Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã dẫn tớinhững biến đổi mạnh mẽ làm thay đổi bộ mặt của nông thôn và đô thị Việt Nam.Tuy nhiên ở một bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn trong
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ 5
1.1 Cơ sở lý luận về di cư 5
1.1.1 Quan niệm về di cư 5
1.1.2 Loại hình di cư 7
1.1.3 Mối quan hệ giữa di cư và phát triển 8
1.2 Tổng quan về di cư trong nước ở Việt Nam 10
1.2.1 Lịch sử di cư trong nước ở Việt Nam 10
1.2.2 Di cư từ nông thôn ra thành thị 13
1.3 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc sống của hộ gia đình .20 1.3.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống 20
1.3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống hộ gia đình 22
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM 26
2.1 Thực trạng của quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam 26
2.1.1 Di cư lao động giữa các vùng trong cả nước 26
2.1.2 Di cư lao động từ nông thôn ra thành thị 28
2.2 Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống của hộ gia đình có người di cư 32
2.2.1 Thu nhập bình quân đầu người 32
2.2.2 Chi tiêu về y tế và chăm sóc sức khỏe 38
2.2.3 Chi tiêu về giáo dục và đào tạo 41
2.2.4 Chi tiêu cho điện , nước sinh hoạt và nhà ở 43
Trang 2CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HỒI QUY ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ 51
ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI DI CƯ 51
3.1 Số liệu và các biến số 51
3.1.1 Số liệu 51
3.1.2 Các biến số 53
3.2 Mô hình hồi quy đánh tác các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân hộ gia đình có người di cư 56
3.2.1 Mô hình 56
3.2.2 Kết quả ước lượng mô hình 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 68
Trang 3VHLSS: Điều tra mức sống dân cư Việt NamTCTK: Tổng cục thống kê
NQ/TW: Nghị quyết Trung ương
CNH: Công nghiệp hóa
UNDP: Chương trình phát triển Liên hợp quốc
Trang 4Bảng 2 1 Số lao động di cư theo nơi cư trú và nơi đến 28
Bảng 2.2 Số lao động di cư theo giới tính 30
Bảng 2.3 Thu nhập bình quân của hộ gia đình chia theo vùng 32
Bảng 2.4 Thu nhập bình quân hộ gia đình trước và sau khi có người di cư 33
Bảng 2.5 Số tiền trung bình gửi về trong 12 tháng 35
Bảng 2.6 Chi tiêu về y tế và chăm sóc sức khỏe trung bình theo vùng 39
Bảng 2.7 Chi tiêu về y tế và chăm sóc sức khỏe trung bình của các hộ trước và sau khi có người di cư 40
Bảng 2.8 Chi giáo dục trung bình theo vùng 41
Bảng 2.9 CTGD trung bình hộ gia đình trước và sau di cư 42
Bảng 2.10 Tỉ lệ (%) dùng nguồn điện của hộ gia đình trước và sau khi có người di cư 45
Bảng 2.11 Chi nhà, điện, nước của các hộ gia đình 46
Bảng 2.12 Chi tiêu bình quân của hộ gia đình có và không có người di cư 47
Bảng 2.13 Chi tiêu bình quân của hộ gia đình trước và sau khi có người di cư 48
Bảng 3.1 Cách tính thu nhập bình quân đầu người một tháng của hộ gia đình 51
Bảng 3.2 Cách tính chi tiêu bình quân đầu người một tháng của hộ gia đình 52
Bảng 3.3 Các biến sử dụng trong mô hình 57
Trang 5Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ lao động di cư theo giới tính và khu vực 29
Biểu đồ 2.3 Di cư theo nhóm tuổi 31
Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ di cư theo nhóm tuổi và giới tính 31
Biểu đồ 2.5 Thu nhập bình quân hộ gia đình trước và sau có người di cư 34
Biểu đồ 2.6 Tiền gửi về theo nhóm tuổi 36
Biểu đồ 2.7 Trung bình tiền gửi về cho hộ gia đình theo nhóm nghề nghiệp 37
Biểu đồ 2.8 Số tiền gửi về phân theo mức tiền gửi 37
Biểu đồ 2.9 Tỉ lệ (%) loại nhà đang ở của hộ gia đình có người di cư và không có người di cư 43
Biểu đồ 2.10 Tỉ lệ (%) các loại nhà trước và sau khi có người di cư 44
Biểu đồ 2.11 Tỉ lệ dùng nguồn điện của hộ gia đình có người di cư và không có người di cư 44
Biểu đồ 2.12 Tỉ lệ (%) dùng nguồn điện của hộ gia đình trước và sau khi có người di cư 45
Biểu đồ 2.13 Tỉ lệ (%) dùng nguồn nước của hộ gia đình trước và sau di cư 46
Biểu đồ 2.14 Chi tiêu bình quân của hộ gia đình trước và sau khi có người di cư 49
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài
Con người sinh ra có nhu cầu tồn tại và phát triển Để phục vụ nhu cầu thiếtyếu bản thân mình, từ ngày xa xưa, con người đã phải di chuyển từ địa điểm nàyđến địa điểm khác tìm những nơi thích hợp cho sự sinh tồn Khi xã hội ngày càngphát triển, con người di cư theo nhu cầu tăng lên không ngừng Như vậy di cư làhiện tượng mang tính quy luật Trong từng nước, di cư thể hiện sự tồn tại của mỗiquốc gia trước thách thức của cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phâncông lao động lãnh thổ
Công cuộc đổi mới của đất nước đã mang lại cho bộ mặt kinh tế văn hóa
-xã hội những khởi sắc to lớn Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã dẫn tớinhững biến đổi mạnh mẽ làm thay đổi bộ mặt của nông thôn và đô thị Việt Nam.Tuy nhiên ở một bộ phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tếnhất là ở vùng xa, vùng sâu Sự phát triển kinh tế ở cả nông thôn và thành thị trongnhững năm gần đây không những đã thúc đẩy sự phát triển ở nông thôn Việt Nam
mà còn đặt ra nhiều vấn đề và thách thức Năng suất nông nghiệp tăng cao trongthời gian qua, một mặt đã giúp đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước, mặt kháctạo ra sự dôi dư lao động ở nông thôn Trong điều kiện khan hiếm đất ở nông thôn,đặc biệt là đất nông nghiệp, và mức tăng dân số cao so với khu vực thành thị, dưthừa lao động đang là vấn đề nổi cộm ở nông thôn và ngày càng trở nên nghiêmtrọng Thất nghiệp và bán thất nghiệp đã và đang trở thành vấn đề lớn vì khả năngtạo ra việc làm cho lao động nông thôn còn rất hạn chế Tất cả các nhân tố này cùngvới khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn đã sinh ra các dòng di cư
từ nông thôn ra thành thị Cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đangtiếp diễn ở Việt Nam, khu vực thành thị sẽ tiếp tục được mở rộng, trong khi nôngthôn ngày càng bị thu hẹp Việc xuất hiện các dòng di cư lao động lớn từ nông thôn
ra thành thị là điều không tránh khỏi
Ở thập niên 90 (thế kỷ XX), nước ta đã chứng kiến các dòng di dân, đặc biệt
là di dân nông thôn - đô thị diễn ra hết sức mạnh mẽ và phức tạp Sự chuyển đổi cơ
Trang 7cấu kinh tế cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như sức ép vềdân số, việc làm, đất đai, nghề nghiệp làm cho di dân nông thôn - đô thị có chiềuhướng ngày càng gia tăng, đặc biệt là tập trung vào các đô thị lớn như Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh Thực tiễn này đặt ra những bức xúc cần được giải đáp về
di cư Thực tế, di cư nông thôn - đô thị nhân tố tích cực trong việc giải quyết việclàm, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế hộ giađình và góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Ngoài lợi íchkinh tế, di cư nông thôn - đô thị còn mang về những tri thức mới, kinh nghiệm mớitrong đó có năng lực tư duy, sự năng động, ý thức làm giàu và những yếu tố giá trịmới, tiến bộ Bên cạnh những khía cạnh tích cực do di cư di cư nông thôn - đô thị đãgây ra những ảnh hưởng tiêu cực lâu dài và quan trọng đến gia đình và xã hội Đó làviệc tổ chức cuộc sống gia đình bị đảo lộn, vai trò tham gia công việc lao động sảnxuất, mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo ảnh hưởng đến cuộc sống ổn định và hạnhphúc gia đình, nhiều trẻ em không được chăm sóc đầy đủ, học hành sa sút, bị buônglỏng giáo dục Cuộc sống của những người trong hộ gia đình cũng trở nên bất ổn
Để kiểm nghiệm và đánh giá được một cách khách quan những tác động tích cực vàtiêu cực trên, cần có những nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu Đó cũng là lý do tôi
chọn đề tài "Phân tích chất lượng cuộc sống của các hộ gia đình có người di cư"
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Trình bày một cách tổng quan về di cư trong nước ở Việt Nam đặc biệt là di
cư từ nông thôn ra thành thị
- Dựa trên bộ số liệu Khảo sát mức sống dân cư năm 2006 và 2008 phân tíchtình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2008
- Xây dựng mô hình kinh tế lượng để phân tích, đánh giá tác động của một sốyếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của hộ gia đình có người di cư để từ đóđưa ra những đề xuất thích hợp
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Các hộ gia đình và các thành viên trong hộ gia đình có người di cư
Trang 8- Các hộ gia đình không có người di cư
Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu được tiến hành dựa trên bộ số liệu Khảo sát mức sống dân cư
năm 2006 và 2008 trên phạm vi toàn quốc
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vào vấn đề di cư tự do trong nước vìmục đích kinh tế: di cư từ nông thôn ra các đô thị (nông thôn - đô thị)
- Luận văn chỉ đánh giá tác động của di cư đối với hộ gia đình, không đánhgiá tác động của di cư đối với toàn xã hội
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin từ các cuộc điều tra
chính thức, báo cáo tổng kết, các chính sách và các báo cáo nghiên cứu có liên quanđến đối tượng nghiên cứu Thu thập thông tin từ các kênh khác nhau ( cơ quanChính phủ, các tổ chức chính trị xã hội, các viện nghiên cứu, mạng thông tin báochí, báo cáo khoa hoc, internet…)
- Sử dụng các phương pháp thống kê và kinh tế lượng để phân tích dựa trên
bộ số liệu khảo sát mức sống dân cư năm 2006 và 2008
- Luận văn sử dụng phần mềm phân tích thống kê Eview, Stata, Excel trongquá trình xử lí số liệu và quá trình tính toán
5 Đóng góp của đề tài:
Ý nghĩa khoa học: Bằng các công cụ toán học( các phương pháp toán kinh tế)
giúp chúng ta thấy rõ hơn bức tranh về vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị ở ViệtNam và các tác động của nó tới đời sống của hộ gia đình
Ý nghĩa thực tiễn:
- Tìm hiểu được tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam tronggiai đoạn 2006 – 2008
- So sánh chất lượng cuộc sống của hộ có người di cư và hộ không có người
di cư; chất lượng cuộc sống của hộ trước khi có người di cư và sau khi có người di
cư Từ đó đưa ra các kết luận và khuyến nghị
Trang 9- Xây dựng mô hình đánh giá tác động của một số yếu tố thu nhập bình quâncủa hộ gia đình có người di cư
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần “Lời mở đầu” và “Kết luận và kiến nghị” luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về di cư
Chương 2: Tình hình di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam
Chương 3: Mô hình hồi quy đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của
hộ gia đình có người di cư
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ1.1 Cơ sở lý luận về di cư
1.1.1 Quan niệm về di cư
1.1.1.1 Khái niệm về di cư
Di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc là quá trình conngười rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định
Nói chung khái niệm di cư thường được các nhà nghiên cứu định nghĩa khônggiống nhau Theo tác giả Lee (1966) thì di cư là: “sự thay đổi cố định nơi cư trú”.Còn theo Mangalam và Morgan (1968) cho rằng di cư là “sự di chuyển vĩnh viễntương đối của người di cư ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác” Mặt khác, theo tác giả Paul Shaw thì “di cư là hiện tượng di chuyển khỏi tập thể
từ một địa điểm địa lý này đến một địa điểm địa lý khác, trên cơ sở quyết định củangười di cư, dựa vào một loạt các giá trị trong hệ thống các mối quan hệ qua lại củangười di cư”
Theo TS Kinh tế học Lao động Harvey B.King " di cư thường được hiểu làchuyển đến một nơi ở khác cách chỗ cũ một khoảng đủ lớn buộc người di cư phảithay đổi " hộ khẩu thường trú": chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác"Đối với Việt Nam, “di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con người từ nơinày đến nơi khác đó là chuyển đến một huyện khác, thành phố khác, một tỉnh kháchay một nước khác trong một khoảng thời gian nhất định” Trong cuộc tổng điều tra
di cư năm 2004, người di cư cũng được định nghĩa là người di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác: " Người di cư là người từ 15 - 59 tuổi di chuyểnquận/ huyện này sang quận/huyện khác trong vòng 5 năm trước thời điểm điều tra
và đã cư trú trên địa bàn điều tra trong vòng từ 3 tháng trở lên
Thực tế nhiều nghiên cứu cả trong nước và ngoài nước đã chỉ ra rằng không
có định nghĩa duy nhất về người di cư Tùy vào mục đích của người di cư để phânchia thành nhiều hình thức khác nhau: có thể để định cư, di cư thời hạn dài, và di cưthời hạn ngắn
Trang 11Để sử dụng với bộ số liệu VHLSS năm 2006 và 2008, trong nghiên cứu nàyngười di cư được hiểu là người từ 13 tuổi trở lên có thời gian đi ra khỏi địa phương(tỉnh) từ 6 tháng trở lên Lao động di cư có thể là di cư nông thôn ra thành thị, nôngthôn- các khu công nghiệp lớn, trọng điểm Một thực tế không rõ ràng trong cáchphân loại hiện nay là lao động di cư ra các khu công nghiệp lớn ở ngoại ô (ví dụ laođộng di cư từ nông thôn ở Thái Bình ra làm việc tại các khu công nghiệp ở Gia lâm
Hà nội) mặc dù là ngoại ô nhưng lại có đặc thù như những vùng đô thị nếu xem xéttrên góc độ điều kiện sinh họat, chi tiêu, dịch vụ đời sống… Trong nghiên cứu nàynhững lao động di cư như thế đuợc xếp vào di cư nông thôn thành thị Như vậy laođộng địa phương sẽ là những người còn lại, không di chuyển ra khỏi địa phươnghoặc có thời gian di chuyển ít hơn 6 tháng hoặc di chuyển nhưng trong nội tỉnh.Hạn chế của cách định nghĩa này là không phân loại được một số loại hình di
cư như di cư tạm thời, di cư theo mùa vụ và hồi cư do các nhóm này ẩn trong cácnhóm dân số không di cư hoặc di cư theo định nghĩa trên
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan đến di cư
a Người di cư
Là người đã thay đổi nơi thường trú của mình từ một khu vực này đến một khuvực khác, ít nhất là một lần trong khoảng thời gian nhất định Di cư có thể liên quanđến một hay nhiều cá nhân di chuyển, một gia đình hay thậm chí là cả một cộngđồng
b Sự nhập cư và sự xuất cư
Đây là khái nịêm được sử dụng trong các quá trình di cư bên trong, hay nội bộcủa một quốc gia, một vùng:
- Sự nhập cư hay di dân vào là: quá trình di cư từ nơi nào khác đến nơi dự địnhsinh sống Đây là sự chuyển đến
- Sự xuất cư hay di dân ra là: quá trình di cư từ nơi đang sống sang vùng khác.Đây là sự chuyển đi
c Nơi xuất cư và nơi đến:
Trang 12Nơi xuất cư là: nơi mà từ đó người di cư chuyển đi Ngược lại, nơi đến là nơi màngười di cư từ nơi nào khác chuyển đến sống.
