1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội

115 417 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội
Tác giả Nguyễn Anh Tuấn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm về dự án đầu tư và thẩm định tài chính dự án đầu tư Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn về việc bỏ vốn xây dựng mới, mở rộng cải tạo, đổ

Trang 1

NGUYỄN ANH TUẤN

N¢NG CAO CHÊT L¦îNG THÈM §ÞNH TµI CHÝNH Dù ¸N TRONG HO¹T §éNG CHO VAY t¹i NG¢N HµNG TMCP NGO¹I TH¦¥NG VIÖT NAM - CHI NH¸NH Hµ NéI

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 62.31.12.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN MẠNH HÙNG

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ

ÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 CHƯƠNG 2 38 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 38 CHƯƠNG 3 77 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH 77 TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH

HÀ NỘI 77 KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 3

CIC Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) - Ngân hàng nhà nước Việt

NamDSCR Chỉ số đánh giá khả năng trả nợ dài hạn của dự án

KH Khấu hao

KNTN Khả năng trả nợ

HĐKD Hoạt động kinh doanh

HĐĐT Hoạt động đầu tư

LNST Lợi nhuận sau thuế

NHTMCP Ngân hàng Thương mại cổ phần

VCB Hà Nội Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Hà NộiVCB Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

XDCB Xây dựng cơ bản

XNK Xuất nhập khẩu

Trang 4

CHƯƠNG 1 3 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ

ÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 CHƯƠNG 2 38 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 38 CHƯƠNG 3 77 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH 77 TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẨN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH

HÀ NỘI 77 KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96HÌNH VẼ

Hình 1.2: Quy trình thẩm định tài chính dự án Error: Reference source not foundHình 2.1: Sơ đồ tổ chức Ngân hàng VCB Hà Nội Error: Reference source not

found

Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức công tác thẩm định dự án đầu tư Error: Reference source

not found

Trang 5

NGUYỄN ANH TUẤN

N¢NG CAO CHÊT L¦îNG THÈM §ÞNH TµI CHÝNH Dù ¸N TRONG HO¹T §éNG CHO VAY t¹i NG¢N HµNG TMCP NGO¹I TH¦¥NG VIÖT NAM - CHI NH¸NH Hµ NéI

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 62.31.12.01

HÀ NỘI - 2011

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để đảm bảo hiệu quả đồng vốn trong hoạt động cho vay dự án của Ngân hàngthương mại, một nhiệm vụ đặt ra cấp thiết cho ngân hàng là phải đảm bảo tốt ngay

từ khâu thẩm định tài chính của dự án Vì vậy, nâng cao công tác thẩm định tàichính dự án đầu tư luôn được các ngân hàng hết sức quan tâm

Tuy nhiên đến nay công tác thẩm định tài chính dự án tại các ngân hàngTMCP nói chung và Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh HàNội bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa phát huy được hết vai trò của nó trong hoạtđộng Ngân hàng

Xuất phát từ vài trò và ý nghĩa của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư,

và thực tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng thẩm định TCDA, tác giả lựa chọn đềtài “Nâng cao chất lượng thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay tại Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu nhằmđánh giá thực trạng trong những năm gần đây và đưa ra một số giải pháp cụ thể gópphần nâng cao chất lượng công tác này trong hoạt động cho vay của VCB Hà Nội

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về dự án đầu tư và thẩm định tài chính dự án đầu tư

Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn

về việc bỏ vốn xây dựng mới, mở rộng cải tạo, đổi mới kỹ thuật và công nghệ, đó lànhững tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nângcao chất lượng của sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định

Thẩm định tài chính dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động nhằm xác định luồng tiền của dự án như tổng mức đầu tư, nguồn tài trợ và tính toán, phân tích các chỉ tiêu trên cơ sở các luồng tiền nhằm đưa ra các đánh giá về hiệu quả tài chính của dự án đầu tư

Trang 7

1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

a- Các hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại bao gồm 3 hoạt động

cơ bản sau đây: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và đầu tư, hoạt độngtrung gian

b- Hoạt động cho vay dự án của Ngân hàng thương mại là NHTM sử dụngmột phần vốn chủ sở hữu và phần lớn vốn huy động được từ cá nhân, doanh nghiệp,

tổ chức… để cho các đơn vị, cá nhân có nhu cầu về vốn vay và thu một khoản lãinhất định trên số tiền vay trong một khoảng thời gian được xác định trước

1.3 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

a- Sự cần thiết phải thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay của NHTM+ Ngân hàng có cơ sở tương đối chính xác để xác định được tính khả thi,hiệu quả của dự án

+ Ngân hàng dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra, ảnh hưởng đến quátrình triển khai thực hiện dự án như các yếu tố về sự biến động thị trường, nguyênliệu đầu vào, chi phí sản xuất, các yếu tố về môi trường, chính sách quản lý…

+ Ngân hàng có phương án hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất

+ Ngân hàng tạo ra các căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích,đúng đối tượng và tiết kiệm vốn đầu tư

b- Quy trình thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngânhàng thương mại

Quy trình thẩm định TCDA của một ngân hàng là toàn bộ quá trình từ khinhận được các tài liệu về dự án, hồ sơ xin vay vốn của chủ đầu tư tới lúc ngân hàngđưa ra quyết định cuối cùng

c- Nội dung thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngânhàng thương mại

+ Thẩm định tổng vốn đầu tư vào dự án: Ngân hàng sẽ xác định tổng mức vốncần thiết đầu tư cho toàn bộ dự án từ khâu thiết lập cho đến các khâu triển khai dự án

Trang 8

+ Thẩm định nguồn vốn tài trợ cho dự án: Thực chất ở đây ngân hàng tiếnhành xem xét các nguồn vốn tài trợ cho dự án, cơ cấu của nguồn vốn, khả năng đảmbảo của nguồn vốn (số lượng) và tiến độ bỏ vốn hợp lý để từ đó quyết định mức tàitrợ và lịch trình cho vay thích hợp.

+ Thẩm định tính hợp lý của các báo cáo tài chính kế hoạch: Ngân hàng sẽthẩm định tính chính xác, hợp lý, hợp lệ của các báo cáo tài chính kế hoạch đượctrình bày trong luận chứng kinh tế kỹ thuật của dự án Việc thẩm định sẽ dựa trên

cơ sở các chỉ tiêu xây dựng nên các báo cáo tài chính dự trù như dự tính về sảnlượng bán, giá bán đơn vị, chi phí biển đổi đơn vị, tổng chi phí cố định, tổng vốnđầu tư cần thiết (bao gồm cả vốn đầu tư vào vốn lưu động ròng)

+ Thẩm định chi phí (toàn bộ hoạt động của dự án), doanh thu (dự kiến), vàdòng tiền của dự án:

- Về chi phí: Ngân hàng tiến hành thẩm định các khoản mục chi phí biếnđổi, chí phí nhân công trực tiếp, quản lý, lãi vay, khấu hao tài sản cố định, chi phísửa chữa duy tu máy móc, nhà xưởng…

- Về doanh thu dự án: Ngân hàng tiến hành thẩm định doanh thu dựa trên

cơ sở tổng hợp khối lượng dự kiến đưa vào lưu thông với đơn giá đơn vị của từngloại sản phẩm (sản phẩm chính, sản phẩm phụ), các khoản thu từ phế liệu và dịch vụcung cấp bên ngoài, mức huy động công suất so với công suất thiết kế và khả năngtiêu thụ sản phẩm trên thị trường (dịch vụ đầu ra và phương án tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp)

- Phương pháp xác định dòng tiền của Ngân hàng như sau:

- 1 Doanh thu thuần; 2 Tổng chi phí sản xuất (không có khấu hao và lãi);

3 Lợi nhuận trước khấu hao và lãi vay (1-2); 4 Khấu hao; 5 Lợi nhuận trước thuế

và lãi vay (EBIT); 6 Lãi vay; 7 Lợi nhuận trước thuế; 8 Thuế thu nhập; 9 Lợinhuận sau thuế (7-8)

- Dòng tiền ròng hàng năm của dự án (CF) = Lợi nhuận sau thuế (9) + Khấuhao +Lãi vay

+ Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TCDA:

Công tác thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả TCDA là một yếu tố cực kỳ quantrọng trong quá trình thẩm định TCDA Thực chất đây là việc xác định một số chỉ

Trang 9

tiêu với các số liệu đã dự tính cho dự án, tiến hành so sánh với các tiêu chuẩn đãđược công nhận.

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án có thể được chia làm ba nhóm:

+ Quan niệm về chất lượng thẩm định tài chính dự án của NHTM

Mục tiêu thẩm định dự án của ngân hàng là quyết định có cho vay hay không

và xác định khối lượng cho vay, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, phương thứcgiải ngân và thu nợ sao cho thu hồi được cả gốc và chi phí cho vay đồng thời thuđược lợi nhuận từ việc cho vay đó

+ Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định TCDA

Thứ nhất, tính khoa học, chính xác, toàn diện của các kết quả thẩm định TCDAThứ hai, thời gian thẩm định

Thứ ba, chất lượng của hoạt động cho vay theo dự án

Thứ tư, sự phù hợp của các dự báo, kết quả thẩm định trong quá trình phântích so với kết quả thực tế khi dự án đi vào hoạt động

Thứ năm, kết quả thẩm định có chất lượng còn thể hiện ở mức độ cung cấpcho khách hàng những tiện ích về kế hoạch kinh doanh, phương án nguồn vốn…góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của dự án, mang lại lợi ích cho nhà đầu tư và

do đó, cho cả ngân hàng

e- Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng lượng thẩm định tài chính dự ántrong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

Trang 10

+ Các nhân tố chủ quan

- Nhận thức và trình độ của cán bộ thẩm định về công tác thẩm định tàichính dự án

- Phương pháp và chỉ tiêu thẩm định tài chính dự án

- Cách thức thu thập và xử lý thông tin

- Trang thiết bị, công nghệ

- Tổ chức điều hành quá trình thẩm định TCDA

+ Các nhân tố khách quan

- Hành lang pháp lý, cơ chế chính sách của Nhà nước

- Môi trường kinh tế xã hội

- Các nhân tố từ phía chủ đầu tư

- Tuổi đời của dự án

Trên đây là những cơ sở lý luận cơ bản làm nền tảng để đánh giá thực trạngcông tác thẩm định TCDA đầu tư trong hoạt động cho vay tại VCB Hà Nội trongthời gian qua

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG

VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội vào ngày1/3/1985 trên cơ sở của Quyết định số 177/NH.QĐ của Tổng giám đốc Ngân hàngNgoại Thương Việt Nam, VCB Hà Nội được thành lập với mục đích hỗ trợ pháttriển kinh tế đối ngoại của Thủ đô, phục vụ một số doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực ngoại thương, du lịch… và hoạt động của một số tổ chức quốc tế tại HàNội và trong nước

2.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

VCB Hà Nội là Chi nhánh cấp 1 trực thuộc VCB Hội sở chính nên cơ cấu tổchức khá hoàn thiện bao gồm các phòng ban: Ban Giám đốc, 15 phòng ban nghiệp

Trang 11

vụ, 11 phòng giao dịch trên toàn địa bàn TP Hà Nội

2.3 Tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

Về huy động vốn: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn trung bình trong thời kỳ

2006 - 2010 là 13,63% Tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh đến ngày

30/06/2011 đạt 10.689 tỷ đồng.

Về hoạt động sử dụng vốn: Dư nợ cho vay đến ngày 31/12/2010 đạt 3.932 tỷ

đồng, tăng 26,18% so với ngày 31/12/2009 Tính đến ngày 30/06/2011 dư nợ cho

vay tại Chi nhánh là 3.988 tỷ đồng tăng 1,42% so với ngày 31/12/2010.

Về hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu: Tính đến ngày 30/06/2011 thì

VCB Hà Nội đạt 40% so với kế hoạch được giao năm 2011 giảm 11,9% so với cùng

kỳ năm 2010

Về kinh doanh ngoại tệ: Năm 2008 là năm chi nhánh đạt mức kỷ lục trong

vòng 5 năm trở lại đây với doanh số mua bán đạt 1.050 triệu USD Doanh số mua

bán ngoại tệ năm 2010 giảm gần 50% so với năm 2009 (năm 2010 đạt 320 triệuUSD và năm 2009 là 632 triệu USD) Trong 6 tháng đầu năm 2011 doanh số muabán ngoại tệ của Chi nhánh đạt 268,6 triệu USD tăng 17,3 % so với cùng kỳ năm2010

Về các hoạt động khác:

Số lượng thẻ ATM phát hành mới của VCB Hà nội tính đến ngày 30/06/2011đạt 7.280 thẻ, đạt 49,2% so với kế hoạch năm 2011 Số lượng thẻ tín dụng mới tínhđến ngày 30/06/2011 đạt 776 thẻ, đạt 59,7% so với kế hoạch năm 2011 tăng 57,1%

so với cùng kỳ năm 2010 Số lượng thẻ ghi nợ mới đạt 2.882 thẻ đạt 94,1% kếhoạch và tăng gần 2,5 lần so với cùng kỳ năm 2010

Số lượng khách hàng sử dụng SMS banking và internet banking tính đếnngày 30/06/2011 đều chưa đạt được 50% so với kế hoạch VCB Hội sở chính giao

Về kết quả hoạt động kinh doanh: Năm 2007, chi nhánh đạt lợi nhuận kinh

doanh trước thuế là 101 tỷ đồng Năm 2008 lợi nhuận của chi nhánh là 101,5 tỷđồng sau khi trích lập dự phòng rủi ro Năm 2010 lợi nhuận trước thuế đạt 133 tỷ

Trang 12

đồng và là mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây Tính đến ngày 30/06/2011,lợi nhuận của chi nhánh đạt 124 tỷ đồng trong khi kế hoạch của năm là 146 tỷ đồng,đạt gần 85% kế hoạch được giao.

2.4 Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

+ Công tác tổ chức thẩm định dự án được thực hiện như sau:

1- Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ dự án xin vay vốn Nếu hồ sơ vay vốn chưa đủ

cơ sở để thẩm định thì chuyển lại để Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng hoànchỉnh, bổ sung hồ sơ Nếu đã đủ cơ sở thẩm định thì ký giao nhận hồ sơ vào Sổ theodõi và giao hồ sơ cho cán bộ trực tiếp thẩm định

2- Trên cơ sở đối chiếu các quy định, thông tin có liên quan và các nội dungyêu cầu (hoặc tham khảo) được quy định tại các hướng dẫn thuộc Quy trình này,Cán bộ thẩm định tổ chức xem xét, thẩm định DAĐT và khách hàng xin vay vốn.Nếu cần thiết, đề nghị Cán bộ tín dụng hoặc khách hàng bổ sung hồ sơ hoặc giảitrình rõ thêm

3- Cán bộ thẩm định lập Báo cáo thẩm định dự án, trình Trưởng phòng Thẩmđịnh xem xét

4- Trưởng phòng Thẩm định kiểm tra, kiểm soát về nghiệp vụ, thông quahoặc yêu cầu Cán bộ thẩm định chỉnh sửa, làm rõ các nội dung

5- Cán bộ thẩm định hoàn chỉnh nội dung Báo cáo thẩm định, trình Trưởngphòng Thẩm định ký thông qua, lưu hồ sơ, tài liệu cần thiết và gửi trả hồ sơ kèmBáo cáo thẩm định cho Phòng Tín dụng

+ Quy trình thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng VCB

Hà Nội:

Từ 1/9/2008, VCB Hà Nội thực hiện công tác thẩm định theo “Quy trình Tíndụng đối với khách hàng Tổ chức” theo quyết định số 246/QĐ-NHNT.CSTD kýngày 22/7/2008 của Tổng giám đốc Quy trình này hướng dẫn quy trình cần thiết,

hồ sơ mẫu, phân công trách nhiệm cụ thể từng bộ phận

+ Nội dung thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng VCB

Trang 13

Hà Nội:

- Thẩm định tổng vốn đầu tư và tính khả thi phương án nguồn vốn

- Thẩm định bảng doanh thu, chi phí và dòng tiền của dự án

- Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án

- Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của dự án đặc biệt là các rủi ro cóthể xảy ra ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của dự án

+ Kết quả thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

Năm 2008, Ngân hàng thẩm định cho vay 9 dự án, sau khi thẩm định số dự

án được duyệt cho vay là 5 có tổng mức vốn đầu tư 525 tỷ đồng, trong đó ngânhàng chấp thuận cho vay 480 tỷ đồng

Năm 2009, Ngân hàng nhận được hơn 20 dự án xin vay vốn đầu tư, nhưng

do thủ tục của một số chủ đầu tư không rõ ràng, mình bạch nên đã thẩm định 20 dự

án Sau quá quá trình thẩm định số dự án được duyệt đạt con số 13 với tổng mứcvốn đầu tư 985 tỷ đồng và ngân hàng đồng ý cho vay 915 tỷ đồng Trong số các dự

án bị từ chối cho vay với lý do chưa chứng minh được thị trường tiêu thụ, xác địnhdoanh thu thiếu cơ sở…

Năm 2010, số dự án được duyệt là 29 trên tổng số 39 dự án đưa vào thẩmđịnh trước khi quyết định cho vay với tổng mức đầu tư đạt trên 2.500 tỷ đồng

Tính đến thời điểm này, nhiều dự án Ngân hàng đã giải ngân trong các năm

2008, 2009, 2010 đã và đang đi vào hoạt động theo đúng dự báo của Ngân hàngtrong quá trình thẩm định và đã tiến hành trả nợ đúng thời hạn Tuy vậy, cũng cónhiều dự án đã triển khai công việc chưa tốt, chưa thể trả nợ đúng hạn…Do ảnhhưởng của kinh tế vĩ mô không tốt, nên chủ đầu tư đã triển khai dự án không đạtđược mục tiêu đề ra ban đầu

Sáu tháng đầu năm 2011, số dự án xin vay vốn tiếp tục tăng 17 trong tổng số

22 dự án thẩm định được duyệt cho vay với tổng mức đầu tư 1.550 tỷ đồng

2.5 Đánh giá chất lượng thẩm định tài chính trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội

+ Những kết quả đạt được:

- Thứ nhất, các yếu tố như kế hoạch vốn, nguồn tài trợ, dòng tiền và các chỉ

Trang 14

tiêu phản ánh hiệu quả tài chính dự án được xác định một cách khoa học, và toàndiện Ngoài ra trong việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính ngân hàng cũng đã xử lýtheo quy tắc giá trị thời gian của tiền.

