Khoảng những năm 1950 trở lại đây, bên cạnh các nhà văn người Kinh xuất hiện các nhà văn người dân tộc thiểu số như Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Hoàng Triều Ân...Những tác phẩm củ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ HỒNG NHUNG
VĂN HOÁ VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI
QUA TẬP TRUYỆN TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ
CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ HỒNG NHUNG
VĂN HOÁ VÀ CON NGƯỜI MIỀN NÚI
QUA TẬP TRUYỆN TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ
CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ TUẤN ANH
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình họa tập cũng như làm luận văn Đặc biệt tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Tuấn Anh, người không chỉ giúp đỡ tôi mà còn động viên tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hồng Nhung
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Người viết luận văn
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1 CON NGƯỜI MIỀN NÚI QUA TẬP TRUYỆN NGẮN TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ 9
1.1 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý - một tác phẩm tiêu biểu và đặc sắc về miền núi 9
1.1.1 Vài nét về tác giả Đỗ Bích Thuý 9
1.1.2 Khái quát tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá 11
1.2 Con người miền núi qua tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá 14
1.2.1 Cuộc sống và con người miền núi trên cao nguyên đá Đồng Văn- Hà Giang hùng vĩ 14
1.2.2 Hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số- điểm nhấn đặc biệt trong tập truyện ngắn 18
Chương 2 NHỮNG NÉT VĂN HOÁ ĐẶC SẮC TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ 29
2.1 Một cách tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ văn hoá 29
2.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và văn học 29
2.1.2 Nghiên cứu tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý từ góc độ văn hoá 33
2.2 Những nét văn hoá đặc sắc của người dân tộc Mông, Tày ở Hà Giang trong tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá 36
2.2.1 Đặc điểm văn hoá Mông, Tày 36
Trang 62.2.2 Đặc trưng văn hoá các dân tộc miền núi qua tập truyện Tiếng đàn
môi sau bờ rào đá 40
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN ĐẶC SẮC TRONG TẬP TRUYỆN NGẮN TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ 54
3.1 Ngôn ngữ tác phẩm giàu bản sắc văn hoá 54
3.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất thơ 60
3.3 Ngôn ngữ gắn liền với cách tư duy của người miền núi 63
PHẦN KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, các sáng tác viết về đề tài miền núi chiếm một dung lượng khá khiêm tốn Song trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại cũng đã dần hình thành một mảng văn học viết về đề tài miền núi Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 có thể kể đến Lan Khai, Đái Đức Tuấn, Thế Lữ là những nhà văn đầu tiên viết về đề
tài này với loại Truyện đường rừng Sau Cách mạng tháng Tám một số nhà
văn người Kinh như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng… đã
tìm đến với mảng đề tài này Đó là những sáng tác có ý nghĩa như “những
con dao phát đường rừng giúp đỡ cho các anh chị em viết văn miền núi”
(Nông Minh Châu) Khoảng những năm 1950 trở lại đây, bên cạnh các nhà văn người Kinh xuất hiện các nhà văn người dân tộc thiểu số như Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Hoàng Triều Ân Những tác phẩm của họ như một bức tranh rộng lớn với những hình ảnh sinh động về cuộc sống và con người miền núi Cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi ngày càng trở thành mảng đề tài văn học lớn, sản sinh những tác phẩm đứng ở vị
trí hàng đầu trong nền văn học cách mạng, có thể kể đến như Truyện Tây
Bắc (Tô Hoài), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc)…Qua đó, có thể nói
mảng văn học viết về đề tài miền núi đã trở thành một bộ phận đặc sắc và độc đáo, góp phần làm nên tính đa dạng và phong phú trong đời sống văn học các dân tộc Việt Nam
Đến những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI chúng ta vẫn đang
tiếp tục có nhiều tác phẩm viết về mảng đề tài này như: Gặp gỡ ở La Pan
Tẩn, Móng vuốt thời gian (Ma Văn Kháng), Tiếng chim kỷ giàng (Bùi Thị
Như Lan), Nước mắt của đá (Hà Thị Cẩm Anh), Đàn trời (Cao Duy Sơn), Về
Trang 8bên kia núi (Niê Thanh Mai)… Đỗ Bích Thúy với Bóng của cây sồi, Tôi đã trở về trên núi cao, Sau những mùa trăng và đặc biệt, tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (2005) đã đưa chị lên hàng những nhà văn viết về dân
tộc miền núi xuất sắc hiện nay Truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá
của Đỗ Bích Thúy sau khi được đạo diễn Ngô Quang Hải dựng thành phim
Chuyện của Pao và đạt những giải thưởng danh giá, đã đưa tên tuổi Đỗ Bích
Thúy đến với độc giả gần hơn nữa Từng giành giải nhất trong cuộc thi sáng tác truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội 1998-1999, công chúng ngày càng quen thuộc với cái tên Đỗ Bích Thuý qua những sáng tác của chị, đặc
biệt là tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (Nxb Công an nhân dân,
H.2005) Ở tập truyện này, ta thấy chất văn hoá vùng miền thấm đẫm trong các trang văn Có thể nói tập truyện này là tập truyện tiêu biểu nhất, đặc sắc nhất của Đỗ Bích Thuý và của mảng đề tài viết về miền núi hiện nay Đỗ Bích Thuý đã cùng chia sẻ với người đọc cuộc sống và tình yêu của những con người nơi mảnh đất địa đầu tổ quốc (Hà Giang), nơi mà tác giả đã từng sống trong suốt thời gian thơ ấu đến khi trưởng thành để người đọc có thể cùng cảm nhận, hòa mình vào không gian văn hoá của ngưòi Mông, Tày trên cao nguyên đá Đồng Văn cùng đỉnh Mã Pì Lèng hùng vĩ Tập truyện mở ra một không gian văn hoá đặc sắc của quả còn ngày hội, tiếng khèn lá đêm trăng với những cảnh sinh hoạt của người Mông trong những căn nhà đất tường chình bao đời trong thung lũng đá, cuộc sống của những con người miền núi đặc biệt là những ngưòi phụ nữ dân tộc thiểu số Mỗi câu chuyện
Đỗ Bích Thuý kể là mỗi số phận, mỗi cảnh đời ngang trái khác nhau Trong bức tranh đó, chị tập trung khai thác chiều sâu nội tâm của nhân vật - phần lớn là những người đàn bà với cuộc đời làm dâu, làm vợ âm thầm, chịu nhiều buồn tủi đắng cay
Trang 9Việc tìm hiểu và nghiên cứu những nét đặc sắc về bản sắc văn hoá và con người miền núi qua các sáng tác của các nhà văn đi trước như Tô Hoài, Hoàng Hạc, Nông Minh Châu, Vi Hồng đã được nhiều người đề cập Với một tác giả còn trẻ tuổi như Đỗ Bích Thuý đang tiếp nối mảng đề tài viết về miền núi thì việc tìm hiểu những nét độc đáo trong sáng tác của chị, đặc biệt
là chiều sâu văn hoá và cuộc sống con người miền núi được thể hiện qua các tác phẩm là điều mà chúng tôi lựa chọn và quan tâm bởi trong các sáng tác của chị luôn luôn đem lại những điều mới mẻ và hấp dẫn đối với người đọc
Vì những lý do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Văn hoá và con người
miền núi qua tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý”
để thực hiện luận văn Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi hy vọng sẽ có một cách nhìn nhận và sự đánh giá tương đối chính xác, có hệ thống về việc thể hiện một cách sinh động những nét văn hoá và con người miền núi trong truyện ngắn Đỗ Bích Thuý, qua đó phát hiện thêm những nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Mông, Tày và cuộc sống, con người, thiên nhiên trong tập truyện
Tiếng đàn môi sau bờ rào đá Cũng từ đó, khẳng định được những đóng góp
của Đỗ Bích Thuý khi viết về mảng đề tài miền núi cũng như làm sáng tỏ tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn
Ngoài ý nghĩa khoa học, đề tài còn mang ý nghĩa thực tiễn: đó là việc thông qua những tác phẩm văn học, nhà văn đã mang đến cho bạn đọc thấy những nét độc đáo trong văn hoá dân tộc Mông, Tày ở Hà Giang Đồng thời thông qua cuộc sống của các nhân vật được thể hiện trong tác phẩm đặc biệt
là những nhân vật phụ nữ, vấn đề số phận người phụ nữ dân tộc thiểu số vị trí, vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống cũng được đặt ra, không chỉ riêng đối với văn học Từ việc tìm hiểu tác phẩm của Đỗ Bích Thuý từ phương diện văn hoá và con ngưòi chúng tôi muốn khẳng định quan điểm
Trang 10sau: văn hoá là cội nguồn của văn học, là nền tảng, bệ đỡ của văn học đã và cần khai thác chất liệu và tinh thần của văn hóa trở thành một hướng đi không thể thiếu trong văn chương Qua lăng kính văn hoá, dùng văn hoá để gắn kết, lý giải và bồi đắp tâm hồn con người, đó là cách khám phá đời sống qua văn chương theo chiều sâu rất đáng trân trọng của Đỗ Bích Thuý cũng như của một số nhà văn khác đang tiếp nối mạch sáng tác này trong văn học đương đại
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm đạt được các mục đích sau:
- Thông qua việc tiếp cận, tìm hiểu tác phẩm của Đỗ Bích Thuý để khám phá cuộc sống con người miền núi, những giá trị văn hoá, văn học trong tác phẩm với một sắc thái văn hoá miền núi đặc trưng
- Chỉ ra những đặc điểm cơ bản (về nội dung và nghệ thuật) trong việc
thể hiện văn hoá và con người miền núi trong tập truyện Tiếng đàn môi sau
bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý Từ đó, khẳng định những đóng góp của tác giả
ở mảng đề tài này, đồng thời mở rộng góc nhìn sang những tác phẩm văn học đương đại khác viết về miền núi
3 Lịch sử vấn đề
Những sáng tác của Đỗ Bích Thuý được công chúng biết đến là vào khoảng những năm 1999-2000 Sau đó, số lượng những bài phê bình, nghiên cứu về Đỗ Bích Thúy trong hơn mười năm qua là rất đáng kể Chúng tôi lựa chọn tìm hiểu tư liệu trên các báo và tạp chí có vị trí quan trọng về văn học trên cả nước là báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Văn nghệ quân đội, và Tạp chí văn học Đồng thời chúng tôi cũng tìm hiểu những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình về các sáng tác của lớp nhà văn đi trước viết về
