hợp đó, cần phải tăng giá trị sai số mặc định hoặc giảm số giá trị nồng độ mặc định để tính giá trị nồng độ trung bình [7, 12]
Trang 231.3 Tổng quan về acetaminophen, axit ascobic và một số loại thuốc giảm đau, hạ sốt
1.3.1 Sơ lược về acetaminophen
Acetaminophen có c ông thức phân tử là: C8H9NO2
Khối lƣợng mol phân tử: 151,17 (g/mol)
Công thức cấu tạo: Acetaminophen gồm có một vòng nhân benzen, đƣợc thay thế bởi một nhóm hydroxyl và nguyên tử nitơ của một amit theo kiểu para (1,4) Nhóm amit là acetamit
Paracetamol (N-(4-hydroxyphenyl)acetamit)
Cấu trúc phân tƣ̉ là một hệ thống liên kết đôi rộng rãi, nhƣ cặp electron tƣ̣ do trong nguyên tƣ̉ oxi của nhóm hydroxyl , đám mây của vòng benzen, cặp electron tƣ̣ do của nguyên tƣ̉ nitơ và cặp electron tƣ̣ do của nguyên tƣ̉ oxi trong nhóm cacbonyl ; tất cả đều tạo đƣợc nối đôi Sự có mặt của hai nhóm hoạt tính cũng làm cho vòng benzen phản ứng lại với các chất thay thế thơm có
ái lực điện Khi các nhóm thay thế là đoạn mạch thẳng ortho và para đối với mỗi cái khác, tất cả các vị trí trong vòng đều ít nhiều đƣợc hoạt hóa nhƣ nhau Sự liên kết cũng làm giảm đáng kể tính bazơ của nhóm OH và nhóm NH, khi tạo ra các hydroxyl có tính axit
Tên gọi acetaminophen hay paracetamol đƣợc lấy từ tên hóa học của hợp chất: N-acetyl - para-aminophenol
Trang 24Hình 1.2 Các phản ứng tổng hợp acetaminophen
Phenol được nitrat hóa bởi axit sunfuric và natri nitrat (phenol là chất
có hoạt tính cao, sự nitrat hóa của nó chỉ đòi hỏi điều kiện thông thường trong khi hỗn hợp hơi axit sunfuric và axit nitric cần có nitrat benzen)
Chất đồng phân para được tách khỏi đồng phân ortho bằng thuỷ phân, chất 4-nitrophenol được biến đổi thành 4-aminophenol sử dụng một chất khử như natri borohydrit trong dung môi bazơ 4-aminophenol phản ứng với anhydrit axetic để cho acetaminophen
Năm 1878 Harmon Northrop Morse lần đầu tiên đã tổng hợp được acetaminophen từ con đường giáng hóa p-nitrophenol cùng với thiếc trong axit axetic băng Sản phẩm acetaminophen đầu tiên đã được McNeil Laboratories bán ra năm 1955 như một thuốc giảm đau, hạ sốt cho trẻ em với tên Tylenol Children's Elixir [16, 24, 25] Sau này, acetaminophen đã trở thành thuốc giảm đau hạ sốt được sử dụng rộng rãi nhất với rất nhiều tên biệt dược
được lưu hành
Trang 25Tính chất:
Acetaminophen nguyên chất là chất bột màu trắng, không mùi, vị đắng nhẹ, khó tan trong nước, tan tốt trong nước nóng, tan trong ancol và dung dịch hydroxit kim loại kiềm do tạo muối phenolat Khi thủy phân acetaminophen bằng dung dịch axit HCl, sau đó thêm nước thì không xuất hiện kết tủa vì p-aminophenol tan trong axit nhưng nếu thêm thuốc thử kalidicromat vào thì
có phản ứng tạo kết tủa màu tím
Dược động học và tác dụng của hoạt chất acetaminophen
Acetaminophen là chất chuyển hóa có tính chất của phenaxetin, là thuốc giảm đau, hạ sốt hữu hiệu có thể thay thế aspirin, tuy nhiên không như aspirin
nó không hoặc ít có tác dụng chống viêm Acetaminophen hấp thụ nhanh qua
đường tiêu hóa, hiệu suất sử dụng là 80-90%, hầu như không gắn vào protein huyết tương Acetaminophen chuyển hóa lớn ở gan và một phần nhỏ ở thận, cho các dẫn xuất glucozo và sunfo, thải trừ qua thận Cũng như các thuốc chống viêm không chứa steroit khác, acetaminophen có tác dụng hạ sốt và giảm đau, tuy nhiên lại không có tác dụng chống viêm và thải trừ axit uric,
không kích ứng tiêu hóa, không ảnh hưởng đến tiểu cầu và đông máu
Cơ chế tác dụng: Cơ chế tác dụng của acetaminophen đang còn được
tranh cãi, nó cũng có tác dụng ức chế men cyclooxygenas (COX) làm giảm tổng hợp prostaglandin giống như aspirin, tuy nhiên acetaminophen lại không
có tác dụng chống viêm [22,23]
Các men COX chịu trách nhiệm chuyển hóa arachidonic thành prostaglandinH2, là chất không bền vững và có thể bị chuyển hóa thành nhiều loại chất trung gian khác Các thuốc chống viêm kinh điển như NSAIDs tác động ở khâu này Hoạt tính của COX dựa vào sự tồn tại của nó dưới dạng oxy hóa đặc trưng, tyrosin 385 sẽ bị oxy hóa thành một gốc Người ta đã chỉ ra rằng, acetaminophen làm giảm dạng oxy hóa của men này từ đó ngăn chặn nó
Trang 26chuyển hóa các chất trung gian viêm Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, acetaminophen còn điều chỉnh hệ cannabinoit nội sinh, acetaminophen bị chuyển hóa thành AM404, một chất có các hoạt tính riêng biệt; quan trọng nhất là nó ức chế sự hấp thụ của cannabinoit nội sinh bởi các nơron Sự hấp thụ này gây hoạt hóa các thụ thể đau tổn thương của cơ thể Hơn nữa, AM404 còn ức chế giống như các thuốc tê lidocain và procain [24]
sù thuû ph©n (enzim) c¸c glucuronit
axit glucuronit
O
NH COCH3
S O
OH O
c
sù s¾p xÕp l¹i (t¸ch n-íc-chuyÓn vÞ)
N
COCH3
OH
NH COCH3
Protein vµ Axit nucleic
Hình 1.3 Các phản ứng trong chuyển hóa acetaminophen
Trong đó: Glutathione (C10H17O6N3S) là tripeptit phân bố rộng rãi và quan trọng trong các phản ứng oxi hoá mô thực vật, động vật
Trang 27Acetaminophen trước tiên được chuyển hóa tại gan, nơi các sản phẩm chuyển hóa chính của nó gồm các tổ hợp sunfat và glucuronit không hoạt động được bài tiết bởi thận Chỉ một lượng nhỏ nhưng rất quan trọng được chuyển qua con đường hệ enzym cytochrom P450 ở gan và có liên quan đến các tác dụng độc tính của acetaminophen do các sản phẩm ankyl hóa rất nhỏ N-acetyl-p-benzo-quinone imin (NAPQI)
Sự chuyển hóa của acetaminophen là ví dụ điển hình của sự ngộ độc, bởi vì chất chuyển hóa NAPQI có độc tính Ở liều thông thường, chất NAPQI nhanh chóng bị khử độc do liên kết bền vững với các nhóm sunfhydryl của glutathion hay hợp chất sunfhydryl như N-acetylcystein, để tạo ra các tổ hợp không độc và thải trừ qua thận
Tương tác thuốc của acetaminophen: Uống acetaminophen liều cao
