Bột cỏ được chế biến từ các phần non của cây, vì vậy chúng chứa nhiều chất sinh trưởng tự nhiên, sắc tố, protein, khoáng đa vi lượng và các vitamin,… Việc chế biến bột cỏ trong chăn nuôi
Trang 1––––––––––––––––––
PHẠM THỊ THANH
XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU
(LEUCAENA LEUCOCEPHALA) KHÔNG XỬ LÝ VÀ
ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG CÁCH NGÂM NƯỚC ĐẾN SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––
PHẠM THỊ THANH
XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA BỘT LÁ KEO GIẬU
(LEUCAENA LEUCOCEPHALA) KHÔNG XỬ LÝ VÀ
ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG CÁCH NGÂM NƯỚC ĐẾN SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Hùng
PGS TS Trần Thanh Vân
THÁI NGUYÊN - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Các kết quả và nghiên cứu luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
- Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn
- Mọi thông tin trích dẫn từ các tài liệu tham khảo được trình bày trong luận văn này đã ghi rõ nguồn gốc
Tác giả Phạm Thị Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc thầy giáo TS Nguyễn Đức Hùng & PGS TS Trần Thanh Vân đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban giám hiệu, Khoa Chăn nuôi thú y, Khoa sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên & Trại giống gia cầm Thịnh Đán đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới mọi người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi để tôi yên tâm hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các vị hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 2010
Tác giả
Phạm Thị Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới thiệu về cây keo giậu (Leucaena) 4
1.1.1 Tên gọi 4
1.1.2 Nguồn gốc, phân bố, phân loài và công dụng của keo giậu 4
1.1.3 Đặc tính sinh học của keo giậu 6
1.1.4 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của keo giậu 7
1.2 Các chất hạn chế tiêu hóa chủ yếu của keo giậu và phương pháp loại bỏ, hạn chế độc tính của keo giậu 16
1.2.1 Mimosine và sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi mimosine (3,4 - Dihydroxypyridine) 16
1.2.2 Tanin 20
1.2.3 Antitrypsine 21
1.2.4 Gôm galactane 21
1.2.5 Saponine 22
1.2.6 Các phương pháp loại bỏ và hạn chế các chất hạn chế tiêu hóa của keo giậu 22
1.3 Tiềm năng sản xuất thức ăn - Phương pháp chế biến và tiêu chuẩn chất lượng của BLKG 24
1.3.1 Tiềm năng sản xuất thức ăn 24
1.3.2 Phương pháp chế biến, tiêu chuẩn chất lượng và ảnh hưởng của phương pháp chế biến đến chất lượng BLKG 27
1.4 Sử dụng keo giậu trong chăn nuôi gà 29
1.4.1 Trên thế giới 29
1.4.2 Ở Việt Nam 34
Trang 6Chương II: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 36
2.1.1 Đối tượng 36
2.1.2 Địa điểm 36
2.1.3 Thời gian 36
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu BLKG 36
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm trên gà 38
2.3.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 39
Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Thành phần hóa học của BLKG trồng tại Thái nguyên 43
3.2 Thành phần và hàm lượng các acid amin của BLKG trồng tại Thái Nguyên 46
3.3 Chất lượng protein của BLKG 48
3.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ BLKG không xử lý và xử lý bằng cách ngâm nước đến sức sản xuất của gà bố mẹ Lương Phượng 49
3.5 Ảnh hưởng của BLKG không xử lý và được xử lý bằng cách ngâm nước đến chất lượng trứng của gà bố mẹ Lương Phượng 54
3.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ BLKG không xử lý và được xử lý bằng cách ngâm nước đến khả năng ấp nở của trứng gà bố mẹ Lương Phượng 61
3.7 Ảnh hưởng của BLKG không xử lý và được xử lý bằng nước đến tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng và gà giống 64
3.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ BLKG không xử lý và được xử lý bằng cách ngâm nước đến tiêu tốn năng lượng trao đổi và protein cho sản xuất trứng và gà giống 67
3.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ BLKG không xử lý bằng cách ngâm nước trong thức ăn đến chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà giống 69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Đề nghị 71
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
CÁC TỪ VIẾT TẮT
AOAC : Association of Officical Analytical Chemists - Hiệp hội
các nhà phân tích hóa học BLKG : Bột lá keo giậu
BLKGNN : Bột lá keo giậu ngâm nước
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hàm lượng acid amin của khô dầu đậu tương, bột cá, cỏ Medi,
lá và hạt keo giậu 9 Bảng 1.2 Chất lượng bột lá keo giậu chế biến bằng phương pháp phơi
khô ở các tháng trong năm 14 Bảng 1.3 Thành phần hóa học của BLKG của một số nước Đông Nam
Á và thế giới 14 Bảng 1.4 Thành phần hóa học của BLKG ở các vùng sinh thái khác nhau (%) 15 Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm, thành phần thức ăn và dinh dưỡng của
khẩu phần nuôi gà bố mẹ Lượng Phượng 39 Bảng 3.1 Thành phần hoá học của BLKG không xử lý và BLKG
ngâm nước (% VCK) 43 Bảng 3.2 Thành phần và hàm lượng các acid amin của BLKG ( % VCK) 46 Bảng 3.3 Hàm lượng các acid amin thiết yếu và EAAI của protein BLKG
không xử lý và được xử lý bằng cách ngâm nước 48 Bảng 3.4 Sản lượng trứng và tỷ lệ đẻ của gà bố mẹ Lương Phượng (Giai
đoạn 27 - 45 TT) 54 Bảng 3.5 Khối lượng và chất lượng trứng của gà Lương Phương 58 Bảng 3.6 Khả năng ấp nở của trứng gà bố mẹ Lương Phương (giai đoạn
27 - 45 tuần tuổi) 61 Bảng 3.7 Tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng và gà giống của gà bố mẹ
Lương Phương (giai đoạn 27 - 45 tuần tuổi) 65 Bảng 3.8 Tiêu tốn ME và Protein cho sản xuất trứng và gà giống 67 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ BLKG không xử lý và xử lý bằng cách ngâm
nước trong thức ăn đến chi phí thức ăn cho sản xuất trứng và gà giống 69
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc hoá học của mimosine 18 Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ đẻ trứng qua các tuần tuổi 56 Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ đẻ trứng trung bình của gà (giai đoạn 27 - 45 tuần tuổi) 57 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nở của trứng 63 Hình 3.4 Biểu đồ tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng, trứng giống và gà giống 66
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, chăn nuôi sạch, an toàn đang trở thành vấn đề cấp thiết của thế giới và Việt Nam Để thực hiện được mục tiêu của chăn nuôi sạch, an toàn người ta thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp như: con giống, chuồng trại, phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường và chế độ thức ăn dinh dưỡng,…Trong những năm gần đây tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng, các sản phẩm động vật và sản phẩm tổng hợp nhìn chung đều chịu sự ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường, nhất là việc tồn dư kháng sinh, hoocmon, kim loại nặng và kim loại độc Vì vậy, việc sử dụng nguyên liệu sạch có nguồn gốc từ tự nhiên để sử dụng trong chăn nuôi là một trong các giải pháp thực hiện chăn nuôi sạch, an toàn, góp phần cung cấp cho thị trường những sản phẩm sạch có lợi cho sức khỏe con người