đề tài miền núi như Tô Hoài, Vi Hồng, Nông Minh Châu để từ đó có thể
Trang 11tìm ra những nét khác biệt trong ngòi bút sáng tác của Đỗ Bích Thuý với lớp nhà văn đi trước
Trong các bài nghiên cứu, phê bình về Đỗ Bích Thuý, có bài nhấn mạnh đến vấn đề văn hoá, có bài đề cập đến nhiều khía cạnh khác Sau khi
Đỗ Bích Thuý đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của VNQĐ năm 1998-1999,
báo VNT có bài Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ (tức Nguyễn Ngọc Tư
và Đỗ Bích Thuý) của tác giả Điệp Anh Trong bài viết này người viết cũng
đã nhắc tới ấn tượng về nét văn hoá rất riêng của truyện ngắn Đỗ Bích Thuý:
“Thế mạnh của Đỗ Bích Thuý là đời sống người dân Tây Bắc với những không gian vừa quen, vừa lạ, những phong tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút”[20] Nhà văn Trung Trung Đỉnh viết: “ Đỗ Bích Thuý có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của người miền cao một cách tài tình Không truyện nào là không kể
về cách sống, lối sinh hoạt, nết ăn nết ở và cả cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù tác giả không
hề cố ý đưa vào những chi tiết lạ Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có” Nhà văn khẳng định: “Tôi có cảm giác Đỗ Bích Thúy còn quá nhiều điều để viết
về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời đẹp ấy của đất nước ta Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên đá kỳ vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu Một mở đầu mơ ước của một nhà văn” [23] Vậy là ngay từ những tác phẩm đầu tiên, Đỗ Bích Thuý đã “buộc” người ta phải nhớ tới chị qua một văn phong riêng đậm chất văn hoá miền núi Trong
bài Từ truyện ngắn của một người viết trẻ của nhà nghiên cứu, phê bình Lê
Thành Nghị đăng trên báo VNT số 31 (31/7/2005), sau này được in lại trong
Trang 12phần đầu Tuyển tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, ông viết
“Chúng ta sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng rừng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn “bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pì Lèng” Không gian Đỗ Bích Thuý tái tạo trong các tác phẩm của mình chính là một không gian văn hoá đậm chất miền núi đầy sức hút với độc giả mà nếu thiếu nó hẳn rằng sức nặng của triết lý và lẽ sống trong tác phẩm sẽ khó lòng thu hút được người đọc đến
như vậy
Ngoài một số bài viết đề cập trực tiếp đến văn hoá miền núi trong tác phẩm của Đỗ Bích Thuý, còn khá nhiều bài viết khác đề cập đến những vấn
đề khác trong truyện ngắn của chị như vấn đề con người Nhà văn Khuất
Quang Thuỵ trong bài Đôi điều tâm đắc về cuộc thi truyện ngắn VNQĐ
1998-1999 tuy chỉ nhận xét về chùm ba truyện ngắn được giải của Đỗ Bích
Thuý nhưng ông đã chỉ ra được một vấn đề luôn trăn trở trong các tác phẩm của chị: “Sự biến đổi của thời đại mới đã tác động lên mọi số phận của người Việt Nam, kể cả những người nơi thâm sơn cùng cốc Cuộc sống đã đòi hỏi mọi người phải suy nghĩ, trăn trở để làm sao vừa hoà nhập được với thời đại, với đất nước vừa không đánh mất đi những giá trị riêng của mỗi con người, mỗi cộng đồng dân tộc Đó chính là thử thách lớn nhất của thời mở cửa” [29]
Từ những tác phẩm của Đỗ Bích Thuý, Dương Bình Nguyên trong bài
Nhà văn Đỗ Bích Thuý- Sự mềm mại quyết liệt lại cảm nhận “Thực chất,
những mảnh đời, những bi kịch, những số phận éo le như những nhân vật của Thúy không phải là quá đặc biệt, quá hiếm hoi Nó đã từng ở đâu đó, trong cuộc đời này, dường như dưới gầm trời này trên mặt đất này, mọi thứ
đã không còn gì lạ lùng nữa Nó lạ lùng và nó ám ảnh bởi góc nhìn của mỗi
Trang 13người mà thôi Đỗ Bích Thúy đã đưa không gian ấy, thời gian ấy, số phận ấy vào góc nhìn của riêng chị Và chị thành công” [27] Tác giả Phạm Thuỳ
Dương trong bài Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thuý và
Nguyễn Ngọc Tư lại khai thác tính cảm thương trong các truyện ngắn của Đỗ
Bích Thuý Theo người viết, tính cảm thương đó được bộc lộ qua tình thương con trẻ, thương người phụ nữ Từ tính cảm thương ấy Phạm Thuỳ Dương tiếp tục nhìn nhận về giọng điệu cảm thương trong văn phong của Đỗ Bích Thúy v v
Như vậy có thể thấy qua các bài viết, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Đỗ Bích Thuý, các tác giả đều đã chú ý tới nhiều khía cạnh khác nhau trong giá trị sáng tạo văn học của chị Đó có thể là cảm hứng cảm thương, văn phong thuần hậu đậm chất miền núi Tuy vậy, qua những bài viết đó có thể thấy một vấn đề là khía cạnh giá trị văn hoá và cuộc sống con
người miền núi trong tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích
Thuý tuy đã được đề cập tới nhưng chưa được chú trọng khai thác một cách
hệ thống Do thế, luận văn của chúng tôi muốn tập trung khai thác, tìm hiểu vấn đề này để góp một cái nhìn toàn diện hơn về những đóng góp của nhà văn trẻ Đỗ Bích Thuý trong mảng văn học về đề tài miền núi của văn học đương đại
4 Phạm vi nghiên cứu
21 truyện ngắn trong tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (Nxb
Công an nhân dân, H.2005) của nhà văn Đỗ Bích Thuý
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và phê bình tác phẩm
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp nghiên cứu tác giả
- Các phương pháp khác như thống kê, thi pháp học thể loại
Trang 146 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần:
1 Phần mở đầu
2 Phần nội dung: Gồm 3 chương
Chương I: Con người miền núi qua tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý
Chương II: Những nét văn hoá đặc sắc trong tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá
Chương III: Nghệ thuật thể hiện đặc sắc trong tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá
3 Phần kết luận
Thư mục tài liệu tham khảo
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CON NGƯỜI MIỀN NÚI QUA TẬP TRUYỆN NGẮN TIẾNG
ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ CỦA ĐỖ BÍCH THUÝ
1.1 Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý - một tác phẩm tiêu
biểu và đặc sắc về miền núi
1.1.1 Vài nét về tác giả Đỗ Bích Thuý
Đỗ Bích Thúy sinh ra và lớn lên trong một bản nhỏ của người Tày ở
Hà Giang Gắn bó với mảnh đất Hà Giang cho tới khi trưởng thành, sau này khi đã về thủ đô sinh sống và công tác tại tạp chí Văn nghệ quân đội Đỗ Bích
thương, để nhớ” trong tâm hồn chị Quê hương luôn là vùng miền lưu dấu, mang sắc màu chủ đạo của ký ức, gắn với mỗi người như một sợi dây vô hình Với Đỗ Bích Thúy, thì còn một sợi dây gắn bó hữu hình là căn nhà mái ngói rêu phong trong thung lũng ba mặt là núi, một mặt là sông ở huyện Vị Xuyên, Hà Giang Nơi ấy có bản người Dao, người Tày, có những người phụ
nữ Mông nhẫn nại và cam chịu đã đi vào những trang văn của chị
Trong bài phỏng vấn của Tạp chí Xây dựng Đảng nhân dịp Xuân Tân
nông nghiệp thôi nhưng lại luôn khuyến khích con cái đọc sách Trong ký ức tuổi thơ, điều tôi thích nhất là được theo mẹ đi chợ Ngồi giữa 2 sọt cam, đợi
mẹ bán hết hàng, được ăn một cái bánh chưng bé tí và cuối phiên chợ được vào hiệu sách để mẹ mua sách cho Những cuốn sách mỏng được tôi cẩn thận đóng thành tập và ghi trên đó “sách của Thúy cấm xâm phạm” Có lẽ khát vọng được đọc sách từ bé đã thôi thúc tôi: Tại sao mình không viết ra những cuốn sách cho mình và cho mọi người xung quanh? Và tôi đã viết rất
Trang 16nhiều, gửi “điên cuồng” cho các báo Bài tản văn đầu tiên “Con của rừng”
được đăng trên tạp chí Tuổi Xanh, nhuận bút năm 1994 được 10 ngàn đồng Mọi người thế nào không biết, chứ tôi biết ơn tạp chí Tuổi Xanh lắm 10
ngàn đồng ấy chính là cú hích để tôi viết liên miên suốt mấy năm trời Viết trong sung sướng tràn trề!” [30] Học cấp 3, Đỗ Bích Thúy từng đi thi học sinh giỏi văn toàn quốc nhưng học hết phổ thông, chị theo học ngành Tài
chính-Kế toán Nhờ truyện ngắn Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên báo
Tiền phong, chị nhận được lời mời về làm việc tại Hội Văn nghệ Hà Giang
khi vừa tốt nghiệp.Về Hội Văn nghệ một thời gian, chị đi thi và trở thành sinh viên báo chí “già” nhất khóa 16 của Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà văn Dương Bình Nguyên từng nhận xét về Đỗ Bích Thúy: “Chị là người phụ nữ không quá nồng nhiệt, có gì đó thu mình trước đám đông Trong văn chương, Đỗ Bích Thúy cũng không quá ồn ào, những câu văn của chị như những dòng chảy ký ức, mãnh liệt và bản năng” [27] Thật vậy, có thể thấy điều này qua việc Đỗ Bích Thúy lựa chọn đề tài để viết Chị viết say sưa và mê đắm về cuộc sống của người dân miền núi mà cụ thể ở đây là các dân tộc thiểu số Mông, Tày, Dao ở mảnh đất Hà Giang, ở cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ
Khi trò chuyện với nhà báo Phong Điệp, Đỗ Bích Thúy từng thổ lộ:
“Văn chương như bông hoa ấy, và nhà văn chỉ là gốc rễ đầy đất cát lặng lẽ chôn chân bên dưới mà thôi Sở dĩ tôi không ngừng viết về miền núi vì đó là mảnh đất của tôi, mỗi khi viết về nó, đắm chìm trong thế giới ấy, tôi lại như người đi xa được trở về nhà, nhìn thấy đàn gà khi mình đi thì mới nở, và khi mình về thì chúng đã trở thành những chú gà trống sặc sỡ Cái tâm trạng ấy, nói thực lòng, tôi chưa bao giờ cảm thấy khi viết về một đề tài khác, mảnh đất khác Điều này một phần được chứng thực từ người đọc, họ cũng nói rằng, khi tôi viết về miền núi, tôi chính là mình” [24] Nhà văn Cao Duy
Trang 17Sơn từng nói: “Mỗi một người viết đều cần rào cho mình một thửa đất để cày xới” Đỗ Bích Thuý đã bước đầu định hình là cây bút chuyên tâm với đề tài miền núi - một đề tài không phải người cầm bút trẻ nào cũng dám lựa chọn.