dài ngày có thể làm tăng nhẹ tác dụng chống đông của coumarin và dẫn chất indandion Cần phải chú ý đến khả năng gây hạ sốt nghiêm trọng ở người bệnh dùng đồng thời phenothiazin và liệu pháp hạ nhiệt Các thuốc chống giật (như phenytoin, babiturat, cabamazepin ) gây cảm ứng enzym ở microsom thể gan, có thể làm tăng tính độc hại gan của acetaminophen do tăng chuyển hoá thuốc thành những chất độc hại với gan Ngoài ra, dùng đồng thời isoniazit với acetaminophen cũng có thể dẫn đến tăng nguy cơ độc tính với gan, nhưng đến nay chưa xác định được cơ chế chính xác của tương tác này Nguy cơ acetaminophen gây độc tính gan gia tăng đáng kể ở người bệnh uống liều acetaminophen lớn hơn liều khuyên dùng trong khi đang dùng thuốc chống co giật hoặc isoniazit Thường không cần giảm liều khi người bệnh dùng đồng thời liều điều trị acetaminophen và thuốc chống co giật, tuy vậy người bệnh phải hạn chế dùng acetaminophen khi đang dùng thuốc chống co giật hoặc isoniazit
Trang 28Tác dụng phụ: Ở liều thông thường, acetaminophen không gây kích
ứng niêm mạc dạ dày, không ảnh hưởng đông máu và chức năng thận Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho biết dùng acetaminophen liều cao (trên 2000 mg/ngày) có thể làm tăng nguy cơ biến chứng dạ dày Đôi khi xảy ra nổi ban
và những phản ứng dị ứng khác Thường là ban đỏ hoặc ban mề đay, nặng hơn có thể kèm theo sốt do thuốc và thương tổn niêm mạc Người bệnh mẫn cảm với salicylat hiếm khi mẫn cảm với acetaminophen và những thuốc có liên quan Ở một số ít trường hợp riêng lẻ, acetaminophen đã gây giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu Sử dụng acetaminophen trong năm đầu tiên của cuộc sống và sau đó trong thời kỳ thơ
ấu có thể tăng nguy cơ bị hen, viêm mũi, kết mạc mắt và eczema vào lúc 6 đến 7 tuổi, theo các kết quả của giai đoạn 3 của Chương trình nghiên cứu
quốc tế về Hen và các Bệnh dị ứng ở trẻ em [20]
Độc tính của acetaminophen: Với liều điều trị hầu như không có tác
dụng phụ, không gây tổn thương đường tiêu hóa, không gây mất thăng bằng kiềm toan, không gây rối loạn đông máu Tuy nhiên, khi dùng liều cao (>4g/ngày) sau thời gian tiềm tàng 24 giờ, xuất hiện hoại tử tế bào gan có thể tiến triển đến chết sau 5-6 ngày [1, 2, 20, 21]
Một số chế phẩm tại Việt Nam
- Chế phẩm viên nén: Paracetamol, Panadol, Donodol 500mg, Ameflu
- Chế phẩm viên đạn: Efferalgan, Panadol 80mg, 150mg, 300mg
- Chế phẩm viên sủi: Efferalgan, Donodol, Panadol 500mg
- Chế phẩm gói bột Efferalgan 80mg, Hapacol Kids, Effe Paracetamol,
- Chế phẩm dạng bột tiêm: Pro-Dafalgan 2g proparacetamol tương đương 1g paracetamol
- Chế phẩm dạng dung dịch uống
- Các chế phẩm kết hợp với các thuốc khác
Trang 291.3.2 Sơ lược về axit ascobic
Axit ascobic có công thức phân tử là: C6H8O6
Khối lượng mol phân tử: 176,13 (g/mol)
Công thức cấu tạo:
Axit ascobic (vitamin C) là 1 chất chống oxy hóa cần thiết đối với dinh dưỡng của con người Thiếu vitamin C có thể dẫn đến bệnh scobat đặc trưng khiến cho xương và răng không bình thường Rất nhiều trái cây và rau quả chứa vitamin C, nhưng việc chế biến món ăn đã làm mất đi hàm lượng vitamin C, vì vậy, trái cây tươi và nước hoa quả như cam, quýt là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin C cho cơ thể Vitamin là hợp chất hữu cơ, được cung cấp cho cơ thể với số lượng nhỏ từ thức ăn, là những chất không thể thiếu đối với
cơ thể người cũng như động vật để tạo ra các coenzym cần thiết cho các phản ứng chuyển hoá khác nhau
Vitamin C là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho các loài linh trưởng bậc cao và cho một số nhỏ các loài khác Sự hiện diện của ascobat là cần thiết trong một loạt các phản ứng trao đổi chất trong tất cả các động vật và cây cối
và được được tạo ra trong cơ thể của hầu hết sinh vật, loại trừ loài người Đây
là một chất được mọi người biết đến rộng rãi, là một vitamin mà thiếu nó thì
sẽ gây ra bệnh scobat cho con người [1, 2, 16, 17]
Tính chất, trạng thái tồn tại và cơ chế tác dụng
Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả tươi như bông cải xanh, khoai tây, cải brussel, rau cải, cà chua, cam, quýt, chanh, bưởi …
Vitamin C kết tinh không màu hoặc hơi vàng, rất dễ tan trong nước (300g/lít) Dạng muối natri của axit ascobic dễ tan trong nước hơn (900g/lít)
Khác với các loài động vật khác, cơ thể người không thể tự sản xuất vitamin C Thiếu vitamin C sẽ có triệu chứng: chảy máu nướu răng, chậm
Trang 30lành vết thương, các vết thâm tím rộng trên da (mảng xuất huyết dưới da) Thêm vào đó là sự dễ bị nhiễm trùng, stress và trầm cảm
Từ năm 1556 đến 1857, đã có 114 dịch scurvy xảy ra suốt trong các tháng mùa đông, lúc mà không thể cung cấp đầy đủ nguồn rau xanh cho cơ thể Vitamin C được coi là “yếu tố chống scotbus”, được Albert Szent-Gyorgyi phân lập năm 1928 Gần 70 năm sau, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra nhiều lợi ích của vitamin C đối với sức khỏe Ngày nay mặc dù bệnh scobat hiếm gặp trong xã hội chúng ta, song thiếu hụt vitamin C ở mức độ cận lâm sàng và mức độ giới hạn dưới cũng khá phổ biến, đặc biệt là ở người già
Thiếu vitamin C gây ra bệnh scobat, với các biểu hiện:
xương, đốm xuất huyết, tăng sừng hóa ở nang lông Nếu không điều trị có thể
tử vong do chảy máu ồ ạt hoặc do thiếu máu cục bộ cơ tim
- Đối với trẻ nhỏ: thường do chế độ ăn nhân tạo, bị chảy máu dưới màng xương, nhất là chi dưới, dễ chảy máu dưới da, vết thương lâu lành
Vitamin C tuy ít được tích luỹ trong cơ thể nhưng nếu dùng liều cao lâu ngày, có thể tạo sỏi oxalat (do dehydroascorbic chuyển thành axit oxalic), hoặc sỏi thận urat, có khi cả hai loại sỏi trên, đi lỏng, rối loạn tiêu hóa, giảm
độ bền hồng cầu Dùng vitamin C liều cao kéo dài ở thai phụ gây tăng nhu cầu bất thường về vitamin C ở thai (vì vitamin C qua rau thai) dẫn đến bệnh scobat sớm ở trẻ sơ sinh
Trang 31thành axit folinic trong tổng hợp cacnitin Vitamin C cũng tham gia xúc tác oxi hóa thuốc qua microsom (cytochrom P450) gan; giúp dopamin hydroxyl hoá thành nor-adrenalin Vitamin C giúp dễ hấp thu sắt do khử Fe3+ thành
Fe2+ ở dạ dày, để rồi dễ hấp thụ ở ruột, ở mô Vitamin C giúp tổng hợp collagen, proteoglycan và các thành phần hữu cơ khác ở răng, xương, nội mô mao mạch
Trong tự nhiên, vitamin C có mặt cùng vitamin P (vitamin C2) Vitamin P
có tính chống oxi hóa nên bảo vệ được vitamin C Hơn nữa vitamin P còn kết hợp với vitamin C để làm bền vững thành mạch, tăng tạo collagen, ức chế hyaluronidas Vitamin E, β-caroten và selen cùng với vitamin C tham gia thanh thải gốc tự do có hại trong cơ thể
Chức năng chủ yếu của vitamin C là sản xuất collagen, một protein chính của cơ thể Đặc biệt, vitamin C giúp nối kết một phần của phân tử amino axit prolin để hình thành hydroxyprolin Kết quả làm cho cấu trúc collagen rất ổn định Collagen không những là một protein rất quan trọng trong việc liên kết các cấu trúc cơ thể với nhau (mô liên kết, sụn khớp, dây chằng, vv ) Vitamin C còn hết sức cần thiết cho việc làm lành vết thương, sự mạnh khỏe của nướu răng, và ngăn ngừa các mảng bầm ở da Ngoài ra vitamin C còn có chức năng miễn dịch, tham gia sản xuất một số chất dẫn truyền thần kinh và hocmon, tổng hợp carnitin, hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác Vitamin C cũng là một chất dinh dưỡng chống oxi hóa rất quan trọng
Các nhà y học đã xác nhận vitamin C làm tăng cường hệ thống miễn dịch, đặc biệt trong ngăn ngừa và điều trị cảm cúm thông thường Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi về hiệu lực của vitamin C Theo quan điểm
về sinh hóa, vitamin C đóng một vai trò thiết yếu trong nhiều cơ chế miễn dịch Sự nhiễm trùng nhanh chóng làm suy giảm lượng dự trữ vitamin C trong
Trang 32các bạch cầu, nhất là lymphocyt và thiếu hụt vitamin C chắc chắn xảy ra nếu không được bổ sung thường xuyên
Vitamin C ảnh hưởng đến nhiều chức năng miễn dịch, như tăng cường chức năng và hoạt động của của các bạch cầu, tăng nồng độ interferon, tăng nồng độ và đáp ứng kháng thể, tăng tiết hocmon tuyến ức và bảo đảm sự toàn vẹn của chất nền Vitamin C cũng có nhiều tác động sinh hóa tương tự như interferon, một hợp chất thiên nhiên của cơ thể có khả năng chống virus và ung thư
Khi bị stress hoá học, xúc cảm, stress tâm lý hay sinh lý, thì vitamin C bài tiết đáng kể qua đường tiết niệu, làm tăng nhu cầu vitamin C lên cao trong các giai đoạn này Các tác nhân gây stress hóa học như thuốc lá, ô nhiễm môi trường Có khuyến cáo rằng nên sử dụng các chế phẩm bổ sung vitamin C hoặc các thực phẩm giàu vitamin C để bù đắp sự thiếu hụt này
Vitamin C hoạt động chống oxi hóa trong môi trường nước của cơ thể
cả nội bào lẫn ngoại bào Vitamin C cùng với các enzym hoạt động chống oxi hóa khác như glutathion peroxidadas, catalas, và superoxid dismutas.Vitamin
C còn hỗ trợ cho vitamin E trong vai trò chống oxi hóa trong cơ thể, tăng cường hiệu lực của vitamin E
Cùng với vitamin C và E, glutathion đảm đương vai trò chống đỡ và ngăn ngừa các tổn thương do các gốc tự do Những cá thể bị thiếu glutathion
di truyền (do thiếu men tổng hợp) có thương tổn tế bào tăng đáng kể Các tế bào hồng cầu, bạch cầu và mô thần kinh bị ảnh hưởng nhiều nhất Hậu quả là
vỡ hồng cầu, giảm chức năng bạch cầu, thoái hóa mô thần kinh
Trên các cá thể nếu quá trình tổng hợp glutathion bị giảm , người ta thường dùng các chất chống oxi hóa như glutathion, 2-mercaptopropionyl-glycin, vitamin E, vitamin C, và N-acetylcystein (NAC), trong đó vitamin C
và NAC có ích lợi nhiều nhất Các nghiên cứu đã cho thấy vitamin C làm
Trang 33giảm tổn thương tế bào trên các bệnh nhân thiếu glutathion di truyền hiệu quả hơn và chi phí thấp hơn NAC Với liều 500mg mỗi ngày, vitamin C đảm bảo duy trì nồng độ phù hợp glutathion hồng cầu
Vitamin C hiện có rất nhiều dạng tinh thể, bột, viên nhộng, viên nén, viên nén phóng thích hẹn giờ,… , vitamin C trong các dạng này thực tế khác nhau Vitamin C là dạng rẻ tiền và được sử dụng rộng rãi nhất Các dạng đệm cho vitamin C như muối natri, magie, canxi, kali ascobat Các dạng đệm này được dùng vì đôi khi axit ascobic ảnh hưởng đến dạ dày Các dạng này ít bị ảnh hưởng, chỉ dạng muối natri ascobat ảnh hưởng lên một số bệnh nhân nhạy cảm với natri (như suy thận) Hầu hết các dạng vitamin C thương mại đều có nguồn gốc từ ngũ cốc Đối với những người nhạy cảm với ngũ cốc nên sử dụng vitamin C có nguồn gốc khác như từ cây cọ sagu [1, 2, 13, 25]
1.3.3 Một số thuốc chứa acetaminophen, axit ascobic trên thị trường hiện nay
clorua, 0,02% sunfat, 2.10-5 % kim loại nặng , 5 10-5 4-aminophenol
Công dụng: Điều trị đau dây thần kinh, nhức đầu, đau cơ, gân, đau mỏi người, cảm sốt, đau khớp
- Panadol-extra: chứa 500mg acetaminophen và 65 mg cafein
Công dụng: tác dụng hạ sốt, giảm đau, điều trị đau đầu, đau họng, đau
cơ xương, đau do viêm khớp
- Effelagal dạng viên nén sủi bọt có Vitamin C: acetaminophen 330 mg
vitamin C 200 mg
Dạng uống được hấp thu nhanh và gần như hoàn toàn Dạng tọa dược được hấp thu kéo dài, khả năng tác dụng của cả hai dạng tương đương nhau Thuốc được phân phối nhanh trong môi trường lỏng Liên kết yếu với protein trong huyết tương Thời gian bán hủy trong huyết tương từ 2 đến 2 giờ 30 đối
Trang 34với dạng uống và từ 4 đến 5 giờ đối với dạng tọa dược Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được sau 30 đến 60 phút đối với dạng uống và sau 2 đến 3 giờ đối với dạng tọa dược
Chuyển hóa ở gan: acetaminophen được chuyển hóa theo 2 đường và được đào thải cùng nước tiểu dưới dạng liên hợp với glucuronic (60-80%) và liên hợp với sunfonic (20-30%), và < 5% dưới dạng không đổi Một phần nhỏ (< 4%) được chuyển hóa dưới tác dụng của cytochrom P450 thành chất chuyển hóa, chất này sau đó được khử độc nhanh chóng bởi glutathion Trường hợp ngộ độc do dùng liều cao, lượng chất chuyển hóa này tăng lên
Vitamin C: hấp thụ tốt, trường hợp dùng quá nhu cầu, lượng thuốc dư được đào thải theo nước tiểu
Chỉ định: Điều trị triệu chứng các bệnh gây đau mức độ nhẹ và trung bình hoặc sốt
Chống chỉ định: Quá mẫn cảm với acetaminophen, suy tế bào gan, sỏi
thận khi liều dùng của vitamin C trên 1g/ngày
Thận trọng khi dùng: Ở trẻ em dùng liều 60 mg/kg/ngày, acetaminophen chỉ dùng phối hợp với thuốc hạ sốt khi thuốc không có hiệu quả này
Tác dụng ngoại ý: Ít trường hợp dị ứng phát ban ngoài da với hồng ban hoặc mề đay, hiếm khi giảm tiểu cầu
Vitamin C dùng liều cao (trên 1 g/ngày) có thể gây rối loạn tiêu hóa (nóng rát dạ dày, tiêu chảy), rối loạn tiết niệu (kết tủa sỏi urat, sỏi cystin hoặc oxalat), tán huyết
- Viên nén Ameflu chứa 500 mg acetaminophen, 100 mg vitamin C
200 mg guaifenesin, 30 mg pseudoephedrin HCl, 15 mg dextromethorphan HBr
Trang 35Công dụng: Thuốc được chỉ định làm giảm các triệu chứng cảm lạnh và cảm cúm: sốt, ho, các cơn đau nhẹ, đau họng, nhức đầu, sung huyết mũi, làm loãng đờm và làm loãng dịch tiết phế quản giúp dễ ho hơn, giảm suy nhược
- Effe-Paracetamol: Thuốc bột sủi bọt , Thành phần chứa trong 1 gói là
200 mg acetaminophen, 200 mg vitamin C
Công dụng: Thuốc trị giảm đau, kháng viêm dùng điều trị các chứng bệnh gây đau nhẹ hoặc sốt
-Hapacol Kids: Thành phần chứa trong 1 gói thuốc là 150 mg acetaminophen
75 mg vitamin C được bào chế dưới dạng thuốc bột dùng cho trẻ em
Công dụng: giảm đau, hạ sốt nhanh có tác dụng kháng với nhiễm khuẩn
ở cơ thể trẻ nhỏ, thuốc có mùi thơm, vị ngọt, tan hoàn toàn trong nước nên dễ hấp thụ vào cơ thể đặc biệt phù hợp cho trẻ em 2 đến 4 tuổi
1.4 Phương pháp xác định riêng acetaminophen và axit ascobic
1.4.1 Phương pháp xác định acetaminophen
1.4.1.1 Xác định acetaminophen dạng nguyên liệu
Hòa tan 0,3000 gam chế phẩm vào hỗn hợp gồm 10 ml nước và 30 ml axit sunfuric loãng Đun hồi lưu trong 60 phút, sau đó làm lạnh, thêm nước thành 100 ml Lấy 20 ml dung dịch trên thêm 40 ml nước, 40 gam nước đá,
15 ml axit clohidric loãng và 0,1 ml dung dịch feroin Chuẩn độ bằng dung dịch amoni ceri sunfat 0,1M cho đến khi xuất hiện màu vàng Tiến hành phân tích mẫu trắng song song với mẫu thật trong cùng điều kiện [1, 2, 13]
1ml dung dịch amoni ceri sunfat tương đương với 7,56 mg acetaminophen
1.4.1.2 Acetaminophen dạng viên nén
Cân 20 viên nén, tính khối lượng trung bình của bột thuốc trong một viên thuốc, đem nghiền mịn, trộn đều Cân chính xác một lượng bột thuốc tương đương với khoảng 0,15 gam acetaminophen cho vào bình định mức
Trang 36200 ml, thêm 50 ml NaOH 0,1N, thêm 100 ml nước cất, khuấy 15 phút thêm nước đến vạch Lắc đều rồi lọc bỏ 10 ml dung dịch đầu Lấy chính xác 10 ml dung dịch lọc vào bình định mức 100 ml rồi thêm nước pha loãng đến vạch định mức, lắc đều Lấy 10 ml dung dịch vừa pha cho vào bình định mức 100
ml, thêm 10 ml NaOH 0,1N thêm nước đến vạch định mức lắc đều Đo độ hấp thụ của dung dịch thu được ở bước sóng 257 nm (cu vét dày 1cm) Mẫu trắng
là dung dịch NaOH 0,1 N Dựa vào độ hấp thụ quang A, tính được hàm lượng acetaminophen [13]
1.4.2 Phương pháp xác định axit ascobic(vitamin C)
1.4.2.1 Xác định vitamin C nguyên liệu
Phương pháp xác định hàm lượng vitamin C trong thực phẩm là sử dụng phương pháp oxi hóa - khử Phản ứng oxi hóa khử tốt hơn phương pháp chuẩn độ axit-bazơ Iốt tương đối ít tan trong nước, nhưng tan trong dung dịch
I- tạo thành triiođua:
2
Dùng dung dịch chuẩ n triiođua để chuẩn độ vitamin C với chất chỉ thị
là hồ tinh bột Khi vitamin C đã bị oxi hóa hết thì 1 giọt dung dịch triiođua dư
sẽ phản ứng với tinh bột tạo nên một hỗn hợp màu xanh thì ngừng chuẩn độ
Quy trình chuẩn độ này thích hợp trong việc kiểm tra hàm lượng vitamin C trong thuốc , nước ép quả và các loại trái cây tươi, đông lạnh hoặc rau quả đóng gói [1, 13]
1.4.2.2 Quy trình xác định vitamin C
Mục đích của thí nghiệm này là xác định hàm lượng vitamin C trong các mẫu thử, ví dụ nước ép quả