Cơ sở lý luận của luận văn là một số lý thuyết cơ bản về công ty tài chínhnhư khái niệm, vai trò, các hoạt động cơ bản, các mô hình công ty tài chính; về hoạtđộng cho vay trung và dài hạ
Trang 1nguyÔn thuú linh
n©ng cao chÊt lîng cho vay trung vµ dµi h¹n t¹i tæng c«ng ty tµi chÝnh cæ phÇn dÇu khÝ (pvfc)
Chuyªn ngµnh: kinh tÕ tµi chÝnh - ng©n hµng
ngêi híng dÉn khoa häc: ts trÇn thÞ thanh tó
Hµ Néi - 2011
Trang 2Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Ngânhàng Tài chính, Viện Đào tạo Sau đại học của trường Tác giả đặc biệt cám ơn TS.Trần Thị Thanh Tú và Quý Thầy Cô đã tận tình hướng dẫn, ủng hộ em hoàn thànhluận văn.
Tác giả xin cảm ơn bạn bè, toàn thể học viên lớp CH18A, đồng nghiệp vànhững người thân trong gia đình đã ủng hộ, tạo điều kiện và thường xuyên độngviên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN i
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH 5
1.1 Một số vấn đề cơ bản về Công ty Tài chính 5
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công ty Tài chính 5
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính 8
1.1.3 Phân loại Công ty Tài chính (các mô hình Công ty Tài chính) 10
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính 13
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cho vay trung và dài hạn 13
1.2.2 Các hình thức cho vay trung và dài hạn 15
1.2.3 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại Công ty Tài chính 16
1.3 Chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính 21
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính 21
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính 24
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính 28
1.4.1 Nhân tố chủ quan (các nhân tố về phía Công ty Tài chính) 28
1.4.2 Nhân tố khách quan 34
CHƯƠNG 2: CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ (PVFC) 38
2.1 Giới thiệu chung về Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) 38
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) 38
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) 40
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của PVFC 41
2.1.4 Các hoạt động cơ bản của PVFC 44
Trang 42.1.5 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVFC giai đoạn 2008-2010 (từ
18/3/2008 đến hết năm 2010 – sau khi cổ phần hóa) 46
2.2 Chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) 52
2.2.1 Thực trạng cho vay trung và dài hạn của PVFC 52
2.2.2 Đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn của PVFC 69
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ (PVFC) 76
3.1 Định hướng phát triển của PVFC 76
3.1.1 Định hướng phát triển chung của PVFC 76
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay trung và dài hạn của PVFC 77
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn của PVFC 78
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiệnvà ứng dụng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 78
3.2.2 Hoàn thiện và ứng dụng Mô hình quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng 79
3.2.3 Tăng cường, nâng cao chất lượng thẩm định trước cho vay và kiểm soát sau khi cấp tín dụng 81
3.2.4 Tăng cường công tác thu hồi nợ và xử lý nợ quá hạn 81
3.2.5 Tiếp tục cơ cấu, thanh toán tài sản rủi ro và kém hiệu quả 83
3.2.6 Hoàn thiện, chuẩn hóa quy chế, quy trình cho vay trung và dài hạn 83
3.2.7 Tăng cường huy động vốn trung và dài hạn đảm bảo đầu vào ổn định cho hoạt động cho vay trung và dài hạn 84
3.2.8 Đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng 84
3.2.9 Đẩy mạnh công tác marketing 85
3.2.10 Thực hiện tốt công tác đào tạo, tiếp tục hoàn thiện chính sách nhân sự 85
3.2.11 Tiếp tục cải tiến hệ thống máy móc, công nghệ phục vụ hoạt động cho vay trung và dài hạn theo hướng hiện đại hóa và cập nhật không ngừng 86
3.3 Kiến nghị 87
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 87
3.3.2 Kiến nghị với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) 88
Trang 5KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 61 CDM : Clean Development Mechanism (Cơ chế phát triển sạch)
2 CVTD : Chuyên viên tín dụng
3 NHNN : Ngân hàng Nhà nước
4 PVN : Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
5 PVFC : Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí
6 TW : Trung ương
Trang 7Bảng 1.1: Các đặc điểm phân biệt Công ty Tài chính và Ngân hàng theo các
quy định của Việt Nam 6
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu năm 2008 (từ 18/3/2008 đến 31/12/2008) – 2010 của PVFC 47
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn huy động của PVFC năm 2008 - 2010 48
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay của PVFC giai đoạn 2008 – 2010 60
Bảng 2.4: Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn của PVFC giai đoạn 2008 – 2010 63
Bảng 2.5: Số liệu phân loại nợ của PVFC theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN 66
Bảng 2.6: Một số chỉ tiêu quan trọng về hạn mức tín dụng được quyết định bởi vốn tự có theo quy định của Ngân hàng Nhà nước 89
Sơ đồ 1.1: Quy trình cho vay trung và dài hạn tại Công ty Tài chính 17
Sơ đồ 2.1: Các nội dung thẩm định dự án đầu tư 19
Sơ đồ 2.2: Quy trình cho vay trung và dài hạn tại PVFC 53
Hình 2.1: Biểu đồ tăng trưởng tín dụng của PVFC giai đoạn 2008 - 2010 49
Hình 2.2: Cơ cấu đầu tư của PVFC giai đoạn 2008 - 2010 51
Hình 2.3: Dư nợ cho vay trung và dài hạn so với tổng dư nợ cho vay của PVFC giai đoạn 2008-2010 62
Hình 2.4: Tỷ lệ nợ quá hạn của PVFC qua các năm 2008, 2009, 2010 67
Trang 8nguyÔn thuú linh
n©ng cao chÊt lîng cho vay trung vµ dµi h¹n t¹i tæng c«ng ty tµi chÝnh cæ phÇn dÇu khÝ (pvfc)
Chuyªn ngµnh: kinh tÕ tµi chÝnh - ng©n hµng
Hµ Néi - 2011
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong các nền kinh tế, hoạt động cho vay trung và dài hạn là một trong nhữnghoạt động có vai trò quan trọng, giúp điều hòa và đáp ứng nhu cầu về vốn nhằm nângcao cơ sở vật chất, cải thiện công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần làmtăng năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, mỗi đơn vị Chính vì vậy, việc nângcao chất lượng cho vay trung và dài hạn ở các tổ chức tín dụng nhằm phục vụ ngày mộttốt hơn nhu cầu về vốn của khách hàng đã trở thành mục tiêu cấp thiết
Nền kinh tế càng phát triển, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tín dụng,tài chính, ngân hàng cũng ngày càng xuất hiện nhiều hơn, các sản phẩm, dịch vụ tíndụng cũng được đa dạng hóa và hoàn thiện hơn Hiện nay, bên cạnh tổ chức tíndụng là các ngân hàng thương mại, xuất hiện nhiều công ty tài chính, tuy lĩnh vựchoạt động bị hạn chế so với các ngân hàng thương mại nhưng đã giúp đáp ứng tốthơn nhu cầu về tài chính, tín dụng của khách hàng Trong số các công ty tài chính,Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí nổi bật lên như là một định chế tài chínhmạnh, hoạt động dưới một Tập đoàn lớn – Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam(PVN) với chức năng chính là quản trị nguồn vốn, điều hòa, đáp ứng nhu cầu vềvốn trong nội bộ Tập đoàn Mặc dù hoạt động cho vay trung và dài hạn tại PVFC đã
có bước phát triển nhất định, đạt được nhiều kết quả khả quan, tuy nhiên vẫn còntồn tại một số hạn chế ảnh hưởng đến chất hoạt động tín dụng nói chung và chấtlượng cho vay trung và dài hạn nói riêng tại tổ chức này Do đó, đề tài của luận văn
là “Nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phầnDầu khí (PVFC)” Theo đó, luận văn sẽ tập trung làm rõ thực trạng chất lượng cho vaytrung và dài hạn tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC); qua đó, sẽ đưa
ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại PVFC
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm hệ thống hóa một số vấn đề lýthuyết liên quan đến công ty tài chính và hoạt động cho vay trung và dài hạn tại cáccông ty tài chính; thống nhất về quan điểm “chất lượng” trong hoạt động cho vaytrung và dài hạn; đề ra các nhân tố ảnh hưởng và các tiêu chí ảnh hưởng đến hoạt
Trang 10động cho vay trung và dài hạn; tổng hợp các số liệu về hoạt động cho vay trung vàdài hạn của PVFC… từ đó tính toán theo các chỉ tiêu để thấy được thực trạng chấtlượng của hoạt động cho vay trung và dài hạn tại công ty tài chính này Trên cơ sởkết quả tính toán, luận văn đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế tronghoạt động cho vay trung và dài hạn tại PVFC, tìm ra nguyên nhân của hạn chế; qua
đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy những thành tựu đồng thời hạn chế,
xử lý các tồn tại, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động cho vay trung và dàihạn tại tổ chức này
Cơ sở lý luận của luận văn là một số lý thuyết cơ bản về công ty tài chínhnhư khái niệm, vai trò, các hoạt động cơ bản, các mô hình công ty tài chính; về hoạtđộng cho vay trung và dài hạn như: quy trình cho vay, các nhân tố ảnh hưởng đếnchất lượng cho vay và các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay trung và dài hạn…Dựa trên những lý thuyết cơ sở này, luận văn đi vào thực tế từng vấn đề của TổngCông ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC), như là: các hoạt động cơ bản củaPVFC, quy trình cho vay trung và dài hạn của PVFC, thực trạng hoạt động cho vaytrung và dài hạn tại PVFC…
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp thống kê, suyluận logic, so sánh và những phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tíchbáo cáo tài chính, bao gồm: phương pháp phân tích xu thế, phương pháp phân tích
tỷ trọng, phương pháp phân tích tỷ số Số liệu được sử dụng cho tính toán các chỉtiêu được chiết xuất từ các báo cáo tài chính của PVFC (bảng cân đối kế toán, báocáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính)chủ yếu trong ba năm gần đây 2008, 2009 và 2010, sau khi PVFC đã chuyển đổi môhình sang Tổng Công ty Cổ phần
Dựa trên cơ sở lý luận là những lý thuyết về công ty tài chính và hoạt độngcho vay trung và dài hạn của công ty tài chính, đồng thời sử dụng các phương phápnghiên cứu cụ thể, luận văn đã đạt được một số kết quả nhất định
Thứ nhất, luận văn đã cập nhật được những số liệu mới nhất về tình hìnhhoạt động, kinh doanh nói chung và về hoạt động cho vay trung và dài hạn nói riêng
Trang 11của PVFC trong ba năm gần đây 2008-2010 Điều này cho thấy bức tranh toàn cảnh
về tình hình hoạt động của Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí, từ đó, có thểthấy được tiềm lực tài chính, vị thế, uy tín, triển vọng phát triển của Công ty
Thứ hai, tổng hợp và tính toán được một số chỉ tiêu về cho vay trung và dàihạn của PVFC từ số liệu trên báo cáo tài chính, đặc biệt là trong giai đoạn ba nămgần đây nhất, sau khi PVFC cổ phần hóa Đây là bước nền tảng để thực hiện choviệc đánh giá chất lượng hoạt động cho vay trung và dài hạn tại PVFC
Thứ ba, đánh giá được những mặt tốt (kết quả, thành tựu: dư nợ tín dụngtrung và dài hạn không ngừng tăng qua các năm, lợi nhuận từ hoạt động cho vaytrung và dài hạn cũng gia tăng; hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, mô hình quản trịrủi ro và CoreBanking được triển khai, áp dụng giúp công tác tiếp xúc khách hàng,thẩm định, kiểm tra được cải thiện, tăng tính an toàn của hoạt động cho vay trung vàdài hạn…) và những mặt yếu kém trong hoạt động cho vay của PVFC (tồn tại, hạnchế: tập trung ở khâu kiểm soát, đánh giá rủi ro: chất lượng báo cáo kiểm tra, kiểmsoát chưa cao, các phát hiện chủ yếu tập trung vào tính không tuân thủ quy chế, quytrình; chưa đánh giá tốt hiệu quả của khoản vay, khoản đầu tư…)
Thứ tư, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động cho vaytrung và dài hạn của Tổng Công ty Tài chính Dầu khí chủ yếu là do: tuy các môhình quản trị rủi ro và hệ thống xếp hạng tín dụng tuy đã được áp dụng nhưng vẫntrong giai đoạn ban đầu, còn nhiều vấn đề cần sửa đổi, hoàn thiện, vì vậy vẫn gâymột số khó khăn cho cán bộ tín dụng trong thực thi, phối hợp giữa các bộ phận, ítnhiều ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động cho vay trung và dài hạn
Thứ năm, trên cơ sở đánh giá thành quả, hạn chế và nguyên nhân của hoạtđộng cho vay trung và dài hạn tại PVFC, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn của tổ chức này Những giải phápkhông chỉ nhằm giải quyết, hạn chế những tồn tại trong hoạt động cho vay mà cònnhằm phát huy những kết quả khả quan mà PVFC đã đạt được trong thời gian qua.Những giải pháp đó bao gồm:
Tiếp tục hoàn thiện và ứng dụng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ;
Trang 12Hoàn thiện và ứng dụng Mô hình Quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng;Tăng cường, nâng cao công tác thẩm định trước cho vay và công tác kiểmsoát sau khi cấp tín dụng;
Tăng cường công tác thu hồi nợ và xử lý nợ quá hạn;
Tiếp tục cơ cấu, thanh toán tài sản rủi ro và kém hiệu quả;
Hoàn thiện, chuẩn hóa quy chế, quy trình cho vay trung và dài hạn;
Tăng cường huy động vốn trung và dài hạn đảm bảo đầu vào ổn định chohoạt động cho vay trung và dài hạn;
Đẩy mạnh công tác chăm sóc khách hàng;
Đẩy mạnh công tác marketing, công tác đào tạo, tiếp tục hoàn thiện chínhsách nhân viên – nhân sự;
Tiếp tục cải tiến hệ thống máy móc, công nghệ phục vụ hoạt động cho vaytrung và dài hạn theo hướng hiện đại hóa và cập nhật không ngừng
Thứ sáu, bên cạnh đề xuất những giải pháp nhằm phát huy thành tựu và hạnchế tồn tại trong hoạt động cho vay trung và dài hạn của PVFC, từ đó, nâng caochất lượng cho vay trung và dài hạn, luận văn còn đưa ra một số kiến nghị đối với
cơ quan Nhà nước và với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam – “công ty mẹ” củaTổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí PVFC
Cụ thể là, Nhà nước cần tạo ra môi trường kinh tế, pháp lý thuận lợi hơn nữacho hoạt động của doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng nói chung (trong
đó có công ty tài chính) bằng việc hoàn thiện, chuẩn hóa các chính sách về kinh tếtài chính, tiền tệ theo hướng thống nhất, đồng bộ, thông thoáng và lành mạnh Điềunày sẽ tạo điều kiện thuận lợi và kích thích nhu cầu sản xuất, đầu tư phát triển củacác doanh nghiệp; từ đó làm tăng nhu cầu vay vốn, kết quả là tác động tích cực đếnhoạt động cho vay trung và dài hạn của các công ty tài chính nói chung và PVFCnói riêng Việc điều chỉnh và hoàn thiện các chính sách kinh tế, tài chính theohướng kể trên còn giúp tạo ra môi trường an toàn, lành mạnh hơn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp; đảm bảo các hoạt động kinh tế, đầu tư diễn
Trang 13ra an toàn, hiệu quả hơn; góp phần làm giảm nguy cơ nợ xấu, nợ quá hạn trong lĩnhvực tín dụng, nâng cao chất lượng của hoạt động cho vay.
Về phía Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), Tập đoàn cần tiếptục tạo điều kiện cho PVFC tăng vốn điều lệ nhằm tăng khả năng cho vay củaTổng Công ty, đồng thời hỗ trợ PVFC trong công tác tìm kiếm, đào tạo, tuyểndụng nhân tài, đặc biệt là trong lĩnh vực tín dụng Thông qua việc nâng cao chấtlượng nhân lực, chất lượng của hoạt động cho vay trung và dài hạn của PVFCcũng sẽ được cải thiện
Bên cạnh một số kết quả đã đạt được, luận văn vẫn còn mặt hạn chế do chưagiải quyết được một vấn đề đang vướng mắc, làm ảnh hưởng đến chất lượng chovay trung và dài hạn của PVFC, đó là vụ việc nợ quá hạn của Tập đoàn Côngnghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) Đối với khoản nợ quá hạn của Vinashin,trong năm 2010, theo Chỉ thị của Chính phủ, PVFC đã tiến hành khoanh nợ, cơ cấulại khoản nợ và chưa đưa vào nợ xấu, tiếp tục cho Vinashin vay để hoàn thiện các
dự án còn dang dở Tuy nhiên, đến cuối năm 2010, PVFC vẫn chưa thu hồi đủ cáckhoản nợ từ phía Vinashin Việc này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượngtín dụng của PVFC Vì vậy, nếu có điều kiện tiếp tục nghiên cứu nâng cao, luận văn
sẽ tập trung vào việc giải quyết vấn đề nợ xấu, nợ quá hạn tại PVFC, trong đó sẽ đềxuất giải pháp cho vụ việc Vinashin, nhằm cải thiện chất lượng của hoạt động chovay trung và dài hạn tại đơn vị này
Trang 14nguyÔn thuú linh
n©ng cao chÊt lîng cho vay trung vµ dµi h¹n t¹i tæng c«ng ty tµi chÝnh cæ phÇn dÇu khÝ (pvfc)
Chuyªn ngµnh: kinh tÕ tµi chÝnh - ng©n hµng
ngêi híng dÉn khoa häc: ts trÇn thÞ thanh tó
Hµ Néi - 2011
Trang 15LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước pháttriển mạnh mẽ, tăng trưởng kinh tế luôn đạt tỷ lệ cao Trong hai năm 2008, 2009,trong khi các nền kinh tế trên thế giới rơi vào khủng hoảng sâu sắc, kinh tế ViệtNam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá, lần lượt là 6,3 % vào năm 2008 và 5,3%năm 2009; tốc độ tăng trưởng GDP trung bình giai đoạn 2000 - 2009 đạt khoảng7,26%/năm Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về vốn phục vụ cho đầu
tư phát triển, cho mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh không ngừng tăng lên quacác năm Do nền kinh tế Việt Nam đi lên từ một xuất phát điểm thấp, các trang thiết
bị, công nghệ, máy móc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp vẫn trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu Điều này khiến cho các doanhnghiệp trong nước không đủ sức cạnh tranh với bên ngoài Muốn cải thiện được tìnhtrạng này, các doanh nghiệp phải sử dụng đến một khối lượng vốn khá lớn và trongkhoảng thời gian tương đối dài
Chính vì lí do trên, nhu cầu đối với các khoản vay trung và dài hạn nhằm cảithiện, nâng cao cơ sở vật chất, công nghệ góp phần tăng năng lực cạnh tranh, mởrộng, phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên cần thiết Để đáp ứng nhucầu này, nhiều tổ chức tín dụng đã được thành lập Tuy nhiên, một số vấn đề còntồn tại trên thực tế khiến cho chất lượng tín dụng trung và dài hạn ở Việt Nam vẫncòn ở mức thấp đó là:
Thứ nhất, tình hình huy động vốn trung và dài hạn của các tổ chức tín dụng
còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến các rủi ro tiềm ẩn do chênh lệch về kỳ hạn giữanguồn vốn và sử dụng vốn Khả năng thanh khoản, tính an toàn không đảm bảo dovốn ngắn hạn huy động được sử dụng cho vay trung và dài hạn còn nhiều
Thứ hai, quy trình cho vay trung và dài hạn còn nhiều phức tạp, rườm rà, gây
mất thời gian và công sức cho cả Công ty Tài chính và doanh nghiệp đi vay
Trang 16Thứ ba, về thẩm định khách hàng, khả năng nắm bắt và phân tích khách
hàng của cán bộ tín dụng chưa đồng đều dẫn đến chất lượng và thời gian ra quyếtđịnh chưa thực sự đáp ứng nhu cầu làm số dự án được vay vốn bị hạn chế, gián tiếplàm tăng chi phí, giảm lợi nhuận
Thứ tư, quy mô cho vay chưa tương xứng với nguồn huy động gây tình trạng
lãng phí nguồn vốn
Sự xuất hiện của các tổ chức tín dụng tuy còn nhiều vấn đề cần điều chỉnhsong đã đáp ứng được phần nào nhu cầu vốn trung và dài hạn phục vụ mở rộngsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Bên cạnh các tổ chức tín dụng là Ngânhàng thương mại, còn xuất hiện nhiều Công ty Tài chính, trong đó đáng chú ý làTổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC)
Nhiệm vụ chính của PVFC là đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn choPetroVietnam, các đơn vị thành viên và các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt lànhu cầu vốn trung và dài hạn để thực hiện các dự án lớn, hiện đại hóa tài sản cốđịnh phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Để làm tốt nhiệm vụ này,vấn đề đặt ra cho PVFC chính là phải làm sao để nâng cao chất lượng cho vay trung
- dài hạn sao cho nguồn vốn được phân bổ đúng nơi và được sử dụng có hiệu quả.Chính vì vậy, việc phân tích thực trạng và đi tìm giải pháp để nâng cao chất lượng
cho vay trung và dài hạn trở thành mục tiêu chính của luận văn “Giải pháp nâng
cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC)”.
2 Mục đích nghiên cứu
Một là, hệ thống hóa một số khái niệm liên quan đến Công ty Tài chính và
cho vay trung và dài hạn
Hai là, mô tả thực trạng chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Tổng Công
ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) Từ đó, chỉ ra những kết quả đã đạt đượctrong hoạt động cho vay trung và dài hạn của PVFC và những tồn tại, hạn chế cũngnhư nguyên nhân gây ra những tồn tại, hạn chế này
Trang 17Ba là, kiến nghị, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay
trung và dài hạn của Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng cho vay trung và dài hạn tại TổngCông ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) Thông qua các số liệu thể hiện trongcác báo cáo tài chính thu thập được của PVFC, luận văn sẽ tính toán các chỉ số và
áp vào các tiêu chí để đưa ra đánh giá, nhận xét về thực trạng chất lượng cho vaytrung, dài hạn của PVFC (những mặt tốt và những tồn tại, hạn chế) Sau khi đánhgiá và nhận xét, một hệ thống các giải pháp sẽ được xây dựng nhằm mục đích pháthuy những mặt tốt và hạn chế, khắc phục những tồn tại; từ đó giúp nâng cao chấtlượng tín dụng trung, dài hạn tại Công ty này
Thời gian nghiên cứu chủ yếu tập trung vào giai đoạn ba năm gần đây, năm
2008, 2009, 2010 sau khi PVFC chuyển từ mô hình 100% vốn nhà nước sang môhình Tổng Công ty Cổ phần
4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề chất lượng cho vay trung và dài hạn đã được đề cập đến trong khánhiều luận văn Tuy nhiên, cho vay trung và dài hạn trong phần lớn các luận văn đó
là cho vay trung và dài hạn tại các Ngân hàng Thương mại Tại trường Đại họcKinh tế Quốc dân có luận văn thạc sỹ năm 2010 của tác giả Phạm Hiền Hạnh, tên đềtài: “Nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP các doanhnghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam”; luận văn thạc sỹ năm 2009 của tác giả TrầnThị Thu Huyền với đề tài: “Nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngânhàng TMCP Nhà Hà Nội” Cả hai luận văn này đều đề cập đến vấn đề nâng caochất lượng cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng Thương mại Vì vậy, đề tài nàyngoài việc học hỏi, kế thừa những kiến thức cơ bản về cho vay trung và dài hạn đãđược đề cập trong hai luận văn trên, sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề chất lượng cho vaytrung và dài hạn tại một tổ chức tín dụng phi ngân, cụ thể là tại Tổng Công ty Tàichính Cổ phần Dầu khí; như vậy, có thể đưa ra cái nhìn đầy đủ hơn về chất lượngcho vay trung và dài hạn của các tổ chức tín dụng
Trang 185 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Thông tin thứ cấp được thu thập từ các báocáo tài chính, website của Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC) và một
số trang thông tin khác
Phương pháp xử lý thông tin: Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, sosánh, suy luận logic, phân tích định lượng và một số phương pháp được phổ biếntrong phân tích báo cáo tài chính như: phân tích xu thế, phân tích tỷ trọng, phân tích
tỷ số… dựa trên những dữ liệu thực tế để nghiên cứu
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay trung và dài hạn tại Tổng Công ty
Tài chính Cổ phần Dầu Khí (PVFC)
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung và dài hạn của
Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC)
Trang 19CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA
CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1 Một số vấn đề cơ bản về Công ty Tài chính
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công ty Tài chính
1.1.1.1 Khái niệm Công ty Tài chính
Trong cuốn The Economics of Money, Banking and Financial Markets (Tiền
tệ, Ngân hàng và Thị trường tài chính), Fedric S Miskhin đã đưa ra khái niệm tổngquát về Công ty Tài chính Đó là các công ty thu hút vốn bằng việc phát hànhthương phiếu hoặc cổ phiếu và trái khoán, sau đó dùng tiền thu được để cho vay cácdoanh nghiệp và người tiêu dùng, do các món tiền này thường là các món tiền nhỏ,thích hợp với nhu cầu của các đối tượng kể trên
Cùng là tổ chức tín dụng song giữa Công ty Tài chính và Ngân hàng Thươngmại có điểm khác biệt cơ bản, đó là: Ngân hàng Thương mại được phép nhận tiềngửi và có chức năng trung gian thanh toán, trong khi Công ty Tài chính thì khôngđược phép nhận tiền gửi với thời hạn ngắn và dưới hình thức mở tài khoản đồngthời không có chức năng trung gian thanh toán Điểm khác biệt quan trọng giữa hailoại hình tổ chức tín dụng này đó là: Công ty Tài chính không bị điều hành, quản lýchặt chẽ bởi Chính phủ như các Ngân hàng Ngoài việc quy định số tiền cực đại màCông ty Tài chính có thể cho các cá nhân, người tiêu dùng vay và kỳ hạn của hợpđồng nợ, Chính phủ không có hạn chế nào đối với Công ty Tài chính về việc mở chinhánh, về những tài sản có và sự thu nhận vốn của Công ty Tài chính Điều nàygiúp cho các Công ty Tài chính có thể phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng hơn
Trang 20năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới một năm.”
1.1.1.2 Đặc điểm của Công ty Tài chính
Trong nền kinh tế này càng phát triển theo hướng mở cửa và hội nhập nhưhiện nay, Công ty Tài chính không còn là một khái niệm xa lạ ở Việt Nam Tuynhiên, để hiểu rõ và chính xác hơn về Công ty Tài chính, cụ thể là các Công ty Tàichính ở Việt Nam, cần phân biệt được Công ty Tài chính với các tổ chức tín dụng làcác Ngân hàng Giữa các Công ty Tài chính và các Ngân hàng có những khác biệt
cơ bản, theo tác giả Đoàn Ngọc Lưu viết trong Tạp chí Kế toán, sự khác biệt này cóthể được phân biệt qua các phương diện như: Bản chất và phạm vi hoạt động; mứcvốn pháp định; thời hạn hoạt động; các loại hình tổ chức hoạt động; cơ hội cạnhtranh và lợi ích mang lại
Bảng 1.1: Các đặc điểm phân biệt Công ty Tài chính và Ngân hàng theo các quy định
của Việt Nam
để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch
vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ… Khôngđược làm dịch vụ thanh toán và khôngđược nhận tiền gửi dưới một năm
- Là tổ chức tín dụng được thựchiện đầy đủ các hoạt động ngânhàng và các hoạt động kinhdoanh khác có liên quan
- Các hoạt động: hoạt động kinhdoanh tiền tệ và dịch vụ ngânhàng như là nhận tiền gửi, sựdụng số tiền huy động được đểcấp tín dụng và cung ứng cácdịch vụ thanh toán
Mức vốn
pháp định
- Mức vốn pháp định của Công ty Tài chính thấp hơn Ngân hàng theoNghị định 141/2006/NĐ-CP, ngày 22/11/2006 của Chính phủ:
Trang 21Công ty Tài chính Ngân hàng
Công ty Tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định 141
có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là 300
tỷ đồng; sau ngày 31/12/2008 thì phải
có mức vốn pháp định là 500 tỷ đồng
Mức vốn pháp định đối với mộtNgân hàng áp dụng cho đến năm
2008 không thấp hơn 1.000 tỷđồng, tùy theo loại hình Ngânhàng và áp dụng cho đến năm
2010 trở đi không thấp hơn3.000 tỷ đồng
Thời hạn
hoạt động
Tối đa là 50 năm Nếu muốn gia hạnphải được sự chấp thuận của Ngânhàng Nhà nước, mỗi lần gia hạn khôngquá 50 năm1
Theo tính chất và mục tiêu hoạtđộng, Ngân hàng được chiathành: Ngân hàng thương mại,Ngân hàng phát triển, Ngânhàng đầu tư, Ngân hàng chínhsách, Ngân hàng hợp tác
ty Tài chính mang lại cho các doanhnghiệp là rất lớn, đặc biệt là Công ty Tàichính của các tập đoàn, do Công ty Tàichính là công cụ để tập đoàn điều tiết và
sử dụng vốn có hiệu quả
- Không được nhận tiền gửi dưới mộtnăm và không được cung ứng dịch vụthanh toán
- Phạm vi hoạt động rộng hơn vàhuy động vốn chủ yếu từ côngchúng
- Được nhận tiền gửi dưới mộtnăm và có chức năng trung gianthanh toán
1 Thông tư số 06/2002/TT-NHNN ngày 23/12/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 “Về Tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính”.
2 Thông tư số 06/2002/TT-NHNN ngày 23/12/2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 “Về Tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính”.
Trang 22Nhìn chung, cùng là trung gian tài chính nhưng Công ty Tài chính có một sốđặc điểm riêng khác so với Ngân hàng Thương mại:
Một là, khả năng chuyển thời hạn vốn của Công ty Tài chính bị hạn chế so vớiNgân hàng Thương mại do số khách hàng thường nhỏ hơn Ngân hàng Thương mại
Hai là, vốn của Công ty Tài chính có tính thanh khoản thấp (chủ yếu huyđộng vốn trung và dài hạn), do vậy có thể đầu tư vào những tài sản có tính thanhkhoản thấp, khả năng sinh lời cao, tuy nhiên rủi ro cũng theo đó mà cao hơn
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính
Công ty Tài chính là một trong những tổ chức tài chính phi ngân hàng Nềnkinh tế thị trường càng phát triển, vai trò của các Công ty Tài chính càng trở nênquan trọng và cần thiết hơn Các Công ty Tài chính với vai trò là trung gian tàichính chuyên nghiệp giúp giảm bớt chi phí thông tin, chi phí giao dịch cho cá nhân,
tổ chức và toàn bộ nền kinh tế; đồng thời, có khả năng đáp ứng đầy đủ, chính xác,kịp thời yêu cầu giữa người có vốn và người cần vốn Ngoài ra, Công ty Tài chínhcòn góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính-ngân hàng, từ đó làm đađạng và hoàn thiện cho hệ thống tài chính, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về tài chính củadoanh nghiệp và cá nhân
Để phát huy những vai trò kể trên, Công ty Tài chính thực hiện hai hoạt động
cơ bản, đó là hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng, ngoài ra Công ty Tàichính còn thực hiện cung cấp các dịch vụ tài chính khác theo quy định của phápluật Ở Việt Nam, các hoạt động cơ bản này được quy định một cách cụ thể rõ ràngtrong Nghị định số 79/2002/NĐ-CP “Về tổ chức và hoạt động của Công ty Tàichính” như sau:
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Công ty Tài chính được huy động vốn từ những nguồn sau:
- Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá
Trang 23khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành.
- Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước và các tổ chứctài chính quốc tế
- Tiếp nhận vốn ủy thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhân trong vàngoài nước
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng của Công ty Tài chính bao gồm các lĩnh vực: (1) Chovay; (2) Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác;(3) Bảo lãnh; (4) Các hình thức cấp tín dụng khác
(1) Cho vay: Công ty Tài chính được cho vay dưới các hình thức:
- Cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàngNhà nước
- Cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng và hợp đồng ủy thác
(2) Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác.(3) Bảo lãnh: Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tàichính của mình đối với người nhận bảo lãnh
1.1.2.3 Cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Công ty Tài chính được cung cấp một số dịch vụ tài chính khác bao gồm:
- Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá cho cácdoanh nghiệp
- Nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngânhàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cánhân theo hợp đồng
- Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền tệ, đầu tư chokhách hàng
Trang 24- Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két vàcác dịch vụ khác…
1.1.3 Phân loại Công ty Tài chính (các mô hình Công ty Tài chính)
Công ty Tài chính có thể được phân thành nhiều mô hình khác nhau dựa theocác căn cứ khác nhau
1.1.3.1 Căn cứ theo hình thức thành lập
Căn cứ theo hình thức thành lập (Điều 3, Nghị định 79/2002/NĐ-CP), Công
ty Tài chính được chia thành năm loại:
Công ty Tài chính Nhà nước: Công ty Tài chính do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh
Công ty Tài chính cổ phần: Công ty Tài chính do các tổ chức và cá nhân cùng
góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập dưới hình thức Công ty cổ phần
Công ty Tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng: Công ty Tài chính do một
tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theo quyđịnh của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân
Công ty Tài chính liên doanh: Công ty Tài chính được thành lập bằng vốn
góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp ViệtNam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ
sở hợp đồng liên doanh
Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài: Công ty Tài chính được thành lập
bằng vốn của một hoặc của nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định củapháp luật Việt Nam
1.1.3.2 Căn cứ theo tính chất hoạt động
Căn cứ theo tính chất hoạt động của công ty có thể chia Công ty Tài chínhthành 3 loại là: Công ty Tài chính bán hàng, Công ty Tài chính tiêu dùng và Công tyTài chính kinh doanh (Công ty Tài chính doanh nghiệp)
Công ty Tài chính bán hàng: Công ty Tài chính bán hàng thường là công ty
Trang 25con của các nhà sản xuất Các Công ty này cho khách hàng vay nợ để mua sảnphẩm, hàng hóa của công ty mẹ
Công ty Tài chính tiêu dùng: Các Công ty Tài chính thực hiện cho vay người
tiêu dùng (cá nhân, hộ gia đình) để mua những món hàng như đồ đạc, dụng cụ giađình hay thanh toán những món nợ nhỏ Các món vay thường có giá trị nhỏ, kỳ hạnngắn hoặc trung bình Ở Việt Nam, có thể kể tên một số Công ty Tài chính tiêudùng lớn như: Prudential Finance, SG Finance…
Công ty Tài chính kinh doanh (hay Công ty Tài chính doanh nghiệp): Công
ty Tài chính kinh doanh cho khách hàng là các doanh nghiệp vay vốn dưới hai hìnhthức nghiệp vụ: nghiệp vụ bao thanh toán và nghiệp vụ cho thuê tài chính
1.1.3.3 Căn cứ theo tính chất độc lập hay phụ thuộc
Ngoài các cách phân loại trên, có thể căn cứ theo tính chất độc lập hay phụ
thuộc để chia Công ty Tài chính thành hai mô hình: Công ty Tài chính độc lập và
Công ty Tài chính thuộc tập đoàn Trong đó, Công ty Tài chính độc lập là mô hình
Công ty Tài chính đứng độc lập, tự thành lập và kinh doanh một cách độc lập màkhông thuộc sự quản lý của một tập đoàn nào Công ty Tài chính thuộc tập đoàn làcác Công ty Tài chính do một Công ty mẹ lập nên với nhiệm vụ là thu xếp vốn, đảmbảo nhu cầu về vốn và luân chuyển vốn giữa các công ty thành viên tập đoàn
Ở Việt Nam, Công ty Tài chính trong các Tổng Công ty chịu sự quản lý củaTổng Công ty về chiến lược phát triển, về tổ chức và quản lý nhân sự, ngoài ra cònchịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước về nội dung và phạm vi hoạt động nghiệp
vụ Xét theo mô hình kể trên, Công ty Tài chính thực hiện hai mảng hoạt động cơ
bản là: Huy động và cho vay đáp ứng nhu cầu của Tổng Công ty và các đơn vị
thành viên về vốn Với các nghiệp vụ huy động và sử dụng vốn, Công ty Tài chính
có thể trở thành công cụ để Tổng Công ty tìm kiếm nguồn vốn bổ sung cho hoạtđộng của mình
Huy động vốn của Công ty Tài chính thuộc Tập đoàn: Công ty Tài chính
nhận tiền gửi có kỳ hạn của Tổng Công ty, các doanh nghiệp cùng ngành mà Tổng
Trang 26Công ty kinh doanh và công nhân viên trong Tổng Công ty Công ty Tài chính còn
có thể thực hiện các nghiệp vụ như phát hành tín phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, tráiphiếu công trình trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật, vay của các
tổ chức tài chính và tín dụng trong nước và ngoài nước Tuy nhiên, tổng vốn huyđộng không được quá 20 lần vốn tự có của Công ty Tài chính
Như vậy, thông qua Công ty Tài chính, Tổng Công ty có thể huy động được một lượng vốn không nhỏ để sử dụng cho các chiến lược phát triển, mở rộng hoạt động và đầu tư theo chiều sâu.
Hoạt động sử dụng vốn của Công ty Tài chính thuộc Tập đoàn: Bằng nguồn
vốn huy động được, Công ty Tài chính có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạntrên cơ sở cân đối nguồn vốn trung và dài hạn Dư nợ cho vay ngắn hạn của mộtkhách hàng không quá 10% vốn tự có của một Công ty Tài chính Riêng đối vớikhách hàng là Tổng Công ty hoặc các công ty thành viên thì dư nợ cho vay khôngquá 15% vốn tự có của Công ty Tài chính
Công ty Tài chính cũng có thể sử dụng vốn tự có để hùn vốn, liên doanhhoặc mua cổ phần của các doanh nghiệp thành viên và thực hiện các nghiệp vụ khácnhư: tiếp nhận vốn ủy thác trong nước và ngoài nước bao gồm cả nguồn vốn TổngCông ty giao để đầu tư vào những công trình, dự án của Tổng Công ty và các doanhnghiệp thành viên Công ty Tài chính còn có thể thực hiện chức năng làm đại lýphát hành trái phiếu cho Tổng Công ty và các doanh nghiệp thành viên; tư vấn vềtiền tệ và quản lý tài sản khác theo yêu cầu của các doanh nghiệp thành viên trongTổng Công ty
Có thể nói, khi thực hiện sử dụng vốn tự có của mình, Công ty Tài chính đã tham gia vào việc điều hòa vốn trong Tổng Công ty; nhờ đó, Tổng Công ty có thể chi phối và điều chỉnh được hoạt động của các công ty thành viên, tạo mối liên kết chặt chẽ về tài chính Theo mô hình công ty mẹ - con, Tổng Công ty có thể thực hiện việc đầu tư vào các doanh nghiệp thành viên thông qua Công ty Tài chính.
Trang 27Hiện nay, bên cạnh việc thực hiện các hoạt động cơ bản là huy động và điềuhòa nguồn vốn phục vụ sự phát triển của Tổng Công ty, các Công ty Tài chính cũng
đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ để mở rộng thị trường, phục vụ nhiều đối tượngtrên thị trường tài chính nói chung Do đó, có thể nói, Công ty Tài chính ngoài vaitrò là một kênh tài trợ tín dụng cho các thành viên trong tập đoàn, còn góp phầnthúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính-tiền tệ
1.2 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cho vay trung và dài hạn
1.2.1.1 Khái niệm cho vay trung và dài hạn
Theo Luật số 47/2010/QH12 về Các tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm
2010: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong mộtthời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Tùy theo thời hạn của món vay, cho vay được chia thành: cho vay ngắn hạn,cho vay trung hạn và cho vay dài hạn Cho vay trung hạn là loại tín dụng có thờihạn từ 1 – 5 năm, được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹthuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh Chovay dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốncho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có qui mô lớn Tuy nhiên, thờihạn cho vay không được quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lậphoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và không quá 15 năm đối với các dự ánphục vụ đời sống
Nói chung, tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố địnhcủa khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật củadoanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộngsản xuất chiếm lĩnh thị trường; nhờ đó, góp phần tạo thêm công ăn việc làm và giảm
tỷ lệ thất nghiệp…
1.2.1.2 Đặc điểm của cho vay trung và dài hạn
Trang 28Đặc trưng của hình thức tín dụng này là thời hạn cho vay dài, vì vậy, cho vaytrung và dài hạn có ba đặc điểm chính, đó là: Rủi ro cao, lãi suất cao và tính thanhkhoản thấp Hai đặc điểm đầu là rủi ro cao và lãi suất cao có tính tương hỗ lẫn nhau.
Rủi ro cao, lãi suất cao: Do thời hạn cho vay dài nên đặc điểm đầu tiên có
thể thấy của cho vay trung và dài hạn đó là rủi ro cao, và theo đó, các khoản vayphải có lãi suất cao để trung hòa rủi ro
Chẳng hạn, đối với các Công ty Tài chính tiêu dùng, đối tượng cho vaythường tập trung vào các khách hàng cá nhân hoặc nhóm khách hàng cá nhân có thunhập thấp, có hoặc chưa có tiền sử tín dụng xấu nên các khoản vay phải có lãi suấtcao để làm phần bù cho những rủi ro lớn mà Công ty Tài chính có nguy cơ gặpphải Hay với Công ty Tài chính doanh nghiệp, việc mua lại các khoản phải thu từcác doanh nghiệp với mức chiết khấu nhất định khiến Công ty phải đối mặt với rủi
ro không thu hồi được khoản phải thu này
Cho vay trung và dài hạn cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sự thayđổi của chính sách nhà nước, sự bất ổn trên thị trường tiêu thụ, thị trường nguyênvật liệu… nên thông thường rủi ro cao
Tính thanh khoản thấp: Tính thanh khoản (hay tính lỏng) được hiểu là việc
chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu… có khả năng chuyển đổi thànhtiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu Đối với các món vaytrung và dài hạn, trong suốt thời gian cho vay dài đó Công ty phải bỏ vốn và chỉ tiếnhành thu hồi được vốn vay khi dự án đã đi vào hoạt động và có lợi nhuận Do đó,nếu trong thời gian cho vay, Công ty Tài chính có nhu cầu vốn bất thường và muốnthu hồi món vay thì đó là điều không thể Chính vì lí do này, các món vay trung vàdài hạn thường có tính thanh khoản thấp
Đối với doanh nghiệp đi vay, vốn trung và dài hạn thường được ưa thích hơncác hình thức huy động vốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, bởi vì với việc
sử dụng các món vay trung và dài hạn doanh nghiệp có thể tránh được các chi phíphát hành, lệ phí bảo hiểm, đăng ký chứng khoán, đồng thời tránh được việc phảichia sẻ quyền sở hữu, quản lý đối với doanh nghiệp…
Trang 291.2.2 Các hình thức cho vay trung và dài hạn
1.2.2.1 Theo mục đích sử dụng vốn:
- Cho vay trung và dài hạn phục vụ sản xuất kinh doanh: Các khoản vaytrung và dài được sử dụng để đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, cải tiến công nghệ kỹthuật phục vụ cho nhu cầu duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh, cũng như nângcao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Cho vay trung và dài hạn phục vụ nhu cầu tiêu dùng: Các khoản vay trung
và dài hạn được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng hóa lâu bền của cánhân trong cuộc sống như: mua sắm nhà cửa hay phương tiện vận chuyển
1.2.2.2 Theo hình thức tài trợ:
- Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kếtgiao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong mộtthời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi cáccông cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạnthanh toán
- Cho thuê tài chính: vừa là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, vừa
là một dạng cho thuê tài sản mà theo đó, tổ chức tín dụng cho khách hàng quyền sửdụng tài sản trong một khoảng thời gian nhất định, với điều kiện khách hàng phảitrả tiền thuê
- Bảo lãnh: Tổ chức tín dụng nhờ vào uy tín và khả năng tài chính của mìnhcam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay khách hàng của mình khi khách hàngcủa mình không có khả năng trả nợ
- Đồng tài trợ: Hình thức cấp tín dụng có sự tham gia tài trợ vốn của từ hai tổchức tín dụng trở lên, trong đó có một tổ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối
1.2.2.3 Theo cách thức hoàn trả:
- Cho vay trung và dài hạn có kỳ hạn trả nợ một lần: Lãi và gốc của khoảnvay được khách hàng trả một lần vào thời điểm kết thúc hợp đồng được ghi trong
Trang 301.2.2.4 Theo ngành nghề kinh doanh:
Căn cứ theo ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp đi vay có thể phânloại cho vay trung và dài hạn thành một số loại như: cho vay trung và dài hạn đốivới ngành đóng tàu, ngành thủy điện, ngành dầu khí…
1.2.2.5 Theo đối tượng cho vay:
Dựa theo căn cứ này có thế chia cho vay trung và dài hạn thành: cho vay đốivới Doanh nghiệp Nhà nước, cho vay theo hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và cho vay đối với thànhviên tập đoàn
1.2.3 Quy trình cho vay trung và dài hạn tại Công ty Tài chính
Cho vay trung và dài hạn tại các Công ty Tài chính thường được thực hiệntheo một quy trình liên tục, chặt chẽ và khoa học Điều này đảm bảo cho các mónvay đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp đi vay, đồng thời đảm bảo khả năngthu hồi vốn của Công ty Tài chính Về mặt quản lý, quy trình này có tác dụng làm
cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tíndụng, đồng thời làm cơ sở để thiết lập các thủ tục, hồ sơ vay vốn
Trang 31Sơ đồ 1.1: Quy trình cho vay trung và dài hạn tại Công ty Tài chính
1.2.3.1 Bước 1: Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng và tìm hiểu nhu cầu tín dụng của khách hàng
Tìm kiếm, tiếp cận và tìm hiểu nhu cầu tín dụng của khách hàng
Hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục xin cấp tín dụng
Tiếp nhận hồ sơ xin cấp tín dụng, kiểm tra tính đúng và đủ của hồ sơ, đặc biệt là
tính pháp lý
Tiến hành thẩm định hồ sơ xin cấp tín dụng
Người có thẩm quyền trực tiếp kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ và xem xét tờ trình
thẩm định của cán bộ tín dụng, sau đó, ghi rõ ý kiến trên tờ trình.
Trang 32Ở bước này, cán bộ tín dụng của Công ty Tài chính sẽ tìm kiếm và tiếp cậnkhách hàng nhằm tìm hiểu một số thông tin cần thiết về khách hàng (tư cách pháp
lý, pháp nhân, tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh, quan hệ tín dụngcủa khách hàng với các tổ chức tín dụng khác…) và nắm bắt được nhu cầu về tíndụng của khách hàng Nếu Công ty Tài chính xét thấy có thể cho vay đối với kháchhàng này, cán bộ tín dụng của Công ty sẽ hướng dẫn khách hàng chuyển sang bướctiếp theo của quy trình
1.2.3.2 Bước 2: Hướng dẫn khách hàng làm thủ tục, hồ sơ xin cấp tín dụng
Cán bộ tín dụng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng chuẩn bị các giấy tờcần thiết và khai các hồ sơ xin cấp tín dụng Các hồ sơ này bao gồm: hồ sơ pháp lý,
hồ sơ tín dụng, hồ sơ về các khoản vay của khách hàng và một số giấy tờ cần thiếtkhác (tùy trường hợp cụ thể)
1.2.3.3 Bước 3: Tiếp nhận hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hàng, kiếm tra tính đúng và đủ của hồ sơ, đặc biệt là về tính pháp lý
Sau khi khách hàng hoàn tất hồ sơ xin cấp tín dụng và giao lại cho Công tyTài chính, cán bộ tín dụng của Công ty có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ hồ sơ, xem
hồ sơ đã được nộp đầy đủ chưa, các văn bản đã được đóng dấu hay công chứng đảmbảo tính pháp lý chưa Nếu hồ sơ đã đầy đủ, cán bộ tín dụng sẽ ghi rõ thời gian nhận
hồ sơ và hai bên cùng ký xác nhận hồ sơ đã được nộp đúng và đủ
1.2.3.4 Bước 4: Thẩm định hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hàng
Hoạt động tín dụng trung và dài hạn vốn là một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi
ro, có khả năng gây tổn thất nghiêm trọng cho Công ty Tài chính Do đó, thẩm định
hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hàng là một khâu vô cùng quan trọng trong quytrình tín dụng Nó giúp Công ty Tài chính nắm được những vấn đề cần thiết vềkhách hàng cũng như dự án đầu tư, từ đó xác định mức độ thành công của dự án vàtheo đó là khả năng hoàn nợ của khách hàng để quyết định cho vay
Việc thẩm định hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hàng bao gồm hai nội dungchính: một là, thẩm định nói chung về khách hàng ở một số phương diện cần thiết
Trang 33như năng lực pháp lý, năng lực tài chính (mở rộng tìm hiểu những thông tin ở bước1); hai là, thẩm định dự án kinh doanh mà khách hàng muốn đầu tư Những nộidung phân tích tín dụng ở bước này nhằm xác định khả năng hiện tại và tương laicủa khách hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay.
Thẩm định dự án đầu tư, Công ty Tài chính thường thẩm định trên bốn mặt:
Thẩm định về thị trường, về tài chính dự án, về kỹ thuật và dự báo – phân tích cáctrường hợp rủi ro
Sơ đồ 1.2: Các nội dung thẩm định dự án đầu tư
- Thẩm định thị trường: Đối với dự án về phát triển sản phẩm mới, hay mởrộng thị trường cho sản phẩm, thẩm định thị trường là một khâu rất quan trọng, gópphần quyết định khả năng thành công của dự án
Ở khâu này, Công ty Tài chính sẽ tìm kiếm và đánh giá các thông tin về thịtrường tiêu thụ của sản phẩm, thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm và cácsản phẩm cùng loại trên thị trường cũng như tình hình tiêu thụ các sản phẩm cùngloại trong thời gian qua… Việc nghiên cứu, tìm hiểu này sẽ giúp Công ty Tài chínhphần nào thấy được khả năng thành công của dự án
- Thẩm định tài chính dự án: Cán bộ tín dụng của Công ty Tài chính tiếnhành tính toán các chỉ số NPV (giá trị hiện tại ròng), IRR (tỷ suất hoàn vốn nội bộ),MIRR (tỷ suất thu lợi nội bộ có hiệu chỉnh), dự báo các dòng tiền của dự án… từ đóxác định tính khả thi của dự án và khả năng hoàn lãi và vốn của khách hàng
- Thẩm định về mặt kỹ thuật của dự án đầu tư: Phân tích sự phù hợp giữa quy
Thẩm định dự án
Trang 34mô dự án với công nghệ, kỹ thuật được sử dụng; độ tiên tiến của công nghệ, thờigian xuất hiện công nghệ mới…
- Dự báo, phân tích một số rủi ro có thể xảy ra đối với dự án: Rủi ro đối với
dự án có thể là sự thay đổi chính sách kinh tế của nhà nước ảnh hưởng đến dự án,cũng có thể là sự lạc hậu của công nghệ sản xuất dẫn đến tiến độ sản xuất và chấtlượng sản phẩm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của khách hàng…
Bên cạnh các nội dung thẩm định trên, cán bộ tín dụng cần đánh giá về khảnăng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác; đánh giá về mặt tổ chức,quản lý và vận hành dự án Tổng hợp những phân tích đánh giá kể trên giúp Công
ty Tài chính thấy được tính khả thi của dự án đầu tư, cũng như khả năng hoàn nợcủa khách hàng, từ đó có thể đưa ra quyết định có cấp tín dụng hay không
1.2.3.5 Bước 5: Người có thẩm quyền kiểm tra lại toàn bộ hồ sơ xin cấp tín dụng:
Sau khi hoàn tất việc thẩm định khách hàng và thẩm định dự án đầu tư, hồ sơxin cấp tín dụng và tờ trình về kết quả thẩm định được chuyển đến người có thẩmquyền để kiểm tra lại Sau khi đã xem xét và kiểm tra kỹ, trưởng phòng phụ tráchtín dụng ghi rõ ý kiến của mình trên tờ trình
1.2.3.6 Bước 6: Phê duyệt
Sau khi trưởng phòng nghiệp vụ tín dụng kiểm tra và cho ý kiến về hồ sơxin cấp tín dụng và dự án đầu tư, toàn bộ hồ sơ có liên quan được chuyển đếnlãnh đạo của Công ty Tài chính hoặc hội đồng thẩm định để xin ý kiến xét duyệtcấp tín dụng
1.2.3.7 Bước 7: Hoàn thiện các thủ tục về đảm bảo tín dụng (đối với các khoản vay có tài sản đảm bảo)
Sau khi lãnh đạo Công ty Tài chính hoặc hội đồng thẩm định phê duyệt việccho vay đối với phương án đầu tư của khách hàng, cán bộ tín dụng tiến hành xử lýcác vấn đề có liên quan đến tài sản đảm bảo cho món vay Nội dung của khâu nàythường bao gồm những công việc như: soạn thảo các hợp đồng cầm cố tài sản hoặc
Trang 35thế chấp tài sản và tiến hành ký kết vào hợp đồng giữa các bên liên quan Sau khihợp đồng được ký kết, việc giao nhận tài sản đảm bảo được thực hiện giữa Công tyTài chính và khách hàng.
1.2.3.8 Bước 8: Ký kết hợp đồng cấp tín dụng
Ở bước này, hợp đồng tín dụng sẽ được xây dựng Hợp đồng tín dụng là vănbản mang tính pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ tíndụng
Hợp đồng tín dụng sau khi được soạn thảo và được các bên xem xét kỹlưỡng, việc ký kết hợp đồng sẽ được tiến hành, chính thức xác lập quan hệ tín dụnggiữa Công ty Tài chính và khách hàng
1.2.3.9 Bước 9: Cấp tín dụng và giám sát việc sử dụng vốn vay
Công ty Tài chính tiến hành việc giải ngân cho khách hàng theo các điềukhoản được quy định trong hợp đồng tín dụng Kèm theo việc cấp tín dụng, Công tyTài chính thực hiện giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng để kịp thời pháthiện sai phạm và có phương án xử lý kịp thời; đảm bảo chất lượng của hoạt độngcho vay
1.2.3.10 Bước 10: Thanh lý hợp đồng tín dụng
Khi đến thời hạn tín dụng đã xác định trong hợp đồng và khách hàng trả hếtlãi và gốc vay, quan hệ tín dụng giữa Công ty Tài chính và khách hàng kết thúc, hợpđồng tín dụng được thanh lý Trường hợp này, khoản tín dụng được coi là an toàn,mang lại lợi ích cho cả khách hàng và nhà cung cấp tín dụng
1.3 Chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính
1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính
“Chất lượng” là một thuật ngữ được sử dụng từ rất lâu, theo quan niệm thôngthường nó là tổng hợp của các thuộc tính như đẹp, tốt, bền… “Chất lượng” dườngnhư là khái niệm khó hiểu, khó xác định và khó quản lý do “chất lượng” là một vấn
đề của nhận thức riêng mỗi người Mỗi cá nhân có quan niệm riêng về một sảnphẩm có chất lượng do nhu cầu và yêu cầu về sản phẩm của họ là khác nhau Người
Trang 36sản xuất coi “chất lượng” là điều mà sản phẩm của họ phải đạt tới để đáp ứng cácquy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra và để được khách hàng chấp nhận hay ưachuộng Chất lượng còn được so sánh với chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnhtranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả Như vậy, có thể hiểu, “chất lượng” khôngchỉ là một đặc tính đơn lẻ mà gồm toàn bộ tất cả các đặc tính quyết định mức độ đápứng các yêu cầu của khách hàng.
“Chất lượng” tuy là một khái niệm khá trừu tượng, có nhiều cách hiểu, cáchtiếp cận khách nhau nhưng vẫn có thể đi đến một diễn giải tương đối thống nhất.Theo định nghĩa của Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO thì “chất lượng là khảnăng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứngcác yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
Theo định nghĩa này, có thể suy ra một số đặc trưng của “chất lượng”:
Một là, thước đo của chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu Theo đó, nếu một
sản phẩm không được sự chấp nhận hay tiêu dùng của khách hàng sẽ bị coi là sảnphẩm có chất lượng kém, mặc dù công nghệ để sản xuất ra sản phẩm có tiên tiến,hiện đại đến đâu Vấn đề này chính là mấu chốt đặt ra đối với nhà sản xuất và cungcấp các sản phẩm, dịch vụ: muốn được khách hàng chấp nhận và ưa chuộng sảnphẩm, dịch vụ của mình cần quan tâm đến thị hiếu và nhu cầu của thị trường
Hai là, chất lượng thay đổi theo thời gian, không gian và đối tượng sử dụng.
do chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trong khi nhu cầunày không bất biến mà luôn có sự thay đổi
Ba là, chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, đôi khi có thể được
mô ta dưới dạng các quy định hay tiêu chuẩn; nhưng đôi khi chỉ có thể thấy đượcthông qua cảm nhận của người tiêu dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ
Bốn là, khái niệm chất lượng không chỉ được sử dụng cho những sản phẩm
hay hàng hóa cụ thể mà còn được sử dụng để đánh giá một quy trình, một hoạt độnghay một hệ thống
Dựa theo định nghĩa chất lượng và một số đặc trưng của chất lượng kể trên,
Trang 37có thể suy ra quan niệm về “chất lượng” trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, cụ thể làtrong vấn đề cho vay trung và dài hạn của tổ chức tín dụng Chất lượng của mộtkhoản cho vay trung và dài hạn là mức độ đáp ứng nhu cầu về vốn vay của kháchhàng, đồng thời phải phù hợp với điều kiện đặc thù của bản thân Công ty Tài chínhcung cấp món vay, cũng như phù hợp với các điều kiện kinh tế và tài chính của xãhội nói chung
Một món vay trung và dài hạn được đánh giá tốt thường là món vay được sửdụng đúng mục đích, mang lại lợi ích cho khách hàng và đảm bảo khả năng thanhtoán nợ cho nhà cung cấp tín dụng; và một Công ty Tài chính có chất lượng cho vaytrung và dài hạn tốt sẽ thu hút và duy trì được khách hàng, đồng thời ngày càngnâng cao được khả năng cạnh tranh, uy tín và vị thế đối với các đối thủ khác
Chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính có thể được xemxét, đánh giá từ ba góc độ khác nhau: từ phía khách hàng (người đi vay, người nhậntài trợ), từ phía Công ty Tài chính (người cung cấp khoản vay), từ phía nền kinh tếnói chung
- Từ phía khách hàng: Chất lượng cho vay trung và dài hạn được đo bằng mức
độ đáp ứng nhu cầu và yêu cầu về vốn vay của khách hàng Nhu cầu và yêu cầu ở đâyhàm ý một số nội dung như: điều kiện được vay vốn, quy mô vốn vay, lãi suất mónvay, thời hạn món vay, cách thức thanh toán lãi và gốc của món vay… Chất lượng chovay trung và dài hạn tốt giúp khách hàng thực hiện được mục đích bắt đầu sản xuấtkinh doanh hay mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời cảm thấythoải mái, tin tưởng trong mối quan hệ tín dụng với Công ty Tài chính
- Từ phía Công ty Tài chính: Chất lượng cho vay trung và dài hạn thể hiện ởmức độ phù hợp của khoản cho vay với điều kiện, tiềm lực tài chính, chính sách vay
nợ của Công ty… Một khoản vay có chất lượng, hiểu theo nghĩa hẹp, phải đảm bảogốc và lãi được thu hồi đúng và đủ, mang lại lợi nhuận cho Công ty Tài chính
- Từ phía nền kinh tế nói chung: Chất lượng cho vay trung và dài hạn tốt gópphần phát triển nền kinh tế theo chiều rộng và sâu, nền tảng vật chất của nền sảnxuất được thay đổi, công nghệ kỹ thuật được cải tiến, kích thích dịch chuyển cơ cấu
Trang 38kinh tế một cách hiệu quả
Ngoài việc giải quyết nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhữngkhoản cho vay trung và dài hạn có chất lượng gián tiếp giải quyết một số vấn đề xã hộinhư vấn đề việc làm, vấn đề phúc lợi xã hội và nâng cao mức sống của người dân…
Cho vay trung và dài hạn là một trong những mảng hoạt động quan trọng củaCông ty Tài chính Nó không những mang đến lợi nhuận lớn mà còn góp phầnkhông nhỏ trong việc xây dựng nên hình ảnh và vị thế của công ty; từ đó giúp công
ty tài chính dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm, duy trì và phát triển lượng khách hàngcủa mình, trong khi tiết giảm được nhiều chi phí về marketing hay quảng cáo Do
đó, việc nắm vững khái niệm “chất lượng” trong lĩnh vực tín dụng trung, dài hạn,tạo nền tảng cho việc nâng cao chất lượng cho vay trung, dài hạn mang ý nghĩa đặcbiệt quan trọng
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay trung và dài hạn của Công
ty Tài chính
Chất lượng cho vay trung và dài hạn là khái niệm tương đối trừu tượng, tuynhiên, để đo lường chất lượng cho vay này có thể thông qua một hệ thống các chỉ tiêu:
- Dư nợ cho vay trung và dài hạn và tốc độ tăng trưởng dư nợ trung và dài hạn
- Dư nợ cho vay trung và dài hạn trên tổng vốn huy động trung và dài hạn
- Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn trên tổng dư nợ
- Nợ quá hạn của cho vay trung và dài hạn trên tổng dư nợ cho vay trung vàdài hạn
- Tỷ lệ lợi nhuận của cho vay trung và dài hạn trên tổng lợi nhuận
1.3.2.1 Dư nợ cho vay trung và dài hạn và tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay trung và dài hạn
Chỉ tiêu dư nợ cho vay trung và dài hạn cho biết mức tăng của dư nợ cho vaytrung và dài hạn của kỳ này so với kỳ trước hoặc kỳ gốc hay so với kế hoạch đề ra.Mức tăng càng lớn chứng tỏ quy mô tín dụng trung và dài hạn của Công ty Tài
Trang 39chính ngày càng được mở rộng, có khả năng đáp ứng nhiều hơn nhu cầu của kháchhàng.
Trên cơ sở so sánh dư nợ cho vay trung và dài hạn của kỳ thực hiện với kỳtrước có thể thấy được tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay trung và dài hạn Việcđánh giá chất lượng cho vay trung và dài hạn của công ty tài chính cần kết hợp xemxét chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ với các chỉ tiêu về an toàn Nếu dư nợ cho vaytrung và dài hạn tăng nhanh đồng thời vẫn đảm bảo an toàn tín dụng chứng tỏ chấtlượng cho vay trung và dài hạn của công ty tài chính là tốt Ngược lại, nếu tốc độtăng trưởng dư nợ cao nhưng không đảm bảo an toàn tín dụng, tình hình thu nợchậm, nợ quá hạn nhiều cho thấy chất lượng cho vay trung và dài hạn của công tytài chính là có vấn đề
Tốc độ tăng trưởng dư nợ
cho vay trung và dài hạn =
Dư nợ cho vay TDH kỳ này – Dư nợ
cho vay TDH kỳ trước
x 100%
Dư nợ cho vay TDH kỳ trước
1.3.2.2 Dư nợ cho vay trung, dài hạn trên tổng vốn huy động trung, dài hạn
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ vốn huy động trung và dài hạn được sử dụng đểcho vay trung và dài hạn là bao nhiêu Tỷ lệ này càng cao ngoài việc cho thấy hiệuquả, mức độ sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn còncho thấy quy mô cho vay trung và dài hạn đang tăng lên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
về vốn vay của khách hàng Nếu nguồn vốn trung và dài hạn huy động được tậndụng hiệu quả để cho vay trung và dài hạn sẽ tránh được tình trạng lãng phí vốn,đồng thời tạo ra sự hợp lý về kỳ hạn cho vay, tăng tính an toàn tín dụng
1.3.2.3 Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn trên tổng dư nợ
Tỷ trọng dư nợ cho vay
trung và dài hạn =
Dư nợ cho vay trung và dài hạn
x 100%
∑Dư nợ cho vay
Tỷ trọng dư nợ cho vay trung và dài hạn trên tổng dư nợ cho vay cho biết cáckhoản vay trung và dài hạn chiếm bao nhiêu % trên tổng các hình thức cho vay
Trang 40khác Tổng dư nợ cho vay ở đây bao gồm: Dư nợ vốn ngắn hạn, dư nợ cho vaytrung và dài hạn, dư nợ vốn ủy thác và vốn góp đồng tài trợ.
Dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng càng lớn chứng tỏ chất lượngcho vay trung và dài hạn của Công ty Tài chính càng cao, hình thức cho vay trung
và dài hạn của Công ty đa dạng, phong phú, có khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầucủa nhiều khách hàng đến Công ty vay vốn
1.3.2.4 Dư nợ quá hạn của cho vay trung và dài hạn trên tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn của cho vay
trung và dài hạn =
Nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn
Dư nợ cho vay trung và dài hạn
Nợ quá hạn là những khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạnthỏa thuận ghi trên hợp đồng; hoặc tổ chức tín dụng phát hiện khách hàng sử dụng saimục đích, hoặc tài sản đảm bảo bị giảm giá trị, hoặc khách hàng bị phá sản…
Nợ quá hạn bao gồm các khoản nợ nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5.Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về việc “quy định phânloại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của
tổ chức tín dụng”:
- Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm những khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày,các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đó cơ cấu lại
- Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 đến
180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn đó cơ cấu lại
- Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theothời hạn đó cơ cấu lại
- Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ quá hạn trên
360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đó cơ cấu lạithời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đó được cơ cấu lại