1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng tri thức đọc hiểu để nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm thuốc của nhà văn lỗ tấn

100 1,2K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 775,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS, bồi dưỡng thêm một bước năng lực Ngữ văn cho học sinh, bao gồm năng lực đọc hiểu các văn b

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THUỲ DƯƠNG

VẬN DỤNG TRI THỨC ĐỌC HIỂU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TÁC PHẨM “THUỐC”

CỦA NHÀ VĂN LỖ TẤN

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THUỲ DƯƠNG

VẬN DỤNG TRI THỨC ĐỌC HIỂU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TÁC PHẨM “THUỐC”

CỦA NHÀ VĂN LỖ TẤN

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt

MÃ SỐ: 60.14.10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN THANH HÙNG

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng cảm ơn Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên cùng các thầy, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và góp ý cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với GS.TS Nguyễn Thanh Hùng người đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn, giúp

đỡ tác giả nghiên cứu hoàn thành luận văn

Xin được chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp quan tâm đến luận văn này

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thuỳ Dương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi là có thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn là đều đã đƣợc ghi

rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thuỳ Dương

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Mục lục i

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: ĐỌC HIỂU VÀ TRI THỨC ĐỌC HIỂU 12

1.1 Khái quát về đọc hiểu 12

1.2 Tri thức đọc hiểu 17

1.2.1 Tầm quan trọng của tri thức đọc hiểu 17

1.2.2 Nội dung tri thức đọc hiểu 19

1.3 Vận dụng tri thức đọc hiểu trong giờ đọc hiểu văn bản văn học nước ngoài 29

1.3.1 Thực trạng giờ đọc hiểu Ngữ văn với các văn bản văn học nước ngoài 33

1.3.2 Thực trạng giờ đọc hiểu tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn 34

CHƯƠNG 2 : VẬN DỤNG TRI THỨC ĐỌC HIỂU TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM THUỐC CỦA LỖ TẤN 36

2.1 Những tri thức đọc hiểu khi dạy học Thuốc 36

2.1.1 Tri thức văn học 36

2.1.2 Tri thức văn hoá 42

2.1.3.Tri thức đọc hiểu thuộc lĩnh vực liên ngành 45

2.2 Những nội dung đọc-hiểu học sinh cần nắm vững khi dạy học Thuốc 46

2.2.1 Nhan đề tác phẩm 46

2.2.2 Chủ đề 47

2.2.3 Các nhân vật xuất hiện trong truyện 48

2.2.4 Thời gian, không gian của truyện 50

2.3 Đề xuất các biện pháp vận dụng tri thức đọc hiểu để nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm "Thuốc" của Lỗ Tấn 54

Trang 7

2.3.1 Khái niệm "hiệu quả" trong dạy học TPVC 54

2.3.2 Đề xuất các biện pháp dạy học cụ thể 56

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 62

3.1 Mục đích thực nghiệm 62

3.2 Địa bàn thực nghiệm 62

3.3 Tiến trình thực nghiệm 62

3.3.1 Thiết kế giáo án giờ đọc hiểu tác phẩm Thuốc 62

3.4 Tổ chức dạy thực nghiệm 77

3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm và thời gian thực nghiệm 77

3.4.2 Tổ chức dạy học thực nghiệm và dạy học đối chứng 77

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 78

PHẦN KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

1.1.Những năm gần đây môn Ngữ văn luôn dành được sự quan tâm chú

ý của toàn xã hội Trong đó việc đổi mới phương pháp luôn luôn là sự thôi thúc, đòi hỏi của ngành giáo dục nói chung và môn Ngữ văn nói riêng Các nhà khoa học, các nhà giáo dục đã vận dụng những thành tựu của khoa học liên ngành để cải tiến, từng bước nâng cao hiệu quả dạy học Sự ra đời của lý thuyết đọc hiểu trên thế giới và sự xâm nhập lý thuyết đó vào Việt Nam những năm gần đây đã ảnh hưởng nhiều đến phương pháp nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn chương trong nước GS-TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng:

“Đọc hiểu là một địa hạt mới, gợi ra nhiều vấn đề khoa học để phương pháp dạy học văn phát triển thêm về mặt lý luận và vận dụng thực tế Đọc hiểu cần tách ra khỏi vòng kiểm soát chật hẹp của phương pháp để trở thành nội dung tri thức chung gắn liền với lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học, lý luận dạy học ngữ văn” Qua nghiên cứu thực tiễn, và lí luận chúng ta nhận thấy rằng vấn đề đọc hiểu tuy mới xuất hiện ở Việt Nam gần 10 năm nay nhưng nó được xem là một trong những vấn đề thời sự khoa học cơ bản trong chương trình cải cách giáo dục ở bậc phổ thông trung học Nó gợi ra nhiều vấn đề đáng suy nghĩ đối với các nhà giáo dục nhất là trên bước đường đổi mới phương pháp dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng hiện nay

1.2 Văn học ra đời từ xa xưa và luôn gắn với đời sống tinh thần của con

người Sáng tác văn học không chỉ để "nói chí, tải đạo '' mà văn học bắt rễ từ đời sống vì vậy khi tiếp nhận văn học bạn đọc không chỉ căn cứ vào những mặt biểu hiện về hình thức bên ngoài của văn học mà phải huy động vốn hiểu biết của mình để cắt nghĩa những tầng lớp xâu xa bên trong ngôn từ văn học

Từ khi xuất hiện người thầy trong hoạt động dạy học người thầy luôn giữ vai

Trang 9

trò quan trọng trong việc định hướng thẩm mĩ cho học trò Vì vậy khi đưa học trò đến với thế giới nghệ thuật của nhà văn, người thầy giáo luôn có sự hiểu biết thấu đáo tác phẩm văn chương Ngoài ra người giáo viên phải hiểu biết rộng rãi về các tri thức trong tác phẩm như tri thức lịch sử, văn hoá, triết học, đạo đức mĩ học v.v

Trong nhà trường Ngữ văn luôn luôn đóng vai trò là một trong những

bộ môn chính yếu trong trường THPT Hơn thế nữa, với đặc thù riêng về sự chính xác tương đối, sự phụ thuộc vào cảm xúc của người dạy và người

học mà vấn đề dạy và học Ngữ văn luôn được quan tâm đặc biệt “Mục tiêu chung của môn Ngữ văn ở THPT là trên cơ sở đã đạt được của chương trình Ngữ văn THCS, bồi dưỡng thêm một bước năng lực Ngữ văn cho học sinh, bao gồm năng lực đọc hiểu các văn bản thông dụng (văn, thơ, truyện), năng lực viết một số văn bản thông dụng…đồng thời cung cấp một

hệ thống tri thức về văn học dân tộc và văn học thế giới” Học sinh luôn

tiếp xúc trước hết với văn bản và chính vì thế mà định hướng phương pháp đọc hiểu là vô cùng cần thiết

1.3 Hoạt động đọc của học sinh hiện nay đã trở thành trọng tâm khi

tiếp cận tác phẩm văn chương Trong cuốn Phương pháp dạy văn học ở

trường phổ thông, A Nhikônxki cho rằng “học sinh là độc giả của tác

phẩm văn học” Mỗi nền văn học, mỗi thể loại, giai đoạn văn học khác nhau

lại cần có những đặc trưng về kĩ năng đọc hiểu riêng Phần Văn học nước ngoài trong sách giáo khoa cũng là một phần quan trọng nhưng vốn không được giáo viên chú ý nhiều trong giảng dạy Dạy bản dịch như nguyên tác, không tính đến sự hỗ trợ của các yếu tố khác, đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự hiểu sai lệch nghiêm trọng Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng đã viết “Dạy đọc hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc” Điều này đặc biệt đúng khi áp dụng vào giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài Khi xét nội dung của

Trang 10

tác phẩm cần tìm hiểu một cách tương đối kĩ về những kinh nghiệm văn hóa lịch sử, phát hiện được những mối tương đồng tạo điều kiện cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm Từ trước đến nay trong nhà trường việc dạy Văn học nước ngoài áp dụng qui trình và phương pháp như dạy văn học Việt Nam, trong khi đó về phương diện lí luận chúng ta coi tính dân tộc như một thuộc tính Việc dạy đọc hiểu để khám phá, để hiểu đúng văn bản chính là một yêu cầu quan trọng trong quá trình giảng dạy phần văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ văn phổ thông

1.4 Lỗ Tấn là một nhà văn, một nhà văn hoá lớn của Trung Quốc và thế giới Sáng tác của ông ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của văn học Trung Quốc hiện đại, ông được coi là "ngọn cờ của văn học mới Trung Quốc" Ở Việt Nam, nhà văn Lỗ Tấn cũng được nhiều người biết đến với các tác phẩm nổi tiếng như Nhật ký người điên, A.Q chính truyện Trong trường phổ thông các sáng tác của Lỗ Tấn cũng được giới thiệu đến học sinh ở cả bậc học Trung học cơ sở với tác phẩm Cố hương (Chương trình lớp 9) và ở chương trình Trung học phổ thông với tác phẩm Thuốc (Chương trình lớp 12) Tuy nhiên khi đưa học sinh tiếp cận với văn bản Thuốc, nhiều giáo viên lại dạy như với văn bản văn học Việt Nam mà chưa chú ý đến sự khác biệt giữa hai nền văn hoá, chưa chú ý đến bối cảnh lịch sử của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ dẫn đến việc cung cấp kiến thức cho học sinh chưa đầy đủ Học sinh còn

có hạn chế nhất định do các em không hiểu gì về lịch sử, văn học, thời đại, tác giả, tác phẩm Ngoài ra, do các rào cản về ngôn ngữ và văn hoá hoạt động đọc của học sinh chưa đi sâu vào các tầng nghĩa sâu xa của tác phẩm, từ đó dẫn tới việc dạy học tác phẩm chưa thực sự tạo nên hứng thú với học sinh Vì thế việc xây dựng được qui trình và phương pháp đọc hiểu hợp lí chính là chìa khóa để hiểu đúng và sâu những vấn đề cốt lõi của tác phẩm