việc ghi danh với giải Nhất cuộc thi Tác phẩm Tuổi xanh của Báo Tiền
phong (năm 1995), giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (năm 1999), giải Ba cuộc thi Sáng tác văn học của Nhà xuất bản
Thanh niên (năm 2003), giải C cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ lần 2 của Nhà xuất bản Thanh niên (năm 2005), giải thưởng của Hội văn học dân tộc thiểu số (năm 2006), nhà văn trẻ Đỗ Bích Thúy đã có được chỗ đứng trong trái tim người yêu văn chương Việt
1.1.2 Khái quát tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá
Đề tài dân tộc và miền núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại được hình thành, phát triển chủ yếu từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Từ
1986, đời sống văn nghệ cởi mở hơn; công cuộc đổi mới từng bước đem lại những chuyển biến ở địa bàn miền núi đã tạo đà cho mảng văn học viết về đề tài này phát triển với những đặc điểm mới so với các giai đoạn trước Đó là
sự mở rộng về đề tài, chủ đề, sự phát triển về đội ngũ tác giả, ở một số vùng đất đã xuất hiện những cây bút mới Có thể kể đến Niê Thanh Mai ở Tây Nguyên, Hà Thị Cẩm Anh ở miền Trung, ở miền Bắc có Hoàng Triều Ân, Vi Hồng, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy trong đó Đỗ Bích Thúy được biết đến là một tác giả nữ tiêu biểu
Sau khi đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn của VNQĐ năm
1998-1999 với các tác phẩm Đêm cá nổi, Ngải đắng ở trên núi, Sau những mùa
trăng Đỗ Bích Thúy dần nổi tiếng với những tập truyện ngắn Sau những mùa
Trang 18trăng, Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Ký ức đôi guốc đỏ, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá và tiểu thuyết Bóng của cây sồi Nhưng nổi bật và được
biết đến nhiều hơn cả là tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá Trong
cuộc trò chuyện với bạn đọc của Vnexpress.net (eVăn) khi tập truyện mới xuất bản, Đỗ Bích Thúy bộc bạch: “Thực ra thì không phải tất cả 21 truyện ngắn trong tập sách vừa xuất bản của tôi là truyện mới viết, mà nói cho đúng thì đó là các tác phẩm trong số những truyện ngắn mà tôi tâm đắc nhất, dành nhiều tình cảm, tâm trí cho chúng và cũng là những truyện ngắn dựa trên nhiều câu chuyện có thật nhất Hai trong số đó đã được chuyển thể và làm phim Tuy vậy, cũng phải nói lại rằng, không phải chỉ trước đây, bây giờ mà
cả sau này, miền núi vẫn là đề tài thân thuộc của tôi, không phải vì một mục đích nào đó mà vì sự thôi thúc từ gan ruột, thôi thúc chân thành và mãnh liệt Mỗi tác phẩm có một tâm trạng riêng, cũng như mỗi nhân vật là một tâm trạng, có khi là nỗi nhớ nhà, nhớ quê, có khi là bức xúc vì một vấn đề nào
đó, có khi là một câu chuyện đang dang dở với ai đó Có khi chỉ là một lời nhắn gửi hay ước mong cho vùng đất của mình ”[21]
Tập truyện ngắn gồm 21 tác phẩm chủ yếu viết về chủ đề miền núi và nông thôn, bao gồm cả những truyện ngắn đã được nhiều người biết đến như:
Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Ngải đắng ở trên núi, Sau những mùa trăng
Những truyện ngắn xoay quanh đề tài tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia đình của những con người sống trên những bản làng nơi rừng núi mù sương Đó
là nỗi lòng của những người con rời bản làng ra đi vẫn tha thiết nhớ về quê nhà với biết bao kỷ niệm: “Tôi sinh ra ở núi rừng Tôi ăn học ở thành phố Núi rừng là tuổi thơ tôi Thành phố là tuổi thanh xuân của tôi Núi rừng ở sau lưng Thành phố đang ở trước mặt Tôi đang đi từ phía trước mặt về phía sau
lưng…”(Đêm cá nổi) Là suy nghĩ, tình cảm của các thầy cô giáo từ miền xuôi lên dạy học ở miền núi (Cái ngưỡng cửa cao) Tác giả cũng đã hết sức
Trang 19chú tâm đến vấn đề thân phận con người, đặc biệt là những người phụ nữ dân tộc thiểu số hiền hậu, cam chịu, sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời cho người yêu, gia đình…
Trong tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Đỗ Bích Thúy không
chỉ mang đến cho người đọc những nét đặc trưng về cuộc sống và con người miền núi mà còn cho ta thấy những nét văn hóa đặc sắc của vùng đất được chị nói đến Những câu chuyện chị kể đều bắt đầu từ cuộc sống của một vùng đất độc đáo, nơi có vùng văn hóa riêng biệt, nơi mà nhà văn phải hiểu tường tận và yêu hết mình Chị đã dẫn dắt người đọc đến với một không gian miền núi vừa quen thuộc, vừa mới lạ, “Một không gian đầy hoa lá rừng; có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác tẩu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy mầu sắc; những đêm trăng sóng sánh, huyền ảo; những bụi mần tang mọc trong thung lũng; tiếng đàn môi réo rắt sau bờ đá; lễ hội gầu tào với điệu hát gầu Plềnh mê đắm của những cô gái, chàng trai người Mông trên đỉnh núi…Khát vọng về hạnh phúc, những tâm sự cháy bỏng về lẽ sống, ý thức về những ngày hiện tại ở một vùng đất độc đáo, đầy kỉ niệm đã tạo ra trong ngòi bút của Đỗ Bích Thúy niềm xúc động chân thành, chảy dào dạt trên trang viết…” [26] Đọc truyện của Đỗ Bích Thúy có cảm giác như đang được cùng chị đặt chân tới một không gian văn hóa độc đáo của những tiếng đàn môi,
tiếng khèn gọi bạn tình, những lễ hội lồng tồng (xuống đồng), lễ hội gầu
tào được sống, được nghĩ và được sẻ chia cùng với người Mông, người Tày
muôn đời ẩn mình phía sau những dãy núi ngập trong làn sương trắng…Tác phẩm của Đỗ Bích Thúy luôn đề cập những đề tài hết sức gần gũi đời thường, nhưng bao giờ cũng để lại một dư vị lãng mạn, buồn mà không cay đắng ở người đọc Đó là những tác phẩm thể hiện sự quan tâm tha thiết với
Trang 20thân phận bi kịch của con người, nỗi trăn trở về cuộc sống nghèo nàn và
những định kiến còn tồn đọng (Ngựa núi,Ngoài cửa trời chưa sáng) Dưới
ngòi bút mượt mà của một nhà văn nữ, những truyện ngắn về đề tài miền núi mang đậm vẻ chân thật, hồn nhiên, mộc mạc của tâm hồn con người dân tộc
và dịu dàng, man mác chất thơ
1.2 Con người miền núi qua tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá 1.2.1 Cuộc sống và con người miền núi trên cao nguyên đá Đồng Văn-
Hà Giang hùng vĩ
Nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, Cao nguyên đá Đồng Văn trải rộng trên bốn huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang gồm Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc, Đồng Văn Cách trung tâm thành phố Hà Giang 150km, Đồng Văn trải dài lớp lớp núi đá trùng điệp, hùng vĩ Xa xôi, hiểm trở, thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt trầm trọng, đời sống các dân tộc nơi đây gặp rất nhiều khó khăn Người dân vùng cao Đồng Văn sống quyện cùng với đá, đá hiện diện khắp nơi, khắc nghiệt và tôi luyện ý chí của người vùng cao Những mái nhà tường chình của người Mông nằm chon von như một dấu chấm trên lưng chừng núi đá Người dân cao nguyên Đồng Văn từng ngày chiến đấu với tự nhiên để giành lại từng nắm đất Họ dọn đá để dựng nhà, để có đất trồng trọt, khoét đá để tìm dòng nước ngọt…Đá dựng thành tường rào để bao quanh làng xóm, đá giữ nước, giữ đất để có ruộng bậc thang và đá dựng thành rừng, thành lũy để bảo vệ biên cương Tổ quốc Ở đây cúi xuống thấy đá tai mèo, ngẩng lên trời lại thấy đá- một màu đá xám trập trùng bao phủ Thiên nhiên hùng vĩ và khắc nghiệt ấy đã tạo cho Đồng Văn di sản địa chất độc đáo, hùng
vĩ, hoang sơ và hun đúc con người nơi đây một sức sống mãnh liệt, kiên cường trong gian khó, mạnh mẽ trong cuộc sống, cần mẫn trong lao động
Sức sống là một trong những đặc điểm cơ bản làm nên bản sắc, bản lĩnh của một dân tộc Thiếu sức sống, không có khả năng tự điều chỉnh, thích