- Thứ hai, dự án được thẩm định có tính đến các nhân tố ảnh hưởng của môitrường, cả chủ quan và khách quan Từ đó, Ngân hàng có thể dự kiến được nhữngrủi ro hay những biến động biến động bất lợi như về nguyên giá, về thị hiếu củangười tiêu dùng, về chính sách chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, về đốithủ cạnh tranh, về hạn ngạch và tìm cách hạn chế những rủi ro này

- Thứ ba, dự án được ngân hàng thẩm định trong một thời gian ngắn với chiphí thấp nhất cho chủ đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để chủ đầu tư có thể đưa dự án

đi vào hoạt động, đây là nhân tố có tác động tích cực đến thành công của dự án khi

dự án đi vào hoạt động

+ Những hạn chế và nguyên nhân:

- Hạn chế:

Công tác thẩm định tài chính trong một số dự án đầu tư vẫn chưa thực sự tốtThẩm định tổng vốn đầu tư còn chưa được được tính toán đầy đủ và chính xácViệc thẩm định doanh thu, chi phí hoạt động của dự án đôi khi thiếu chính xácViệc xác định các dòng tiền trong thẩm định dòng tiền ròng từ dự án cònthiếu chính xác

Việc lựa chọn tỷ lệ chiết khấu cũng chưa hợp lý

Phân tích độ nhạy của dự án còn yếu Các bản dự trù tài chính được lập chưachính xác, đầy đủ

Phương pháp thẩm định tài chính DAĐT chưa hoàn toàn hợp lý

Chưa có sự đánh giá kết quả thẩm định TCDA, đúc kết kinh nghiệm khi dự

án đi vào hoạt động

- Nguyên nhân

Thứ nhất: Sự thiếu hụt thông tin cơ sở dữ liệu về thị trường ngành nghề vàlĩnh vực

- Thứ hai: Nhận thức chưa đúng về vai trò của công tác thẩm định

- Thứ ba: Số lượng và chất lượng cán bộ chưa theo kịp yêu cầu

Trang 15

- Thứ tư: Công tác tổ chức điều hành của NHNT chưa thực sự tối ưu

- Thứ năm: Do trang thiết bị, công nghệ còn thiếu

- Thứ sáu: Do chưa khai thác và sử dụng triệt để các nguồn thông tin phục vụcho công tác thẩm định

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM –

CHI NHÁNH HÀ NỘI 3.1 Định hướng hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

Đẩy mạnh công tác huy động vốn nhằm đạt kế hoạch tăng trưởng tổng nguồnvốn 16%

Hoàn thiện các công việc triển khai mô hình tổ chức hướng tới khách hàng,nâng cao năng lực quản trị rủi ro, nâng cao quy trình hóa các nghiệp vụ theo môhình quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế

Đổi mới công tác kiểm tra nội bộ, tăng cường số lượng và chất lượng cáccán bộ kiểm tra, đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động kiểm tra

Củng cố tăng cường mở rộng quan hệ với khách hàng truyền thống, kháchhàng mới

Tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển mạng lưới, chú trọng việc nâng cấp

cơ sở vật chất

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh

Hà Nội

- Nâng cao nhận thức về vai trò công tác thẩm định tài chính dự án

Vấn đề tiên quyết đối với việc nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án

là phải nhận thức đúng đắn về công tác thẩm định dự án, từ đó xác định rõ ràng vềhoạt động thẩm định trong chiến lược chung của ngân hàng có gắn kết với các hoạt

Trang 16

động nghiệp vụ khác nhằm phát huy được vai trò của công tác thẩm định phù hợpvới định hướng hoạt động cho vay của ngân hàng trong từng thời kỳ.

- Nâng cao trình độ và phẩm chất cán bộ tín dụng

Con người là một yếu tố hết sức quan trọng, quyết định đến sự thành bạitrong công tác thẩm định Xã hội càng phát triển đòi hỏi cán bộ thẩm định phải ứngphó kịp thời, hiệu quả với các tình huống khác nhau của trong hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng

- Cải tiến nội dung và phương pháp thẩm định

Mặc dù hoạt động thẩm định TCDA của VCB Hà Nội đã thực hiện theo đúngquy trình thẩm định do Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam ban hành nhưngviệc tuân thủ theo quy trình đó đôi khi chỉ mang tính hình thức bên ngoài Thực tếcác nội dung được quy định trong quy trình chưa được ngân hàng thẩm định mộtcách chi tiết, cụ thể

- Nâng cao thẩm định mức độ rủi ro của dự án

Nâng cao công tác thẩm định mức độ rủi ro của dự án để đánh giá hiệu quả dự

án trong trạng thái động, gắn liền với những biến động có thể có của thị trường để từ đógiúp ngân hàng lường trước các rủi ro và có biện pháp phòng tránh thích hợp

- Nâng cao chất lượng công tác phân tích và đánh giá khách hàng

Ngân hàng thường xuyên tổ chức tốt việc kiểm tra, thẩm định để đánh giáchính xác khách hàng, từ đó có quyết định cho vay đúng đắn

- Nâng cao hệ thống thông tin phục vụ công tác thẩm định tài chính của dự

án đầu tư

Để tránh được những thông tin đánh giá không chính xác phiến diện thì cán

bộ thẩm định phải có được đầy đủ thông tin xung quanh dự án đầu tư, những thôngtin này phải có độ trung thực cao

- Nâng cấp trang thiết bị công nghệ, công nghệ thông tin phục vụ công tácthẩm định

Ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống thông tin phục vụ cho công tácthẩm định tài chính dự án Đó là một hệ thống thông tin lưu trữ các số liệu của các

Trang 17

dự án đã được đầu tư theo ngành, lĩnh vực trên cơ sở cập nhật số liệu từ các địaphương để làm cơ sở xem xét cho các dự án đầu tư tiếp theo

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lương thẩm định tài chính dự án

+ Kiến nghị đối với Nhà nước, Các Bộ Ban ngành và chính quyền địa phương

- Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô

- Hoàn thiện công tác kiểm toán-kế toán, thống kê

- Các bộ chủ quản: cần sửa đổi các quy định về đơn giá xây dựng, định mứctiêu hao nguyên vật liệu, giới hạn suất đầu tư, định mức các hạng mục chi phí hợp

lý cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể, phù hợp với tình hình điều kiện kinh tế xãhội của đất nước

- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành, chính quyền địa phươngtrong việc thẩm định và phê duyệt dự án

- Chính phủ và các Bộ ngành cần nghiên cứu thành lập hoặc khuyến khíchthành lập các tổ chức, doanh nghiệp chuyên thu thập, đánh giá thông tin, xếp hạngdoanh nghiệp, tư vấn đầu tư…

+ Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam

Xây dựng hệ thống thông tin tập trung trên toàn hệ thống VCB, với nhữngthông tin được cập nhật từ nhiều nguồn khác nhau, tạo được những nguồn thông tinđáng tin cậy cho thẩm định TCDA trong toàn hệ thống

+ Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

NHNN cần kiện toàn tổ chức và cơ cấu hoạt động của CIC sao cho thốngnhất được thông tin trong phạm vi cả nước đồng thời tạo thuận lợi cho các ngânhàng thương mại trong việc cung cấp và tiếp nhận thông tin

+ Kiến nghị đối với Chủ đầu tư

Đề nghị chủ đầu tư xây dựng bộ hồ sơ dự án hoàn chỉnh Chủ động tích tựccung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về doanh nghiệp cũng như về dự án cho ngânhàng, tạo điều kiện cho ngân hàng thẩm định dự án một cách nhanh chóng và chínhxác nhất

Trang 18

2 Khái quát được thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tronghoạt động cho vay của VCB Hà Nội cũng như tham khảo công tác thẩm định tàichính dự án đầu tư tại các ngân hàng thương mại trong nước và nước ngoài nhằmrút kinh nghiệm cho việc xây dựng định hướng hoạt động thẩm định tài chính dự ánđầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

3 Đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoạithương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội và đề xuất một số kiến nghị với các ngành,các cấp có liên quan nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc nâng cao chất lượngthẩm định tài chính dự án

Trang 19

NGUYỄN ANH TUẤN

N¢NG CAO CHÊT L¦îNG THÈM §ÞNH TµI CHÝNH Dù ¸N TRONG HO¹T §éNG CHO VAY t¹i NG¢N HµNG TMCP NGO¹I TH¦¥NG VIÖT NAM - CHI NH¸NH Hµ NéI

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 62.31.12.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN MẠNH HÙNG

HÀ NỘI - 2011

Trang 20

MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài

Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP nói chung, cho vay theo

dự án đầu tư đang là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu Những năm gần đây,hình thức cho vay này có tốc độ phát triển nhanh chóng nhưng cũng tiềm ẩn nhiềurủi ro cho ngân hàng Để đảm bảo hiệu quả đồng vốn cho vay và đảm bảo an toàncho hoạt động của ngân hàng, một nhiệm vụ đặt ra cấp thiết cho NHTM là phải đảmbảo tốt ngay từ khâu TĐDA nói chung và thẩm định tài chính của dự án nói riêng

Vì vậy, nâng cao công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư luôn được các ngânhàng hết sức quan tâm

Tuy nhiên đến nay công tác thẩm định tài chính dự án tại các ngân hàngTMCP nói chung và Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh HàNội bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa phát huy được hết vai trò của nó trong hoạtđộng Ngân hàng

Xuất phát từ vài trò và ý nghĩa của công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư,

và thực tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng thẩm định TCDA, tác giả lựa chọn đềtài “Nâng cao chất lượng thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay tại Ngân hàngTMCP Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu nhằmđánh giá thực trạng trong những năm gần đây và đưa ra một số giải pháp cụ thể gópphần nâng cao chất lượng công tác này trong hoạt động cho vay của VCB Hà Nội

2- Mục tiêu đề tài nghiên cứu

- Khái quát cơ sở lý luận khoa học về công tác thẩm định tài chính dự án đầu

tư trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại;

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tưtrong hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – chinhánh Hà Nội;

- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao công tác thẩm địnhtài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP NgoạiThương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội

3- Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Trang 21

Đối tượng nghiên cứu: Nội dung của đề tài chủ yếu tập trung vào thẩm định

tài chính và chất lượng thẩm định TCDA trên giác độ NHTM Do vậy các nội dungthẩm định khác như: về mặt kỹ thuật, thị trường, môi trường tự nhiên, xã hội, chínhsách…của dự án không được đề cập và nghiên cứu như những nội dụng cơ bản củaluận văn

Phạm vi nghiên cứu: Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt

động cho vay của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nộicùng hệ thống số liệu, văn bản tài liệu trong ba năm gần đây

4- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận cơ bản dựa trên nền tảng của phương pháp duy vật biệnchứng kết hợp với các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp

5- Kết cấu của luận văn

- Tên đề tài: “Nâng cao chất lượng thẩm định TCDA trong hoạt động cho

vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – CN Hà Nội”

- Kết cấu: Ngoài phần mở đầu, kết luận, và các phụ lục, luận văn gồm 3chương chính:

o Chương 1: Tổng quan về dự án và chất lượng thẩm định tài chính củaNgân hàng Thương mại

o Chương 2: Thực trạng chất lượng thẩm định dự án TCDA trong hoạt độngcho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – CN Hà Nội

o Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định TCDA trong hoạtđộng cho vay tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam – CN Hà Nội

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm cơ bản

1.1.1 Dự án đầu tư và thẩm định tài chính dự án đầu tư

1.1.1.1 Dự án đầu tư

Dự án đầu tư hay còn gọi là luận chứng kinh tế kỹ thuật là văn bản phản ánhtrung thực kết quả nghiên cứu cụ thể toàn bộ các vấn đề về thị trường, kinh tế kỹthuật…có ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành khai thác và tính sinh lời của dự ándầu tư Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất dựa trên căn cứ khoa học và thực tiễn

về việc bỏ vốn xây dựng mới, mở rộng cải tạo, đổi mới kỹ thuật và công nghệ, đó lànhững tài sản cố định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nângcao chất lượng của sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian nhất định

Trong luật Đầu tư số ngày 29/11/2005 được Quốc hội thông qua số59/2005/QH11 định nghĩa: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dàihạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gianxác định

Dự án có vai trò rất quan trọng đối với chủ đầu tư, các nhà quản lý và tácđộng trực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội Nếu không có dự án đầu tư,nền kinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển Dự án là căn cứ để các tổ chứctài chính đưa ra quyết định tài trợ, các cơ quan chức năng của Nhà nước phê duyệt

và cấp giấy phép đầu tư Dự án được coi là công cụ quan trọng trong quản lý vốnvật tư, lao động trong quá trình thực hiện đầu tư

Đặc điểm của dự án:

- Dự án không chỉ là một ý tưởng hay sự phác thảo, mà còn phải bao hàm cảhành động gắn với một mục tiêu cụ thể Nếu như không có hành động thì một dự ánmãi mãi sẽ chỉ tồn tại ở trạng thái tiềm năng

- Dự án không phải là nghiên cứu trừu tượng mà nó phải nhằm đáp ứng một

Trang 23

yêu cầu cụ thể được đặt ra, tạo nên một thực tế mới Tức là khi xây dựng nên dự án,cần phải có mục tiêu cụ thể nhằm phục vụ cho một nhu cầu, yêu cầu nào đó.

- Dự án bị khống chế về thời gian Một dự án khi triển khai phải có thời hạnkết thúc Mọi sự chậm trễ sẽ tạo nên một kết cục không tốt, có thể làm lỡ mất cơ hộiphát triển, kéo theo những bất lợi khác cho nhà đầu tư và có thể cho nền kinh tế

- Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực Các dự án ít nhiều sẽ chịu ràng buộcnhất định, có thể về vốn, lao động, vật tư Dự án càng lớn thì mức độ ràng buộc vềnguồn lực càng cao và càng phức tạp; trong quá trình thực hiện dự án đều bị chiphối bởi nhiều mối quan hệ như: chủ đầu tư, nhà tài trợ, nhân công Xử lý tốt cácràng buộc này là yếu tố quan trọng góp phần đạt tới mục tiêu của dự án

- Dự án tồn tại trong một môi trường luận văn - báo cáo - tiểu luận - tài liệuchuyên ngành môi trường không chắc chắn tuyệt đối Vì thế trong quá trình triểnkhai dự án chứa đựng nhiều yếu tố bất định Do đó, trong dự án rủi ro thường lớn và

có thể xảy ra Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của dự án Rất nhiềurủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án Vì vậy, công tác thẩm định dự

án đặc biệt quan trọng; thẩm định chính xác, kỹ lưỡng sâu sắc sẽ hạn chế các tổnthất có thể xảy ra

1.1.1.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư

Thẩm định tài chính dự án được xem là một nội dung kinh tế quan trọng Nó nhằm đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự án và là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội Đứng trên góc độ doanh nghiệp, nhà đầu tư,

thẩm định tài chính dự án là một căn cứ tin cậy để quản lý dự án và ra quyết địnhđầu tư Đứng trên góc độ của các định chế tài chính cấp vốn cho dự án thì thẩm địnhtài chính dự án là căn cứ để ra quyết định cung cấp vốn và số lượng vốn có thể chovay cũng như các hình thức trả nợ Đối với cơ quan quản lý nhà nước thì thẩm địnhtài chính dự án đầu tư là căn cứ để cấp phép đầu tư cho dự án

Để thấy được vai trò của thẩm định tài chính dự án đầu tư, trước tiên chúng

ta phải hiểu rõ thẩm định tài chính dự án là gì, sự cần thiết phải thẩm định tài chính

dự án đầu tư

Thẩm định tài chính dự án đầu tư thực chất là tập hợp các hoạt động

Trang 24

nhằm xác định luồng tiền của dự án như tổng mức đầu tư, nguồn tài trợ và tính toán, phân tích các chỉ tiêu trên cơ sở các luồng tiền nhằm đưa ra các đánh giá về hiệu quả tài chính của dự án đầu tư.

Tại sao chúng ta phải thẩm định tài chính dự án đầu tư?

- Dự án dù được chuẩn bị, phân tích kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủquan của nhà phân tích và lập dự án, những khiếm khuyết, lệch lạc tồn tại trong quátrình lập dự án là đương nhiên Để khẳng định được một cách chắc chắn hơn mức

độ hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện

dự án, cần phải xem xét, kiểm tra lại một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạnthảo dự án, hay nói cách khác cần thẩm định tài chính dự án Thẩm định tài chính

dự án giúp cho chủ đầu tư khắc phục được tính chủ quan của người soạn thảo vàgiúp cho việc phát hiện, bổ sung những thiếu sót trong từng nội dung phân tích tàichính của dự án

- Thẩm định tài chính dự án đầu tư nhằm giúp chủ đầu tư hay doanh nghiệplựa chọn các dự án có tính khả thi cao (có khả năng thực hiện, đem lại hiệu quả vàhiệu quả chắc chắn); loại bỏ được các dự án đầu tư không khả thi, tránh bỏ lỡ các cơhội đầu tư có lợi

Mục đích của thẩm định tài chính dự án là giúp chủ đầu tư đánh giá tính hợp

lý của dự án về mặt tài chính, được thể hiện trong từng nội dung và cách thức tínhtoán của dự án, nó còn được thể hiện cả trong tính hiệu quả và khả năng thực hiệncủa dự án Thẩm định tài chính dự án tạo ra cơ sở vững chắc cho việc thực hiện hoạtđộng đầu tư có hiệu quả

Để xác định có nên đầu tư vào một dự án hay không thì công tác thẩm địnhtài chính phải đánh giá được: Ngăn chặn các dự án xấu; bảo vệ các dự án tốt không

bị bác bỏ; xác định các thành phần của dự án có thống nhất với nhau không; đánhgiá nguồn và độ lớn của rủi ro; xác định làm thế nào để giảm rủi ro và xây dựng các

cơ chế chia sẻ rủi ro; cung cấp thông tin để thiết kế lại dự án Từ đó đánh giá đượctính khả thi và hiệu quả của dự án Đây là điều kiện quan trọng để dự án có thểđược thực hiện

Thẩm định tài chính là công cụ quản lý đầu tư hữu hiệu trong doanh nghiệp

Trang 25

Doanh nghiệp dựa vào những luận chứng phân tích trong báo cáo thẩm định đểđánh giá đây là một dự án tốt hay một dự án tồi, chi phí bỏ ra là bao nhiêu, lợinhuận thu được như thế nào, hiệu quả kinh tế xã hội ở mức độ nào Từ đó doanhnghiệp sẽ có những quyết định đúng đắn.

1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng

Thương mại

1.2.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại

1.2.1.1 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng thương mại hình thành tồn tại và phát triển gắn liền với sự pháttriển của kinh tế hàng hóa Sự phát triển hệ thống ngân hàng thương mại đã tácđộng rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngượclại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó – kinh tế thịtrường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thànhnhững định chế tài chính không thể thiếu được

Luật các tổ chức tín dụng (số 47/2010/QH12) chỉ rõ: “Ngân hàng là loại hình

tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinhdoanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ vàdịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này

để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

Có thể thấy rằng, ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quantrọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế Thông qua hệ thống định chế này mà cácnguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động , tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn có thểcho vay phát triển nền kinh tế

Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại bao gồm 3 hoạt động cơ bản sau

đây: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và đầu tư, hoạt động trung gian.

a- Hoạt động huy động vốn

Tùy thuộc vào hình thức sở hữu của NHTM thì phương thức huy động vốn

sẽ khác nhau; đối với NHTMCP, vốn chủ sở hữu được tạo lập bằng cách phát hành

cổ phiếu Đối với ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước, nguồn vốn này do Nhànước cấp…Trên thực tế, nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số

Trang 26

nguồn vốn kinh doanh của NHTM NHTM hoạt động chủ yếu bằng các nguồn vốnhuy động được từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thông qua việc cung cấpcác dịch vụ: tài khoản tiền gửi tiết kiệm, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản séc,chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng…Trong các trường hợp cần thiết NHTM cóthể vay vốn từ các ngân hàng khác, từ ngân hàng trung ương, các tổ chức tài chínhtrung gian khác

b- Hoạt động cho vay và đầu tư

- Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo

ra lợi nhuận Lãi suất thu được từ cho vay có thể bù đắp được chi phí tiền gửi, chiphí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, thuế và các loại chiphí rủi ro đầu tư khác Ngân hàng có thể cho vay cá nhân, hộ gia đình, doanhnghiệp hay các cơ quan chính quyền để phục vụ cho mục đích đầu tư kinh doanhhay tiêu dùng hoặc cũng có thể trực tiếp tham gia đầu tư, góp vốn hợp tác kinhdoanh

- Đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau hoạt động cho vay, nó mang lại

khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại Trong nghiệp vụ này,ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dướinhiều hình thức như: góp vốn, mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty (chỉ được phépthực hiện bằng vốn của ngân hàng), mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty.Nhờ vào hoạt động đầu tư mà rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng được phân tán

c- Hoạt động trung gian

Ngày nay, do trình độ, công nghệ… có bước phát triển đáng kể, cùng vớihàng loạt chính sách mới ra đời nên hoạt động trung gian của ngân hàng càng pháttriển Các hoạt động này gồm: các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ cho khách hàng(chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán…), nhận bảoquản các tài sản quý giá, các giấy tờ, chứng thư quan trọng của dân chúng, bảo quảnmua bán hộ chứng khoán theo ủy nhiệm của khách hàng, tư vấn tài chính, bảo lãnh,kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý…

Nguồn thu nhập từ hoạt động này tuy chưa cao nhưng tương đối ổn định và

độ rủi ro thấp Các dịch vụ này không ngừng phát triển đã góp phần hoàn thiện chất

Trang 27

lượng dịch vụ ngân hàng Khách hàng khi có nhu cầu đều được đáp ứng một cáchthuận tiện nhanh chóng, tiết kiệm và an toàn Do vậy các ngân hàng thương mại đãthu hút được số lượng lớn và đa dạng đối tượng khách hàng kéo theo doanh thu củangân hàng từ hoạt động này cũng tăng nhanh.

1.2.1.2 Hoạt động cho vay dự án của Ngân hàng thương mại

Cho vay là hoạt động sử dụng vốn, trong đó NHTM sử dụng một phần vốnchủ sở hữu và phần lớn vốn huy động được từ cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức… đểcho các đơn vị, cá nhân có nhu cầu về vốn vay và thu một khoản lãi nhất định trên

số tiền vay trong một khoảng thời gian được xác định trước Thực chất hoạt độngcho vay của NHTM là việc ngân hàng chuyển quyền sử dụng một lượng vốn nhấtđịnh từ ngân hàng sang khách hàng vay vốn, theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãiđúng hạn, khoản thu từ lãi cho vay đảm bảo cho ngân hàng trang trải hết các chi phí

và lợi nhuận

Đặc điểm hoạt động cho vay dự án:

- Cho vay theo dự án là hoạt động cho vay trung và dài hạn, nhưng theo hạncho vay không được vượt quá thời gian khấu hao của tài sản hình thành từ vốn vay

đó, vì khấu hao được xem như là nguồn trả nợ gốc chủ yếu của vốn vây đó

- Cho vay theo dự án có mức rủi ro cao hơn so với hoạt động cho vay ngắnhạn, vì về cơ bản thời gian càng dài thì mức độ rủi ro càng cao Vì vậy để bù đắp rủi

ro, các ngân hàng thường áp dụng mức suất thả nổi tùy theo thỏa thuận giữa ngânhàng và khách hàng

- Các dự án thường đòi hỏi một khoản vay lớn, tuy nhiên không phải ngânhàng sẽ đáp ứng tất cả các khoản vay đó, mà ngân hàng sẽ căn cứ vào nhu cầu vayvốn của khách hàng tham gia vào dự án, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sảnlàm đảm bảo tiền vay, khả năng nguồn vốn của ngân hàng để xác định mức cho vayhợp lý đối với sự dự án đó

Quy trình cho vay dự án đầu tư:

Cũng như các khoản cho vay khác của NHTM, cho vay dự án đầu tư vớikhách hàng, được mở đầu bằng việc xem xét và quyết định cho vay, sau đó là giải

Trang 28

ngân (hay còn gọi là phát tiền vay), theo dõi nợ và kết thúc bằng việc thu hồi nợ gốc

và lãi Chu kỳ cho vay dự án đầu tư cũng có thể diễn đạt bằng sơ đồ: T-T’ Có thểchi tiết quy trình cho vay như sau:

1 Xét duyệt cho vay 2 Giải ngân 3 Kiểm tra quá trình sử

dụng vốn và thu hồi nợNhận và kiểm tra hồ sơ

vay vốn của khác hàng

Thẩm định dự án xin vay

Xét duyệt và quyết định

cho vay

Nhận và kiểm tra các căn

cứ giải ngân; thực hiệngiải ngân theo tiến độ dựán

Được thực hiện sau khigiải ngân nhằm đảm bảovốn vay được sử dụngđúng mục đích và hoàn trảđầy đủ cả gốc và lãi đúngthỏa thuận

Thẩm định dự án đầu tư xin vay:

Trong quy trình cho vay theo dự án, TĐDA là một mắt xích quan trọng Bảnchất công việc này là dùng một số kỹ thuật phân tích, đánh giá toàn bộ các vấn đề,các phương tiện trình bày trong dự án theo một số tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật vàtheo một trình tự hợp lý, chặt chẽ nhằm rút ra những kết luận chính xác về giá trịcủa dự án, từ đó có quyết định cho vay đúng mức, chắc chắn mang lại hiệu quả kinh

tế dự định

Đối với các NHTM, việc TĐDA đầu tư xin vay có thể dựa vào kết quả thẩmđịnh dự án đầu tư của các tổ chức thẩm định độc lập chuyên nghiệp (có thể là tổchức thuộc nhà nước hoặc tư nhân) Trong trường hợp này, ngân hàng phải có khảnăng đánh giá chất lượng TĐDA được thực hiện bởi một tổ chức thẩm định nào đó

Trong trường hợp dự án đầu tư xin vay có quy mô vừa và nhỏ, thời hạn thuhồi vốn không quá năm năm, ngân hàng phải tự TĐDA đầu tư xin vay Dù tái thẩmđịnh hay tự thẩm định thì ngân hàng đều cần có đội ngũ cán bộ đủ sức đánh giá dự

án đầu tư xin vay và từ đó đưa ra kết luận chấp nhận hay từ chối tài trợ đối với dự

án đầu tư xin vay

Muốn thẩm định hay tái thẩm định một dự án đầu tư xin vay có kết quả

Trang 29

mong muốn phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu thậpthông tin cần thiết cho việc đánh giá dự án đầu tư, xử lý thông tin bằng nhữngphương pháp thẩm định nhất định và đi đến những kết luận cụ thể và xác đáng đượcghi trong tờ trình TĐDA đầu tư.

Xét về nội dung TĐDA, người ta thường thực hiện thẩm định ba mặt cơ bản

là các phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế và phương diện tài chính

Thẩm định dự án đầu tư về mặt kỹ thuật là đi sâu vào nghiên cứu và phântích các yếu tỗ kỹ thuật và công nghệ, thiết bị chủ yếu của dự án đầu tư để đảm bảotính khả thi của dự án đầu tư khi thi công xây dựng cũng nhưng khi vận hành côngtrình hoàn thành Ở đây người ta chú ý đến sự phù hợp của quy mô dự án đầu tư vớikhả năng tiêu thụ sản phẩm, nguồn vật liệu, năng lực, năng lực quản lý của doanhnghiệp Sự lựa chọn thiết bị và công nghệ của dự án đầu tư, sự cung ứng nguyên vậtliệu và các yếu tố đầu vào; sự lựa chọn địa điểm xây dựng công trình, việc quản lý

dự án từ khi thai nghén đến khi kết thúc đưa vào sử dụng

Thẩm định về mặt kinh tế xã hội của dự án đầu tư là xét đến lợi ích của dự ántrên quan điểm vĩ mô Nó thường được xem xét dựa trên một số chỉ số sinh lời xãhội như mức đóng góp của dự án đầu tư cho nền kinh tế do tiết kiệm chi phí nhậpkhẩu của các sản phẩm nhập khẩu tương tự, chỉ số hoàn vốn, mức gia tăng việc làm,mức đóng góp vào ngân sách nhà nước, mức tích lũy…Đồng thời ở đây người tacòn xem xét ảnh hưởng của dự án đầu tư đến môi trường, đến sinh hoạt văn hóa vàđến sự phát triển kinh tế của địa phương

Thẩm định phương diện tài chính của dự án là việc phân tích, đánh giá kếtluận việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong tài trợ, khả năng sinh lời, khả nănghoàn trả nợ, khả năng ứng phó trước những thử thách trong quá trình đưa dự án đầu

tư vào thực hiện

1.2.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại

1.2.2.1 Sự cần thiết phải thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay của NHTM

Đối với NHTM, việc tài trợ cho dự án đầu tư là hoạt động có thể mạng lại lợi

Trang 30

nhuận lớn cho ngân hàng, tuy nhiên đồng nghĩa với nó là rủi ro Chính vì vậy vấn

đề mà ngân hàng quan tâm trong hoạt động cho vay là vốn vay có được đảm bảo sẽthu được đầy đủ, đúng hạn hay không, và ngân hàng sẽ thu được những lợi ích gì từhoạt động cho vay đó Để có được câu trả lời chính xác thì ngân hàng phải thẩmđịnh TCDA để tránh những tổn thất không đáng có, đồng thời không bỏ lỡ cơ hội

về lợi nhuận Việc thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay vay dự án sẽ giúpcho:

- Thông qua thẩm định với những kết quả thu được, ngân hàng có cơ sởtương đối chính xác để xác định được tính khả thi, hiệu quả của dự án, mà quantrọng hơn cả là xác định được khả năng trả nợ của doanh nghiệp để quyết định chovay hay từ chối những dự án kém hiệu quả, không có khả năng hoàn trả

- Ngân hàng dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra, ảnh hưởng đến quátrình triển khai thực hiện dự án như các yếu tố về sự biến động thị trường, nguyênliệu đầu vào, chi phí sản xuất, các yếu tố về môi trường, chính sách quản lý…Trên

cơ sở này phát hiện và bổ sung thêm các biện pháp khắc phục hoặc hạn chế rủi ro,đồng thời tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước và chủ đầu tư từ đó nâng cao tínhkhả thi trong việc thực hiện dự án

- Ngân hàng có phương án hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất khi xácđịnh giá trị khoản vay, thời hạn, lãi suất, mức thu nợ và hình thức thu nợ hợp lý, tạođiều kiện cho dự án hoạt động có hiệu quả

- Ngân hàng tạo ra các căn cứ để kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích,đúng đối tượng và tiết kiệm vốn đầu tư trong quá trình thực hiện dự án

- Ngân hàng rút ra kinh nghiệm trong hoạt động đầu tư, cho vay để chấtlượng hoạt động cho vay của ngân hàng ngày càng được nâng cao

Do đó, công tác thẩm định TCDA là rất quan trọng trong hoạt động cho vay

dự án của NHTM Công tác thẩm định TCDA không những đem lại quyết định chovay chính xác mà còn giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng, tạo ra sự antoàn, chắc chắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phục vụ kịp thời nhu cầu vốncho doanh nghiệp đồng thời giúp cho doanh nghiệp không bỏ lỡ cơ hội đầu tư cóhiệu quả

Xuất phát từ tính cấp thiết, tính thực tế đó mà thẩm định TCDA đã và đang

Trang 31

trở thành một bộ phận quan trọng mang tính quyết định trong hoạt động tín dụngtrung và dài hạn của mỗi NHTM.

1.2.2.2 Quy trình thẩm định TCDA trong hoạt động cho vay của NHTM

Quy trình thẩm định TCDA của một ngân hàng là toàn bộ quá trình từ khinhận được các tài liệu về dự án, hồ sơ xin vay vốn của chủ đầu tư tới lúc ngân hàngđưa ra quyết định cuối cùng Quy trình thẩm định dự án tại các NHTM có thể khônghoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung quy trình này được diễn ra như sau:

Hình 1.2: Quy trình thẩm định tài chính dự án

1.2.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Thẩm định tổng vốn đầu tư vào dự án

Tổng vốn đầu tư: Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốncần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động Tổng mức vốn đầu tư được chialàm hai loại là vốn cố định và vốn lưu động ban đầu

- Vốn cố định, bao gồm:

Chi phí chuẩn bị: là những chi phí trước khi thực hiện dự án Chi phí này bao

Phân tích các nguồn tài trợ cho dự án Xem xét lại và phân tích kế hoạch tài chính của dự án

Dự báo, phân tích dòng tiền chi phí, dòng tiền thu nhập của dự án

Tính toán, phân tích các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án

Xem xét lại dự

báo về cầu

Xem xét lại kế hoạch SXKD

Đánh giá và

ra quyết định

Trang 32

gồm: chi phí cho điều tra, khảo sát, tư vấn, thiết kế để lập trình duyệt dự án, chi phíquản lý dự án, chi phí đào tạo, huấn luyện nhân công

Chi phí cho xây lắp và mua sắm thiết bị: gồm các chi phí về mặt đất, mặtnước, chuẩn bị mặt bằng xây dựng, nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có, chi phíxây mới, cả tạo nhà xường, cấu trúc hạ tầng, dây chuyển máy móc thiết bị, phươngtiện vận tải…và các chi phí khác

- Vốn lưu động ban đầu: gồm các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầucho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên nhằm đảm bảo cho dự án có thể đi vàohoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật đã dự kiến; bao gồm: vốnsản xuất (chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, nhiên liệu…) và vốn lưu thông (thànhphần tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng hóa bán chịu, vốn bằng tiền…)

Thẩm định tổng vốn đầu tư là việc ngân hàng kiểm tra, xem xét để xác địnhtổng vốn đầu tư cần thiết cho dự án sao cho sát với thực tế và đúng với các quy địnhhiện hành của nhà nước Việc xác định chính xác tổng vốn đầu tư của dự án là rấtcần thiết Nếu vốn đầu tư của dự án mà thiếu hoặc không được cung cấp kịp thời,đúng tiến độ sẽ gây khó khăn trong việc triển khai vận hành dự án Ngược lại nếu

dư thừa vốn đầu tư dẫn tới lãng phí làm giảm hiệu quả tài chính của dự án

1.2.3.2 Thẩm định nguồn vốn tài trợ cho dự án

Sau khi xem xét tổng mức đầu tư của dự án, ngân hàng tiến hành xem xét cácnguồn vốn tài trợ cho dự án, cơ cấu của nguồn vốn, khả năng đảm bảo của nguồnvốn (số lượng) và tiến độ bỏ vốn hợp lý để từ đó quyết định mức tài trợ và lịch trìnhcho vay thích hợp

Việc thẩm định chỉ tiêu này cần chỉ rõ mức vốn đầu tư cần thiết từ nguồnvốn dự kiến để đi sâu phân tích, tìm hiểu khả năng thực hiện nguồn vốn đó

Căn cứ vào các nguồn vốn có thể huy động cần quan tâm xử lý các nội dung

để đảm bảo khả năng về nguồn vốn như:

Vốn tự có của doanh nghiệp: Cần kiểm tra phân tích tình hình tài chính vàsản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp để xác định số vốn tự có của doanh nghiệp

Vốn trợ cấp ngân sách: Cần xem xét các cam kết bảo đảm của các cấp

có thẩm quyền đối với nguồn vốn ngân sách (UBND Tỉnh, Thành phố, Cơ

Trang 33

Thẩm định cơ cấu vốn, ngân hàng tiến hành tính toán tỷ lệ giữa vốn tự có sovới tổng nguồn vốn để đánh giá khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp.

Sau khi thẩm định về khả năng nguồn vốn, cơ cầu nguồn vốn tài trợ cho dự

án, sự phù hợp giữa nhu cầu về vốn của dự án và tiến độ cung cấp vốn của cácnguồn vốn, ngân hàng xác định số vốn có thể tài trợ và kế hoạch đầu tư của mìnhvào dự án

1.2.3.3 Thẩm định tính hợp lý của các báo cáo tài chính kế hoạch

Trước tiên, để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án nhà phân tích phải bắtđầu với báo cáo tài chính kế hoạch (hay dự toán) Từ đó có thể tính toán dòng tiềncủa dự án trên cơ sở đó, sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá dự án

Các báo cáo tài chính dự toán là phương tiện thuận lợi, dễ hiểu để tóm tắt cácthông tin phù hợp về dự án Các thông tin trong báo cáo tài chính dự toán là cơ sở

để xác định dòng tiền của dự án cũng như tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính.Chính vì vậy, ngân hàng đòi hỏi tính chính xác của báo cáo tài chính rất cao

Ngân hàng sẽ thẩm định tính chính xác, hợp lý, hợp lệ của các báo cáo tàichính kế hoạch được trình bày trong luận chứng kinh tế kỹ thuật của dự án Việcthẩm định sẽ dựa trên cơ sở các chỉ tiêu xây dựng nên các báo cáo tài chính dự trùnhư dự tính về sản lượng bán, giá bán đơn vị, chi phí biển đổi đơn vị, tổng chi phí

cố định, tổng vốn đầu tư cần thiết (bao gồm cả vốn đầu tư vào vốn lưu động ròng).Nếu các giả định đưa ra chưa hợp lý hoặc độ chính xác của các số liệu đưa ra trongcác báo cáo tài chính thấp thì ngân hàng sẽ dự báo, xây dựng lại các bảng dự trù tàichính cho phù hợp trên cơ sở định mức kinh tế, kỹ thuật của ngành do Nhà nước

Trang 34

hoặc các cơ quan chuyên môn công bố và dựa trên các kết quả thẩm định của ngânhàng về kỹ thuật, thị trường, tổ chức, kinh tế xã hội…

1.2.3.4 Thẩm định chi phí (toàn bộ hoạt động của dự án), doanh thu (dự kiến), và dòng tiền của dự án

- Thẩm định các khoản mục chi phí:

Các khoản chi phí biến đổi gồm: nguyên vật liệu, nhiên liệu, bao bì, bánthành phẩm, dịch vụ mua ngoài, điện, nước, phụ tùng…Đối với khoản mục chi phínày, ngân hàng tiến hành thẩm định nhu cầu, chính sách XNK nguyên vật liệu,những biến động về giá cả của từng loại, để đánh giá khả năng tự chủ về vật tư đầuvào của dự án và xác định chi phí dự tính đối với dự án trên cơ sở căn cứ là địnhmức kinh tế kỹ thuật của từng ngành mà dự án hoạt động, các chế độ chính sách củaNhà nước

Chi phí nhân công trực tiếp và quản lý gồm: Lương, phụ cấp, chế độ bảohiểm xã hội, trợ cấp và các khoản thu nhập khác của người lao động…Đối vớikhoản mục này ngân hàng tiến hành thẩm định về phương diện tổ chức, quản lýthực hiện dự án, như số lượng lao động dự án cần, những đòi hỏi vè tay nghề, trình

độ kỹ thuật, kế hoạch đào tạo, cơ cấu tổ chức…giúp cho việc xác định được chi phílao động trực tiếp, chi phí bán hàng, chi phí quản lý của chủ đầu tư đối với dự án

Chi phí lãi vay, khấu hao tài sản cố định: Đối với những khoản mục chi phínày, ngân hàng căn cứ vào kết quả thẩm định tính khả thi của nguồn vốn, cơ cấuvốn đầu tư để xác định chi phí vay vốn cố định, chi phí vay vốn lưu động và kếhoạch khấu hao tài sản cố định phải trích hàng năm Khấu hao là một chỉ tiêu tàichính rất nhạy cảm nó ảnh hưởng lớn đến tình trạng tài chính của dự án Do đó việcxác định phương pháp khấu hao hợp lý có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảmbảo hoạt động và khả năng trả nợ của dự án

Ngoài ra ngân hàng còn tiến hành dự tính các khoản chi phí khác như chi phíquản lý phân xưởng, chi phí sửa chữa máy móc thiết bị, nhà xưởng…và tiến hànhxác định trách nhiệm của chủ dự án đối với ngân sách trên cơ sở các chế độ thuếhiện hành, các chế độ ưu đãi riêng đối với dự án

Trang 35

- Thẩm định doanh thu dự án

Ngân hàng tiến hành thẩm định doanh thu dựa trên cơ sở tổng hợp khối lượng

dự kiến đưa vào lưu thông với đơn giá đơn vị của từng loại sản phẩm (sản phẩmchính, sản phẩm phụ), các khoản thu từ phế liệu và dịch vụ cung cấp bên ngoài, mứchuy động công suất so với công suất thiết kế và khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thịtrường (dịch vụ đầu ra và phương án tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp)

Trên cơ sở xác định doanh thu và chi phí, lợi nhuận của dự án cũng được xácđịnh bằng chênh lệch giữa doanh thu và các khoản chi phí Thông thường cácNHTM chỉ quan tâm đến lợi nhuận, vì đây là một trong các nguồn trả nợ chính chongân hàng

dự án chỉ nên căn cứ vào dòng tiền mặt của dự án thực sự sẵn sang cho việc sử dụng(chia lãi, trả nợ hoặc tái đầu tư) không kể dòng tiền mặt đó từ nguồn tài chính nào

Thông thường tất cả các dự án được phân tích trên cơ sở giả định dự án đangtrong quá trình hoạt động liên tục Điều đó có nghĩa là đã có thực hiện một khoảnđầu tư nào đó và cũng đã có những dòng tiền thu nào đó Như vậy, việc phân tích

dự án chỉ thích hợp khi xem xét những dòng tiền đầu tư mới và những dòng tiền thumới do việc đầu tư mới tạo ra Nói cách khác, những dòng tiền thích hợp cho việcphân tích dự án (bao gồm dòng tiền chi phí và dòng tiền thu ròng sau khi dự án đivào hoạt động), là những dòng tiền do việc thực hiện dự án tạo ra Người ta gọi đây

là những dòng tiền tăng thêm

Sau đây, chúng ta sẽ đề cập những vấn đề cơ bản trong việc xác định dòngtiền chi phí và dòng tiền thu nhập ròng

Trang 36

Xác định dòng tiền ra của dự án (chi phí đầu tư ban đầu):

Phần lớn các dự án đòi hỏi các khoản chi phí ngay từ ban đầu, sau đó cácdòng tiền thu ròng mới xuất hiện Các chi phí ban đầu thường gồm:

Đầu tư vào tài sản cố định: Gồm toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến tàisản cho đến khi đưa chúng vào hoạt động: chi phí chuẩn bị, xây dựng, mua sắmmáy móc thiết bị Toàn bộ các chi phí đó phải được tính vào nguyên giá của tài sản

cố định để xác định chi phí đầu tư

Chi phí cơ hội: Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp đã sở hữu sẵn một sốtài sản hữu dụng cho việc thực hiện dự án Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp khôngphải bỏ chi phí mua tài sản đó nữa Chi phí cơ hội của một tài sản là cơ hội thu nhậplớn nhất bị bỏ qua do chấp nhận dự án này mà không chấp nhận dự án khác Nhưngchi phí này không phải là chi phí thực tế không đưa vào hạch toán kế toán, tuynhiên khi xem xét, đánh giá dự án nó liên quan trực tiếp tới cơ hội lựa chọn dự ánnên chi phí này sẽ được xem như một phần chi phí đầu tư

Chi phí chìm: Chi phí chìm là chi phí đã xuất hiện từ trước mà không thể bùđắp cho dù dự án có được chấp nhận hay không Chi phí chìm như thế không phải

là chi phí tăng lên nên không được bao hàm trong phân tích

Đầu tư mới vào vốn lưu động ròng: Thông thường, một dự án yêu cầu phảiđầu tư vào vốn lưu động ròng bên cạnh đầu tư vào tài sản cố định: Đầu tư vào tiền

để đáp ứng nhu cầu chi trả, đầu tư vào tồn kho ban đầu để bắt đầu sản xuất và đầu

tư vào các khoản phải thu trong lúc bán hàng chưa thu được Lượng đầu tư nàyđược tài trợ bằng các khoản nợ ngắn hạn Do vậy kết quả là doanh nghiệp chỉ phảiđầu tư vào vốn lưu động ròng được coi là đầu tư ban đầu Lượng đầu tư này sẽ đượcthu hồi khi dự án kết thúc

Xác định dòng tiền thu nhập ròng hàng năm từ dự án:

Có thể tính dòng tiền thu ròng hàng năm của dự án như sau:

Năm i:

Dòng tiền thu ròng (i) = Các khoản thu vào từ dự án (i) – Tổng các khoản chi ra (i)Thông thường khi xác định dòng tiền, NHTM lấy căn cứ là dự báo về thunhập và chi phí của dự án được lập theo phương pháp kế toán nhưng có chú ý đến

Trang 37

khía cạnh sau:

Chi phí khấu hao: Là chi phí kế toán, nhưng lại là chi phí không xuất quỹ,tức là không phải là chi phí bằng tiền thực tế, nên nó vẫn phải được tính vào dòngtiền Tuy vậy nó lại tác động đến dòng tiền một cách gián tiếp qua thuế (thuế thunhập doanh nghiệp) Khi khấu hao thay đổi nó cũng làm biến đổi mức thuế phải nộp

và vì thuế là một dòng tiền thực nên sẽ ảnh hưởng tới dòng tiền sau thuế Vì vậy tuykhông coi khấu hao như một dòng ra nhưng vẫn phải xét đến dòng tiết kiệm nhờkhấu hao

Chi phí trả lãi vay: đây là một khoản thực chi (chi phí xuất quỹ) tuy nhiên nókhông được tính trong dòng tiền ra của dự án vì thực chất chi phí trả lãi vay thuộcdòng các nguồn tài chính, thuộc dòng tiền trả cho chủ nợ, không phải dòng tiền từtài sản (hay cho tài sản) Mục tiêu của phân tích dự án là so sánh giá trị các dòngtiền dự án mang lại với chi phí đầu tư để tính ra giá trị hiện tại ròng Mối quan hệgiữa nợ và vốn chủ là vấn đề thuộc quản lý và nó quyết định sự phân chi dòng tiềngiữa chủ sở hữu và chủ nợ Tuy nhiên, việc sử dụng nợ vay cũng mang lại những lợiích nhất định, vì chi phí vốn cũng là chi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thunhập từ dự án

Khoản thu hồi vốn lưu động và thu nhập từ thanh lý tài sản cố định: Là thunhập bất thường, thu nhập sau thuế là hoạt động này sẽ được cộng thêm vào dòngtiền ròng năm cuối cùng của dự án

Từ việc phân tích ở trên, có thể đưa ra phương pháp tính dòng tiền ròng từhoạt động kinh doanh dự án như sau:

1 Doanh thu thuần; 2 Tổng chi phí sản xuất (không có khấu hao và lãi); 3.Lợi nhuận trước khấu hao và lãi vay (1-2); 4 Khấu hao; 5 Lợi nhuận trước thuế vàlãi vay (EBIT); 6 Lãi vay; 7 Lợi nhuận trước thuế; 8 Thuế thu nhập; 9 Lợi nhuậnsau thuế (7-8)

Dòng tiền ròng hàng năm của dự án (CF) = Lợi nhuận sau thuế (9) + Khấuhao +Lãi vay

Tất cả những phân tích, đánh giá thực hiện ở trên nhằm hỗ trợ cho việc tính

Trang 38

toán, đánh giá hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án Bước tiếp theo củaquá trình thẩm định là tính toán các chỉ tiêu kinh tế tài chính của dự án.

1.2.3.5 Thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả TCDA

Công tác thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả TCDA là một yếu tố cực kỳ quantrọng trong quá trình thẩm định TCDA Thực chất đây là việc xác định một số chỉtiêu với các số liệu đã dự tính cho dự án, tiến hành so sánh với các tiêu chuẩn đãđược công nhận

Đối với các dự án đầu tư, với đặc điểm là thời gian hoạt động và thời gianthu hồi vốn đầu tư của dự án dài Mà tiền có giá trị khác nhau ở các thời điểm khácnhau (chi phí cơ hội của đồng tiền) Một khối lượng tiền ngày hôm nay có giá trịlớn hơn so với ngày mai bởi nó có thể được tiêu dùng ngay hoặc đầu tư sinh lời Bởivậy khi tính các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án, người ta phải quy đổi các giátrị thời gian của tiền tại các thời điểm khác nhau về cùng một thời điểm để làm cơ

sở tính toán (thông thường chọn thời điểm hiện tại) theo một tỷ lệ chiết khấu nhấtđịnh Bởi vậy việc thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả TCDA chỉ thực sự có ý nghĩanếu tỷ lệ chiết khấu được xác định chính xác

Trên thị trường vốn của nền kinh tế thị trường, các cơ hội sinh lời rất đadạng Do đó, có nhiều chi phí cơ hội của dông tiền khác nhau như: Lãi suất vaydài hạn, trung hạn và ngắn hạn, lãi suất tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu, lợi tức

cổ phần…

Tỷ lệ chiết khấu là thuật ngữ mô tả giá trị thời gian của tiền, nó phản ánh chiphí cơ hội của vốn đầu tư Tỷ lệ chiết khấu còn có thể được hiểu là phần lợi nhuậnthích hợp để bù đắp rủi ro Việc xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu riêng của từng

dự án là phức tạp Trong phần này, chúng ta cần hiểu rằng tỷ lệ chiết khấu là phầnlợi nhuận thích hợp trả cho rủi ro, khi rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro củadoanh nghiệp và chính sách tài trọ của doanh nghiệp phù hợp với dự án, thì tỷ lệchiết khấu thích hợp bằng với chi phí trung bình của vốn (WACC)

Trên cơ sở thẩm định tính chính xác của tỷ lệ chiết khấu tương ứng với mức

độ rủi ro của dự án, ngân hàng tiến hành thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

Trang 39

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án có thể được chia làm ba nhóm:

Nhóm thứ nhất:

- Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của dự án gồm: NPV, IR, B/C, PI…

Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV-Net Present Value)

Giá trị hiện tài ròng của dự án là chênh lệch giữa giá trị hiện tại các dòng tiềnròng của dự án tại các thời điểm trong tương lai và giá trị hiện tại của vốn đầu tư

Công thức tính:

Trong đó:

CFi là dòng tiền ròng của dự án năm thứ i

CF0 là vốn đầu tư ban đầu (nếu vốn đầu tư được thực hiện trong nhiểu nămthì giá trị vốn đầu tư phải được quy về năm gốc để tính

n là số năm tính từ thời điểm đầu tư đến khi kết thúc dự án

Dự án có NPV<0 có nghĩa là dự có suất sinh lời thấp hơn chi phí cơ hồi củavốn (suất sinh lời của dự án nhỏ hơn suất chiết khấu), dự án không có hiệu quả tàichính, cần phải loại bỏ

Dự án loại trừ nhau có NPV dương cao nhất sẽ là dự án được chọn

Chỉ tiêu NPV là một giá trị tuyệt đối, nó không phản ánh khả năng sinh lờicủa dự án trên một đơn vị vốn đầu tư Các dự án có chi phí đầu tư cao thường đemlại NPV lớn hơn các dự án có chi phí đầu tư thấp Vì vậy để thẩm định hiệu quả tài

Trang 40

chính thì chỉ tiêu này không phản ánh được một cách chính xác và hợp lý Vì vậy đểkhắc phục người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ hoàn vốn nội bộ.

Chỉ tiêu hoàn vốn nội bộ (IRR-Internal Rate of Return)

Ngoài mối quan tâm đến kết quả tuyệt đối của việc chấp nhận dự án, các chủđầu tư còn có thể quan tâm đến tỷ lệ thu nhập bình quân các năm trên vốn đầu tư.Chỉ tiêu này cho phép có thể so sánh trực tiếp chi phí của vốn đầu tư vào dự án Đóchính là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ

Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ IRR là suất chiết khấu để:

Các phương pháp có thể xác định IRR gồm:

- Thử dần các giá trị của tỷ suất chiết khấu trong công thức tính NPV Giá trịnào của r làm cho NPV = 0 thì chính là IRR cần tìm Nhược điểm của phương này

là mất nhiều thời gian và có tính mò mẫm

- Xác định IRR qua vẽ đồ thị: Lập hệ trục tọa độ, trên trục thể hiện các giá trịcủa tỷ suất chiết khấu r, trên trục tung thể hiện các giá trị NPV tương ứng Biểu diễncác toạ độ điểm tìm được trên đồ thị ta có một đường cong Đường cong này cắttrục hoành tại một điểm, tại đó NPV = 0 và điểm đó chính là điểm r = IRR Nhượcđiểm của phương pháp này yêu cầu phải vẽ rất chính xác hoặc sử dụng các chươngtrình phần mềm trên máy tính

- IRR được xác định bằng phương pháp nội suy tức là phương pháp xác địnhmột giá trị cần tìm giữa 2 giá trị đã chọn: r1 tạo ra NPV1 >0 và r2 tạo ra NPV<0.Khi đó, việc nội suy tuyến tính IRR được thực hiện theo công thức:

M

1 )

Ngày đăng: 05/10/2014, 02:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Quy trình thẩm định tài chính dự án - nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội
Hình 1.2 Quy trình thẩm định tài chính dự án (Trang 31)
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Ngân hàng VCB  Hà Nội - nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Ngân hàng VCB Hà Nội (Trang 60)
Bảng 2.1: Tình hình sử dụng vốn VCB Hà Nội từ năm 2007 – tháng 06/2011 - nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng vốn VCB Hà Nội từ năm 2007 – tháng 06/2011 (Trang 62)
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức công tác thẩm định dự án đầu tư - nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức công tác thẩm định dự án đầu tư (Trang 69)
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ cho vay từ năm 2008 đến năm 2010 - nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam – chi nhánh hà nội
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ cho vay từ năm 2008 đến năm 2010 (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w