Trên thế giới việc sử dụng thức ăn thực vật, đặc biệt là bột cỏ dùng làm thức ăn cho chăn nuôi khá phổ biến Bột cỏ được chế biến từ các phần non của cây, vì vậy chúng chứa nhiều chất sinh trưởng tự nhiên, sắc tố, protein, khoáng đa vi lượng và các vitamin,…
Việc chế biến bột cỏ trong chăn nuôi còn nhằm những mục đích khác như: tận dụng nguồn thức ăn trong mùa nhiều cỏ để sử dụng vào mùa thiếu
cỏ, bổ sung vitamin vào khẩu phần ăn cho động vật mà thành phần này trong thức ăn hỗn hợp thường bị thiếu hụt do quá trình chế biến ở nhiệt độ cao và bảo quản trong thời gian dài Đặc biệt, bột lá cây họ đậu còn cung cấp một nguồn protein đáng kể giá thành thấp cho động vật
Nước ta là một nước thuộc khu vực và khí hậu nhiệt đới rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp quanh năm với phong phú về chủng loại cây trồng và vật nuôi để cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ cho con người và vật nuôi
Trang 11Cây keo giậu (Leucaena) là cây bộ họ đậu có tiềm năng về dinh dưỡng,
cải tạo và chống xói mòn cho đất dốc Vì vậy, từ lâu keo giậu đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu để ứng dụng những khả năng của nó vào sản xuất
Những nghiên cứu ban đầu cho thấy, cây keo giậu là một cây dễ trồng,
có năng xuất chất xanh cao, giầu protein, vitamin, khoáng chất và các chất sắc
tố, đặc biệt là caroten Keo giậu có khả năng sống trên nhiều loại đất thoát nước có độ pH từ 5 - 7, thời gian sinh trưởng dài suốt từ mùa xuân đến mùa thu, khả năng sinh trưởng và tái sinh nhanh, có khả năng cải tạo đất và chống xói mòn
Tuy nhiên, keo giậu có chứa một số chất alcaloid có hại tới sinh trưởng, sinh sản và sức khỏe của động vật Những alcaloid này là nguyên nhân hạn chế sử dụng sản phẩm keo giậu trong khẩu phần ăn của động vật dạ dày đơn
và gia cầm
Trong các chất hạn chế tiêu hóa của keo giậu, mimosine là chất đáng quan tâm, có thể gây ra rối loạn trong trao đổi protein, làm ảnh hưởng tới sinh trưởng, sinh sản và sức khỏe của động vật Tuy nhiên, người ta đã có nhiều biện pháp loại bỏ hoặc làm giảm độc tính của mimosine để sử dụng keo giậu với một tỷ lệ lớn trong khẩu phần ăn góp phần làm giảm chi phí và làm tăng sản lượng, chất lượng trong chăn nuôi
Người ta thừa nhận keo giậu là một loại thức ăn ngon miệng và khá hoàn chỉnh đối với động vật nhai lại (Lulandala và Hall, 1991 [53]) Đối động vật dạ dày đơn như: lợn, thỏ…ở những tỷ lệ thích hợp trong khẩu phần, keo giậu đã có ảnh hưởng tốt đến tăng khối lượng, năng suất sữa ở động vật nhai lại (Chee và Devendra, 1993 [26]) Nhưng đối với gà, ảnh hưởng của BLKG đến khả năng sinh sản, ấp nở của trứng và sức khỏe của đàn gà chưa được nghiên cứu nhiều và hệ thống, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
Trang 12Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Xác định ảnh hưởng của BLKG (Leucaena leucocephala) không xử
lý và được xử lý bằng cách ngâm nước đến sức sản xuất của gà sinh sản Lương Phượng”
2 Mục tiêu của đề tài
- Xác định tỷ lệ thích hợp của BLKG Leucaena leucocephala không xử
lý và được xử lý bằng cách ngâm nước trong khẩu phần ăn của gà sinh sản Lương phượng
- Đánh giá hiệu quả khử độc BLKG Leucaena leucocephala bằng cách
ngâm trong nước 24 giờ
3 Những đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá khử độc của BLKG bằng cách ngâm BLKG vào nước trong
Trang 13Chương I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về cây keo giậu (Leucaena)
1.1.1 Tên gọi
Keo giậu là một cây thuộc bộ họ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa
học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit Tên gọi “Leucaena” là danh pháp
quốc tế gọi chung cho loài cây này Ngoài ra, keo giậu còn có các tên khác như:
Leucaena Glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam, Mimosa glauca L, Acacia glauca (L.) Moenth Ở các quốc gia khác nhau, keo giậu còn có các tên
khác nhau Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Moxico và Tây Ban Nha gọi
là Guaje; Philippine gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul hoặc Subabul; Inđonexia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là Kao haole; Trung Quốc gọi là Yin hue
huan và Quần đảo Thái Bình Dương gọi là Tanggantangan…
Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố ở khắp nơi trên đất trung du và đồng bằng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc
tự nhiên ở một số địa phương (Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [10]) Ở các địa phương
khác nhau, keo giậu cũng có các tên khác nhau Miền Bắc gọi là Keo giậu; Miền Trung gọi là Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình linh Giống keo giậu mọc hoang ở
nước ta thuộc kiểu Hawaii (Dương Hữu Thời và cộng sự, 1982 [15]), năng suất không cao (Ngô Văn Mận, 1977 [12])
1.1.2 Nguồn gốc, phân bố, phân loài và công dụng của keo giậu
- Nguồn gốc
Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico (NAS,
1984 [57]) Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500 m so với mặt biển, đất nửa khô hạn, hơi kiềm hay acid nhẹ
Trang 14Năm 1965, Người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin
để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ (Brewbaker, 1985 [24]; Oakes, 1968 [60]) Cuối thế kỷ VXII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được đưa tới các nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Inđonexia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984 [57]) Keo giậu được nhập vào Hawaii, Fijii, bắc Austrailia, Ấn Độ, Đông Phi, vùng biển Caribbean Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều Trong những năm
70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Inđonexia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và sử dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi
- Phân loại
Keo giậu thuộc giới thực vật (Botany), ngành thực vật có hoa (Flowering Botany), lớp 2 lá mầm (Dicotyledom), bộ đậu (Leguminosales), họ trinh nữ (Mimosacea), chi Leucaena, Loài Leucaena leucocephala là quan trọng nhất Đến nay người ta đã phát hiện thấy có trên 18.000 giống (cultivar)
(NFTA, 1985 [59])
Các loài keo giậu khác nhau có sự khác nhau về độ cao, hình dáng
(phenotype), tuổi thành thục, sức sống và năng suất Sự khác nhau này phản
ánh tính không đồng nhất về kiểu gen giữa các loài keo giậu Người ta chia keo giậu thành 3 kiểu chính
+ Kiểu keo giậu Hawaii: Tầm vóc cây bé và đỉnh tròn, chiều cao từ 5 - 8 m;
lá, quả và hạt to, cây ra hoa kết trái 2 vụ trong năm, cây thích ứng với vùng khô hạn và ven biển nhiệt đới
+ Kiểu keo giậu Salvado: Kiểu này cao và mảnh, chiều cao có thể đạt tới 20 m và đường kính thân có thể tới 40 cm, thân phân cành ít, lá chép, quả
có hạt lớn và dày, ra hoa và kết hạt 1 - 2 lần/năm Kiểu này bao gồm tất cả các tập đoàn keo giậu lớn như giống K (K8, K28, K67)
Trang 15+ Kiểu keo giậu Peru: Chiều cao đạt tới 10 - 15 m; đường kính thân cây
từ 5 - 10 cm; sinh trưởng nhanh, phân cành ngay từ gốc, cành nhỏ, lá to và nhiều, hình thành nên đỉnh lá lớn Đây là kiểu tiềm năng lớn cho thức ăn gia súc, bắt đầu ra hoa lúc 6 - 12 tháng tuổi, cây ra hoa 1 lần/năm
- Công dụng
Từ hàng ngàn năm nay, thổ dân ở thung lũng Tehuacan, Chiapas và Yucatan (miền nam Mexico) đã biết sử dụng ngọn và quả non của keo giậu làm rau xanh cho người, sử dụng keo giậu tươi làm thức ăn cho gia súc và coi keo giậu như một cây trồng trong hệ thống trồng trọt Keo giậu là loài cây có nhiều công dụng và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như: thức ăn chăn nuôi, phủ xanh đất trống và đối trọc, cung cấp gỗ củi, chế biến lâm sản
là nguồn phân để cải tạo đất; chống xói mòn cho các vùng đất dốc, làm hàng cây chắn gió, làm bóng mát cho các cây trồng khác, làm giải phòng hỏa, trồng
để trang trí cho khu vườn, nhà …
1.1.3 Đặc tính sinh học của keo giậu
Keo giậu là một loài cây có biên độ sinh thái rộng, thích ứng với kiểu vùng khí hậu nhiệt đới (Sorensson, 1994 [71]), có khả năng kết hợp với các
loài vi khuẩn Rhizobium và nấm Mycorrhiza cộng sinh nên có thể chịu hạn,
sử dụng có hiệu quả nước và muối khoáng nằm sâu trong đất, cũng như nitơ trong không khí để tạo ra bộ lá giầu protein, vitamin, khoáng vi lượng (NAS,
1984 [57]) Những vi khuẩn này Rhizobium này có khả năng hấp thu một số
lượng lớn nitơ hoặc hợp chất vô cơ chứa nitơ Hầu hết nitơ được cố định trong
rễ cây đều tìm thấy trong lá và hạt của cây (NFTA, 1985 [59]) Do sự giầu có
về protein mà keo giậu có thể sử dụng như một nguồn phân hữu cơ có thể cải tạo và tăng độ phì nhiêu trong đất Ngoài ra, lá và hạt keo giậu còn được sử dụng như một nguồn thức ăn cho động vật và hạt keo giậu còn được sử dụng như một nguồn thức ăn protein cho con người, như ở Trung Mỹ, Inđonexia và Thái Lan (Sethi và Kulkam, 1995 [67])
Trang 16Keo giậu cũng có một số hạn chế về sinh trưởng và sâu bệnh như:
+ Lạnh, sương muối và nhiệt độ thấp hơn 10o
C
+ Đất chua và có pH ≤ 5
+ Giai đoạn đầu dễ bị cỏ dại lấn áp
+ Keo giậu ít bị sâu bệnh, chỉ bị bệnh thối rễ, bệnh nấm ở thân, quả và hạt và bị bọ nhảy phá hoại
1.1.4 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của keo giậu
Các kết quả nghiên cứu ghi lại trong 65 báo cáo đã công bố từ năm 1946 đến 1992 được Garcia và cộng sự (1996) [38] thống kê và tổng hợp cho thấy, thành phần hoá học và hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong keo giậu phong phú và biến động Thành phần hoá học và hàm lượng các chất dinh dưỡng của keo giậu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài, giống, vị trí địa lý, mùa vụ, giai đoạn phát triển khác nhau của cây và các cách xử lý khác nhau sau thu hoạch Nhìn chung, các kết quả phân tích cho thấy keo giậu là loại cây giầu protein, khoáng, vitamin và các chất sắc tố
1.1.4.1 Thành phần hóa học và các yếu tố ảnh hưởng tới thành phần hoá học của keo giậu
- Protein
Hàm lượng protein thô trung bình trong BLKG biến động từ 24,0 - 34,4
%, trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30 % VCK Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi (là một cây họ đậu
có hàm lượng protein cao (Garcia và cộng sự, 1996 [38] ) Hàm lượng protein
có trong lá keo giậu cao và chúng cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0 % VCK (Desmukh và cộng
Trang 17sự, 1987 [32]) Ronia và cộng sự (1979) [65] cho biết, hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với lá già, các phần lá phân bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2 % VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein
là 17,4 - 24,1 % VCK
Hàm lượng protein của keo giậu cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giai đoạn sinh trưởng của cây, khoảng cách giữa các lần thu hoạch, giảm theo tuổi của cây, khác nhau giữa các vị trí khác nhau trên cây
El - Ashry và cộng sự (1993) [34] cho biết, hàm lượng protein của lá đạt mức cao nhất ở giai đoạn đầu sinh trưởng và nó giảm dần với tuổi của cây Gupta và cộng sự (1986) [40] khi nghiên cứu hàm lượng protein 9 loài keo giậu cho biết, hàm lượng protein trong lá của giống K454, loài
L.Diversifolia là cao nhất (15,65 % VCK )
D’Mello và Frasar (1981) [29] đã quan sát thấy, hàm lượng protein thô của các mẫu BLKG thu hoạch tại Thái Lan (Châu Á) thấp hơn so với mẫu BLKG thu hoạch tại Malawi (Châu Phi)
Mùa vụ là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân, cành, lá của keo giậu Garcia (1988) [37] cho biết, hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân cành lá được thu hoạch vào tháng 2, 3, 4, 5, 6 trong năm lần lượt là: 34,2; 25,8; 20,5; 19,4; 20,5 % VCK
Phương pháp chế biến cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein của keo giậu D’Mello và Fraser (1981) [30] nhận thấy, hàm lượng protein thô của BLKG thu hoạch tại Malawi được chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời cao hơn hàm lượng protein thô của BLKG chế biến bằng phương pháp sấy khô trong lò sấy ở nhiệt độ cao (29,41 so với 28,13 % VCK)
Trang 18Bảng 1.1 Hàm lượng acid amin của khô dầu đậu tương, bột cá,
cỏ Medi, lá và hạt keo giậu
(Đơn vị tính: mg/g nitơ)
Loại thức ăn
Tên acid amin
Khô dầu đậu tương Bột cá Cỏ Medi
Hạt keo giậu
Lá keo giậu
Vỏ quả keo giậu
Cysteine 106 69 77 79 42-88 21 Acid aspartic 756 625 1 643 864 432 Methionine 88 175 96 64 88-100 42 Threonine 244 469 390 138 266 133 Serine 331 156 - 206 279 139 Acid glutamic 1138 813 - 911 640 320 Proline 300 244 - 222 305 152 Glycine 275 400 - 285 278 139 Alanine 275 394 - 205 311 155 Valine 300 325 356 204 255-338 127 Isoleucine 294 256 290 148 244-653 122 Leucine 448 457 494 283 444 222 Tyrosine 238 - 232 162 208-263 104 Mimosine 0 0 0 763 343 172 Phenylalanine 319 256 307 197 250-294 125 Lysine 338 500 368 324 313-349 157 Histidine 181 - 139 158 112-135 56 Arginine 463 375 357 493 294-349 147
(Nguồn: Meulen và cộng sự (1979); Berewbaker và Hutton (1979) được Garcia và cộng sự trích đầu năm 1996)
Trang 19Người ta nhận thấy, protein của lá và hạt keo giậu khá giầu các acid amin không thay thế như isoleucine, leucine, phenylalanine và histidine, còn hàm lượng lysine và methionine ở mức tương đối thấp so với một số loại thức ăn của động vật Thành phần và hàm lượng các acid amin trong BLKG có thể so sánh tương đương với thành phần và hàm lượng các acid amin trong khô dầu đậu tương và bột cá (bảng 1.1) Các acid amin chứa lưu huỳnh trong lá và hạt keo giậu ở mức thấp nhưng động vật nhai lại có khả năng tự tổng hợp những acid amin này, còn đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì sự thiếu hụt các acid amin chứa lưu huỳnh phải bổ sung chúng vào trong khẩu phần (Garcia và cộng sự, 1996 [37])
- Các chất khoáng
Keo giậu là loài cây giầu các chất khoáng đặc biệt là trong thân và lá, hàm lượng các chất khoáng là khá cao và có nhiều biến dộng, nó phụ thuộc vào các loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống, các phần và các giai đoạn sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đoạn thu hoạch, vị trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất nơi cây sinh sống
Garcia và cộng sự (1996) [38] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65 báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong keo giậu như sau: canxi là 1,80 % (biến động từ 0,88 - 2,90 %); phốt pho là 0,26 % (biến động 0,14 - 1,38 %); lưu huỳnh là 0,22 % (biến động 0,14 - 0,29
%); magie là 0,33 % (biến động từ 0,17 - 0,48 %); natri là 1,34 % (biến động 0,22 - 2,66 %); kali là 1,45 % (biến động từ 0,79 - 2,11 %)
El - Ashry và cộng sự (1993) [34] cũng cho biết, hàm lượng khoáng tổng số tăng lên với tuổi của cây, hàm lượng canxi, kali và magie tăng lên dần dần với sự tăng lên của tuổi cây, trong khi đó hàm lượng phốt pho, sắt, kẽm, mangan lại giảm đi khi tuổi của cây tăng lên
Các kết quả nghiên cứu của Garcia (1988) [37] cho biết, hàm lượng khoáng tổng số của keo giậu biến đổi qua các tháng thu hoạch (từ tháng 2 đến tháng 6) lần lượt là: 8,6; 6,3; 5,5; và 6,1 % VCK
Trang 20Wood và cộng sự (1983) [85] đã nhận thấy, hàm lượng caroten và đạt
ở mức cao trong BLKG được thu hoạch ở Malawi được chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có thể chứa tới 480 mg caroten
và 932 mg xanthophyll/kg VCK
Hàm lượng caroten và xanthophyll VCK phụ thuộc khá nhiều vào phương pháp chế biến và bảo tồn sản phẩm keo giậu Các chất sắc tố và caroten dễ dàng bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, như sấy khô trong lò sấy hoặc phơi khô dưới ánh nắng mặt trời Thời gian bảo quản càng dài thì hàm lượng caroten và xanthophyll càng giảm
D’Mello và Acamovic (1989) [31] cho biết, hàm lượng caroten trong BLKG giảm từ 19 - 40 mg/kg/tháng và hàm lượng xanthophyll giảm từ 29 -
53 mg/kg/tháng Nếu phơi BLKG dưới ánh nắng mặt trời thì các carotenoid bền hơn các carotenoid sấy khô trong lò sấy
Wood và cộng sự (1983) [85] cho biết, việc viên thành hạt và bổ sung thêm các chất chống oxy hóa như ethoxyquin vào BLKG có tác dụng làm
Trang 21chậm lại sự suy giảm hàm lượng caroteniod của BLKG trong thời gian bảo quản hoặc trong quá trình chế biến
- Chất xơ
Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các loại thức ăn ngũ cốc khác nhưng lại thấp hơn nhiều so với các loại thức ăn xanh khác Do hàm lượng chất xơ cao nên đã hạn chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, đặc biệt là đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm Hàm lượng chất
xơ trong keo giậu cũng thay đổi theo giống và các phần khác nhau của cây, ngay trong cùng một loài hàm lượng chất xơ cũng khác nhau
Garcia và cộng sự (1996) [38] cho biết, hàm lượng chất xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35 % (biến động từ 32 - 38 % VCK), trong BLKG là 19,2 % VCK (biến động từ 18,0 - 20,4 %VCK)
- Các chất hạn chế tiêu hóa có trong lá keo giậu
Ngoài các thành phần dinh dưỡng, keo giậu còn chứa một số alcaloid
có hại tới sinh trưởng, sinh sản và sức khỏe của động vật như là mimosine, tanin, antitrypsine, gôm galactane, saponine và flavone Đây chính là nguyên nhân làm hạn chế sử dụng các sản phẩm của keo giậu trong khẩu phần ăn của động vật (chi tiết được trình bày ở phần sau)
1.1.4.2 Giá trị dinh dưỡng của keo giậu
Giá trị dinh dưỡng của keo giậu phụ thuộc vào hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong keo giậu và khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng đó, đặc biệt là protein
Upadhyay và cộng sự (1974) [80] cho biết, khả năng tiêu hóa VCK là
71 %, protein thô là 78 %, lipit 48 % và xơ thô là 57 % của hỗn hợp cành,
lá keo giậu chất lượng tốt ở động vật nhai lại
Garcia (1988) [37] đã nhận thấy, năng lượng tiêu hóa (DE) và tỷ lệ tiêu hóa protein thô giảm theo sự tăng lên của tuổi lá
Trang 22D’Mello và Acamovic (1981) [30] cho biết, các nhân tố khác như: xơ, tanin và mimosine cao cũng là nguyên nhân làm giảm giá trị năng lượng trao đổi của BLKG ở gà
Các yếu tố như giống, mùa vụ, vị trí địa lý, tuổi của cây và giữa các phần khác nhau của cây, có thể làm thay đổi thành phần hóa học của keo giậu, nên các yếu tố này có thể ảnh hưởng tới giá trị dinh dưỡng của keo giậu
Perez-Gil và cộng sự (1987) [62] cho biết, ngoài thành phần protein, keo giậu còn có các thành phần dinh dưỡng khác như: lipit, hydratcacbon, các loại vitamin (caroten (tiền vitamin A), thiamine (vitamin B1), ribofavine (vitamin B2)), niacine và acid ascorbic Đây chính là giá trị dinh dưỡng của keo giậu
1.1.4.3 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của BLKG Việt Nam
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của lá keo giậu ở nước ta tương đương với các nước trên thế giới, khá ổn định cho từng loài, và biến đổi theo mùa vụ, chất đất
Lê Thị Hòa Bình và cộng sự (1994) [3] cho biết, tỷ lệ VCK trong
lá keo giậu chiếm từ 26,1 đến 28,9 %, hàm lượng protein thô từ 20,8 - 26,6 % VCK của lá keo giậu Các kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi quốc gia (1995) [17] cho thấy, BLKG chế biến bằng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng mặt trời có 22,50 % protein thô, 4,30 % lipit, 9,20 % xơ thô, 1,34 % canxi, 0,20 % phốt pho và giá trị năng lượng trao đổi của 1 kg BLKG ở gà là 2195 Kcal
Nguyễn Ngọc Hà và cộng sự (1991) [4] cho biết, trên các giống thuộc
loài Leucaena leucocephala trồng tại Viện chăn nuôi quốc gia có hàm lượng
các chất dinh dưỡng biến đổi theo mùa (bảng 1.2) Hàm lượng protein thô và
β caroten đạt giá trị cao nhất vào mùa khô (tháng 11)
Trang 23Bảng 1.2 Chất lượng bột lá keo giậu chế biến bằng phương pháp
phơi khô ở các tháng trong năm
Tháng
Chỉ tiêu
Tháng 4 (vụ xuân-hè)
Tháng 8 ( vụ hè-thu)
Tháng 11 (vụ đông xuân)
đương với keo giậu trồng tại các nước Đông Nam Á và thế giới (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Thành phần hóa học của BLKG của một số nước Đông Nam Á và thế giới
Tên nước
% vật chất khô Protein
Trang 24Nguyễn Ngọc Hà và cộng sự (1993) [5] cũng cho biết, loài keo giậu
Leucaena leucocephala trồng tại Viện chăn nuôi quốc gia, được chế biến
bằng phương pháp phơi kết hợp với sấy, cho thấy trong 1 kg vật chất khô BLKG có 254 g protein, 100 g xơ, 48 g mỡ, 20 g canxi, 35 g phốt pho, 220 β caroten, 2765 Kcal năng lượng thô và các nguyên tố vi lượng khác: 650 mg sắt, 34,2 mg đồng, 35 mg kẽm, 138 mg mangan Cứ 1 kg BLKG có độ ẩm là
11,7 % có giá trị bằng 0,98 đơn vị thức ăn
Từ Quang Hiển và cộng sự (2008) [8] cho biết, thành phần hoá học
của BLKG Leucaena leucocephala ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt
Nam có sự biến động tương đối thấp về thành phần hóa học các vùng sinh thái khác nhau.(Bảng 1.4)
Bảng 1.4 Thành phần hóa học của BLKG ở các vùng sinh thái khác nhau (%)
Trang 25Keo giậu là một cây thuộc bộ đậu có thành phần hóa học và hàm lượng các acid amin phong phú và biến động do nhiều nhân tố khác nhau như: loài, giống, mùa vụ, vị trí địa lý, chất đất, giai đoạn sinh trưởng, giữa các phần khác nhau của cây Keo giậu có hàm lượng cao các chất dinh dưỡng cần cho sự phát triển của động vật như: protein, lipit, khoáng, vitamin và các sắc tố,…dễ dàng tiêu hóa bởi động vật Đồng thời có giá trị năng lượng trao đổi khá cao, có thể đáp ứng được một phần nhu cầu năng lượng của động vật Tuy nhiên, keo giậu
có hạn chế do có các độc tố như: mimosine, tanin, antitrysine, gôm galactane… làm ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh trưởng của động vật
1.2 Các chất hạn chế tiêu hóa chủ yếu của keo giậu và phương pháp loại
bỏ, hạn chế độc tính của keo giậu
Keo giậu là loại cây thuộc bộ họ đậu giầu dinh dưỡng như: protein, vitamin, các sắc tố, khoáng vi lượng…có lợi cho cơ thể động vật Bên cạnh đó keo giậu cũng chứa nhiều độc tố hạn chế sử dụng keo giậu trong khẩu phần ăn của động vật Đó là các chất như: mimosine; 3,4 - Dihydroxypyridine (DHP); tanin; antitrypsine; gôm galactane; saponine…
1.2.1 Mimosine và sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi mimosine (3,4 - Dihydroxypyridine)
1.2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng mimosine của keo giậu
Mimosine là một acid amin phi protein có trong thành phần của cây keo giậu, có hàm lượng mimosine biến động giữa các loài, giống, tuổi, các phần khác nhau của cây, khoảng cách thu hoạch và phương pháp chế biến
Rushkin (1977) [66] đã cho thấy, hàm lượng mimosine thay đổi trong phạm vi rộng giữa các loài keo giậu Hàm lượng này có mức cao là 5,4 % VCK ở
loài L.Macrophylla và mức thấp 1,2 % VCK ở loài L.Diversifolia
Hauad Marroquin và Foroughbakhch (1991) [43] cho biết, ngay trong cùng loài, hàm lượng mimosine trung bình cũng rất biến động (từ 3 - 9 %
VCK đối với loài L leucocephala; từ 1 - 2 % VCK đối với loài L.Gregii, từ 2
- 5 % VCK đối với loài L Pulverulenta)
Trang 26Chandrasekhran và Govindaswamy (1985) [25] cho thấy, loài L Diversifolia
có hàm lượng mimosine trung bình từ 2,0 - 2,8 % VCK là thấp hơn so với loài
L.lanceolata là 6,2 % VCK, cây lai giữa loài L.diversifolia với loài L.leucocephala
Gupta và cộng sự (1992) [41] cho biết, hàm lượng mimosine tăng trong mùa nóng và ẩm (tháng 7 và 8) Hauad Marroquin và Froughbakhch (1991) [43] cũng cho biết, hàm lượng mimosine của keo giậu cao trong mùa hè (tháng 6 đến 8) và thấp trong mùa đông và đầu mùa xuân
Takahashi và Ripperton (1949) [74] cho biết, khoảng cách giữa các lần thu hoạch càng lớn hàm lượng mimosine càng thấp và khi tuổi của cây tăng lên thì hàm lượng mimosine lại giảm
Akabar và Gupta (1984a) [20] đã nhận thấy, hàm lượng mimosine của
giống K8, loài L.leucocephala có 5,1 % VCK trong lá non, 3,1 % VCK trong
lá trưởng thành 2,2 % VCK trong cành, 1,8 % VCK trong cuống lá, 2,4 % VCK trong vỏ quả tươi, 5,9 % VCK trong hạt, 4,9 % VCK trong búp non và 3,7 % VCK trong hoa
1.2.1.2 Độc tính của mimosine đối với động vật
Nhiều nghiên cứu cho thấy mimosine là nguyên nhân chính gây ra các rối loạn trao đổi chất ở động vật khi sử dụng keo giậu trong khẩu phần ăn quá giới hạn Độc tính của mimosine đã được Jones (1979) [46]; Brewbaker và Hutton (1979) [22] nghiên cứu và cho biết, mimosine là tác nhân gây ra hội chứng chán
ăn, chứng rụng lông, tiết nhiều nước bọt quá mức, sưng tuyến giáp trạng, sinh trưởng chậm và làm giảm khả năng sinh sản khi trong khẩu phần ăn chứa một lượng keo giậu cao quá giới hạn
Trang 27Proverbs (1984) [63] cho rằng, mimosine có thể gây ra những tác động xấu đối với động vật dạ dày đơn khi khẩu phần ăn có một lượng keo giậu lớn hơn 10 %, trong khi đối với động vật nhai lại, mimosine chỉ có ảnh hưởng độc khi trong khẩu phần lớn hơn 30 %
Szyszka và cộng sự (1984) [72] đã chứng minh, liều lượng mimosine
mà không gây độc biến động theo loài động vật là: gà thịt 0,16 g/kg thể trọng/ngày; gà đẻ là 0,21 g/kg thể trọng/ngày; bò và dê là 0,18 g/kg thể trọng/ngày; cừu là 0,14 g/kg thể trọng/ngày
Kamada và cộng sự (1997) [47] cho biết, gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 10 g mimosine/kg VCK đã có những biểu hiện như: giảm tiêu thụ thức
ăn, giảm tăng trọng cơ thể, có những khuyết tật ở chân và tổn thương ở thận
1.2.1.3 Cơ chế gây độc của mimosine
Đã có rất nhiều báo cáo khoa học liên quan đến quá trình tổng hợp, phân hủy và tác động sinh hóa của mimosine đối với cơ thể động vật Bởi cơ chế gây độc của mimosine rất phức tạp, có rất nhiều giả thuyết khác nhau giải thích về cơ chế này Mimosine có tên khoa học là β-[N(3-hydroxy-4-oxypyridyl)]-α amino propionic acid, tồn tại dưới dạng acid amin tự do trong cây keo giậu (hình 1.1)
Trang 28Do sự giống nhau về cấu trúc giữa mimosine và L-Tyrosine có thể gây ra các tác động tương tự như tyrosine hoặc ngược lại với tyrosine Những tác động ngược này ức chế quá trình sinh tổng hợp protein trong cơ thể và gây nên các triệu chứng độc, như là làm chậm sinh trưởng (Ter Meulen và cộng
Tang và Ling (1975) [73] cho rằng, mimosine có ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh tổng hợp collagen trong sụn bào thai gà do ức chế sự tổng hợp hydro-prolin Sự suy giảm hàm lượng collagen làm cho sụn mềm, dễ gẫy trong các tổ chức khác nhau có thể gây ra các triệu chứng như: xuất huyết các mao mạch, protein niệu và thủng tử cung ở động vật
1.2.1.4 Sự tạo thành và ảnh hưởng của DHP trên động vật
3,4 - Dihydroxypyridine (DHP) là sản phẩm trung gian của quá trình trao đổi mimosine Sau khi thu hoạch keo giậu thì mimosine trong lá keo giậu bị phân hủy bởi các enzym để tạo thành DHP (Wee và Wang, 1987 [84]) Sự phân hủy mimosine thành DHP là một quá trình hoạt động của enzym, nhưng cũng là kết quả hoạt động của vi sinh vật ở động vật nhai lại (Lowry, 1983 [52]) Hai quá trình này giữ vai trò quan trọng trong việc sử dụng tối đa sản phẩm keo giậu trong khẩu phần ăn của động vật nhai lại Chính bản thân các cây keo giậu cũng chứa các enzym có khả năng chuyển hoá mimosine thành DHP một cách nhanh chóng (Smith và Fowden, 1966 [69]) Mimosine có thể tìm thấy trong tất cả các mô của cây, nhưng enzym có khả năng chuyển hóa mimosine thành DHP chỉ xảy ra khi các enzym phân giải mimosine tiếp xúc trực tiếp với mimosine dưới tác động của
Trang 29nhiều nhân tố khác như ngâm chìm trong nước, nhai, nghiền, xử lý với nước nóng, hơi nóng và các xử lý khác
Lowry (1983) [52] cho biết, enzym phân giải mimosine trở thành dạng không hoạt động ở pH < 4 và nó cũng không hoạt động nếu như bị đun nóng
ở nhiệt độ > 70oC hoặc khi bị sấy khô trong lò Sự chuyển hóa mimosine thành DHP dưới tác động của các enzym trong dạ cỏ của động vật nhai lại hầu như là hoàn toàn, ngược lại đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì sự chuyển hóa mimosine thành DHP lại bị ức chế bởi độ acid cao trong dạ dày Bởi vậy, đối với động vật dạ dày đơn và gia cầm thì trong khẩu phần keo giậu luôn luôn phải thấp hơn động vật nhai lại
Lowry (1983) [52] cho biết, mimosine có thể tìm thấy trong tất cả biểu
mô của cây, nhưng enzym có khả năng chuyển hóa mimosine thành DHP chỉ tìm thấy trong lá non và vỏ quả non tươi của keo giậu Enzym này không có mặt trong các mạch ngoại vi, vỏ quả già, trong hạt và cuống lá
Tangendjaja, Lowry và Wills (1984) [75 ] đã nhận thấy, khi ngâm lá keo giậu tươi trong nước có pH = 7, ở nhiệt độ 40oC trong thời gian 4 phút, thì có tới 50
% mimosine được chuyển hóa thành DHP Khi đun nóng lá keo giậu ở 70oC trong thời gian 15 phút thì có trên 80 % mimosine bị phân giải Như vậy, đối với động vật nhai lại thì khả năng gây độc của mimosine rất hiếm xảy ra vì mimosine
đã bị phân giải thành DHP bởi hệ vi sinh vật dạ cỏ và enzym tự nhiên trong lá keo giậu (Lowry, 1981 [51]) Đối với gia cầm ảnh hưởng DHP là không rõ rệt (D’Mello và Acamovic, 1989 [31])
1.2.2 Tanin
Tanin là 1 nhân tố quan trọng làm giảm khả năng tiêu hóa protein ở động vật, bởi nó liên kết với protein trong ống tiêu hóa ngăn cản sự công phá của enzym và còn là nhân tố gây ra vị đắng trong thức ăn có chứa keo giậu (Acamovic và cộng sự, 1986 [19])
Trang 30Hàm lượng tanin trong lá keo giậu phụ thuộc vào mùa vụ và tuổi của lá Theo Gupta và cộng sự (1992) [41] cho biết, hàm lượng tanin có mối tương quan nghịch với tuổi của lá và mùa vụ là nhân tố ảnh hưởng tới hàm lượng tanin Trong mùa mưa (tháng 7 - 8) hàm lượng tanin tăng; vào mùa khô, lạnh hàm lượng tanin có xu hướng giảm
Lowry (1981) [51] còn nhận thấy, hàm lượng tanin trong lá keo giậu là
đủ để làm kết tủa protein của lá
1.2.3 Antitrypsine
Antitrypsine có thể làm giảm một cách nghiêm trọng khả năng tiêu hóa protein động vật Hoạt động của antitrypsine trong keo giậu tương tự như hoạt động của antitrypsine trong các cây họ đậu khác, như cây đậu tương (Valdebouze và cộng sự, 1980 [82])
Kamadam và cộng sự (1997) [47] cho biết, sự có mặt của antitrypsine trong
lá keo giậu là nhân tố quan trọng làm giảm giá trị dinh dưỡng của keo giậu
1.2.4 Gôm galactane
Gôm galactane là một chất có mặt thường xuyên, với số lượng khá lớn trong các cây họ đậu, trong đó có cây keo giậu (Arora và Joshi, 1984 [21]) Gôm galactane là một chất có tác động tương tự như β-glucane của ngũ cốc,
nó có thể làm tăng sự tạo thành các chất nhày, dính trong ruột của gà Sự tăng chất nhớt, dính này làm giảm khả năng hỗn hợp của các enzym tiêu hóa với thức ăn và sự vận chuyển của các chất dinh dưỡng đến bề mặt hấp thu Chính điều này làm giảm tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng của gà (Lesson và Summer, 1997 [50]) Gôm galactane còn có thể gây ra sự giảm khả năng tiêu thụ thức ăn và sinh trưởng của những con gà được nuôi với khẩu phần có chứa keo giậu (Verma và McNab, 1982 [83]) Hàm lượng gôm galactan trong hạt lớn hơn nhiều so với trong lá keo giậu (320 so với 46 g/kg VCK) (D’Mello
và Acamovic, 1989 [31])
Trang 311.2.5 Saponine
Theo Acamovic và cộng sự (1986) [19] cho biết, saponine có thể gây ra
vị đắng trong thức ăn đối với động vật Nhưng với một hàm lượng nhỏ saponine trong lá cây họ đậu thì saponine không gây ra tính độc của loại cây này Trong lá và hạt keo giậu có khoảng 11 g/kg VCK saponine Theo Oakenfull (1981) [61] cũng đã quan sát thấy, ảnh hưởng xấu về sinh trưởng ở những con gà được nuôi với khẩu phần chứa saponine
Ngoài các chất hạn chế tiêu hóa như: mimosine, tanin, anti-trysine, gôm galactane, saponine thì keo giậu con có một số chất kháng dinh dưỡng khác cũng gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe động vật như là hemagglutinine và flavone
1.2.6 Các phương pháp loại bỏ và hạn chế các chất hạn chế tiêu hóa của keo giậu
Hạn chế và loại bỏ các chất hạn chế tiêu hóa của keo giậu là hết sức quan trọng và cần thiết để có thể sử dụng keo giậu làm thức ăn trong chăn nuôi với một tỷ lệ lớn Có rất nhiều phương pháp loại bỏ và hạn chế độc tính của keo giậu như: sấy khô, phơi dưới ánh nắng mặt trời, đun nóng, vi sinh vật, ngâm trong nước,… Mimosine là chất độc có hàm lượng và độc tính cao nhất của keo giậu việc xử lý, loại bỏ và hạn chế độc tính của mimosine, cũng làm cho các chất hạn chế tiêu hóa khác như: anti-trypsine, tanin, saponine, gôm galactan,… cũng bị đào thải hoặc bị hạn chế tính độc
Trong các chất hạn chế tiêu hóa của keo giậu, mimosine có hàm lượng
và độc tính cao nhưng lại dễ dàng bị phá hủy bởi các yếu tố lý, hóa học và vi sinh vật Trong tự nhiên, mimosine có thể bị loại bỏ bởi ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao và một số loài vi sinh vật (Murthy và cộng sự, 1994 [55]) Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu một số phương pháp loại bỏ độc tính của keo giậu
Trang 32Phương pháp sấy khô và phơi dưới ánh nắng mặt trời và ngâm keo giậu trong nước là những phương pháp đơn giản nhất NAS (1977) [56] đã cho biết, hàm lượng mimosine trong thân, lá keo giậu giảm khi được sấy khô ở nhiệt độ 70o
C Soedarjo và Bortharkur (1996) [70] cho biết, xử lý lá keo giậu bằng nước sôi có thể loại bỏ được toàn bộ mimosine Ter Meulen và cộng sự (1979) [77] cũng đã nhận thấy, ngâm lá keo giậu trong nước 36 giờ làm giảm đáng kể lượng mimosine Akbar và Gupta (1984a) [20] đã cho biết, sấy lá keo giậu ở nhiệt độ cao hoặc phơi dưới ánh nắng mặt trời đã làm giảm đáng kể lượng mimosine trong bột lá
Murthy và cộng sự (1994) [55] cũng cho thấy, xử lý keo giậu trong nước ở nhiệt độ phòng trong 12 giờ và sấy khô ở nhiệt độ 100oC làm giảm
hàm lượng mimosine trong BLKG giống Sababul nhiều hơn so với xử lý bằng
cách phơi khô dưới ánh nắng mặt trời và xử lý bằng Fe2SO4 2 % hoặc NaOH 0,05M Ngâm chìm keo giậu trong nước trong 48 giờ có thể loại thải hầu hết mimosine (Wee và Wang, 1987 [84])
Người ta có thể sử dụng một số hóa chất để loại bỏ và hạn chế độc tính của mimosine Theo Tawata và cộng sự (1986) [76] đã cho biết, dùng dung dịch axetat natri là một trong những chất hóa học hiệu quả nhất mà có thể chiết xuất tới 95 % mimosine trong keo giậu Tsai và Ling (1973) [79] cho biết, sự giảm độc tính của mimosine trong ion sắt có thể do sự tạo thành những phức chất bền vững của ion Fe3+
với mimosine sau khi oxy hóa những ion Fe2+ tạo thành những ion Fe3+
Cho thêm các muối khoáng như Fe2+ và
Zn2+ cũng làm giảm độc tính của mimosine
Tangendjaja và cộng sự (1984) [75] cũng cho biết, chọn lọc và tạo các giống mới có hàm lượng mimosine thấp cũng là một giải pháp để hạn chế hàm lượng và độc tính của mimosine trong keo giậu Người ta đã thành công trong việc tạo ra các cây lai có hàm lượng mimosine thấp và protein cao từ
những giống keo giậu khác nhau Cây lai giữa 2 giống L.leucocephala và
L.pulverulenta là một thí dụ
Trang 33Các xử lý sau thu hoạch keo giậu như làm héo và phơi dưới ánh nắng mặt trời có tác dụng làm giảm hàm lượng mimosine trong lá keo giậu (D’Mello và Acamovic 1989 [31]) Ủ xanh là một phương pháp rất hiệu quả làm giảm hàm lượng mimosine trong keo giậu (Honggo và cộng sự, 1988 [44]) Khatta và cộng sự (1987) [48] cho biết, hàm lượng mimosine trong thân, lá keo giậu giảm liên tục với sự tăng lên của thời gian ủ từ 1 - 60 ngày
Shethi và Kulkarni (1995) [67] cho biết, mimosine của keo giậu loài L.Glauca
bị biến mất sau khi bị lên men bởi vi khuẩn lactic
Như vậy, để sử dụng keo giậu nhiều hơn trong khẩu phần của động vật
mà không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng, người ta đã tìm được rất nhiều phương pháp khác nhau để loại bỏ độc tính của keo giậu Điều này đã
mở ra một hướng thuận lợi cho việc sử dụng keo giậu trong khẩu phần ăn của động vật