Trang 11

Từ những lí do như trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ''Vận

dụng tri thức đọc hiểu để nâng cao hiệu quả dạy học tác phẩm Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn''

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về tri thức đọc hiểu

Đây là một đề tài mới vì vậy trong quá trình xây dựng đề cương tôi đã vận dụng từ lý thuyết đọc hiểu đã được các nhà nghiên cứu giới thiệu trên một số công trình :

Trong cuốn "Kĩ năng đọc-hiểu Văn " của GS-TS Nguyễn Thanh Hùng

có dành một phần viết về tri thức đọc hiểu trong đó GS đã đưa ra đánh giá về tầm quan trọng của tri thức đọc hiểu như là một "điều kiện tiên quyết của đọc hiểu tác phẩm văn chương" và đề cao việc cung cấp tri thức đọc hiểu đầy đủ cũng là cách khẳng định hoạt động đọc hiểu cũng là một khoa học

Bên cạnh đó phần cung cấp tri thức đọc hiểu cho HS trong bộ SGK Ngữ văn nâng cao cũng là một phần quan trọng trong việc hướng dẫn HS đọc hiểu TPVC, và đây cũng là một "kênh" thông tin thiết thực cho người GV chuẩn bị bài soạn truớc khi lên lớp đồng thời giúp HS tìm hiểu những tri thức trong bài đọc hiểu để nâng cao được hiệu quả tiếp thu bài học Từ những tri thức đọc hiểu mà SGK định hướng người GV sẽ xác định được trọng tâm bài học

và những tri thức mà GV cung cấp trong quá trình đọc hiểu sẽ giúp HS tự mình chiếm lĩnh được tác phẩm văn chương

Trong cuốn "Hướng dẫn thực hiện chương trình Ngữ văn lớp 12" do giáo sư Phan Trọng Luận và giáo sư Trần Đình Sử chủ biên, NXBGD, 2006 phần hướng dẫn của bộ nâng cao cũng giải thích về các đề mục trong bộ SGK cũng có viết về "Tri thức đọc hiểu" là để cung cấp các tri thức về thể loại,

Trang 12

phương thức biểu đạt, biện pháp tu từ thiết yếu hoặc một vài tư liệu cần thiết cho việc đọc hiểu

Từ những căn cứ trên tôi nhận thấy tri thức đọc hiểu giữ một vai trò rất quan trọng trong đọc hiểu TPVC đó là điểm tựa để mở ra cánh cửa tri thức của HS đến với thế giới kì diệu của văn chương

2.2 Về tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Văn học nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ văn phổ thông Việc đưa HS tiếp xúc với tác phẩm để cảm thụ và dạy học đã được đề cập đến trong nhiều công trình khoa học của các nhà nghiên cứu văn

học nước ngoài có uy tín Cuốn Giảng dạy và cảm thụ văn học nước ngoài

học thật sự là mảng khó đối với giáo viên vì mảng văn học ít nhiều xa lạ này

dễ gây hứng thú với HS, hơn nữa lại toàn là đỉnh cao nổi tiếng cổ, kim, đông, tây đã được thời gian sàng lọc " GS cũng chỉ rõ hạn chế của VHNN ở truờng Phổ thông là: "Ở trường Đại học và Cao đẳng, công việc giảng dạy được chuyên môn hoá cao độ, mỗi người chỉ phụ trách một nền văn học, thậm chí một khúc của chương trình, nên có điều kiện đi sâu, nắm bắt văn chương không tách rời với chất liệu ngôn ngữ và bối cảnh xã hội, lịch sử, văn hoá của mỗi nước hoặc của từng khu vực có tính đặc thù trên thế giới Trong khi đó ở các trường Trung học, anh chị em giáo viên Văn học đảm đương cả Văn học

nghe giảng và nghiên cứu ở Đại học hoặc Cao đẳng, nhưng trong tình hình ấy, tránh sao khỏi lúng túng khi phải giảng cho học sinh những điều mà do điều kiện thời gian, mình nhận thức chưa thật cặn kẽ đến nơi đến chốn"

Qua tiếp xúc với một số bộ SGK môn Ngữ văn những năm gần đây tôi nhận thấy Lỗ Tấn luôn giữ một vị trí không thể thay thế trong các biên soạn SGK Các tác phẩm nổi tiếng của Lỗ Tấn lần luợt được đưa vào chương trình

Trang 13

phổ thông Trung học cơ sở là tác phẩm Cố hương, cho đến bậc THPT là tác phẩm A.Q Chính truyện và Thuốc Nhà văn Lỗ tấn là một nhà văn lớn của

Trung Quốc và thế giới nên có nhiều nhà nghiên cứu và phê bình người Trung Quốc và Việt Nam viết những công trình nghiên cứu sâu sắc về Lỗ Tấn Điểm thuận lợi cho tôi khi nghiên cứu đề tài đã có nhiều tư liệu tham khảo của các nhà phê bình có uy tín trên thế giới và Việt Nam viết về Lỗ Tấn và các tác

phẩm tiêu biểu của ông trong đó có tác phẩm Thuốc

SGK, SGV Ngữ văn 12, tập 2 (bộ chuẩn) do GS Phan Trọng Luận tổng chủ biên, NXB GD, 2008 và SGK, SGV Ngữ văn 12, tập 2 (bộ nâng cao) do

GS Trần Đình Sử tổng chủ biên, NXB GD, 2008 đã cung cấp những tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Lỗ Tấn, hệ thống các câu hỏi để giúp HS

và GV có định hướng khai thác tác phẩm

Cuốn Mấy vấn đề thi pháp Lỗ Tấn và việc giảng dạy Lỗ Tấn trong

trường phổ thông của GS Lương Duy Thứ, NXB Đại học sư phạm 2005 đã cung cấp những vấn đề chính về thi pháp Lỗ Tấn, đây là những tri thức lí luận quan trọng về sáng tác của Lỗ Tấn như phong cách, tư tưởng các hình tượng nghệ thuật trong sáng tác của ông Mặt khác tác giả cũng có những bài viết

Cuốn Đến với Lỗ Tấn do Lê Giảng và Ngô Viết Dinh biên soạn và biên

tập, NXB Thanh niên, 2005 với độ dày gần 700 trang đã cung cấp cho bạn đọc rất nhiếu tư liệu quý giá về cuộc đời, sự nghiệp cũng như những sáng tác tiêu biểu trên nhiều thể loại của Lỗ Tấn như tạp văn, thơ, truyện ngắn Riêng truyện ngắn Thuốc có 7 bài phê bình trong đó nổi bật lên là bài phê bình của hai nhà phê bình người Trung Quốc là Hữu Khâm Văn và Tôn Phục Viên, bài

tiểu luận của Nguyễn Tuân về Thuốc cũng là một tư liệu có giá trị cao Người

đọc sẽ được cung cấp cái nhìn đa chiều về tác phẩm trên các mặt ngôn ngữ, văn hoá, các giá trị đặc sắc của truyện

Trang 14

Cuốn Văn học Trung Quốc với nhà trường, PGS-TS Hồ sĩ Hiệp, NXB

Đại học quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 Đây là một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về Văn học Trung Quốc vì vậy cuốn sách lại cung cầp cái nhìn có chiều rộng về các tác giả, tác phẩm của Văn học Trung Quốc được giới thiệu trong trường phổ thông từ các tác phẩm văn học dân gian cho đến các tác phẩm thơ Đường, Tiểu thuyết Minh Thanh, các tác phẩm của Lỗ Tấn Riêng tác phẩm Thuốc cũng có bài "Giảng văn truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn"

Để chuẩn bị bài thiết kế thử nghiệm tôi cũng tham khảo thiết kế của một

số tác giả có uy tín như Thiết kế dạy học Ngữ văn 12(Nâng cao) của tác giả Hoàng Hữu Bội, NXB GD, 2008 và Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12 do

Nguyễn Văn Đường chủ biên, NXB Hà Nội, 2008

Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên chúng tôi đã có những căn cứ khoa học để tiến hành thực hiện luận văn này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh trong giờ đọc hiểu bài ''Thuốc" của Lỗ Tấn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn vận dụng lí thuyết về tri thức đọc hiểu vào dạy học tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Tình hình tổ chức dạy và học văn bản Thuốc của Lỗ Tấn (SKK Ngữ văn

12) ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Yên Bái

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là:

- Tìm ra con đường tiếp cận các văn bản văn học nước ngoài nói chung

và văn bản Thuốc nói riêng

Trang 15

- Đề xuất những phương pháp, biện pháp tiến hành giờ học bài Thuốc

nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở THPT hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ chính sau :

Tìm hiểu những nội dung, đặc điểm của tri thức đọc hiểu và cách vận dụng tri thức đọc hiểu vào giờ dạy học các văn bản văn học nước ngoài

Khảo sát thực tế dạy và học bài Thuốc ở trường THPT

Đề xuất cách tiếp cận văn bản Thuốc và hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác

phẩm theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Tổ chức thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Dùng phương pháp tổng hợp những vấn đề lí luận để làm cơ sở lí thuyết cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 16

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Thiết kế giáo án và tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả của những phương pháp, biện pháp dạy học do tác giả luận văn đề xuất

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Đọc hiểu và tri thức đọc hiểu

Chương 2: Vận dụng tri thức đọc hiểu trong dạy học tác phẩm Thuốc Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: ĐỌC HIỂU VÀ TRI THỨC ĐỌC HIỂU

1.1 Khái quát về đọc hiểu

Theo SGK nâng cao 12 đọc hiểu một văn bản văn học là quá trình đọc hiểu từ ngữ, hiểu ý thơ, câu văn, nắm bắt được các từ ngữ then chốt có giá trị biểu cảm và biểu hiện tư tưởng, nắm bắt được hình tượng và ý nghĩa của

nó trong văn bản, từ đó khái quát được tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm

và đánh giá được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm ấy Đọc hiểu văn bản văn học là một quá trình từ cảm đến hiểu, từ hiểu bề ngoài đến hiểu ý tứ sâu xa của tác phẩm Như vậy đọc-hiểu là quá trình tổng hợp, người đọc không chỉ đơn thuần thực hiện cuộc giao tiếp với văn bản mà còn giao tiếp với nhà văn, với chính mình và với người nghe Đây là chìa khóa giúp mỗi người mở cánh cửa của tri thức nhân loại Quá trình học văn trong nhà trường là quá trình đọc hiểu từng bài, tập phát hiện các từ ngữ, chi tiết và khái quát về tác phẩm, cuối cùng biết phân tích, bình luận, đối thoại với các tác phẩm ấy hoặc các tác phẩm cùng loại Từ đó hình thành kĩ năng, kinh nghiệm đọc hiểu văn bản văn học Trong quá trình tiến hành giờ đọc hiểu người giáo viên cần chú ý hơn đến vai trò của người học bạn đọc nhưng cũng là người đồng sáng tạo với nhà văn Quá trình lớn lên sau mỗi giờ học giúp họ hình thành nhân cách của mình

Đọc hiểu là một địa hạt mới nó gợi rất nhiều suy nghĩ, tìm tòi từ phía người giáo viên Theo suy nghĩ thông thường thì đọc hiểu là đọc và hiểu tác phẩm văn chương nhưng thực tế cho thấy đây là một lý luận mới cần được quan tâm và đưa ra bàn luận nhiều hơn vì nó liên quan mật thiết đến sự tồn tại

và phát triển của môn Ngữ văn trong nhà trường Vì vậy GV cần hình thành

Trang 18

kĩ năng đọc hiểu cho HS Theo GS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn "Kĩ năng đọc hiểu văn" thì có 4 kĩ năng đọc hiểu văn như sau :

1.1.1 Kĩ năng đọc chính xác

Đọc chính xác là hành động đọc quan trọng của lao động trí tuệ Trong đọc văn nó là kĩ năng đọc hiểu cơ bản đầu tiên, yêu cầu về trí tuệ thuộc về nhận thức cái đúng, cái sai Kĩ năng đọc ấy không phụ thuộc vào thiện cảm riêng và cũng không phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của người đọc Kĩ năng đọc chính xác khi được duy trì và đảm bảo sẽ đem lại giá trị chân lí nghệ thuật của tác phẩm Rèn luyện kĩ năng đọc chính xác văn bản nghệ thuật ngôn

từ sẽ khích lệ niềm tin bản thân HS và sự tin tưởng vào giá trị chân thiện mĩ của tác phẩm

+ Yêu cầu đối với kĩ năng đọc chính xác

Trước hết HS phải nắm vững những gì cần hiểu về ngôn từ trong mối quan hệ văn cảnh, trong sự lựa chọn và kết hợp, trong việc nhóm hợp chúng thành hệ thống và phân bố theo một trật tự nào đó trong tác phẩm

Kĩ năng đọc chính xác đòi hỏi người đọc phải tinh mắt không được bỏ sót một từ nào, thậm chí từng dấu câu hay dấu phân cách dòng, đoạn, khổ của văn bản Qua đó người đọc nắm được ý nghĩa của từ khoá, ý nghĩa của câu, của đoạn và tìm thấy mạch ý nghĩa của văn bản tác phẩm

Để củng cố kĩ năng đọc chính xác, nên lưu ý giúp đỡ HS tự trả lời câu hỏi tại sao nhà văn lại dùng loại từ ấy, lại vận dụng kiểu câu dài ngắn khác nhau với cách ngắt nhịp ấy cốt để nhằm mục đích gì Làm rõ được điều này người đọc đã tiến thêm một bước để hiểu phần chìm, phần hàm ngôn của tác phẩm, tức là hiểu được chủ ý của nhà văn

Để thực hiện tốt kĩ năng đọc chính xác trong đọc hiểu TPVC, người đọc

Trang 19

phối hợp chúng với nhau để cảm nhận được "ý tại ngôn ngoại" Cũng nên vận dụng hành động đọc lướt qua để nắm nhanh ý tưởng chủ đạo của tác phẩm bằng khả năng tổng giác Bên cạnh đó còn giúp cho HS biết đọc nhanh để thâu tóm nội dung bề mặt hình thức thể loại một cách tập trung để tránh phương thức mô tả đời sống

1.1.2 Kĩ năng đọc phân tích

Trong đọc hiểu TPVC kĩ năng đọc phân tích có một vị trí quan trọng và

ý nghĩa to lớn quyết định hiệu quả của đọc hiểu GS.TS Trần Đình Sử nói đại

ý rằng thực chất của đọc hiểu tác phẩm nghệ thuật là phân tích văn bản nghệ thuật ấy Những cái mà con mắt chỉ nhìn một lần thì thâu tóm được thì nhà thơ phải mô tả chúng dần qua từng phần một và nhiều khi đến lúc cảm nhận phần cuối cùng, ta hoàn toàn quên mất phần đầu tiên Đó là nét đặc trưng và khó khăn phức tạp khi hình thành khái niệm nghĩa mà ta thường gọi là "ngữ lôgic" "Ngữ" là vì trong đó có thông tin được truyền đạt bằng lời, còn "lôgic"

là vì mỗi từ riêng biệt tự nó chỉ có thể miêu tả từng dấu hiệu, từng tính chất của sự vật Để có ý nghĩa toàn vẹn, những từ và dấu hiệu đó cần được liên kết bởi những phép logic nhất định TPVC là một ví dụ tiêu biểu của phương pháp ngữ-logic trong việc tạo thành ý nghĩa

Muốn rèn kĩ năng đọc phân tích trong đọc hiểu TPVC, người đọc phải quan tâm đến những nét mới lạ của từng cơ cấu liên tưởng qua hình ảnh cụ thể và qua cơ cấu đối xạ qua tượng trưng, biểu tượng cụ thể để truyền đạt ý tưởng Trong một câu văn, câu thơ mọi mối quan hệ nội tại trong các cặp từ đều đã được ghi nhận trong kinh nghiệm ngôn ngữ của người đọc từ trước Ví

dụ một câu thơ trong bài "Cảm tưởng đọc Thiên gia thi" của Hồ Chi Minh

"Thơ xưa chuộng cảnh thiên nhiên đẹp" là người đọc bằng kinh nghiệm ngôn ngữ của mình sẽ hiểu là Bác đang viết về cách làm thơ của người xưa thích

Trang 20

đưa những cảnh thiên nhiên đẹp vào trong thơ như một cách để bày tỏ tình yêu thiên nhiên của mình

Khi thực hành kĩ năng đọc phân tích, bạn đọc HS không nên vội vã tin ngay vào những người đọc giỏi hơn mình như thầy cô giáo, nhà phê bình, nghiên cứu văn học vì không phải lúc nào họ cũng đưa ra được nhận dịnh đúng đắn Vì vậy bạn đọc HS cần tỉnh táo dùng tri thức và kinh nghiệm của mình để phân tích, cắt nghĩa tác phẩm văn chương, và người GV cũng giúp

đỡ HS để định hướng thẩm mĩ, làm cho HS có hứng thú với tác phẩm và tự các em sẽ trưởng thành hơn về nhân cách và chủ động hơn khi đọc hiểu TPVC Rèn luyện kĩ năng đọc phân tích trong đọc hiểu TPVC cần sử dụng

trình bày để có cách riêng đi vào tác phẩm Hoàn thành kĩ năng đọc phân tích, người đọc sẽ hiểu cặn kẽ và thấu đáo giá trị đích thực về nội dung tư tưởng nhân sinh và hình thức sáng tạo độc đáo của tác phẩm Nói cách khác, người đọc đã thu nhận được những vẻ đẹp khác nhau về đời sống và văn chương để hoàn thiện nhân cách