Trang 21nghi trong những hoàn cảnh khắc nghiệt thì dân tộc đó không thể tự khẳng định mình và phát triển trong tiến trình lịch sử một cách bình thường Dân tộc nào cũng có sức sống Nhưng do hoàn cảnh địa lý lịch sử, văn hóa chi phối mà mỗi tộc người có biểu hiện đặc thù về sức sống riêng không ai giống
ai Mặt khác, cùng một tộc người nhưng trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau thì biểu hiện sức sống cũng khác nhau Sức sống của một dân tộc thường được biểu hiện trong các hoạt động ứng xử cộng đồng mang tính phổ quát của các quan hệ người với người, của con người với xã hội và với tự nhiên Sức sống đi liền với khát vọng vươn tới cái thiện, cái đẹp, tính nhân văn của cuộc sống Trong mỗi cá nhân đối với dân tộc mình, ai cũng mang trong lòng một tình yêu, một lòng tự hào với nơi trôn rau cắt rốn Người
Mông, người Tày trong tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ
Bích Thúy cũng vậy Những người đàn ông trong truyện ngắn của Đỗ Bích
Thuý như ông Sùng trong Gió không ngừng thổi, bố của Sài trong Vết chân
ngựa trên đường mòn, bố của Pao trong Ngoài cửa trời chưa sáng đều là
những con người giàu sức sống, là trụ cột của gia đình Đó là hình ảnh ông Sùng, người đàn ông giàu lòng nhân ái, hết lòng thương vợ, thương con
trong truyện ngắn Gió không ngừng thổi Biết thằng Thào Mí Chá không
phải là con mình nhưng ông hết lòng thương yêu, chăm sóc nó, “mỗi khi thằng bé nghịch dại, người mắng nó, cầm roi vụt vào mông nó không phải là Sùng mà là Kía” Chỉ đến khi bà Kía sắp qua đời, ông mới có ý định hỏi bà
có muốn cho thằng Chá đi nhận bố đẻ không Không một lời oán trách, không một hành động nào hắt hủi, ông âm thầm chịu đựng không nói ra sự thực vì sợ vợ buồn Trên hết thảy đó chính là tình yêu thương đối với vợ con,
là lòng nhân ái đã đánh thắng được những nhỏ nhen, ích kỷ của con người
Đó là hình ảnh bố của Sài, vợ chết khi sinh đứa con thứ ba Ông ở vậy nuôi con không lấy vợ mới vì sợ mẹ kế không thương được con mình Bố của Pao
Trang 22cũng vậy “vợ không đẻ được con trai cũng không bỏ đi lấy người khác”; khi
vợ chết, ông cũng ở vậy hết lòng nuôi con khôn lớn
Người Mông, Tày trên cao nguyên đá Đồng Văn sinh sống trong điều kiện tự nhiên bị chia cắt thành từng bản nhỏ, kinh tế tự cung, tự cấp là chủ yếu Vì thế, từ lâu các tộc người này sớm có ý thức về cộng đồng làng bản,
họ tộc khá gắn bó để cưu mang, chia sẻ trong niềm vui, hoạn nạn Trong các hoạt động ứng xử, giao tiếp họ tối kỵ sự bất đồng, bất hoà Chính vì vậy các dân tộc thiểu số vùng cao sớm định hình tính cách phổ biến đặc thù là thật thà, chất phác, bộc trực, khảng khái Biểu hiện nét tính cách này thật đa dạng Trong giao tiếp, họ chú trọng tính tường minh đơn nghĩa của thông tin Biết sao nói vậy, nhận thức như thế nào thì họ sử dụng ngôn ngữ tương ứng
để phô diễn Trong các hoạt động ứng xử, lời nói phải đi đôi với việc làm, họ quan tâm đến việc làm hơn những ẩn ý ở bên trong Chàng trai người Mông tên Sính lấy cô giáo người Kinh lên bản dạy học tên Sương, hết lòng yêu thương vợ nhưng khi nhận thấy Sương chưa thật lòng thương yêu mình Sính
đã nói “Cô giáo ngủ đi Tôi không làm gì cô giáo đâu Đừng khóc nhé Không muốn làm vợ tôi sao cô giáo lại nhận vòng bạc, lại uống chén rượu thề? Ngày mai cô giáo trả lại vòng bạc cho bà cô rồi đi cũng được, cô giáo à!” Sính thể hiện tình yêu với vợ bằng hành động: “Ngày nào cũng vậy, Sính dậy sớm gánh nước đổ đầy hai chum lớn, nhóm sẵn bếp cho Sương dậy nấu cơm kịp ăn trước khi học sinh gọi cửa Buổi trưa Sương về cũng có cơm nấu sẵn rồi Buổi chiều Sính hay tạt qua lớp học xem có cái bàn cái ghế long
chân nào thì đóng lại” (Cái ngưỡng cửa cao) Hay trong truyện Vết chân
ngựa trên đường mòn, khi cô giáo bị hiểu lầm là hẹn hò với một người đàn
ông của làng, người ấy lại đã từng có vợ thì cả làng không mở cửa để cô giáo vào nhà mình Hành động ấy được thể hiện qua việc cài một cành lá xanh vào then cổng gỗ Nhưng khi mọi hiểu lầm được giải toả thì “trong làng
Trang 23không ai đả động đến chuyện vừa xảy ra nữa Người làng không quen nói lời xin lỗi, chỉ biểu hiện bằng cách tối tối thắp đuốc qua suối đến chơi với cô giáo, mang cho quả bí, mớ rau, mấy con gà con ” Những câu chuyện giản dị như thế trong mỗi bếp lửa, căn nhà, đan xen trong mối quan hệ thân ái và trung hậu của những con người miền núi cứ lặng lẽ thấm vào người đọc qua một cách kể nhẹ nhàng mà xúc động của tác giả
Đời sống vùng cao trong những chuyển đổi trước tác động của cuộc sống thành thị thời hiện đại cùng nền kinh tế thị trường với cả mặt tích cực
và tiêu cực đã ít nhiều được phản ánh trong truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy
Có những chàng trai, cô gái miền xuôi lên "cắm bản" dạy chữ cho đồng bào
Có phong trào xây dựng bản làng văn hóa mới Điện về, thị trấn mới hình thành, hàng quán và cả những tệ nạn Tất cả đã hiện hình, tác động lên nếp
sống, nếp nghĩ trầm tĩnh bao đời của con người vùng cao Thị trấn, Ngoài
cửa trời chưa sáng, Mặt trời lên quả còn rơi xuống, Con dê bốn mắt là
những truyện miêu tả khá sinh động về những chuyển đổi đó Và nổi bật lên trong mỗi hoàn cảnh, ở những môi trường sống nhiều thử thách khác nhau là hình ảnh những con người luôn khát khao tình yêu, khát khao được sống, lao động, đóng góp sức mình xây dựng, gìn giữ vẻ đẹp, sự bình yên của mảnh đất quê hương, luôn có ý thức hoà nhập với văn minh, hiện đại Các nhân vật trung tâm của các tác phẩm này thường là những người trẻ tuổi như cô giáo
miền xuôi trong Vết chân ngựa trên đường mòn, anh bí thư đoàn xã tích cực, nhiệt tình với phong trào trong Mặt trời lên, quả còn rơi xuống, người em trai của Din trong Ngải đắng ở trên núi Và không phải không có người đã
sa ngã trước những cám dỗ của đồng tiền Đó là Dúng trong Ngựa ngã núi
Vì muốn có tiền, thật nhiều tiền để người con gái Dúng thích cũng như gia đình cô ấy không coi thường Dúng, chàng trai quyết định: “phải làm thật nhiều tiền để bố mẹ Dính, ông cậu Dính thấy thằng người chân tay trắng, mặt
Trang 24trắng này không biết làm ra hạt ngô nhưng biết làm ra đồng tiền” Dúng đi buôn ngựa, từ buôn ngựa đến ăn trộm ngựavà cuối cùng Dúng đã phải trả giá “Bây giờ thì Dúng thấy, không phải con ngựa trắng ấy ngã Nó không ngã, mà Dúng ngã Ngã từ trên núi đá cao ngang mây trời, lăn xuống dốc dựng đứng Lăn từ lúc chưa biết nghĩ đến khi biết được mọi chuyện mới dừng lại Dừng lại thì đã muộn, không đứng thẳng dậy được nữa” Viết về cái phần tối, sự sa ngã của con người miền núi, người ta vẫn thấy được tấm lòng người viết Không gay gắt, không nhuốm đen con người, ngòi bút Đỗ Bích Thúy vẫn như muốn nâng đỡ những con người lầm lạc Tình cảm gắn
bó tha thiết với vùng đất này đã tạo nên cách nhìn ấy, bút pháp ấy của Đỗ Bích Thúy
Tìm hiểu tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thuý,
người đọc được tiếp xúc với những bức tranh thiên nhiên, con người và cuộc sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi cao phía Bắc Cuộc sống nơi đây mang đậm chất dân gian, một cuộc sống cộng đồng dân dã, hồn nhiên bao đời nay Bên cạnh đó những con người nơi đây lại luôn mang trong mình một sức sống bền bỉ, mạnh mẽ cộng với sự thật thà, chất phác, trung thực, thẳng thắn Trong bức tranh rất phong phú về thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt và những con người miền núi Chính từ những yếu tố trên đã tạo
nên sự hấp dẫn và độ lắng đọng sâu xa cho các truyện ngắn của Đỗ Bích Thuý
1.2.2 Hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số- điểm nhấn đặc biệt trong tập truyện ngắn
Trong văn học Việt Nam hiện đại đến những năm 30 của thế kỷ XX, hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số bắt đầu xuất hiện trong một số tác
phẩm của các cây bút như Thế Lữ với Vàng và Máu (1934), Lan Khai với
Truyện đường rừng (1940)… Những tác phẩm này đã vẽ lên một thế giới xa
lạ huyền bí với khung cảnh thiên nhiên vừa thơ mộng, vừa hoang dã, ẩn chứa
Trang 25nhiều bí hiểm và thường gắn với những cuộc báo thù man rợ Các nhân vật phụ nữ dân tộc thiểu số thường ẩn hiện trong khung cảnh ấy, họ xuất hiện với một vẻ đẹp vừa phồn thực, vừa huyền ảo, vừa có vẻ hoang dại, ma quái kiểu Liêu Trai Đó là những người phụ nữ có vẻ đẹp huyền bí với những hành động kỳ lạ, những nỗi thù hận, những mối ân oán…,tất cả mờ ảo chìm lẫn trong không gian ma quái, không rõ hình dáng, tính cách Những cô gái hoang dã ấy rất nồng nàn và phóng túng trong những mối tình qua đường với những chàng trai từ chốn thị thành đến khám phá vùng rừng núi ma thiêng nước độc Thực chất đó chỉ là những câu chuyện kích thích trí tưởng tượng,
sự tò mò của người đọc về miền núi, vùng đất gần như còn hoàn toàn bí mật với người miền xuôi chứ không phải những sáng tác hiện thực về miền núi
Như vậy, trước cách mạng tháng Tám, hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số hầu như mới chỉ được khắc họa với những nét lãng mạn, nói cách khác hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số trong cuộc sống hiện tại chưa được phản ánh trong văn học Cách mạng tháng Tám thành công, một số nhà văn như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Ngọc… đã đến với mảng đề tài hầu
như còn khuyết trống này: Nam Cao với Truyện đường rừng (1940), Nhật ký
ở rừng (1948) Tô Hoài với Núi cứu quốc (1948) Mặc dù bức tranh miền núi
trong ba tác phẩm trên còn đơn giản nhưng cũng là những phác họa chân thực, mới mẻ về con người, cuộc sống của các dân tộc miền núi Hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số trong những tác phẩm này mới chỉ là những phác thảo đẹp về những con người trung thực, giàu tình nghĩa với cán bộ và cách mạng
Đến năm 1953, với tập Truyện Tây Bắc nhà văn Tô Hoài đã thể hiện
một chiều sâu cảm nhận, khám phá và thể hiện con người, cuộc sống, thiên nhiên miền núi Hình ảnh những người phụ nữ dân tộc thiểu số trong tập
truyện như Mỵ (Vợ chồng A Phủ), Ính (Mường Giơn), Ảng (Cứu đất cứu
Trang 26mường) đã được tác giả thể hiện rất sinh động, chân thực, có đời sống riêng
và là những số phận tạo được ấn tượng trong lòng người đọc
Tiếp nối mảng đề tài này, Nguyên Ngọc có Đất nước đứng lên (1956) Nguyễn Tuân có Tùy bút Sông Đà (1960) Nông Minh Châu với Muối lên
rừng (1964) Vi Hồng với Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi
(1985) Ma Trường Nguyên với Mũi tên ám khói (1991), Tình xứ mây (1993) Cao Duy Sơn với Những chuyện ở Lũng Cô Sầu (2003) Bùi Thị Như Lan với Tiếng chim kỷ giàng (2004) Đỗ Bích Thúy với Tiếng đàn môi sau
Ở đó, người phụ nữ dân tộc thiểu số vừa mang những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: tảo tần, nhân hậu, thủy chung…, vừa mang những nét tính cách riêng của người phụ nữ dân tộc thiểu số: thật thà, chất phác, yêu thiên nhiên, sống gắn bó, hòa hợp với thiên nhiên
Trong tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số, người phụ nữ có vai trò rất quan trọng Tuy nhiên trên thực tế đời sống hiện đại, người phụ nữ dân tộc thiểu số miền núi lại phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi, gian khổ và đây chính là đối tượng được quan tâm nhiều hơn cả khi các nhà văn viết về các dân tộc này
Không giống như các nhà “tiểu thuyết đường rừng” lãng mạn tưởng
tượng về các cô gái Thổ có vẻ đẹp bí ẩn, ma quái Đỗ Bích Thúy cho ta thấy
Trang 27hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số thời hiện đại hiện lên với vẻ đẹp chân thực, giản dị Đó là hình ảnh của những người phụ nữ thật thà, chất phác, nhân hậu, thuỷ chung, suốt đời chịu thương chịu khó nhưng cũng là người chịu nhiều thiệt thòi, bất công xã hội có số phận và cuộc đời bất hạnh
Trong bài Người đàn bà miền núi Đỗ Bích Thúy tâm sự: “Trong
những tháng ngày tôi đã sống và viết về vùng đất xa tít tắp của mình, điều làm tôi day dứt nhất, ám ảnh nhất là thân phận của người đàn bà Người đàn
bà miền núi, dậy trước gà gáy, ngủ sau trăng sao, cõng trên lưng sự tồn vong của cả một gia đình, với một đàn con lít nhít, đứa lớn hơn đứa bé cái chỏm tóc Tôi rất nhớ hình ảnh những người đàn bà gùi trên lưng một cái gùi rất nặng Nặng ngô, lúa, mật ong, lợn con, rượu, củi…xuống chợ, lại gùi một cái gùi nặng mắm muối, vật dụng trở về khi chiều tàn, chợ tan nhưng nhớ là phía trước, ngay dưới những gương mặt cúi gằm vì mải nhìn đường, vì thói quen,
vì giữ ý…là những chiếc bướu rất nặng nề, xấu xí” [28] Và một điều dường như là tất yếu, trong tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, những nhân vật để lại nhiều ám ảnh nhất chính là những người phụ nữ ở mọi lứa tuổi Đỗ Bích Thúy từng trăn trở “Tại sao tôi cứ viết về đàn bà, với những cuộc đời rủi ro
và số phận nghiệt ngã, với những cái bướu xấu xí và tấm lưng còng gập? Tại sao những người đàn bà của tôi khi nào cũng phải sống trong những nỗi khát khao lớn hơn dãy Tây Côn Lĩnh, sâu hơn đáy sông Lô - những nỗi khát khao không gì nhấn chìm được, cũng không cách gì đạt tới được? Những cuộc đời đầy âu lo, những năm tháng luôn phải đối mặt với thiên nhiên khốc liệt, cõi đời trắc trở, tình yêu mong manh Tại sao vậy? Phải chăng vì, như một người đã nói với tôi: Cuộc đời đàn bà buồn nhiều hơn vui, lo âu nhiều hơn mãn nguyện? Phải chăng vì, trời sinh ra đàn bà để chẳng sống mấy cho mình?” [28] Trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, ta bắt gặp hình ảnh của những người phụ nữ với những số phận khác nhau Có những bé gái như
Trang 28May lọt lòng đã không biết tới tình yêu thương của mẹ đẻ: “May được hai tháng tuổi thì mẹ Hoa để May ở nhà với mẹ già rồi xuống phố huyện mở sạp
bán giày vải, thỉnh thoảng mới về”(Tiếng đàn môi sau bờ rào đá) Những người phụ nữ bị chồng bội bạc như Mai (Cạnh bếp có cái muôi gỗ), những người phụ nữ phải chịu bao đắng cay vì nghèo khó như Vi (Giống như cái
cối nước), Nhi (Hẻm núi) và cũng có cả những người phụ nữ không được
hưởng trọn vẹn tình yêu, hạnh phúc mà đáng ra họ phải được hưởng như Kía
(Gió không ngừng thổi, Mai (Sải cánh trên cao)… Nhưng sau bao khó khăn,
vất vả, hình ảnh những người phụ nữ miền núi luôn hiện lên như những điển hình của con người chịu thương, chịu khó, cam chịu mọi thiệt thòi để vun vén cho cuộc sống gia đình
Hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số trong tập truyện ngắn Tiếng
đàn môi sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thúy thường ít nói, ít thể hiện mình
bằng lời nói mà chủ yếu thông qua hành động, việc làm, đúng như bản chất người miền núi thật thà, chất phác và bao giờ cũng có nét tính cách riêng của người phụ nữ nhân hậu, thủy chung Nếu chúng ta muốn đi tìm một nhân vật
nữ phản diện thực sự trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy thì thật không dễ dàng Dường như khi viết truyện, chị luôn muốn dành những ưu ái nhất, trân trọng nhất cho những người phụ nữ vùng cao bởi với chị, họ luôn là biểu tượng của cái đẹp thuần hậu, nhuần nhụy và đậm chất bao dung Trong bất
kỳ hoàn cảnh nào, ta cũng thấy người phụ nữ hiện lên giản dị, thật thà, chất phác nhưng hết sức cao cả, nhân hậu, thủy chung Hình ảnh Mẹ già trong
truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá là một minh chứng cho điều đó
Lấy chồng, không có con, chồng đưa về nhà một người phụ nữ khác, dù không bằng lòng nhưng người mẹ già ấy vẫn chăm chút cho hai đứa con riêng của chồng bằng tình thương yêu rất mực của một người chưa từng làm
mẹ Hình ảnh “May bé như con mèo con Từ sáng tới tối khuya, lúc nào cũng