1.3 Tiềm năng sản xuất thức ăn - Phương pháp chế biến và tiêu chuẩn chất lượng của BLKG
1.3.1 Tiềm năng sản xuất thức ăn
Keo giậu là loài cây phù hợp với nhiều loài động vật nên từ lâu nó đã được con người biết đến và sử dụng trong chăn nuôi như một nguồn thức ăn giầu protein, sắc tố, vitamin và khoáng đa vi lượng Keo giậu có khả năng sinh trưởng rất nhanh và có khả năng sản sinh ra một khối lượng lớn cành lá ngọn, hoa, quả và hạt mà động vật đều có thể sử dụng làm thức ăn Người ta còn sử dụng những phần non và lá của keo giậu để chế biến bột cỏ ở dạng khô
để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm nhất là vào mùa khô khan hiếm thức ăn xanh Bởi bột cỏ này, sẽ cung cấp rất nhiều vitamin tự nhiên đặc biệt là caroten và sắc tố vàng Trong bột cỏ còn có vitamin E, C và caroten là những chất chống oxy hóa ngăn cản tích trữ cholesterol trong máu, lá xanh trong bột
Trang 34cỏ còn chứa các chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho động vật như quinol và phenol Chính vì vậy, bột cỏ nói chung và bột keo giậu nói riêng được nhiều nước trên thế giới quan tâm sử dụng làm thức ăn chăn nuôi
1.3.1.1 Trên thế giới
NAS (1984) [57] cho biết, những cánh đồng keo giậu có lợi ích hơn bất
cứ một cánh đồng cỏ nào và có tiềm năng trở thành ra một nguồn cung cấp chất xanh to lớn Trong điều kiện chăm sóc, quản lý tốt những cánh đồng keo giậu có thể duy trì một năng suất chất xanh cao và chịu đựng được cường độ chăn thả lớn Năng suất chất khô của keo giậu hàng năm dao động từ 2 đến 20 tấn/ha (Jones, 1979 [46]) Những giống keo giậu tốt, được trồng trên đất có độ phì cao có thể cho năng suất vật chất khô hàng năm lên tới 12 - 20 tấn/ha, tương đương với 2,4 đến 6,4 tấn protein/ha/năm (NAS, 1984 [57])
NAS (1984) [57] cũng cho biết, năng suất và chất lượng keo giậu tươi đạt mức tối ưu ở chế độ gieo trồng và thu hoạch như sau: mật độ gieo trồng
là 100.000 - 140.000 cây/ha; độ cao thu hoạch của cây là 60 - 70 cm; chu kỳ thu hoạch là 50 - 60 ngày Với chế độ gieo trồng và thu hoạch như trên, trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất keo giậu đạt 12 - 14 tấn chất khô/ha/năm Trong những vùng nhiệt đới khô hạn năng suất keo giậu giảm ở mùa khô Các nhân tố thời tiết, khí hậu, năng suất keo giậu còn
bị ảnh hưởng bởi yếu tố giống, mật độ cây trồng, tần số khai thác và chiều cao thu hoạch của cây
1.3.1.2 Ở Việt Nam
Keo giậu là loài cây dễ trồng và dễ thích nghi, năng suất chất xanh cao, phù hợp với nhiều loài động vật nên được nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu để đưa vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi Bùi Xuân An
và Ngô Văn Mận (1981) [12] cho biết, khi được bón lót 10 tấn phân
Trang 35chuồng/ha và bón thúc bằng 30 kg N, 60 kg P2O5, 40 kg K2O/ha đã đưa năng suất chất khô đạt 4 tấn/ha/năm, trong đó, số lượng lá chiếm tới 46 %, hàm lượng protein trong chất khô chiếm 20,5 % và xơ thô chiếm 17 %
Nguyễn Bách Việt (1994) [16] đã cho biết, năng suất chất khô của keo giậu Peru trồng tại Trại thực tập Trường đại học Nông Nghiệp I ở năm đầu là 10,12 tấn/ha; năm thứ hai là 12,46 tấn/ha
Lê Hòa Bình và cộng sự (1990) [3] đã khảo sát năng suất của các giống
keo giậu Ipil-ipil, Đồng Mô, Ba Vì hạt lớn, Ba Vì hạt nhỏ, Peru và Ấn Độ Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì hạt lớn, Ipil-ipil và Ấn Độ cho
năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn/ha/năm, tương đương khoảng 10.000 đơn vị thức ăn Tuy nhiên, về mùa khô keo giậu sinh trưởng kém, chỉ đạt gần 50 % so với mùa mưa Riêng giống Ba Vì hạt lớn, sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác
Nguyễn Ngọc Hà (1996) [6] đã thử nghiệm trồng khảo sát tốc độ sinh trưởng của keo giậu trên các loại đất khác nhau cho biết, trong số 12 loài được
khảo sát thì loài keo giậu Leucaena leucocephala có nhiều ưu điểm hơn cả
Tốc độ sinh trưởng đạt 1,26 cm/ngày, cao hơn 2 lần tốc độ sinh trưởng trung bình của 12 loài khảo sát Tác giả cũng cho biết, năng suất chất khô trung bình của keo giậu là 11,5 tấn/ha/năm Giống Peru-Cunnigham có năng suất chất khô là 13,36 tấn/ha/năm, cao hơn giống Salvador-Mỹ là 3,62 tấn Tuy nhiên, năng suất chất khô của keo giậu còn phụ thuộc khá nhiều vào độ chua
của đất, vì ở đất chua khả năng cộng sinh của vi khuẩn Rhyzobium với keo
giậu kém, làm cho keo giậu thiếu đạm, năng suất thấp
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy, keo giậu là một loại cây có khả năng sinh trưởng nhanh, cho năng suất chất xanh cao, giầu protein, vitamin, sắc tố
và các khoáng vi lượng rất phù hợp trong chăn nuôi Tuy nhiên, năng suất của keo giậu còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu và độ mầu mỡ của đất nơi cây sống
Trang 361.3.2 Phương pháp chế biến, tiêu chuẩn chất lượng và ảnh hưởng của phương pháp chế biến đến chất lượng BLKG
Động vật dạ dày đơn và động vật nhai lại, keo giậu được sử dụng ăn tươi cả cành hoặc chế biến dưới dạng bột lá, còn đối với gia cầm, keo giậu chỉ được sử dụng dưới dạng bột xanh (bột lá) được chế biến từ lá và các phấn non của keo giậu
Căn cứ vào các yếu tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, oxy, ẩm độ
và một số yếu tố khác mà người ta có nhiều phương pháp chế biến bột cỏ khác nhau Để sản xuất được bột cỏ có chất lượng tốt phải làm khô ngay nguyên liệu ban đầu để lá nhanh khô, có tỷ lệ lá cao, lá khi khô vẫn giữ được mầu xanh, giầu protein, vitamin, hạn chế hoặc loại bỏ các chất kháng dinh dưỡng (chất độc đối với động vật)
Quá trình làm khô nguyên liệu người ta có rất nhiều phương pháp chế biến khác nhau:
- Phơi dưới ánh nắng mặt trời: Đây là phương pháp đơn giản và phổ biến mà giá thành lại thấp, nhưng lại làm hao hụt nhiều dinh dưỡng
- Sấy nhanh ở nhiệt độ cao: Đưa nguyên liệu vào buồng sấy có nhiệt độ
từ 800 - 1000o
C trong thời gian ngắn Đây là phương pháp làm khô nguyên liệu rất nhanh, hao hụt dinh dưỡng ít nhưng giá thành cao và tốn nhiều nhiên liệu vì thế mà phương pháp ít được áp dụng
Người ta, có thể kết hợp giữa phương pháp sấy và phơi nhằm hạ giá thành và giảm hao hụt dinh dưỡng
- Sấy lạnh và thông thoáng: Phương pháp này làm thay đổi trạng thái cân bằng độ ẩm ở bề mặt nguyên liệu bằng cách lưu thông không khí trong buồng sấy Phương pháp này tốn ít năng lượng nhưng thời gian sấy kéo dài và nguyên liệu không khô đến độ ẩm cần thiết (< 13,5 %) (Dương Hữu Thời và cộng sự, 1982 [15])
Trang 37- Sấy bằng năng lượng mặt trời: Đây là hệ thống thu nhiệt bằng năng lượng mặt trời (đó là hệ thống thu nhiệt do bức xạ mặt trời và dùng hệ thống thông gió đưa khí nóng vào buồng sấy, tránh ánh sáng chiếu trực tiếp vào nguyên liệu) Phương pháp này làm giảm hao hụt vitamin và dinh dưỡng
Krishnamurthy và cộng sự (1985) [49] phân hạng thành 4 loại:
Loại A: Hầu như hoàn toàn lá (loại bỏ hoa tự, quả, gân lá dài hơn 15 mm), mầu xanh, đủ khô, dễ dàng bóp vụn bằng tay, hàm lượng protein thô chiếm 30 % trong chất khô
Loại B: Sản phẩm tự nhiên bao gồm cả lá, hoa tự và quả có trên ngọn non với đường kính rộng hơn 6 mm, đủ khô, dễ bóp vụn bằng tay, hàm lượng protein thô chiếm 25 % trong chất khô
Loại C: Nguyên liệu đem nghiền như loại A và B nhưng đã bị mất mầu xanh do bị mưa, phơi lâu ngày ngoài trời hay chớm mốc, hàm lượng protein thô chiếm 25 % trong chất khô
Loại D: Nguyên liệu đem nghiền lá hoa tự, quả, gân lá…những phần loại ra của loại A, đã khô dễ bóp vụn bằng tay, hàm lượng protein chiếm 15 % trong chất khô
Trên cơ sở cỏ có mầu xanh, độ ẩm dưới 13 %, xơ thô ít hơn 25 %, người ta tiến hành phân loại bột cỏ chặt chẽ hơn bằng cách cho điểm theo hàm lượng protein thô và caroten
Ngoài ra, người ta còn đánh giá bột cỏ dựa vào khả năng tiêu hóa in
vitro của protein thô có trong bột cỏ Cứ giảm tỷ lệ tiêu hóa dưới 1 % thì giảm
đi 1 điểm (nếu dưới 70 % ) Nếu cứ có 1 % cát trong bột cỏ thì bị trừ đi 3 điểm Bột cỏ được chia làm 4 loại như sau: đạt trên 70 điểm là loại tốt, từ 40 -
70 điểm là đạt, từ 20 - 39 điểm có thể dùng được, từ 0 - 19 điểm loại kém
Chất lượng bột cỏ phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố là nguyên liệu đem chế biến và phương pháp chế biến Hàm lượng protein, acid amin và vitamin trong bột cỏ cũng phụ thuộc vào chất lượng bột cỏ nhưng nhìn chung hàm
Trang 38lượng này là tương đối cao Các vitamin có trong bột cỏ phần lớn các vitamin tan trong dầu mỡ như: vitamin D, K, E, tiền vitamin A và xanthophyll
Ở Việt Nam chế biến bột cỏ chủ yếu dùng phương pháp phơi nắng hoặc kết hợp giữa phơi nắng và sấy để giảm chi phí
1.4 Sử dụng keo giậu trong chăn nuôi gà
1.4.1 Trên thế giới
Nghiên cứu sử dụng BLKG đối với chăn nuôi gà còn ít, chủ yếu ảnh hưởng của keo giậu đối với sinh trưởng, sinh sản, sức khỏe và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà BLKG được sử dụng để loại bỏ hoặc hạn chế độc tính của mimosine thì có thể sử dụng với tỷ lệ cao hơn 6 % trong khẩu phần ăn mà không gây ảnh hưởng xấu sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà (Murthy và cộng sự, 1994 [55]) Nhiều nghiên cứu cho rằng, sử dụng bột keo
lá giậu ở tỷ lệ 4 - 6 % khẩu phần đã không gây ra các ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà thịt (Fraga và cộng sự, 1992 [35])
Sharif và cộng sự (1995) [68] cho biết, ở tỷ lệ BLKG cao quá mức trong khẩu phần (trên 10 % khẩu phần) mà không được xử lý để loại bỏ hoặc hạn chế độc tính của mimosine, người ta nhận thấy có hiện tượng suy giảm tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, xuất hiện hiện tượng xuất huyết ở gan, thận và hoại tử trong đường tiêu hóa của gà Ngược lại, một số nghiên cứu khác lại cho rằng, năng suất của gà không bị ảnh hưởng bởi khẩu phần chứa BLKG, ngay cả khi tỷ lệ BLKG chiếm 10 - 15 % khẩu phần (Hussain và
cộng sự, 1991[45]; Muthy và cộng sự, 1994 [55])
Sử dụng keo giậu với tỷ lệ cao trong khẩu phần vì có thể làm chậm tuổi thành thục về tính, giảm tốc độ sinh trưởng, rụng lông, giảm hiệu suất sử dụng thức ăn và sức khỏe của gia cầm, do trong keo giậu có một số chất độc gây ảnh hưởng tới gà Nếu keo giậu được loại bỏ hoặc hạn chế độc tính thì có thể sử dụng với tỷ lệ cao trong khẩu phần Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều
ý kiến khác nhau về tỷ lệ keo giậu thích hợp đối với gia cầm Ở Philippine
Trang 39người ta vẫn sử dụng keo giậu rất phổ biến để nuôi gà vì đây là một nguồn thức ăn cung cấp nhiều protein, khoáng và vitamin với giá rẻ lại bổ sung một lượng lớn viamin A trong khẩu phần ăn và sắc tố vàng làm cho mầu sắc của
da, trứng và chất lượng trứng được cải thiện
1.4.1.1 Ảnh hưởng của keo giậu đối với gà thịt
* Ảnh hưởng của lá keo giậu không qua xử lý
Abriam (1981) [18] đã thí nghiệm trên gà thịt được nuôi dưỡng với các
khẩu phần chứa 0, 2, 4, 6, 8 và 10 % BLKG Ipil-ipil trong thời gian nuôi khởi
động, cho thấy, sự có mặt của BLKG trong khẩu phần đã ảnh hưởng có ý nghĩa tới tăng trọng hàng ngày của gà và khối lượng của gà lúc 7 tuần tuổi cũng như tiêu thụ thức ăn trong 7 ngày đầu tiên và hiệu suất chuyển hóa thức
ăn Tuy nhiên, tỷ lệ chết của gà con không bị ảnh hưởng bởi khẩu phần ăn chứa keo giậu Những con gà được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 4 % bột lá
Ipil-ipil có tăng trọng cao hơn so với nhóm gà đối chứng, trong khi đó, khẩu
phần chứa trên 6 % bột lá Ipil-ipil đã là giảm tốc độ sinh trưởng của gà Tác
giả cũng đã thu được kết quả tương tự như trên, sau khi đã thực hiện một
nghiên cứu khác trên 150 gà thịt Hubbard được nuôi dưỡng với các chế độ ăn
tương đương nhau về hàm lượng protein, năng lượng trao đổi và chứa 0, 3, 6,
9 và 12 % BLKG, trong thời gian 8 tuần
Fraga và cộng sự (1992) [35] cho biết, khi thay thế 5 % khẩu phần cơ
sở dựa trên ngô và ngô dầu đậu tương bằng BLKG phơi khô dưới ánh nắng
mặt trời để nuôi 540 gà thịt Cornish x Plymouth trong thời gian từ 0 - 4 tuần
tuổi Kết quả cho thấy, nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa BLKG có tăng trọng lúc 6 tuần tuổi và hiệu suất sử dụng thức ăn cao hơn nhóm gà đối chứng được nuôi dưỡng với khẩu phần cơ sở không có BLKG
Hussain và cộng sự (1991) [45] cũng nhận thấy, không có sự khác nhau
có ý nghĩa về tăng trọng, hiệu suất sử dụng thức ăn giữa các nhóm gà thịt
Trang 40được nuôi dưỡng với các khẩu phần chứa 0, 5, 10 và 15 % BLKG bằng cách
sử dụng BLKG thay thế một phần khô dầu lạc trong khẩu phần ăn của gà Tuy nhiên, khi khẩu phần ăn chứa tới 20 % BLKG đã làm giảm một cách có ý nghĩa tốc độ sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà
Gulraiz và cộng sự (1991) [39] cũng nhận thấy, không có sự khác nhau
có ý nghĩa về tăng trọng giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 12 % BLKG và khẩu phần không chứa BLKG (trong điều kiện các khẩu phần ăn đảm bảo đồng đều về protein và năng lượng trao đổi)
Nataman và Chandrasekaran (1996) [58] đã cho biết, tăng trọng của gà thịt ở các nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 5 và 10 % bột lá
Sababul (một giống của loài L.leucocephala) đã bị giảm đi một cách có ý
nghĩa so với nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần đối chứng không có
bột lá Sababul và hiệu suất sử dụng thức ăn của nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 10 % bột lá Sababul thấp hơn một cách có ý nghĩa so với các nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa 0 và 5 % bột lá Sababul
Các kết quả nghiến cứu trên cho thấy, BLKG có những ảnh hưởng rất khác nhau đến sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà thịt Sự khác nhau của các kết quả nghiên cứu trên có thể liên quan đến khả năng chịu đựng những chất độc, nhu cầu dinh dưỡng của từng giống gà và hàm lượng các chất hạn chế tiêu hóa có trong bột lá dùng trong nghiên cứu
* Ảnh hưởng của BLKG được xử lý ngâm nước
Soedarjo và Borthakur (1996) [70] cho rằng, ngâm lá giậu trong nước
là một trong các biện pháp có thể là giảm đáng kể hàm lượng mimosine của
nó Điều này có thể cho phép tăng tỷ lệ lá keo giậu trong khẩu phần ăn của gà
Ở Ấn Độ, Murthy và cộng sự (1994) [55] đã nhận thấy, không có sự khác nhau có ý nghĩa nào về tăng trọng và chuyển hóa thức ăn giữa nhóm gà được
nuôi dưỡng với khẩu phần ăn chứa 20 % bột lá Sababul được xử lý bằng cách