1.1.3 Kĩ năng đọc sáng tạo

Đọc sáng tạo là hành động đọc đặc trưng của đọc hiểu tác phẩm văn chương Đọc sáng tạo là sự nhận thức những mối quan hệ, những trật tự của thế giới tinh thần được tổ chức thành những hình ảnh của cấu trúc mới trong tác phẩm Người GV nếu chỉ chú ý mở rộng vốn từ cơ bản và đọc đúng thể loại văn học cho HS trong đọc văn thì cũng chưa được xem

là dạy học thật sự, việc dạy học được thực hiện bởi sự dẫn dắt HS biết đọc một văn bản nghệ thuật từ nội dung bên trong để nhận ra và nắm vững mạch ý tưởng được thể hiện từ nội dung này đến nội dung khác để hoàn thiện ý nghĩa riêng của tác phẩm

Trang 21

Từ đó có thể khẳng định, cần phải thoả mãn hai yêu cầu tối thiểu với kĩ năng đọc sáng tạo: Một là, người đọc phải nắm vững sự tổ chức toàn cảnh hoặc là thế giới nghệ thuật của tác phẩm Hai là, trên cơ sở của kinh nghiệm

và xúc cảm riêng tư, người đọc trình bày sự phát hiện lại hoặc là sự khám phá mới của mình về tác phẩm Cần lưu ý đọc sáng tạo trong nhà truờng có những mức độ nhất định Đọc sáng tạo bao gồm đọc chính xác theo mẫu, cải biến cảm xúc trong đọc diễn cảm và cao hơn là được trải nghiệm để bổ sung tình ý vào tác phẩm

1.1.4 Kĩ năng đọc tích luỹ

Kĩ năng đọc tích luỹ là kĩ năng đọc nhấn mạnh tính chất, mức độ cao hay thấp phức tạp hay đơn giản, khó hay dễ về việc vận dụng đọc hiểu có hiệu quả Kĩ năng đọc tích luỹ là cách phân biệt đặc điểm và yêu cầu của các kĩ năng đọc trước đó Kĩ năng đọc trước là điều kiện cho kĩ năng đọc sau Hoàn thiện kĩ năng đọc đọc tích luỹ trong đọc hiểu sẽ làm cho việc thu nhận thông tin, độ sâu rộng về sự hiểu biết và niềm tin hứng thú trong quá trình đọc hiểu TPVC tăng lên rõ rệt

Tích luỹ là tích luỹ cái gì Đó là tích luỹ thông tin thẩm mĩ, tích luỹ kinh nhiệm nghệ thuật, tích luỹ ý nghĩa và thủ pháp tạo sinh ý nghĩa Kĩ năng đọc tích luỹ có thể vận dụng hành động đọc sâu, đọc thâm cứu, đọc so sánh đối chiếu, đọc chậm HS cần phải làm quen với hành động đọc bên trong và hành động đọc bên ngoài tác phẩm như đọc hồi kí và chép của nhà văn về quá trình sáng tạo tác phẩm Tham khảo những bài phê bình tác phẩm Cần đọc đi đọc lại nhiều lần để hoá giải những băn khoăn, ngộ nhận về một số điểm sáng thẩm mĩ hoặc những vấn đề còn treo lại trước kia chưa có lời đáp phù hợpvới văn cảnh, với tác phẩm, với bối cảnh "thời đại thi ca" và hiện thực đời sống

Trang 22

1.2 Tri thức đọc hiểu

1.2.1 Tầm quan trọng của tri thức đọc hiểu

Đọc sách báo là nhu cầu tự nhiên của con người: đọc để giải trí, để hiểu biết và sống tốt hơn Ai biết chữ và thích đọc đều có thể đọc Văn bản văn học là văn bản nghệ thuật, việc hiểu biết và thưởng thức thường không dễ Các Mác từng nói “Với đôi tai không biết âm nhạc thì bản nhạc hay nhất cũng không có ý nghĩa gì” Cũng như đối với các tác phẩm văn chương mà học sinh phổ thông được tiếp nhận trong quá trình học môn Ngữ văn nếu không

có nền tảng tri thức nhất định sẽ không hiểu thấu đáo được tác phẩm văn chương bất kỳ Đọc hiểu là một quá trình nắm vững ý nghĩa tác phẩm văn chương vì vậy cần có tri thức

Theo GS-TS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn "Kĩ năng đọc hiểu văn"

thì Tri thức đọc hiểu là: Những gì là thành quả được con người sáng tạo ra

để khẳng định bản chất người đều trở thành chỗ dựa để tìm hiểu văn học mà người ta gọi là tri thức đọc hiểu Như vậy khái niệm về tri thức đọc hiểu được hiểu theo nghĩa rất rộng bởi những gì là thành quả do con người tạo ra là toàn

bộ thế giới vật chất và thế giới tinh thần của con người mà thế giới đó lại bao

la sâu thẳm mà con người chưa lĩnh hội hết được, và chừng nào thế giới đó còn được con người khao khát khám phá thì những tri thức đọc hiểu càng được mở rộng

Trong luận văn chúng tôi chỉ đề cập đến phần tri thức đọc hiểu trong lĩnh vực văn chương

Trong SGK bộ nâng cao phần tri thức đọc hiểu không phải là bài viết để giảng, mà là để cung cấp thông tin cho học sinh tự học Giáo viên cần sử dụng các tri thức ấy và hướng dẫn học sinh khai thác thông tin ở đó để thực hiện bài đọc hiểu

Trang 23

* Như vậy tầm quan trọng của tri thức đọc hiểu là :

Tri thức đọc hiểu cung cấp những tri thức cơ bản nhất về đặc trưng thể loại mà chúng ta giảng dạy Khi tiến hành giờ lên lớp GV và HS cần lựa chọn

kĩ năng đọc-hiểu phù hợp, xác định thể loại của tác phẩm để có cách tiếp cận phù hợp với TPVC Việc cung cấp tri thức đọc hiểu cho học sinh trong khâu chuẩn bị bài là rất cần thiết Từ việc xác định những tri thức ngoài tác phẩm như cuộc đời tác giả, phong cách sáng tác, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm cho đến những tri thức cần cung cấp trong tác phẩm như nhan đề, chủ đề, đề tài hình tượng nhân vật, giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật Trong quá trình trên lớp việc bổ sung tri thức đọc hiểu cho HS những tri thức đó sẽ giúp HS chủ động, tích cực trong quá trình tiếp nhận TPVC và giúp HS biết cách tiếp nhận tác phẩm đúng với đặc trưng thể loại của tác phẩm

Mặt khác tri thức đọc hiểu sẽ giúp người giáo viên có sự chuẩn bị kĩ càng hơn các kiến thức liên quan đến bài học, chủ động hơn trong hoạt động dạy học Trong hoạt động dạy-học người GV vẫn là người giữ vai trò chủ đạo

Từ việc cung cấp các tri thức cho HS chuẩn bị bài học cho đến quá trình dẫn dắt người học đến với thế giới nghệ thuật của tác phẩm Người GV sẽ lựa trọn những tri thức nổi bật trong tác phẩm để cung cấp cho Hs và các tri thức này cũng không đồng đều tùy theo mục đích, yêu cầu của từng bài học

Thông qua sự hướng dẫn của GV thì HS là người chủ động hơn trong giờ đọc hiểu Bởi ngoài những tri thức mà GV trang bị cho HS trong giờ lên lớp thì HS có điều kiện chuẩn bị kỹ hơn có sự định hướng của GV Ngoài ra với những tri thức mà HS có hứng thú tìm hiểu sẽ kích thích sự chủ động và sáng tạo của các em Điều này sẽ tạo nên không khí thoải mái trong giờ đọc hiểu, đồng thời HS còn có điều kiện trao đổi với bạn học và

Trang 24

GV những tri thức mà các em phải băn khoăn, suy nghĩ, những vấn đề mà các em còn khúc mắc

Từ nguồn tri thức đọc hiểu phong phú mà các em chiếm lĩnh được sau mỗi giờ đọc hiểu sẽ bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho HS, hình thành ý thức tìm hiểu tri thức từ TPVC, thêm yêu mến bộ môn Ngữ Văn Các

em sẽ khám phá được đằng sau mỗi trang sách là những số phận con người với những suy tư trăn trở trước cuộc sống, những khát vọng lớn lao, những nhân cách đang khát khao hoàn thiện, cả những nỗi đau thể xác và tinh thần

mà con người trải nghiệm Đó là cả kho tư liệu quý giá của loài người được kết tinh vào những trang văn và nó sẽ còn vang động mãi trong lòng người đọc cả khi trang sách được khép lại

Môn Ngữ văn ở trường Phổ thông còn mở rộng địa hạt đến cả những tác phẩm kinh điển của văn học thế giới, vì vậy tri thức đọc hiểu sẽ giúp HS có ý thức tìm hiểu các tri thức của loài người từ kho tàng Văn học thế giới

1.2.2 Nội dung tri thức đọc hiểu

Tác phẩm văn chương là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn nhằm phản ánh cuộc sống với nhiều phạm vi khác nhau Có khi tác phẩm chỉ đi sâu vào một phần cuộc sống, một mảnh đời của những con người lam lũ khó nhọc như trong truyện ''Hai đứa trẻ'' của Thạch Lam Có khi tác phẩm lại phản ánh cả một "xã hội người" với những mảnh đời, số phận của những cá nhân hòa vào

số phận của cả một dân tộc như ''Chiến tranh và hoà bình" của LepTônxtôi hay ''Tấn trò đời'' của BanZắc Từ một mảnh đời đến số phận con người, người đọc nhận ra cả một thời đại lịch sử được phản ánh trong mối quan hệ chằng chịt và hữu cơ Bởi thế tác phẩm văn chương nào cũng có hai nhân tố chủ yếu là tính văn học và tính xã hội Người ta nói tác phẩm văn chương là một xã hội nhân văn trong một xã hội đời thường Có nghĩa là một xã hội đời

Trang 25

thường với những sự kiện, hiện tượng, con người cùng những gì thuộc về con người và một xã hội khác được lí tưởng thẩm mĩ, quan điểm nghệ thuật của nhà văn tái hiện một cách sáng tạo, nên xã hội ấy vừa cụ thể sinh động vừa có sức khái quát đời sống và thời đại lịch sử Đọc hiểu TPVC là vấn đề mới được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau để thay đổi nội dung và phương pháp dạy học TPVC có chất lượng Đọc văn góp phần đào tạo những con người có văn hoá Văn hoá đọc, đó là đọc những tác phẩm hay và biết đọc theo những quy luật nội tại của nó Đọc văn vừa làm phong phú kinh nghiệm nfghệ thuật vừa tăng cường hiểu biết khoa học Cả hai sức mạnh này kết hợp với nhau trong quá trình đọc TPVC Đọc văn không chỉ dừng ở việc giải trí đơn thuần

mà còn làm giàu vốn tri thức bởi TPVC luôn chứa đựng những tri thức đọc hiểu phông phú của nhân loại Theo GS-TS Nguyễn Thanh Hùng tri thức đọc hiểu bao gồm: Tri thức đời sống, tri thức liên ngành, tri thức nghệ thuật và tri thức văn học[16]

1.2.2.1Tri thức đời sống

Bao gồm vốn sống, kinh nghiệm ứng xử xã hội và sự từng trải của người đọc Nhà văn là những người có cái nhìn bao quát toàn vẹn cuộc sống, với khả năng tư duy và sáng tạo của người nghệ sĩ mọi biểu hiện của cuộc sống hiện lên chân thực và sinh động Đại văn hào người Pháp H.Đờ BanZắc

có viết " Nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại"

Bạn đọc trước TPVC thường đem những kinh nghiệm mà mình từng trải

để kiểm chứng Có thể đó là những tri thức quen thuộc bạn đọc đã được bắt gặp trong thực tế đời sống cũng có những tri thức hoàn toàn mới mẻ bạn đọc phải huy động liên tưởng và tượng mới tiếp nhận được Lý thuyết tiếp nhận chia bạn đọc thành ba loại: Loại người đọc thực tế, loại người đọc giả định và loại người đọc tinh hoa Trong đó loại thứ ba bao gồm những người biết đọc

Trang 26

văn trên cơ sở văn hoá đã tích luỹ được từ sự giáo dục đào tạo cơ bản trong nhà trường, tiếp tục được phát triển trong chuyên ngành cũng như có năng

Học sinh ở Phổ thông trung học thuộc loại thứ ba của tiếp nhận văn học,

họ có quá trình tích luỹ tương đối về tri thức đời sống vì vậy người GV có thể tận dụng được ưu thế này trong quá trình dạy học Tuy nhiên HS vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nhân cách nên vốn sống và kinh nghiệm sống vẫn còn chưa nhiều, trong quá trình dạy đọc hiểu TPVC GV cũng nên kết hợp với việc bổ sung những điểm còn khuyết thiếu cho HS.Việc xác định đối tượng của đọc-hiểu TPVC là rất quan trọng để GV lựa trọn những tri thức phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, GV cần đặt mình vào vị trí của người học để xác định những tri thức phù hợp với HS Các em không phải là những bạn đọc thụ động mà là những bạn đọc tích cực tham gia và HS càng tham gia tích cực vào hoạt động học tập thì càng đánh giá được mức độ thành công của giờ học Văn chương là hiện thực sống bộn bề bước ra từ trang sách Có bắt rễ vào hiện thực đời sống, mà phải là đời sống thật, văn học mới bền vững và tồn tại được M Gorki cho rằng; "Người sáng tác là nhà văn và người tạo nên

số phận cho tác phẩm là độc giả" Người đọc chỉ ủng hộ và tạo nên số phận cho những tác phẩm chân chính một khi những tác phẩm ấy đề cập đến hiện thực đời sống đích thực là của họ, nói về họ và vì họ Họ dùng chính những kinh nghiệm thực tế của mình để trải nghiệm và tiếp nhận và làm giàu thêm vốn sống của mình Đặc biệt đến với văn học là đến với môn nghệ thuật rất gần gũi với con người Văn học đã gắn với tuổi thơ của con người từ những câu ca dao mượt mà "Con cò mà đi ăn đêm ", "Đêm qua tát nước đầu đình",

từ những câu truyện cổ tích thần kì về cô Tấm hiền thảo xinh đẹp, chàng Thạch Sanh dũng cảm Con người trưởng thành dần lên với những câu

Trang 27

chuyện, những bài thơ ca ngợi cái đẹp vĩnh cửu về thiên nhiên và con người, nguyền rủa và xa lánh những điều xấu xa, độc ác Đối với bạn đọc, văn chương trở thành món ăn tinh thần phong phú và làm con người hoàn thiện về nhân cách và trưởng thành hơn về trí tuệ

1.2.2.2.Tri thức liên ngành

Văn học vốn là môn khoa học liên ngành và có mối liên hệ chặt chẽ với các môn khoa học xã hội khác như: tâm lí học, xã hội học, triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, ngôn ngữ, giáo dục Để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật sống động và có chiều sâu các nhà văn, nhà thơ phải là người có vốn kiến thức sâu sắc về các lĩnh vực như tâm lí, xã hội, tôn giáo

Nói đến tôn giáo là nói đến tín ngưỡng tâm linh của con người Ở Việt Nam ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng đã du nhập một số tôn giáo từ nước ngoài, dưới triều đại phong kiến thì một số tôn giáo đã trở thành Quốc giáo: Như Phật giáo dưới thời Lý, Trần, Nho giáo dưới thời Lê, Và những

văn, nhà thơ Đọc các tác phẩm văn chương trung đại ta bắt gặp dấu ấn của tôn giáo trong đó rất rõ, có những tác phẩm còn mang dấu ấn của nhiều tôn giáo khác nhau Ví dụ như Truyện Kiều của Nguyễn Du ta thấy sự ảnh hưởng của Phật giáo trong tác phẩm này rất rõ nét Bên cạnh việc vận dụng học thuyết Nho giáo, Nguyễn Du còn vận dụng học thuyết Phật giáo vào việc lí giải số phận nhân vật, bởi vì dường như khi giải thích bằng thuyết Thiên mệnh, ông vẫn chưa thực sự thỏa mãn, vẫn bị bế tắc Vì thế Nguyễn Du đã tìm đến đạo Phật Ông dùng thuyết nhân quả và nghiệp báo của đạo Phật mà giải thích số phận của nhân vật Giáo lí nhà Phật khẳng định: "nước bao giờ cũng chảy xuống, tham muốn và tình dục sẽ đưa con người vào vòng trầm luân đau khổ, từ đó đẩy con người vào nghiệp báo luân hồi” Sở dĩ Thúy Kiều

Trang 28

có số phận mong manh như thế vì nàng có cái nghiệp tiềm ẩn bên trong, cái nghiệp tiềm ẩn từ kiếp trước:

"Kiếp xưa đã vụng đường tu Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi Dẫu sao bình đã vỡ rồi

Lấy thân mà trả nợ đời cho xong"

Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều câu thơ thể hiện thuyết nghiệp báo trên của đạo Phật ở Truyện Kiều, nó thấm nhuần vào tư tưởng của nhân vật cho nên Kiều đã dự cảm được vận mệnh cuộc đời mình từ khi còn nhỏ:

"Kiếp này trả nợ chưa xong Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau"

Dưới ánh sáng của nhân duyên học (từ dùng của đạo Phật), các quan điểm Thiên mệnh đều ngã quị, không thể tồn tại mà xưng hùng xưng bá để dày đọa kiếp người Con người khổ ải là do hành vi "thất niệm" của mình tạo

ra từ trước cho nên không thể trách trời được :

"Đã mang lấy nghiệp vào thân Thì đừng trách lẫn trời gần trời xa"

Dựa vào thuyết nghiệp báo của đạo Phật, chúng ta thấy rằng chết không phải là hết, chết là một sự thoát xác, thay đổi từ trạng thái sinh hoạt này sang một trạng thái sinh hoạt khác, khổ đau hoặc sung sướng hơn, tùy vào nghiệp của mình đã tạo ra ở kiếp trước Người Việt Nam nói riêng và người Phương Đông nói chung đã hấp thụ tư tưởng này nên chúng ta không bao giờ tin chết là hết, chết là mất hẳn Có lẽ vì vậy nên người Việt thường có quan niệm rằng: con người sau khi chết thể xác tan rã nhưng tinh thần còn tồn tại Thực ra đó là ảnh hưởng từ thuyết nghiệp báo của nhà Phật Kiều cũng đã tin như thế:

"Kiều rằng những đấng tài hoa Thác là thể phách còn là tinh anh"

Trang 29

Để chứng minh cho lòng tin ấy, Nguyễn Du đã cụ thể hóa sự xuất hiện

mờ ảo linh thiêng của Đạm Tiên trong buổi chiều thanh minh và những lần nàng hiện về báo mộng cho Kiều Vì nhận thức chết là chưa hết nên khi trao duyên lại choThúy Vân, Kiều đã dặn em:

"Mai sau dẫu có bao giờ đốt

Lò hương ấy so hương phím này Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu gió thì hay chị về"

Theo triết lí của đạo Phật, ở đời không có cái gì tự nhiên mà có, ngẫu nhiên mà sanh Sở dĩ nàng Kiều mang nghiệp báo là do một túc duyên tiền định.Có người cho rằng nếu đúng như thuyết nghiệp báo và luật nhân quả (gieo nhân nào gặp quả ấy) của đạo phật thì tại sao những người hiếu thảo, vị tha như Kiều vẫn chịu khổ Thực ra, triết lí nhân quả của đạo Phật chia làm nhiều thứ: nhân quả hiện tại, nhân quả nhiều đời, nhất thế nhân quả, tam thế nhân quả Thân phận Thúy Kiều chính là biểu hiện của thứ nhân quả nhiều đời, thứ nhân quả được truyền từ kiếp trước Trong Truyện Kiều còn hiển thị

cả thứ nhân quả hiện tại Những kẻ làm việc bạc ác tinh ma như Hoạn Thư,

Mã Giám Sinh, Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh cuối cùng đều bị trừng phạt (thể hiện ở doạn thơ Kiều báo ân báo oán)

Bên cạnh những tri thức về tôn giáo ảnh hưởng đến TPVC như trên có một tri thức cũng có mối quan hệ sâu sắc đến sự thành công hay thất bại của TPVC là nhà văn, nhà thơ đó có khai thác được tâm lí của hình tượng nghệ thuật hay không Một hình tượng nghệ thuật thành công là nhà văn, nhà thơ

đó diễn tả được sống động tâm lí của nhân vật tạo nên những hình tượng nghệ thuật bất hủ Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du sở dĩ đi vào lòng người đọc bởi Nguyễn Du đã thành công trong khai thác tâm lí của nhân vật Thuý

Trang 30

Kiều Trong từng cảnh ngộ khác nhau tác giả lại đem lại cho nhân vật những diễn biến tâm lí khác nhau Về truyện hiện đại ở nước ta không ai qua được Nam Cao về khả năng nắm bắt tâm lí của nhân vật Ví dụ chỉ qua diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi tỉnh rượu mà người đọc cảm xúc thương xót đối với nhân vật : “Sau những cơn say vô tận”, “bây giờ thì hắn tỉnh” sau đêm gặp Thị Nở, Chí Phèo đã sống lại những cảm xúc đầy nhân tính Hắn cảm nhận được không gian xung quanh với “cái lều ẩm thấp mới chỉ lờ mờ” Đặc biệt hắn đã cảm nhận được những âm thanh quen thuộc của cuộc sống quanh mình: “Tiếng cười nói của những người đi chợ; tiếng gõ mái chèo đuổi cá, tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!”.Những âm thanh bình dị ấy ngày nào chả có, nhưng xưa nay, vì say hắn bị xã hội làm cho “mù điếc cả tâm hồn”, không nghe được Giờ đây được Thị Nở làm cho tâm hồn hắn sáng tỏ, thì những âm thanh ấy bỗng vọng sâu vào trái tim hắn như tiếng gọi tha thiết của

sự sống Cùng với sự cảm nhận bức tranh cuộc sống xung quanh, Chí Phèo cũng đã cảm nhận được một cách thấm thía về tình trạng thê thảm của bản thân mình (già nua, cô độc, trắng tay) Cùng một lúc Chí Phèo đã sống lại những cung bậc tình cảm của một người bình thường : Vui, buồn, lo lắng, tuyệt vọng Ta lại thấy hắn đáng thương hơn đáng ghét và ta hy vọng là hắn sẽ quay trở về với cuộc sống bình thường bởi ước mơ giản dị đã trở về với hắn

"chồng cuốc mướn, cày thuê vợ dệt vải" Và cũng theo quy luật của tâm lí khi người ta đã ý thức được cái ác thì người ta không thể tạo ra cái ác được nữa,

và hắn thèm lương thiện, hắn muốn được làm hoà với mọi người biết bao Đoạn độc thoại nôị tâm của Chí Phèo đã thể hiện bậc thầy về khai thác tâm lí nhân vật của nhà văn Nam Cao Qua đó ta thấy rõ việc nắm vững tri thức liên ngành sẽ giúp GV và HS khai thác được chiều sâu nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn

Trang 31

1.2.2.3 Tri thức nghệ thuật

Cũng như văn học, các loại hình nghệ thuật khác ra đời từ hoạt động thực tiễn của con người: Kiến trúc bắt nguồn từ ý muốn xây những ngôi nhà tốt đẹp hơn, âm nhạc hình thành từ những tiếng reo hò, những âm thanh hiệu lệnh, tiếng gõ nhịp khi làm ăn và đánh trận Hoạt động và nhu cầu thực tiễn của con người là đa dạng cho nên các loại hình nghệ thuật cũng phong phú và phức tạp và các môn nghệ thuật này có mối quan hệ gần gũi thậm chí chúng còn sử dụng các chất liệu của nhau để làm phong phú

và sâu sắc hơn nghệ thuật thể hiện của mình Ví thử mối quan hệ giữa văn học với hội hoạ Ở phương Đông như Việt Nam và Trung Quốc từ lâu vốn

có truyền thống kết hợp giữa văn học và hội hoạ Đời Đường có rất nhiều thi sĩ kiêm hoạ sĩ Nhiều bài thơ, bức tranh cùng làm về một đề tài Dưới bức tranh thường có mấy câu thơ, ngược lại trong thơ văn có nhiều bức tranh minh hoạ Đến đời Tống, thậm chí người ta ra đề khảo thí cho các hoạ sĩ tương lai bằng các bài thơ Và chính Tô Đông Pha phát hiện trong tác phẩm của thi sĩ kiêm họa sĩ Vương Duy đời Đường là "thi trung hữu họa, họa trung hữu thi'' Ông còn gọi thơ Đỗ Phủ là "Vô hình họa" (tranh không hình) Người ta còn tiếp tục định nghĩa thơ là "hữu thanh hoạ" (Tranh có lời) tranh là "hữu hình họa" (Thơ có hình) [28]

Nhìn chung việc nhà văn, nhà thơ dùng nhiều biện pháp hội họa vẫn là

Cỏ non xanh rợn chân trời

( Truyện Kiều-Nguyễn Du)

Có sự phối hợp hài hoà màu sắc, ví dụ là sắc nóng:

Cát vàng, cồn nọ, bụi hông, dặm kia

(Truyện Kiều-Nguyễn Du)

Trang 32

Nghệ thuật là đối tượng của một ngành khoa học khác Văn học cũng là một loại hình nghệ thuật sử dụng chất liệu riêng là ngôn ngữ để xây dựng nên hình tượng nghệ thuật cho mình Tuy nhiên văn học lại gắn bó chặt chẽ và mật thiết với các loại hình nghệ thuât khác Như vậy việc hiểu biết các tri thức thuộc lĩnh vực nghệ thuật sẽ giúp GV và HS khám phá được các hình tượng nghệ thuật độc đáo của tác phẩm và bồi đắp những tình cảm thẩm mĩ ở người học biết rung động trước những bản nhạc hay, những bức tranh đẹp và cả những tác phẩm văn chương xuất sắc của loài người

1.2.2.4 Tri thức văn học

Văn học bản thân là một môn khoa học nên cũng có các chuyên ngành nghiên cứu khoa học văn chương Tri thức văn học bao gồm lí luận văn học, phê bình văn học, lịch sử văn học, khảo cứu và dịch thuật văn học Các phân môn này ra đời từ rất sớm cùng với sự ra đời của văn chương và nó cũng có

Trang 33

ảnh hưởng sâu sắc đến sự vận động phát triển của văn chương Tri thức văn học với những lí thuyết hiện đại như thi pháp học, lí thuyết tiếp nhận văn học, luận giải học Mỗi lĩnh vực lí thuyết vừa nêu đều có những gợi ý bổ ích khi đọc hiểu TPVC Lí thuyết cấu trúc cho ta những hiểu biết về tính toàn vẹn của tác phẩm Lí thuyết tiếp nhận quan tâm đến người đọc như một nhân tố tạo sinh ý nghĩa cùng giá trị lịch sử của tác phẩm Luận giải học giúp người dọc trình bày những kiến giải riêng trong phân tích tác phẩm Thi pháp học giúp người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm và nhìn nhận tác phẩm như một sáng tạo có tính thẩm mĩ theo nguyên tắc mĩ học

Lý luận văn học nghiên cứu văn học ở bình diện lý thuyết khái quát Lý luận văn học nghiên cứu bản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội , thẩm mỹ của nó đồng thời xác định phương pháp luận và các phương pháp phân tích văn học

Thi pháp học là ngành học nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiện biểu hiện trong các tác phẩm văn học; một trong các bộ môn lâu đời nhất của nghiên cứu văn học

Các tri thức văn học rất gần gũi với đọc hiểu TPVC và tan biến vào quá trình lên lớp Trong hoạt động dạy người GV chú ý cung cấp những tri thức văn học giúp HS hiểu tác phẩm trên nhiều bình diện từ kết cấu, chủ đề tác phẩm đến nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Tất cả nhưng tri thức trên không được nhà văn nói ra trực tiếp trong tác phẩm nhưng GV và HS qua đọc hiểu

sẽ làm nổi bật vấn đề trên Ví dụ qua đọc hiểu tác phẩm Chí phèo của Nam cao tri thức đọc hiểu nhân vật điển hình trong tác phẩm là Chí Phèo nhân vật bất hủ của Nam Cao về con người bị tha hoá mất hết nhân hình, nhân tính bị tước đi quyền cơ bản nhất của con người đó là quyền được làm người lương thiện Từ đó Nam Cao gióng lên hồi chuông khẩn thiết về tình trạng con người bị tha hoá trong xã hội cũ

Trang 34

Những tri thức về lịch sử văn học sẽ giúp cho HS ý thức được tiến trình hình thành và phát triển bản lĩnh, cốt cách của con người, của dân tộc Việt Nam Để sống lại trong thế giới tưởng tượng của văn học, những ngày gian khổ cũng như những ngày oanh liệt của ông cha ta trước kia; đau nỗi đau, vui niềm vui của dân tộc trên đường dài mấy nghìn năm

Tóm lại, đọc hiểu TPVC là một hành động nhận thức tích cực, là một quá trình giao tiếp nghệ thuật để phát hiện ý nghĩa và đào sâu ý nghĩ tiềm tàng trong những hình thái vận động y như thật của hiện thực đời sống xã hội con người Mặt khác, TPVC là sản phẩm văn hoá tinh thần Muốn khám phá ý nghĩa tác phẩm không thể không vận dụng các loại tri thức để đọc hiểu nó Các loại tri thức đọc hiểu được vận dụng không có vai trò ngang nhau tuỳ vào từng tác phẩm cụ thể Khi đưa HS đến với TPVC, GV cần cân nhắc phạm vi phản ánh của tác phẩm mà đưa ra những tri thức đọc hiểu phù hợp

1.3 Vận dụng tri thức đọc hiểu trong giờ đọc hiểu văn bản văn học nước ngoài

Khi giới thiệu một nền văn học nước ngoài qua một tác giả hoặc một tác phẩm tiêu biểu nào đó, SGK mới chỉ có một tiểu dẫn hết sức vắn tắt đôi nét

cơ bản nhất về thời đại, cuộc đời và sự nghiệp tác giả hoặc đề tài, chủ đề của tác phẩm, sau đó tập trung vào phần cơ bản nhất là để học sinh tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm hoặc đoạn trích cụ thể Không có những bài văn học sử mà chỉ có những bài phân tích tác phẩm văn chương Tuy nhiên, qua tác phẩm cụ thể cuối cùng HS hiểu về tác giả, hiểu về một nền văn học Dẫn dắt quy nạp hơn là diễn dịch ở đây có khả năng mở rộng hơn địa hạt cho suy nghĩ chủ động, tích cực và sáng tạo của HS

Đọc hiểu tác phẩm Văn học nước ngoài ở trường phổ thông hiện nay được thực hiện chủ yếu thông qua bản dịch Học sinh ít được tiếp xúc với nguyên tác do nhiều lý do: khoảng cách về lịch sử, địa lý và ngôn ngữ, thời

Trang 35

gian thực hiện trên lớp còn hạn chế, nhiều giáo viên chưa xem trọng việc cung cấp nguyên tác hoặc chưa chịu khó tìm tòi cung cấp nguyên tác cho học sinh

Vì vậy nhiều khi giờ đọc hiểu tác phẩm văn học nước ngoài lại giống như một giờ đọc hiểu tác phẩm văn học trong nước Vì vậy người GV khi dẫn dắt học sinh tìm hiểu một văn bản VHNN cần lưu ý đến vịêc cùng HS tìm hiểu những thành tố có trong tác phẩm nguyên bản về cơ bản chuyển được qua bản dịch và những thành tố rất khó hoặc hầu như không chuyển được qua bản dịch để phân tích cho trúng Đặc biệt đối với thơ, điều này lại càng lưu ý Trong khá nhiều bài thơ Đường, SGK mới cung cấp hai bản dịch thơ khác

nhau của cùng một tác phẩm gốc (Lầu Hoàng Hạc - Thôi Hiệu qua bản dịch của Tản Đà và Khương Hữu Dụng, Nỗi oán của người phòng khuê - Vương

Xương Linh qua bản dịch của Tản Đà và Nguyễn Khắc Phi) cũng như đặt câu hỏi yêu cầu đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và bản dịch nghĩa (bản

dịch của Nguyễn Công Trứ đối với bài Cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ) Tương

tự với các tác phẩm truyện và kịch thì hầu như không có việc cung cấp nguyên tác mà SGK chủ yếu giới thiệu những bản dịch thành công của các dịch giả trong nước, việc tiếp xúc với nguyên tác khó khăn đối với cả GV và

HS Lâu nay chúng ta tạm hài lòng với việc đọc các tác phẩm VHNN như là đọc các tác phẩm VHVN

Trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc hiểu, SGK mới chỉ chú ý

phẩm) và cách tiếp cận lịch sử-xã hội học, cách tiếp cận văn hoá học (nhìn

trong văn hoá một dân tộc, phản ánh cuộc sống lịch sử xã hội, triết học, tôn giáo, tính cách con người, chân dung tinh thần của dân tộc ấy) Tri thức đời sống xã hội, lịch sử, văn hoá hết sức quan trọng trong đọc hiểu

nghề khác không phải là văn học thì chính ý nghĩa của văn chương như một

Trang 36

cửa sổ mở vào thế giới, mở vào cuộc đời và tâm hồn con người là điều cơ bản khiến những giờ văn trong nhà trường thật sự lí thú và bổ ích, là điều

cơ bản sẽ mãi cuốn hút họ đến với những tác phẩm văn chương Riêng với các tác phẩm VHNN mà một phần những vẻ đẹp tinh tế của ngôn từ không tránh khỏi mất mát qua các bản dịch thì sức hấp dẫn của tác phẩm lại càng giá trị là ở "cửa sổ văn hoá của nó"[27]

Kết quả giảng dạy VHNN sẽ rất hạn chế nếu HS chỉ được biết đến một vài tác phẩm, tác giả đặc biệt nổi tiếng của một nền văn học nào đó

Điều quan trọng hơn là HS dần có một nhãn quan rộng lớn hơn về văn học

thế giới mà văn học dân tộc chỉ là một bộ phận SGK mới cố gắng để định hướng, dù chỉ là bước đầu ý thức văn học so sánh để HS có thể đối chiếu những tác phẩm có quan hệ gần gũi về thể loại, đề tài giữa VHVN và VHNN, giữa các nền văn học nước ngoài với nhau, phần nào có ý thức về

sự tương đồng loại hình, quan hệ ảnh hưởng văn học hay sự khác biệt dân tộc Ví dụ sử thi Việt Nam với sử thi Hi Lạp, sử thi Ấn Độ; thơ Đường (Trung Quốc) và thơ Việt Nam làm theo thể thơ Đường luật; thơ Đường (Trung Quốc) và thơ Hai-cư (Nhật Bản)

Từ đó chúng tôi đề xuất một số yêu cầu khi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản VHNN :

Trước khi HS tiếp xúc với một tác phẩm VHNN, GV nên giành ít phút giới thiệu đôi điều đặc trưng cơ bản nhất về đất nước đó Nên khơi gợi để HS nhớ lại những tác phẩm của cùng nền văn học ấy mà HS đã được học ở trung học cơ sở Bởi vì thiết kế chương trình VHNN từ Trung học cơ sở lên Trung

học phổ thông có tính kế thừa và phát triển Ví dụ khi dạy đến tác phẩm Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của nhà thơ Lí Bạch giáo viên có thể khơi gợi để HS nhớ lại tác phẩm Xa ngắm thác núi Lư đã được học từ Trung học cơ sở; hoặc khi dạy đọc hiểu tác phẩm Thuốc của Lỗ

Trang 37

Tấn GV có thể nhắc lại đôi nét về tác phẩm Cố hương cũng được học từ cấp

học dưới của HS

Thứ hai, khi giới thiệu cho HS bất kì một nền văn học nào hay qua một tác phẩm hoặc tác giả VHNN nào người GV cũng chú ý làm nổi bật những nét bản sắc riêng của từng dân tộc của từng nền VHNN, đồng thời cũng phải nhấn mạnh những giá trị chân-thiện -mĩ phổ quát khiến cho những tác phẩm thực sự có giá trị có thể vượt qua biên giới đất nước mình, chinh phục con người các xứ sở khác Ở đây ta lại gợi cho HS so sánh, đối chiếu những nét tương đồng Ví dụ tình yêu quê hương đất nước, tình cảm bạn bè, tình nghĩa

vợ chồng, lòng thương cảm với những đau khổ của đồng loại, sự gắn bó với vận mệnh của dân tộc với quyền lợi của quần chúng nhân dân là những tình cảm đáng trân trọng trong các tác phẩm văn học Việt Nam cũng như nước ngoài; sự gặp gỡ của tiếng nói phản đối chiến tranh phi nghĩa, chà đạp lên

quyền sống và hạnh phúc của con người như trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn với Nỗi oán của người phòng khuê của Vương Xương Linh ; sự gần

gũi giữa các tác phẩm có cùng đề tài giữa Văn học Trung Quốc với Văn học Việt Nam Sự đồng cảm với những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh của Trung Quốc trong sáng tác của Nguyễn Du như Dương Phi cố lý và Độc Tiểu Thanh

Kí, Truyện Kiều khiến không chỉ độc giả Việt Nam rung động, hoặc sự ngưỡng mộ của Hồ Chủ Tịch với nhà văn Lỗ Tấn, với tấm lòng trung nghĩa,

cương trực của các nhân vật Quan Vũ, Trương Phi trong cuốn tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung

Một điểm nữa đáng chú ý là tác phẩm VHNN trong khi giới thiệu với

HS nhiều điều mới mẻ về đất nước và con người ở nhiều nước trên thế giới:

sự xa lạ, khác biệt của những tên đất tên người, khung cảnh đời sống, cách sống, cách nghĩ, phong tục tập quán GV có thể giúp HS khắc phục phần nào khoảng cách đó, giúp HS có cảm nhận trực tiếp và gần gũi hơn khi tận dụng những bản đồ, tranh ảnh minh hoạ cần thiết

Trang 38

1.3.1 Thực trạng giờ đọc hiểu Ngữ văn với các văn bản văn học nước ngoài

Ngày nay do thực trạng chung của xã hội nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế nên đa số HS lựa chọn các trường kinh tế, kĩ thuật, các trường Đại học

sư phạm và Khoa học xã hội nhân văn không còn hấp dẫn các em vì vậy học sinh chỉ trú trọng các bộ môn tự nhiên và dẫn đến việc thờ ơ với các môn Khoa học xã hội trong đó có môn Ngữ Văn Việc HS không thích học Văn và ngại đọc Văn đã được đề cập đến từ nhiều năm nay nhưng các nhà nghiên cứu

và các nhà sư phạm vẫn chưa có những biện pháp hữu hiệu để đưa HS trở lại yêu thích môn Ngữ Văn Tình trạng HS học yếu, hỉểu sai tác phẩm văn chương là phổ biến Văn chương trong nước đã như vậy, VHNN được giới thiệu trong chương trình phổ thông HS lại càng không được học sinh tiếp nhận có hiệu quả Mặt khác đối với người dạy các tác phẩm VHNN cũng không được quan tâm nhiều như các tác phẩm văn học trong nước Một phần Văn học nước ngoài chỉ chiếm thời lượng ít trong chương trình và khi đưa vào đề thi chỉ được coi là câu hỏi phụ và nội dung câu hỏi chủ yếu hỏi về cuộc đời và sáng tác của họ chứ ít khi đặt câu hỏi vào tác phẩm Khi tiến hành luận văn tôi có tham khảo ý kiến của một số đồng nghiệp về việc dạy và học phần văn học nước ngoài và đã có những ý kiến phản hồi như sau:

Cô giáo Lê Thị Oanh, giáo viên Ngữ văn Trung tâm GDTX hướng nghiệp dạy nghề thành phố Yên Bái cho biết: "Phần Văn học nước ngoài ở chương trình phổ thông chưa được các em HS hào hứng tiếp nhận Một phần

vì các em chưa chuẩn bị kĩ, chưa đọc kĩ tác phẩm, mặt khác HS lớp 12 chỉ quan tâm đến VHVN phục vụ cho các kì thi "

Cô giáo Hoàng Hồng Diệp cũng có cùng suy nghĩ: "Dạy đọc-hiểu các tác phẩm VHNN với GV cũng gặp nhiều khó khăn, ngoài những khoảng cách

xa lạ về ngôn ngữ và văn hóa, lịch sử thì những tài liệu tham khảo về tác giả

và tác phẩm cũng rất hạn chế Học sinh chưa chủ động trong các giờ học khiến thời gian làm việc của GV rất vất vả"

Trang 39

Như vậy HS chưa có nhiều hứng thú với các giờ đọc hiểu các tác phẩm VHNN và các GV cũng gặp nhiều khó khăn khi tiến hành các giờ đọc hiểu các tác phẩm trên

1.3.2 Thực trạng giờ đọc hiểu tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn đã được đưa vào chương trình PTTH từ

lâu, trong bộ SGK cải cách tác phẩm được giới thiệu ở lớp 11, bộ SGK hợp nhất năm 2000 tác phẩm được giới thiệu ở lóp 12 Như vậy đây là một tác phẩm hay tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn Lỗ Tấn và kết tinh được các giá trị đặc sắc về mặt nội dung và nghệ thuật Có nhiều năm tác

phẩm Thuốc được sử dụng trong các kì thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh Đại

học Tuy nhiên qua thực tế giảng dạy nhiều năm ở khối lớp 11, 12 tôi nhận

thấy HS còn thờ ơ với các tác phẩm VHNN Tác phẩm Thuốc cũng không

nằm ngoài số đó Khi thực hiện đề tài này chúng tôi đã thực hiện khảo sát hứng thú của HS lớp 12 tại TTGDTX hướng nghiệp dạy nghề thành phố Yên Bái Phiếu khảo sát với câu hỏi: “Hứng thú của em sau khi học tác phẩm

Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn? "

Kết quả chúng tôi thu được như sau:

Tác phẩm không hấp dẫn, gợi hứng thú với người học

Tác phẩm gợi hứng thú cho người học ở mức

Trang 40

Từ kết quả điều tra chúng tôi nhận thấy đa số HS có thái độ bình thường, thậm chí không thích học tác phẩm, chỉ có một số ít HS có hứng thú với môn Văn còn yêu thích tác phẩm còn lại đa số các em còn chưa có mối quan tâm đúng mực với các tác phẩm VHNN Nguyên nhân chủ yếu là HS chưa thật sự chăm học, phần khác do tác phẩm của một nhà văn Trung Quốc nên còn có những khoảng cách về ngôn ngữ và văn hóa có trong tác phẩm

Ngày đăng: 05/10/2014, 06:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
2. Trần Lê Bảo (2002), Lỗ Tấn thân thế-sự nghiệp-sáng tác tiêu biểu, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗ Tấn thân thế-sự nghiệp-sáng tác tiêu biểu
Tác giả: Trần Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2002
3. Nguyễn Viết Chữ (2003), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại, NXB Đại học sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2003
4. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay, cái đẹp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn dạy cái hay, cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
5. Hoàng Hữu Bội (2008), Thiết kế dạy học Ngữ văn 12(Nâng cao), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ văn 12(Nâng cao)
Tác giả: Hoàng Hữu Bội
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Nguyễn Văn Đường (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
9. Hồ sĩ Hiệp(2006), Văn học Trung Quốc với nhà trường, Nxb Đại học quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Trung Quốc với nhà trường
Tác giả: Hồ sĩ Hiệp
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2006
10. Nguyễn Trọng Hoàn, (2003), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2003
11. Nguyễn Thanh Hùng (2000), Hiểu văn dạy văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc và tiếp nhận văn chương
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2002
13. Nguyễn Thanh Hùng, (2007), Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS, NXB Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm
Năm: 2007
16. Nguyễn Thanh Hùng (2011), Kĩ năng đọc hiểu văn, Nxb Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc hiểu văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2011
17. Nguyễn Đăng Mạnh (1994), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, NXB giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB giáo dục Hà Nội
Năm: 1994
18. Nguyễn Kim Phong (2009), Kĩ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 12, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 12
Tác giả: Nguyễn Kim Phong
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2009
19. Nguyễn Huy Quát, ( 2001), Một số vấn đề về phương pháp dạy – học văn trong nhà trường, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp dạy – học văn trong nhà trường
Nhà XB: NXB giáo dục
20. Nguyễn Huy Quát, ( 2003), Phương pháp dạy học văn, giáo trình Đại học sƣ phạm-Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
21. Nguyễn Huy Quát(2008), Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp dạy học văn, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học và đổi mới phương pháp dạy học văn
Tác giả: Nguyễn Huy Quát
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2008
22. Vũ Nho, (1999), Nghệ thuật đọc diễn cảm, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật đọc diễn cảm
Tác giả: Vũ Nho
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1999
23. Lương Duy Thứ (2005), Mấy vấn đề thi pháp Lỗ Tấn và việc giảng dạy Lỗ Tấn trong trường phổ thông, Nxb Đại học sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp Lỗ Tấn và việc giảng dạy Lỗ Tấn trong trường phổ thông
Tác giả: Lương Duy Thứ
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm
Năm: 2005
24. Lương Duy Thứ (1998), Giảng văn văn học nước ngoài, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn văn học nước ngoài
Tác giả: Lương Duy Thứ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w