Một trong những hình thức văn nghệ dân gian độc đáo của dân tộc Sán Dìu là hát Soọng cô dân ca.. Ca dao, dân ca từ lâu đã được Khoa Nghiên cứu văn học dân gian soi sáng, phân tích dưới n
Trang 1- -
NGUYỄN THỊ MAI PHƯƠNG
KHẢO SÁT LOẠI HÌNH HÁT SOỌNG CÔ CỦA DÂN TỘC SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN
VÀ TUYÊN QUANG
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa có ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Mai Phương
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Huế, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu cũng nhưn trong quá trình viết luận văn Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô Khoa Ngữ văn trong suốt những năm tháng học tập tại đây Cảm ơn Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, các nghệ nhân…
đã tạo mọi điều kiện, thời gian và công sức giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu
Cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn dành cho tôi sự động viên khích lệ trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Người viết
Nguyễn Thị Mai Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Về phương diện khoa học 1
1.2 Lý do thực tiễn 2
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp của Luận văn 6
7 Bố cục của Luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN, TUYÊN QUANG VÀ LOẠI HÌNH HÁT SOỌNG CÔ 7
1.1 Đặc điểm lịch sử xã hội của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 7
1.1.1 Khái quát về người Sán Dìu ở Việt Nam 7
1.1.2 Quá trình thiên di của người Sán Dìu đến Thái Nguyên, Tuyên Quang 7
1.1.3 Đời sống và quan hệ xã hội, bản làng và gia đình của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang 9
1.2 Đặc điểm văn hoá truyền thống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 10
1.2.1 Chữ viết của người Sán Dìu 10
1.2.2 Tôn giáo, tín ngưỡng của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang 12
Trang 51.3 Một số loại hình văn nghệ dân gian truyền thống của người Sán Dìu ở
Thái Nguyên, Tuyên Quang 12
1.4 Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 14
1.4.1 Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Việt Nam và các truyền thuyết về Soọng cô 19
1.4.2 Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 28
Chương II: KHẢO SÁT VÙNG HÁT VÀ CÁC NGHỆ NHÂN 34
2.1 Khảo sát về hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang 34
2.1.1 Khảo sát vùng hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên 35 2.1.2 Khảo sát vùng hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Tuyên Quang 36 2.2 Các nghệ nhân 37
2.2.1 Nghệ nhân vùng Thái Nguyên 37
2.2.2 Nghệ nhân vùng Tuyên Quang 43
2.3 Một số nhận xét về vùng hát, nghệ nhân hát Soọng cô ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 51
Chương III: GIÁ TRỊ NỘI DUNG, NGHỆ THUẬT VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN HÁT SOỌNG CÔ 54
3.1 Giá trị về nội dung 54
3.1.1 Hát Soọng cô phản ánh tình yêu đôi lứa 54
3.1.2 Hát Soọng cô phản ánh niềm kính trọng tổ tiên, ông bà, người già và nhưng người làng 61
3.1.3 Hát Soọng cô phản ánh tình yêu lao động 65
3.2 Giá trị về nghệ thuật 66
3.2.1 Thể thơ 66
3.2.2 Kết cấu 68
3.2.3 Vần nhịp 71
Trang 63.3 Hiện trạng và bảo tồn hát Soọng cô ở Thái Nguyên và Tuyên Quang 71
3.3.1 Hiện trạng 71
3.3.2 Bảo tồn loại hình dân ca dân tộc Sán Dìu 75
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
DANH SÁCH NGHỆ NHÂN HÁT SOỌNG CÔ 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về phương diện khoa học
Một dân tộc sáng tạo ra văn hoá của mình, và đến lượt nó, chứa đựng trong nền văn hoá đó là sức sống, tiềm năng, bản lĩnh, sức sáng tạo và bản sắc của chính mình dân tộc đó Bằng văn hoá và thông qua văn hoá, dân tộc
đó, qua các thế hệ, xây dựng cho mình những chuẩn mực sống, lao động, đấu tranh, sáng tạo và quan hệ cộng đồng [11, tr.271]
Văn hóa là nền tảng, là nhân tố phản ánh trình độ phát triển của xã hội Kho tàng văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số rất đa dạng và phong phú Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa, phong tục, tập quán riêng, tạo nên bản sắc riêng và độc đáo Trên khắp vùng miền của đất nước có rất nhiều di sản văn hóa phi vật thể khác nhau, trong đó phải kể đến hát Then, Sli, Lượn cọi của dân tộc Tày; hát Song Hao của người Nùng; Sình ca của người Cao Lan; Xắng cọ của người Sán Chỉ; hát Ghẹo, hát Xoan của người Kinh…
Một trong những hình thức văn nghệ dân gian độc đáo của dân tộc Sán Dìu là hát Soọng cô (dân ca) Là điệu hát truyền thống của người Sán Dìu được lưu truyền từ nhiều đời nay Lời Soọng cô là thể thơ 7 chữ, ví von trang nhã, tình tứ và thường dựa vào cảnh đẹp quê hương, làng xóm, sinh hoạt hàng ngày để nói lên nỗi lòng mình Soọng cô là thể loại dân ca trữ tình với lời hát đối đáp nam nữ Mỗi bài ca là một bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt ghi chép bằng chữ Hán cổ và được lưu truyền trong dân gian Soọng cô thường được thường được bà con thể hiện trong lễ hội đầu xuân, lễ cưới giữa làng này với làng kia Ngày nay, mặc dù có sự giao thoa giữa các dân tộc thiểu số, người Sán Dìu ở Tuyên Quang và Thái Nguyên cũng du nhập nhiều nét văn hóa của các dân tộc khác vào đời sống tinh thần, nhưng Soọng cô vẫn
Trang 8được lưu truyền Có thể nói, dân tộc Sán Dìu một dân tộc có tâm hồn thơ ca, đồng bào yêu thích ca hát, dùng tiếng hát để ca ngợi quê hương, xứ sở, ca ngợi lao động, tình yêu lứa đôi và khát vọng về một cuộc sống ấm no Soọng
cô đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của dân tộc Sán Dìu Đó là sản phẩm tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất của người Sán Dìu
Tuy nhiên, từ trước tới nay, hát Soọng cô của người Sán Dìu tuy đã được sưu tầm và dịch nhưng số lượng vẫn rất hạn chế, chưa có sự quan tâm, nghiên cứu tìm hiểu một cách khoa học về mặt giá trị nội dung và nghệ thuật Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành điền dã và sưu tầm những bài hát Soọng cô được lưu truyền trong dân gian làm cơ sở nghiên cứu
Xuất phát từ phương diện khoa học nêu trên, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu về: “Khảo sát loại hình hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên
và Tuyên Quang” trong đề tài luận văn nghiên cứu của mình Hoàn thành
công trình này, chúng tôi mong muốn được khám phá và tôn vinh giá trị văn
hóa phi vật thể của các dân tộc số Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Văn học dân gian (VHDG) là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay[24, tr.7]
Trang 9Hướng tiếp cận các tác phẩm văn hoá dân gian theo folklore học bao gồm các phương diện như ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, tín ngưỡng, phong tục và lễ hội Cách tiếp cận này mang tính tổng thể của văn hoá học [20] Đứng ở vị trí nghiên cứu văn học, chúng ta coi tác phẩm VHDG trước hết là những tác phẩm nghệ thuật Tính nghệ thuật là một thuộc tính khách quan của văn học dân gian, cho dù thuộc tính đó có được nhân dân nhận thức rõ hay không trong khi sáng tác, diễn xướng và tíêp thu các tác phẩm văn học dân gian Thuộc về loại hình trữ tình dân gian, ca dao, dân ca với những đặc điểm thể loại của nó là sự thể hiện cảm xúc của chủ thể trữ tình trước những vấn đề xã hội và nhân sinh Ca dao, dân ca từ lâu đã được Khoa Nghiên cứu văn học dân gian soi sáng, phân tích dưới nhiều góc độ: Chủ đề, tư tưởng, đề tài, ngôn ngữ… Có những luận văn, đề tài đã nghiên cứu dân ca nói chung và dân ca các dân tộc thiểu số nói riêng, song đề tài nghiên cứu về Soọng cô của người Sán Dìu gần như không có Gần đây, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên cũng có Đề
tài Bảo tồn hát Soọng cô của dân tộc Sán Dìu với mục đích: sưu tầm lời kể
của nghệ nhân, chọn người để luyện tập các điệu hát Soọng cô nhằm phát huy những giá trị văn hóa phi vật thể của người dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên;
đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên nhằm tìm hiểu nội dung và thi pháp Hát dân ca giao duyên Soọng cô của người dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang… Như vậy, công tác sưu tầm, nghiên cứu về Soọng cô còn rất khiêm tốn Trong các đề tài nghiên cứu chưa khám phá hết giá trị của loại hình dân ca này nhưng các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở, là tiền đề khoa học có giá trị cho việc nghiên cứu đề tài luận văn của chúng tôi
Hát Soọng cô là một loại hình sinh hoạt văn hóa tập thể của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang nên những điệu hát được lưu truyền ở nhiều xóm bản đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa độc đáo
Trang 10Dù đã được biết đến nhưng hát Soọng cô vẫn chưa được nhiều người quan tâm nghiên cứu Do vậy, việc tìm hiểu về hát Soọng cô là việc làm thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Sán Dìu nói riêng
Hát đối đáp nam nữ với những lời thơ trữ tình, giàu tính dân tộc, là một phần chủ yếu, nếu không nói là quan trọng nhất trong kho tàng thơ ca dân gian của người Sán Dìu Soọng cô, một lối hát giao duyên giữa nam nữ bằng thơ, cũng tương tự Sli, lượn của người Tày, Nùng Thanh niên nam nữ
từ tuổi 18 đều biết hát khá thành thạo các làn điệu và bài bản soọng cô Từ khi đầu còn để chỏm (12-13 tuổi), họ đã theo anh, theo chị tập dượt cho quen Một số bài được ghi lại rồi nhân thành nhiều bản trao tay nhau học Những bài bản cứ sai khác mãi, vì khi sao chép người ta tuỳ tiện thêm bớt, cho nên
có rất nhiều dị bản Song cái hấp dẫn, cái sống động lại không phải ở bài bản được cố định thành văn, mà là ở những lời thơ của người hát tự ứng tác cho
hợp cảnh, hợp người Cái đó mới là cái vốn vô tận của Soọng cô [2, tr 136]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là: Khái niệm chung nhất về thơ ca dân gian Từ khái niệm
ấy đối chiếu vào các lời ca trong kho tàng dân ca Sán Dìu tìm hiểu đặc điểm, giá trị nội dung nghệ thuật của Soọng cô
Trang 11Trên cơ sở những phân tích những lời hát Soọng cô mà kết quả khảo sát mang lại, chỉ ra nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của các làn điệu dân ca Soọng cô của dân tộc Sán Dìu ở Tuyên Quang và Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Khảo sát các làng hát dân ca Sán Dìu ở hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang
- Tiếp xúc, phỏng vấn sâu một số nghệ nhân tiêu biểu xuất sắc ở cả hai địa phương Thái Nguyên và Tuyên Quang
- Tìm hiểu hình thức diễn xướng Soọng cô trong đời sống đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tiến hành xem xét, thống kê, nghiên cứu trên cơ sở các
lời dân ca Sán Dìu được sưu tầm và biên dịch trong cuốn sách: Dân ca Sán Dìu của Diệp Trung Bình, Nhà Xuất bản Dân tộc; Dân tộc Sán Dìu ở Bắc
Giang, Nhà Xuất bản Văn hoá dân tộc; Đề tài nghiên cứu khoa học Bảo tồn hát Soọng cô dân tộc Sán Dìu của hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang Đồng thời trong quá trình triển khai đề tài sẽ bổ sung thêm các lời dân ca được sưu tầm trong quá trình khảo sát, điền dã ở cả hai địa phương Thái Nguyên và Tuyên Quang
5 Phương pháp nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau Trong đó gồm một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp khảo sát thống kê;
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh
- Phương pháp điền dã
Trang 12Trong thời gian đi điền dã, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của một đồng nghiệp là Chu Đức Anh, là người dân tộc Sán Dìu ở xã Nam Hoà, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nhiệt tình giúp đỡ, và cũng là người rất am hiểu phong tục tập quán của người dân bản địa Nhờ đó mà chúng tôi hiểu được rõ hơn về ngôn ngữ, văn hoá dân tộc Sán Dìu Mặc dù vậy, quá trình nghiên cứu người viết có lúc lúc gặp phải sự thiếu hợp tác của các nghệ nhân, song với khả năng của mình, người nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu và tiếp cận với họ một cách có kết quả
6 Những đóng góp của Luận văn
Hoàn thành đề tài, Luận văn hy vọng sẽ chỉ ra được một cách có hệ thống giá trị nội dung nghệ thuật, bảo tồn và phát huy dân ca dân tộc Sán Dìu
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn chia thành ba chương viết:
- Chương I: Khái quát về người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang
và loại hình hát Soọng cô
- Chương II: Khảo sát vùng hát và các nghệ nhân
- Chương III: Giá trị nội dung, nghệ thuật và bảo tồn, phát huy Soọng
cô của người Sán Dìu ở Tuyên Quang và Thái Nguyên
Tài liệu tham khảo
Phần phụ lục của Luận văn có một số hình ảnh các làng hát, nghệ nhân, bản đồ minh họa
Trang 13NỘI DUNG
Chương I
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở THÁI NGUYÊN, TUYÊN QUANG VÀ LOẠI HÌNH HÁT SOỌNG CÔ
1.1 Đặc điểm lịch sử xã hội của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang
1.1.1 Khái quát về người Sán Dìu ở Việt Nam
Dân tộc Sán Dìu theo âm Hán Việt là Sơn Dao (Sán là Sơn, Dìu là Dao) còn có một số tên gọi khác là: Trại, Trại Đất, Mán quần cộc, Mán váy xẻ, San Déo Nhín Theo các cụ già người Sán Dìu ở Tuyên Quang kể thì Sán Dìu là tộc người nhỏ, quê tổ xa xưa ở Quảng Đông (Trung Quốc) Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, do không chịu nổi sự áp bức bóc lột tàn bạo của nhà Minh
và nhà Thanh, người Sán Dìu phải dời quê cha đất tổ, tìm đường sang các nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam để sinh sống Đồng bào đã lập làng
cư trú ở nhiêu nơi trên đất nước Việt Nam như Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và Tuyên Quang
1.1.2 Quá trình thiên di của người Sán Dìu đến Thái Nguyên, Tuyên Quang
Thành phố Thái Nguyên nằm trên Quốc lộ số 3 (Hà Nội - Cao Bằng) Đường sắt từ đây nối liền với hệ thống đường sắt của cả nước Thành phố Thái Nguyên cách trung tâm Hà Nội là 80km Theo thống kê, Thái Nguyên là tỉnh
có nhiều người Sán Dìu nhất trong cả nước: chiếm 29,59%, đứng thứ 4 (Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu) trong số 9 dân tộc của tỉnh Người Sán Dìu phân bố ở các vùng bán sơn địa, nhiều nhất là ở huyện Đồng Hỷ: 40,8%; Phổ Yên 21,7%; Phú Lương 12,%, thành phố Thái Nguyên chiếm 9,2% Xã có đông người Sán Dìu nhất của huyện Đồng Hỷ là Nam Hoà: 61,6% Hiện nay, Thái Nguyên là tỉnh có đông người Sán Dìu nhất ở nước ta (29,59%) Năm 1999 với 37.365 người (3,57%) họ đứng ở vị trí thứ 4 trong các dân tộc của tỉnh và có mặt ở tất
Trang 14cả các huyện, thị xã thành phố của Thái Nguyên Người Sán Dìu phân bố chủ yếu ở vùng bán sơn địa, đông nhất là huyện Đồng Hỷ (40,8%), tiếp đến là: Phổ Yên (21,8%) Phú Lương (12,2%), thành phố Thái Nguyên (9,2%) và ít nhất là huyện Định Hoá (0,09%) Năm 1960 người Sán Dìu có mặt ở 63/162 xã, phường của tỉnh, trong đó huyện Đại Từ có 22 xã, huyện Đồng Hỷ có 21 xã, còn hai huyện: Định Hoá và Võ Nhai không có xã nào có người Sán Dìu cư trú
Người Sán Dìu đã có mặt ở 154/180 xã phường của Thái Nguyên, dân
số Sán Dìu trong mỗi xã cũng vẫn chiếm tỷ lệ thấp, có 151/154 xã chiếm tỷ
lệ từ 0,01 đến 40%, còn lại 3 xã có tỷ lệ trên 40% là Nam Hoà (61,6%), Tân Lợi (42,5%) huyện Đồng Hỷ và Bàn Đạt (41,3%) huyện Phú Bình Ở Thái Nguyên, bản người Sán Dìu thường được lập dưới chân các đồi núi, gần các con sông, cánh rừng Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, người Sán Dìu ở Thái Nguyên đã chắp cánh bên nhau, cùng chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, biến những mảnh đất khô cằn thành những cánh đồng màu mỡ và từ trong cuộc sống vất vả lam lũ, Soọng cô đã trở thành một món ăn tinh thần, gắn bó máu thịt với họ.[13]
Còn ở Tuyên Quang, khác với các dân tộc Tày, Dao, Cao Lan là những
dân tộc có số đông trong tỉnh, dân tộc Sán Dìu có rất ít Theo kết quả điều tra
ngày 1/4/2009, tỉnh Tuyên Quang có 727.505 người Trong đó dân số trong
độ tuổi lao động là 377.314 người, chiếm 55,80% dân số toàn tỉnh Trên địa bàn tỉnh có 23 dân tộc cùng sinh sống Ðông nhất là dân tộc Kinh có 326.033 người, chiếm 48,21%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 172.136 người, chiếm 25,45%; dân tộc Dao có 77.015 người, chiếm 11,38%; dân tộc Sán Chay có 54.095 người, chiếm 8,0%; dân tộc Mông có 14.658 người, chiếm 2,16%; dân tộc Nùng có 12.891 người, chiếm 1,90%; dân tộc Sán Dìu có 11.007 người, chiếm 1,62%; các dân tộc khác chiếm 1,28% Nếu một số dân tộc cư trú ở nhiều nơi khác trong tỉnh thì đồng bào Sán Dìu chỉ cư trú tập
Trang 15trung ở ba xã của huyện Sơn Dưong là Ninh Lai, Thiện Kế và Sơn Nam Đây
là vùng đất bán sơn địa ở phía Tây chân dãy núi Tam Đảo, có nhiều đồi thấp, nhiều sỏi đá, ít ruộng Đồng bào cư trú xen kẽ theo xóm với các dân tộc Tày, Kinh, Dao, Cao Lan
Năm 1999, dân tộc Sán Dìu mới chỉ có khoảng 8,4 vạn người Đến năm
2011 là khoảng 14 vạn người
1.1.3 Đời sống và quan hệ xã hội, bản làng và gia đình của người Sán Dìu
ở Thái Nguyên, Tuyên Quang
Dân tộc Sán Dìu sinh sống tập trung ở trung du Bắc Bộ, trong vùng từ
tả ngạn sông Hồng đổ về phía đông Làng xóm của họ tựa như làng người Kinh, có luỹ tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào Nghề sống chính của người Sán Dìu là sản xuất nông nghiệp Cũng như bao người nông dân Việt Nam khác, đồng ruộng, làng xóm đối với họ là vô giá Những
thế hệ trước đã truyền cho thế hệ sau lời khuyên: Buôn đông bán tây không bằng cày góc ruộng (Mai tông, mai slay mạo cộ số thén coóc)
Bộ y phục truyền thống của phụ nữ gồm khăn đen, áo dài (đơn hoặc kép), nếu là áo kép thì bao giờ chiếc bên trong cũng màu trắng còn chiếc bên ngoài màu chàm, dài hơn một chút; yếm màu đỏ; thắt lưng màu trắng, hồng, hay xanh lơ; váy là hai mảnh rời cùng chung một cạp; xà cạp màu trắng Đặc biệt nổi bật ở trang phục phụ nữ Sán Dìu là chiếc khăn thắt eo lưng và xà tích Thắt lưng thường có bốn màu: xanh, đỏ, tím, vàng, mỗi cái dài khoảng 1,2- 1,5cm, rộng: từ 20-30cm được làm bằng vải mỏng, 2 đầu làm tua rủ Xà tích
là một chiếc túi đựng trầu thường buộc quanh thắt lưng để đựng các têm trầu
Nam giới có trang phục đơn giản hơn, không cầu kỳ như phụ nữ Áo chàm có cổ đứng, quần ống chân què, cặp chun Trang phục thì cả nam nữ người Sán Dìu đều đi dép cao su hoặc chân đất, chân thường quấn xà cạp cao khoảng 40cm
Trang 16Trong hôn nhân, nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu, tuy nhiên quyết định là do bố mẹ và khi lấy nhau phải xem tuổi có hợp thì mới được Gia đình người Sán Dìu là gia đình nhỏ phụ quyền Trong gia đình, người cha hoặc người chồng làm trụ cột, có quyền quyết định mọi việc và chỉ có con trai mới được thừa hưởng gia tài cha để lại Khi phân chia tài sản, người con trai
cả ở với bố mẹ mới được thừa hưởng ngôi nhà và chiếc chảo nấu cháo Đàn ông là người chịu trách nhiệm chính trong việc chăm lo kinh tế gia đình Trong xã hội truyền thống, do bị ảnh hưỏng lớn của tư tưởng Khổng giáo nên người Sán Dìu cũng tồn tại tư tưởng trọng nam khinh nữ
Người Sán Dìu có nhiều họ: Bàng, Đặng, Thăng, Dương, Hoàng, Diệp, Ninh, Trương, Lê, Ân, Trần… Trong một làng người Sán Dìu phần lớn là anh
em họ hàng với nhau Tuy có nhiều dòng họ, nhưng ở bất kỳ đâu, khi họ gặp
nhau, nhận ra nhau cùng là người Sán Dìu thì thường nói với nhau: Sán Déo
loỏng si với dụng ý: Người Sán Dìu ít ỏi, cần phải yêu thương, đùm bọc nhau
Tuy nhiên, trong cuộc sống họ có tinh thần tương thân, tương ái cao không chỉ trong tộc người mà với cả các dân tộc khác cùng sinh sống
1.2 Đặc điểm văn hoá truyền thống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang
1.2.1 Chữ viết của người Sán Dìu
Hiện nay người Sán Dìu ở một số tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc của nước ta vẫn còn sử dụng chữ viết của dân tộc mình Chữ viết thường được lưu truyền ở những gia đình thầy cúng, thầy địa lý Nơi nào có thầy cúng, thầy địa lý người Sán Dìu, nơi đó còn chữ viết của người Sán Dìu
Theo giới nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học, ngôn ngữ của người Sán Dìu thuộc ngữ hệ Hán - Tạng, nhóm Hán ngữ Như vậy, tiếng nói mang
âm hưởng, ngữ nghĩa Hán và chữ viết cũng xuất phát từ chữ Hán Họ dựa vào chữ Hán để tạo ra chữ Hán - Nôm Sán Dìu giống như kiểu tạo ra Hán - Nôm
Trang 17Tày, Hán - Nôm Cao Lan, Nôm Dao, Nôm Sán Chỉ Các bài cúng của các dân tộc: Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Sán Chỉ, Hoa tương đối giống nhau về ý nghĩa và phần chữ viết cũng gần giống nhau, chỉ khác ở phần phát âm theo tiếng riêng của mỗi dân tộc và mỗi thời điểm cúng, nội dung cúng [10]
Chữ Hán - Nôm Sán Dìu trên nguyên tác không khác gì cách ghép âm
và nghĩa theo kiểu Nôm Việt, Nôm Tày, Nôm Cao Lan Thực tế, người Sán Dìu dùng khoảng 60 - 70% chữ Hán cổ trong một văn bản hoặc sách cúng, đọc theo cách phát âm tiếng của dân tộc mình Còn lại những từ thiếu biểu
âm, biểu nghĩa, họ dùng cách ghép phần âm và phần nghĩa thành chữ Nôm
của họ Ví dụ chữ “sệch” nghĩa là “ăn” Trong chữ Hán không có chữ “sệch”, nên được ghép bộ “khẩu” là cái mồm với chữ “đích” biểu âm thành chữ
“sệch”, cũng có khi họ dùng nguyên chữ “thực” của chữ Hán có nghĩa là
“ăn” mà đọc là “sệch” Hay chữ “sộ” nghĩa là “ngồi”, được ghép từ chữ “thổ”
và chữ “nhân đứng” được đọc là “sộ” Còn đại đa số họ dùng chữ Hán cổ
nguyên nghĩa nhưng đọc theo âm của tiếng Sán Dìu
Hệ thống chữ Nôm Sán Dìu đủ khả năng ký âm chuyển tải thông tin cho hệ thống tiếng nói của họ Nó thể hiện trong bộ sách cúng, hát đối (Soọng cô), thậm chí thể hiện trong thư từ gửi cho người thân trao đổi tình hình khi ở
xa cách nhau lâu ngày Qua đó cho thấy năng lực sử dụng ngôn ngữ với chữ viết Nôm Sán Dìu của các thầy cúng cùng đồ đệ của họ đạt ở trình độ cao
Cùng với chữ Nôm, người Sán Dìu đồng thời dùng hệ thống chữ cái La tinh để phiên âm, ký âm tiếng nói của mình Người Sán Dìu đã sử dụng hệ thống chữ cái La tinh để phiên âm và phát triển rộng trong việc lưu truyền các bài hát đối, truyện kể, truyền thuyết, bài thuốc dân gian
Mặc dù người Sán Dìu không có chữ viết riêng nguyên gốc; chữ viết của họ được tạo ra từ chữ Hán cổ, thành chữ Hán - Nôm Sán Dìu và được phiên âm bằng chữ cái La tinh để dễ đọc, song người Sán Dìu từ xưa đến nay
Trang 18đều có ý thức giữ gìn, lưu truyền, phổ biến chữ viết dân tộc mình để thế hệ sau kế tiếp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa chữ viết của thế hệ trước
Trong chuyến đi thực tế vừa qua, được tiếp xúc với người Sán Dìu, chúng tôi cũng tiếp cận được một số tài liệu chữ Hán như sách Hợp hôn thư, sách thuốc, sách cúng, sách xem số tử vi… Qua tìm hiểu chúng tôi thấy, người Sán Dìu cũng sử dụng song ngữ Ngoài tiếng mẹ đẻ, dân tộc này cũng
sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với các dân tộc xung quanh
1.2.2 Tôn giáo, tín ngưỡng của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, Tuyên Quang
Văn hoá phi vật thể của người Sán Dìu rất phong phú và đa dạng bao gồm: phong tục tập quán, tín ngưỡng Người Sán Dìu quan niệm thế giới có
nhiều thần linh và nhiều loại ma (cúi) Có hai loại ma: loại ma lành (hén cúi) luôn giúp đỡ con ngưòi và loại ma dữ (thôộc cúi) chuyên hại người như ma
sấm sét, ma gà Trong mỗi xóm, đồng bào đều lập miếu thờ thổ thần, lập đình thờ Thành hoàng làng Trước Tết Nguyên đán, đồng bào có các lễ cúng Thượng điền, Hạ điền, thờ Tổ sư, Thành hoàng, thờ Mụ, cúng Táo quân, cúng Thổ địa, thần Nông Đồng bào Sán Dìu còn có Lễ Đại phan, một nghi lễ tôn giáo để cấp sắc, duy trì việc cúng tế của thầy cúng, đồng thời để trừ tà ma; Lễ cầu yên để cầu an cho mọi người, mọi nhà và cho thôn làng Các lễ này được
cả cộng đồng tham gia và tự nguyện đóng góp tiền của, vật chất
Ngoài ra, đồng bào Sán Dìu còn chịu ảnh hưởng của Tam giáo Một số gia đình còn thờ Phật bà Quan âm, Thái Thượng, thờ Thánh
1.3 Một số loại hình văn nghệ dân gian truyền thống của người Sán Dìu
ở Thái Nguyên, Tuyên Quang
Vốn VHDG dân tộc Sán Dìu rất đặc sắc và phong phú bao gồm: Truyện được chép thành sách bằng chữ Hán như Tảo An, Đổng Vinh, Duyên Tiên, Văn Giáng, Khuyến Thế Văn, Thành Nhữ Khảo, Tăng Quảng,
Vũ Nhi, Vua Cóc
Trang 19Dạng thứ hai do nhân dân sáng tác và được truyền miệng qua nhiều thế
hệ Nội dung truyện kể phong phú, phản ánh quan niệm về nguồn gốc vũ trụ, loài người, quá trình lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, quan hệ xã hội,
đề cao truyền thống đạo lý, biết ơn tổ tiên, kính trọng hiếu thảo với cha mẹ
Về truyện kể: Ngoài các loại thơ ca, dân tộc Sán Dìu còn có những truyện kể mang tính chất huyền thoại Nội dung các cốt truyện đều phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, giữa người giàu
và người nghèo Kết cục câu chuyện thường nói lên nguyện vọng của quần chúng nhân dân Đó là những người nghèo, cái thiện và cái tốt bao giờ cũng chiến thắng
Cũng giống như nhiều truyện côt tích của các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, trong cộng đồng người Sán Dìu cũng lưu truyền những câu chuyện nhằm răn dạy con người sống tình nghĩa, tránh xa cái xấu, cái độc ác Và truyện Vua Cóc của dân tộc Sán Dìu là một ví dụ Một câu chuyện có tính chất huyền thoại
đã được người Sán Dìu lưu truyền từ đời này sang đời khác nhằm chê bai sự dối trá và khuyên răn con người nên ăn ở có đức hạnh, chỉ làm việc thiện, không làm điều ác thì đời sau con cháu sẽ được hưởng phúc lành
Truyện kể rằng: Có một người họ Trương làm quan tri huyện, thụ ở Trân Châu kết hôn với một người có tên là Nàng Ba ở cùng huyện Vợ chồng lấy nhau trên 10 năm mà chưa có con nên hằng ngày hai ông bà chú tâm làm việc thiện và chăm chỉ thắp hương cầu Phật Sau ba năm ba tháng thì người vợ có thai và sinh ra một con cóc Nàng Ba cho là điềm quái gở định đánh chết cóc nhưng khi nghĩ lại thì thấy không đành tâm Cóc thường ở sau vườn, khi đói lại trở về bú mẹ
Sau một thời gian dài đi làm quan, quan tri huyện trở về thăm vợ và cũng là để được xem mặt con Nàng Ba dẫn chồng ra vườn, con cóc nhảy lên người khiến ông sợ hãi Hai vợ chồng mang nặng một nỗi sầu…
Trang 20Khi trong nước loạn lạc, vua treo bảng ở triều đình báo loạn và tìm người diệt giặc Man Di giữ nền thái bình cho đất nước Một hôm Cóc cùng cha
ra ngoài phố, thấy bảng vua treo trước cửa triều đình liền nhảy lên ngậm bảng mang về Thấy vậy, hai vợ chồng rất hoang mang bèn gọi cóc ra mắng: Không phải là người sao dám làm việc đó Nếu không dẹp được loạn sẽ mắc tội với triều đình Cóc bày tỏ lòng mình và quyết tâm xin đi đánh giặc Vua cho thẩm vấn người lĩnh bảng Sau ba ngày tướng sĩ trong triều nổi chiêng trống nghênh đón người lĩnh bảng đến Man Man Tới triều đình, bị tướng quân mắng, Cóc liền nhảy đến trước mặt vua xin được đi đánh giặc Cóc chỉ xin vua cho một con ngựa lớn, một lá cờ hồng, hai chiếc côn dài và 100 quân Sau đó Cóc nhảy lên lưng ngựa phóng đi Tới đất Man Man, Cóc ở trên lưng ngựa cao giọng quát quân Man Di Quân Man Di rất coi thường Cóc sai quân tướng bắt cóc lột
da Cóc ngồi trên mình ngựa đầu bốc lửa, lá cờ phần phật tung bay phát ra lửa khói thiêu trụi quân Man Di
Dẹp xong giặc Man Di, Cóc trở lại đất đế vương trình tấu công trạng với vua Vua ban cho ba trăm gánh bạc để Cóc trở nuôi mẹ nhưng Cóc không nhận Cóc trình với vua rằng, trước khi đi dẹp giặc Man Di, vua đã nói sẽ gả công chúa cho ai dẹp được loạn nay phải giữ lời hứa của mình Vua không muốn gả con gái cho chàng Cóc liền nghĩ ra một kế để trì hoãn Nhà vua cho gọi ba nghìn cô gái ăn mặc giống hệt nhau đến để nhận vợ Đến canh ba, chàng Cóc được thần linh báo mộng rằng công chúa là cô gái thứ sáu Tối đến, khi hai vợ chồng lên giường ngủ, trong lòng công chúa lo lắng lạ lùng Cho tới canh năm, khi mở mắt ra, công chúa thấy tấm da cóc bị trút bỏ, bên mình là một bậc quan lang Trời vừa sáng, công chúa vội trở về báo với vua cha rằng chàng Cóc thực là đấng trai tài, bậc quân nhân và trình lên vua cha tấm da cóc vàng Vua thấy tấm da cóc vàng đẹp đẽ liền mặc vào song không thể nào cởi ra được Các quan trong triều thấy quái tinh liền đem đao kiếm
Trang 21giết chết cóc và chàng Cóc được lên làm vua Nhân dân trăm họ từ đây được hưởng thái bình
Cũng còn có một dị bản khác nói về vua Cóc, dị bản này gắn liền với tộc người Sán Dìu Có một số chi tiết khác đó là: bố mẹ chàng Cóc là nông dân, họ lấy nhau hai mươi năm rồi chưa có con Sau sinh ra một con cóc Diễn biến tiếp theo như câu chuyện trên song kết thúc có sự khác biệt: Tên vua tham tàn nhìn thấy tấm da cóc đẹp tựa cẩm bào liền khoác thử tấm da đó vào người Trong nháy mắt vua đã biến thành con cóc xấu xí Thấy vua cóc như vậy, nhiều người định chém chết nhưng công chúa thương cha đã đem cóc quẳng vào gậm giường Thoát chết nhưng từ đó mỗi khi trái nắng trở trời, vua cóc phải nghiến răng kèn kẹt để báo cho thiên hạ biết rằng sắp có mưa, có gió [53, tr 15 - 19]
Ngoài ra, truyện kể của dân tộc Sán Dìu có một quyển truyện thơ
nguyên bản chữ Hán có tên là Vũ Nhi thư cộng đồng thiềm thừ vương (chuyện
kể về Vũ Nhi) Đây là truyện thơ nguyên bản chữ Hán dài hơn 800 câu, mỗi câu có 7 chữ Truyện Vũ Nhi nói về cảnh dì ghẻ, con chồng, sự độc ác dã man của người dì ghẻ Tuy nhiên, truyện thơ này cũng cho biết thêm về sự hình thành một gia đình, một dòng tộc Cốt truyện đã nhiều lần nhắc tới các địa danh như Tân Châu, Lịch Sơn, hà Nam đêu là những địa danh Trung quốc ngày nay Mở đầu tập truyện thơ có đoạn nói rằng:
Từ ngày Bàn Cổ chia rời đất Triều đinh phân chia việc vua tôi Gia đình trú ở huyện Tân Châu
Họ Vũ sống ở ngõ Đại Bình Lấy vợ làm dâu nhà họ Trương Chèo thuyền đi tới đất Hà Nam
Đi tới Tân Châu nơi đất tổ
Trang 22[Ngô Xuân Trụ, Nguyễn Xuân Cần, 53, tr 14]
Nội dung truyện thơ Vũ Nhi thư cộng đồng thiềm thù vương như sau:
Có một gia đình họ Vũ ở huyện Tân Châu lấy một người họ Trương được mười lăm tháng thì sinh ra một cháu bé đặt tên là Vũ Nhi Khi Vũ Nhi lên 9 tuổi thì mẹ bị bệnh nặng và qua đời Cha Vũ Nhi lấy người vợ kế họ Dương
để lo việc nhà Người mẹ kế này lòng đầy ác tâm, đã đánh đập Vũ Nhi thật cơ cực Vũ Nhi không được ăn no mặc ấm lại phải trông một lũ em Một hôm cha Vũ Nhi có việc phải đi xa, mẹ ghẻ liền nghĩ kế đày Vũ Nhi Dì ghẻ sai Vũ Nhi trèo lên cây lấy quất Lấy được quả rồi, dì ghẻ cho người gánh quả đi và lấy dây quấn quanh gốc cây Khi Vũ Nhi xuống được thì bị gai cào chảy máu đầy người Hàng xóm nhìn thấy đều lấy làm kinh sợ vì sự ác tâm của người dì ghẻ và thay nhau thuốc thang cho Vũ Nhi Lần thứ hai dì ghẻ lại sai Vũ Nhi xuống nhà kho lấy thóc rồi châm lửa đốt nhà kho nhằm thiêu cháy Vũ Nhi
Vũ Nhi bèn vái lạy trời đất Bỗng nhiên mưa gió đổ về dập tắt ngay ngọn lửa hung tàn Lần thứ ba dì ghẻ sát hại Vũ Nhi rồi đem chôn ở cách đó năm dặm Ngọc Hoàng liền sai tôn y tiên nhân xuống cứu Vũ Nhi Một lần khác, dì ghẻ lại sai Vũ Nhi đi gánh nước ở một giếng cổ sau vườn về tắm Khi đi gánh nước, dì ghẻ nói rằng có 35 quan tiền ở dưới giếng và sai Vũ Nhi xuống đó vót lên vừa xuống dưới giếng, dì ghẻ liền vần đá lấp giếng.Vũ Nhi lại vái lạy trời đất à được thổ địa sai năm con rồng xuống cứu Vũ Nhi thoát chết
Thấy dã tâm độc ác của dì ghẻ, đêm hôm đó Vũ Nhi đi lang thang xin
ăn rồi được nhận vào làm người ở cho nhà phú ông Hằng ngày, Vũ Nhi đi chăn trâu và eo lần đã lên tới tận Hồ Nam Thấy nơi đây đất đai phì nhiêu nhưng lại bị bỏ hoang không có người cày cấy liền về xin với phú ông ở hết
ba năm rồi bái biệt để về Lịch Sơn làm ruộng Hằng ngày, Vũ Nhi làm việc chăm chỉ và lại được sơn thần, thổ địa đến giúp sức nên thóc lúa đầy kho
Trang 23Một hôm, nghĩ đến người cha cao tuổi không biết sống chết ra sao Vũ Nhi bèn quyết định về quê cha đất tổ Thấy Tân Châu gặp hạn không có lúa gạo, Vũ Nhi lại trở về Lịch Sơn xay lúa gạo rồi thuê thuyền mang về Tân Châu bán để dò la tin tức gia đình Mụ dì ghẻ cũng tới mua gạo liền được Vũ Nhi cấp cho mà không lấy tiền Về nhà, dì nói lại với cha Vũ Nhi chuyện đó Người cha sinh nghi bèn bảo em dắt đến nơi có người bán gạo để xem sự tình
Đến nơi, cha con gặp nhau mừng mừng tủi tủi Thấy cha bị đau mắt,
Vũ Nhi mua thuốc về chữa khỏi cho cha Vũ Nhi lại đưa cha và em trở lại Lịch Sơn Dì ghẻ khóc lóc xin được đi cùng nhưng Vũ Nhi không cho đi theo
mà chỉ cấp cho lương thực để ăn
Khi ấy vua Vĩnh Hoàng có bệnh nặng liền treo bảng ở Ngũ triều môn tìm ngự y trị bệnh Bảng treo đã nhiều ngày mà không có người đến chữa trị Vua mất đi mà không có người thay để trị vì thiên hạ Lúc đó một quẻ bói cho hay rằng, trong đất Lịch Sơn có một ông vua "thân cao chín tấc, vai năm thước,, liền cho chúng thần mang xe ngựa, trống dong cờ mở đến đón vua về Khi đoàn tới đất Lịch Sơn, Vũ Nhi nhìn thấy đâm lo sợ tưởng rằng số người này đến chiếm đất của mình Lúc đó quan quân trình bày sự việc rằng nếu không có người lên làm chủ nước thì loạn lạc khắp nơi rồi bái lạy và mời Vũ Nhi lên trị vì thiên hạ Sau khi lên làm vua, di ghẻ được Vũ Nhi mời vào chơi trong cung điện Không từ bỏ dã tâm độc ác của mình, dì ghẻ lại bày ra kế độc hòng sát hại Vũ Nhi Trong tiết Thanh Minh, dì ghẻ bảo Vũ Nhi về đắp lại mộ đường với mưu đó sát hại nhà vua Nhưng trời không dung túng cho kẻ ác đã sai thần Sấm xuống trần gian và Ngũ Lôi đã đánh chết người dì ghẻ độc ác [53, tr 151- l54] Qua câu chuyện này có thể thấy rằng, nội dung của truyện nhằm răn dạy đạo đức cho các thành viên trong cộng đồng Cái thiện bao giờ cũng chiến thắng, và tội ác phải bị trừng phạt Ngoài ra, trong loại hình văn hoá của người Sán Dìu còn có một thể loại nữa là đố chữ Đây cũng chính là
Trang 24một nội dung khá độc đáo, mang tính chất văn hoá đặc sắc trong sinh hoạt văn hoá dân gian của người Sán Dìu Chẳng hạn đố chữ Hương:
Thiên tự vô thành thiên Bát tự bài lưỡng biên Nhật hữu tại hoà hạ Quái tại phật diên tiền Dịch:
Chữ Thiên không phải thiên Chữ bát bày hai bên
Nhật có ở dưới thóc Quẻ ở trước mặt phật Hoặc đố câu: Phúc như đông hải Nhất nhân nhất khẩu tại điền điện Nhị nhân điền biên nhất thành ngân Đại mật đả đòng điền trung quá
Nữ mẫu trú tại giang thủy tiên Dịch:
Một người một miệng trên mặt ruộng Hai người bên đồng chẳng thành dải Cây to đem đánh qua trong ruộng
Mẹ con ở lại bên sông nước
[ 53, tr.155 và l57]
Ngoài đố chữ /trong cộng đồng người Sán Dìu còn lưu truyền những câu tục ngữ Tục ngữ của người Sán Dìu cũng phản ánh mọi mặt của đời sống
xã hội và khái quát cô đọng bản chất của các sự vật, hiện tượng Nói về nội
dung và hình thức: Đẹp vỏ không bằng đẹp ruột; sự nôn nóng: Chưa có cánh
Trang 25đã muốn bay; nói về ước muốn hạnh phúc: Trẻ muốn đẹp, già muốn no; sự thông cảm: Gánh nặng mới biết trâu khó nhọc; về ơn đức sinh thành: Sinh con mới biết cha mẹ khú/ Nuôi on mới biết cụng ơn của bố mẹ; nói về sự đổi thay: Lòng người như dòng nước chảy; nói về sự ngẫm nghĩ, nhận xét: Sự việc ở đời như lá cây trên rừng”
1.4 Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang
1.4.1 Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Việt Nam và các truyền thuyết về Soọng cô
1.4.1.1 Các truyền thuyết về hát Soọng cô
Ở đời thượng cổ, tổ tiên ta không có chữ, không thấy có di tích gì truyền lại Đến thời Bắc thuộc, ta bắt đầu học chữ Hán, nhưng trình độ học tập đương còn thấp kém cho nên bây giờ cũng chưa có tác phẩm gì truyền lại cho đời sau Song những câu tục ngữ ca dao là văn chương truyền khẩu lưu hành ở chốn dân gian thì xuất hiện từ lâu lắm, ta có thể nói rằng ngay từ khi
có tiếng nói thì người ta đã đặt ra những lời có tiết điệu, có vận luật để bày tỏ tính tình và ghi nhớ kinh nghiệm [1, tr 272]
Kho tàng văn học dân gian của Việt Nam rất phong phú và đa dạng, để giữ gìn những truyền thống quý báu của dân tộc, để bảo tồn những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất của các thế hệ người Việt Nam một hình thức văn học dân gian truyền miệng đã ra đời và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác tại Việt Nam Văn học dân gian thường ca ngợi tài năng và lòng dũng cảm của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, trước kẻ thù độc
ác, ca ngợi lòng nhân hậu, độ lượng giúp đỡ nhau, ca ngợi tình yêu trai gái, tình chung thuỷ vợ chồng, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu làng xóm, quê hương Không những thế văn học dân gian Việt Nam còn là vũ khí đấu tranh chống lại những thói hư tật xấu của con người, chống lại những bất công thối
Trang 26nát trong xã hội Bằng ngôn ngữ dân gian giàu hình ảnh, bằng nghệ thuật nhạc điệu sinh động, văn học dân gian Việt Nam đã thấm sâu vào lòng người một cách tự nhiên và rất dễ dàng truyền lại cho đời sau
Soọng cô của người Sán Dìu cũng không tách rời guồng quay đó Soọng cô phát âm theo tiếng của dân tộc Sán Dìu có nghĩa là ca hát Và Soọng cô là lối hát dân ca truyền thống của dân tộc Sán Dìu Về nguồn gốc của hát Soọng cô đến nay cũng chưa thực sự biết chắc chắn song những lời ca dân dã và tình tứ ấy chắc hẳn đã theo đời sống tâm hồn của người Sán Dìu từ bao đời nay
Lý giải về nguồn gốc của lối hát Soọng cô, trong dân gian đã truyền tụng câu chuyện: Ngày xưa, trong làng có một cô gái rất thông minh và xinh đẹp tên là Lý Tam Mói Cô gái có tài hát đối, thanh niên trong làng chưa có ai thắng được tài ứng đối bằng lời ca tiếng hát của cô Vào một ngày nọ, có ba chàng trai đến làng của cô trên ba con thuyền lớn chở rất nhiều sách vở Không rõ con thuyền ấy đến từ đâu, những chàng trai ấy là người thế nào, chỉ biết rằng vừa đến đầu làng là tìm hỏi thăm đến nhà cô Mói Tình cờ trên đường vào làng, họ gặp một cô gái đang gánh nước trên sông và hỏi thăm đường tới nhà cô gái có biệt tài hát đối Cô gái khẽ mỉm cười và tự nhận mình
là em gái của cô Lý Tam Mói Cô gái hỏi ba chàng trai họ gì và được biết một người họ Lê, một người họ Lý, một người Đào Cô gái ra một câu hát đối và bảo rằng, nếu ba chàng đối lại được thì sẽ chỉ đường cho họ Cô hát rằng:
Leng thao mạo ken thra vắt Fẹng lý mạo kẹng lý va hoi Sẹng lay mạo kẹng lay thèn thi Tam chát cun chi sọi hả loi Dịch
Họ Đào mà không thấy đào nở hoa
Trang 27Hoa mận (họ Lý) mà không thấy hoa mận nở
Đi cày mà không thấy cày ruộng đâu Hỏi ba anh này ở phương nào đến
(Ông Lê Văn Thành, xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ dịch)
Đáng tiếc là các chàng trai dù mang theo thiên kinh vạn quyển cũng không tài nào đối lại được câu hát của cô gái Họ thất vọng, buồn bã quay trở
về Song cũng từ ngày đó, cô Mói cũng ngày đêm âu sầu vì luyến tiếc đã không mời ba chàng trai vào làng chơi Ngày ngày cô tha thẩn bên bờ sông, cất lên những lời hát với âm thanh da diết, ngọt ngào và khắc khoải Lời hát của
cô không biết có bay đến tận nơi các chàng trai kia đang sống hay không nhưng
đã đi vào tâm khảm của những người dân làng ấy Họ cũng đã bắt đầu thuộc từng lời hát, từng làn điệu, lưu truyền cho nhau từ đời này qua đời khác Và Soọng cô đã trở nên quen thuộc trong đời sống tinh thần người Sán Dìu từ đó
Theo truyền thuyết Truyện quả bầu nói về nguồn gốc của dân tộc Sán
Dìu: Thuở xa xưa trời đất gần nhau, có một làng quê đông đúc trù phú soi bóng xuống dòng sông thơ mộng Bỗng một hôm ông trời nổi giận, cho nước sông dâng cao làm chết hết muôn loài Trong làng có hai chị em, họ nhanh chân chui vào quả bầu khô nổi lên theo nước nên sống sót Khi nước rút, họ liền lấy nhau, sinh nhiều con cháu làm cho người Sán Dìu hồi sinh trở lại Tuy làng đông người nhưng toàn con cháu cùng huyết thống nên không thể lấy nhau nên phải sang làng khác tìm hiểu Để bạn tình ở làng bên rung động, họ dùng tiếng hát
để diễn tả lòng mình Soọng cô ra đời từ đó và tồn tại cho đến ngày nay
Còn về số lượng bài hát Soọng còn tồn tại cho đến ngày nay, người nghiên cứu cũng đã gặp ông Đặng An ở xóm Cầu Đất, xã Nam Hoà, huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) hỏi về số lượng bài Soọng cô của dân tộc Sán Dìu còn được lưư truyền đến bây giờ Ông đã trả lời bằng một câu chuyện: “Ngày
Trang 28xưa, có ba anh đi trên ba thanh niên đi trên 3 chiếc thuyền lớn Khi đến bến thì hỏi thăm: “nhà cô tiên ở chỗ nào?” Cô tiên hỏi: “các anh ở đâu về?hỏi cô
ấy làm gì?” Một trong số 3 chàng trai trả lời: “Chúng tôi hỏi để hát ví với nhau” Cô tiên lại hỏi: “Thế các anh họ tên gì?” Ba anh thì có 3 tên khác nhau nhưng mà các anh này có họ Đào, họ Lý, họ Cày Cô tiên bảo: “Em hỏi câu này nếu các anh hát đối được thì em sẽ dẫn đi tìm cô ấy”:
Leng thao mạo ken thra vắt Fẹng lý mạo kẹng lý va hoi Sẹng lay mạo kẹng lay thèn thi Tam chát cun chi sọi hả loi
Ba anh lật hết cả 3 thuyền sách nhưng không có bài hát nào đối lại được liền đổ cả 3 thuyền sách xuống sông rồi ra về Lúc này cô tiên mới thấy hối tiếc liền lấy đòn gánh khoắng lên tìm được một thuyền sách Vì thế người Sán Dìu mới còn có những bài Soọng cô được lưu truyền cho đến ngày nay
Còn theo ông Lê Văn Thành, nghệ nhân ở Tam Thái, Hoá Thượng, Đồng Hỷ thì: Khi ba chàng trai đổ hết thuyền sách xuống sông, cô lấy đòn gánh vớt được một quyển ở gần Cô ấy dạy lại cho thanh niên trong làng: Con trai không biết hát thì nhìn sách hát, con gái không biết hát thì tự mình sáng tác ra cho nên trong 44 bài giang hồ (như đã nêu ở trên) thì sẽ có một bài trả lời được mã khoá của bài hát
1.4.1.2 Hình thức lưu truyền
Trong VHDG, phương thức sáng tác và tồn tại bằng truyền miệng là phương thức chủ yếu và trong những giai đoạn lịch sử nhất định, là phương thức duy nhất của VHDG Trong điều kiện một bộ tộc, một thị tộc, một dân tộc chưa có chữ viết thì VHDG của thị tộc, bộ tộc, dân tộc đó không thể có một phương thức sáng tác và tồn tại nào khác ngoài phương thức truyền miệng Trong điều kiện một dân tộc đã có chữ viết nhưng giai cấp đó nắm
Trang 29những tư liệu tinh thần, lại là giai cấp thống trị- giai cấp nắm giữ những tư liệu sản xuất vật chất thì phương thức sáng tác và tồn tại của văn học dân gian trong quần chúng lao động cũng chủ yếu là phương thức truyền miệng Trong điều kiện xã hội không giai cấp trong đó quần chúng nhân dân được nắm cả những tư liệu sản xuất vật chất, cả những tư liệu sản xuất tinh thần và không
bị hạn chế trong bất cứ lĩnh vực sáng tác nghệ thuật nào (thành văn và không thành văn, cá nhân và tập thể) thì tuy phương thức truyền miệng không có vai trò đáng kể nhưng xét về cơ sở lịch sử xã hội thì phương thức này cẫn cứ tồn tại với tư cách là một trong những phương thức sáng tạo của hoạt động nghệ thuật không chuyên, phương thức này gắn liền với một hình thức trong đó hoạt động nghệ thuật và hoạt động thực tiễn không tách rời nhau Và trong điều kiện dân tộc đã có chữ viết, ngoài phương thức truyền miệng, VHDG vẫn còn được tồn tại, truyền bá và cả sáng tác bằng phương thức thành văn
Ở văn học dân gian, người kể và người nghe giao lưu trao đổi trực tiếp với nhau trong một môi trường sinh hoạt chung Người kể vừa là người truyền đạt, diễn xướng tác phẩm có sẵn, vừa là đồng tác giả, là người tham gia sáng tạo tiếp (hoặc sáng tạo lại) Người nghe vừa là người thưởng thức, vừa là người tham gia vào quá trình biểu diễn và sáng tạo tiếp tục ấy Trong điều kiện ấy người kể và người nghe gần gũi, đồng cảm với nhau hơn, đồng thời cũng tự do hơn, tích cực và chủ động hơn trong sự diễn đạt, lĩnh hội và tham gia sáng tạo Đó cũng là điều kiện khiến cho tác phẩm văn học dân gian có thể ngắn, truyện cổ tích có thể không được kể đầy đủ tỉ mỉ, chi tiết mà người nghe
cũng có thể lĩnh hội được tốt [17, tr 80]
Dân ca trữ tình là một khái niệm rộng được dùng để chỉ tất cả những hình thức dân ca hình thành, tồn tại và phát triển chủ yếu do nhu cầu bộc lộ tâm tư, tình cảm, khát vọng của nhân dân (các chức năng khác nếu có đều chỉ
là thứ yếu) như hát cò lả, trống quân, dân ca quan họ, các điệu lý, và nhiều loại dân ca giao duyên khác
Trang 30Nếu coi toàn bộ dân ca của dân tộc như một dòng sông liên tục và thống nhất thì dòng sông ấy rất dài và ngày càng mở rộng với nhiều chi lưu chính phụ, lớn nhỏ khác nhau Dòng sông này bắt nguồn từ thời thượng cổ, thượng lưu của nólà các loại dân ca ra đời và phát triển sớm (như dân ca lao động, dân
ca nghi lễ…) Còn trung lưu và hạ lưu của nó chính là các loại dân ca sinh thành và phát triển sau, trong đó đại bộ phận là các loại dân ca trữ tình
Trong dân ca trữ tình, bộ phận phát triển mạnh mẽ, rộng khắp nhất là đối ca nam nữ bao gồm nhiều dạng thức, làn điệu với những tên gọi khác nhau (như hát ghẹo, hát giao duyên, hát huê tình…)
Nguồn gốc của dân ca trữ tình nói chung và bộ phận hát giao duyên nam nữ nói riêng có thể có từ xa xưa (gắn chặt với dân ca lao động, nghi lễ…) Nhưng căn cứ vào những tư liệu sưu tầm dân ca, ca dao đã biết thì hầu như toàn bộ phần lời ca còn lại của các loại dân ca trữ tình nói chung cũng như toàn bộ phận hát giao duyên nói riêng của người Việt đều chủ yếu là sản
phẩm của các thế kỷ gần đây (thế kỷ XVII, XVIII, XIX, và đầu XX) [tr178]
1.4.1.3 Hình thức diễn xướng
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) đã định nghĩa diễn xướng một
cách ngắn gọn là “Trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu”, [44 tr 85]
Sinh hoạt ca hát dân gian gắn bó chặt chẽ với đời sống dân gian, là cơ sở quan trọng hình thành nên diễn xướng ca dao - diễn xướng một bộ phận thơ ca dân gian đậm chất trữ tình trong kho tàng thơ ca dân tộc [45] Trong VHDG, thành phần ngôn ngữ có một vị trí quan trọng nếu không nói là chủ yếu nhất
là giai đoạn lịch sử phát triển sau này của VHDG Song không thể có được một quan niệm đầy đủ về bản chất thẩm mỹ của VHDG nếu không chú ý tới vai trò của các phương tiện nghệ thuật khác trong việc thể hiện nội dung tác phẩm từ những phương tiện thể hiện thô sơ nhất như âm sắc của giọng điệu,
Trang 31cử chỉ, lời nói, nét mặt của người diễn xướng đã trở thành những biện pháp nghệ thuật đúng với ý nghĩa của nó như nhịp điệu và âm điệu, phong cách diễn xuất Có thể so sánh với nghệ thuật sân khấu dân gian như chèo, hẳn đó
là điều hiển nhiên bởi nó cung giống với mọi hình thức nghệ thuật tổng hợp chuyên nghiệp khác Không khó nhận thấy nếu đó không phải là thứ văn học dân gian đã được cố định hoá, vật chất hoá bằng văn tự trên các trang sách in hoặc viết tay, mà là thứ VHDG đang sống một cuộc sống sinh động của nó trong những môi trường sinh hoạt khác nhau của nhân dân
Trong sinh hoạt văn hóa dân gian có một bộ phận quan trọng là sinh hoạt
ca hát Sinh hoạt ca hát dân gian có thể bao gồm cả việc diễn xướng những tác phẩm tự sự, như tác phẩm thuộc thể loại sử thi, truyện cổ tích Song, nói đến sinh hoạt ca hát dân gian, người ta thường hay nghĩ đến việc diễn xướng ca dao, dân
ca Trong ca dao, dân ca, không phải không có những tác phẩm tự sự nhưng đa
số đó là tác phẩm trữ tình và trong sinh hoạt ca hát dân gian, càng về sau này, tác phẩm trữ tình càng chiếm đa số [24, tr 410]
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn học dân gian, tuy nhiên theo PGS - TS Vũ Anh Tuấn thì văn học dân gian là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng theo phương thức tập thể nhiều đời chọn lọc và gọt giũa của nhân dân, là một thành tổ hợp thành chỉnh thể văn hoá dân gian có tính nguyên hợp [29] Tác phẩm VHDG là kết quả của một quá trình sáng tạo tập thể, trong đó một người tham gia vào quá trình là một cá nhân sáng tạo Song bởi VHDG không phải là hiện tượng duy nhất của sự sáng tạo tập thể trong lĩnh vực sản xuất tinh thần nói chung và trong hoạt động sáng tác nghệ thuật nói riêng
Diễn xướng là tổng thể các phương thức nghệ thuật, cùng thể hiện đồng nhất giữa ca hát và hành động của con người theo chiều thẩm mỹ Dân
ca Việt Nam biểu hiện theo lối diễn xướng, điều này lý giải tại sao lời ca biểu
Trang 32đạt giá trị lớn lao về thế giới quan, nhân sinh quan và mang nhiều hàm nghĩa khác nhau Trong quá trình điền dã, các nhà âm nhạc học đã sưu tầm, ghi âm làn điệu, kiểu hát Cách thâm nhập sâu, tiếp cận nội dung theo quy trình, trật
tự diễn biến cuộc hát chính là phương pháp nghiên cứu diễn xướng dân gian,
điển hình như GS-TSKH Tô Ngọc Thanh, PGS Tú Ngọc, PGS-TS Nguyễn Thụy Loan, Nhạc sĩ Hồng Thao Không chỉ ghi chép lại giai điệu, lời ca, hầu hết các nhà sưu tầm đều mô tả chi tiết cách tổ chức canh hát, thời gian, địa điểm hát… nhằm sáng tỏ nguồn cội hình thành và giá trị nghệ thuật dân ca Một đặc điểm nổi bật đó là lối truyền khẩu, nhập tâm làn điệu trong đời sống dân gian [48]
Cứ như vậy, dân ca được truyền từ đời này sang đời khác Theo thời gian, làn điệu được cộng đồng điều chỉnh, nâng cao, tạo nên những biến điệu tinh tế, đặc sắc hơn Như vậy, diễn xướng dân gian làm liền mạch làn điệu dân ca, tổng hòa nhiều thành tố: giai điệu, lời ca, lối hát, môi trường xung quanh và đóng vai trò đồng nhất giữa hát và hành động diễn Bằng phương thức diễn xướng, đời sống nghệ thuật dân gian truyền thống tiếp nối không ngừng Khởi sinh cách đây hàng ngàn năm, dân ca mãi mãi trường tồn, bởi tất
cả thế hệ người Việt Nam đều ý thức trao lại cho muôn đời sau những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc văn hóa, tượng trưng cho giá trị tinh thần, tính cách dân tộc Việt Nam
Mỗi một dân tộc lại mang một làn điệu đặc trưng riêng cho dân tộc mình Hát Then có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Tày, trong lễ cấp sắc của người Tày, lễ cầu an đầu năm, lễ chúc thọ cha mẹ, ông bà Then là một hình thức cơ bản để phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân Tuy nhiên trong Then còn nhiều nội dung phê phán thói hư tật xấu trong xã hội, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của con người thông qua nghệ
Trang 33thuật sắp xếp ca từ Then khắc hoạ nên những nhân vật tương phản như: Trai đần - gái giỏi, Gái lười - trai chăm… với ý nghĩa răn dạy, giáo dục người đời
Như vậy, soọng cô mang khá nhiều đặc điểm khác với hát Then của dân tộc Tày Các hình thức trong Then đa dạng, có âm thanh, nhạc cụ, để tạo nên cái độc đáo, đặc trưng riêng của văn hoá người Tày
Hát Sli của dân tộc Nùng là một hình thức hát thơ Đây là một thể loại trữ tình dùng trong các ngày hội, ngày chợ, ngày cưới hay ngày vào nhà mới Cũng mang những đặc điểm giống hát Soọng cô, hát Sli cũng được coi như tiếng hát giao duyên Tuy nhiên hát sli lại thể hiện sự ứng đối tài hoa của mỗi người với những lời Sli ví von, bóng bẩy, tinh nghịch… Riêng với Sli giao duyên thường do một đôi trai gái hoặc một vài đôi trai gái thể hiện theo lối đối đáp Bao giờ cũng có người đứng ra sli trước (kiểu mời gọi lĩnh xướng) Người hát trước thường là người có giọng vang trong và phải có khả năng ứng đối, khéo léo, tài tình và nhanh nhạy Khi bên này vừa ngừng tiếng sli thì bên kia cũng phải có người nhanh chóng cắt Sli để đáp lại Lời Sli không chỉ bao hàm một nội dung mà còn thể hiện các khía cạnh trong đời sống xã hội như các hiện tượng tự nhiên, các mốc thời gian sự kiện nhân vật…
Làn điệu Soọng cô là đặc trưng văn hoá của dân tộc Sán Dìu, thì với người Tày, hát Then cũng là một hình thức sinh hoạt tâm linh văn hoá tinh thần không thể thiếu Then là một hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Tày, ra đời và gắn bó với sự hình thành và phát triển của dân tộc Tày, phản ánh xã hội người Tày Khác với Soọng cô, Then là sự tích hợp những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng của dân tộc Tày tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi trường diễn xướng mang đậm bản sắc dân tộc thông qua các thể loại độc tấu, song tấu, hồn tấu cùng với cây đàn tính
Có thể nói, người Sán Dìu say sưa hát Soọng cô, hát những lời ca mộc mạc bằng lời thơ trữ tình giàu tính dân tộc với lối ví von tinh tế làm rung
Trang 34động lòng người Nét độc đáo của Soọng cô là người sáng tác nên những làn điệu này chính là những người nông dân tưởng chừng như chỉ quen với một nắng hai sương nhưng trong họ chứa đựng một tâm hồn lãng mạn
1.4.2 Hát Soọng cô của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang
1.4.2.1 Lề lối hát
Văn hoá phi vật thể của người Sán Dìu có loại hinh sinh hoạt văn hóa đặc trưng nhất đó là Soọng cô Đây là hình thức hát đối đáp giao duyên của thanh niên nam nữ trong những ngày lễ tết, hoặc lúc nông nhàn, hát trong đám cưới và trong các cuộc vui Soọng cô được hát theo sách có bài bản sẵn Người đi hát phải thuộc sách hát Họ dẫn câu hát trong sách ra để hát đố Người đáp cũng nhờ thuộc sách màn trích ra những câu hợp cảnh, hợp tình để
hát đáp những câu hỏi Mỗi đêm hát đều có các bước: Chập tối hát giọng:
mời ngồi xuống chiều, mời nước, mời trầu Nửa đêm là hát hỏi: Hỏi về quê quán, gia sự, hát thăm dò tìm hiểu nghề nghiệp, ý nguyện của nhau… Canh
ba chủ nhà mời ăn lót dạ xôi hoặc chè, cháo Sau đó là hát chào, hát xin về, hát níu giữ nhau Sáng ra thì họ vừa tiễn nhau ra cổng, vừa hát hẹn hò cuộc hát tới Khi hát không được đùa cợt, không vì phục tại, cảm thông, hay yêu
mà tách ra đi tỏ tình riêng Nếu ưng nhau thì gặp nhau sau để rồi lựa đi tìm
ông mai mối (Mu Nhin) mối manh cho mình Các cặp vợ chồng sau đó coi
ông bà Mu Nhin như cha mẹ đẻ, sống tết, giỗ chết Khi ông bà Mu Nhin qua đời, cặp vợ chồng phải có một con lợn đến làm ma
Soọng cô có nguyên tắc riêng như lề lối hát và cách thức hát Soọng cô
là lối hát dân gian Với hai dạng thức: hát giao duyên gắn với đời sống sinh
hoạt, lao động sản xuất (Hị soon soọng cô) và hát đối đáp trong lễ hội, lễ cưới (Sênh ca chíu soọng cô) Ở dạng thức thứ nhất, nội dung hát vừa để tìm hiểu,
có khi để trổ tài, nếu hát trong nhà thì phải hát theo trình tự, còn khi hát ngoài trời có thể ứng tác lời ca phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Ở dạng thức này, đòi hỏi người hát phải nhanh trí, thông minh, tài ứng khẩu, giỏi đặt lời mới cho
Trang 35các bài ca Còn ở dạng thức thứ hai phải hát theo bài bản, giai điệu bắt buộc, đồng thời đòi hỏi người hát phải am hiểu phong tục tập quán và thuộc nhiều bài hát có sẵn Do đặc điểm hát đối đáp giao duyên theo lối ngẫu hứng nên Soọng cô không có nhạc đệm
Hát đối đáp theo giọng ví kể lể gọi là hát cộc Hát đám cưới thường là hát du Giọng du dài Nếu một từ hát cộc kể ra rồi bắt ngay sang từ khác nhưng hát du thì du đi du lại ngân nga luyến láy điệp khúc kéo dài dến dăm bảy lần hát cộc Soọng cô trong đám cưới thường do các cặp nam giới đối đáp nhau: nhà trai cử hai anh, nhà gái cử hai anh Hát giọng du thì song ca, hát cộc thì đơn ca
Vào đầu năm mới, họ cũng có những bài Soọng: hát mừng năm mới
(Soọng cô xin sun); hát trong tiết xuân (Soọng cô sun then); hát khi gặp nhau
ở giếng làng (Soọng cô tam xíu lu); hát khi đi cấy, hát trên thác nước, đắp
mương, hát dạo chơi, ngắm cảnh (Soọng cô cao shan cón xúi) hay phê phán
những thói hư, tật xấu…
Thường thì cứ vào dịp tháng Giêng, tháng Hai và tháng Bảy tháng Tám, khi mùa màng đã cơ bản hoàn thành, các cụ ông cụ bà, các chàng trai cô gái người dân tộc Sán Dìu thường tổ chức đi chơi làng (đi sang làng khác hát) Hội thường có từ 4 đến 5 người, có lúc đến 20 người, có khi đông đến vài chục người Hội hát diễn ra từ một đến hai ba đêm ở một gia đình, có khi
10 đến 11 ngày liền Hiện nay nét sinh hoạt văn hoá này khi đã bị mai một nhưng bà con cũng vẫn tổ chức những buổi giao lưu văn nghệ Các buổi hát này thường kéo dài từ một đến hai ngày
Nam nữ thanh niên các làng trong vùng, có khi ở các làng xa như ở Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Bắc Giang, Thái Nguyên đến thăm làng và thăm nhà nhau với mục đích chính là hát giao duyên Mỗi cuộc đi như vậy thường có một nhóm từ 2 đến 10 người, do một phụ nữ hoặc một nam giới đứng tuổi
Trang 36thông thạo phong tục tập quán và thuộc nhiều bài hát dẫn đầu Nếu đoàn khách hát là nam thì chủ nhà phải là nữ và ngược lại Hát đối đáp trong hội xuân thì diễn ra ban ngày, còn hát theo lối ứng tác, lối hát trong nhà được diễn
ra vào buổi tối đến thâu đêm Các bài hát phải theo trình tự nhất định từ bài
mở đầu đến bài chia tay Hát Soọng cô trong nhà buổi tối là chủ yếu nhất trong hát giao duyên, là lối sinh hoạt cộng đồng mang bản sắc văn hoá riêng của người Sán Dìu Mỗi cuộc hát thường diễn ra một hoặc hai, ba đêm với các chủ đề hết sức phong phú, mỗi chủ đề có từ 12 đến 18 bài hát khác nhau Do được hẹn trước, khi được tin khách đến hát, mọi người trong làng, nhất là nam nữ thanh niên đều phấn khởi vui mừng Chủ gia đình được chọn đón khách đến xin phép bố mẹ cô gái được chọn hát và chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc hát thành công Các cô gái chủ làng đội khăn mới, mặc bộ váy áo mới và đeo đồ trang sức đẹp nhất, bưng trầu nước mời chủ nhà và người dẫn đầu đoàn khách
Trong các nhóm hát có các thế hệ tuổi từ 14, 15, 16, 17 trở lên, lớp trẻ thường đi theo các anh, các chị đi hát và họ đã học thuộc được rất nhiều bài Soọng cô được hát theo thể kể thơ thất ngôn với giai điệu chậm rãi, ngân nga Soọng cô được hát theo thể thức đối xứng: hai nam, hai nữ Nội dung hát đối theo cùng một làn điệu nhưng đối lời nhau Một bên ra về đối, bên kia đối lại được thì coi như hoà Trong cuộc hát, vai trò của những người lớn tuổi, có kinh nghiệm hết sức quan trọng bởi họ tư vấn những bài hát cho những người ứng xử nhanh nhạy trong đối đáp, hoặc đưa ra những bài hát ứng tác tại chỗ Trong cuộc chơi, người thắng thì phấn chấn, còn người thua thì âm thầm học hỏi, rèn luyện để trả bài Cứ thế, các cuộc hát lại được kéo dài theo ngày tháng Ông Lê Văn Thành cho hay: Hát Soọng cô có hai kiểu hát: Một kiểu hát nói và một kiểu hát ngân dài Và đặc biệt khi hát trong đám cưới có những
Trang 37bài hát như bài hát trầu, khi bên nhà trai đến nhà gái thì phải hát đọc bài này Bài này đọc cũng mất khoảng 30 phút
Những người am hiểu Soọng cô cho biết, quy định trong Soọng cô của
dân tộc Sán Dìu là bài hát mở đầu cho cuộc hát là bài: Phát cô thói
Shòn shọng phú thòi shúi diu hoi Thệnh vùn háo ngại dịp son thòi Cui ca thệnh vùn phềnh dịu shót
Sà văn mạo shệch ngọi da loi
để đến đêm thứ năm mới quay về hát bài hát của đêm đầu Vì vậy đòi hỏi người hát phải biết nhiều bài hát và ứng tác giỏi Cũng có những người phải mời người cao tuổi đi cùng để nhắc hoặc mớm lời các bài hát Trong dòng họ được hát giao lưu và người cùng dòng họ không được lấy nhau
Ông Diệp Văn Tài, Chủ nhiệm Câu lạc bộ hát Soọng cô của xóm Tam Thái, xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ cho biết: Điều đặc biệt trong đêm hát
là dù say sưa đến mấy màn khi già làng hát bài Ca trường kết thúc (bởi khi đó trong làng có chuyện buồn, hay muốn kết thúc cuộc hát thì mọi người tự động
giải tán
1.4.2.2 Thời gian
Trang 38Soọng cô của người Sán Dìu là một thể loại Folklore đa thành phần
nghệ thuật và cũng là một sinh hoạt văn nghệ dân gian mang tính chất tập thể
Nó được lưu giữ bằng văn bản, và trong trí nhớ của các bậc cao niên Khi hát Soọng cô, người Sán Dìu không bao giờ trình diễn trước một vài người mà trước đám đông Thời gian diễn xướng là vào những ngày nông nhàn, sau mùa gặt hái, từng tốp thanh niên Sán Dìu đi khắp làng trên, xóm dưới để tìm đám hát Họ gọi những cuộc ấy là đi chơi làng Cuộc hát chủ yếu diễn ra vào ban đêm Người nghe phần lớn ngồi ở ngoài thành từng nhóm bên cạnh những bếp lửa Tất cả đều nghe một cách say sưa, chăm chú Với cách thức diễn xướng ấy, người hát phải có trí nhớ tốt và khả năng sáng tạo thì mới có thể hát đối đáp được Môi trường diễn xướng của Soọng cô là những buổi đi chơi làng và nhiều khi là ở nhà các nghệ nhân Trong sinh hoạt, mặc dù mang tính chất cộng đồng bởi số lượng đông đảo người nghe tạo thêm niềm hưng phấn cho tâm lý và giọng điệu của người hát Ngoài ra còn phải biết cách vận dụng các làn điệu, đặt vần cho các làn điệu, đặt vần cho các câu hát, phân đoạn, phân câu, chọn chỗ lấy hơi, chỗ luyến láy, thêm những hư từ, phụ từ làm cho câu chuyện thêm sinh động, giọng kể không đơn điệu, Do đó, trong
mỗi một nghệ nhân là sự tập hợp của một nhà thơ, một ca sĩ
1.4.2.3 Không gian
Không gian tổ chức buổi hát “không gian là khoảng mênh mông, vô hạn bao trùm vạn vật” Không gian tổ chức buổi hát soọng cô là một không gian đặc biệt Trước đây người Sán Dìu thường tổ chức bên bếp lửa hồng ấm
áp, ở đó những lời ca được cất lên để ngợi ca tình yêu và vẻ đẹp của quê hương Sở dĩ, tổ chức hát soọng cô bên bếp lửa chứ không hát ngoài trời như hát Sli, Lượn của người Tày Nùng bởi Soọng cô mang tính chất giao duyên Việc tổ chức các cuộc hát bên bếp lửa càng làm đậm thêm tình cảm giữa người với người Theo quan niệm của đồng bào, hát bên bếp lửa sẽ được thần
Trang 39Bếp (Chạo Am) phù trợ cho gia đình làm ăn may mắn, mùa màng bội thu Trong khung cảnh này, không khí trở nên thân tình Cứ thế, lời hát cứ nối tiếp nhau, hết bài này đến bài khác cho đến khi trở nên gần nhau hơn Đêm đến họ cùng ăn cơm, uống chén rượu nồng bên bếp lửa của chủ nhà rồi tiếp tục ca hát cho đến khi bình minh thức dậy
Hát Soọng cô là lối hát dân gian hoà quyện vào từng nếp sống sinh hoạt của người Sán Dìu Đó là hình thức sinh hoạt cộng đồng giữa hai bên chủ và khách, nam và nữ, giữa làng nọ với làng kia Môi trường diễn xướng của loại hình dân ca này rất phong phú bởi không gian diễn xướng (trong nhà, ngoài ngõ, bên bếp lửa) Trong các ngày lễ tết, thanh niên nam nữ gặp nhau ở ngoài đường nếu muốn làm quen thì họ bẻ cành lá vứt xuống đường Tốp kia biết ý dừng lại sau đó thì họ cùng hát đối đáp Soọng cô có nhiều bài hát riêng Vào
đầu năm mới với những bài Soọng: Hát mừng năm mới (Soọng cô sin xun); hát trong tiết xuân (Soọng cô sun then); hát khi gặp nhau ở giếng làng
(Soọng cô tam xíu lu); hát khi đi cấy, hát trên thác nước, đắp mương, hát dạo
chơi, ngắm cảnh, hát ngoài đường, hát trong nhà…
Tiểu kết Chương I
Chương viết đã tiến hành tìm hiểu về người Sán Dìu ở Thái Nguyên và
Tuyên Quang về quá trình thiên di của người Sán Dìu Việc tìm hiểu về những đặc điểm lịch sử xã hội, truyền thống văn hoá, chữ viết, tôn giáo và vốn văn nghệ dân gian của người Sán Dìu ở Thái Nguyên và Tuyên Quang Cũng trong chương này, chúng tôi cũng bước đầu giới thiệu và tìm hiểu về loại hình sinh hoạt ca hát dân gian đặc sắc của người Sán Dìu ở Thái Nguyên
và Tuyên Quang, đó là hát Soọng cô Soọng cô xuất hiện từ rất lâu đời, do cộng đồng người Sán Dìu ở nhiều làng quê Việt Nam lưu truyền và sáng tạo
ra Truyền miệng là phương thức chủ yếu, ngoài ra các nghệ nhân dân gian
Trang 40cũng có ý thức ghi chép, sưu tầm và lưu giữ những làn điệu Soọng cô Họ thường hát vào mùa xuân, mùa thu, khi có lễ hội
xử, tập tục, văn nghệ dân gian, lễ hội như: Tết Nhảy của đồng bào Dao Đỏ ở
Tả Phìn, Tả Van (Sa Pa); hội Sải Sán của đồng bào Mông ở Cán Cấu (Si Ma Cai); hội xuống đồng của người Tày (Bắc Hà), lễ hội “Lạn Trượng khai phá Mường Thanh” của dân tộc Thái Đen (T.P Điện Biên Phủ); lễ hội “Gạ ma thú” của dân tộc Hà Nhì, bản A Pa Chải, xã Sín Thầu (huyện Mường Nhé); lễ hội “Dòng họ Giàng” của dân tộc Mông (huyện Tuần Giáo, đặc biệt là lễ hội Ka-tê, một lễ hội mang tính cộng đồng cao, thể hiện rõ phong tục, tập quán, tín ngưỡng mang đậm bản sắc của dân tộc Chăm, lễ hội Sayangva của đồng