1.1.2 Loại hình di cư
Di cư diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau gồm: di cư trong nước và di cưquốc tế Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích luồng di cư nôngthôn ra thành thị hay di cư trong nước Do vậy, di cư được chia thành các loại hìnhtheo căn cứ sau:
a Theo pháp lý
Bao gồm: di cư có tổ chức hay di cư tự do hợp pháp và di cư không hợp pháp
- Di cư có tổ chức: diễn ra trong khuôn khổ chương trình của nhà nước, trongtrường hợp này những người di cư thường nhận một khoản trợ cấp hỗ trợ và thường
di chuyển nơi ở thường trú của gia đình
- Di cư tự do hợp pháp: là việc chuyển đến nơi sinh sống mới do bản thân người
di cư tự quyết định bao gồm cả việc lựa chọn địa bàn nhập cư, tổ chức di chuyển,cũng như trang trải mọi phí tổn và tìm việc làm…
- Di cư bất hợp pháp: là việc chuyển đến nơi ở mới giống như di cư tự do hợppháp, tuy nhiên người di cư lờ đi các quy định và cố gắng tránh liên lạc với các cấpchính quyền
b Theo nơi đi và nơi đến
Dựa theo nơi đi và nơi đến có 4 loại hình: nông thôn – nông thôn, nông thôn –thành thị, thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn
c Theo thời gian
Theo thời gian, di cư có thể chia thành: di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cưtheo mùa vụ
- Di cư lâu dài: Là nhóm những người di cư đến một khoảng thời gian tương đốidài và có ý định ở lại nơi đến
- Di cư tạm thời: những người tới một địa bàn trong một thời gian nhất định (đểhọc tập, làm việc) trước khi có quyết định liệu có sống ở đó hay không
Trang 13- Di cư theo mùa vụ: Là trường hợp đặc biệt của di dân tạm thời Thuật ngữ
“mùa vụ” không nhất thiết mang nghĩa mùa vụ thu hoạch, mặc dù nó có thể là nhưvậy đối với người di dân Thuật ngữ này còn hàm ý những hoạt động mùa khác nhưmùa xây dựng hoặc mùa du lịch bao gồm cả loại hình đi làm ăn xa ở nông thôn Cóthể nói, di cư theo mùa vụ là những người ra thành phố trong những lúc nông nhàn
để tìm kiếm việc làm, không có ý định cư trú lâu dài và sẽ quay về khi có nhu cầulao động và công việc gia đình ở quê hương
1.1.3 Mối quan hệ giữa di cư và phát triển
Di cư và phát triển có mối quan hệ chặt vì những lí do sau:
Thứ nhất xem xét động lực di chuyển của người di cư Trong tất cả các cuộckhảo sát về di cư ở Việt Nam và thế giới đều nhận xét động lực di cư phổ biến làkinh tế Người di cư chuyển đến nơi khác là vì muốn kiếm được việc làm và tiềncông nhiều hơn nơi cũ và muốn sống ở nơi có hạ tầng cơ sở tốt hơn Vì lý do trên,người di cư đã góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội vùng nhập cư
Thứ hai sự phát triển bao giờ cũng tạo ra các cơ hội việc làm Nguyên nhântình trạng di cư vào đô thị là dòng di cư chủ yếu hiện nay do trước hết hạ tầng đô thịtốt các nhà đầu tư dồn tiền vốn vào đô thị và nhiều nhà máy, khu công nghiệp mọclên Sự phát triển các khu công nghiệp, các dịch vụ ở khu đô thị đòi hỏi phải cónhân lực Và vì thế tạo ra sức hút lao động từ các nơi khác đến làm việc ở đô thị vàcác khu công nghiêp và tạo ra dòng di cư nông thôn-đô thị diễn ra mạnh mẽ Các đôthị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng và gần đây là các khu côngnghiệp hàng năm cuốn hút hàng nghìn lao động đến làm việc
Dòng di cư nông thôn đến nông thôn di chuyển cũng chủ yếu vì lí do kinh tế.Người nông dân di cư đến vùng có nhiều đất hoang hóa hoặc ôvùng có giá trị đất rẻ
có thể trồng trọt những cây sinh lợi nhiều Đây là nguyên nhân trong những nămqua diễn ra dòng di cư mạnh vào các tỉnh Tây Nguyên, Bình Thuận, Đông Nam Bộ
và ĐBSCL bao gồm cả di cư tự do và di cư có tổ chức Như vậy,về vĩ mô mà xét di
cư ( tự nguyện và tự do) đã giúp cho việc phân bố lực lượng lao động tốt hơn vàgiúp đỡ cho sự phát triển của đất nước Vì vậy, về mặt chính sách quốc gia chúng ta
Trang 14tạo điều kiện cho di cư chứ không ngăn cấm di cư Việc ngăn cấm di cư sẽ làmchậm sự phát triển
Thứ ba, bất cứ một chính sách liên quan đến phát triển cũng có quan hệ đến
di cư Thí dụ chính sách phát triển đô thị, chính sách phát triển nông thôn, chínhsách phát triển khu công nghiệp, chính sách phát triển các nguồn năng lượng, thủylợi, chính sách phát triển xóa đói giảm nghèo và giảm nhẹ thiên tai đều có quan hệđến di cư
Thứ tư, đô thị hóa một biểu tượng của sự phát triển của một quốc gia Nhưchúng ta đã biết, vào đầu thế kỷ 20 chỉ khoảng 10% dân số thế giới sống ở khu đôthị Vào năm 1950 con số này tăng lên 30% và hiện nay dân số thế giới có khoảng47% sống ở khu đô thị Việt Nam có khoảng 25% dân số sống ở khu đô thị và dựbáo vào năm 2020 sẽ tăng lên 40% sống ở khu đô thị Nguồn di cư đến đô thị là từnông thôn Lực hút là do nền kinh tế đô thị tạo ra nhiều việc làm và có giá trị tiềncông cao hơn làm nông nghiệp ở khu vực nông thôn Theo kết quả điều tra biếnđộng dân số của Tổng cục thống kê năm 2008 có 803 nghìn người di cư nội tỉnh và
631 nghìn người di cư ngoại tỉnh Vùng có tỉ suất nhập cư cao nhất trong cả nước làĐông Nam Bộ (23,89 phần nghìn) Các khu công nghiệp mới như Bình Dương, TP
Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc là nơi thu hút lao động từ các vùng nông thôn ở cả nướcđến làm việc
Việc người nông thôn di cư ra đô thị cũng gây tác động tiêu cực ở nông thôn
Do người lao động trẻ di chuyển từ nông thôn đến đô thị cũng làm cho nông thôn bịtổn thương trong quá trình đô thị hóa Nhiều khu vực ven đô ở nước ta cũng thấynông thôn đàn già hóa Nhiều người trẻ tuổi có học vấn không thích sống ở nôngthôn đã ra thành phố để tìm kiếm cơ hội việc làm hơn ở lại tiếp tục làm việc cùngcha mẹ
Thứ năm, dòng di dân nông thôn - nông thôn cũng đóng góp tích cực vàophát triển nông nghiệp và nông thôn Di cư nông thôn-nông thôn trong những thập
kỷ qua đóng góp to lớn vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Chúng ta biếttrước năm 1986 nước ta thiếu lương thực, thực phẩm trầm trọng Sau khi bước vào
Trang 15thời kì đổi mới, người dân được tự do di chuyển để di cư đến những vùng đất hoanghóa Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người đi khai hoang lậpnghiệp Quyết định 95/CP(1980) của Chính Phủ đã mở đầu cuộc vận động cuộc didân xây dựng vùng kinh tế mới (KTM) Nhờ phong trào vận động di dân xây dựngvùng KTM nhiều vùng đất hoang Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, ĐBSCL được khaithác trở thành vùng sản xuất lương thực và cung cấp hàng hóa xuất khẩu Việt Nam
đã trở thành một trong những nước xuất khẩu lớn nhất về lúa gạo, cà phê, hồ tiêu,cao su, điều trên thể giới
Vì vậy, Tiến sĩ Ronald Skeldon một chuyên gia nghiên cứu lâu năm về di cưcủa tổ chức quốc tế ESCAP đã trình bày trong hội thảo về chính sách di dân do BộNông nghiệp và PTNT tổ chức vào năm 1998: " Mối quan hệ giữa di cư và pháttriển là hai biến số phụ thuộc lẫn nhau Di cư được hiểu đúng là bộ phận hợp thànhcủa sự phát triển Di cư và phát triển cả hai đều tạo ra sự thay đổi đặc trưng của nềnkinh tế, xã hội và dân cư" Vì vậy có thể nói di cư là phát triển và là hiện tượng tất
yếu của phát triển.
1.2 Tổng quan về di cư trong nước ở Việt Nam.
1.2.1 Lịch sử di cư trong nước ở Việt Nam
Cho đến nay di cư đã trở thành một phần quan trọng trong lịch sử Việt Nam
Di cư trong nước không phải là một hiện tượng mới trong xã hội Việt Nam mà đây
là một phần của lịch sử Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 đã có một sự dichuyển dân số lớn từ thành phố về các khu vực nông'' thôn Xu thế di cư này mộtphần là do chương trình tái định cư theo kế hoạch của Nhà nước đưa cư dân thànhphố về các khu vực kinh tế mới và một phần lý do khác là người dân trở về nơi cưtrú cũ của mình sau chiến tranh Kể từ những năm 1970 trở đi, các chương trình dichuyển có sự hỗ trợ của Nhà nước đưa người vào các khu kinh tế mới vẫn tiếp tục
và tạo thành một loại hình di cư chính trong nước ở Việt Nam Những năm 1990chứng kiến sự thay đổi trong các chính sách di cư có tổ chức của Chính phủ Cácchương trình di cư không còn tập trung vào các vùng kinh tế mới nữa mà chuyển
Trang 16sang các chương trình tái định cư lồng ghép với chương trình phủ xanh đất trốngđồi trọc và các chương trình phục hồi ven biển Tuy nhiên bên cạnh các chươngtrình di cư theo kế hoạch của Chính phủ, trong giai đoạn này hiện tượng di cư tự dotrong nước cũng bắt đầu phát triển Những sự di chuyển này nằm ngoài kế hoạchcủa Nhà nước và liên quan tới tác động của chính sách Đổi Mới trong những năm
1980 và là điểm khởi đầu cho quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nềnkinh tế theo định hướng thị trường Những cải cách này làm giảm nhẹ một số điềukiện mà trước đây vẫn hạn chế sự di chuyển, cụ thể là xóa bỏ hệ thống bao cấp liênquan chặt chẽ với việc đăng ký hộ khẩu của hộ gia đình và bắt đầu áp dụng cơ chếkhoán cho hộ gia đình Chính điều này khiến người nông dân không còn bị bó buộcvới ruộng đồng nữa và đồng thời bắt đầu tạo nên thị trường đất đai, từ đó cho phépngười dân linh hoạt hơn khi di chuyển sau khi chuyển nhượng hoặc cho thuê lại đấtđai của mình Chính sách Đổi Mới cũng thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng
và góp phần giúp Việt Nam xóa đói giảm nghèo Đây là thành tựu mà Việt Nam đãđược cộng đồng quốc tế công nhận Khu vực ngoài quốc doanh bắt đầu tăng nhanhvới sự xuất hiện của đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu hút lao động và khuyến khíchngười dân di cư tới những khu vực có nhiều công ăn việc làm Song song với xuhướng di chuyển này là xu hướng ngày càng ít người dân sống dựa vào các sảnphẩm truyền thống hoặc sản xuất nông nghiệp vì thế người ta thường chọn giải pháp
di cư đi khỏi khu vực của mình Khi quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tếtiếp diễn với sự gia tăng các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực sản xuất và trong cáckhu công nghiệp đóng tại hoặc gần các thành phố lớn, sự khác biệt giữa nông thôn
và thành thị ngày càng lớn Chẳng hạn tiền công cho các công việc ở các khu côngnghiệp và trong lĩnh vực sản xuất tại các khu đô thị thường cao gấp 5-7 lần các côngviệc nông nghiệp vì thế đẩy người dân di cư đi tìm các công việc có mức tiền côngcao hơn Tác động của cải cách thị trường và sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đã tạonên động lực cho quá trình di cư trong nước Tuy nhiên các động lực này khôngđồng nhất và một trong những sự khác biệt rõ ràng nhất là di cư giữa nam và nữ Ví
dụ sự phát triển của khu vực dệt may xuất khẩu đã thu hút chủ yếu là lao động nữ và
Trang 17sự xuất hiện của “hộ gia đình có cả cha và mẹ cùng làm việc” đã tạo ra nhu cầu cần
sử dụng người giúp việc, một loại hình công việc mà chủ yếu do người di cư nữlàm Sự thay đổi vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp cũng liên quan tới xu hướng
di cư mặc dù người ta vẫn đang tranh luận về mối quan hệ đặc thù này Một sốngười cho rằng với sự suy giảm của khu vực nông nghiệp, di cư tới thành thị là mộttrong những cách duy nhất mà phụ nữ có thể tìm được việc làm phi nông nghiệp vì
“việc đồng áng vốn đã ít, lại thường chỉ giành cho nam giới” Tuy nhiên một sốkhác lại đề cập đến hiện tượng “nữ hóa nông nghiệp”, khi nam giới di cư đi tìm các
cơ hội việc làm phi nông nghiệp, phụ nữ ở lại phải cáng đáng các công việc đồngáng Ở Việt Nam, lao động và di cư trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,đây là một điểm rất rõ ràng trong giai đoạn suy thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009.Đánh giá nhanh cho thấy lao động, đặc biệt là lao động nữ và những lao động trongkhu vực phi chính thức phải gánh chịu sự giảm thu nhập, bị mất hoặc thiếu việclàm Các đánh giá này cũng cho thấy lao động di cư là nhóm bị tác động rõ rệt nhất
vì họ thường tập trung làm việc tại các doanh nghiệp xuất khẩu và trong khu vựcphi chính thức Cuộc khủng hoảng kinh tế cũng cho thấy có sự phân nhánh xã hộisâu sắc chứ không chỉ là tác động tới các dòng di cư Khi lao động di cư không cóviệc và không gửi tiền về gia đình, thu nhập của cộng đồng nơi đi cũng giảm điđáng kể Trong một số trường hợp, khó khăn khiến người di cư phải quay trở vềnhà, tạo áp lực cho lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn hoặc khiến họ phải dichuyển vào khu vực phi chính thức mà ở đó họ không được tiếp cận với gói hỗ trợcủa chính phủ Mặc dù những đánh giá ở đây chỉ mới là đánh giá sơ bộ ban đầu, cóthể thấy rõ ràng rằng khủng hoảng tài chính toàn cầu có những tác động đáng kể tớicác xu thế di cư và tới các quyền bảo trợ xã hội cho những người bị ảnh hưởng Cóthể thấy rằng quỹ đạo kinh tế trong tương lai sẽ có những tác động tương tự đến môhình di cư trong nước Cũng cần phải lưu ý tới vai trò của các xu hướng nhân khẩuhọc hình thành nên các dòng di cư trong tương lai Khi Việt Nam bước vào “thời kỳdân số vàng” trong đó dân số trong độ tuổi lao động sẽ vượt xa dân số phụ thuộc.Trong khoảng 30 năm tới, ước tính hàng năm có khoảng 1 triệu thanh niên sẽ tham
Trang 18gia vào thị trường lao động Lực lượng lao động dồi dào sẽ tạo ra nhiều cơ hội tolớn cho phát triển kinh tế ở Việt Nam, mặt khác sẽ có thể làm tăng tỷ suất di cư vìthanh niên sẽ di chuyển tới các khu vực có tập trung nhiều công ăn việc làm
1.2.2 Di cư từ nông thôn ra thành thị
1.2.2.1 Khái niệm di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư từ nông thôn ra thành thị là sự di chuyển của con người từ nông thôn rathành thị trong một khoảng thời gian nhất định (xét theo yếu tố nơi đi và nơi đếncủa loại hình di cư)
Các nhà kinh tế học cho rằng: di cư từ nông thôn ra thành thị là một quá trình
di chuyển của lao động từ khu vực kém phát triển hơn đến khu vực phát triển hơn.Trong đó:
Nông thôn: là chỉ vùng đất mà người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp.Thành thị:
- Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ như: vùng liên tỉnh,vùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc vùng trong tỉnh, trong thành phốtrực thuộc Trung ương; vùng huyện hoặc tiểu vùng trong huyện
- Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nôngnghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt độngcủa dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy hoạch xâydựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người và mật độdân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km²
1.2.2.2 Những nhân tố quyết định đến di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư vừa là nguyên nhân và là hệ quả của quá trình phát triển Di cư đã và đangtrở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai và tạo cơ hội làm
ăn cho mình Di cư đã trở thành một cấu thành không thể thiếu được của quá trìnhphát triển đặc trưng cho mối quan hệ qua lại giữa vùng miền và lãnh thổ
a Các nguyên nhân dẫn đến di cư nông thôn ra thành thị
Trang 19Di cư nói chung và di cư nông thôn ra thành thị nói riêng là quá trình làm cânbằng các nguồn lực kinh tế để tạo lập một bước tiến mới trong sự phát triển kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân theo các nhà nghiên cứu dẫn đến di cư từ nông thôn ra thànhthị, quá trình di cư nông thôn ra thành thị ở Việt Nam có thể chia làm các nguyênnhân sau đây:
Một là, nguyên nhân về áp lực dân số và việc làm: Những năm gần đây, dân số
Việt Nam tăng trưởng trong sự kiểm soát khá chặt chẽ với tốc độ tăng dân sốkhoảng 1.5% / năm Nhưng những thập kỉ trước đó, Việt Nam có tốc độ tăng trưởngdân số rất cao đặc biệt trong những năm 1970 đến đầu những năm 1990 là năm màdân số bùng nổ với tốc độ tăng trưởng 2% / năm Tốc độ tăng trưởng dân số caonhư vậy đặt áp lực rất lớn lên nền kinh tế về việc tạo ra đủ công ăn việc làm và áplực này càng tăng lên khi những năm gần đây phần trăm những người đến tuổi laođộng tìm việc tăng lên Điều này có nghĩa là số người tham gia vào lực lượng laođộng hàng năm có xu huớng ngày càng lớn
Sự bùng nổ dân số làm mất cân bằng các nguồn lực kinh tế Trong vòng một thế
kỉ, nền kinh tế đặc biệt là kinh tế nông thôn khá ổn định trong sự cân bằng giữanguồn lực con người và đất đai, nhưng sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn lực đấtđai càng trở nên khan hiếm cùng với trình độ công nghệ không được cải thiện thíchđáng để giải quyết sự không cân bằng này và kết quả là một bộ phận sẽ trở thànhthất nghiệp hoặc bán thất nghiệp Sự bùng nổ dân số cùng với mật độ dân số dầyđặc ở một số vùng đã làm cho tình trạng trên trở nên tồi tệ hơn, cư dân ở các vùng
đó rơi vào tình trạng thiếu đất, họ không thể đủ sống chỉ dựa vào sản xuất nôngnghiệp Những người này vừa là nông dân và cũng không phải là nông dân, họ tìmmọi phương thức sinh kế để kiếm sống Trong hoàn cảnh này thì vịêc di cư từ nôngthôn ra thành thị là không thể tránh khỏi
Hai là, cuộc cải cách kinh tế hay “Đổi mới” và sự thay đổi về chính sách liên
quan đến người di dân đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội và tình hình di cư.Thứ nhất, về sản xuất nông nghiệp đã giải thể sản xuất tập thể và cho ra đời cơ chếkhoán Do đó, người nông dân không còn bị ràng buộc với đất đai của mình Hơn
Trang 20nữa, xu hướng thương mại hoá sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng và việc thaythế sức lao động thủ công bằng vốn đầu vào đã có tác động rất đáng kể trong việcphân bố lại lực lượng lao động nông thôn và hối thúc họ rời quê hương đi làm ăn
xa Thứ hai, trong lĩnh vực sản xuất công nghệ và đầu tư công nghệ mới, sự hộinhập của Việt Nam vào nền kinh tế chung của toàn cầu đã thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài; lao động di cư được thu hút đến khu vực đầu tư nước ngoài và nhữngtrung tâm công nghiệp Ở đô thị, các quy định về đăng kí hộ khẩu, hộ tịch cho dùcòn tồn tại cũng không còn hạn chế nhu cầu về nhu yếu phẩm hay tìm việc làmngoài thị trường lao động như trước đây Thứ ba, song song với quá trình này, mạnglưới xã hội dựa trên cơ sở cộng đồng ngày càng mở rộng và thúc đẩy việc di chuyểncủa người dân (Đặng Nguyên Anh, 1998) Sự phát triển của mạng lưới giao thôngvận tải với chất lượng tốt hơn, dễ dàng hơn và mạng lưới viễn thông liên lạc, cácphương tiện thông tin đại chúng giữa các vùng khác nhau đã tạo điều kiện thuận lợicho việc di chuyển về không gian và tăng cường sự giao thoa và các quan hệ xã hộigiữa nông thôn và thành thị
Ba là, Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hoá phát triển nhanh chóng tại Việt
Nam trong những năm gần đây đã tác động đáng kể tới dòng di cư từ nông thôn rathành thị Tỉ lệ của ngành công nghiệp và dịch vụ đóng góp trong GDP có xu hướngtăng và tỉ lệ ngành nông nghiệp có xu hướng giảm Quá trình công nghiệp hóa chủyếu diễn ra ở các khu vực thành thị do có lợi thế so sánh nhưng sau đó sự khan hiếm
về đất đai và cơ sở hạ tầng đã hình thành nên các khu công nghiệp gần các thànhphố lớn – các khu công nghiệp này thu hút một lượng khổng lồ vốn đầu tư nướcngoài cũng như một lượng lớn công nhân và công nhân không trực tiếp (làm việctrong các khu vực mà sản xuất có liên quan đến khu công nghiệp) Sự phát triển củacông nghiệp hóa và các thành phố lớn thúc đẩy quá trình đô thị hoá ở Việt Nam, đôthị hóa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế và quá trình này phát triển rấtnhanh trong thời kì công nghiệp hóa Tốc độ tăng dân số ở đô thị lớn hơn so với tốc
độ tăng dân số của cả nước và điều này có nghĩa rằng quá trình di cư nông thôn ra
Trang 21thành thị đã tạo nên một sự thay đổi không thể phủ nhận trong cấu trúc dân số củaViệt Nam.
Bước chuyển mình theo hướng kinh tế thị trường đã thay đổi bộ mặt của nềnkinh tế, cải thiện mức sống của người dân nói chung và những người nghèo nóiriêng Nhưng việc giảm nghèo không có nghĩa là giảm khoảng cách chênh lệch giữangười giàu và người nghèo Sự bất bình đẳng không chỉ là hiện tượng giữa ngườigiàu và người nghèo mà còn thấy được giữa nông thôn và thành thị Sự phát triểnmất cân đối giữa các vùng lãnh thổ trong nền kinh tế thị trường và sự khơi rộngkhoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền cũng như giữa các tỉnh thành trongtăng trưởng kinh tế thời mở cửa chính là sự khác biệt căn bản được xem là nguyênnhân chính đối với di cư nông thôn ra thành thị
b Quy luật của quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư từ nông thôn ra thành thị nói riêng và di cư nói chung là một hiện tượng tựnhiên của quá trình phát triển kinh tế bởi nó xảy ra để thích nghi những cơ hội vềkinh tế cũng như phi kinh tế Việc phân bố lại dân cư sẽ tiếp diễn cho đến khi những
cơ hội này đồng đều giữa các vùng, miền Trong quá trình này, di cư từ nông thôn
ra thành thị là phổ biến nhất đặc biệt khi các nước bước vào quá trình công nghiệphóa - hiện đại hóa đi kèm với nó là quá trình đô thị hóa không thể tránh khỏi, vớiđại bộ phận dân số sống ở nông thôn và kế sinh nhai của họ là làm nghề nông, khiquá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa bắt đầu thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũngdiễn ra mạnh mẽ hơn Tỉ trọng lao động trong ngành nông nghiệp có xu hướng ngàycàng giảm trong khi đó tỉ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ,thương mại ngày càng tăng Di cư từ nông thôn ra thành thị góp phần mang lại sựcân bằng về lao động, cân bằng giữa cung và cầu lao động ở cả nông thôn và thànhthị Do đó, quá trình di cư là tất yếu trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệphoá
Quá trình di cư luôn chịu tác động của yếu tố “nhân tố đẩy” và “nhân tố kéo”hay quá trình di dân xảy ra khi có sự khác biệt về đặc trưng giữa hai vùng: vùng đi
và vùng đến Nhân tố đẩy là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính
Trang 22trị, văn hóa…ở vùng xuất phát đang gây khó khăn cho người dân ở đó như là: dođiều kiện sống khó khăn, ít công ăn việc, thiếu đất đai làm nên người ta phải di cưrời bỏ quê hương tìm đến một nơi khác để cư trú và làm việc kiếm sống, trong đókhu vực thành thị với nhiều lợi thế là những nhân tố kéo người nông dân rời bỏnông thôn và đến đó lập nghiệp – đây là “nhân tố đẩy; thứ hai, do các nhân tố hút ởnơi đến như những điều kiện, yếu tố thuận lời về tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị,văn hóa…cùng với sự hấp dẫn về việc làm, cơ hội thu nhập cao và mức sống ở nơiđến, đây là “nhân tố kéo”.
Quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn tiếp diễn trong khi thất nghiệp ởthành thị là khá cao (có thể làm việc ở các khu vực không chính thức); với số lượngviệc làm được đưa ra ở thành thị thì số người di cư từ nông thôn ra đô thị có thể lớnhơn bởi vì họ không nhất thiết đòi hỏi phải làm việc trong những khu vực chínhthức mà có thể làm ở những khu vực không chính thức: bán hàng rong, thợ thủcông, thợ đánh giầy, người sửa chữa, quét rác, giúp việc trong gia đình với hi vọngqua thời gian sẽ tìm được một công việc ở thành thị với mức lương cao hơn ở khuvực nông thôn – đây là cách mà họ có thể dần bước chân vào nền kinh tế thành thị.Trường hợp này cũng phù hợp với những người di dân mùa vụ - những ngườikhông hẳn là thất nghiệp mà tìm cách làm việc trong thành thị với thời gian ngắntrong lúc nông nhàn, mùa vụ xây dựng hay du lịch…để có thêm thu nhập
c Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư
Đối với quá trình di cư trên thế giới nói chung đều phải tính toán đến một sốnhân tố có ý nghĩa quan trọng, kể đến như là: khoảng cách di chuyển, cơ hội tìmkiếm việc làm tốt hơn ở nơi đến, khả năng thu nhập, các thông tin cần thiết về nơiđến…Nhìn chung, các nghiên cứu về di cư đều đi đến thống nhất là quyết định di cưphụ thuộc vào một số nhân tố ảnh hưởng xét về phía cá nhân của người di cư như:
* Nạn thất nghiệp cũng như không hài lòng về công việc đóng vai trò là nhân tố
“đẩy” đối với sự di cư Những người mới di cư đến một vùng và sau đó không tìmđược việc làm ở nơi đó thì họ có thể lại di chuyển tiếp sang vùng khác hoặc nhữngngười bị thất nghiệp thường trở thành những người di cư
Trang 23* Những người thất nghiệp, những người đang tìm kiếm việc làm thường dễphản ứng với các vấn đề kinh tế có liên quan như khả năng thu nhập, mức lương, vànói chung họ thường muốn khả năng kiếm sống tăng cao hơn nữa Điều này tráingược với những người đang thoả mãn với công việc của mình đang có.
* Những gia đình đã nhiều lần di cư thường có khuynh hướng di chuyển nhiềuhơn so với các gia đình chỉ di cư một lần hoặc chưa có lần nào di cư trong thời giangần đây Có thể xem họ là những người di cư mãn tính hay kinh niên
Trong những cuộc di cư của các hộ gia đình thì vai trò của người vợ có ý nghĩaquan trọng trong việc quyết định di cư, họ không phải là những người thụ động
* Tuổi tác và học vấn không giữ vai trò quyết định trong việc ảnh hưởng đếnquyết định di cư của các cặp vợ chồng
Ngoài ra, nhân tố quan trọng hay cũng coi là nguyên nhân quan trọng tác độngtới vịêc ra quyết định của người di cư như: điều kiện việc làm, thu nhập, các điềukiện về kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục ở khu vực thành thị luôn tốt hơn so với ởnông thôn Hơn nữa, sự thay đổi nhận thức trong chính sách của chính phủ vớingười di cư từ việc hạn chế, nới lỏng cho đến công nhận và tạo điều kiện hỗ trợnhiều hơn cho cuộc sống người di cư là những nhân tố kéo người di cư ra khỏi làngquê của mình để tìm cuộc sống tốt đẹp hơn Một nhân tố nữa do ông Đặng NguyênAnh đưa ra đó là: “mạng lưới xã hội” được hình thành từ quá trình di dân gọi là:
“mạng lưới di dân”, những người di cư lâu năm và đã có cơ ngơi ổn định tại thànhthị thường mời và “hỗ trợ” người thân ở quê khi họ muốn di cư Những mối quan hệnày thường liên quan đến đến việc người dân mới đến thuê trọ, tạm ứng tiền bạchoặc vay nợ người quen để bắt đầu tìm kiếm việc làm, tự tìm việc hoặc được ngườiquen giúp chọn công việc có thu nhập thường xuyên Do vậy, người di cư có đầy đủthông tin về nơi đến qua họ hàng, điều này sẽ góp phần giảm những rủi ro do thiếuthông tin và tăng cơ hội thành công của quá trình di dân Do đó, “mạng lưới di cư”
là nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy quá trình chuyển cư
1.2.2.3 Tác động kinh - tế xã hội của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị
Trang 24a Tác động tích cực của dòng di cư nông thôn – thành thị tới đời sống kinh tế
-xã hội:
Càng ngày, việc dịch chuyển dân cư và sự điều chỉnh lực lượng lao động đónggóp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam Dân di cư đónggóp vào sự phát triển kinh tế thông qua:
Một là, dòng lao động di cư đã bổ sung lực lượng lao động đáng kể trong cáclĩnh vực kinh tế ở thành thị, giúp các nhà tuyển dụng tiếp cận nguồn lao động mộtcách có hiệu quả, nhưng giá thấp bởi vì sự cung cấp lao động cần phải duy trì mứclương cạnh tranh cho các nhà tuyển dụng
Hai là, những người di cư chấp nhận những công việc khác nhau kể cả nhữngcông việc mang tính chất tạm thời (như: gom phế liệu, nguyên liệu tái chế, bốc vác,giúp việc gia đình…) ở những mức lương thấp mà người thành thị không làm nếukhông được bảm đảm các phúc lợi xã hội như bảo hiểm y tế và xã hội tốn kém Dovậy, di cư đã tạo ra một thị trường năng động mà trước đây chưa có
Ba là, sự di cư trong nước hay từ nông thôn ra thành thị giúp giảm nghèo đói cụthể là: tăng khả năng kiếm tiền đáng kể so với thu nhập của người không di cư tạinông thôn; có ảnh hưởng tích cực với kinh tế địa phương tại những nơi đến vì cáckhoản chi tiêu của người di cư; gửi tiền về quê hương để đầu tư cho các hoạt độngtăng thu nhập, đầu tư kinh doanh, trả nợ, chi trả tiền chữa bệnh, tiền tiêu dùng củagia đình, tiếp cận các kĩ năng làm việc và hiểu biết thông tin về thị trường, nắm bắt
kĩ năng kỹ thuật về áp dụng tại quê hương
Bốn là, dòng di cư này cũng giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước dành chocác dịch vụ tại những nơi họ rời đi, trong khi đến nơi sinh sống họ lại không đượcchính quyền hỗ trợ và đồng thời giúp chính quyền nơi đến giảm bớt các chi phíquản lý các dịch vụ ở thành thị thông qua việc thu nhặt, vận chuyển phế liệu và nhưvậy những người di cư tham gia vào dây chuyền sản xuất tái chế
b Tác động tiêu cực của dòng di cư nông thôn – thành thị đến kinh tế - xã hội
- Lao động di cư - đối tượng ít được bảo vệ nhất trong thị trường làm việc mớigia nhập Họ thường không có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề
Trang 25nghiệp hay tai nạn lao động do bản chất công việc của họ là tạm thời và không đượcđăng kí hộ khẩu thường trú, người lao động di cư không thể tự bảo vệ mình khỏinhững rủi ro về sức khoẻ, họ không tự tổ chức được những cuộc thương lượng tậpthể để đòi hỏi một đồng lương xứng đáng và yêu cầu được bồi thường trong trườnghợp bị thương tật hoặc đau ốm
- Những người di cư cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và
xã hội Họ không phải là đối tượng được quan tâm nhiều đến việc nâng cao khảnăng tiếp cận các dịch vụ y tế, nhà ở, xã hội cho người nhập cư, họ có lương thấpnhưng nhu cầu tiết kiệm lại cao do vậy lao động di cư thường sống chui rúc trongcác khu nhà trọ đông đúc, thiếu thốn các tiện nghi cơ bản và an toàn Bên cạnh đó,tình trạng dễ tổn thương đói với nhóm phụ nữ di cư thường do bị xâm hại tình dục
và bạo lực, thậm chí gây nên các rủi ro lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đườngtình dục và HIV/AIDS Những vấn đề này ảnh hưởng rõ nét đến an ninh xã hộicũng như vấn đề về môi trường ở các đô thị đông đúc người di cư
- Cơ sở hạ tầng ở thành thị được cung cấp tốt hơn so với các vùng nông thônnhưng chỉ đảm bảo cho một khối lượng người cụ thể mà thôi Khi có dòng di cư quálớn từ các vùng miền khác ra thành thị, cùng với điều này là khối lượng phương tiệngiao thông sử dụng cũng tăng lên đáng kể sẽ tác động tới yếu tố hạ tầng như: đường
xã, đất đai, nhà ở đều trở nên quá tải ở thành thị
1.3 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc sống của hộ gia đình
1.3.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm rộng, đã từng được hiểu theo nhiềunghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau Trong các tác phẩm củaC.Mác hay của các nhà kinh tế chính trị cổ điển khác như A.Smith, D.Ricardo,R.Malthus, J.S.Mill đã có tư tưởng mở rộng và đề cao các giá trị về CLCS củacon người CLCS như là mục đích trong việc tạo điều kiện thuận lợi giúp con người
có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú
Theo R.C.Sharma thì CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏamãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ
Trang 26bản của chính bản thân xã hội Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống”, ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự
cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộcsống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một conngười Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà conngười có được Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộcsống” Theo R.C.Sharma thì mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xãhội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS.Trong xã hội hiện đại, khái niệmchất lượng cuộc sống thường được đồng nhất với khái niệm thoải mái tối ưu Trong
đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao chất lượng cuộc sống là tạo ra một trạngthái thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời gian nghỉ ngơi Sự tối ưuhóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng
mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được
Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hơn.Theo ông, CLCS thể hiện ở 12 đặc trưng:
(1) An toàn thể chất cá nhân
(2) Sung túc về kinh tế
(3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật
(4) An ninh quốc gia được đảm bảo
(5) Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau
(6) Hạnh phúc về mặt tinh thần
(7) Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội
(8) Bình đẳng về giáo dục, y tế
(9) Chất lượng đời sống văn hóa
(10) Quyền tự do công dân
(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật
(12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm
Trang 27Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định CLCS đượcđặc trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành và môi trường
xã hội lành mạnh
Để định lượng khái niệm CLCS, ở Thái Lan đã xây dựng 37 chỉ tiêu phảnánh các nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáodục và thông tin, an toàn, việc làm Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượngcuộc sống theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao)
Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng nhữngnhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người.Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao Bên cạnh đó, CLCS còn được gắnliền với môi trường và sự an toàn của môi trường Một cuộc sống sung túc là mộtcuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết như cơ sở hạ tầng hiện đại,các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ Đồng thời, con người phải được sốngtrong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môitrường xã hội lành mạnh và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các vấn nạn xã hội
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm về chất lượng cuộc sống như sau:CLCS là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật chất của con người,
là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mọi quốc gia CLCScàng cao thì con người càng có nhiều khả năng lựa chọn trong việc phát triển cánhân và trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội đã tạo ra Tuynhiên trong nghiên cứu chỉ đánh giá chất lượng cuộc sống gia đình qua một số chỉtiêu phù hợp với bộ số liệu VHLSS 2006 và VHLSS 2008
1.3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống hộ gia đình
1.3.2.1 Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ tiền và hiện vật mà hộ và thành viêncủa hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường 12 tháng ), baogồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trang 28- Thu từ sản xuất ngành nghề.
- Thu khác
Thu nhập bình quân/người/tháng = [Thu nhập của hộ gia đình/(số nhân khẩu x12)]
1.3.2.2 Chi tiêu cho giáo dục
Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình là tất cả các khoản chi bằng tiền hoặchiện vật được tính thành tiền cho giáo dục của hộ gia đình trong 12 tháng
Chi tiêu cho giáo dục gồm các khoản sau:
+ Chi học phí
+ Chi đóng góp trường lớp (quỹ xây dựng, quỹ phụ huynh,…)
+ Chi mua sách giáo khoa, sách tham khảo
+ Chi mua dụng cụ học tập khác (giấy, bút, cặp vở…)
+ Chi học thêm (cả học thêm ngoại ngữ, vi tính)
+ Chi giáo dục khác (đóng trái tuyến, đi lại, trọ…)
+ Chi cho giáo dục đào tạo khác (nữ công gia chánh, nghề kèm cặp, đánhmáy tốc ký…)
Chi cho giáo dục hộ gia đình là một trong những khoản chi tiêu cho đời sống.Khi thu nhập của hộ gia đình còn ở mức thấp, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đìnhchỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng chi tiêu Bởi vì, trong giai đoạn này phần lớn chitiêu của hộ tập trung vào chi tiêu cho ăn uống và các nhu cầu thiết yếu
Khi thu nhập của hộ gia đình được cải thiện, chi tiêu cho ăn uống và các cácnhu cầu thiết yếu đã được bảo đảm Hộ gia đình sẽ có điều kiện chi tiêu vào cácmục đích nâng cao đời sống, tiết kiệm và đầu tư cho tương lai Lúc này, tỷ trọng chitiêu cho giáo dục của hộ gia đình trong chi tiêu cho đời sống của hộ gia đình sẽ có
xu hướng tăng lên
Tỷ trọng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình cũng là một trong những thước
đo đánh giá mức sống dân cư và bình đẳng xã hội
1.3.2.3 Chi tiêu cho y tế và chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗicon người Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát
Trang 29triển của mỗi quốc gia, là tương lai của dân tộc Sức khỏe là yếu tố cơ bản của chấtlượng cuộc sống dân cư Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự pháttriển Việc chăm sóc tốt sức khỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờkéo dài tuổi thọ Các quốc gia trên toàn thế giới không chỉ quan tâm về mặt sốlượng mà còn chú ý đến chất lượng dân số, chất lượng nòi giống, trong đó có mụctiêu nâng cao thể lực cho con người.
Chi tiêu cho y tế và chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình là tất cả các khoản chiphí được tính thành tiền phục vụ cho việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏecủa hộ gia đình trong 12 tháng qua
Chi tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe gồm các khoản sau:
+ Chi phí khám/chữa bệnh ngoại trú (bao gồm: tiền công khám, chữabệnh, tiền thuốc, đi lại, bồi dưỡng thầy thuốc, mua dụng cụ, …)
+ Chi phí khám/chữa bệnh nội trú (bao gồm: viện phí, tiền công khám,chữa bệnh, tiền thuốc, đi lại, bồi dưỡng thầy thuốc, mua dụng cụ, …)
+ Chi cho việc mua thuốc không qua khám để tự chữa hoặc để dự trữ(gồm tiền thuốc và chi phí khác như: đi lại, gửi xe,…)
+ Chi mua dụng cụ y tế (ống nghe, máy đo huyết áp, máy trợ thính, máyhút đờm, tủ thuốc, ống kẹp nhiệt độ, bông, băng, gạc…)
+ Chi cho mua bảo hiểm y tế tự nguyện, bảo hiểm học sinh, hoặc góp tiềnvới các tổ chức khác/người khác để mua bảo hiểm y tế
1.3.2.4 Chi thường xuyên về nhà ở, điện, nước của hộ gia đình
Là tất cả các khoản chi bằng tiền hoặc hiện vật được tính thành tiền cho nhà ở,điện, nước của hộ gia đình trong 12 tháng bao gồm:
+ Chi cho thuê hoặc mua nhà ở+ Chi cho nước ăn uống, sinh hoạt của hộ+ Chi cho điện sinh hoạt
+ Chi cho thu gom rác thải sinh hoạt
* Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng là yếu
tố quan trọng phản ánh CLCS của hộ gia đình Tiêu chuẩn để xem điều kiện sử
Trang 30dụng nguồn điện sinh hoạt là tỉ lệ hộ gia đình được sử dụng điện (điện lưới, điện ắcquy, máy nổ,…)
* Sử dụng nước sạch: sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu cơ bản và cấp thiết của
con người Đây là yếu tố quan trọng để xem xét CLCS của dân cư
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch của dân cư là tỉ lệ hộgia đình được sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác
từ nguồn lộ thiên đã qua xử lí )
* Điều kiện nhà ở: tiêu chí để đánh giá điều kiện nhà ở là chất lượng nhà ở Chất
lượng nhà ở thường chia làm ba loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà tạm
1.3.2.5 Chi tiêu bình quân đầu người hộ gia đình
Chi tiêu hộ gia đình bao gồm các khoản chi sau:
+ Chi y tế+ Chi giáo dục+ Các khoản chi tiêu cho ăn uống, kể cả những sản phẩm tự sản xuất
đã tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống của hộ gia đình (trong các dịp lễ tết và thườngxuyên hàng ngày);
+ Chi tiêu dùng hàng không phải lương thực, thực phẩm + Chi mua đồ dùng lâu bền
+ Chi thường xuyên về nhà ở, điện, nước+ Chi khác của hộ
Chi tiêu bình quân/người/tháng = [Chi tiêu của hộ gia đình/(số nhân khẩu x12)]
Trang 31CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH
THỊ Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng của quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam
2.1.1 Di cư lao động giữa các vùng trong cả nước
Thực tế của quá trình di cư ở Việt Nam đã diễn ra từ rất lâu Trong những thập
kỷ trước, số lượng người di cư lớn nhất là trong những đợt di cư có tổ chức của nhànước đi làm “kinh tế mới” Thời gian gần đây, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, sốngười di cư tự do tăng lên do tác động của các quan hệ kinh tế hơn là theo các kếhoạch của nhà nước Các vùng có tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh là cácvùng thu hút số lượng người nhập cư lớn, ngoài ra cũng có một số lượng người di
cư từ các vùng nông thôn tới các vùng nông thôn khác
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu lao động di cư của cả nước phân theo vùng
Tỷ lệ di cư đi (%)
17.52
11.32
0.72 22.46 10.15
3.23 3.68
30.91
ĐBSH Đông Bắc Tây Bắc Bắc Trung bộ NamTrung bộ Tây Nguyên Đông Nam bộ ĐBSCL
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm 2008
ĐBSCL là vùng đồng bằng châu thổ lớn nhất là vùng kinh tế sản xuất nôngnghiệp (50% sản lượng lúa, 70% lượng trái cây), thủy sản (52%) lớn nhất nước,đóng góp 90% số lượng gạo xuất khẩu và 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cảnước Tuy nhiên ở đây đời sống tinh thần và vật chất của đồng bào còn thấp, chưabằng bình quân chung của cả nước Cơ sở hạ tầng nhìn chung còn rất yếu kém, mặtbằng dân trí cũng thấp hơn bình quân chung cả nước.Vì vậy lao động ở khu vực này
có xu hướng di cư đến các vùng có mức sống cao hơn và nhiều cơ hội việc làm hơn
Trang 32( như: TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, …) Theo số liệu VHLSS năm
2008, ĐBSCL là vùng có tỷ lệ di cư cao nhất trong cả nước là 30,91%
Bắc Trung Bộ là vùng có khí hậu khắc nghiệt nhất so với các vùng khác (gióphơn tây nam khô nóng), sông ngòi ngắn dốc, ít phù sa Đây cũng là vùng đất đaikém màu mỡ và nhiều thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán…) Nhiều năm qua, Chính phủ
có những chính sách đầu tư, kể cả khoa học – công nghệ nhằm phát triển nôngnghiệp, nông thôn vùng ven biển Trung Bộ nói chung và Bắc Trung Bộ nói riêng.Tuy nhiên, đến nay Bắc Trung Bộ vẫn là vùng kinh tế còn nhiều khó khăn Laođộng nông thôn thiếu việc làm, thu nhập thấp, đời sống khó khăn Điều đó giải thích
vì sao tỉ lệ di cư ở vùng Bắc Trung Bộ đứng thứ hai trong cả nước chiếm tới22.46%
Đồng bằng sông Hồng là vùng dân cư đông đúc nhất cả nước Mật độ dân sốtrung bình là 1238 người/km2 (năm 2008) Mặc dù tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số trong vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao, gấp 5 lần so với mật độ trungbình của cả nước, gấp gần 3 lần so với Đồng bằng sông Cửu Long, gấp 10 lần sovới Miền núi và trung du Bắc Bộ và gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên Đây là mộtthuận lợi vì vùng có nguồn lao động dồi dào với truyền thống kinh nghiệm sản xuấtphong phú, chất lượng lao động dẫn đầu cả nước Thế nhưng, dân số đông cũngđem đến những khó khăn nhất định, gây sức ép nặng nề lên sự phát triển kinh tế - xãhội của vùng Trong nhiều năm qua, nước ta đã tiến hành phân bố lại dân cư và laođộng trên phạm vi cả nước Đối với Ðồng bằng sông Hồng, điều đó có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng Ngay từ năm 1961 đã có nhiều người từ Đồng bằng sông Hồngchuyển lên các tỉnh thuộc miền núi Tây Bắc và một số tỉnh thuộc miền núi ĐôngBắc Nhưng phải đến cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỉ này, việcchuyển cư mới được thực hiện với quy mô lớn Trong thời kỳ 1984 – 1989, tỉ lệchuyển cư thuần tuý (tương quan giữa tỉ lệ người chuyển đến và tỉ lệ người chuyểnđi) của hầu hết các tỉnh trong vùng đều mang giá trị âm, nghĩa là số người chuyển đinhiều hơn số người chuyển đến Đồng bằng sông Hồng Năm 2008, tỉ lệ lao động di
cư ở ĐBSH khoảng 15.52% cao thứ ba trong cả nước
Trang 33Vùng Tây Bắc gồm 12 tỉnh miền núi, trung du phía Bắc là khu vực có mật độdân số thuộc diện thấp nhất cả nước (khoảng 105 người/km2 ) Tây Bắc là Vùng cónguồn tài nguyên phong phú, có tiềm năng nhất nước ta về đất đai, tài nguyên thiênnhiên, khoáng sản với các mỏ có giá trị như apatit, sắt, đá vôi, đất hiếm, đa kim, đakhoáng và thuỷ điện – đây là lợi thế để phát triển các ngành công nghiệp khaithác, chế biến khoáng sản, thuỷ điện, sản xuất giấy, sản xuất xi măng, chế biến gỗ.Trong thời gian qua, Vùng Tây Bắc được Đảng, Chính phủ quan tâm đặc biệt và cónhiều chính sách đầu tư, ưu đãi nhằm nâng cao đời sống kinh tế-xã hội Thực hiệnNghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã giành một khối lượngvốn khá lớn tập trung vào vùng, thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia,chương trình 135, các dự án Quốc gia, các dự án sử dụng trái phiếu Chính phủ, côngtrái giáo dục, các hỗ trợ có mục tiêu khác và thông qua các dự án, chương trìnhtrong chương trình hành động của CP Nhiều dự án quốc gia đã và đang triển khaiđầu tư tại đây – là tiền đề cho việc phát triển vùng và tạo công ăn việc làm cho laođộng của vùng Chính vì vậy, tỉ lệ di cư ở vùng là thấp nhất trong cả nước khoảng0.72%.
2.1.2 Di cư lao động từ nông thôn ra thành thị
Quá trình di cư nông thôn – thành thị diễn ra mạnh mẽ trong khoảng 10 nămtrở lại đây Tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ CNH và đô thị hóa ngày càng cao mộtmặt biến một số vùng nông thôn trở thành thành thị, mặt khác khu vực đô thị ngàycàng mở rộng cũng tạo ra khả năng số người di chuyển đến các đô thị ngày càng lớnhơn và với tốc độ nhanh hơn Tỷ lệ di cư từ nông thôn tới các đô thị được trình bàytrong
Bảng 2 1 Số lao động di cư theo nơi cư trú và nơi đến
Nơi cư trú Hà nội (tỉ lệ %) TP HCM (tỉ lệ %)Nơi đến Tỉnh khác (tỉ lệ %)
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm 2008
Trang 34Số liệu từ VHLSS năm 2008 cho thấy rằng nông thôn là nơi xuất phát của đại
đa số người di cư Số lao động di cư xuất phát từ nông thôn chiếm tới 91,28% Tỷ lệdân nông thôn di cư đến TP HCM là cao nhất khoảng 43,75%, tỷ lệ nông thôn di cưđến Hà Nội chiếm 8,98%, còn lại là di cư đến các tỉnh khác Đối với những người di
cư nông thôn ra thành thị các nơi đến phổ biến nhất là các thành phố lớn như TPHCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng Gần đây di cư cũng góp phần phát triển cácthành phố địa phương Cần Thơ, Long Xuyên, Cà Mau tại khu vực ĐBSCL và gópphần phát triển các trung tâm kinh tế như Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai Trong tổng số dân di cư, nam giới chiếm tỉ lệ cao hơn với 57 % Điều nàyđúng cho tất cả các vùng trong cả nước Tây Bắc là nơi có tỷ lệ nam lao động di cư
đi cao nhất với 75% Tây Nguyên là nơi có tỷ lệ lao động nữ di cư cao nhất với47,22% , tỷ lệ lao động nữ di cư đi của các một số vùng trong cả nước được thể hiệntrong biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ lao động di cư theo giới tính và khu vực
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm 2008
Có thể thấy, độ tuổi của những người di cư từ nông thôn – thành thị có độ tuổi
từ 20-29 chiếm tỉ lệ cao nhất 63,95%, tiếp đến là độ tuổi từ 13-19 chiếm 21,14%, độtuổi từ 50 trở lên chỉ chiếm khoảng 1,7% Dễ dàng nhận thấy những người di cưđều đang trong độ tuổi lao động sung sức Đặc điểm này cũng hoàn toàn phù hợpvới đặc tính chọn lọc của di cư theo độ tuổi: những người ở độ tuổi trưởng thành và
Trang 35mới lớn có khuynh hướng di cư nhiều hơn và họ dễ thích nghi và hòa nhập với điềukiện sống Thêm nữa phần nhiều đều là thanh niên chưa lập gia đình nên không cóquá nhiều ràng buộc
Bảng 2.2 Số lao động di cư theo giới tính
Nhóm tuổi 13-19 20-29 30-39 40-49 >=50 Tổng
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm 2008
Theo tính toán thì có khoảng 83.75% số người di cư nam và 86.9% số người di
cư nữ trong độ tuổi từ 13-29 Chứng tỏ độ tuổi di cư của nữ thường sớm hơn củanam Vào những năm gần đây số lượng di cư nữ di chuyển đến các khu công nghiệpđang ngày một tăng Điều này phản ánh nhu cầu ngày càng cao đối với lao động nữtrong một số ngành dịch vụ và ngành công nghiệp Xã hội cũng thấy được số ưuviệt của phụ nữ vì họ thường độc lập về kinh tế, không ngại di chuyển,… hơn nữalại có một nhu cầu lớn về lao động nữ giới tại các nhà máy cần nhiều lao động, nhất
là các ngành nghề kinh doanh dịch vụ ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã thuhút đông đảo người di cư là phụ nữ đến làm việc, cộng thêm các nhà máy sản xuấthàng hóa cần nhiều lao động như nhà máy dệt, nhà máy may, nhà máy sản xuất giầydép và chế biến là động lực chính khuyến khích phụ nữ di cư ngày càng đông
Biểu đồ 2.3 Di cư theo nhóm tuổi
Trang 36423
72
18 14 121
285
38
18 50
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm 2008
Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ di cư theo nhóm tuổi và giới tính
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu VHLSS năm 2008
Tỉ lệ di cư nữ ở độ tuổi trên 50 là ít nhất chỉ chiếm 26%, tiếp đến là đến độtuổi từ 30-39, 20-29 với tỉ lệ lần lượt là 34.55% và 40.25% Ở độ tuổi 40-49 thì tỉ
lệ di cư giữa nam và nữ là bằng nhau, ở độ tuổi trẻ nhất có số lượng di cư đôngnhất thì tỉ lệ nữ (51.71%) lại cao hơn tỉ lệ nam giới(48.29%)