Trang 29nằm trong địu trên lưng mẹ già Không biết bao nhiêu lần May ngậm hai bầu ngực mẹ già, nhay đến bật máu vì thèm sữa May lên hai tuổi, còn chưa trèo qua được bậu cửa thì mẹ Hoa đẻ thêm thằng Trài Thằng Trài lại ngồi trong địu, thay chỗ của May, lại nhay bầu vú chưa bao giờ có sữa của mẹ già…”
đã nói lên tất cả tình yêu thương của bà dành cho chúng Người phụ nữ ấy chấp nhận cuộc sống chung với suy nghĩ: “Làm dâu mà không làm mẹ thì chỉ là cái cục đá kê chân cột nhà chồng thôi Ở hai mươi, ba mươi năm, ở đến lúc chết cũng chỉ là cục đá kê cột thôi…” Nhưng có thể thấy vượt lên trên tất cả đó chính là đức bao dung, lòng nhân hậu đã giúp bà chắt lọc những gì ấm áp nhất dành cho hai đứa con riêng của chồng Tình cảm mà May dành cho mẹ già chính là minh chứng sâu sắc nhất cho điều đó “Lúc nào May cũng chỉ thấy hai bàn tay khô như hai cành mua cong queo, đầy vết chai dầy như miếng cháy trong chảo cám của mẹ già trước mặt mình…May kéo ghế ngồi xích lại gần mẹ già hơn một tý, không biết nói gì cho phải, bụng dạ đau thắt như có ai cầm dao sắc mà cứa…”
Trong tập truyện ngắn này, ở truyện này truyện khác, tuy tình huống
truyện có thể không rõ ràng như trong Tiếng đàn môi sau bờ rào đá nhưng
hình ảnh những người phụ nữ vẫn được khắc họa thống nhất trên quan điểm này Một bà Kía khi phải thai nghén và sinh ra đứa con trai không mong muốn sau khi bị cưỡng bức đã cam chịu nỗi đau đớn, tủi hổ một mình vì sợ chồng không chịu đựng nổi nỗi nhục đó Thằng Thào Mí Chá bao nhiêu tuổi
là bấy nhiêu năm bà Kía ôm trong lòng nỗi tủi hổ và thương chồng đến xót
xa (Gió không ngừng thổi) Một cô Nhi sẵn sàng vì người mình yêu mà vượt
qua tất cả những khó khăn trong cuộc sống, một mình nuôi con không hề oán thán và chỉ nói ra sự thật khi đứa con đó chẳng may bị chết đuối trong lũ
(Hẻm núi) Một người mẹ cả đời vất vả, chịu đựng khi “cha tôi hy sinh khi
tôi mới mười tuổi, mẹ tôi ở vậy nuôi mẹ chồng, cả đàn em lít nhít với hai chị
em tôi…”(Ngải đắng ở trên núi)
Trang 30Trong các truyện ngắn viết về miền núi của mình, Đỗ Bích Thúy luôn day dứt phơi bày một ý thế này: “Người đàn bà không có con thì chỉ như hòn
đá kê cột trong nhà chồng mà thôi” Nhưng quả thực, qua từng câu chuyện, qua từng số phận nhân vật, ta càng cảm nhận sâu sắc hơn những trải nghiệm của chị khi viết nên câu văn đó Sống ở vùng cao, nơi biên giới nên người đàn ông dân tộc thiểu số đặc biệt là đàn ông dân tộc Mông trong gia đình giữ vai trò quan sát sự biến động của hoàn cảnh và quyết định mọi việc gia đình Đàn ông giữ vai trò chính trong các nghi lễ của gia đình, cộng đồng: lựa chọn đất đai, gây nhà dựng cửa, làm các công việc kỹ thuật như rèn, mộc, săn bắn Những việc ấy chiếm rất nhiều thời gian của người đàn ông, vì vậy việc lao động sản xuất lương thực, bếp núc, dệt may, chăm sóc con cái, đảm bảo cuộc sống gia đình chủ yếu dành lại cho phụ nữ Bước chân về nhà chồng, phụ nữ Mông không mang theo của cải hồi môn nhiều như người Thái, Mường Dường như cái họ để ý mang theo là những đức tính của người phụ nữ cần cù, chịu khó và chịu đựng Về nhà chồng, con dâu mới phải quan sát và hòa nhập nhanh vào cuộc sống của nhà chồng, phải thể hiện những gì tốt đẹp nhất của người phụ nữ, từ lao động cho đến ứng xử với các thành viên trong gia đình, làm cho gia đình nhà chồng vừa ý Sau đó là chuyện sinh nở Đây là một việc hệ trọng; người phụ nữ Mông truyền thống nào cũng phải làm tròn bổn phận sinh con cái, đặc biệt là phải sinh được con trai vừa để tăng thêm sức lao động cho gia đình, vừa duy trì nòi giống cường thịnh cho dòng tộc Đó là một trách nhiệm nặng nề và đôi khi là bi kịch đối
với những người phụ nữ dân tộc thiểu số Cô Kía (Gió không ngừng thổi) khi
chưa có con trai lúc nào “cũng buồn, buồn lắm, vừa buồn vừa thương bố mẹ chồng chết chưa nhắm được mắt, thương chồng sắp đến tuổi ông mà chưa được làm bố một thằng con trai” Đến khi có một thằng con trai do bị cưỡng bức thì không dám nói ra sự thật Bao nhiêu năm, “thằng Chá cứ lớn lên
Trang 31trong nỗi sợ hãi sâu thẳm của mẹ nó” và cô Kía từ một “người đàn bà miền núi một con, cặp má đỏ hồng, da căng mịn, mái tóc rất dày và hai cánh tay
khỏe mạnh” đã trở thành “như một cái cây bị phơi khô” Hay như Mai (Cạnh
bếp có cái muôi gỗ) bị chồng bội bạc vì “Nó muốn con trai, đẻ nữa thì không
có gì nộp phạt…”Ngoài trách nhiệm và nghĩa vụ sinh nở, người phụ nữ dân tộc thiểu số còn gánh trên mình vô vàn những trách nhiệm không tên khác
nữa Duân trong Mặt trời lên quả còn rơi xuống là như vậy Lấy chồng mới
được năm, sáu năm nhưng bờ vai tròn lẳn, “mềm như nắm cơm nếp mùa”
thời con gái đã trở nên gầy guộc, xơ xác Hay hình ảnh người mẹ trong Ngải
đắng ở trên núi Chồng hy sinh, bà ở vậy nuôi con đến khi con trưởng thành
thì “đâu hết rồi những ấm nồng, đầy đặn ăm ắp sức sống? Đâu rồi bầu ngực tròn căng của người vợ góa? Đâu rồi mái tóc đầy những mùi thơm của lúa, mùi cay nồng của ngải đắng, mùi mặn mòi của cỏ tranh bị đốt cháy? ” Người phụ nữ vùng cao tần tảo tới mức không ai nghĩ tới bản thân họ và cứ thế hệ này đến thế hệ khác những bà mẹ lại rủ rỉ dạy con gái về những đức tính này trước khi về nhà chồng
Trong tập truyện ngắn này, hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số còn hiện lên là những người chịu nhiều thiệt thòi, bất công xã hội, có số phận
và cuộc đời bất hạnh, chịu nhiều mất mát đau khổ trong tình yêu Trong tập
truyện có hai tác phẩm Đỗ Bích Thúy viết về một thời đã qua là Cột đá treo
người và Sải cánh trên cao Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc
sống của nhân dân ta lầm than, cơ cực trong cảnh nước mất nhà tan Thân phận đau khổ, bất hạnh của những người nô lệ mất nước là một sự thực lịch
sử cay đắng đã in dấu ấn sâu đậm trong văn học Việt Nam Trong bối cảnh lịch sử chung đó, cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi chịu nhiều đau khổ, bất hạnh hơn người Kinh nhiều lần bởi ngoài sự áp bức, thống trị, bóc lột của chế độ thực dân, họ còn là nạn nhân của sự lạc hậu, u
Trang 32mê tăm tối với đủ mọi tập tục mê tín dị đoan Cường quyền đã kết hợp với thần quyền để bóp nghẹt dã man cuộc sống người dân miền núi Đâu đâu cũng là những cảnh sống tăm tối đầy uất ức của những thân phận con người đau khổ: họ bị tước đoạt tự do, đầu độc tinh thần…Tiêu biểu cho những số phận bi thảm đó là người phụ nữ dân tộc thiểu số Ngoài phải chịu đủ cảnh đọa đầy như nam giới, họ còn bị xúc phạm nhân phẩm, bị coi như một món hàng rẻ rúng, trở thành đối tượng để bọn quan lại, cường hào, thổ ty hành hạ thỏa mãn nhục dục
Trở lại với những câu chuyện Đỗ Bích Thúy viết về một thời đã qua Trong những ngày còn chế độ quan lang, thổ ty trên vùng đất Tây Bắc, những thân phận chịu nhiều đau khổ như Chía, như Mai có lẽ không hiếm Nhiều người đã biết đến hình ảnh người phụ nữ thiểu số chịu nhiều đau khổ
trong các sáng tác của nhà văn Tô Hoài như Mỵ (Vợ Chồng A Phủ), Giàng Súa (Miền Tây), Mảy (Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ)…Với Đỗ Bích Thúy, một
lần nữa những mất mát, thiệt thòi, đau khổ của người phụ nữ dân tộc thiểu
số lại được tái hiện dựa trên những câu chuyện có thật Cha mẹ Chía vì vay
nợ lý trưởng không trả nổi, tiền vay cứ lãi mẹ đẻ lãi con, cho tới lúc lý trưởng báo cho Chía tới làm người ở để xóa nợ thì Chía chính thức trở thành thân phận tôi đòi Nỗi đau đớn vô cùng của Chía cũng như của biết bao người trên cao nguyên đá Đồng Văn khi không thể cứu được người thân, người yêu thoát khỏi cái chết thảm khốc trên cột đá treo người “Cây cột đá dùng để hành hình những người phạm tội này bây giờ vẫn còn, như một chứng tích cho những năm tháng tối tăm của thế kỷ trước mà người Mông vùng cao nguyên đá Đồng Văn phải trải qua” [8;110] Còn với Mai (Sải cánh
trên cao) thì nỗi khổ lại khác, chồng theo người phụ nữ khác, con vì đói, vì
thiếu muối mà chết, cuộc đời của Mai tưởng như đã đi vào ngõ cụt nếu không gặp được Sinh Nhưng rồi cuộc chiến với giặc đã cướp đi sinh mạng
Trang 33của Mai khi chưa kịp một lần được hưởng niềm hạnh phúc hồi sinh của cách mạng Một mặt, người phụ nữ khổ vì những bất công xã hội nhưng đôi khi chính những phong tục tập quán, những thành kiến làng xóm lại cũng là nhân tố cướp đi niềm hạnh phúc đáng có của họ Vi xinh đẹp, ngoan ngoãn, đảm đang, cô có tình yêu đẹp đẽ với Sinh, chàng trai ở bản bên nhưng cuối cùng tình yêu không đi được đến đích chỉ vì “thấy bảo nhà ấy bốn năm đời nghèo không đủ ăn, người giàu lấy vào cũng nghèo theo, đói lắm” Cô Vi xinh đẹp giờ “đã như một bông hoa tam giác mạch cuối mùa, từ màu xanh chuyển sang màu hồng, từ màu hồng lại sang màu trắng, rồi tàn úa dần” Vậy
là muốn con gái lấy được chồng, cha mẹ Vi đã phải bán cả nhà cửa, đất đai
và dọn sâu vào bên trong núi sinh sống Hẳn sự thật này sẽ trôi vào dĩ vãng
nếu không có một ngày Vi về thăm nhà và được đứa em nói cho biết (Giống
như cái cối nước) Những ngọn đồi hồng rực miên man màu tam giác mạch,
đẹp đến nao lòng thì ra cũng chỉ là một ẩn dụ tượng trưng về thân phận những nhan sắc của núi rừng, chẳng mấy chốc mà héo hon, tàn lụi
Có thể thấy, với người phụ nữ vùng cao, những chuỗi ngày được coi là hạnh phúc nhất của đời họ thường quá ngắn ngủi Hẳn đó chỉ là những tháng ngày mới bước vào tuổi cập kê, biết ửng hồng đôi má khi bắt gặp một ánh mắt nhìn như thiêu như đốt trong buổi chợ, biết cất cao giọng hát đáp lời một tiếng hát nồng nàn, tình tứ từ phía đám trai bên kia Còn khi đã lấy chồng, đã
có con thì tất cả những mộng mơ đó mau chóng trở thành quá khứ, và đúng như Đỗ Bích Thúy đã viết, “bởi cuộc đời thì dài, âu lo thì lớn, khát vọng thì
xa nên cái khoảnh khắc ấy mới quý giá và ý nghĩa biết nhường nào”
[28].Hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số trong tập truyện Tiếng đàn môi
sau bờ rào đá của Đỗ Bích Thúy có ý nghĩa hết sức đặc biệt trong mảng đề
tài viết về miền núi của nhà văn Thông qua cuộc đời, số phận của họ, Đỗ Bích Thúy đã tái hiện một cách sinh động cuộc sống, con người miền núi
Trang 34Tìm hiểu hình ảnh người phụ nữ dân tộc thiểu số trong tác phẩm của Đỗ Bích Thúy ta không chỉ hiểu thêm và đồng cảm với người miền núi (đặc biệt
là người phụ nữ) với những nỗi vất vả, cực nhọc của họ trong cuộc sống mà qua đó còn thấy được những nét văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc, đặc biệt là dân tộc Mông, Tày trên cao nguyên đá Đồng Văn - Hà Giang hùng vĩ bởi người phụ nữ luôn là người gìn giữ được những nét văn hóa đặc sắc, tiêu biểu của dân tộc mình qua những phong tục, tập quán, qua lời ca, tiếng hát, bằng chính cuộc đời và số phận của họ
Tiếng đàn môi sau bờ rào đá là một tác phẩm tiêu biểu và đặc sắc nhất
trong các tác phẩm về đề tài miền núi trong mười năm trở lại đây Tác phẩm
là kết quả của sự gắn bó và tình yêu sâu nặng của nhà văn với vùng đất Hà Giang quê hương chị Vẻ đẹp của thiên nhiên, con người và văn hóa miền núi qua ngòi bút Đỗ Bích Thúy trở nên đầy sinh sắc với cao nguyên đá hùng
vĩ, với những nét sinh hoạt văn hóa độc đáo, trong đó nổi bật hình ảnh con người miền núi mạnh mẽ, chân chất, thủy chung Những con người ấy gắn
bó, chia sẽ vui buồn trong một cộng đồng làng bản ở những chốn heo hút, xa xôi Trong tập truyện, hình ảnh người phụ nữ là một điểm nhấn đặc biệt Đó
là những con người vất vả, nhiều khi là những số phận bất hạnh, nhưng giàu tình yêu thương và cố vươn lên tìm hạnh phúc Tình cảm tha thiết, nỗi buồn dịu nhẹ và không khí lãng mạn luôn bao trùm truyện ngắn Đỗ Bích Thúy Những trang viết của ngòi bút tinh tế giàu nữ tính này truyền đến cho người đọc tình yêu với một vùng đất chập chùng đá núi vùng cực bắc, ở đấy có những bộ trang phục rực rỡ sắc màu, có những lễ hội vui tươi, những con người mạnh mẽ và có một đời sống tâm hồn phong phú
Trang 35Chương 2 NHỮNG NÉT VĂN HOÁ ĐẶC SẮC TRONG TẬP TRUYỆN
NGẮN TIẾNG ĐÀN MÔI SAU BỜ RÀO ĐÁ
2.1 Một cách tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ văn hoá
2.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và văn học
Khái niệm “văn hóa” là một khái niệm rất quan trọng, có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Từ điển bách khoa Xô Viết định nghĩa: “Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo
ra và phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự nhiên” [13]
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [6] Trong Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26-7 đến 6-8-1982 tại Mêhicô “Tuyên bố về những chính sách văn hóa” đã đưa ra định nghĩa chính thức về văn hóa:
“Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng” [19] Từ những định nghĩa khác nhau về văn hóa ta có thể nhận thấy sự gắn kết đầy biện chứng giữa văn hóa và văn học Văn học là một thành tố của văn hóa, “sáng tác văn học trước hết là một hành động văn hóa Tác phẩm văn học, sự kiện văn học là một loại chứng tích văn hóa” [18] Văn học tiếp nhận các giá trị của nền văn hóa bao chứa nó và do đó được tiếp sức bởi toàn bộ các giá trị phong phú của một nền văn hóa Khi văn học thoát ly khỏi cái cội rễ của nó là văn hóa, văn học sẽ trở nên chông chênh, thiếu sức sống
Trang 36Văn học là một hình thái ý thức xã hội, nhà văn thông qua việc sáng tạo tác phẩm để gửi gắm những tư tưởng, suy ngẫm về các vấn đề trong hiện thực đời sống Trong khi đó, văn hóa tiềm ẩn rất sâu xa và dưới muôn dạng thức khác nhau của đời sống ấy và nhiệm vụ của văn học là biểu đạt được những giá trị văn hóa đó một cách tinh tế và phong phú nhất Văn học nằm trong văn hóa và chịu sự quy định, chi phối của toàn bộ nền văn hóa của một dân tộc và do đó, luôn mang tính lịch sử, tính thời đại nhất định Chính vì lẽ
đó mà khi xem xét bất cứ nền văn học nào, giai đoạn văn học nào, trào lưu văn học nào cũng cần phải xem xét trong mối liên hệ với bối cảnh văn hóa
Về vấn đề này, nhà nghiên cứu người Nga Bakhtin trong bài Một số vấn đề
cần lưu ý khi nghiên cứu văn học quá khứ đã viết: “Trước hết, khoa nghiên
cứu văn học phải gắn bó chặt chẽ với lịch sử văn hóa Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hóa, cũng như không được, như người ta vẫn làm, là trực tiếp gắn bó các nhân tố xã hội, kinh tế, vượt qua đầu văn hóa, những nhân tố xã hội kinh tế tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung và chỉ thông qua văn hóa, cùng với văn hóa, mới tác động được tới văn học” [1] Mối dây liên hệ giữa văn hóa và văn học không phải lúc nào cũng tường tận nhưng ở tận cùng gốc rễ, chúng có ràng buộc hết sức bền vững và văn học luôn mang trong mình sứ mệnh biểu đạt tinh tế nhất mọi
khía cạnh nảy sinh trong đời sống con người Trong Luận văn tạp thuyết, Vũ
Duy Thanh viết: “Có người hỏi cái kỳ diệu của văn là ở chỗ nào? Tôi trả lời: Khó nói quá Muốn hiểu cái kỳ diệu phải tìm nơi tâm ta, tìm nơi tâm ta phải chất chính nơi thánh hiền, chất chính nơi thánh hiền phải truy cứu tới cùng nơi trời đất, truy cứu tới cùng nơi trời đất phải đi sâu nơi sự vật” [11] Tuy không định danh rõ là văn hóa theo như cách gọi hiện đại, nhưng học giả
Trang 37thời trung đại Vũ Duy Thanh đã chỉ ra chính giá trị cốt lõi nhất của văn chương, đó là văn chương phải bắt nguồn từ chính chủ thể sáng tạo hay cũng chính là con người, văn chương phải bắt nguồn từ trời đất, vạn vật và chỉ khi con người am hiểu chính môi trường văn hóa đang sinh tồn thì văn chương
mới đạt đến độ diệu kỳ là vậy Hay như trong Thư gửi Ngô Huy Phan, học
giả Nguyễn Văn Siêu đã có một tuyên ngôn về văn chương còn được truyền tụng mãi tới ngày nay: (Văn chương) “Có loại đáng thờ Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người” [11] Trở lại với ý chúng tôi đã nêu ở trên khi cho rằng, văn hóa chỉ ra đời khi có sự xuất hiện của con người, chuyện văn chương trước hết và sau chót cũng chỉ là chuyện người, chuyện đời được soi chiếu, biểu đạt trong những kiểu, những loại hình văn hóa khác nhau mà thôi
Trong giai đoạn hiện nay, khi kinh tế đất nước ngày càng phát triển, nước ta đã bước vào thời kỳ hội nhập với thế giới thì vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ngày càng được đặt ra như một nhiệm vụ sống còn của toàn dân tộc Từ thực tiễn đó, văn học có vai trò hết sức quan trọng trong sứ mệnh
là nền tảng của văn hóa- được coi là động lực trực tiếp cho quá trình phát triển xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, 1993 đã khẳng định tầm quan trọng của văn hóa và văn học nghệ thuật: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”;
“Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hóa dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân – thiện – mỹ” Văn hóa cô đọng trong muôn mặt khác nhau của hiện thực cuộc sống, có những giá trị văn hóa vật thể và những giá trị văn hóa phi vật thể và mỗi loại hình nghệ thuật lại có cách biểu đạt văn hóa theo lối riêng của mình Nếu âm nhạc thể hiện những giá trị văn hóa thông qua tiết tấu, giai điệu, làn điệu; kiến trúc biểu đạt văn
Trang 38hóa qua những phong cách, bài trí, bố cục thì văn học lại có cách thể hiện văn hóa theo phương pháp riêng của mình thông qua ngôn ngữ, hình tượng, cấu trúc Chính trong những tìm tòi về khả năng biểu đạt, khai thác giá trị văn hóa thì quá trình tác động trở lại của văn học tới văn hóa diễn ra
Đầu tiên, văn học phản ánh văn hóa nhưng không phải phản ánh toàn
bộ mà là phản ánh có chọn lọc Văn học luôn tìm kiếm những giá trị nhân văn, những giá trị tốt đẹp của con người và phê phán những điều tiêu cực, trái với thuần phong mỹ tục và văn hóa chung của dân tộc Văn học đã chủ động lựa chọn các giá trị văn hóa, do đó làm giàu thêm văn hóa, bồi đắp thêm vào văn hóa những giá trị mới thông qua việc: làm rõ vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, nhấn mạnh và làm sâu đậm thêm những nét văn hóa tốt đẹp đó, làm mới thêm những nét văn hóa dân tộc dựa trên chính những nét mới mẻ của chất liệu hiện thực và sự mới mẻ trong cách nhìn, cách tiếp cận, chiêm ngưỡng hiện thực Không chỉ chọn lọc và bảo lưu, phát triển các giá trị văn hóa tốt đẹp, văn học còn góp phần sản sinh ra các giá trị văn hóa mới, các giá trị tinh thần mới, đôi khi còn vượt khỏi những hạn chế về mặt thời đại Những tác phẩm văn học đích thực có sức lay động lòng người mạnh mẽ, nâng cao vốn văn hóa cho con người, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan, hướng con người tới những giá trị tinh thần tốt đẹp hơn, cao thượng hơn Nhờ những tác phẩm của phong trào Thơ Mới mà con người đã biết tôn trọng và đề cao những cảm xúc của cái “tôi” cá nhân, điều mà trước đó vốn
bị gạt đi hoặc xem nhẹ: Nhờ có những tác phẩm văn học nước ngoài ở những trào lưu văn học khác nhau được dịch và giới thiệu ở Việt Nam, chúng ta có được một cánh cửa nhìn ra thế giới với rất nhiều góc độ văn hóa khác nhau như vấn đề lý tưởng, quan niệm, lối sống, v v.Từ đó, bao thế hệ người Việt
đã dần tích lũy được những điều vốn trước đây còn xa lạ nay trở nên hiện hữu trong cuộc sống, trong tư duy như sự thay đổi trong quan niệm về vị thế
Trang 39và vai trò của người phụ nữ, sự tự do trong tình yêu, hôn nhân.v.v Như với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã góp vào kho tàng văn học dân tộc với rất nhiều hình tượng để đời Hay như trong tác phẩm của Nam Cao, hình ảnh nhân vật Chí Phèo – Thị Nở đã trở thành trầm tích văn hóa Việt trong việc nhìn nhận giá trị con người Như vậy, rất nhiều hình tượng văn học đã đi vào cuộc sống
và trở thành giá trị văn hóa thân thuộc với nhân dân; đó hẳn nhiên là thành công của người nghệ sỹ nhưng mặt khác, nó cũng biểu hiện quan hệ tác động độc lập của văn học tới văn hóa
2.1.2 Nghiên cứu tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá của
Đỗ Bích Thuý từ góc độ văn hoá
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, theo quan sát và tìm hiểu của chúng tôi, có thể nhận thấy dường như qua mỗi thời kỳ lịch sử đều
có những nhà văn đi vào khai thác những nét đẹp, những giá trị bền vững của văn hóa thông qua các tác phẩm văn học Có thể kể đến như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Tô Hoài, Sơn Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v
Với Thạch Lam, trong số không nhiều những tác phẩm để lại của ông,
có thể tìm thấy xu hướng tìm tòi, ngợi ca những giá trị văn hóa tốt đẹp của
dân tộc thể hiện rất rõ trong tập Hà Nội băm sáu phố phường (Nxb Văn
nghệ, TP.HCM, Sài Gòn, 2000) Đọc tác phẩm của ông có thể thấy, trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày cũng như trong văn chương, Thạch Lam luôn thể hiện tình yêu, sự trân trọng với các giá trị văn hóa dân tộc, với các nét phong tục tập quán trong đời sống người Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng Cùng với Thạch Lam, Nguyễn Tuân cũng là một trong những nhà văn thiết tha với các giá trị văn hóa dân tộc Những trang viết của ông,
dù là viết về những ngày tháng đã qua của dân tộc trong Vang bóng một thời
hay khi viết về những đổi thay của cuộc sống trong giai đoạn miền Bắc đi lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội trong Tờ hoa, Sông Đà ta luôn cảm nhận được
Trang 40hình ảnh một người luôn khao khát tìm tòi những giá trị văn hóa ẩn tàng và tìm cách lưu giữ qua thời gian bằng một vốn từ ngữ hết sức phong phú Văn Nguyễn Tuân luôn ám ảnh người đọc bởi chất văn hóa rất đỗi đậm đà, sâu xa tới mức người đọc luôn muốn dừng ở mỗi câu, mỗi chữ mà ngẫm, mà nghĩ
để rồi chợt òa lên một niềm thích thú, bất ngờ Nguyễn Tuân luôn luôn khao khát đổi mới, làm giàu ngôn ngữ tiếng Việt và qua đó lưu giữ, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Bên cạnh Thạch Lam, Nguyễn Tuân có thể kể đến Tô Hoài, một nhà văn đã gặt hái được khá nhiều thành tựu với các tác phẩm viết về đề tài miền núi và nông thôn ven đô Trong đó với mảng đề tài miền núi có thể kể đến
Truyện Tây Bắc Với bộ ba tác phẩm Cứu đất cứu mường, Mường Giơn, Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã đưa người đọc đến một vùng đất mới, ở đó có
những phong tục, tục lệ đậm chất vùng miền, mang đậm màu sắc riêng của
miền núi Tác giả Vân Thanh trong bài Sáng tác của Tô Hoài đã nhận xét,
“Thành công của Truyện Tây Bắc còn là ở sự miêu tả những khung cảnh mang đậm màu sắc riêng của miền núi Tô Hoài am hiểu sâu và kể lại khá thành công những chuyện sinh hoạt như tục lệ đi ở cuông, đi ở rể, chơi hang, tắm suối nước nóng, cưới vợ hoặc những cảnh sinh hoạt vui chơi như chơi xuân, đánh pao, thổi sáo, thổi khèn Tất cả những khung cảnh sinh hoạt đó có tác dụng làm nền cho tính cách nhân vật và đem lại cảm giác chân thật, tin cậy” [15] Những dẫn giải trên của chúng tôi muốn nhằm tới một mục tiêu
mà luận văn nhắm tới: đó là tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ văn hóa như một sự khám phá theo cả chiều rộng và chiều sâu của các giá trị văn học Với tác phẩm của Đỗ Bích Thúy về miền núi, điều này càng trở nên cần thiết
và gợi mở nhiều điều Bởi những giá trị văn hóa các dân tộc miền núi từng được khơi mở, khai thác qua những nhà văn lớp trước, cho đến Đỗ Bích Thúy, đang hiện ra với nhiều điều mới mẻ, khác lạ thông qua một cái nhìn