Tính đa dạng của loại hình đối tượng địa lí qua các yếu tố trong địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng.... Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của địa danh h
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THUỶ ANH
KHẢO SÁT ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH
TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THUỶ ANH
KHẢO SÁT ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH
TỈNH CAO BẰNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Quang Năng
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hà Quang Năng, người đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên và các thầy
cô giáo đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, và những người cùng chia sẻ, giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành được luận văn này
Cao Bằng, tháng 4 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuỷ Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuỷ Anh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng nghiên cứu 7
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7
7 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 8
8 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH 10
1.1 Khái niệm địa danh 10
1.1.1 Định nghĩa địa danh 10
1.1.2 Địa danh hành chính 13
1.2 Phân loại địa danh 14
1.3 Đặc điểm của địa danh 16
1.3.1 Địa danh là một hệ thống tên gọi đa dạng 16
1.3.2 Địa danh thường diễn ra hiện tượng chuyển hóa 16
1.3.3 Địa danh có phương thức cấu tạo phong phú 17
Trang 61.4 Vấn đề định danh trong địa danh 17
1.5 Các phương diện nghiên cứu địa danh 17
1.6 Một số đặc điểm tự nhiên và xã hội của tỉnh Cao Bằng liên quan đến địa danh 19
1.6.1 Vị trí và lãnh thổ 19
1.6.2 Đặc điểm địa hình 19
1.6.3 Sự phân chia hành chính 20
1.6.4 Đặc điểm về kết cấu dân tộc 21
1.6.5 Đặc điểm về lịch sử 23
Tiểu kết 26
Chương 2: CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH TỈNH CAO BẰNG 27
2.1 Cấu trúc phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 27
2.1.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh 27
2.1.2 Cấu trúc phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 29
2.2 Thành tố chung 30
2.2.1 Khái niệm thành tố chung 30
2.2.2 Thành tố chung trong địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 30
2.3 Địa danh ( tên riêng) 35
2.3.1 Khái niệm địa danh 35
2.3.2 Số lượng yếu tố trong địa danh 36
2.4 Các yếu tố trong địa danh có tần số xuất hiện cao 38
2.5 Đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 40
2.5.1 Địa danh có cấu tạo đơn 40
2.5.2 Địa danh có cấu tạo phức 41
2.6 Các phương thức định danh 44
2.6.1 Khái niệm phương thức định danh 44
2.6.2 Các phương thức định danh của địa danh hành chính
Trang 7tỉnh Cao Bằng 47
2.7 Vài nhận xét về các phương thức định danh của địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 55
2.7.1 Về số lượng yếu tố trong địa danh 56
2.7.2 Về nguồn gốc các địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 56
2.7.3 Về phương thức định danh của các địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 57
Tiểu kết 59
Chương 3: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA- LỊCH SỬ- NGÔN NGỮ CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH TỈNH CAO BẰNG 61
3.1.Khái niệm văn hóa 61
3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 62
3.3 Vài nét về văn hóa tỉnh Cao Bằng 63
3.4 Ý nghĩa của địa danh và hiện thực được phản ánh qua địa danh 65
3.5 Ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng thể hiện qua nguồn gốc ngôn ngữ 68
3.5.1 Các yếu tố rõ ràng về nghĩa 68
3.5.2 Các yếu tố chưa rõ ràng về nghĩa 69
3.6 Tính đa dạng của loại hình đối tượng địa lí qua các yếu tố trong địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 70
3.6.1 Sự thể hiện cách phân chia hành chính 70
3.6.2 Tính đa dạng của các loại hình đối tượng địa lí 71
3.6.3 Bức tranh địa hình mang tính cảnh quan rõ nét 72
3.7 Các dạng tồn tại của văn hóa được thể hiện trong địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 73
3.7.1 Sự thể hiện của văn hóa tín ngưỡng ở địa danh 73
3.7.2 Sự thể hiện các phương diện của văn hóa sinh hoạt ở địa danh 77
3.7.3 Phương diện văn hóa sản xuất thể hiện ở địa danh 83
Trang 83.7.4 Dấu ấn văn hóa, văn học dân gian thể hiện trong địa danh 83
3.8 Một số địa danh hành chính gắn với đời sống lịch sử văn hóa ở Cao Bằng 89
3.8.1.Bản Làng Đền 89
3.8.2 Bản Nà lữ 90
3.8.3 Bản Pác Bó 92
3.8.4 Bản Huyền Du 95
3.8.5 Thị trấn Tĩnh Túc (Mỏ Thiếc) 97
Tiểu kết 99
KẾT LUẬN 102
Những bài báo của tác giả đã được công bố có liên quan đến luận văn 107
Tài liệu tham khảo 108
Trang 9DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT : Số thứ tự
X : Xã
P : Phường
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mô hình phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 29
Bảng 2.2 Đặc điểm cấu tạo của thành tố chung 31
Bảng 2.3 Sự phân bố của thành tố chung khi chuyển hóa thành các yếu tố
trong địa danh hành chính 33
Bảng 2.5 Bảng thống kê các yếu tố có tần số xuất hiện cao 39
Bảng 2.6 Đặc điểm cấu tạo địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng 40
Trang 11MỞ ĐẦU 1- Lí do chọn đề tài
1.1 Mỗi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều được con người đặt cho một cái tên cụ thể để khu biệt nó với những đối tượng khác Đó chính là hệ thống tên riêng Việc nghiên cứu chúng đã hình thành nên một chuyên ngành gọi là danh xưng học Danh xưng học nghiên cứu tên người được gọi là nhân danh học, còn nghiên cứu tên gọi của đối tượng địa lí là địa danh học
1.2 Địa danh học là một ngành khoa học nghiên cứu tên trên các mặt
từ nguyên, tính xã hội, quy luật cấu thành của nó nhằm thiết thực phục vụ cho nhiều ngành khoa học khác
1.3 Địa danh liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hóa, cư dân của một vùng đất nhất định Địa danh lưu giữ những trầm tích lịch sử văn hóa, phong tục tập quán của cư dân vùng đất ấy
1.4 Địa danh có những nguyên tắc riêng trong cấu tạo, trong cách gọi tên Một vùng đất có nhiều tên gọi khác nhau, xuất hiện ở nhiều giai đoạn lịch
sử khác nhau Nghiên cứu địa danh giúp cho việc tìm hiểu lịch sử phát triển của một vùng đất, giúp làm rõ sự ảnh hưởng và sự tác động của các nhân tố bên ngoài vào cách đặt địa danh: đất nước học, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lịch sử tộc người Đặc biệt là địa danh hành chính thường là sản phẩm của một chế độ nhất định Nó được gọi tên bởi những quan điểm, chính sách, ý tưởng của chính quyền hoặc dân chúng đương thời Trong hoàn cảnh một vùng đất có nhiều dân tộc nối tiếp nhau sinh sống, địa danh sẽ mang nhiều dấu tích từ vựng của các ngôn ngữ Mỗi địa danh được hình thành trong một hoàn cảnh văn hóa, lịch sử nhất định Điều đó cũng được thể hiện rõ qua ngôn ngữ nói chung hay tên các địa danh đó nói riêng Có thể nói địa danh đã trở thành “nhân chứng ” nói cho chúng ta biết về quá trình hình thành và tồn tại của văn hóa, lịch sử vùng đất ấy
Trang 121.5 Nghiên cứu hệ thống địa danh ở địa bàn cư trú của dân tộc Kinh sinh sống đã là công việc nên làm, thì vấn đề ngiên cứu địa danh ở các vùng dân tộc thiểu số sinh sống và sử dụng ngôn ngữ của họ để đặt tên địa danh lại càng là một công việc không nên bỏ qua Hệ thống địa danh hành chính ở Cao Bằng chủ yếu được đặt bằng tiếng Tày – Nùng Hiện nay có một thực tế là nhiều người dân biết tiếng Tày - Nùng nhưng cũng không hiểu nghĩa của địa danh trong địa bàn họ cư trú! Đó là trường hợp các địa danh được đặt liên quan đến các tích cổ Điều đó đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu vấn đề này Mặt khác, việc nghiên cứu địa danh hành chính nơi đây còn phần nào tìm hiểu được thêm về ý nghĩa của chúng trong tiếng Tày- Nùng ở Cao Bằng
1.6 Cao Bằng là một trong những tỉnh thuộc vùng đất địa đầu của Tổ quốc, giữ vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt trong lịch sử dân tộc, là cái nôi của cách mạng Việt Nam dưới ngọn cờ của đảng cộng sản Việt Nam, gắn liền với những hoạt động của chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng sôi động khẩn trương chuẩn bị lực lượng tiến hành khởi nghĩa chính quyền trong cả nước Nghiên cứu địa danh Cao Bằng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa rất đáng trân trọng và tự hào của vùng đất này Với mong muốn mang đến cho quê hương Cao Bằng “gạo trắng nước trong” một món quà nhỏ, chúng tôi đã chọn vấn đề này Mặt khác, chúng tôi tin rằng luận văn này sẽ cho bạn đọc có một cái nhìn toàn cảnh về quê hương Cao Bằng, góp một phần không nhỏ trong việc bảo tồn, phát huy những truyền thống văn hóa, lịch sử tốt đẹp của dân tộc ta, đồng thời sẽ đóng góp vào việc phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch của đất nước nói chung và của Cao Bằng nói riêng
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài của luận văn là: Khảo sát địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
Trang 132 Lịch sử vấn đề
2.1.Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu Ở phương Đông, người ta lưu giữ các công trình nghiên cứu địa danh ngay từ thời Đông
Hán, khoảng năm 32- 92 sau công nguyên, Ban Cố đã ghi chép hơn 4000 địa
danh Thời Bắc Ngụy khoảng năm 380- 535 sau công nguyên, tác phẩm
“Thủy Kinh Chú Sớ ” của Lịch Đạo Nguyên đã ghi lại hơn 3 vạn địa danh
Thao tác chủ yếu nghiên cứu địa danh giai đoạn này là ghi chép, sưu tập, tổng hợp, giải thích về cách đọc, một số địa danh đã được giải thích rõ nguồn gốc
Đầu thế kỷ XX, J Gillénon (1854 - 1962) đã viết “Atlat ngôn ngữ Pháp”,
nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lí học Năm 1926, A.Dauzat
(người Pháp) đã viết cuốn “Nguồn gốc và sự phát triển địa danh”, đề xuất
phương pháp địa lí học để nghiên cứu các lớp niên địa địa lí của địa danh
Ngày nay, bộ môn địa danh học nghiên cứu tổng hợp các nguyên lí cơ bản về địa danh: nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, quy luật phát triển và mối quan
hệ giữa địa danh với lịch sử - địa lí, văn hóa Địa danh học khu vực nghiên
cứu hệ thống địa danh phản ánh điều kiện lịch sử - địa lí trong một khu vực;
Địa danh, địa chí học nghiên cứu từng địa danh về cách đọc, cách viết, cách
Trang 14dịch, tiêu chuẩn hóa có mục đích thực tiễn Ngoài ra, địa danh học còn vận dụng phương pháp phân tích bản đồ để nghiên cứu sự phân bố địa danh
Từ những năm 60 trở lại đây của thế kỷ XX, hàng loạt công trình nghiên cứu về địa danh ra đời, tiêu biểu nhất là các công trình nghiên cứu của
các nhà địa danh học Xô Viết như: “Những khuynh hướng nghiên cứu địa
danh học” (1965) của E.M.Muraev; “Dẫn luận địa danh học”(1965) và “Từ điển địa danh bỏ túi” (1968) của V.A.Nhikonov; “Môn địa lí trong các tên gọi”(1979) của E.M.Muzaev; “Địa danh Matxcơva”(1982) của G.P
Xmolixkaja và M.V.Gorbanhexki [dẫn theo 12; 9] Trong các các tác phẩm
đó, công trình “Địa danh là gì?” (1985) của A Superanxkaja là tác phẩm
quan trọng nhất Tác phẩm đã tổng kết các tri thức của địa danh học như khái niệm, nhận diện, phân tích, phân loại địa danh A.I.Popov (1964) đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản của việc nghiên cứu địa danh, trong đó chú trọng nhất hai nguyên tắc chính là phải dựa vào tư liệu lịch sử của các ngành ngôn ngữ học, địa lí học, sử học Còn tác giả I.A.Kapenco (1964) lại nghiên cứu địa danh học theo phương pháp đồng đại N.V.Podonxkaja cho rằng khi phân tích, lí giải địa danh mang những thông tin gì cũng đều đóng góp cho việc nghiên cứu địa danh ngày càng đi sâu vào bản chất
Hàng loạt các công trình nghiên cứu địa danh trên thế giới đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể Chẳng hạn tác phẩm “Les noms de lieux” (1965)
của tác giả C.H.Rostaing đã nêu ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tìm ra hình thức cổ của các từ cấu tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ âm học địa phương Tác phẩm đã bổ sung thêm cho vấn đề mà A.I.Popov đã nêu trước đó Rất nhiều các tác phẩm nghiên cứu địa danh và nhiều cuốn từ điển địa danh cũng đã lần lượt xuất hiện
ở Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đức, Trung Quốc Trong đó tiêu biểu là các công trình của Dauzat A và Rostaing [dẫn theo 16; 3]
Trang 152.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam được quan tâm từ rất sớm và
được ghi chép cẩn thận, Trong “Tiền Hán Thư”; “Hậu Hán Thư”, “Tấn Thư”
thời Bắc thuộc đã có đề cập đến địa danh ở Việt Nam Tuy nhiên đó là những công trình nghiên cứu của người Hán, phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta
Việc nghiên cứu địa danh thời kì đầu ở Việt Nam chủ yếu đề cập ở góc
độ địa lí - lịch sử, địa chí nhằm tìm hiểu đất nước, con người Đến thế kỉ XV, các công trình nghiên cứu địa danh mới bắt đầu đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc,
ý nghĩa Tiêu biểu là tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến
chương loại chí của Phan Huy Chú, Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn, Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu [dẫn theo 17; 8]
Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học và bộ môn địa danh học trên thế giới, vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam mới thật sự có nhiều đóng
góp từ năm 1960 trở đi Với bài nghiên cứu cách đây 40 năm Mối liên hệ về
ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông, Hoàng Thị Châu được
coi như một trong những người cắm cột mốc đầu tiên nghiên cứu địa danh nhìn từ góc độ ngôn ngữ học [dẫn theo 12, 10] Những công trình của bà cũng nghiên cứu địa danh theo hướng này, chủ yếu đi sâu vào phương ngữ Công trình nghiên cứu của Lê Trung Hoa được phát triển từ luận án phó tiến sĩ là
chuyên khảo đầu tiên về địa danh ở một địa phương Địa danh thành phố Hồ
Chí Minh Các tác phẩm này dựa vào những cứ liệu xác đáng và đã đạt được
những thành công đáng kể về mặt lí thuyết cũng như thực tiễn của việc nghiên cứu địa danh Trong những thập niên cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21, hàng loạt các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các công trình từ điển nghiên cứu về địa danh của các vùng đất khác nhau ở nước ta lần lượt ra đời Nguyễn Kiên
Trường với luận án tiến sĩ Những đặc điểm của địa danh Hải Phòng đã phát
triển bổ sung thêm những vấn đề mà Lê trung Hoa đã đưa ra trước đó Sau đó
Trang 16là các luận án tiến sĩ của Từ Thu Mai Địa danh Quảng Trị (2004), Trần Văn Dũng Địa danh Đắc Lắc, Phan Xuân Đạm Địa danh Ngệ An (2005) Các công
trình này đã đóng góp đáng kể khi tiếp cận vấn đề địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học Đặc biệt nghiên cứu của Nguyễn Văn Âu đã hệ thống hóa một cách ngắn gọn lí thuyết địa danh và một số vấn đề địa danh học ở Việt Nam Tiếp sau đó các tác giả Trần Thanh Tâm, Huỳnh Đình Kết, Đinh Xuân Vịnh, Bùi Thiết đã lần lượt cho ra đời các cuốn từ điển địa danh một số địa phương và
sổ tay địa danh, địa danh lịch sử văn hóa [dẫn theo 12; 10] Ngoài ra còn khá nhiều các luận văn thạc sĩ, các công trình nghiên cứu từ điển, các đề tài nghiên cứu địa danh học dưới góc độ ngôn ngữ học Những công trình nghiên cứu này
đã góp một phần không nhỏ vào việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Cao Bằng
Việc nghiên cứu địa danh ở Cao Bằng dưới góc độ ngôn ngữ là một vấn đề hết sức mới mẻ Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào về địa danh ở Cao Bằng dưới góc độ ngôn ngữ học Các công trình nghiên cứu như
Cao Bằng phong thổ, Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng, Non nước Cao Bằng chủ
yếu là giới thiệu tên địa danh và đi sâu vào lịch sử, địa lí, văn hóa các dân tộc sống ở vùng đất đó
Tóm lại, vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới đã có từ rất lâu, vấn
đề nghiên cứu này ở Việt Nam cũng đang dần được quan tâm, tìm hiểu sâu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu các địa danh bằng ngôn ngữ các dân tộc
ít người còn hạn chế
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng, từ đó bước đầu làm rõ những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa lịch sử thể hiện qua các địa danh này
Trang 174 Đối tƣợng nghiên cứu
Các địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng và đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của một số địa danh thuộc địa bàn này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu của luận văn, chúng tôi đặt ra nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Xác định những cơ sở lí luận liên quan đến việc nghiên cứu địa danh
- Điều tra khảo sát địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
- Miêu tả, phân tích địa danh về mặt cấu tạo, ý nghĩa, phương thức định danh
- Bước đầu chỉ ra đặc điểm văn hóa lịch sử có liên quan đến địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trước chúng tôi đã có một số công trình, luận án tìm hiểu địa danh Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Trị, Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Tây Nguyên, nhưng địa danh Cao Bằng thì chưa có công trình nghiên cứu nào Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về cả phương diện lí thuyết và thực tế về địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng Luận văn tìm hiểu các địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng về các phương diện cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc đồng thời luận văn cũng chỉ ra một vài đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa trong mối quan hệ với lịch
sử, địa lí, dân cư và ngôn ngữ được lưu giữ trong các địa danh Vì vậy kết qủa nghiên cứu sẽ thúc đẩy việc phát triển của các bộ môn như địa danh học, ngôn ngữ học Về mặt thực tiễn, đây có thể là tài liệu tham khảo hữu ích và rất cần thiết cho ngành địa phương học, cho ngành nghiên cứu lịch sử, văn hóa Cao Bằng Đặc biệt đây sẽ là một tài liệu quan trọng cho những ai quan tâm đến việc xây dựng một cuốn từ điển địa danh Cao Bằng, hay dư địa chí tỉnh Cao Bằng, đồng thời cũng là tư liệu phục vụ cho các công trình nghiên cứu văn hóa học nói chung
Trang 187 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này trước tiên chúng tôi thu thập tư liệu,
bổ sung, chỉnh lí các thông tin, thông số của địa danh và các tài liệu về lịch
sử, địa lí, văn hóa liên quan đến địa danh Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp điều tra điền dã để thu thập đầy đủ các địa danh mà các
tư liệu chưa cung cấp hết Ngoài ra, phương pháp này còn giúp chúng tôi thu thập được những câu truyện cổ tích, các truyền thuyết liên quan đến địa danh được lưu truyền trong nhân dân
- Phương pháp thống kê phân loại: đây là phương pháp giúp chúng tôi tập hợp và phân loại các địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng trên cơ sở thu
thập địa danh qua các nguồn khác nhau như địa chí các xã tỉnh Cao Bằng, địa
số địa danh nổi tiếng và các địa danh mà muốn hiểu hết ý nghĩa của nó phải biết các tích truyện liên quan đến địa danh
7.2 Tư liệu nghiên cứu
Với mục đích phản ánh đầy đủ, trung thực hệ thống địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng, chúng tôi đã tiến hành tập hợp các tư liệu cần thiết từ những nguồn sau:
- Địa chí các xã tỉnh Cao Bằng tập 1, tập 2, tập 3,
- Địa chí tỉnh Cao Bằng
- Tư liệu điều tra điền dã, ghi chép bổ sung thông tin của từng địa danh
Trang 19- Bản đồ hành chính tỉnh Cao Bằng
- Bản đồ hành chính các huyện thuộc tỉnh Cao Bằng
- Một số công trình nghiên cứu về kinh tế, văn hóa, lịch sử của tỉnh Cao Bằng
- Một số tài liệu về địa phương
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Những cơ sở lí thuyết liên quan đến địa danh
Chương này sẽ trình bày các vấn đề lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai các chương mục tiếp theo Ngoài ra, các vấn đề về địa lí, lịch sử, dân cư, văn hóa, ngôn ngữ trên địa bàn tỉnh Cao Bằng được trình bày làm cơ sở cho các phần nội dung của luận văn
Chương 2 Đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
Chương này sẽ xác định cấu trúc phức thể của địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng Nội dung đi sâu tìm hiểu những đặc điểm cấu tạo và các phương thức định danh của địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
Chương 3 Đặc trưng văn hóa - lịch sử - ngôn ngữ của địa hành chính tỉnh Cao Bằng
Chương này sẽ đi sâu tìm hiểu những ảnh hưởng của điều kiện địa lí, dân cư, lịch sử, văn hóa đối với địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng Đồng thời chương này cũng đi sâu tìm hiểu một số địa danh nổi tiếng ở Cao Bằng
và các địa danh liên quan đến các tích truyện dân gian
Trang 20CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH 1.1 KHÁI NIỆM ĐỊA DANH
1.1.1 Định nghĩa địa danh
Mỗi hiện tượng sự vật trong thế giới khách quan được con người nhận thức thì đa số đều có tên gọi cụ thể Con người gọi chúng bằng những cái tên khác nhau để phân biệt sự vật này với sự vật khác Đó là một nhu cầu tất yếu cho giao tiếp của con người Tất cả những tên gọi địa lí như : tên làng, tên xã, tên gọi các con sông, dòng suối, đồi núi đều được ghi nhận bằng các địa danh Những nhà khoa học nghiên cứu các tên gọi đó được gọi là các nhà địa danh học Các nhà địa danh học Nga cho rằng: Địa danh học là phân ngành đặc biệt của khoa học ngôn ngữ nghiên cứu tên riêng của các đối tượng địa lí, lịch sử, hình thành và phát triển, sự hành chức và lan rộng, cấu tạo ngôn ngữ của chúng và là một trong những khu vực hấp dẫn, đầy hứng thú của ngôn ngữ học
“Tên đất, tên núi, tên rừng, tên biển, tên sông, tên suối, tên
đường phố thậm chí cả tên gọi các hành tinh bên ngoài trái đất, đều là những địa danh (topmony) Một địa danh, xét về mặt logíc học, tương đương với một khái niệm; xét về mặt ngôn ngữ học được cấu tạo từ từ, từ những đơn
vị tương đương với từ ( Chẳng hạn như ngữ cố định, và đôi khi cả một cụm từ định danh, một câu định danh nặng về tính mô tả)” [dẫn theo 23 ; 7] Thuật
ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là “Topos” (vị trí) và “omoma” hay “onyma” (tên gọi)
Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, “Địa danh là tên gọi các
miền đất” Còn từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), thì địa danh học
được giải thích là tên đất, tên địa phương
Cần phải hiểu đúng khái niệm địa danh theo phạm vi xuất hiện của nó Nếu giải thích kiểu chiết tự như từ điển Hán Việt thì địa danh đúng là tên các
Trang 21miền đất Hiểu như vậy là đúng nhưng chưa đủ với tư cách là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học Bởi lẽ địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn liền với từng miền đất cụ thể mà còn là tên gọi của các miền địa lí tồn tại trên trái đất Nó là tên gọi của các đối tượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lí cư trú hay là công trình do con người xây dựng, tạo lập nên
Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lí Vì thế, lớp từ ngữ này chịu sự tác động, chi phối của các quy luật ngôn ngữ
Đến nay các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về địa
danh Nhà ngôn ngữ học Nga A V Superanskiaja trong cuốn “Địa danh là
gì” đã cho rằng “địa danh là những từ ngữ biểu thị tên gọi của các đối tượng địa được xác định trên bề mặt trái đất” [ dẫn theo 23; 25 ]
Các nhà nghiên cứu địa danh ở Việt Nam đã hình thành hai hướng nghiên cứu: nghiên cứu địa danh học theo góc độ địa lí – văn hóa và nghiên cứu địa danh theo góc độ ngôn ngữ học
Đại diện cho hướng nghiên cứu thứ nhất, Nguyễn Văn Âu cho rằng địa
danh là “ tên gọi các địa phương hay tên gọi địa lí ” [dẫn theo 23; 22]
Đại diện cho hướng nghiên cứu thứ hai là Lê trung Hoa, Nguyễn Kiên
Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm Lê Trung Hoa cho rằng: “Địa danh là
những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ” [ dẫn
theo 23 ; 24] Nguyễn Kiên Trường quan niệm rằng: “Địa danh là tên của tất
cả các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất” [dẫn theo 23; 24] Từ Thu Mai cho rằng: “Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất.” [dẫn
theo 23; 25] Phan Xuân Đạm định nghĩa “Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt,
được định ra để đánh dấu các vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn.” [dẫn theo 12; 12 ]
Trang 22Có thể nhận thấy, Nguyễn Văn Âu có quan niện khá đơn giản dễ hiểu
về khái niệm địa danh Theo ông địa danh chính là “Tên gọi các địa phương
hay tên gọi địa lí ” theo đó địa danh học chính là một môn khoa học chuyên
nghiên cứu về tên địa lí của các địa phương Cách hiểu này rất gần với các
định nghĩa của Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì “Địa danh là tên gọi
các miền đất” và Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) thì “Địa danh là tên đất, tên làng” Nguyễn Văn Âu cố gắng thoát khỏi quan niệm cho rằng địa
danh học “chuyên nghiên cứu về tên riêng”, ông chú ý tới các từ chung
Lê Trung Hoa là một trong những người trình bày các vấn đề địa danh đặt trong bối cảnh ngôn ngữ học, hướng đến tính lí thuyết, tính hệ thống sớm
hơn cả so với nhiều tác giả khác Lê Trung Hoa cho rằng “Địa danh là những
từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ” [dẫn theo 16;
9] Định nghĩa này thiên về việc chỉ ra ngoại diên các khái niệm, đồng thời chỉ ra cách phân loại các địa danh vốn đa dạng trong thực tế vào trong định nghĩa phân loại này
Nguyễn Kiên Trường là người đầu tiên đưa ra định nghĩa nêu giới hạn ngoại diên của địa danh chỉ thuộc về những gì ở trên trái đất một cách hiển ngôn Dựa trên tiêu chí mà Lê Trung Hoa đưa ra, Nguyễn Kiên Trường chia địa danh thành từng loại nhỏ Bên cạnh đó ông còn tiến hành theo phân loại địa danh theo nguyên ngữ, theo chức năng của địa danh
Từ Thu Mai cho rằng, khi xác định khái niệm địa danh cần chú đến những vấn đề trong nội tại bản thân khái niệm Định nghĩa địa danh của Từ Thu Mai có điểm xuất phát từ cách hiểu địa danh của A V Superanskja
Có thể thấy rằng, các đối tượng địa lí có thể nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau nhưng bao giờ chúng cũng xuất hiện trong thực tế là những cá thể độc lập Đầu tiên người ta thường sử dụng các tên chung để định danh, tạo tên riêng cho đối tượng Tên riêng của các đối tượng này xuất hiện
Trang 23muộn hơn các tên chung chỉ loại Do vậy có thể nói rằng địa danh là những kí hiệu ngôn ngữ đặc biệt được tạo thành từ một hệ thống kí hiệu đã có để định danh cho một đối tượng cụ thể, được xác định Vì vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần phải chú ý đến những vấn đề nội tại trong bản thân địa danh Trước hết mỗi địa danh phải có tính lí do, phải giải thích được nguyên nhân đặt tên đối tượng Chức năng gọi tên và cá thể hóa, khu biệt đối tượng là tiêu chí thứ hai Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phải là các đối tượng địa lí tồn tại trên bề mặt trái đất và ngoài trái đất Các đối tượng này có thể là đối tượng địa lí tự nhiên hay không tự nhiên
Phan Xuân Đạm có quan niệm khá độc đáo về địa danh, khác với những người đi trước Cách hiểu của ông về địa danh rất hợp lí, tiến bộ theo hướng chức năng của địa danh Về cách phân loại địa danh, cũng như Từ Thu Mai, tác giả đã kế thừa cách phân loại của Lê Trung Hoa
Nhìn chung, trong các định nghĩa và phân loại địa danh, các tác giả đều thừa nhận rằng, các đối tượng được định danh rồi nhóm lại dưới cái tên gọi
“địa danh” chỉ là đối tượng thuộc về trái đất Như vậy các đối tượng ngoài
trái đất như mặt trời, mặt trăng sẽ không được coi là địa danh Điểm này khác với quan niệm của nhiều nhà khoa học nước ngoài
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tán thành quan niệm của Phan
Xuân Đạm khi ông cho rằng “Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt, được định ra
để đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn ”
[12; 12] Luận văn này sẽ nghiên cứu những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lí thuộc địa danh hành chính trên địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
1.1.2 Địa danh hành chính
Địa danh hành chính là các địa danh do chính quyền hoặc người dân đặt tên, nhằm phục vụ cho mục đích quản lí nhà nước Các đơn vị hành chính của một tỉnh thường bao gồm:
Trang 241 Tỉnh là đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, gồm nhiều huyện, thị xã và thị trấn
2 Thành phố là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Đây là nơi tập trung đông dân cư, thường có công nghiệp và thương nghiệp phát triển
3 Huyện, thị xã là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, gồm nhiều xã, phường, là nơi tập trung đông dân của sản xuất nông nghiệp còn dân cư công nghiệp, thương nghiệp không phát triển bằng thành phố
4 Thị trấn là trung tâm hành chính của huyện nhưng hoạt động kinh tế khác với huyện, có khi trùng tên với huyện
5 Xã là đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn trực thuộc huyện, gồm nhiều thôn bản
6 Phường là đơn vị hành chính cơ sở ở thị xã, thành phố, gồm nhiều tổ dân phố
Có thể nói rằng, địa danh hành chính là các tên riêng của các đơn vị
hành chính có biên giới rõ ràng, có thể xác định được diện tích và nhân khẩu; đồng thời ra đời bằng các văn bản, quyết định của chính quyền trung ương và địa phương
Các thôn, bản, tổ dân phố ngày nay cũng được quản lí chặt chẽ, đứng đầu là tổ trưởng, trưởng thôn, trưởng bản, có diện tích và nhân khẩu rõ ràng Chúng trực thuộc xã phường
1.2 PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học có nhiều cách phân loại địa danh khác nhau Dựa trên mục đích và nội dung của luận văn chúng tôi chỉ nêu một số cách phân loại địa danh của một số công trình tiêu biểu có tính chất tổng kết
Nguyễn Văn Âu quan niệm: “Phân loại địa danh là sự phân chia địa
danh thành các kiểu, các nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về địa lí cũng như về ngôn ngữ và lịch sử.” [dẫn theo 23; 23] Ông chia địa danh
Trang 25thành hai loại: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội, bao gồm 7 kiểu: thủy danh, lâm danh, sơn danh, làng, xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia
và 12 dạng: sông ngòi, hồ đầm, đồi núi, hải đảo, rừng rú, truông- trảng, làng-
xã, huyện - thị, thị trấn, tỉnh, thành phố, quốc gia Mỗi dạng lại chia thành các dạng sông, ngòi, suối Cách phân loại này của tác giả nghiêng về tính dân gian, dễ tiếp thu song hơi sa vào chi tiết, thiếu tính khái quát, đối tượng nghiên cứu và tên gọi của đối tượng nghiên cứu chưa được làm rõ
Lê Trung Hoa phân loại địa danh dựa vào nguồn gốc của chúng Cách phân loại của ông dựa vào hai tiêu chí tính tự nhiên và không tự nhiên Theo
đó địa danh được ông phân loại thành: địa danh chỉ địa hình tự nhiên, địa
danh chỉ công trình xây dựng, địa danh hành chính, địa danh chỉ vùng [dẫn
theo 23; 24] Đây là cách phân loại tương đối hợp lí và có tính khái quát Nguyễn Kiên Trường phân loại dựa trên tiêu chí mà Lê trung Hoa đã đưa ra nhưng tiếp tục chia nhỏ một bước nữa Ông chia đối tượng tự nhiên thành hai loại nhỏ: các đối tượng sơn hệ và thủy hệ; chia đối tượng nhân văn thành địa danh cư trú và địa danh chỉ công trình xây dựng Địa danh cư trú bao gồm đơn vị hành chính, đường phố và các đối tượng khác Bên cạnh đó Nguyễn Kiên Trường còn tiến hành phân loại theo nguyên ngữ địa danh, theo chức năng, giá trị của địa danh
Đồng tình với cách phân loại địa danh của Lê Trung Hoa, Từ Thu Mai
dùng khái niệm “loại hình địa danh” làm tiêu chí phân loại Theo Từ Thu Mai
có ba loại hình địa danh là địa danh địa hình tự nhiên, địa danh đơn vị dân cư
và địa danh công trình nhân tạo [dẫn theo16; 13] Trong đó mỗi địa danh lại
gồm tiểu loại địa danh khác nhau
Dựa vào mục đích nghiên cứu của luận văn và tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy cách phân loại của Lê Trung Hoa là phù hợp với việc nghiên cứu địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng Theo cách phân loại này thì tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên là cơ sở để phân loại địa danh
Trang 26Địa danh tự nhiên gồm có: 1- Sơn danh ; 2-Thủy danh; 3-Vùng đất phi dân cư Địa danh không tự nhiên: 1- Các đơn vị dân cư; 2- Các công trình xây dựng
Kết quả khảo sát của chúng tôi về địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng thuộc địa danh không tự nhiên, cụ thể là các đơn vị dân cư
1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA DANH
Xét về phương diện ngôn ngữ học, hệ thống địa danh của một vùng đất
có thể có những đặc điểm sau đây:
1.3.1 Địa danh là một hệ thống tên gọi đa dạng
Nếu so sánh với nhân danh và vật danh thì hệ thống địa danh vừa đa dạng, vừa phức tạp Về loại hình địa danh, có những địa danh biểu thị địa hình thiên nhiên (núi, sông, ao, hồ ), có những địa danh biểu thị tên gọi của các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã, thôn, bản ), lại có những địa danh là tên gọi các công trình xây dựng (cầu, cống, hầm, đê ) Về cấu tạo, địa danh vừa có cấu tạo đơn và cấu tạo phức Trong địa danh có cấu tạo phức, giữa các yếu tố của địa danh có mối quan hệ đẳng lập hoặc chính phụ Về nguồn gốc ngôn ngữ, có những địa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc thiểu số, có địa danh
có nguồn gốc tiếng Việt và cả địa danh vay mượn tiếng nước ngoài
1.3.2 Địa danh thường diễn ra hiện tượng chuyển hóa
Chuyển hóa là lấy tên gọi một đối tượng địa lí này để gọi tên một đối tượng địa lí khác Hiện tượng này có hai trường hợp
- Chuyển hóa trong nội bộ địa danh Chẳng hạn, thị trấn Nguyên Bình => huyện Nguyên Bình, thị xã Cao Bằng => tỉnh Cao Bằng, sông Bằng => phường Sông Bằng
- Chuyển hóa nhân danh thành địa danh Chẳng hạn, tên đồng chí Đức Long (cán bộ hoạt động cách mạng, hi sinh tại huyện Bảo Lạc) => xã Đức Long; tên chiến sĩ Hoàng Tung ( hi sinh anh dũng trong trận chống càn của quân Pháp năm 1948) => xã Hoàng Tung
Trang 271.3.3 Địa danh có phương thức cấu tạo phong phú
Nghiên cứu các phương thức cấu tạo địa danh, chúng tôi thấy các địa danh được tạo nên bởi rất nhiều phương thức khác nhau: vừa dựa vào đặc
điểm bản thân đối tượng để đặt tên như: bản Lũng Rỳ (thung lũng dài), bản
Thin Tẳng (đá dựng) vừa dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt chẽ với đối
tượng như bản Lũng Mằn (thung lũng trồng nhiều cây khoai lang), bản Lũng
Hoài (thung lũng nuôi nhiều trâu) Có phương thức ghép các yếu tố Hán
Việt để định danh như xã Yên Lạc, xã An Lạc Có phương thức dùng số đếm hoặc chữ cái để đặt tên như tổ dân phố 1, tổ dân phố 2, xóm 4A1
1.4 VẤN ĐỀ ĐỊNH DANH TRONG ĐỊA DANH
Nói một cách “nôm na” thì “định danh chính là đặt tên gọi cho một sự vật hiện tượng” [32; 162] Trong địa danh học, thuật đặt tên hay gọi tên hay nói khác là phương thức định danh, người ta thường đề cập đến một nguyên lí
có tính chất phổ biến sau: Cho một khái niệm x, vậy thì hình thức ngôn ngữ nào sẽ đáp ứng được x Xét theo khía cạnh này, trong những giới hạn cho phép, có thể phân biệt cách tiếp cận của ngữ nghĩa học từ vựng và cách tiếp cận của danh học/thuật đặt tên Ở danh học, thuật đặt tên, người ta bắt đầu từ nội dung: cho một khái niệm x, theo đó, phải tìm ra được một biểu thức từ vựng y thích hợp để thể hiện x Trong ngữ nghĩa học từ vựng, người ta bắt đầu từ mặt hình thức: cho một biểu thức y, theo đó, từ trong cái vỏ âm thanh của biểu thức từ vựng này, cái nào được biểu đạt, được thể hiện
1.5 CÁC PHƯƠNG DIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH
Đối tượng nghiên cứu của danh học rất rộng Nói đến địa danh học người ta thường thiết lập một danh sách các khái niệm có liên quan như: Tên người (nhân danh), tên các hành tinh, tên gọi các tổ chức chính trị - xã hội, tên các tộc người, tên gọi các con vật, tên đồi, tên núi, tên các công trình xây dựng, tên các đơn vị dân cư Bộ môn nghiên cứu về tên gọi như vậy gọi là danh học Như vậy, các địa danh cũng chỉ là một trong nhiều đối tượng
Trang 28nghiên cứu của khoa học được đặt trong thế phân biệt với nhân danh học Đặt trong khung cảnh của ngôn ngữ học, địa danh học nằm trong bộ môn từ vựng học, vì đối tượng nghiên cứu của địa danh là các từ ngữ được sử dụng để đặt tên, gọi tên
Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc, cấu tạo, ngữ nghĩa, sự biến đổi, sự lan tỏa, phân bố của địa danh Người chuyên nghiên cứu về địa danh được gọi là nhà địa danh học
Như vậy, một nhà địa danh học thường phải nghiên cứu những vấn đề chính sau đây:
- Tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của địa danh
- Tìm hiểu ngữ nghĩa của địa danh
- Tìm hiểu các mô hình địa danh, các phương thức quá trình tạo địa danh
- Tìm hiểu sự nảy sinh, lan tỏa, sự phân bố của địa danh qua các không gian, các khoảng cách thời gian khác nhau
- Chuẩn hóa địa danh
Trong các vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn đề khác nhau để nghiên cứu
Về vấn đề tín hiệu học, địa danh có tính có lí do Vậy, vấn đề quan trọng là cội nguyên, ngữ nghĩa của địa danh Điều này, ta thường thấy trong định nghĩa địa danh học: Là bộ môn nghiên cứu nguồn gốc, ngữ nghĩa của địa danh
Dựa trên hướng nghiên cứu, người ta chia ra các bộ phận nhỏ như: Ngôn ngữ địa danh học, địa lí địa danh học, lịch sử địa danh học, đối chiếu địa danh học Ngôn ngữ địa danh học chú ý nhiều đến những diễn tiến về mặt ngôn ngữ của địa danh, đặc điểm cấu tạo ngôn ngữ của địa danh, ngữ nghĩa của địa danh, các mô hình cấu tạo của địa danh ; địa lí danh học chú ý nhiều đến sự phân bố của địa danh, sự liên quan giữa sự phân bố của địa danh
Trang 29đối với các vùng, các đối tượng không gian địa lí ; lịch sử danh học chú ý nhiều đến các quá trình hình thành địa danh, sự phát triển của địa danh, sự phân bố của địa danh của địa danh có liên quan đến các tộc người, đối chiếu địa danh học nghiên về sự đối sánh để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa hệ thống địa danh của tộc người này, dân tộc này, đất nước này với tộc người khác, dân tộc khác, đất nước khác, tìm hiểu tính chất nhân học trong địa danh
Ngoài ra, người ta có thể chia địa danh thành địa danh học lí thuyết, địa danh học mô tả
1.6 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CỦA TỈNH CAO BẰNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH
Tuy nằm xa các trung tâm kinh tế lớn của Bắc Bộ nhưng Cao Bằng là một trong những tỉnh địa đầu án ngữ biên giới phía Bắc của Tổ quốc với đường biên giới dài 311 km Cao Bằng có ba cửa khẩu lớn có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế (Hùng Quốc - Trà Lĩnh, Sóc Giang - Hà Quảng,
Tà Lùng - Phục Hoà), trong đó quan trọng nhất là cửa khẩu Tà Lùng - Phục Hoà, cửa khẩu quốc gia tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế với nước ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển
Trang 30Nhìn chung địa hình có hướng chính cao ở phía tây - tây bắc và thấp về phía đông - đông nam Địa hình đó thể hiện rõ ở các cao nguyên biên giới và thung lũng sông Bằng
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Cao Bằng là núi đá vôi, loại đá dễ thấm nước, bị xâm thực lâu đời sẽ hình thành nhiều hang động, thạch nhũ, sông suối ngầm
Nhìn chung, địa hình Cao Bằng mỗi miền có đặc điểm riêng Miền núi cánh cung và các cao nguyên biên giới có địa hình cao độ dốc lớn, có thể phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc và trồng cây công nghiệp, cây ăn quả ôn đới Còn miền địa hình lòng máng Cao Bằng có điều kiện thuận lợi trồng lúa nước trên các cánh đồng phù sa màu mỡ và phát triển kinh tế vườn rừng ở miền đồi núi thấp
1.6.3 Sự phân chia hành chính
Cao Bằng là vùng đất lâu đời ở nước ta, có từ thời các vua Hùng Thời nhà Lý miền này thuộc đất Thái Nguyên, đầu triều Lê thuộc Bắc Đạo sau đổi thành Cao Bình phủ
Năm 1540 có phủ Cao Bằng Giai đoạn 1470 - 1497, phủ Cao Bằng thuộc Thừa Tuyên, Thái Nguyên gồm 4 châu: Thượng Lang 29 xã, Hạ Lang
29 xã, Thạch Lâm 29 xã, Quảng Nguyên 22 xã
Những năm 1802 - 1820 đời Gia Long, các đơn vị hành chính thuộc trấn Cao Bằng gồm 4 châu, 27 tổng, 233 xã, thôn, phường, phố trại, động Bốn châu là: Bảo Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang Đời Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn thành tỉnh Cao Bằng
Năm 1851 đời vua Tự Đức thứ 4, tỉnh Cao Bằng gồm một phủ, năm huyện: phủ Trùng Khánh, huyện Thạch Lâm, huyện Thạch An, huyện Quảng Uyên, huyện Thượng Lang, huyện Hạ Lang
Từ năm 1886 đến năm 1945 tên gọi, địa giới, số lượng các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Cao Bằng liên tục thay đổi
Trang 31Những năm cuối thế kỷ XIX, tỉnh Cao Bằng gồm có phủ Trùng Khánh với ba châu: Hạ Lang, Thượng Lang, Quảng Uyên và phủ Hoà An gồm ba châu: Thạch Lâm, Thạch An, Nguyên Bình
Từ năm 1945 đến nay, ranh giới tỉnh Cao Bằng và một số huyện trong tỉnh có một số sự thay đổi như sau:
Năm 1948, bỏ tổng và các phủ, đạo, châu, thành lập cấp xã, huyện, tỉnh Tỉnh Cao Bằng gồm 11 huyện, thị: Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An, Phục Hoà, Hạ Lang, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Thông Nông, thị xã Cao Bằng Ngày 27 - 12 - 1975, Cao Bằng hợp nhất với tỉnh Lạng Sơn, lấy tên là tỉnh Cao Lạng, với diện tích 13 691, 25
km2: gồm 18 huyện, 2 thị xã Ngày 29 - 12 - 1978 tỉnh Cao Lạng lại tách thành hai tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn Tỉnh Cao Bằng nhận thêm huyện Ngân Sơn, huyện Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái Ngày 6 - 1 - 1996, hai huyện Ngân Sơn, Ba Bể của tỉnh Cao Bằng được chuyển về tỉnh Bắc Kạn Năm
2000, tách huyện Quảng Hoà thành hai huyện Quảng Uyên và Phục Hoà Đến nay tỉnh Cao Bằng có 13 huyện, thị
1.6.4 Đặc điểm về kết cấu dân tộc
Cao Bằng có trên 20 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó có bảy
dân tộc đông dân (Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Sán Chỉ, Lô Lô) Dẫn đầu về
số lượng là dân tộc Tày chiếm 42, 5 % số dân của tỉnh, dân tộc Nùng chiếm
32, 8 % dân số của tỉnh
Cao Bằng hiện nay là địa bàn sinh sống lâu đời của các thế hệ con cháu của dân tộc Tày cổ, một cư dân giỏi nghề trồng lúa nước Dân tộc Tày cổ là một thành phần của nhóm cư dân quan trọng của nước Văn Lang xa xưa, có một nền văn minh rất gần gũi với người Việt - Mường cổ và cùng với người Việt - Mường tạo thành nền văn minh của dân tộc Việt Nam Nơi cư trú của dân tộc Tày là những vùng đất thuận lợi gần sông, suối cho phép khai phá thành những đám ruộng trồng lúa nước Họ có mặt ở tất cả các địa phương
Trang 32trong tỉnh, từ lòng máng Cao Bằng cho đến những cánh đồng và thung lũng
khá bằng phẳng của các huyện miền đông và miền tây của tỉnh Dân tộc Tày tập trung chủ yếu ở các huyện Hoà An, Trùng Khánh và rải rác ở khắp các huyện, thị khác
Theo tiến trình lịch sử, dân tộc Tày còn được bổ sung thêm số lượng đáng kể do bộ phận dân tộc Kinh là con cháu các quan lại được triều đình phong kiến cử lên cai trị ở Cao Bằng, một số con cháu các binh lính lên trấn thủ biên cương của tổ quốc Những người này lấy vợ người địa phương và ở lại Cao Bằng Khi nhà Mạc đóng đô ở Cao Bằng, trong thời gian khoảng 80 năm, họ hàng con cháu các quan lại, binh lính theo nhà Mạc đã coi Cao Bằng
là quê hương mới của mình
Dân tộc Nùng có quan hệ chặt chẽ và gần gũi với dân tộc Tày Xét về mặt tiếng nói thì tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Thái cùng chung một nguồn gốc, thuộc nhóm Bách Việt Dân tộc Nùng chủ yếu định cư trong các thung lũng nhỏ, làm nghề nông, thâm canh cây ngô trên nương rẫy và làm thêm một
số ruộng nước Ngô là cây lương thực chính được gọi là “khẩu táy” có nghĩa
là gạo vua Nghề thủ công phát triển khá cao như nghề rèn, nghề đúc ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, nghề dệt thổ cẩm ở Hoà An, Hà Quảng
Dân tộc Nùng có nhiều nhóm phân biệt theo cách ăn mặc: Nùng thua lài (đội khăn có đốm trắng), Nùng khen lài (áo có ống tay chắp thêm vải khác màu), Nùng sửa tỉn (mặc áo ngắm chấm mông) Dân tộc Nùng có mặt ở hầu hết các địa phương trong tỉnh, tập trung nhiều nhất ở Quảng Uyên, Trà Lĩnh, Thạch An, Nguyên Bình, Trùng Khánh, Hà Quảng
Các dân tộc ít người khác có số lượng người thấp hơn dân tộc Tày và dân tộc Nùng, họ sống ở khắp địa bàn tỉnh Cao Bằng nhưng tập trung đông nhất là ở các bản làng thuộc các huyện của tỉnh Dân tộc Kinh sống chủ yếu ở khu vực thị xã Cao Bằng
Trang 331.6.5 Đặc điểm về lịch sử
Thời kỳ nhà Lý thống nhất đất nước (Thế kỷ XI) Cao Bằng là một phần
đất của Thái Nguyên Tài liệu khác lại ghi là Cao Bằng thuở đó rộng hơn
nhiều so với hiện nay, được đặt tên là châu Quảng Nguyên, gồm các châu
Thảng Do, Vu Lặc, Tư Lang …
Thời nhà Nguyễn, châu Quảng Nguyên thời nhà Lý là một vùng đất
rộng hơn tỉnh Cao Bằng ngày nay
Thời nhà Minh thống trị nước ta, Đại Nam nhất thống chí ghi rằng Cao Bằng thuộc phủ Lạng Sơn
Thời nhà Lê thế kỷ XV Cao Bằng mang tên phủ Bắc Bình, thuộc “Thái
Nguyên thừa tuyên”
Đến năm 1677, nhà Mạc thất bại Đất đai nhà Mạc bị thu hồi hoàn toàn
Lúc đó Cao Bằng được đặt tên là trấn Cao Bình
Thời nhà Nguyễn Tây Sơn đổi tên trấn Cao Bình thành trấn Cao Bằng như vậy là tên Cao Bằng có từ thế kỷ XVIII
Năm 1831 trấn được đổi thành tỉnh Có tên tỉnh Cao Bằng từ năm đó Cao Bằng dưới thời Pháp thuộc
Tháng 6 năm 1894, Cao Bằng được tổ chức thành mười châu:
1 Thượng Lang; 2 Hạ Lang; 3 Quảng Uyên; 4 Phục Hoà; 5 Thạch Lâm; 6 Thạch An; 7 Hà Quảng; 8 Nguyên Bình; 9 Chợ Rã (từ Thái Nguyên chuyển sang); 10 Cảm Hoá (từ Thái Nguyên chuyển sang)
Từ năm 1886 đến năm 1923: địa lí hành chính tỉnh Cao Bằng có rất nhiều thay đổi Từ quân quản trực tiếp của toàn quyền Đông Dương, Cao Bằng trở thành đạo quân sự thứ hai
Đến năm 1923, đạo quân sự Cao Bằng tương ứng với tỉnh Cao Bằng gồm một phủ và tám châu:
Từ năm 1938 đến năm 1940: tổ chức hành chính có thay đổi chút ít.Châu Thượng Lang chia thêm ra một xã Tổng số toàn tỉnh có 33 tổng, 236 xã
Trang 34Thị xã Cao Bằng có thêm 5 phố Phố cổ xưa là phố Cũ, phố Vườn Cam … Phố mới là phố Thầu, nhà cửa kiến trúc khang trang hơn, có nhiều cửa hàng lớn buôn bán sầm uất
Tên xã, tên huyện trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Năm 1942, phong trào cách mạng phát triển mạnh và để đảm bảo bí mật cho hoạt động cách mạng nên các xã, tổng, châu (huyện), đều có tên viết tắt Ví dụ: châu Hà Quảng tên là châu S R (Sông Rộng): hà là sông, quảng là
rộng (tiếng Tày quảng là rộng); châu Nguyên Bình tên là L S (Lâm Sơn),
châu có nhiều núi non Thời kỳ đầu này, các xã tên là A, B, C, X, Y …
Đến năm 1943, phong trào Việt Minh phát triển rộng khắp Nhiều xã
“Việt Minh hoàn toàn”, nhiều tổng “Việt Minh hoàn toàn”, nhiều châu “Việt Minh hoàn toàn”, nghĩa là hầu hết đã theo Việt Minh, thì đều có những tên bí mật, tránh kẻ thù đàn áp, nhưng trong nội bộ lại thông tin dễ dàng Ví dụ: châu Hoà An là châu Trần Phú, Châu Hà Quảng là châu Hồng Phong, Châu Nguyên Bình là châu Huy Tập …
Cao Bằng sau ngày Cách Mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi
Cách mạng thắng lợi, chính quyền các cấp được thành lập Nhân dân Cao Bằng có nguyện vọng xoá những tên cũ Lúc bấy giờ tỉnh Cao Bằng gọi
là tỉnh Bội Châu
Thị xã Cao Bằng có những phố: Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Tuấn, Đinh Tiên Hoàng, Phố Nước Hai gọi là phố Chí Minh Phố Cao Bình gọi là phố Huy Liệu …
Hầu hết các xã đều có tên mới hoàn toàn, là các tên anh hùng dân tộc, các danh nhân, các liệt sĩ: xã Đề Thám, xã Triệu Ẩu, xã Hưng Đạo, xã Đức Long, xã Bế Triều, xã Nam Tuấn … Các xã có những tên hay: xã Tự Do, xã Hạnh Phúc, xã Độc Lập, xã Dân Chủ …
Địa giới xã được nhân dân tự chọn Đó là những nơi cơ sở Việt Minh được phát triển, đã cuốn hút đồng bào ở đó cùng hoạt động trong một thời
Trang 35gian nhất định Ví dụ: xã Thạch Động (thuộc tổng khác), xã Nhượng Bạn (thuộc một tổng khác - thời Pháp) nay được nhân dân đề nghị đổi là xã Bế Triều (tên một liệt sĩ cách mạng) …
Cao Bằng sau ngày tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Bản đồ hành chính
và tên gọi địa phương được thống nhất Tỉnh lấy lại tên cũ: tỉnh Cao Bằng
Các châu đều đổi thành huyện Bao gồm các huyện: Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An, Quảng Uyên, Trùng Khánh (Thượng Lang cũ) và Trấn Biên (Trà Lĩnh cũ) Từ đó bãi bỏ cấp tổng
Năm 1976, thành lập tỉnh Cao Lạng, các khu tự trị được giải thể Tỉnh
Cao Bằng, tỉnh Lạng Sơn được sát nhập lại và có tên là tỉnh Cao Lạng Tỉnh lị đặt tại thị xã Cao Bằng Tỉnh Cao Lạng tồn tại trong ba năm
Sau đó, do yêu cầu tăng cường bảo vệ các tuyến biên giới vững chắc
hơn, tỉnh Cao Lạng tách tỉnh trở lại thành hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn
Việc tách tỉnh hoàn tất vào tháng 1 năm 1979
Năm 1979, tỉnh Cao Bằng có thêm hai huyện: Chợ Rã và Ngân Sơn
(thuộc tỉnh Bắc Thái sát nhập vào) Tỉnh lị Cao Bằng đặt tại thị xã Cao Bằng
Ngày 6 tháng 1 năm 1996 tỉnh Bắc Kạn nhận hai huyện Chợ Rã và Ngân Sơn từ tỉnh Cao Bằng về tỉnh Bắc Kạn
Ngày nay tỉnh Cao Bằng gồm có 13 huyện, thị xã; 189 xã, phường, thị trấn và 2514 xóm, tổ, thôn, bản
Trang 362 Ngành khoa học nghiên cứu địa danh có sự gắn bó, liên quan mật thiết với các ngành khoa học khác như: sử học, địa lí học, dân tộc học, văn hóa học, khảo cổ học Chính vì thế khi nghiên cứu địa danh, người nghiên cứu cần vận dụng các phương pháp liên ngành như: sử học, địa lí học, dân tộc học, văn hóa học, khảo cổ học nhưng phải lấy phương pháp chính là ngôn ngữ học Đó là phương pháp ngữ âm lịch sử, phương pháp địa lí – ngôn ngữ học, phương pháp từ vựng học và ngữ pháp học
3 Các dân tộc cư trú trên đất Cao Bằng thì chỉ có dân tộc Kinh và Tày- Nùng là có chữ viết được sử dụng rộng rãi Tiếng Việt được sử dụng rộng và phổ biến nhất trong giao tiếp nhưng hiện nay tên các thôn, bản, xóm của tỉnh Cao bằng vẫn là tiếng Tày Nùng là chủ yếu Trong đó một số ít yếu tố Hán Việt được kết hợp sử dụng để đặt tên địa danh
Trang 37CHƯƠNG 2 CẤU TẠO CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH TỈNH CAO BẰNG 2.1 CẤU TRÚC PHỨC THỂ ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH
TỈNH CAO BẰNG
2.1.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh
Một địa danh bao giờ cũng có hình thức cấu tạo và nội dung ý nghĩa Địa danh là một cấu trúc, một chỉnh thể nhất định Việc xác định địa danh trong các tổ hợp các từ ngữ hay trong một cấu trúc cụ thể giúp chúng ta phân tích được các yếu tố cấu tạo địa danh cũng như có cách thể hiện chúng dưới dạng quan niệm mô hình cấu trúc địa danh Về vấn đề phức thể địa danh
A.V.Superanskaja trong Địa danh là gì đã sử dụng thuật ngữ tên chung và tên riêng để phân biệt hai bộ phận trong cấu trúc địa danh “ Khác với những
vật thể thông thường, những mục tiêu địa lí có hai loại tên: tên chung để xếp vào hệ thống các khái niệm nào đó (núi, sông, thành phố, làng mạc) và tên riêng biệt của từng vật thể” [dẫn theo 23; 108]
Một số nhà nghiên cứu địa danh Việt Nam cũng đồng quan điểm với
A.V.Superanskaja Chẳng hạn Nguyễn Kiên Trường cho rằng: “Địa danh
mang trong mình hai thông tin: a) đối tượng được gọi tên thuộc loại hình đối tượng địa lí nào (đồi, sông, phố, làng ) thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; b) có nghĩa nào đó (phản ánh điều gì đó), thể hiện qua tên riêng” [dẫn
theo 15; 28]
Theo Từ Thu Mai : “Khi đã phân biệt thành bộ phận từ ngữ chung và
bộ phận tên riêng, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn bộ phận
từ ngữ chung được đặt trước tên riêng đó chỉ có tính chất đi kèm, chỉ loại hình đối tượng địa lí” [dẫn theo 15; 28]
Phan Xuân Đạm quan niệm rằng: “ Mỗi địa danh gồm hai thành tố:
thành tố chung A là từ, danh ngữ pháp và thành tố riêng (B) là tên riêng Thành tố thứ nhất giúp chúng ta nhận biết loại hình đối tượng địa lí, thành tố thứ hai giúp chúng ta khu biệt đối tượng” [12; 51]
Trang 38Như vậy, tuy có cách thể hiện quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu địa danh đều nhận thấy phức thể địa danh gồm hai bộ phận: bộ phận từ ngữ chung và tên riêng Khi đã phân biệt thành hai bộ phận như vậy, địa danh được hiểu chỉ là bộ phận tên riêng, còn từ ngữ chung đặt trước tên riêng đó chỉ có giá trị xác định loại hình đối tượng địa lí Hai bộ phận này đều nằm trong một cụm từ có chứa địa danh mà nhiều nhà nghiên
cứu gọi là phức thể địa danh
Tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu địa danh đi trước, chúng tôi cũng xác định một cấu trúc phức thể địa danh bao gồm hai bộ phận
là từ ngữ chung và tên riêng Chẳng hạn trong các phức thể địa danh như: xã
Nà Bao (có nghĩa là ruộng con rùa thuộc huyện Nguyên Bình), thôn Nà Luông ( có nghĩa là thôn ruộng to thuộc xã Vĩnh Quang, thị xã Cao Bằng) thì
bộ phận từ ngữ chung là các từ xã, thôn, còn bộ phận từ ngữ riêng là các từ nhữ còn lại là Nà Bao, Nà Luông
Trong phức thể địa danh, mỗi bộ phận có vai trò chức năng riêng Bộ phận từ ngữ chung (gọi là thành tố chung, thường kí hiệu là A) thường là danh từ hay danh ngữ có chức năng chỉ loại hình đối tượng địa lí, còn tên riêng (gọi là thành tố riêng hay địa danh, thường kí hiệu là B) có chức năng khu biệt các đối tượng địa lí với nhau và thường do các từ hoặc các cụm từ cấu tạo Bộ phận chung đứng trước và là cái được hạn định cho đối tượng địa
lí còn bộ phận tên riêng thường đứng sau để hạn định cho đối tượng địa lí đó
Ví dụ, trong các phức thể địa danh như thôn Nà Đoỏng (có nghĩa là thôn
ruộng đồi thuộc xã Xuân Trường, huyện Bảo Lạc), xã Đề Thám (một xã thuộc
thị xã Cao Bằng), huyện Bảo Lạc thì đối tượng địa lí ở đây là các từ thôn, xã,
huyện, chúng là các danh từ chỉ các đơn vị hành chính và được hạn định bởi
các từ đứng sau là Nà Đoỏng, Đề Thám, Bảo Lạc – là các cụm từ
Như vậy, trong phức thể địa danh bộ phận tên riêng mới được coi là địa danh và địa danh cũng có cấu trúc nội bộ riêng nên chúng tôi thống nhất dùng
Trang 39thuật ngữ “địa danh” thay cho thuật ngữ “tên riêng”, còn bộ phận từ ngữ
đứng trước nó chỉ có tính chất xác định loại hình đối tượng địa lí được định danh Dưới dạng chữ viết, bộ phận địa danh được viết chữ in hoa còn thành tố
chung viết chữ in thường Chẳng hạn thôn Nà Lẹng (hay còn được biết là thôn
Nà Lẹnh , có nghĩa là thôn ruộng cạn), xã Trọng Con, huyện Thạch An
2.1.2 Cấu trúc phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
Trong luận văn này chúng tôi thống nhất coi mỗi yếu tố là một âm tiết Địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng được tạo thành bởi một phức thể gồm hai
bộ phận là thành tố chung và địa danh Kết quả điều tra, khảo sát của chúng tôi thu được 2717 phức thể địa danh, Có thể hình dung phức thể địa danh hành chính Cao Bằng theo mô hình của bảng 2.1
Bảng 2.1 Mô hình phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
Phức thể địa danh Thành tố
chung (tối đa
bản Nà Gạch Nà Loỏng Giuộc Sung
Trang 40Qua mô hình trên ta thấy phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng có
số lượng yếu tố lớn nhất là 9 yếu tố và ngắn gọn nhất là 2 yếu tố Những phức thể địa danh có số thành tố riêng từ 5 yếu tố đến 8 yếu tố chiếm số lượng ít nhất Các địa danh ngắn gọn được sử dụng nhiều hơn cả Trong phức thể địa danh, thành tố chung và thành tố riêng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
2.2 THÀNH TỐ CHUNG (thành tố A)
2.2.1 Khái niệm thành tố chung
Các nhà địa danh học có nhiều cách gọi tên cho thành tố chung như: tên gọi chung, thành tố A (danh từ chung) Cách hiểu về thành tố chung khá đồng nhất với quan điểm của nhà nghiên cứu địa danh người Nga A V
Superanskaja đó “là những tên gọi chung liên kết các đối tượng địa lí với mọi
vật khác của thế giới hiện thực Chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn dùng để gọi tên và để xếp loại các đối tượng cùng kiểu, có cùng đặc điểm nhất định” [dẫn theo 15; 32]
Như vậy thành tố chung trong phức thể địa danh là bộ phận từ ngữ dùng để chỉ những đối tượng địa lí có cùng thuộc tính, bản chất được xếp vào cùng một loại hình Thành tố chung có đầy đủ các mặt chức năng, cấu tạo, vị trí và ý nghĩa Chức năng của nó là gọi tên và chỉ một lớp đối tượng có cùng thuộc tính Cấu tạo của chúng là những danh từ chung hay ngữ danh từ chung
và trong phức thể địa danh chúng có vị trí đứng trước địa danh để phản ánh loại hình của đối tượng được định danh Chức năng của chúng là tạo nên chỉnh thể của phức thể địa danh và xác định loại hình của đối tượng được gọi tên trong địa danh
2.2.2 Thành tố chung trong địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng
2.2.2.1 Số lượng thành tố chung
Trong tổng số 2717 phức thể địa danh hành chính tỉnh Cao Bằng, số
lượng thành tố chung gồm 11 đơn vị hành chính đó là các loại sau: tỉnh, thị xã,