về chủ sở hữu, quốc gia, đảm bảo tài sản trí tuệ và bản quyền…Những quyđịnh đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thành viên mở rộng thịtrường, thâm nhập vào thị trường của nhau, th
Trang 1về chủ sở hữu, quốc gia, đảm bảo tài sản trí tuệ và bản quyền…Những quyđịnh đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thành viên mở rộng thịtrường, thâm nhập vào thị trường của nhau, thu hút vốn đầu tư, công nghệ, kỹnăng quản lý…Nền kinh tế nước ta còn rất non trẻ, xuất phát điểm là nghèonàn, lạc hậu, các doanh nghiệp tuy đã có những bước phát triển lớn cả về quy
mô và số lượng, song năng lực cạnh tranh hiện còn rất yếu Năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp được nhìn nhận trên các mặt cơ bản như: vốn, năngsuất lao động, máy móc thiết bị, công nghệ, nguồn nhân lực, trình độ quản lý,khả năng tiếp cận, chiếm lĩnh thị trường và thương hiệu Về các mặt trên, nhìnchung doanh nghiệp của chúng ta còn rất yếu, nhất là những doanh nghiệpvừa và nhỏ Sự yếu kém đó thể hiện qua nhiều yếu tố:
- Về quy mô vốn và năng lực tài chính của đại bộ phận doanh nghiệpcòn rất nhỏ, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững
- Đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý còn nhiều hạn
Trang 2chế về kiến thức và kỹ năng quản lý, một bộ phận cán bộ quản lý còn thiếukiến thức kinh tế xã hội và kỹ năng quản trị Từ đó dẫn đến khuynh hướngchủ yếu là hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược,thiếu kiến thức trên các phương diện khác: quản lý, tổ chức, phát triển thươnghiệu, chiến lược cạnh tranh, trình độ tin học và công nghệ thông tin…
- Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm caolàm yếu năng lực cạnh tranh
- Nhận thức và sự chấp hành pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là các quyđịnh về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sởhữu công nghiệp…
- Sự yếu kém về thương hiệu cũng góp phần làm yếu năng lực cạnhtranh Các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa xâydựng được các thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín và khả năngtrên thị trường khu vực và quốc tế
Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường, do đó nâng cao nănglực cạnh tranh là vấn đề sống còn trong hoạt đông kinh doanh và phát triểncủa doanh nghiệp Môi trường kinh doanh càng có nhiều cơ hội hoặc xuấthiện các nguy cơ thì cạnh tranh để tồn tại và phát triển ngày càng trở nên gaygắt giữa các doanh nghiệp Cạnh tranh không phải sự huỷ diệt mà là sự thayđổi, thay thế những doanh nghiệp không biết đón nhận cơ hội kinh doanhbằng những doanh nghiệp biết nắm bắt thời cơ và phát huy tối đa sức mạnhcủa mình Chính vì vậy, cạnh tranh là động lực phát triển không những củamỗi doanh nghiệp mà suy rộng ra còn cho cả mỗi quốc gia
Nâng cao năng lực cạnh tranh là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện sức mạnhcủa doanh nghiệp về nhiều mặt Các doanh nghiệp ngày càng phải duy trìđược lợi thế cạnh tranh của mình, có như vậy thị trường mới có thể cung cấpnhững dịch vụ hay sản xuất có hiệu quả cao hơn Hơn nữa vấn đề cạnh tranh
Trang 3của các doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam vẫn là bàitoán khó đối với các nhà quản lý khi phải dần hoà nhập vào sân chơi chungcủa thế giới và là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật là một doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, là doanh nghiệp có quy mô vừa.Tham gia vào thị trường xây dựng từ năm 1988, qua gần hai thập kỷ, đơn vịkhông ngừng gia tăng tốc độ tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng tăngtrưởng Tuy nhiên, với đặc thù là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộcTổng Công ty Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong nhữngnăm qua năng lực cạnh tranh của Công ty còn những hạn chế nhất định.
Chính vì thế việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề cạnh tranh và nănglực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nhằmxây dựng và đưa ra các giải pháp đồng bộ giúp các doanh nghiệp nâng caokhả năng cạnh tranh trên thị trường là một yêu cầu bức xúc trước mắt và lâu
dài cả về mặt lý luận và thực tiễn Với ý nghĩa đó, đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật” được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh.
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực xây dựng với điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xâydựng và Chuyển giao kỹ thuật trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và cácchính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
- Do giới hạn của đề tài nên ở đây chỉ nghiên cứu năng lực cạnh tranhcủa Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực kinhdoanh xây lắp (từ năm 2005 đến năm 2007), các lĩnh vực hoạt động khácchưa được nghiên cứu đầy đủ trong luận văn này
Trang 41.3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
- Hệ thống hóa và góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thịtrường xây dựng, cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xâydựng Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp xây dựng trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập khu vực
và quốc tế
- Khảo sát, phân tích tổng quát năng lực cạnh tranh của một số doanhnghiệp xây dựng trong một số năm vừa qua, qua đó đi sâu phân tích và đánhgiá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động xây dựngcủa Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật nhằm chỉ ra đượcnhững mặt mạnh, yếu, những thành quả đạt được, những tồn tại và nguyênnhân chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xâydựng và Chuyển giao kỹ thuật
- Dự báo tình hình phát triển và những chỉ tiêu phát triển cơ bản củacông ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong một số năm tới trên
cơ sở phân tích các kết quả đã đạt được của công ty qua một số năm và nhữngảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội đến việc lập chiến lược kinhdoanh của công ty như: chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhànước của Chính phủ và Tổng Công ty Xây dựng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn đối với đơn vị; bối cảnh nền kinh tế nước ta trong xu thế hội nhậpsâu với khu vực và quốc tế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thựchiện chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao
kỹ thuật trong những năm sắp tới
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp vấnđề; nghiên cứu định tính, mô hình hoá các số liệu điều tra thực tế, tiếp cận hệ
Trang 5thống, lựa chọn tối ưu, phương pháp chuyên gia
1.5 Đóng góp của Luận văn
- Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế thị trường vàhội nhập quốc tế
- Thứ hai, khảo sát và phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh
của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong thời điểm hiệntại
- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh của Công
ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong thời gian tới
1.6 Kết cấu của Luận văn
Đề tài bao gồm các nội dung sau:
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.5 Đóng góp của luận văn
1.6 Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
2.1 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp xây dựng
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT
3.1 Tổng quan về công ty
Trang 63.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng vàChuyển giao kỹ thuật
3.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng vàChuyển giao kỹ thuật
3.4 Vị thế cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao
kỹ thuật trên thị trường
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT
KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Trang 7CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP 2.1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
2.1.1 Khái niệm chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh là thuật ngữ gắn liền với nền kinh tế hàng hóa, vận hànhtheo cơ chế thị trường Ở đó, người sản xuất phải giải quyết cho được ba vấn
đề lớn: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào? Bất kỳ một
sự biến động kinh tế, chính trị, xã hội nào đều đem đến cho các nhà sản xuất,cung ứng những rủi ro đầy thách thức và những cơ hội hết sức hấp dẫn dù làtrước mắt hay tiềm năng Môi trường kinh tế hiện đại luôn tạo điều kiện chocác doanh nghiệp đối phó với các tình huống rủi ro và đồng thời tạo điều kiệncho họ tìm hiểu thời cơ để đưa ra sản phẩm, dịch vụ mới để chiếm lĩnh thịtrường, thỏa mãn các nhu cầu của thị trường đòi hỏi để đạt mục đích của nhàsản xuất là tìm kiếm lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận Trong bức tranh kinh
tế có muôn ngàn doanh nghiệp đó, họ sẽ ra sức tìm kiếm các giải pháp kinh
tế, kỹ thuật nhằm giành ưu thế so với các doanh nghiệp khác Đối thủ đó đượccoi là các đối thủ cạnh tranh, quan niệm về cạnh tranh được nhiều nhà kinh tếhọc khái quát lại trên các giác độ khác nhau:
Thời kỳ đầu, hoàng kim của cơ chế thị trường, ông Adam Smith chorằng: Cạnh tranh như là một "Bàn tay vô hình" để điều khiển các hoạt độngcủa các thành viên kinh tế trong xã hội Theo quan điểm của trường phái nàythì cạnh tranh chủ yếu về giá, coi trọng về lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối
Các nhà kinh tế học hiện đại như: Samuelson, David Begg, Weken vàKantenBach đưa ra lý thuyết cạnh tranh trên giác độ tính chất và tác động củacạnh tranh như: Cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh
Trang 8mang tính chất độc quyền.
Quan điểm về cạnh tranh của Joesphhupter và Clark thiên về giác độhiệu quả, coi đó như là tiền đề và hệ quả của việc thu lợi nhuận tối đa bằngviệc đi tiên phong trong việc tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm có kỹ thuật -công nghệ mới, sản phẩm thay thế Quan điểm này đang phát huy sức mạnhcủa nó và tồn tại chủ yếu ở dạng cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh trong môitrường có nhiều đối thủ cạnh tranh nhưng lại có tiềm lực rất khác nhau
Trong cuộc chạy đua để các doanh nghiệp tồn tại, phát triển và tối đahóa lợi nhuận, có rất nhiều phương diện cạnh tranh cần xem xét: Cạnh tranhgiữa các nhà sản xuất với nhau, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhà cungứng, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hàng truyền thống với các nhà sản xuấthàng thay thế, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với khách hàng
Các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường thì phải chấp nhận cơchế thị trường: Có nghĩa là phải đưa ra thị trường và được thị trường chấpnhận hàng hóa đó, kết quả cuối cùng phải trang trải chi phí sản xuất và thu lợinhuận Để đạt được điều đó, họ phải làm sao thỏa mãn nhu cầu khách hàngmột cách tốt nhất so với các đối thủ cạnh tranh khác và cuộc cạnh tranh khôngmong muốn đã xảy ra Trong cuộc chiến này có kẻ thắng, người thua nhưngkhách hàng lại được đề cao và hưởng lợi
Muốn chiến thắng, các doanh nghiệp phải dùng đến các "vũ khí cạnhtranh" (Nhà xuất bản Thống kê - 1996), là sự kết hợp những năng lực nội tại(nội lực) như tiềm lực tài chính, kỹ thuật công nghệ, nguồn nhân lực với khaithác và chịu tác động của các yếu tố bên ngoài kể cả bất lợi và có lợi (ngoạilực) như mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, quan hệ với các cơ quanquản lý, địa phương, môi trường sinh thái Doanh nghiệp phải đưa ra đượcnhững chiến lược cạnh tranh ngắn hạn, dài hạn để giúp doanh nghiệp tiêu thụđược nhiều sản phẩm với đích cuối cùng là doanh nghiệp trụ vững, thu được
Trang 9lợi nhuận tối đa, và phát triển mở rộng sản xuất.
Các tác giả: Trần Hoàng Kim và Lê Thu trong sách "Vũ khí cạnh tranh"
đã đưa ra khái niệm cạnh tranh: "Thực chất cạnh tranh của các doanh nghiệp
là sự giành giật các lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhằmthu lợi nhuận lớn nhất"
Với các vấn đề đã đưa ra, có thể có một quan niệm đầy đủ về cạnhtranh là quá trình bao gồm các hành vi và các phản ứng, trong đó các doanhnghiệp tham gia sử dụng các phương thức, các nguồn lực của mình dưới sựtác động của các yếu tố bên ngoài, nhằm tạo cho doanh nghiệp một lợi thếcạnh tranh tuyệt đối và tương đối so với các đối thủ khác với mục tiêu chiếmđược thị phần và tối đa hóa lợi nhuận, đưa doanh nghiệp phát triển về quy mô
và ảnh hưởng của mình trong thị trường
Khái niệm năng lực cạnh tranh (competitiveness) thường dùng để nóiđến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với cáchãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ trong so sánhquốc tế (theo nhà kinh tế Alan V Deardorff)
Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnhtranh tuyệt đối và tương đối so với các đối thủ khác với mục tiêu chiếm đượcthị phần và tối đa hóa lợi nhuận, đưa doanh nghiệp phát triển về quy mô vàảnh hưởng của mình trong thị trường
Năng lực cạnh tranh là “năng lực duy trì được lợi thế cạnh tranh là lợinhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước”
Tuy nhiên, có thể nói khái niệm nổi tiếng nhất thế giới về năng lựccạnh tranh là của Michael Porter Ông đã đưa ra rất nhiều khái niệm nhưng “suy cho cùng năng lực cạnh tranh chính là năng suất – productivity”
Năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên năng suất, giá trị của hànghoá và dịch vụ làm ra tính trên một đơn vị nhân lực, vốn, tài nguyên của một
Trang 10quốc gia Năng suất cao tạo ra mức lương cao (cho người làm công), đồngtiền mạnh (cho một quốc gia), lợi nhuận hấp dẫn trên nguồn vốn và cuối cùng
là mức sống cao cho người dân
2.1.2 Các hình thức cạnh tranh, phương thức cạnh tranh
Cạnh tranh được xem xét dưới nhiều khía cạnh, hình thức khác nhaunhư: Cạnh tranh tự do; cạnh tranh thuần túy; cạnh tranh hoàn hảo; cạnh tranhkhông hoàn hảo; cạnh tranh lành mạnh; cạnh tranh không lành mạnh Cáchình thức cạnh tranh phụ thuộc vào tính chất của thị trường và bản chất củanền kinh tế
2.1.2.1 Cạnh tranh tự do được hiểu như là một nền kinh tế phát triển một
cách tự do, không có sự can thiệp của nhà nước, trong đó giá cả lên xuốngtheo sự chi phối của các quy luật thị trường Cùng với các quy luật kinh tế thịtrường, đặc biệt là quy luật giá trị, cạnh tranh tự do dẫn đến sự phân hóa haicực giàu, nghèo rõ rệt
2.1.2.2 Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect competition) hay còn gọi là cạnh
tranh thuần túy (Pure competition) là hình thức cạnh tranh trong đó giá cả củamột loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ một địa danh của thị trường; cácyếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác; chi phívận tải không đáng kể và không đề cập tới
Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi không một người sản xuất nào có thểtác động đến giá cả trên thị trường Mỗi người sản xuất đều phải bán sảnphẩm của mình theo giá thịnh hành mà thị trường đã chấp nhận thông quaquan hệ cung - cầu Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanhnghiệp nhỏ sản xuất một mặt hàng y hệt nhau và sản lượng từng doanh nghiệpquá nhỏ không thể tác động đến giá cả thị trường Cạnh tranh hoàn hảo muốntồn tại cần phải có các điều kiện:
- Tất cả các hãng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tương đối nhỏ;
Trang 11- Số lượng các hãng kinh doanh trong các ngành đó phải rất nhiều.Trong điều kiện như vậy không có công ty nào có đủ sức mạnh để cóthể ảnh hưởng đến giá cả của các sản phẩm của mình trên thị trường Sảnphẩm của các hãng đưa ra trên thị trường giống nhau tới mức cả người sảnxuất và người tiêu dùng đều rất khó phân biệt.
2.1.2.3 Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect competition): là hình thức
cạnh tranh, mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sứcmạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thịtrường
Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranhmang tính chất độc quyền
Độc quyền nhóm (Oligopoly): tồn tại trong những ngành sản xuất, mà
ở đó chỉ có một số ít người sản xuất hoặc số ít người bán sản phẩm Sự thayđổi về giá của một doanh nghiệp gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến nhucầu đối với sản phẩm của các doanh nghiệp khác và ngược lại ở các nướcphát triển, các ngành công nghiệp có độc quyền nhóm là những ngành nhưsản xuất ô tô, cao su, chế biến thép
Cạnh tranh mang tính độc quyền (Monopolistic competition): là hìnhthức cạnh tranh mà ở đó những người bán có thể ảnh hưởng đến những ngườimua bằng sự khác nhau của các sản phẩm mà mình sản xuất ra về hình dáng,kích thước, chất lượng và nhãn hiệu Trong nhiều trường hợp, người bán cóthể bắt người mua chấp nhận giá sản phẩm do họ định ra Trong hình thứccạnh tranh này có nhiều người bán và nhiều người mua Các sản phẩm củangười bán về cơ bản là giống nhau song khác nhau về mẫu mã, chất lượng,màu sắc Các hãng kinh doanh thường cố gắng tạo ra các sản phẩm của họphong phú, có nhiều điểm khác biệt so với các sản phẩm của đối thủ cạnhtranh Trong ngành công nghiệp cạnh tranh kiểu này, quy mô của các doanh
Trang 12nghiệp có thể là lớn, vừa, nhỏ vì vậy việc nhập và bỏ ngành hàng dễ dànghơn.
2.1.2.4 Cạnh tranh lành mạnh (Healthy competition): là hình thức cạnh
tranh lý tưởng, trong sáng thúc đẩy sản xuất phát triển, không có những thủđoạn hoặc âm mưu đen tối trong sản xuất, kinh doanh của các nhà doanhnghiệp, thể hiện phẩm chất đạo đức trong kinh doanh, không trái với các quyđịnh của các văn bản pháp luật và không đi ngược lại lợi ích xã hội Việc tínhtoán thu lợi nhuận trên cơ sở cải tiến, sáng tạo để sản xuất và cung cấp cho xãhội nhiều sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, đápứng được nhu cầu của người tiêu dùng
2.1.2.5 Cạnh tranh không lành mạnh (Unfair competition): là hình thức
cạnh tranh mà trong quá trình sản xuất và kinh doanh các nhà doanh nghiệpluôn có thái độ không trung thực, gian dối như: biếu xén, hối lộ để giành ưuthế trong kinh doanh; vu khống về chất lượng sản phẩm hàng hóa của đối táccạnh tranh; tung ra thị trường sản phẩm kém chất lượng mang nhãn hiệu củađối thủ cạnh tranh; ngăn cản việc phân phối sản phẩm của đối thủ cạnh tranhbằng các hành vi trái pháp luật, sử dụng "chiến tranh giá cả" để loại bỏ đối thủcạnh tranh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong mọi lĩnhvực và được biểu hiện đa dạng Một số doanh nghiệp có thể liên kết, thỏathuận ngầm với nhau trong việc đấu thầu công trình công cộng hay nhận mộthợp đồng sản xuất nào đó Họ thỏa thuận với nhau và phân chia cho từngdoanh nghiệp trong từng thời điểm có thể thắng thầu mà rất hợp pháp, khó bịphát hiện, được coi như trường hợp ngẫu nhiên Ngoài các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh thuần túy còn xuất hiện các hành vi lạm dụng thế mạnh vềkinh tế, tài chính để cạnh tranh thể hiện tính chất "cá lớn nuốt cá bé" (như:bán phá giá chẳng hạn)
Trang 132.1.2.6 Cạnh tranh bất hợp pháp (Fraudulent competition) là những hành
vi của các nhà kinh doanh thực hiện cạnh tranh trái với quy định của phápluật, đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán truyền thống của kinh doanhlành mạnh, xâm phạm lợi ích của xã hội, của nhà nước, của người tiêu dùng
và của các nhà kinh doanh khác
Cạnh tranh là môi trường tồn tại và phát triển của kinh tế thị trường.Không có cạnh tranh sẽ không có tính năng động và sáng tạo trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Song xã hội dần dần sẽ chỉ chấp nhận hành vi cạnh tranhlành mạnh bằng các phương thức sản xuất và chu chuyển hàng hóa một cáchkhoa học, hiệu quả chứ không thừa nhận các hành vi cạnh tranh bằng cáchdựa vào các thủ đoạn lừa đảo, không trong sáng
2.1.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Cũng như các doanh nghiệp khác, năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp xây dựng là toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực đó để tạo
ra lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác nhằm thoả mãnđến mức tối đa các đòi hỏi của thị trường
Doanh nghiệp muốn có năng lực cạnh tranh phải có thực lực về tàichính công nghệ hiện đại, marketing, tổ chức quản lý, đội ngũ lao động Song
đó mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là doanh nghiệp phải tạo ra ưu thếhơn hẳn so với các đối thủ khác Để tồn tại và phát triển bền vững, doanhnghiệp cần phải không ngừng nâng cao năng lực của mình nhằm tạo ra ưu thế
về mọi mặt như chất lượng công trình, thời gian, giá cả…so với các đối thủ.Trước yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng, nếu doanh nghiệpkhông vươn lên đáp ứng được thì sự thất bại trong cạnh tranh là điều khótránh khỏi Trên thực tế, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trởnên gay gắt buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để nâng cao khảnăng cạnh tranh của mình
Trang 142.1.3.1 Những chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng, cần lưu
ý các khía cạnh sau:
- Phải lấy yêu cầu của khách hàng làm chuẩn mực
- Thực lực của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản để đảm bảo thoả mãn nhucầu của khách hàng
- Muốn giữ và lôi kéo được khách hàng, doanh nghiệp phải có thực lựcđược thể hiện thành các lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh
- Doanh nghiệp cần phải đánh giá từng điểm mạnh, điểm yếu của mình
mà có kế hoạch khắc phục điểm yếu và phát huy thế mạnh
- Việc đánh giá năng lực cạnh tranh nếu chỉ căn cứ vào yếu tố định tínhthì không tránh được các yếu tố cảm tính, bởi vậy phải cố gắng lượng hóa.Tuy nhiên khó có được một chỉ tiêu tổng hợp đo lường năng lực cạnh tranh,
do đó phải có một hệ thống chỉ tiêu:
* Chỉ tiêu về kết cấu tài chính:
Tỷ suất nợ và tỷ suất vốn tự tài trợ: là chỉ tiêu đánh giá mức độ độc lậphay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, mức độ tự tài trợ củadoanh nghiệp đối với vốn kinh doanh của mình Tỷ suất vốn tự tài trợ cànglớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao đối với cácchủ nợ do đó không bị ràng buộc hoặc sức ép của các khoản nợ vay
Tỷ suất = Nợ phải trả x 100%
nợ Nguồn vốn
vốn tự tài trợ Nguồn vốn
* Chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
- Hệ số thanh toán hiện hành (H1): là mối quan hệ giữa tài sản ngắnhạn với các khoản nợ ngắn hạn, thể hiện mức độ đảm bảo tài sản ngắn hạn đối
Trang 15với nợ ngắn hạn, là chỉ tiêu đánh giá tốt nhất khả năng thanh toán ngắn hạn.
Hệ số thanh (H1) = Tài sản ngắn hạn
toán hiện hành Nợ ngắn hạn
* Chỉ tiêu về khả năng sinh lời:
Khi phân tích về vấn đề tài chính của các doanh nghiệp, ta phải đặc biệtquan tâm đến khả năng sử dụng một cách hiệu quả tài sản để mang lại nhiềulợi nhuận nhất cho doanh nghiệp
Các tỷ suất doanh lợi luôn được các nhà kinh doanh, các nhà đầu tưquan tâm Nó phản ánh tính hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh và là
cơ sở quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
+ H s doanh l i bao g m: ệ số doanh lợi bao gồm: ố doanh lợi bao gồm: ợi bao gồm: ồm:
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế
* Các chỉ tiêu riêng:
+ Giá trị trúng thầu và số lượng công trình thắng thầu:
Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát tình hình kết quả dự thầu củadoanh nghiệp Qua đó có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác
dự thầu trong năm và quy mô của các công trình đã trúng thầu
+ Xác suất trúng thầu:
Tính theo số hợp đồng:
Trang 16P1 = Htt x 100%
HdtTính theo giá tr h p ị hợp đồng: ợi bao gồm: đồm: ng:
P2 = Gtt Gdt x 100%
Trong đó:
P1: Xác suất trúng thầu theo số hợp đồng
Htt: Số hợp đồng trúng thầu
Hdt: Số hợp đồng tham gia dự thầu
P2: Xác suất trúng thầu theo giá trị hợp đồng
Gtt: Giá trị hợp đồng trúng thầu
Gdt: Giá trị hợp đồng tham gia dự thầu
+ Thị phần và uy tín của doanh nghiệp:
Đây là chỉ tiêu đánh giá một cách khái quát năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Uy tín của doanh nghiệp liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên
và các yếu tố khác như: chất lượng công trình, tổ chức doanh nghiệp, tổ chứccác dự án thi công, marketing,…
Phương pháp xác định
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thếcủa doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất cácđòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanhnghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tínhbằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanhnghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnhtranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Sẽ là vônghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánhgiá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh
Trang 17tranh Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏidoanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợithế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàngmục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãnđầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợithế về mặt này và có hạn chế về mặt khác Vần đề cơ bản là, doanh nghiệpphải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh màmình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng Những điểmmạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua cáclĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sảnxuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánhgiá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được cácyếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau
và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Các doanhnghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau cócác yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thểtổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệpbao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênhphân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại;năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp;trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thịphần; vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trựctiếp các yếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đốitác cạnh tranh Đây là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh đượcnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp
Trang 18này là không cho phép doanh nghiệp đánh giá tổng quát năng lực cạnh tranhcủa mình với đối tác cạnh tranh mà chỉ đánh giá được từng mặt, từng yếu tố
cụ thể
2.1.3.2 Các phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng hiện nay
Để đánh giá, cho điểm và lựa chọn nhà thầu trúng thầu, chủ đầu tư đãchú trọng đến những chỉ tiêu sau đây như những phương thức trọng tâm trongquá trình lựa chọn nhà thầu:
+ Nhân sự của nhà thầu để thực hiện gói thầu
+ Các cam kết về chất lượng và giải pháp thực hiện
+ Thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp
Trang 19b/ Các cam kết về chất lượng và giải pháp thực hiện
Đó là đưa ra các giải pháp và phương pháp luận hợp lý đối với yêu cầucủa gói thầu, của từng công trình Tỷ lệ điểm đối với phần này quy định là từ30-40% tổng số điểm về mặt kỹ thuật
Có rất nhiều yêu cầu mà một giải pháp đưa ra phải đảm bảo như:
+ Dự án phải được thực hiện phù hợp với các tiêu chuẩn, quy phạm xâydựng, các điều kiện tự nhiên và xã hội và các quy định, phong tục tập quán,thói quen và đúng thiết kế dự toán công trình đã được phê duyệt
+ Phù hợp với thiết kế công nghệ trong trường hợp dự án đầu tư xâydựng công trình có thiết kế công nghệ
+ Nền móng công trình phải đảm bảo bền vững, không bị nứt, biếndạng quá giới hạn cho phép làm ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình, biện pháp
an toàn cho các công trình lân cận
+ Thoả mãn yêu cầu về chức năng sử dụng; bảo đảm mỹ quan, giáthành hợp lý
+ An toàn, tiết kiệm, phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng được
áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường vànhững tiêu chuẩn liên quan khác
+ Đồng bộ trong từng công trình, đáp ứng yêu cầu vận hành, sử dụngcông trình; đồng bộ với các công trình có liên quan…
Mỗi công trình có một đặc điểm khác nhau, yêu cầu khác nhau vì vậycác giải pháp đưa ra phải được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng sao cho đảmbảo các yêu cầu của hồ sơ mời thầu, các quy định của nhà nước và hiệu quảnhất, hợp lý nhất cho cho chủ đầu tư sẽ dành được sự tin tưởng của chủ đầu
tư Cạnh tranh bằng chất lượng các giải pháp là một trong những công cụcạnh tranh quan trọng và mang tính chất đặc trưng của ngành xây dựng
c/ Thương hiệu của doanh nghiệp
Trang 20Mỗi doanh nghiệp ra đời cần có thương hiệu của riêng mình Đối vớidoanh nghiệp xây dựng, nơi mà khách hàng chỉ lựa chọn khi họ tin cậy,thương hiệu rất quan trọng Quảng cáo nhiều không phải là cách tốt nhất đểnâng cao uy tín của doanh nghiệp qua thương hiệu Chất lượng, tiến độ côngtrình mới là điều quyết định để khách hàng muốn tiếp tục làm việc với doanhnghiệp và lựa chọn doanh nghiệp Một doanh nghiệp xây dựng luôn đảm bảochất lượng đúng như đã thoả thuận với khách hàng cho dù khó khăn đến đâu,
đã cam kết là thực hiện đến cùng, không thoái thác trách nhiệm thì kháchhàng hiểu và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và khi đó doanh nghiệp sẽluôn là nơi mà khách hàng tin tưởng và lựa chọn khi có nhu cầu xây dựng
d/ Cạnh tranh bằng giá dự thầu
Cạnh tranh bằng giá dự thầu trong xây dựng cũng là yếu tố quan trọng.Ngoài có các giải pháp kỹ thuật tối ưu và hợp lý thì doanh nghiệp cũng muốnđưa mức giá thấp hấp dẫn người tiêu dùng hơn các đối thủ cạnh tranh
Giá dự thầu là giá cả sản phẩm xây lắp được xây dựng theo quy địnhcủa nhà nước, được xác định theo giá trị xây lắp, thiết bị trong tổng mức đầu
tư của dự án Trong một số trường hợp (đấu thầu quốc tế) tính theo Maxmonth hoặc doanh nghiệp căn cứ vào các yếu tố năng lực thực sự của doanhnghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô, đặc điểm của dự án, vị trí thicông của dự án, phong tục tập quán của địa phương để đưa ra giá dự thầuthích hợp để đạt mục tiêu tương ứng về lợi nhuận, công ăn việc làm hoặcthâm nhập thị trường mới
Cạnh tranh bằng giá dự thầu được thể hiện qua các chính sách (sau khi
đã vượt qua phần kỹ thuật) như:
+ Chính sách giá cao: áp dụng khi doanh nghiệp xây lắp có một khảnăng công nghệ hoặc giải pháp đặc biệt độc quyền Khi đó buộc các chủ đầu
tư phải chấp nhận giá cao tuy nhiên không vượt quá giá xét thầu (đối với các
Trang 21công trình do Nhà nước quản lý).
+ Chính sách giá thấp: doanh nghiệp đưa ra mức giá dự thầu thấp nhằmloại trừ các đối thủ cạnh tranh hiện có và ngăn ngừa các đối thủ cạnh tranhmới Việc này đòi hỏi doanh nghiệp phải tận dụng nguồn lực sản xuất và giảmchi phí, đồng thời doanh nghiệp phải biết rõ chi phí thấp nhất của mình có thểđạt được, ở đây doanh nghiệp có thể lấy mức giá hoà vốn làm cận dưới để xácđịnh giá dự thầu
+ Chính sách giá linh hoạt theo thị trường: các doanh nghiệp phải tuỳthuộc vào thị trường để đưa ra giá dự thầu thích hợp Chẳng hạn khi nhu cầuđầu tư của xã hội giảm thì doanh nghiệp có thể đưa ra giá dự thầu thấp đểđảm bảo thắng thầu và để tăng khả năng cạnh tranh
+ Chính sách phân hoá sản phẩm: với chính sách này khi xác định giá
dự thầu doanh nghiệp phải phân biệt cho từng khu vực địa lý với từng chủđầu
Tóm lại, tuỳ theo từng công trình cụ thể, tiềm lực lao động, khả năng vềvốn, thiết bị, mục tiêu tham gia đấu thầu để nhà thầu đưa ra mức giá bỏ thầuhợp lý
Trên đây là 4 phương thức chủ yếu được các doanh nghiệp xây dựng sửdụng trong cạnh tranh đấu thầu Những phương thức này có thể sử dụng mộtcách độc lập hoặc kết hợp tuỳ thuộc và từng tình huống, tầm quan trọng cũngnhư ý nghĩa kinh tế của từng dự án
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng
2.2.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trang 222.2.1.1 Năng lực về nguồn lao động
Người lao động (con người) là một phần chính yếu trong môi trườngcạnh tranh của doanh nghiệp Con người là nhân tố cơ bản của sản xuất kinhdoanh Khi đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp, chủ đầu tư đặc biệtchú trọng đến các cấp độ sau:
* Năng lực quản trị, điều hành doanh nghiệp
Lãnh đạo doanh nghiệp là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trongdoanh nghiệp, quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệptrong kinh doanh Một trong những chức năng chính của họ là xây dựng chiếnlược hành động và phát triển của doanh nghiệp Khi đánh giá bộ máy lãnhđạo, chủ đầu tư thường quan tâm đến các tiêu thức kinh nghiệm lãnh đạo,trình độ, các hoạt động của doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh của doanhnghiệp và các mối quan hệ Sâu xa hơn nữa là tinh thần đoàn kết đồng lòngcủa cán bộ công nhân viên cũng như của ê kíp lãnh đạo Điều này vừa tăngsức mạnh của chính doanh nghiệp, vừa tạo ra uy tín đối với chủ đầu tư
* Chức năng (Cán bộ quản lý cấp doanh nghiệp)
Để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ cán bộ quản lý, chủ đầu
tư thường tiếp cận trên các khía cạnh
+ Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, tác phong làm việc, sự
am hiểu về kinh doanh và pháp luật của từng thành viên trong ê kíp quản lý
+ Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ sẽ cho biếtkhả năng chuyên môn hoá của doanh nghiệp
Thông thường cơ cấu cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, công nhân lànhnghề có chuyên môn về lĩnh vực chính mà doanh nghiệp đang kinh doanhphải chiếm ít nhất 60% bởi điều này liên quan đến kỹ thuật và chất lượngcông trình
* Đội ngũ (Cán bộ quản lý trung gian, đội trưởng và công nhân)
Trang 23Đây là đội ngũ các nhà quản lý ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấpbậc các nhà quản lý của một doanh nghiệp( đội trưởng, tổ trưởng…), đội ngũquản lý này lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp tạo nên sức mạnh cạnhtranh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh như chất lượng và tiến độthi công công trình.
Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản lý (tổ chức điều phối laođộng và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuậnnhưng phải đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu về công việc mà đơn vị đangthực hiện, biết chăm lo quyền lợi của người lao động… mới tạo ra được sựủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao động Tuy nhiên, lãnh đạo đơn vịgiỏi cũng chưa đủ, mà còn cần phải có đội ngũ lao động với trình độ tay nghềchuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc, họ chính làngười trực tiếp thực hiện những ý tưởng, chiến lược và chiến thuật kinh doanhcủa đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất luợng công trình vàsức cạnh tranh của doanh nghiệp
2.2.1.2 Năng lực tài chính
Hoạt động tài chính là một trong những hoạt động cơ bản của hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanhảnh hưởng đến tình hình tài chính, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu sẽ
có tác dụng thúc đẩy hay cản trở quá trình sản xuất kinh doanh
Quy mô về tài chính phản ánh sức mạnh về tài chính có sẵn sàng cạnhtranh đến cùng hay không, thể hiện ở quy mô tài sản cố định và tài sản lưuđộng của doanh nghiệp
Khả năng huy động vốn ngắn hạn và dài hạn là một yếu tố về tài chínhđặc biệt quan trọng bảo lãnh thực hiện hợp đồng và ứng vốn chủ yếu là vốnvay, thêm vào đó do đặc điểm thi công công trình kéo dài nên lượng vốn bị
Trang 24nợ đọng kéo dài là khá lớn, nên rất dễ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp bị cạnkiệt về vốn khi cần huy động cho một công trình hay một dự án mới.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở quy mô nguồn vốn tự
có, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, khả năng huy động vốn các nguồn vốn
do sự phát triển sản xuất kinh doanh Mặt khác, để đánh giá tình hình tàichính của doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu giữa vốn cố định và vốn lưu độngvới yêu cầu thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Với khả năng tài chính dồi dào, doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầunhiều công trình khác nhau, có nhiều cơ hội để đầu tư tranh thiết bị thi côngnhằm đáp ứng kịp thời quy trình công nghệ hiện đại Đồng thời sẽ tạo ra đượcniềm tin đối với các tổ chức tín dụng và nhà cung cấp vật tư hàng hoá
Năng lực về tài chính mạnh tác động tích cực đến quá trình đấu thầu,trước hết nó giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện nhiệm vụ kinh doanhtrong điều kiện giới hạn về vốn Thứ hai, nó tạo niềm tin với chủ đầu tư vềkhả năng quản lý hiệu quả đồng vốn được giao Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốnkinh doanh là yếu tố quyết định đến khả năng huy động các nguồn vốn từ bênngoài cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy trong đấu thầu quốc tế nếu xét trên phương diện tàichính các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanhnghiệp nước ngoài Nguyên nhân do bản thân các doanh nghiệp trong nước cóquy mô không lớn, công tác tổ chức quản lý không hiệu quả Hơn nữa, đối vớinhiều công trình sử dụng vốn ngân sách, Nhà nước không đáp ứng đủ vốntheo đúng tiến độ kế hoạch đã định, chậm thanh toán và chi phí trả chậm bằngkhông, doanh nghiệp nợ ngân hàng lại phải trả lãi suất
Doanh nghiệp xây dựng có quy mô nhỏ và vừa (xét về tổng thể thì 90%các doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ) thì tiềm lực về tài chínhhầu như rất hạn chế, vốn đầu tư ban đầu ít, vốn lưu động lại càng ít ảnh hưởng
Trang 25không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế Thiếu vốn dẫn đến tìnhtrạng các doanh nghiệp không có điều kiện để lựa chọn các mặt hàng có chấtlượng cao trong kinh doanh, đầu tư vào đổi mới các thiết bị, công nghệ kinhdoanh Hơn nữa, có quá nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh mộtmặt hàng trên cùng một thị trường cũng dẫn đến tình trạng năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp giảm sút Khi đó, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng bịcác tập đoàn lớn của các nước trong khu vực đánh bại.
Như vậy, việc mở rộng liên doanh, liên kết là một giải pháp quan trọngnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cuả các doanh nghiệp xây dựng Tổngquát hơn, liên kết kinh tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể đi sâu pháttriển chuyên môn hoá một cách có hiệu quả, khai thác những điểm mạnhdoanh nghiệp bạn để bù đắp cho những thiếu hụt của mình
2.3.1.3 Năng lực máy móc thiết bị và công nghệ
Sức mạnh về kỹ thuật công nghệ được biểu hiện trực tiếp ở số lượng,trình độ, cơ cấu của hệ thống máy móc thiết bị, công nghệ và đội ngũ cán bộcông nhân kỹ thuật mà doanh nghiệp sử dụng khi cạnh tranh Máy móc thiết
bị là bộ phận quan trọng nhất trong tài sản cố đinh của doanh nghiệp Nó đạidiện cho trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hiện có giúp doanh nghiệptăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
Mức độ cơ giới hoá trong doanh nghiệp được chủ đầu tư đánh giá caobởi nó liên quan rất nhiều đến chất lượng công trình và tiến độ thi công Khảnăng cạnh tranh về máy móc thiết bị và công nghệ thể hiện thông qua các đặctính sau:
+ Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: biểu hiện ở các thông số, hãngsản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại của thiết bị
Trang 26+ Tính đồng bộ: thiết bị hoạt động tốt phải đảm bảo sự phù hợp giữathiết bị công nghệ với điều kiện địa lý, khí hậu, thuỷ văn, phương pháp sảnxuất và sự phù hợp giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm với giá cả củasản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra.
+ Tính hiệu quả: thể hiện về trình độ sử dụng máy móc, thiết bị củadoanh nghiệp, từ đó tác động đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh và khảnăng huy động tối đa nguồn lực vật chất có sẵn phục vụ cho mục đích cạnhtranh
+ Tính đổi mới: đây là một trong những yếu tố cơ bản tăng cường khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực máy móc thiết bị và trình độcông nghệ ảnh huởng rất nhiều đến các mặt hoạt động của doanh nghiệp Yếu
tố kỹ thuật này quyết đinh việc xác định và lựa chọn các giải pháp hợp lýtrong tổ chức thi công, bố trí con người và thiết bị một cách hài hoà đạt đượctiêu chuẩn chất lượng, rút ngắn tiến độ thi công, tiết kiệm các chi phí xâydựng, hạ giá thành công trình và tăng lợi thế cạnh tranh
2.3.1.4 Khả năng về hoạt động Marketing
Chiến lược marketing là một chiến lược bộ phận, nó đóng vai trò quantrọng trong việc thực hiện nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh và hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp Sử dụng chiến lược marketing thích hợp sẽgiúp cho doanh nghiệp chiếm giữ được vị trí trên thị trường so với các đối thủcạnh tranh khác
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng không giống nhưcác doanh nghiệp công nghiệp là đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàngchọn
Ngược lại họ cần phải dựa vào danh tiếng của mình để khiến cho kháchhàng tìm đến và yêu cầu sản xuất sản phẩm cần thiết Do vậy, danh tiếng lànhân tố quyết định đến ưu thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp xây dựng
Trang 27Danh tiếng, thành tích của doanh nghiệp có tác dụng rất lớn đến khảnăng trúng thầu dự án, bởi các chủ đầu tư xây dựng những công trình lớn luônquan tâm tới chất lượng và tiến độ công trình Do vậy, làm tốt công tác quảngcáo không những làm cho chủ công trình hiểu rõ về lịch sử và năng lực sởtrường của doanh nghiệp mà còn có thể tạo ra sự quyết tâm của người lãnhđạo, gắn tình bằng hữu giữa các nhân viên thành một khối thống nhất, tăngthêm mức độ tin cậy của chủ đầu tư đối với doanh nghiệp.
2.3.1.5 Khả năng liên doanh liên kết
Mỗi doanh nghiệp xây dựng đều có giới hạn nhất định về năng lực,kinh tế, kỹ thuật Do đó, để tăng năng lực của mình trên thị trường cạnh tranh,vấn đề mở rộng các quan hệ liên doanh, liên kết dưới những hình thức thíchhợp là giải pháp quan trọng và phù hợp, thông qua doanh nghiệp xây dựng cóthể đáp ứng một cách toàn diện các yêu cầu của những công trình có quy môlớn và mức độ phức tạp cao
Liên doanh, liên kết trong dự thầu xây dựng công trình có nhiều hìnhthức Mỗi hình thức có sự thuận lợi, phù hợp riêng cho doanh nghiệp trongtừng thời kỳ cụ thể, song các hình thức trên đều được dựa trên nguyên tắc tựnguyện, bình đẳng, cùng có lợi
+ Liên doanh tham gia dự thầu:
Là hình thức các nhà thầu liên kết với nhau thành một nhà thầu để thamgia dự thầu Điều này sẽ làm tăng sức mạnh về tài chính, nhân lực, kỹ thuật,đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư Hình thức này đòi hỏi phải có sự thống nhấtcủa các thành viên, phân chia công việc một cách khoa học thì mới phát huyđược năng lực của nhà thầu
+ Doanh nghiệp liên doanh
Là hình thức liên doanh để thành lập ra một pháp nhân kinh tế mới, cácbên cùng góp vốn, cùng phân chia quyền lợi và chia sẻ rủi ro
Trang 28Liên doanh này có thể là tổ hợp của các doanh nghiệp xây dựng trongnước hoặc doanh nghiệp xây dựng trong nước với các doanh nghiệp xây dựngnước ngoài.
Hình thức này đã và đang được khuyến khích và nó tập trung được vốn,tài sản, kinh nghiệm của các nhà thầu
+ Tập đoàn xây dựng
Là hình thức liên kết giữa các chủ thể kinh tế, thúc đẩy nâng cao trình
độ tập trung vốn trong ngành xây dựng
2.2.2 Các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng
2.2.2.1 Chủ trương, cơ chế, chính sách của Chính phủ
Chủ trương, cơ chế, chính sách của chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đếnhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động của doanh nghiệp bị chiphối bởi các đạo luật, các quy định do nhà nước ban hành
Khi chuyển sang cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, đặcbiệt trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề chủ trương, cơ chế chính sáchcủa chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.Doanh nghiệp phải tuân theo các điều luật mà chính phủ đã đề ra Các chínhsách của chính phủ có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ Thí dụ: việc tăng thuếtrong các ngành nhất định có thể đe doạ đến lợi nhuận của doanh nghiệp Mộthành lang pháp lý chặt chẽ, thông thoáng và ổn định sẽ là môi trường tốt đểdoanh nghiệp tồn tại và phát triển, yên tâm đầu tư để thu lợi nhuận là mongmuốn của bất cứ doanh nghiệp nào Bất cứ một thay đổi nào của pháp luậtcũng gây ra những khó khăn nhất định cho doanh nghiệp nói chung và đối vớicác doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, vì hầu hết các công trình
có quy mô lớn đều do Nhà nước đầu tư dưới các hình thức vốn ngân sách Nhànước, vốn vay… Sự ổn định về chính trị cũng là một nhân tố thuận lợi để tăng
Trang 29sức cạnh tranh của doanh nghiệp Hệ thống luật pháp là một trong những bộphận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Mức độ ổn định của hành lang pháp lý tạo điều kiện cho doanhnghiệp phát triển Ngược lại doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi phải đối diệnliên tục với những thay đổi của pháp luật, làm suy yếu năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp.
2.2.2.2 Việc tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của nhu cầu xây dựng
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập, Tốc độtăng trưởng GDP trong giai đoạn hiện nay bình quân 8,2% Riêng côngnghiệp khoảng 10,87% Tốc độ đó là khá cao Để duy trì mức phát triển, côngtác đầu tư xây dựng đang được ưu tiên Mức tăng vốn đầu tư giai đoạn 2004-
2007 là 11,6% cao hơn nhiều so với mức tăng GDP Vốn thuộc khu vực nhànước chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 57-58% tổng số vốn đầu tư phát triển Đầu tưxây dựng đang được ưu tiên kéo theo sự phát triển của nhu cầu xây dựng như:Quy hoạch nông thôn theo yêu cầu mới, hạ tầng kỹ thuật, các công trình ở các
đô thị (gồm trụ sở Uỷ ban Nhân dân, công trình dịch vụ thương mại, du lịch,
…), các khu kinh tế mới, nhà ở là thị truờng rộng lớn cho các doanh nghiệp tưvấn xây dựng Nhu cầu ngày càng nhiều doanh nghiệp càng có nhiều cơ hộikiếm nhiều việc làm, tích luỹ kinh nghiệm và lợi nhuận Doanh nghiệp nàonắm bắt được sớm các nhu cầu này thì càng có nhiều cơ hội chiếm lĩnh thịtrường, mở rộng thị phần Tạo lợi thế cạnh tranh trước các doanh nghiệp khác
và ngược lại Tuy nhiên cũng cần phải hiểu rằng do tốc độ xây dựng cơ bảnnhanh, một loạt đòi hỏi về tính hiệu quả và chất lượng dự án cần phải đượcnâng cao, nhu cầu xây dựng tăng (cầu tăng) cũng sẽ khiến cho doanh nghiệp
có nhiều đối thủ cạnh tranh mới Khi đó nếu không tăng năng lực cạnh tranhthì doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn để tồn tại
2.2.2.3 Sự phát triển của các lực lượng lao động kỹ thuật
Trang 30Việc tăng các trường đào tạo và quy mô đào tạo nhất là của các trườngĐại học liên quan đến ngành tư vấn xây dựng làm cho lực lượng lao độngtăng lên Từ đó công ty cũng có nhiều cơ hội lựa chọn các ứng viên thích hợpcho các công việc của mình Việc này cũng đòi hỏi các sinh viên ra trườngphải chủ động nâng cao trình độ, tích luỹ kinh nghiệm để có thể lựa chọncông ty mà mình thấy phù hợp Như vậy Công ty cũng có cơ hội lựa chọnnhững người có trình độ, năng lực cao hơn Nếu Công ty có khả năng thu hútđược nguồn lao động này thì sẽ là lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
2.2.2.4 Chủ đầu tư
Là cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện về công trình đối với xã hội.Trong giai đoạn hiện nay mặc dù, Luật đấu thầu và các Nghị định đã ban hànhnhưng việc lựa chọn nhà thầu và khả năng thắng thầu của nhà thầu còn bị ảnhhưởng rất lớn bởi chủ đầu tư Chủ đầu tư là người trực tiếp quyết định chỉđịnh thầu và lựa chọn hồ sơ dự thầu của doanh nghiệp
Ảnh hưởng của chủ đầu tư cũng có lúc xuất phát từ sự tác động ngượccủa chính bản thân các doanh nghiệp nhất là khi những doanh nghiệp có kinhnghiệm và uy tín trên thị trường, ảnh hưởng từ sự tín nhiệm hoàn toàn có lợicho doanh nghiệp
Khi đánh giá hồ sơ lựa chọn nhà thầu tư vấn việc chủ đầu tư lựa chọn
tư vấn để đánh giá hồ sơ thầu cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầucủa doanh nghiệp Do đó năng lực, kinh nghiệm, trình độ của tư vấn sẽ ảnhhưởng rất lớn đến việc thắng thầu của doanh nghiệp
2.2.2.5 Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất đối vớinăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Số lượng cũng như năng lực cạnhtranh của các đối thủ cạnh tranh quyết định mức độ cạnh tranh của doanhnghiệp Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, doanh nghiệp
Trang 31phải đảm bảo được năng lực của mình trước các đối thủ cạnh tranh hiện tại vàcác đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Do vậy, sự hiểu biết các đối thủ cạnh tranh sẽquyết định tính chất và mức độ ganh đua hoặc thuật giành ưu thế trên thịtrường.
Mức độ cạnh tranh phụ thuộc mối tương tác giữa các yếu tố như sốlượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng của các ngành,
cơ cấu chi phí cố định hoặc chi phí dự trữ chiếm tỷ trọng lớn, sự đa dạng hoácác đối thủ cạnh tranh
Hiện nay trên thị trường xây dựng có rất nhiều các doanh nghiệp cảtrong và ngoài nước cùng tham gia, làm tăng tính chất và quy mô cạnh tranhtrong ngành Nếu trên thị trường có một số doanh nghiệp dẫn đầu thì cạnhtranh gay gắt sẽ xảy ra giữa các doanh nghiệp yếu thế hơn
Việc phát hiện và phân loại các đối thủ cạnh tranh để từ đó có các đốisách đúng đắn là công tác không thể thiếu đối với một doanh nghiệp muốntồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường Có nhiều cách phân loại cácđối thủ cạnh tranh:
- Đối thủ cạnh tranh hiện tại và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
- Đối thủ cạnh tranh “tốt” và đối thủ cạnh tranh “xấu”
Các thông tin cần thiết cho việc phân tích đối thủ cạnh tranh:
- Cơ sở vật chất - Thị phần - Tổng tài sản - Nhân lực chủ chốt
- Năng lực thiết bị - Quảng cáo
tiếp thị
- Vốn chủ sở hữu
- Tổ chức
- Khả năng nhân lực - Hiệu quả sử
dụng vốn
- Bầu không khí nội bộ
- Giá thành sản phẩm - Giá - Chiến lược của doanh
nghiệp
Trang 32Trên cơ sở nắm bắt các thông tin về đối thủ cạnh tranh, có thể chia các doanhnghiệp thành 4 nhóm theo vị thế cạnh tranh:
- Nhóm 1: Các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường, là những doanhnghiệp lớn có thể coi là số một trên thị trường có thị phần lớn
- Nhóm 2: Các doanh nghiệp “Thách thức” trên thị trường là các doanhnghiệp lớn nhưng không phải là số một trên thị trường
- Nhóm 3: Các doanh nghiệp theo sau là các doanh nghiệp có thị phầnnhỏ
- Nhóm 4: Các doanh nghiệp đang tìm chỗ đứng trên thị trường màdường như các doanh nghiệp lớn bỏ qua hoặc không chú ý tới
2.2.2.6 Các yếu tố khác
Cơ sở hạ tầng yếu kém, chi phí đầu vào cao như: chi phí vận tải, thuêvăn phòng, đóng góp an sinh xã hội đang làm ảnh hưởng nhiều tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng nhất là đối với những doanhnghiệp phải thuê văn phòng Giá thuê cao, đóng góp nhiều làm tăng chi phí vàgiảm lợi nhuận của doanh nghiệp từ đó giảm lợi thế cạnh tranh Giá thuênhân công rẻ là một lợi thế nhưng với điều kiện phải đi kèm với năng suất vàchất lượng
2.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng từ việc hội nhập khu vực và quốc tế
2.2.3.1 Tác động của việc toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá được nói đến ở đây trước hết và chủ yếu là toàn cầu hoákinh tế "Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càngnhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tậpđoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa
có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh", vừatạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có những thách thứcđối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển Vì
Trang 33toàn cầu hoá là một xu thế, một quá trình khách quan cho nên không thể đảongược.
Toàn cầu hoá nói chung, một mặt, là sự tiếp nối, sự khẳng định và hoànthiện các khuynh hướng đã hình thành từ lâu trong lịch sử thế giới, mặt khác,
nó cũng là một hiện tượng mới, bắt đầu bằng toàn cầu hoá về kinh tế, rồi dầndần lôi cuốn theo toàn cầu hoá về một số lĩnh vực văn hoá và tác động mạnh
mẽ đến chính trị
Hệ thống và cơ chế quyền lực quốc tế gây ra cho các quốc gia nàynhiều mối lo ngại, vì nó được sử dụng như là cơ sở để cộng đồng quốc tế,hoặc nhân danh cộng đồng quốc tế, can thiệp trực tiếp và thách thức chủquyền chính trị truyền thống Ngay cả những quyền định ra chính sách vàmục tiêu kinh tế, kiểm soát, điều hoà nguồn tài nguyên và nguồn thông tin,quyền quản lý các hoạt động kinh tế và khả năng hành động của một nướccũng sẽ bị tác động và bị các tổ chức kinh tế quốc tế và các công ty xuyênquốc gia ràng buộc chặt chẽ, do đó khó có thể phát triển kinh tế dân tộc theochiến lược riêng Những quy tắc thị trường toàn cầu, buôn bán toàn cầu, tiền
tệ toàn cầu, hoạt động kinh tế toàn cầu đã trở thành lực lượng mang tínhcưỡng chế về mặt pháp luật quốc tế đối với một nước, nhất là các nước nhỏ,buộc họ phải điều chỉnh chủ quyền kinh tế cho phù hợp với quy định chungthường là do các nước lớn áp đặt
2.2.3.2 Tác động do sự phát triển của công nghệ thông tin
Ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và phần mềm thương mạiđiện tử nói riêng đã trở thành một điều không thể thiếu trong các doanhnghiệp ngành xây dựng, trong bối cảnh toàn cầu hoá với các xu hướng hộinhập ngày càng tăng Việc Việt Nam tham gia ngày càng nhiều tổ chức khuvực và quốc tế như AFTA, WTO, việc ký kết các hiệp định thương mại song
Trang 34phương giữa Việt Nam với các nước nhằm mở rộng giao lưu thương mại vàkinh tế càng thúc đẩy việc ứng dụng những công nghệ, kỹ thuật mới hiện đại,trong đó có công nghệ thông tin.
Trong xây dựng có rất nhiều phân ngành nhỏ đều có các ứng dụng cụthể của phần mềm máy tính phục vụ cho công tác chuyên môn Việc các cán
bộ từ lãnh đạo đến đến cán bộ kỹ thuật nhận thức đúng đắn về hiệu quả sửdụng của phần mềm sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng hỗ trợ đắc lực củaphần mềm trong việc giải quyết các bài toán kỹ thuật , đặc biệt là các bài toán
kỹ thuật phức tạp, góp phần tăng năng suất lao động, tạo ra sự minh bạch, rõràng trong quản lý hoạt động, tạo ra sự thông suốt và hiệu quả trong các hoạtđộng chuyên môn cũng như quản lý doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp xây dựng, với mô hình hoạt động theo kiểuphòng quản lý chất lượng kiểm soát các hoạt động thiết kế và giám sát chấtlượng sản phẩm thiết kế từ các xưởng, văn phòng thiết kế, việc ứng dụngphần mềm dùng chung sẽ tỏ ra đặc biệt có hiệu quả và tiết kiệm
2.2.3.3 Tác động do sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật xây dựng
Chúng ta đang sống ở thế kỷ 21, kỹ thuật số đang xâm chiếm mọi nơitrong cuộc sống Sự thiếu an toàn do thảm hoạ thiên nhiên: bão lụt, động đấthoặc tai nạn do các lỗi lầm của con người, do khủng bố Người Việt Namcũng như nhiều nước trên thế giới đang phải đương đầu với tai nạn giao thôngluôn rình rập mỗi khi ra đường Tất cả điều đó bắt buộc các nhà hoạch địnhchính sách phải hướng tới các tiêu chuẩn an toàn cho con người tốt hơn khithực hiện các dự án cũng như trong cuộc sống thường ngày
Các nhà quản lý và kỹ sư luôn làm việc với khoa học, kỹ thuật và côngnghệ Kỹ thuật là cầu nối giữa khoa học và công nghệ Giải pháp kỹ thuật vàcông nghệ xây dựng dân dụng, địa kỹ thuật và môi trường cần đưa ra các câutrả lời và giải pháp kỹ thuật thích đáng cho một số nhu cầu của cuộc sống
Trang 35Nếu doanh nghiệp nào không nắm được các công nghệ và kỹ thuật mới,tiên tiến thì không những không thể đưa ra giải pháp thích hợp nhất, tiết kiệmnhất mà có khi còn xảy ra các tai nạn phải trả bằng sinh mạng con người Nhưvậy làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và ngược lại
2.2.3.4 Kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng và vấn đề cạnh tranh
Chất lượng sản phẩm xây dựng bao giờ cũng đi cùng với kinh nghiệm.Nếu một công ty chưa từng làm một công trình tương tự thì không thể có mộtđội ngũ được đào tạo lẫn kinh nghiệm Chính vì vậy, khi xem xét lựa chọnmột nhà thầu chủ đầu tư thường rất quan tâm đến kinh nghiệm của doanhnghiệp trong các công trình tương tự Doanh nghiệp hoạt động lâu năm, nhiềukinh nghiệm là một lợi thế cạnh tranh
2.2.3.5 Vấn đề liên doanh liên kết
Trong hoạt động kinh doanh, liên kết, liên doanh là một yêu cầu tựnhiên để tăng năng suất lao động của mỗi doanh nghiệp Gia nhập WTO,phần lớn doanh nghiệp nước ta còn là nhỏ và vừa, thì việc liên kết, liên doanh
để bổ sung năng lực, khắc phục yếu kém để tăng năng lực cạnh tranh lại càngcấp bách Việc liên kết không chỉ giúp doanh nghiệp giảm giá thành, tăngchất lượng sản phẩm, còn có thể giúp cho doanh nghiệp nhận những dự án lớn
mà mỗi doanh nghiệp không thể đáp ứng, từ đó mở rộng thị trường, tạo điềukiện phát triển doanh nghiệp trong tương lai
Kinh nghiệm cho thấy, có rất nhiều phương thức liên kết, liên doanhhết sức phong phú: giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau, giữa cácdoanh nghiệp nhỏ với với doanh nghiệp lớn, giữa doanh nghiệp tư vấn vớidoanh nghiệp xây lắp, giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, kể cả các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia, Liênkết để hỗ trợ nhau trong từng khâu của quá trình kinh doanh; cũng có thể liênkết để tăng quy mô doanh nghiệp, hình thành những tập đoàn kinh tế lớn đủ
Trang 36sức đưa doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam ra thế giới Liên kết giúp nhauđổi mới công nghệ, trao đổi kỹ năng quản trị doanh nghiệp, giúp nhau tiềnvốn
Trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò của cáchội, hiệp hội doanh nghiệp, hội ngành nghề càng cần phải khẳng định và pháthuy Đó là những tổ chức xã hội dân sự vừa giúp cho doanh nghiệp tổ chứccác quan hệ liên kết, liên doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, đồng thời cũng là cầu nối giữadoanh nghiệp với cơ quan nhà nước, giúp cho doanh nghiệp tham gia vào việchoạch định thể chế, chính sách quản lý kinh tế - đây cũng là một nội dung màchúng ta đã cam kết trong khi gia nhập WTO, để thể chế, chính sách phản ánhđúng nội dung đổi mới của nước ta và phù hợp các quy định trong WTO
Trong cuộc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, mỗi doanhnghiệp đều cần liên kết, liên doanh; đó chính là cạnh tranh trong hợp tác, hợptác để cạnh tranh tốt hơn, là để tăng thêm sức mạnh, nâng cao năng lực cạnhtranh của mỗi doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT 3.1 Tổng quan về Công ty
Tên Công ty: Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật
Trang 37( Construction and Transfer Technology Join Stock Company )
Tên viết tắt: C.T.T.,JSC
Trụ sở chính Công ty
Địa chỉ: Số 6-Nguyễn Công Trứ-Hai Bà Trưng-Hà Nội
Điện thoại: 043.9710051-9710052 Fax: 043.9710453
Chi nhánh và Văn phòng đại diện tại địa phương
Chi nhánh Tây Nguyên
Địa chỉ: Số 568-Phạm Văn Đồng-TP Pleiku-Tỉnh Gia Lai
Điện thoại: 059.3825705 Fax: 059.3825182
Chi nhánh Móng Cái- Quảng Ninh
Địa chỉ: Đường Hùng Vương-TX Móng Cái-Quảng Ninh
Điện thoại: 033.3881893
Chi nhánh Đăklắc
Địa chỉ: 487/1 Nguyễn Văn Cừ -TP Buôn Ma Thuột-ĐăkLắk
Điện thoại: 050.3865655 Fax: 050.3865655
0103009975 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày13/12/2005
Tiền thân của Công ty là Trung tâm Xây dựng và Chuyển giao kỹthuật- trực thuộc Viện Thiết kế kiến trúc Nông nghiệp- Bộ Nông nghiệp -
Trang 38được thành lập năm 1988 Năm 1993 được tổ chức lại thành Công ty Xâydựng và Chuyển giao kỹ thuật theo Quyết định do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
Hiện nay, trước cơ hội và thách thức mới, Công ty đã thích ứng kịp thờivới cơ chế kinh tế thị trường; đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, kỹ thuật có trìnhđộ; công nhân lành nghề, trang thiết bị đầy đủ, năng lực tài chính đủ mạnh đểcạnh tranh trên thị trường, địa bàn cả nước Công ty có các chi nhánh, vănphòng đại diện, các đội hoạt động độc lập đóng tại nhiều địa phương đáp ứngyêu cầu tiếp thị, sản xuất kinh doanh và giao dịch trực tiếp với khách hàng.Công ty đã ký kết và thực hiện một số hợp đồng xây lắp với đối tác nướcngoài, đã chứng tỏ sức cạnh tranh của mình với các nhà đầu tư trong và ngoàinước
Trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển không ngừng, Công ty
Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật đã tích luỹ được nhiều kinhnghiệm quản lý và chỉ đạo sản xuất kinh doanh Các công trình thi công đãkhẳng định chất lượng, đúng tiến độ, được các Chủ đầu tư đánh giá cao; vốn
và năng lực thiết bị thi công hàng năm đều được bổ sung; quan hệ với kháchhàng luôn được duy trì và mở rộng; nhờ vậy doanh thu và lợi nhuận hàng năm
Trang 39luôn có mức tăng trưởng ổn định
3.1.2 Ngành nghề kinh doanh chính
- Xây dựng công nghiệp, dân dụng, trang trí nội thất
- Kinh doanh bất động sản và phát triển xây dựng nhà ở
- Xây dựng công trình thuỷ lợi, xây dựng giao thông
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng và vật liệu trang trí nội,ngoại thất
- Chuyển giao kỹ thuật công nghệ xây dựng
- Xây dựng các công trình cấp thoát nước đô thị và nông thôn, các côngtrình đường dây và trạm biến thế điện
Các đơn vị trực thuộc Công ty:
- Chi nhánh Tây Nguyên
- Chi nhánh Móng Cái-Quảng Ninh
Trang 40nghề, chuyên nghiệp, thiết bị và công nghệ thi công xây dựng đầy đủ, đồng
bộ, quan hệ hợp tác rộng rãi Công ty khẳng định hoàn toàn đáp ứng mọi yêucầu của khách hàng trong thi công xây dựng, kiểm tra chất lượng, giám sát kỹthuật, chuyển giao công nghệ, đầu tư phát triển, kinh doanh phát triển nhà
Trong quá trình phát triển, Công ty luôn nhận được sự chỉ đạo, quantâm giúp đỡ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch vàĐầu tư, Bộ Xây dựng và các Bộ ngành liên quan, Uỷ ban nhân dân các địaphương nơi Công ty đặt chi nhánh, Văn phòng giao dịch hoặc có công trình
mà Công ty tham gia đầu tư, nhận thầu và trúng thầu xây dựng
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, Công ty Cổphần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật đã và đang tiến hành các hoạt độngkinh doanh trên phạm vi toàn quốc, bước đầu làm quen với các đối tác nướcngoài
Trong xây dựng, Công ty đã khẳng định mình qua các công trình như:Trụ sở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Nhà máy dứa Như Thanh-Thanh Hoá, Nhà máy đường Eaknốp-Đăklăk, Nhà máy bia Halida-Hà Nội,Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Nhà máy thực phẩm 19-5-Sơn Tây,Nhà máy đường Sơn La, Nhà máy bánh kẹo Đình Hương-Thanh Hoá, Nhàmáy chế biến thực phẩm-Công ty Everton do Nhật Bản đầu tư, Trung tâmđiều hành dầu khí phía Nam-TP Hồ Chí Minh, Chợ Đồng Hới-Quảng Bình,các kho, xưởng chế biến cà phê tại Tây Nguyên và rất nhiều công trình khác
Sơ đồ tổ chức bộ máy điều hành và quản lý công ty
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây dựng và
PHÒNG KỸ THUẬT
VÀ QUẢN LÝ
DỰ ÁN
CHI NHÁNH QUẢNG BÌNH
CHI NHÁNH GIA LAI
CHI NHÁNH ĐĂKLĂK
ĐỘI XÂY DỰNG
CHI NHÁNH
QUẢNG NINH
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH