---DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTADB Ngân hàng phát triển Châu Á ISDA International Swaps and Derivatives Association - Hiệp hội Quốc tế về Hoán đổi và Phái sinh ALCO Ban quản lý tài sản nợ -
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung và số liệu phân tích trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của tác giả và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa
học nào.
Trang 4
-DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á ISDA
International Swaps and Derivatives Association - Hiệp hội Quốc tế về Hoán đổi và Phái sinh
ALCO Ban quản lý tài sản nợ - tài sản có ISMA
International securities market association - Hiệp hội thị trường chứng khoán thế giới
ALM Quản lý tài sản nợ - tài sản có KHTK Khe hở thanh toán
BOE Bank of England - Ngân hàng trung
BOJ Bank of Japan - Ngân hàng trung
CDO Giấy nợ đảm bảo bằng tài sản LSBĐ Lãi suất biến đổi
CDS Hợp đồng hoán đổi tổn thất tín dụng LIBOR Lãi suất thị trường liên NH
London
CSTT Chính sách tiền tệ NHTM Ngân hàng Thương mại
DTBB Dự trữ bắt buộc NPV Giá trị hiện tại ròng
ECB European Central Bank - Ngân hàng
Trung ương Châu Âu OTC Thị trường phi tập trung
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài GDV Giao dịch viên
FED Federal Reserve System - Quỹ dự
trữ liên bảng Mỹ RRHĐ Rủi ro hối đoái
FRA Thoả thuận giá kỳ hạn RRLS Rủi ro lãi suất
FTP Định giá điều chuyển vốn RRTK Rủi ro thanh khoản
GDP Tổng thu nhập quốc dân RRTT Rủi ro thị trường
NHTM
CP Ngân hàng thương mại cổ phần SPV
Special Purpose Entily - Các thể chế mục đích đặc biệt
HTLS Hỗ trợ lãi suất WTO Tổ chức thương mại thế giớiIRS Hợp đồng hoán đổi lãi suất IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
QTRRTT Quản trị rủi ro thị trường MBS Chứng khoán đảm bảo bằng tài
sản thế chấp
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, ĐỒ THỊ, HÌNH
HÌNH
Hình 1.1: Hệ thống quản trị rủi ro của NH UOB (United Overseas Bank Group) 28
Hình 1.2 Quá trình quản lý rủi ro thị trường 29
Hình 1.3 Tham khảo mẫu báo cáo VaR của Bank of New York Mellon 34
Hình 1.4: Đánh giá rủi ro (stress test) cho một danh mục đầu tư 35
Hình 1.5: Hệ thống các hạn mức RRTT của NHTM 40
Hình 3.1: Cấu trúc bảng CĐKT và các chênh lệch thanh khoản/lãi suất 108
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã trở thành một xu thế của thời đại và diễn ra ngày càng sâu về nội dung, rộng về quy mô trên nhiều lĩnh vực Việt Nam nói chung, ngành ngân hàng - tài chính Việt Nam nói riêng cũng đã và đang tích cực tham gia vào xu thế đó Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO đã được 3 năm và những ảnh hưởng của quá trình hội nhập ngày càng thể hiện rõ, đặc biệt đối với hoạt động Ngân hàng thương mại (NHTM) Các Tổ chức tín dụng (TCTD) nước ngoài xuất hiện tại Việt Nam ngày càng nhiều với phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, đe doạ đến thị phần nội địa của các NHTM Việt Nam Ngược lại, hoạt động của các NHTM Việt Nam cũng đang được mở ra trường quốc tế và chịu nhiều ảnh hưởng hơn từ những biến động kinh tế thế giới Bối cảnh trên khiến các NHTM Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro từ thị trường hơn bao giờ hết Cuộc chạy đua lãi suất và tình hình căng thẳng về thanh khoản trong năm 2008, cũng như những diễn biến trên thị trường hối đoái từ 2008 đến nay là hồi chuông cảnh báo về những nguy cơ rủi ro thị trường ngày càng gia tăng đối với các NHTM Việt Nam Tuy nhiên, việc quản trị rủi ro thị trường (QTRRTT) một cách bài bản, khoa học và hiệu quả nhằm tăng cường hiệu quả kinh doanh, đảm bảo tính an toàn và phát triển bền vững rõ ràng đang là một nghiệp vụ rất mới và chưa được quan tâm đúng mức đối với nhiều NHTM Việt Nam
Với mục tiêu dự đoán được chuyển động của thị trường (tỷ giá, lãi suất…) nhằm cắt
Trang 6giảm nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, đồng thời phát hiện những cơ hội đầu tư
có lãi hơn cho ngân hàng; công tác QLRRTT đã được các NHTM lớn trên thế giới triển khai hiệu quả từ rất lâu; bao gồm từ việc nghiên cứu, đánh giá, phân tích, dự đoán thị trường và từ đó lập ra các phương án dự phòng tình trạng đột biến xấu của thị trường
Thực tế cho thấy nhiều NHTM lớn đã áp dụng thành công và hiệu quả công tác QLRRTT để vượt qua những đột biến trên thị trường tài chính thế giới sau sự kiện ngày 11 tháng 9 và đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới thời gian qua Các NHTM không làm đầy đủ và chuẩn xác công tác QLRRTT thường phải chịu những hậu quả nghiêm tọng trong hoạt động kinh doanh của mình và thường xuyên phải đối mặt với nguy
cơ thua lỗ trầm trọng hoặc phá sản, mà sự sụp đổ của 89 ngân hàng tại Mỹ đến nay là một minh chứng điển hình Rủi ro thị trường thường chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổn thất của NHTM
Từ cuối năm 2002, nhằm tăng cường hơn nữa khả năng chịu đựng của từng NHTM trước các tình huống xấu trong hoạt động kinh doanh cũng như để đảm bảo tính an toàn của cả hệ thống, Uỷ ban giám sát hoạt động ngân hàng có trụ sở tại Basle đã ban hành các quy định để chuẩn hoá QLRRTT Bên cạnh đó, các công cụ và các phương pháp để lượng hoá các giá trị chịu RRTT đã và đang được nghiên cứu cải tiến và đầu tư liên tục
Tuy nhiên do vẫn còn thiếu kinh nghiệm cũng như chưa có cái nhìn đầy đủ về công tác QLRR nói chung và QLRRTT nói riêng, việc áp dụng và triển khai phương pháp QLRRTT tiên tiến và đúng theo thông lệ quốc tế hiện hành vào hoạt động của các NHTM Việt Nam còn nhiều khó khăn
Một hệ thống QLRR bài bản nhất thiết phải xây dựng được khung quản trị rủi ro hoàn thiện Tuy nhiên, đến thời điểm này chỉ có một số ít NHTM Việt Nam hình thành được khuôn khổ quản trị rủi ro thống nhất toàn ngân hàng
Techcombank cũng là một trong những ngân hàng đầu tiên áp dụng thành công hệ thống QLRRTT từ năm 2003 Năm 2006, với sự tư vấn của HSBC và các chuyên gia từ các tổ chức quốc tế khác, Techcombank đã thành lập phòng quản trị và kiểm soát rủi ro Hội sở, nhằm thống nhất quản lý toàn bộ các phần hành rủi ro chính của ngân hàng, vốn nằm ở các bộ phận khác nhau Năm 2007, Tech tiếp tục thành lập Khối Quản trị rủi ro
Trang 7nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro toàn hệ thống Tuy nhiên, quản trị rủi ro vẫn tập trung nhiều nhất vào rủi ro tín dụng Các mô hình QLRRTT cũng được cải tiến nhưng tiến độ rất chậm.
Với thực trạng nói trên, tôi nhận thấy vấn đề nâng cao chất lượng QTRRTT tại NHTM CP Techcombank có ý nghĩa thực sự quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu tổn thất cho NH trong trường hợp thị trường biến động không như dự đoán, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh, tạo ra lợi nhuận cho toàn NH Đó chính là lý do để tôi quyết định lựa
chọn nghiên cứu đề tài: "Nâng cao chất lượng quản trị rủi ro thị trường tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam" Đề tài nghiên cứu các lý luận cơ bản về
RRTT và phương pháp QLRRTT, đánh giá thực trạng QLRRTT ở các NHTM Việt Nam nói chung và tại NHTMCP TCB nói riêng hiện nay, từ đó đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLRRTT tại NHTM CP Techcombank
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá và khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro thị trường của Ngân hàng thương mại
-Nguy cơ rủi ro thị trường trong hoạt động của các NHTM Việt Nam nói chung và Techcombank nói riêng
-Yêu cầu đối với công tác QLRRTT tại các NHTM Việt Nam nói chung và Techcombank nói riêng
-Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác QLRRTT tại NHTM CP Techcombank
-Tham mưu cho các cơ quan chức năng trong việc xây dựng các định hướng, quy định, hướng dẫn thực hiện phương pháp QLRRTT phù hợp với thông lệ quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
-Hệ thống lý luận về rủi ro thị trường và quản lý RRTT
-Phương pháp thực hành quản lý RRTT tại các NHTM trên thế giới
Trang 8-Thực trạng RRTT và phương pháp QLRRTT trong hoạt động kinh doanh tại các NHTM Việt Nam
Trong phạm vi đề tài này, bước đầu tác giả xin đưa ra những vấn đề tổng quan về phương pháp và các công cụ QLRRTT qua tham khảo và học hỏi những phương pháp thực hành tiên tiến từ các NHTM trên thế giới Việc nghiên cứu chi tiết hơn từng biện pháp QLRR cụ thể với từng loại rủi ro thị trường cụ thể (rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản…), tác giả đề nghị được phát triển tiếp ở các công trình tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài thuộc lĩnh vực khoa học ứng dụng, đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và hiện đại sau:
-Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Nghiên cứu quá trình xây dựng
và phát triển phương pháp QLRRTT tại các NHTM Việt Nam trong trạng thái động, do tác động của các nhân tố khách quan
-Phương pháp logic: Nghiên cứu những diễn biến trong sự tác động của các yếu tố nội tại với nhau, trong đó có các tác nhân chủ yếu, quyết định
-Phương pháp thống kê và tổng hợp: Đề tài sử dụng các tư liệu trong những năm gần đây của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, của các NHTM, báo cáo thường niên các năm của Techcombank, các khảo sát quốc tế… được phân bổ theo các tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu của từng chủ đề
-Các phương pháp nghiên cứu khác: so sánh, quy nạp và diễn dịch…
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận và các biểu số liệu kèm theo, đề tài được cấu trúc thành 03 chương như sau:
1 Cơ sở lý luận về chất lượng quản trị rủi ro thị trường của Ngân hàng thương mại
2 Thực trạng chất lượng quản trị rủi ro thị trường tại NHTM CP Kỹ thương Việt Nam
3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro thị trường tại NHTM
Trang 9CP Kỹ thương Việt Nam.
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO THỊ TRƯỜNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.1.1 Đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.1.1.1 Hoạt động kinh doanh ngân hàng hàm chứa nhiều rủi ro
Là doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vựa tiền tệ, hoạt động của các NHTM hàm chứa rất nhiều rủi ro
- NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác Vốn tự có của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động nên việc kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất định Trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của mình, NHTM không những phải đảm bảo cho nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khi loại hình DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng
- Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình DN nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống nền kinh tế
1.1.1.2 Đối tượng kinh doanh chính của ngân hàng là tiền tệ
Ngân hàng kinh doanh một hàng hóa đặc biệt trên thị trường – đó là tiền tệ, với đặc tính xã hội hóa cao, tính cảm ứng và nhạy bén với mọi thay đổi trong nền kinh tế Đây chính là đặc điểm cơ bản phân biệt lính vực kinh doanh ngân hàng so với các lĩnh vực kinh doanh khác Giá cả trong kinh doanh ngân hàng chính là lãi suất Sự vận động lên hoặc xuống của lãi suấy bao hàm, ảnh hưởng đến rất nhiều mối quan hệ kinh tế - xã hội khác nhau
1.1.1.3 Nguồn vốn chủ yếu để các ngân hàng hoạt động kinh doanh chính
là nguồn vốn huy động
Trang 11Xuất phát từ chức năng thứ nhất của các ngân hàng là: các NHTM là trung gian tài chính làm nhiệm vụ thu hút tiền gửi và tiết kiệm trong nền kinh tế, các NHTM đã tạo ra được nguồn vốn khổng lồ để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình Đây là nguồn vốn dồi dào và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Đặc điểm của nguồn vốn này là ngân hàng không có quyền sở hữu và đáp ứng những điều kiện đã thỏa thuận với khách hàng mà ngân hàng được sử dụng trong mọt khoảng thời gian nhất định để cho vay hoặc đầu tư vào những lĩnh vực khác nhau.
1.1.1.4 Kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh mang tính hệ thống cao và phải chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Nhà nước
Có thể nói tình hình phát hành, lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đế tổng thể nền kinh tế, hơn nữa, đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh doanh khác Do đó, một mặt đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ Quốc gia, nhằm bảo vệ sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư Mặt khác, để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như để có thể tạo ra các dịch vụ toàn diện cho ngân hàng, luôn yêu cầu phải duy trì tính ràng buộc theo hệ thống trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, bao gồm cả những ràng buộc về mặt kỹ thuật và về mặt tổ chức, có thể do các ngân hàng tự thiết lập hay do các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn được đặt trong một môi trường pháp lý nghiêm ngặt, bị chi phối rất mạnh bởi tác động của chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia Hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng có được ở mức độ nào cũng luôn là kết quả không chỉ những nỗ lực của bản thân ngân hàng đó mà còn lệ thuộc chặt chẽ vào khả năng liên kết của ngân hàng đó với các ngân hàng khác và với các thị trường tài chính
1.1.2 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Hoạt động ngân hàng luôn gắn với rủi ro và sau đây là một số loại rủi ro cơ bản mà các ngân hàng thường phải đối mặt:
Trang 12- Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Giữa mức độ rủi ro tín dụng và chất lượng danh mục cho vay của ngân hàng có mối liên hệ trực tiếp Một ngân hàng có số lượng các khoản cho vay không thu hồi được nhiều một cách bất thường sẽ được coi như có danh mục cho vay với mức độ rủi ro tín dụng cao Cách phòng ngừa rủi ro tín dụng tốt nhất là việc quản lý danh mục, bao gồm
cả việc xây dựng các chuẩn mực cấp tín dụng và chính sách đa dạng hóa phù hợp
- Rủi ro thanh khoản: là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn
để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán Rủi ro thanh toán lớn nhất khi ngân hàng không thể tiếp cận được các nguồn bổ sung tiền mặt, ví dụ như thông qua một hạn mức tín dụng đã ký kết (các nguồn như các khoản cam kết, rủi ro tập trung hay cơ cấu tài sản có và tài sản nợ)
- Rủi ro thị trường: là loại rủi ro bị tổn thất tài sản, xảy ra khi lãi suất, tỷ giá hay giá cả thị trường biến động theo chiều hướng xấu, ví dụ như tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, giá cổ phiếu Do rủi ro thị trường bao trùm một phạm vi rất rộng, nên rủi ro thị trường sẽ được chia ra làm ba loại rủi ro cụ thể nhỏ hơn là rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất và rủi ro giá cả:
+ Rủi ro tỷ giá: là khả năng xảy ra những biến động của tỷ giá dẫn đến các tác động bất lợi cho các hoạt động kinh doanh, thu nhập và/hoặc giá trị ròng của Ngân hàng
+ Rủi ro lãi suất: là khả năng xảy ra những biến động của lãi suất dẫn đến tác động bất lợi tới hoạt động kinh doanh, thu nhập và/hoặc giá trị ròng của Ngân hàng Các nguồn rủi ro lãi suất chính bao gồm: (i) Rủi ro định giá lại (Repricing Risk) – phát sinh từ
sự khác biệt về thời gian đáo hạn (đối với lãi suất cố định) và thời điểm tái định giá (đối với lãi suất thả nổi) của tài sản nợ, tài sản có và các khoản mục ngoại bảng (ii) Rủi ro đường cong thu nhập (Yield Curve Risk) – đường cong thu nhập vẽ đồ thị mối quan hệ giữa mức lợi tức đến hạn và thời gian đến hạn của các khoản nợ với các công cụ có rủi ro
vỡ nợ - trục tung là lợi tức đến hạn, trục hoành là thời gian đến hạn Nguyên nhân là do sự thay đổi độ dốc và hình dạng của đường cong thu nhập, rủi ro xảy ra khi đường cong thu nhập dịch chuyển không dự đoán được gây ảnh hưởng bất lợi tới thu nhập hoặc giá trị kinh
Trang 13tế của ngân hàng (iii) Rủi ro cơ bản: phát sinh từ sự tương quan không hoàn hảo trong việc điều chỉnh thu lãi và chi lãi trên các công cụ khác biệt có thời gian tái định giá tương tự nhau
+ Rủi ro giá cả (trừ các rủi ro thị trường ở trên): là khả năng xảy ra những biến động của giá cả dẫn đến tác động bất lợi tới hoạt động kinh doanh, thu nhập và/hoặc giá trị ròng của Ngân hàng
- Rủi ro hoạt động (còn gọi là rủi ro vận hành), hoặc rủi ro tác nghiệp): là rủi ro gây tổn thất do nguyên nhân các quy trình nội bộ, con người và các hệ thống không đầy đủ hoặc sai lầm, hoặc bởi các yếu tố, sự kiện bên ngoài
- Rủi ro tuân thủ: là rủi ro có thể phát sinh từ các vi phạm hay sự không tuân thủ các luật, các quy chế, các quy định hoặc thông lệ, hoặc khi các quyền lợi cũng như nghĩa vụ hợp pháp của các bên đã được thiết lập đầy đủ Rủi ro tuân thủ không chỉ gồm tuân thủ pháp lý
mà còn có cả các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp do các hiệp hội đưa ra
- Rủi ro danh tiếng: là rủi ro phát sinh những quan điểm tiêu cực của công chúng về ngân hàng (khi các thồng tin không tốt về ngân hàng được công khai) dẫn đến tình trạng thiệt hại
về nguồn huy động vốn, mất khách hàng, giảm thu nhập, Rủi ro danh tiếng có thể kéo theo những hành động gây nên tình trạng kéo dài quan niệm không tốt trong dân chúng về hoạt động chung của ngân hàng, và như vậy khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ khách hàng sẽ trở nên khó khăn và có thể làm suy yếu đi lòng tin của khách hàng vào ngân hàng.Mỗi loại rủi ro trên lại có thể được nhìn nhận khác nhau và cần được đo lường và quản lý phù hợp với các đặc điểm riêng biệt của từng loại rủi ro
1.1.3 Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Theo quan điểm được nhiều người đồng thuận cho rằng cần quản trị tất cả các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng một cách toàn diện Theo đó, quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro Quản trị rủi ro bao gồm năm bước: nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát, phòng ngừa và tài trợ rủi ro
Trang 14a Nhận dạng rủi ro
Điều kiện tiên quyết để quản trị rủi ro là phải nhận dạng được rủi ro Nhận dạng rủi
ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của ngân hàng; bao gồm: việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của ngân hàng nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng loại rủi ro phù hợp
b Phân tích rủi ro
Đây chính là việc tìm ra nguyên nhân gây ra rủi ro Phân tích rủi ro nhằm đề ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân làm thay đổi chúng, qua đó sẽ phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn
c Đo lường rủi ro
Muốn vậy, phải thu thập số liệu, lập ma trận đo lường rủi ro và phân tích, đánh giá
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng, người ta sử dụng hai tiêu chí: Tần suất xuất hiện của rủi ro và biên độ của rủi ro, tức là mức độ nghiêm trọng của tổn thất, đây là tiêu chí có vai trò quyết định
d Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro Đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xãy ra đối với ngân hàng Các biện pháp kiểm soát có thể là: phòng tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, chuyển giao rủi ro, đa dạng rủi ro, quản trị thông tin,
e Tài trợ rủi ro
Mặc dù, đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra Khi
đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ phù hợp Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự khắc phục và chuyển giao rủi ro
Trang 151.2 Quản trị rủi ro thị trường của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm rủi ro thị trường của NHTM
Rủi ro thị trường (RRTT) là khả năng xảy ra những tổn thất do những biến động bất lợi về giá trị thị trường của các tài sản của NHTM như Cổ phiếu, trái phiếu, các khoản cho vay, ngoại hối hay các hợp đồng chứng khoán phái sinh Những biến động này chủ yếu phát sinh từ sự thay đổi không dự tính được từ các yếu tố gây lên rủi ro như: thị trường chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hóa
Trong số các yếu tố gây ra rủi ro thị trường của các tài sản tài chính thì lãi suất là một trong những yếu tố quan trọng nhất Hiểu một cách tổng quan nhất thì RRTT là khả năng NHTM phải hứng chịu một kết quả thua lỗ trong kinh doanh khi mà thị trường có những biến động và thay đổi bất lợi so với dự đoán của ngân hàng Các yếu tố rủi ro chính trên thị trường được xác định qua sự biến động không dự đoán được của các yếu tố lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và giá cả hàng hóa
1.2.2 Các loại rủi ro thị trường của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Rủi ro hối đoái
a Nguyên nhân phát sinh RRHĐ
Trong hoạt động ngân hàng, yếu tố trực tiếp gây nên rủi ro hối đoái là các hoạt động mua bán ngoại tệ và hoạt động trên TSC và TSN bằng ngoại tệ của ngân hàng, tạo nên trạng thái ngoại tệ mở Chẳng hạn, ngân hàng mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp đồng ngoại thương, nhằm điều chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền hoặc mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ khi có những dự tính về biến động tỷ giá… Khi tỷ giá trên thị trường thay đổi cũng đồng nghĩa với việc các tài sản bằng ngoại tệ, trạng thái ngoại tệ mở sẽ bị ảnh hưởng và rủi ro xảy ra nếu như biến động tỷ giá không theo như nhận định của ngân hàng Ngoài ra sự không cân xứng về ky hạn giữa TSC (TSC) và TSN (TSN) đối với từng loại ngoại tệ cũng gây nên rủi ro hối đoái Hai ví dụ sau
sẽ mô tả rõ hơn về rủi ro tỷ giá hối đoái
Ví dụ 1: Một ngân hàng duy trì trạng thái ngoại hối tại thời điểm x/x/20…
Trang 16Bán trong ngày
Trạng thái
NT cuối ngày
Ý nghĩa kinh tế
USD 2,000,000 500,000 250,000 2,250,000
Trạng thái ngoại tệ trường
- Lãi khi giá USD tăng
- Lỗ khi giá USD giảm
EUR 1,000,000 500,000 2,000,000 -500,000
Trạng thái ngoại tệ đoản
- Lãi khi giá EUR giảm
- Lỗ khi giá EUR tăng
Trạng thái ngoại tệ trường
- Lãi khi giá JPY tăng
- Lỗ khi giá JPY giảmQua bảng trên ta thấy được rủi ro tỷ giá hối đoái chỉ phát sinh khi ngân hàng duy trì trạng thái ngoại tệ mở
Ví dụ 2:
- Tại thời điểm đầu năm ngân hàng A mua USD bằng số tiền 1.000 tỷ VNĐ theo tỷ giá giao ngay S0 (VNĐ/USD) 15.900, tương đương 62,893 triệu USD
- Ngân hàng cho một công ty vay 62,893 triệu USD kỳ hạn 1 năm với lãi suất 12%/năm
- Đến thời điểm hoàn trả sau 1 năm, số tiền thu được cả gốc và lãi là:
62,893 x (1+12%) = 70,440,250 USD
- Cuối năm ngân hàng bán số USD vừa thu được theo tỷ giá S1 (VNĐ/USD)
Như vậy RRHĐ xảy ra trong trường hợp nếu S1<S0, ngân hàng sẽ bị lỗ từ việc đầu tư mua ngoại tệ để cho vay Qua đó có thể thấy rằng các TSC và TSN bằng ngoại tệ sẽ phải chịu rủi ro khi tỷ giá biến động
b Rủi ro ngoai hối chỉ phát sinh khi ngân hàng nắm giữ trạng thái ngoại tệ mở
- Rủi ro ngoại hối phát sinh khi ngân hàng tạo trạng thái ngoại hối (Exchange
Position): Ngân hàng tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó,
Trang 17chờ cho tỷ giá biến động, sau đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.
Ví dụ: Ngân hàng A dự đoán USD sẽ giảm giá mạnh so với VND trong nay mai, ngay
lập tức ngân hàng này tiến hành bán USD vào ngày hôm nay với tỷ giá 1USD = 16.000 VNĐ, sau một thời gian, tỷ giá giảm xuống còn 1USD=15.500 VNĐ, ngân hàng lại tiến hành mua USD để cân bằng trạng thái, lãi kinh doanh ngoại hối thu được là 500VNĐ/USD (ở đây ta chỉ tập trung vào yếu tố tỷ giá, mà bỏ qua chênh lệch lãi suất phát sinh giữa hai đồng tiền) Bằng bảng luồng tiền, ta biểu diễn quy trình kinh doanh như sau:
t1 Dùng VND mua lại USD +1 -15,500 1USD=15,500VND
Chúng ta thấy ngay rằng, nếu tỷ giá trên thị trường thực sự không giảm, mà lại tăng thì đương nhiên là ngân hàng A phải chịu khoản lỗ ngoại hối
- Rủi ro ngoại hối phát sinh khi ngân hàng kinh doanh chênh lệch tỷ giá: là việc tại
cùng một thời điểm mua một đồng tiền ở nơi có giá thấp và bán lại đồng tiền này ở nơi có giá cao hơn để hưởng chênh lệch tỷ giá Hành vi mua bán diễn ra tại cùgn một thời điểm với số lượng bằng nhau, nên kinh doanh chênh lệch tỷ giá không chịu RRHĐ (vì không tạo trạng thái ngoại hối) và không phải bỏ vốn
Ví dụ, có hai ngân hàng niêm yết tỷ giá kinh doanh VND/USD như sau:
Ngân hàng sẽ kinh doanh chênh lệch tỷ giá như sau:
Tuy nhiên biến động tỷ giá trên thị trường ngoại hối quốc tế là rất lớn với nhiều thiết
bị công nghệ tiên tiến hỗ trợ, cho nên chênh lệch tỷ giá giữa các ngân hàng là rất nhỏ và rất
Trang 18khó có thể kiểm lời từ hoạt động kinh doanh này.
- Rủi ro ngoại hối phát sinh khi ngân hàng tiến hành kinh doanh chênh lệch tỷ giá
mua vào và bán ra: Do tỷ giá mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra, nên chênh lệch
tỷ giá mua bán chính là thu nhập của ngân hàng Về thực chất, trong giao dịch này, ngân hàng đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ mua hộ, bán hộ cho khách hàng, nên không chịu RRHĐ và không cần bỏ vốn
Qua phân tích cho thấy, nhà kinh doanh ngoại hối chỉ chịu RRHĐ khi duy trì trạng thái ngoại hối mở (open position) Tất cả các giao dịch làm phát sinh sự chuyển giao quyền
sở hữu về ngoại tệ (hiện tại và tương lai) đều tạo ra trạng thái ngoại tệ, trong đó thông qua giao dịch mua bán là chủ yếu Đối với mỗi ngoại tệ, tại một thời điểm, nếu tổng TSC lớn hơn tổng TSN (nội và ngoại bảng) thì ngoại tệ đó ở trạng thái trường Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối; và ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lỗ ngoại hối Nếu tổng TSC nhỏ hơn tổng TSN, thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lỗ ngoại hối; và ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lãi ngoại hối
Ngoài ra, nếu ngân hàng đầu cơ kinh doanh ngoại hối trên thị trường ngoại hối quốc
tế thì phải tạo trạng thái và lợi dụng sự biến động liên tục của tỷ giá các loại đồng tiền để kiếm lời Như vậy nguồn phát sinh RRHĐ cũng bắt nguồn từ việc mở rộng trạng thái giao dịch ngoại tệ
1.2.2.2 Rủi ro lãi suất
a Tác động của rủi ro lãi suất đối với hoạt động NHTM:
Cần được xem xét theo ba khía cạnh sau:
- Khía cạnh thu nhập: Bộ phận thu nhập trước đây được quan tâm nhiều nhất là thu
nhập lãi thuần (chênh lệch giữa tổng thu nhập lãi và tổng chi phí lãi) Sự tập trung này phản ánh tầm quan tọng của thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập của ngân hàng và mối liên hệ trực tiếp và dễ hiểu của nó với những thay đổi về lãi suất Tuy nhiên do các ngân hàng chuyển sang thực hiện các hoạt động tạo ra thu nhập dựa trên phí và cá thu nhập ngoài lãi khác, người ta ngày càng tập trung vào tổng thu nhập lãi thuật bao gồm cả thu
Trang 19nhập và chi phí ngoài lãi Ví dụ một số ngân hàng cung cấp chức năng thanh toán nghĩa vụ
nợ và quản lý khoản vay đối với các khoản vay cầm cố để lấy phí dựa trên doanh số tài sản được quản lý Khi lãi suất giảm, ngân hàng làm dịch vụ có thể bị giảm thu nhập phí do các khoản cầm cố trước được trả trước Ngoài ra, thậm chí những nguồn thu nhập ngoài lãi truyền thống khác như phí thực hiện giao dịch ngày càng trở nên nhạy cảm với lãi suất
- Khía cạnh giá trị kinh tế: Thay đổi lãi suất thị trường có thể ảnh hưởng tới giá trị
kinh tế của các tài sản có, tài sản nợ và các trạng thái ngoại bảng của ngân hàng Nói đến giá trị của một công cụ hàm ý giá trị hiện tại của các luồng tiền thuần dự kiến thu được từ công cụ đó, được chiết khấu để phản ánh lãi suất thị trường Nói rộng hơn, giá trị kinh tế của một NH được hiểu là giá trị hiện tại của luồng tiền mà NH sẽ thu được trong tương lai Theo đó, giá trị kinh tế chịu tác động của hai yếu tố: sự thay đổi về luồng tiền tương lai, và mức lãi suất chiết khấu được sử dụng để tính toán giá trị hiện tại của luồng tiền đó Do vậy, xét theo khía cạnh giá trị kinh tế thì RRLS tiềm ẩn những ảnh hưởng dài hạn đối với ngân hàng
- Các tổn thất ngầm: Các khía cạnh về thu nhập và giá trị kinh tế tập trung vào những
thay đổi trong tương lai ảnh hưởng như thế nào đến tình hình tài chính của ngân hàng Khi đánh giá mức độ rủi ro lãi suất ngân hàng sẵn sàng và có khả năng chấp nhận, ngân hàng cần cân nhắc cả ảnh hưởng của lãi suất trong quá khứ đối với tình hình tài chính trong tương lai Ví dụ một khoản vay dài hạn có lãi suất cố định được ký kết khi lãi suất thấp và sau đó được tài trợ bằng các tài sản nợ có lãi suất cao hơn trong thời hạn còn lại có thể làm giảm các nguồn lực của ngân hàng
b Nguồn phát sinh rủi ro lãi suất đối với các NHTM
Như đã nêu ở phần trên, RRLS xuất hiện khi có sự thay đổi lãi suất thị trường hoặc những yếu có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng RRLS xuất hiện khi có sự không cân xứng về kỳ hạn giữa TSC và TSN NHTM áp dụng các loại lãi suất khác nhau trong quá trình huy động vốn và cho vay Trường hợp ngân hàng huy động vốn với LSCĐ nhưng cho vay, đầu tư với LSBĐ: khi lãi suất giảm, RRLS sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được, làm giảm lợi nhuận Ngược lại, khi ngân hàng huy động vốn với LSBĐ nhưng cho vay, đầu tư với
Trang 20LSCĐ: khi lãi suất tăng, RRLS sẽ xuất hiện vì chi phí lãi phải trả lớn hơn lãi thu được.Mặt khác, RRLS cũng phát sinh do có sự không phù hợp về khối lượng, thời hạn giữa nguồn vốn huy động với việc sử dụng nguồn vốn đó để cho vay Bên cạnh đó, tỷ lệ lạm phát dự kiến không phù hợp với tỷ lệ lạm phát thực tế làm cho vốn của ngân hàng không được bảo toàn sau khi cho vay cũng là một nguồn phát sinh RRLS Ngoài ra, khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp rủi ro giảm giá trị tài sản Khi RRLS xuất hiện sẽ làm tăng chi phí nguồn vốn của ngân hàng; giảm thu nhập từ tài sản của ngân hàng, làm giảm giá thị trường của TSC và vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Như vậy, RRLS đối với NHTM phát sinh từ 2 nguồn chính:
- Thứ nhất là sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản được đo bằng khe
hở lãi suất:
"Khe hở lãi suất" = "Tài sản nhạy cảm lãi suất" - "Nguồn vốn nhạy cảm lãi suất"
Các tài sản và nguồn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh chóng được chuyển sang áp dụng lãi suất mới khi lãi suất thị trường thay đổi có lợi; ví dụ như các khoản tiền gửi ngắn hạn, các khoản cho vay và đi vay trên thị trường liên ngân hàng, chứng khoán ngắn hạn của chính phủ, các khoản cho vay ngắn hạn… Các loại ít nhạy cảm như tài sản và nguồn vốn trung và dài hạn với lãi suất cố định Ví dụ, một khoản tiền gửi tiết kiệm 3 tháng (100 tỷ VND) với lãi suất 10%/năm Khi lãi suất thị trường thay đổi tăng hoặc giảm, thì khoản tiền này (100 tỷ VNĐ) sẽ nhanh chóng chuyển sang áp dụng lãi suất mới Ngược lại với khoản tiết kiệm 3 năm, khi lãi suất thị trường thay đổi, chỉ một phần nhỏ sắp đến hạn, hoặc mới gửi có khả năng chuyển sang áp dụng lãi suất mới Ngân hàng
có khe hở lãi suất dương nếu tài sản nhạy cảm lơn hơn nguồn nhạy cảm (kỳ hạn huy động vốn dài hơn sử dụng) và ngược lại
- Thứ hai là sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng và việc
ngân hàng sử dụng LSCĐ trong các hợp đồng.
Lãi suất thị trường thường xuyên thay đổi, ngân hàng luôn nghiên cứu và dự báo lãi suất Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp ngân hàng không thể dự báo chính xác mức độ thay đổi của lãi suất Khi đó tuỳ theo tình trạng khe hở lãi suất của ngân hàng và biến động
Trang 21lãi suất trên thị trường mà ngân hàng phải chịu tổn thất hoặc có lời Cụ thể, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất tăng; khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất giảm Ngược lại, nếu ngân hàng duy trì khe hở lãi suất âm, khi lãi suất trên thị trường tăng, chênh lệch lãi suất giảm; khi lãi suất trên thị trường giảm, chênh lệch lãi suất tăng.
c Các nhân tố phản ánh quy mô rủi ro lãi suất:
- Khe hở lãi suất (interest rate gap): Các nhà quản lý ngân hàng đã dùng khe hở lãi
suất như là tiêu chí đo khả năng thu nhập giảm khi lãi suất thay đổi Khe hở lãi suất hình thành do chênh lệch tài sản và nguồn nhạy cảm Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới quy mô của nguồn và tài sản nhạy cảm, qua đó ảnh hưởng đến khe hở lãi suất:
+ Nhu cầu về kỳ hạn của người sử dụng;
+ Khả năng về kỳ hạn của người gửi và cho vay;
+ Chuyển hoán kỳ hạn của nguồn
Sự khác biệt về kỳ hạn của nguồn và tài sản là tất yếu Kỳ hạn để phân loại tài sản và nguồn nhạy cảm không phải là kỳ hạn danh nghĩa mà là thời hạn tài sản và nguồn được xác định lại lãi suất Ví dụ, một nguồn tiền huy động 2 năm với lãi suất 10%/năm và đã duy trì được 1 năm 10 tháng, vậy vào thời điểm tính toán, nguồn này chỉ còn 2 tháng là đến hạn Nếu lãi suất thị trường thay đổi, nguồn này sẽ được định lại giá (xác định lại lãi suất)
Ngân hàng khó có thể và cũng không cần thiết duy trì sự phù hợp tuyệt đối về kỳ hạn giữa các nguồn và các loại tài sản khác nhau trong mọi thời kỳ Trước hết, kỳ hạn trên thị trường là do khách hàng đi vày và gửi tiền quyết định Thứ hai, sự thay đổi của các lãi suất rất khác nhau và mức độ nhạy cảm của nguồn và tài sản đối với lãi suất cũng khác nhau Thứ ba, sự khác biệt về nguồn và tài sản nhạy cảm có thể tạo thu nhập cao hơn cho ngân hàng, bởi lẽ khi ngân hàng duy trì khe hở nhạy cảm khác 0, nếu lãi suất thay đổi theo hướng phù hợp thì thu nhập của ngân hàng sẽ tăng Giả sử lãi suất thay đổi với mức độ nào
đó không có lợi cho ngân hàng, mức độ giảm thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận với quy mô khe hở lãi suất
- Mức độ thay đổi của lãi suất thị trường: cũng ảnh hưởng đến quy mô RRLS Trong
Trang 22trường hợp ngân hàng duy trì khe hở lãi suất dương, tức la ngân hàng dự đoán sẽ lãi suất tăng; nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm cùng tăng như nhau, ngân hàng sẽ có lợi Ngược lại, nếu chúng giảm xuống cùng mức độ, chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm làm giảm thu nhập từ lãi suất Trong trường hợp ngân hàng đang duy trì khe hở lãi suất âm tức là ngân hàng dự đoán lãi suất sẽ giảm Nếu lãi suất tài sản và nguồn nhạy cảm lại tăng với cùng mức độ, chênh lệch lãi suất của ngân hàng sẽ giảm, làm giảm thu nhập từ lãi suất.Như vậy trạng thái tài sản và nguồn (tạo nên khe hở lãi suất) không phải là yếu tố duy nhất gây nên RRLS Trạng thái trên kết hợp với sự thay đổi lãi suất ngoài mong muốn của nhà quản lý ngân hàng sẽ gây nên RRLS Do khả năng dự đoán biến động lãi suất là có hạn trước những thay đổi của môi trường kinh doanh, khe hở lãi suất trở thành yếu tố đo RRLS tiềm năng Nếu khe hở lãi suất càng lớn thì rủi ro cũng càng lớn.
Ví dụ: Một ngân hàng đang có trạng thái nhạy cảm với lãi suất như sau (số dư bình
quân trong kỳ, đơn vị tỷ động, lãi suất bình quân % kỳ):
Tài sản kém nhạy cảm 120 7 Nguồn kém nhạy cảm 80 6
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng trong kỳ:
(80x5% + 120x7% - 120x4% - 80x6%) x100 =1,4%
200Nếu lãi suất của thị trường tăng thêm 1%, chênh lệch lãi suất của ngân hàng:
(80x6% + 120x7% - 120x5% - 80x6%) x100 =1.2% (giảm 0.2%)
200Khe hở nhạy cảm 80 - 120 = -40
Vậy từ khe hở nhạy cảm ta có thể dự đoán tổn thất khi lãi suất thay đổi:
Thu nhập từ lãi giảm (-)
Khe hở
Mức gia tăngcủa lãi suất
Từ ví dụ trên ta có: Thu nhập từ lãi giảm (-) = -40x1% = -0,4 (đơn vị)
Chênh lệch từ lãi suất
giảm (-) hoặc tăng (+)
= Khe hở nhạy cảm x Mức gia tăng của lãi suất
Trang 23Tổng tài sản sinh lời
= -0,4 x 100
200
d Các diễn biến của RRLS:
- Lãi suất thay đổi không cùng mức độ: Để thấy ảnh hưởng của trạng thái tài sản và
nguồn nhạy cảm đối với RRLS, chúng ta giả định lãi suất nguồn và tài sản nhạy cảm thay đổi với cùng mức độ Song trên thực tế, các mức lãi suất thay đổi theo các mức độ khác nhau cũng gây ra RRLS dù độ lớn và dấu của khe hở lãi suất như thế nào
Ví dụ: Một ngân hàng với số dư bình quân kỳ, lãi suất bình quân như sau:
- Tiền gửi tại các NH 10 2 - Tiền gửi có kỳ hạn 30 4
Hiện tại, chênh lệch thu chi từ lãi của ngân hàng là:
20x4%+10x2%+50x6%+120x7T-30x3%-30x4%-60x5%-80x6% = 2,5
Chênh lệch lãi suất của ngân hàng là: (2,5x100)/200 = 1,25%
Khi lãi suất tăng cùng mức độ, do khe hở lãi suất âm, thu nhập từ lãi sẽ giảm Song nếu mức lãi suất thay đổi không giống nhau thì tổn thất có thể rất lớn, hoặc ngược lại ngân hàng có thể được lợi
Giả sử lãi suất thị trường dự tính thay đổi như sau: chứng khoán ngắn hạn tăng thêm 0,3%; tiền gửi tại các ngân hàng tăng thêm 0,2%; cho vay ngắn hạn tăng thêm 0,8%; tiền thanh toán tăng thêm 0,3%; tiền gửi có kỳ hạn ngắn tăng thêm 0,6%; tiền gửi tiết kiệm ngắn tăng thêm 0,9% Vậy chênh lệch thu chi từ lãi suất dự tính trong kỳ tới của ngân hàng là:
20x4,3%+10x2,2%+50x6,8%+120x7%-30x3,3%-30x4,6%-60x5,9%-80x6% = 2,17
Trang 24Chênh lệch lãi suất dự tính của ngân hàng là: (2,17 x 100)/200 = 1,085%.
- Mức độ nhạy cảm lãi suất: Kỳ hạn nguồn và tài sản quyết định độ lớn của khe hở lãi
suất Để đơn giản, ta giả định các tài sản và nguồn ngắn hạn (từ 12 tháng trở xuống) là nhạy cảm lãi suất (mức độ nhạy cảm như nhau) Tuy nhiên, trên thực tế các kỳ hạn khác nhau sẽ có mức nhạy cảm khác nhau Tiền gửi tại NHNN, tiền gửi thanh toán là tài sản và nguồn có mức độ nhạy cảm lớn nhất Tiền gửi tiết kiệm 9 tháng (sau 9 tháng mới định giá lại) có mức độ nhạy cảm thấp hơn tiền tiết kiệm loại 12 tháng Nguồn 12 có thể chuyển thành tài sản kỳ hạn 2 tháng và 24 tháng để tạo ra khe hở lãi suất bằng 0 Khi lãi suất thay đổi trong một khoảng thời gian dự tính, tỷ lệ các tài sản và nguồn nhạy cảm được định giá lại cũng khác nhau Nguồn và TSC kỳ hạn trên 1 năm với lãi suất cố định được coi là kém nhạy cảm với lãi suất Song mức độ nhạy cảm của mỗi loại cũng khác nhau và đều có tác động tới khe hở lãi suất Một nguồn huy động 3 năm để cho vay 3 năm với lãi suất cố định thì không có RRLS Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khách hàng vay là doanh nghiệp lớn có thể thay lãi suất khi lãi suất trên thị trường giảm Các doanh nghiệp này có thể trả trước hạn, vay ngân hàng khác để trả, thoả thuận với ngân hàng để giảm lãi suất ghi trong hợp đồng… Khi tình hình cho vay trở nên khó khăn các ngân hàng buộc phải chấp nhận yêu cầu của khách hàng, thực tế này tạo ra tổn thất cho ngân hàng
1.2.2.3 Rủi ro thanh khoản
a Bản chất rủi ro thanh khoản:
Cốt lõi của rủi ro thanh khoản là sự mất cân xứng giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản do cân đối không chính xác luồng tiền ra và luồng tiền vào hoặc do tác động
từ bên ngoài mà không lường trước được nên dẫn đến rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là rủi ro đặc thù của các NHTM được phản ánh rõ nét thông qua nguồn vốn có độ thanh khoản cao (bản chất tiền gửi), tài sản có độ thanh khoản thấp (bản chất cho vay, hay tài sản có tính lỏng thấp) và dựa trên uy tín, độ tín nhiệm của ngân hàng
b Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản: Có 2 nguyên nhân chính sau:
- Nguyên nhân chủ quan: liên quan đến chính việc xác định nhu cầu thanh khoản của
ngân hàng, thể hiện ở các điểm chính sau:
Trang 25+ Ngân hàng không dự tính trước được nhu cầu tài trợ khoản cho vay.
+ Ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu rút tiền ngay
+ Ngân hàng thiếu đa dạng hoá các loại hình tài trợ, các loại tiền
+ Ngân hàng mất cân đối về thời gian đáo hạn các khoản vay, cho vay
+ Rủi ro thanh khoản cục bộ trong từng loại tiền tệ, do mất cân đối giữa luồng tiền ra
và luồng tiền vào
+ Ngân hàng giảm sút uy tín đối với công chúng
- Nguyên nhân khách quan: Liên quan đến các tác nhân xấu ngoài dự kiến gây rủi ro
như khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực, các tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đến uy tín ngân hàng và các khoản cho vay đến hạn nhưng không nhận được thanh toán từ phía khách hàng do làm ăn thua ỗ, phá sản hoặc gặp thiên tai
c Các nhân tố phản ánh rủi ro thanh khoản:
- Các chỉ tiêu thanh khoản: là các giá trị được xác định để phản ánh khả năng thanh
khoản của ngân hàng theo từng tiêu chí như tài sản có tính thanh khoản cao, các khoản đầu
tư vào tài sản có tính thanh khoản kém… Trong hoạt động ngân hàng các chỉ tiêu thanh khoản gồm có 6 loại sau:
+ Chỉ tiêu trạng thái ngân quỹ: Dùng để đánh giá tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong tổng tài sản của ngân hàng
+ Chỉ tiêu hệ số về năng lực: Đánh giá phần tài sản được phân bổ vào những tài sản
có tính thanh khoản kém nhất;
+ Chỉ tiêu cho vay cho thuê ròng với tổng tiền gửi: Đánh giá phần tiền gửi được đầu
tư vào những tài sản kém tính thanh khoản nhất;
+ Chỉ tiêu đầu tư ngắn hạn so với tài sản tính sinh lời cao dài hạn: Đánh giá các tài sản có tính thanh khoản cao, được sử dụng ngay để bù đắp cho những tài sản sinh lời dài hạn;
+ Chỉ tiêu hệ số tiền nóng: so sánh TSC trên thị trường tiền tệ (giấy tờ có giá ngắn
Trang 26hạn) với TSN trên thị trường tiền tệ (tiền gửi vốn vay ngắn hạn), nếu hệ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng dồi dào;
+ Chỉ tiêu chứng khoán ngắn hạn (1 năm): tỷ lệ chứng khoán sẽ đáo hạn trong vòng 1 năm so với tổng tài sản của ngân hàng
- Nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn theo kỳ đáo hạn thực tế: so sánh nguồn vốn thực
tế và sử dụng vốn thực tế theo các kỳ đáo hạn để xác định khả năng thanh khoản của ngân hàng
Ví dụ, một ngân hàng có kỳ hạn các nguồn vốn huy động và sử dụng như sau:
Nguồn vốn và sử dụng vốn là không tương xứng nhau được biểu diễn ở bảng trên cho
ta thấy sự khác biệt giữa luồng tiền vào và luồng tiền ra ở các kỳ hạn khác nhau của ngân hàng Như vậy ngân hàng sẽ phải cân đối luồng tiền một cách hợp lý đồng thời lên kế hoạch phân loại và đánh giá các khoản sử dụng và huy động vốn để trích lập dự phòng rủi
ro thanh khoản khi phát sinh các trường hợp rút/trả trước hạn của khách hàng
- Khe hở thanh toán: khe hở thanh khoản cho ngân hàng thấy sự chênh lệch giữa cung
và cầu thanh khoản của ngân hàng, phản ánh sự thiếu hụt hay thặng dư hoặc đủ để bù đắp cho nhu cầu về vốn khả dụng của ngân hàng khi các khoản bắt buộc phải trả đến hạn, hay trong trường hợp khách hàng bất ngờ rút tiền gửi
Khe hở thanh khoản (KHTK) = Cung thanh khoản - Cầu thanh khoản
+ Nếu KHTK = 0, đồng nghĩa với việc ngân hàng có đủ vốn khả dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản;
Trang 27+ Nếu KHTK<0, đồng nghĩa với việc ngân hàng không đáp ứng đủ nhu cầu về thanh khoản, nói cách khác là thiếu hụt thanh khoản Như vậy ngân hàng phải tăng cung thanh khoản hoặc giảm cầu thanh khoản.
+ Nếu KHTK>0, ngân hàng thặng dư thanh khoản Như vậy ngân hàng cần phải mở rộng kinh doanh đầu tư vào các tài sản sinh lời trong tương lai
1.2.3 Khung quản trị rủi ro thị trường
1.2.3.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị rủi ro thị trường
Các NHTM muốn QTRRTT một cách bài bản, có hệ thống và hiệu quả, trước hết cần phải hiểu rõ bản chất của quản trị rủi ro nói chung, quản trị rủi ro thị trường nói riêng Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, đánh giá, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh và vốn của ngân hàng
QTRRTT bao gồm tất cả các hoạt động nội bảng và ngoại bảng củ ngân hàng nhằm kiểm soát mức độ RRTT, sao cho nó nằm trong giới hạn hay các mức ngưỡng mà ngân hàng có thể chấp nhận Nói cách khác, QTRRTT là quản lý mức độ chịu rủi ro tối đa do ảnh hưởng của các sự kiến RRTT dự kiến cũng như không dự kiến Như vậy, QTRRTT không có nghĩa bằng mọi cách phải triệt tiêu RRTT vì thị trường là luôn luôn biến động, là
cơ hội tạo ra lợi nhuận nhưng cũng kèm theo rất nhiều rủi ro tiềm ẩn QTRRTT nhằm vào
Thứ ba, nâng cao giá trị và uy tín của ngân hàng
1.2.3.2 Khung quản trị rủi ro thị trường
Hoạt động ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó rủi ro thị trường là một bộ phận Bởi thế, khung QTRRTT cũng nằm trong khuôn khổ hệ thống QTĐ thống nhất, đồng
Trang 28bộ của một NHTM Như vậy, có rất nhiều vấn đề bao hàm trong một khung QTRRTT: từ việc hình thành nên chiến lược đối với RRTT, trong đó bao gồm các mục tiêu, nhiệm vụ chính; khẩu vị rủi ro; văn hoá quản lý rủi ro… của ngân hàng; đồng thời phải hình thành nên cấu trúc tổ chức QTRRTT - là nền tảng cho toàn bộ ngân hàng trong tất cả các hoạt động QLRRTT.
Tự đánh giá RR
Chỉ sốRRchủ yếu
Chương trình dịch vụ/
sản phẩm mới
Tìm nguồn lực bên ngoài Đánh giá RR
Kế hoạch hành động RR
Cơ sở dữ liệu các sự kiện RR
Quản lý tính liên tục của hoạt động kinh doanh
Chương trình gói bảo hiểm
Đánh giá RR
Thông báo/ báo cáo QTRR
Vốn pháp định Vốn kinh tế
Trang 29Hình 1.1: Hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng UOB (United Overseas Bank Group)
Bên cạnh đó là vấn đề lựa chọn các phương pháp luận RRTT - tức là lựa chọn các công cụ
và kỹ thuật QLRRTT, vấn đề về xây dựng hệ thống thông tin tương xứng phục vụ QLRRTT, xây dựng các kênh báo cáo QLRRTT… Và quan trọng không kém là việc triển khai vào thực tế toàn bộ quản lý QLRRTT, bao gồm các bước xác định, đo lường, giám sát
và quản lý rủi ro
Hình 1.2 Quá trình quản lý rủi ro thị trường
Xác định RRTT
- Xác định những yếu tố RRTT với từng loại hoạt động kinh doanh
- Tự đánh giá rủi ro và kiểm soát
- Thu thập dữ liệu RRTT
Giám sát RRTT
- Uỷ ban QLRRTT
- Hệ thống báo cáo QLRRTT+ Báo cáo RRTT định kỳ+ Báo cáo giá trị chịu rủi ro VaR+ Báo cáo Stressteting, backtesting, what if scenario analysis
Quản trị RRTT
- Các chiến lược giảm thiểu rủi ro
- Kế hoạch điều chỉnh hạn mức
chịu rủi ro, hạn mức kinh doanh
- Môi trường kiểm toán nội bộ
Đo lường RRTT
- Phân tích dữ liệu RRTT
- Đo lường giá trị chịu rủi ro
- Phân bổ hạn mức chịu rủi ro
- Dự phòng tổn thất phân bổ vốn
Trang 301.2.3.3 Các công cụ quản trị rủi ro thị trường
Quản trị rủi ro thị trường đã được các NHTM trên thế giới nghiên cứu và phát triển không ngừng từ nhiều năm qua, theo đó ngày càng nhiều công cụ đã được sử dụng hiệu quả nhằm QLRRTT Phần này xin giới thiệu một số công cụ QTRR TT chính đang được
sử dụng bởi nhiều NHTM lớn trên thế giới
Công cụ đo lường RRTT: giá trị chịu rủi ro VaR
a Khái niệm :
Quan trọng nhất của việc quản lý rủi ro là làm sao có thể đo lường được mức độ rủi
ro mà ngân hàng có thể chịu được và đưa ra mức tối thiểu có thể bù đắp được cho những rủi ro đó Như vậy đối với rủi ro thị trường, ngân hàng phải xác định được đâu là mức độ chịu rủi ro tối đa khi thị trường tài chính có những biến động bất lợi làm ảnh hưởng đến khả năng sinh lời cho các hoạt động ngoại bảng và nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng Một công cụ thường được sử dụng để đo lường mức độ chịu rủi ro tối đa, đó là giá trị chịu rủi ro, thuật ngữ tiếng Anh là VaR (Value at Risk)
VaR của một danh mục tài sản tài chính được định nghĩa là khoản tiền lỗ tối đa trong một thời hạn nhất định, nếu ta loại trừ những trường hợp xấu nhất (worst case scenarios) hiếm khi xảy ra VaR là một phương pháp đánh giá mức rủi ro của một danh mục đầu tư theo hai tiêu chuẩn như giá trị của danh mục đầu tư và khả năng chịu đựng rủi ro của ngân hàng
Có nhiều phương pháp tính VaR Các NHTM tuỳ theo mô hình quản lý rủi của mình
mà lựa chọn phương pháp phù hợp để áp dụng Các phương pháp tính VaR đều cho ra kết quả là một số cụ thể, mỗi phương pháp ứng với một kết quả khác nhau VaR có thể được tính tổng hoặc tính riêng cho các hoạt động kinh doanh ngoại bảng, nội bảng của ngân hàng Trên cơ sở đánh giá giá trị hiện tại của các danh mục đầu tư mà ngân hàng đang nắm giữ so với giá trị thị trường VaR được xác định và ứng dụng cho từng danh mục hay từng hạng mục đầu tư đơn lẻ Ngoài ra VaR còn được tính toán dựa trên các giả định về sự biến động của thị trường theo nhiều kịch bản khác nhau như tăng giảm đột ngột về lãi suất, thay đổi chính sách tiền tệ, các chỉ số kinh tế, tài chính bất thường… như vậy, VaR giúp cho
Trang 31ngân hàng kiểm soát được hạn mức chịu rủi ro đối với từng hoạt động kinh doanh của mình và từ đó có thể lên kế hoạch phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
b Phương pháp tính VaR
Có 4 phương pháp tính VaR thông dụng nhất:
b1 Phương pháp phương sai, hiệp phương sai (Variance and Covariance Method)
Giả thiết của phương pháp này là tỷ suất sinh lợi và rủi ro tuân theo phân bố chuẩn VaR được tính như sau:
- Tính giá trị hiện tại P0 của danh mục đầu tư
- Từ những dữ liệu quá khứ, tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng µ và độ lệch chuẩn suất sinh lợi
σcủa danh mục đầu tư.
- VaR được xác định theo công thức sau đây:
0
VaR P x = −µ + ασ
với αbằng -1.65 nếu mức độ tin cậy là 95% và bằng -2.33 nếu độ tin cậy là 99%
(αlà hệ số rủi ro, đã được tính toán và kiểm chứng ở mức chuẩn là -1.65 và -2.33 tuy nhiên hệ số này có thể điều chỉnh phụ thuộc vào mô hình QLRRTT của từng NH)
Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư được tính theo công thức sau:
+ W1…Wn: là lượng của một tài sản trong danh mục đầu tư W1=P1/P
+ σ σ1 n: là độ biến động theo % của từng tài sản trong danh mục
+ ρ ρ12 N 1,N− : tỷ lệ % tương quan của σ σ1 ntrong danh mục đầu tư
Nếu như tỷ suất sinh lời trung bình xấp xỉ bằng 0 thì lúc đó VaR = P0 x ασ, giả sử σ
=2.6, với độ tin cậy 95% thì khoản lỗ tối đa không được vượt quá -1.65x2.6=4.29% và
Trang 3299% thì khoản lỗ tối đa không được vượt quá -2.33x2.6=6.058%.
b2 Phương pháp phân tích quá khứ (Historical Simulation)
Phương pháp này đưa ra giải thuyết rằng sự phân bổ tỷ suất sinh lợi trong quá khứ có thể tái diễn trong tương lai VaR được xác định như sau:
- Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư
- Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư này theo từng hệ số rủi
ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất, …)
- Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất
- Tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ
Ví dụ: Có một danh sách bao gồm 1400 dữ liệu quá khứ (historical data) và nếu độ tin cậy
là 95%, thì VaR là giá trị thứ 70 trong danh sách này (1-0.95) x 1400 Nếu độ tin cậy là 99% thì VaR là giá trị thứ 14 (1-0.99)x1400
b3 Phương pháp Ma trận rủi ro (Risk Metrics)
Nguyên tắc tính VaR theo phương pháp ma trận rủi ro tương tự với nguyên tắc tính VaR của phương pháp phương sai - hiệp phương sai, nhưng thay vì tính độ lệch chuẩnσcho tất cả các tỷ suất sinh lợi, ta tính σtheo những suất sinh lợi mới nhất Phương pháp này phản ứng nhanh chóng khi thị trường thay đổi đột ngột và đồng thời quan tâm đến những sự kiện cực kỳ quan trọng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị của danh mục đầu tư Nói cụ thể, thuật toán tính VaR là như sau:
- Tính độ lệch chuẩn quá khứ σ0 (hisrorical volatility) của danh mục đầu tư
- Dùng các tỷ suất sinh lợi xếp theo thứ tự thời gian, tính độ lệch chuẩn bằng công thức sau
n n 1− 1 rn 1−
σ = λσ + − λ
Trong đó:
+σn 1 − là độ lệch chuẩn, rn 1− là tỷ suất sinh lợi ở thời điểm n-1 và hằng số λ được cố định
là 0.94 đối với độ biến động trong 1 ngày và 0.97 đối với độ biến động trong 1 tháng
Trang 33Dùng giá trị ước tính mới nhất của độ lệch chuẩn σn, tính VaR theo biểu thức của
phương pháp phương sai - hiệp phương sai
b4 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo (Monte Carlo Simulation)
Phương pháp này mô phỏng những yếu tố thị trường thay đổi trong quãng thời gian N dựa theo dữ liệu quá khứ để đưa ra N giả thiết lãi/lỗ trong danh mục đầu tư Sau khi đó một biến giả ngẫu nhiên (Psuedo - random number) được tạo ra và cho chúng chạy theo những biến động của thị trường để tìm ra giả thiết lỗ/lãi có thể xảy ra trong tương lai Sau đây là cách tiếp cận để tính VaR:
- Mô phỏng một số lượng rất lớn N bước lặp, ví dụ N>10,000
- Cho mỗi bước lặp i, i<N
- Tạo ngẫu nhiên một kịch bản được cắn cứ trên một phân bố xác suất về những hệ số rủi
ro (giá trị cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, tỷ suất, vvv) mà ta nghĩ rằng chúng mô tả những dữ liệu quá khứ (historical data) Ví dụ ta giả sử mỗi hệ số rủi ro được phân bố chuẩn với kỳ vọng là giá trị của hệ số rủi ro ngày hôm nay Và từ một tập hợp số liệu thị trường mới nhất và từ mô hình xác suất trên ta có thể tính mức biến động của mỗi hệ số rủi ro và mối tương quan giữa các hệ số rủi ro
- Tái đánh giá danh mục đầu tư Vi, trong kịch bản thị trường trên
- Ước tính tỷ suất sinh lợi (khoản lời/lỗ) ri = Vi - Vi-1 (giá trị danh mục đầu tư ở bước i-1)
- Xếp các tỷ suất sinh lợi ri, theo thứ tự giá trị từ thấp nhất đến cao nhất
- Tính VaR theo độ tin cậy và tỷ lệ phần trăm (percentile) số liệu ri Ví dụ: nếu ta mô phỏng 5000 kịch bản và nếu độ tin cậy là 95%, thì VaR là giá trị thứ 250 Nếu độ tin cậy là 99%, VaR là giá trị thứ 50
c BackTesting: kiểm tra lại giá trị chịu rủi ro
Các mô hình tính toán VaR cần được định kỳ kiểm tra lại tính chính xác và phù hợp thông qua công cụ BackTesting Bằng việc so sánh VaR tính được với các đo lường lỗ/lãi thực tế chúng ta có thể:
- Hiệu lực hoá các đo lường rủi ro
Trang 34- Rà soát lại và đưa ra những điều chỉnh cần thiết để đảm bảo tính chính xác của mô hình rủi ro.
- Ghi nhận các cách xử lý giao dịch và tính hiệu quả của việc chấp nhận rủi ro
Backtesting có thể được thực hiện với từng sản phẩm hoặc cả với danh mục đầu tư Nhiều
mô hình Backtests chuẩn hoá thực hiện so sánh các mức lỗ thực tế của danh mục đầu tư trong một thời kỳ xác định với các giá trị VaR đã được tính toán Theo cách đơn giản nhất, quá trình thực hiện Backtest bao gồm việc tính toán số lượng hay phần trăm các thời điểm
mà thu nhập thực tế của danh mục đầu tư vựơt quá giá trị VaR đã ước lượng, và so sánh số
đó với mức độ tin cậy đã sử dụng
Trang 35Hình 1.3 Tham khảo mẫu báo cáo VaR của Bank of New York Mellon
VaR = 20,000 Company
VaR = 20,000 Bank
Non - Bank
VaR=4,250CMI
VaR=2,000Pershing
VaR=2,500
Eq ArbStlLoss = 2,500
SecuritiesProcess
VaR=1,00Loan TradingStloss=1,000
OScapEqArb
Retail Fix Inc&
Muni 750
InstitFix Inc3,500
Assume Hold Debt
Assume Hold Equity
VaR=12,000Jont VenttureStLoss=12,000
VaR=4,000TradingStLoss=3,000
VaR=3,000Port MgmtStLoss=3,000
VaR=2,000Dom treasStLoss=1,000
Euro
Treas
Bond Equity3,000
FXD3,000
5,000IRD5,000
6,000EQD6,000
Trang 36 Công cụ phân tích kịch bản rủi ro: Stress Test, What - if scenario…
Mục đích đánh giá rủi ro theo những điều kiện xấu nhất xảy ra, hay nói cách khác kiểm định khủng hoảng (Stress test), là làm rõ những rủi ro có thể xảy ra bằng cách dự đoán khả năng tổn thất của danh mục đầu tư ngân hàng đối với sự biến động không bình thường của thị trường (như ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu… đối với thị trường) Việc đánh giá rủi ro này sẽ giúp ngân hàng có cái nhìn sâu hơn về mức độ chịu rủi ro của danh mục đầu tư khi biến động thị trường bị ảnh hưởng bởi những sự kiện đặc biệt
Hình 1.4: Đánh giá rủi ro (stress test) cho một danh mục đầu tư
Stress test giả định các trường hợp xấu xảy ra như lãi suất thay đổi đột ngột, tỷ giá biến động
Các loại rủi ro
Rủi ro thị trường
(rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ
giá, rủi ro thanh khoản)
Các kịch bản mô phỏng
Theo dữ liệu lịch sử Theo giả định Theo Monte Carlo
Trang 37bất thường, nhiều yếu tố xấu tác động hay khả năng tổn thất tối đa…, sau đó các giả định này được đưa vào theo các mô phỏng kịch bản khác nhau như mô phỏng quá khứ, mô phỏng giả định hay mô phỏng Monte Carlo để xác định xem mức độ ảnh hưởng của danh mục đầu tư như thế nào Trên cơ sở tính VaR và Stress test ngân hàng sẽ có cái nhìn đa chiều về mức độ rủi ro của danh mục đầu tư, từ đó giúp ngân hàng đưa ra mức độ chịu rủi ro chính xác hơn cũng như có kế hoạch phòng ngừa khả dĩ hơn cho danh mục đầu tư của mình Tuy nhiên, nếu xây dựng các giải định một cách nghèo nàn thiếu tính logic sẽ phản ánh một kết quả thiếu chính xác, đồng nghĩa với việc xảy ra rủi ro cao hơn.
Một công cụ phân tích khác cũng được sử dụng phổ biến đố là What - if scenario giả định các thay đổi nhỏ và phân tích sự thay đổi củ từng hoạt động đầu tư kinh doanh What -
if scenario được sử dụng trước khi đưa ra các quyết định giao dịch hay quyết định đầu tư hàng ngày
Công cụ bảo hiểm RRTT (hedging): Các sản phẩm phái sinh
Các sản phẩm phái sinh, thực chất là những hợp đồng tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào một hợp đồng mua bán cơ sở (hay còn gọi là chính phẩm), làm thay đổi trạng thái rủi ro và cho phép ngân hàng bảo hiểm các trạng thái rủi ro, giảm thiếu các ảnh hưởng bất lợi đối với nhu nhập của ngân hàng khi yếu tố thị trường có sự biến động Chẳng hạn, các hợp đồng kỳ hạn cho phép ngân hàng thay đổi một phần hoặc toàn bộ trạng thái rủi ro, ví dụ như chuyển trạng thái lãi suất thả nổi sang lãi suất cố định, từ đó ngân hàng có thể chuyển một kịch bản bất lợi thành một tình huống ưa thích hơn Tuy nhiên, bảo hiểm bằng các sản phẩm
kỳ hạn được thực hiện dựa trên những dự đoán cụ thể về biến động thị trường không đúng như dự đoán Các sản phẩm quyền chọn cho phép ngân hàng tính đến cả hai trường hợp: có lợi nếu biến động thị trường đúng như dự kiến, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ trong trường hợp biến động ngoài dự kiến, với phí quyền chọn tương xứng với những lợi ích nêu trên Các sản phẩm phái sinh giúp ngân hàng thay đổi quy mô rủi ro, giảm thiểu hoặc loại trừ hoàn toàn các trạng thái rủi ro, và điều chỉnh cấu trúc lãi - lỗ của toàn bộ bảng CĐKT
Phần dưới đây giới thiệu các sản phẩm phái sinh hiện đang được sử dụng phổ biến trên thị trường tài chính thế giới:
a Hợp đồng kỳ hạn: Là một công cụ tài chính phái sinh đơn giản Đó là một thoả thuận mua
hoặc bán một tài sản (hàng hóa hoặc các tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã xác định trước Sản phẩm này thường được thực hiện giữa các ngân hàng với
Trang 38nhau, hoặc giữa ngân hàng với các khách hàng là doanh nghiệp phi tài chính (các hợp đồng này thường được ký kết song phương) Trong hợp đồng kỳ hạn, người mua được gọi là người giữ thế trương vị (long position), người bán được gọi là người giữ thế đoán vị (short position).
Các hợp đồng kỳ hạn chỉ được thực hiện khi đáo hạn: Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế đoản vị phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thế trường vị và nhận một khoản tiền
từ người mua với mức giá cả đã định trước trong hợp đồng, cho dù vào thời điểm đó giá thị trường của tài sản đó có cao hơn hoặc thấp hơn giá xác định trong hợp đồng Nếu giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì người giữ vị thế trường vị sẽ có lãi (có giá trị dương), còn người giữ vị thế đoạn vị bị giá trị âm; và ngược lại
b Hợp đồng tương lai: là một công cụ tài chính phái sinh, tương tự như hợp đồng kỳ hạn,
chỉ khác ở một số điểm sau:
Thứ nhất, hợp đồng mua bán trong tương lai thường được ký kết và thực hiện hợp đồng
thông qua một môi giới trên thị trường chứng khoán chính thức
Thứ hai, hợp đồng tương lai có ngày giao hàng không được xác định một cách chính xác như
hợp đồng mua - bán trước, mà được quy định theo tháng và khoảng thời gian của tháng phải giao
Thứ ba, người mua, bán phải trả phí hoa hồng cho người môi giới, và giá rao bán được xác
định trên sàn giao dịch chứng khoán
Để tránh những rủi ro khi thực hiện hợp đồng mua bán trong tương lai, do người mua, hoặc người bán tháo lui khỏi hợp đồng vì sự biến động giá trên thị trường bất lợi cho mình, hoặc do đến thời điểm thanh toán, người mua không có khả năng tài chính, có những quy định về yêu cầu dự trữ tối thiểu đối với người ký hợp đồng tương lai với nhà môi giới Khoản tiền dự trữ này được giữ tại một tài khoản của người đầu tư mở tại văn phòng chứng khoán
Mặt khác, các hợp đồng tương lai hiếm khi được diễn ra như ký kết ban đầu, mà thường xảy ra sự hoán đổi trong suốt thời gian chưa đáo hạn: Nếu như một người đầu tư ở thế trường vị đối với một hợp đồng tương lai mua vàng vào tháng 7, nhưng vào ngày 6/3, anh ta có thể kết thúc vị trí này vào ngày 20/4 bằng cách chọn vị trí đoản vị đối với hợp đồng bán vàng vào tháng 7 Vào ngày 6/3 nếu một người ở vị trí đoản vị đối với hợp đồng tương
Trang 39lai vào tháng 7 anh ta có thể kết thúc hợp đồng này vào ngày 20/4 bằng cách chọn vị trí trường vị vào tháng 7 Trong cả 2 trường hợp tiền lời hay lỗ của người đầu tư phản ánh những thay đổi của giá cả giữa ngày 6/3 với ngày 20/4.
Trong hoạt động ngân hàng, các ngân hàng đã sử dụng nhiều nghiệp vụ này trong kinh doanh chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư đề phòng chống rủi ro do biến động lãi suất trong tương lai Để hạn chế rủi ro biến động lãi suất trong tương lai, nhìn chung đòi hỏi các ngân hàng phải giữ vị thế trên thị trường trong tương lai đối nghịch với vị thế hiện thời trên thị trường giao ngay
c Hợp đồng quyền chọn mua hoặc bán: Được thực hiện với các hợp đồng mua, bán: Cổ
phiếu, chỉ số thị trường chứng khoán, ngoại tệ, công cụ nợ, các hợp đồng mua bán tương lai
và hàng hóa Có hai loại hợp đồng quyền chọn:
- Hợp đồng quyền chọn mua (call option) là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng
- Hợp đồng quyền bán (put option) là thỏa thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền bán sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng
Khác với hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm Hợp đồng chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình Người mua quyền có thể: Thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không thực hiện quyền Để có quyền này, khi ký hợp đồng, người cầm hợp đồng phải trả quyền phí; giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện (Strike price); ngày định trong hợp đồng gọi là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện
Có hai kiểu thực hiện hợp đồng quyền chọn: kiểu Mỹ cho phép thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn, kiểu châu Âu chỉ cho phép thực hiện quyền chọn trong ngày đáo hạn Hiện nay trên các thị trường chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ
d Nghiệp vụ hoán đổi: là một hợp đồng trong đó hai bên thỏa thuận trao đổi nghĩa vụ
thanh toán Thông thường giao dịch này bao gồm các thanh toán lãi, và trong một số trường hợp là thanh toán nợ gốc Giao dịch hoán đổi lãi suất và hoán đổi ngoại tệ là sản phẩm của
Trang 40thị trường phi tập trung (OTC) được kết hợp trực tiếp giữa hai ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng Theo đó không có mẫu chuẩn của hợp đồng giao dịch hoán đổi và các hợp đồng kiểu này sẽ khác nhau về một số nội dung Trước khi các giao dịch hoán đổi xuất hiện, bên vay và bên cho vay thường bị giới hạn ở lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi, cấp vốn hoặc cho vay trên cơ sở tiền mặt Nhà đầu tư hoặc ngân hàng sẽ gặp phải sự không tương xứng về lãi suất giữa tài sản có và tài sản nợ Ví dụ công ty vay lãi suất cố định, nhưng lại đầu tư vào thị trường với lãi suất thả nổi, chắc chắn sẽ bị lỗ khi lãi suất giảm do không có khoản tăng thu nhập từ tài sản có lãi suất thả nổi Giao dịch hoán đổi được tạo ra để xử lý không tương xứng này, cho phép ngân hàng kiểm soát tốt hơn các dòng lưu chuyển tiền tệ của mình Khi mới xuất hiện công cụ này vào đầu thập kỷ 1980, các ngân hàng dàn xếp các giao dịch hoán đổi cho các bên cụ thể có nhu cầu cần bổ sung cho nhau Các ngân hàng thu được phí do làm đại diện trong các giao dịch này Thị trường càng phát triển, ngân hàng tham gia với vai trò chủ chốt, thực hiện những bù trừ tất cả các trạng thái với các bên ngang nhau và đối nghịch Thu nhập được tạo ra từ sự chênh lệch giá hay lãi suất hoán đổi thanh toán và nhận được, hoặc phí trả trước để dàn xếp
Công cụ kiểm soát RRTT: sử dụng các hạn mức
Hệ thống các hạn mức là một công cụ hữu hiệu cho phép các NHTM kiểm soát hiệu quả quy mô rủi ro thị trường Các hạn mức hay giới hạn được phân bổ từ mức tổng thể đến từng giao dịch chi tiết, nhằm đảm bảo Ngân hàng kiểm soát được trạng thái rủi ro trong giới hạn có thể chấp nhận, phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng