1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát câu điều kiện tiếng việt nếu a thì b trong tác phẩm báu vật của đời

125 379 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát câu điều kiện tiếng việt "nếu a thì b" trong tác phẩm “báu vật của đời”
Tác giả Lục Tuyết Mai
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Văn Tình
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở việc nghiên cứu về đặc điểm và phân loại câu điều kiện của các nhà nghiên cứu đi trước, khảo sát các nội dung cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu điều kiện tiếng Việt và tiến

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

 LỤC TUYẾT MAI

KHẢO SÁT CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT " NẾU A THÌ B"

TRONG TÁC PHẨM “BÁU VẬT CỦA ĐỜI”

( Đối chiếu với tác phẩm “BÁU VẬT CỦA ĐỜI” Bản

tiếng Trung) 《丰乳肥臀

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỠNG DẪN KHOA HỌC: PHẠM VĂN TÌNH

Thái Nguyên, năm 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

khảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chƣa từng công bố

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Phạm Văn Tình, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em xin chân thành cảm ơn cô Lương Cốc Từ, PGS Học viện Sư phạm Quảng Tây đã giúp đỡ em rất nhiều để em có thể hoàn thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên nói chung và các thầy cô giáo dạy Khoa Sau đại học, Trường đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên nói riêng đã ân cần chỉ bảo, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình em theo học chương trình Thạc sĩ tại trường

Cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ em trong thời gian em du học tại Việt Nam

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 8 năm 2011

Tác giả

LỤC TUYẾT MAI

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục bảng, biểu vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

1.1 CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 4

1.1.1 Khái niệm câu điều kiện 4

1.1.2 Tình hình nghiên cứu câu điều kiện trong tiếng Việt 6

1.1.3 Phân loại câu điều kiện tiếng Việt 9

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG HÁN 13

1.2.1 Khái niệm câu ghép điều kiện tiếng Hán 13

1.2.2 Những nghiên cứu về từ liên kết o14 1.2.3 Phân loại câu điều kiện và câu ghép 16

1.3 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN 18

1.3.1 Lý luận ngôn ngữ học so sánh đối chiếu 18

1.3.2 Một số nguyên tắc và phương pháp 19

1 4 TIỂU KẾT 20

CHƯƠNG 2 CẤU ĐIỀU KIỆN “NẾU A THÌ B” TRONG TÁC PHẨM “BÁU VẬT CỦA ĐỜI” BẢN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN 21

2.1 KHẢO SÁT CÂU ĐIỀU KIỆN “NẾU A THÌ B” TRONG TÁC PHẨM “BÁU VẬT CỦA ĐỜI” 21

2.1.1 Giới thiệu tác phẩm “Báu vật của đời” 21

2.1.2 Hình thức nhóm câu phức điều kiện “nếu A thì B” trong tác phẩm “Báu vật của đời” 22

Trang 5

2.1.3 Thống kê các mẫu câu điều kiện xuất hiện trong tác phẩm “Báu vật

của đời” 23

2.2 ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP CỦA CÂU ĐIỀU KIỆN “NẾU A THÌ B” TIẾNG VIỆT TRONG TÁC PHẨM “BÁU VẬT CỦA ĐỜI” 24

2.2.1 Chủ ngữ của câu điều kiện “nếu A thì B” 25

2.2.2 Trật tự cú pháp câu của câu điều kiện “nếu A thì B” 28

2.2.3 Ngữ nghĩa của câu điều kiện “nếu A thì B” 31

2.2.3.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của câu điều kiện “nếu A thì B ” 31

2.2.3.2 Quan hệ ngữ nghĩa của hai mệnh đề trong nhóm câu điều kiện “nếu A thì B” 34

2.2.4 Chức năng ngữ dụng của câu điều kiện “nếu A thì B” trong "Báu vật của đời" 36

2.3 SO SÁNH VỚI NHỮNG CÂU ĐIỀU KIỆN TRONG BẢN GỐC TIẾNG TRUNG《丰乳肥臀》 ĐỐI ỨNG 40

2.3.1 Phạm vi so sánh 40

2.3.2 Đặc điểm cú pháp của câu điều kiện trong 《丰乳肥臀》 40

2.3.3 Điểm giống nhau và điểm khác nhau 43

2.3.3.1 Điểm giống nhau 43

2.3.3.2 Điểm khác nhau 44

2.4 TIỂU KẾT 47

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ LUẬN VĂN VÀ VIỆC ỨNG DỤNG TRONG GIẢNG DẠY 49

3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHAM VI KHẢO SÁT 49

3.2 PHÂN TÍCH VÀ THỐNG KÊ NGỮ LIỆU KHẢO SÁT THỰC TẾ 50

3.3 MỘT SỐ LỖI THƯỜNG GẶP CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC KHI HỌC CÂU ĐIỀU KIỆN 53

3.3.1 Các lỗi sai về ngữ pháp 53

Trang 6

3.3.2 Lỗi về ngữ nghĩa 57

3.4 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LỖI SAI CỦA SINH VIÊN TRUNG QUỐC KHI HỌC CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT 58

3.4.1 Sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ 58

3.4.2 Khái quát các quy tắc của ngoại ngữ thứ 2 59

3.4.3 Giáo viên 60

3.5 MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 61

3.5.1 Khắc phục sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ 61

3.5.2 Giáo viên 62

3.5.3 Giáo trình 62

3.6 TIỂU KẾT 63

KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 64

1 KẾT LUẬN 64

2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHỤ LỤC 71

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các kiểu câu thuộc phạm trù câu điều kiện tiếng Việt[12]: 12 Bảng 2.1 Bảng thống kê cụ thể tần suất và tỉ lệ xuất hiện của các mẫu câu điều kiện trong tác phẩm “ Báu vật của đời” 23 Bảng 2.2 Bảng đối chiếu hình thức câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán 41 Bảng 3.1 Tình hình thu thập phiếu điều tra 50 Bảng 3.2 Tỷ lệ sai của kiểu câu có cặp từ “nếu , thì ”, “chỉ có , mới ” và “chỉ cần , thì ”: 51 Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc lỗi sai của cặp từ “ Cho dù , đều” và “ dù rằng , vẫn ” 51 Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc lỗi sai của cặp liên từ “chỉ có , không thì ”, “cho dù , đều ” 52

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đề tài của luận văn này chúng tôi có tên gọi “ Khảo sát câu điều kiện tiếng Việt “nếu A thì B” trong tác phẩm “Báu vật của đời” (Đối chiếu với tác

phẩm “Báu vật của đời” bản tiếng Trung《丰乳肥臀》” thuộc lĩnh vực ngôn

ngữ học so sánh đối chiếu So sánh là một trong những thao tác tư duy cơ bản trong quá trình tìm hiểu sự vật, hiện tượng trong cuộc sống của con người So sánh ngôn ngữ, tức là lấy hai dạng, các mặt biểu hiện của hai ngôn ngữ để tiến hành đối chiếu so sánh, tìm ra sự tương đồng, khác biệt và nguyên nhân hình thành, để hiểu sâu đặc điểm và cơ chế hoạt động của mỗi ngôn ngữ, giúp ích cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và nâng cao hiệu quả giảng dạy ngoại ngữ Vấn đề so sánh đối chiếu tiếng Việt và tiếng Hán đã có lịch sử lâu năm, cũng đã có nhiều kết quả nghiên cứu, tuy nhiên lĩnh vực so sánh câu điều kiện hầu như còn ít người đề cập đến Câu điều kiện là một kiểu câu cơ bản, là một

bộ phận quan trọng trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt và tiếng Hán Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, câu điều kiện được sử dụng với tần số rất cao Việc tiến hành đối chiếu so sánh câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán có thể giúp cho việc tìm hiểu và nắm vững đặc điểm và quy luật của ngữ pháp, giúp nâng cao hiểu quả học tiếng Việt và tiếng Hán, hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa tích cực trong việc làm tài liệu tham khảo cho các dịch giả trong quá trình dịch Việt - Hán và ngược lại

Trên cơ sở việc nghiên cứu về đặc điểm và phân loại câu điều kiện của các nhà nghiên cứu đi trước, khảo sát các nội dung cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán, luận văn sẽ có căn cứ để tìm

ra nét tương đồng và khác biệt của câu điều kiện “nếu A thì B” tiếng Việt và tiếng Hán, đồng thời tiến hành giải thích sự tương ứng đó

Trang 9

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu những đặc trưng cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu điều kiện “nếu A thì B” tiếng Việt, từ đó tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của câu điều kiện “nếu A thì B” của tiếng Việt và tiếng Hán về phạm trù cú pháp với ngữ liệu là các câu điều kiện “nếu A thì B” trong tác phẩm “Báu vật của đời” đã được dịch ra tiếng Việt và nguyên tác tiếng Trung

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

- Chỉ ra những đặc điểm của loại câu điều kiện tiếng Việt "nếu A thì B" trong tác phẩm " Báu vật của đời" về phạm trù cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng;

- Chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt của câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán về phạm trù cú pháp;

- Đề xuất các biện pháp để phòng, tránh lỗi trong quá trình dịch câu điều kiện của tiếng Hán và trong việc dạy và học tiếng Việt và tiếng Hán

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp miêu tả: Áp dụng để khảo sát đặc điểm phân loại, và

miêu tả câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán

- Phương pháp thống kê: Áp dụng để xác định đối chiếu đặc điểm cú

pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu: Phân tích ngữ liệu và dữ

liệu trong câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán, từ đó so sánh đối chiếu, tìm

ra sự khác nhau giữa loại câu này trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: quá trình học tập một ngôn ngữ

mới sẽ khiến cho người học gặp phải nhiều lỗi sai, nguyên nhân dẫn đến lỗi sai chủ yếu là vì sự khác biệt của tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ 2 Việc phân

Trang 10

tích lỗi sai có thể chỉ ra được những điểm khó trong việc nắm bắt một loại ngôn ngữ thứ 2 và điều đó sẽ giúp ích cho quá trình dạy học

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Về mặt lý luận: Những kết quả nghiên cứu có thể góp phần bổ sung

vào kho tàng lý luận ngôn ngữ học đối chiếu Việt - Hán mà chủ yếu là các lĩnh vực nghiên cứu đối chiếu cú pháp Việt-Hán;

- Về mặt thực tiễn: Việc nghiên cứu về đặc trưng câu điều kiện tiếng

Việt và tiếng Hán sẽ giúp cho những người đã đang hoặc sẽ tham gia vào việc dịch văn bản tiếng Hán thành Việt hoặc tiếng Việt thành Hán sẽ chuẩn xác và hiệu quả hơn Đồng thời, những kết quả đạt được của nghiên cứu chắc chắn cũng sẽ giúp ích thiết thực cho việc giảng dạy về ngữ pháp tiếng Việt cho người Trung Quốc hoặc ngữ pháp tiếng Hán cho người Việt

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Câu điều kiện "nếu A thì B" trong tác phẩm "Báu vật của

đời" bản tiếng Việt và tiếng Hán

Chương 3: Kết quả luận văn và việc ứng dụng trong việc giảng dạy

Trang 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG VIỆT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1.1 Khái niệm câu điều kiện

Câu điều kiện là một kiểu câu rất phổ biển, tần số xuất hiện rất cao tồn tại trong hầu hết các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Anh, v.v Về định nghĩa của câu điều kiện, đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đưa

ra định nghĩa Hoàng Tuệ - nhà ngôn ngữ học Việt Nam, cho rằng “Câu điều kiện là một kết cấu phức hợp bao gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện” Trong luận án tiến sĩ “Câu điều kiện tiếng Việt - nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”, tác giả Nguyễn Khánh Hà đã tổng kết như sau: “Câu điều kiện là một kiểu câu cơ bản, rất quan trọng trong ngôn ngữ tự nhiên Nhiều nhà ngôn ngữ học đã nhận thấy câu điều kiện tồn tại hầu hết các ngôn ngữ, như tiếng Hy Lạp cổ đại, tiếng Đức, tiếng Latin, tiếng Hán và nhiều thứ tiếng khác nữa (Traugott, Meulen, Reilly, & Ferguson,1986).” Theo ngữ pháp truyền thống, đây là những câu phức mà cấu tạo bao gồm hai mệnh đề

Để làm rõ hơn khái niệm cũng như các vấn đề chung liên quan đến câu điều kiện, chúng tôi đã tham khảo rất nhiều ý kiến khác nhau của các tác giả

và thống nhất sử dụng quan điểm về khái niệm câu điều kiện của tác giả Diệp Quang Ban

Theo tác giả Diệp Quang Ban, câu điều kiện là loại câu nằm trong câu ghép Để làm rõ khái niệm câu đầu kiện, chúng tôi xin đưa ra một vài vấn đề

cơ bản về câu ghép

Khái niệm câu ghép: “câu ghép là câu do hai (hoặc hơn hai) câu đơn

kết hợp với nhau theo kiểu không câu nào bao chứa câu nào, mỗi câu đơn

Trang 12

trong câu ghép tự nó thoả mãn định nghĩa về câu Có thể dùng tên gọi “dạng câu” hay “vế câu” để chỉ câu nằm trong câu ghép” [2]

Phân loại câu ghép:

a Câu ghép chính phụ: Là câu ghép có quan hệ ngữ pháp không bình

đẳng, thường gọi là quan hệ chính phụ, hay quan hệ phụ thuộc giữa hai vế câu,

vế phụ phụ thuộc vào vế chính Vế phụ là vế chứa quan hệ từ phụ thuộc, quan

hệ phụ thuộc đưa vế phụ vào câu Câu ghép chính phụ được phân loại thành những loại sau:

1 Câu ghép nguyên nhân

2 Câu ghép điều kiện/giả thiết

3 Câu ghép nhượng bộ

4 Câu ghép mục đích

b Câu ghép đẳng lập: Là câu ghép trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các

vế câu là ngang hàng nhau, không vế nào phụ thuộc vào vế nào Câu ghép đẳng lập được phân loại như sau:

1 Câu ghép liên hợp (dùng quan hệ từ liên hợp)

2 Câu ghép tương liên (dùng cặp phó từ, đại từ hô ứng)

3 Câu ghép tiếp liên (không dùng quan hệ từ và cặp từ hô ứng)

Như vậy, câu điều kiện/giả thiết thuộc câu ghép chính phụ, chính vì vậy

nó mang đầy đủ tính chất của câu ghép và câu ghép chính phụ

Khái niệm câu điều kiện được tác giả Diệp Quang Ban đưa ra trong

cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (đã được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường đại học Sư phạm) như sau:

“ Câu ghép điều kiện giả thiết là câu ghép chính phụ mà ở đầu vế phụ

có chứa các quan hệ từ diễn đạt quan hệ điều kiện/giả thiết như: nếu, hễ,

Trang 13

miễn (là), giá Trong câu ghép điều kiện/giả thiết, ở đầu vế chính có thể xuất hiện từ “thì” đánh dấu vế chỉ hệ quả khi vế chính đứng sau.”[2]

Ví dụ: Nếu mai trời nắng, chúng tôi sẽ đi du lịch

Một số điểm cần chú ý:

+ Trong kiểu câu này, khi vế phụ đứng trước vế chính thì sẽ tạo ra quan

hệ điều kiện/giả thiết hệ quả như ví dụ trên

+ Nếu trật tự thay đổi ngược lại, tức là vế chính đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc – điều kiện/giả thiết, và trong trường hợp này không được dùng từ “thì” đứng đầu vế chính nữa Ví dụ nếu vế chính được đưa lên trước

vế phụ thì câu sẽ có dạng:

Chúng tôi sẽ đi du lịch, nếu trời nắng

+ Các từ “ hễ thì ” thường được dùng khi sự việc là điều kiện được lặp đi lặp lại nhiều lần

Ví dụ: Hễ trời mưa to thì con đường này lại bị ngập

+ Ngoài cách biểu thị quan hệ điều kiện hệ quả, kểu câu ghép

“nếu thì” với trật tự vế phụ (vế chứa “nếu”) đứng trước, còn được dùng diễn đạt quan hệ so sánh (không coi là câu chỉ điều kiện):

Ví dụ: - Nếu tỉnh anh có nhiều mía, thì tỉnh tôi lại có nhiều dừa

- Nếu lớp các bạn đứng thứ nhất thì lớp chúng tôi cũng đứng vào hàng thứ hai

1.1.2 Tình hình nghiên cứu câu điều kiện trong tiếng Việt

Trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ, đã có rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề câu điều kiện, các mức độ nông sâu của các nghiên cứu cũng không giống nhau Sau đây chúng tôi xin đưa ra một số công trình nghiên cứu về câu điều kiện, xếp theo trật tự thời gian từ trước đến nay

Hoàng Tuệ (1992) đã đưa ra phân tích những câu có dùng cặp liên từ “ nếu thì” và đưa ra định nghĩa “Câu điều kiện là một kết cấu phức hợp, gồm 2 mệnh đề: một mệnh đề chính và một mệnh đề phụ chỉ điều kiện”

Trang 14

Nguyễn Kim Thản (1977): xếp kiểu câu có liên từ “Nếu” vào loại câu phức hợp có quan hệ qua lại Tác giả cho rằng quan hệ điều kiện/giả thiết gồm

2 loại nhỏ Loại thứ nhất được gọi là câu điều kiện trong đó có một đoạn câu biểu thị ý nghĩa điều kiện

Hoàng Trọng Phiến (1980) sắp xếp câu điều kiện vào loại câu ghép qua lại hai chiều Tác giả đưa ra 82 mô hình câu điều kiện với 30 nhóm Ông chỉ

ra “Quan hệ 2 vế của câu điều kiện là quan hệ giữa cái đề xuất và cái hiệu quả phát sinh từ sự đề xuất đó Vế trước nêu ra điều kiện, vế sau thuyết minh tình hình phát sinh hoặc hiệu quả” [22] Nguyễn Anh Quế (1988) đề cập đến câu điều kiện xuất phát từ góc độ nghiên cứu cấu trúc của từ và từ loại tiếng Việt Diệp Quang Ban (1989) xếp câu điều kiện/giả thiết vào câu ghép chính phụ (như đã trình bày trong phần khái niệm như trên)

Cao Xuân Hạo (1991) đưa ra quan điểm kết cấu " Nếu A thì B" bao gồm hai phần Đề (tương đương với Nếu A), và phần Thuyết (tương đương với thì B) Đồng quan điểm này tác giả Diệp Quang Ban cũng đưa ra quan hệ Đề -Thuyết trong câu ghép điều kiện/giả thiết

Hồ Lê (1992) chỉ ra câu điều kiện hệ quả có 2 tiêu chí ngữ pháp cơ bản là:

a Nội dung của điều kiện

b Tính chất của mối quan hệ điều kiện hệ quả

Ngô Thị Minh (2001) khảo sát 26 cặp tác tử tình thái, trong đó có 10 cặp tác tử tình thái thuộc cấu trúc câu ghép điều kiện, bao gồm: Nếu A thì B, cứ A thì B, Hễ A thì B, chí có A mới có B, đã A thì B, giá A thì B, nếu như A thì

B, phải chi A thì B, ước gì A thì B, Bao giờ A thì B, Dù/mặc dù/dẫu A vẫn B

Lê Thị Minh Hằng (2005), Câu điều kiện trong tiếng Việt (có đối chiếu với tiếng Nhật) là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu về câu

Trang 15

điều kiện Tác giả chủ trương tiếp cận câu điều kiện tiếng Việt từ góc độ ngữ nghĩa, logic Quan hệ nhân quả được tác giả xem là đặc trưng cốt lõi của ngữ nghĩa điều kiện và là cơ sở phân chia câu điều kiện thành 2 loại: câu điều kiện điển hình và câu điều kiện không điển hình Ngoài ra tác giả cũng phân tích chi tiết các phương tiện hình thức biểu hiện tính điều kiện trong câu điều kiện tiếng Việt, chú ý phân biệt câu điều kiện ở các bình diện nội dung, hình thức

Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã chỉ ra tính phổ biến của câu điều kiện “nếu A thì B” và phân tích các loại câu điều kiện trong nhóm nếu A thì B Có thể nói đây là một bước tiến dài trong việc xác định tính phổ biến và đưa ra ranh giới phân loại kỹ càng cho câu điều kiện thuộc nhóm nếu A thì B

Ngoài ra tác giả cũng phân tích cặn kẽ các nhóm kết cấu câu điều kiện có liên từ/cặp liên từ câu điều kiện, kết cấu có cặp từ hô ứng, nhóm kết cấu không có cặp từ/cặp liên từ hô ứng Với mỗi loại câu tác giả đều

Trang 16

phân tích đặc điểm hình thức, đặc điểm ngữ nghĩa và đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chí điển mẫu

1.1.3 Phân loại câu điều kiện tiếng Việt

Hoàng Trọng Phiến (1980) phân loại như sau:

- Câu điều kiện biểu hiện điều kiện tất nhiên: Loại này vế chính khẳng định hệ quả dựa vào tiền đề, điều kiện nêu ra ở vế phụ

Ví dụ: nếu không có nước tưới, lúa sẽ chết rụi

- Câu điều kiện biểu hiện điều kiện giả định: Loại câu này biểu hiện sự kiện hoặc tình hình ở vế chính phải được vế phụ giả thiết, đưa ra các điều kiện duy nhất có thể có

Ví dụ: Trừ phi nó bận việc nó mới vắng mặt ở hội nghị này

- Câu điều kiện biểu hiện ý nghĩa có điều kiện trong cái không có điều kiện Loại câu này có cặp từ nối hô ứng bất kỳ (bất cứ, vô luận, nhược bằng), cũng (vẫn, đều)

Ví dụ: Bất cứ khó khăn nào, bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều có thể vượt qua

Tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra “ Câu điều kiện có nội dung ngữ nghĩa rất phong phú, lắm khi cũng khó phân biệt các mối quan hệ điều kiện, Chẳng hạn, câu điều kiện có quan hệ điều kiện - thời gian, điều kiện nhượng bộ, điều kiện giới hạn ”.[22]

Bùi Minh Toán (2007) phân loại như sau:

- Câu điều kiện diễn đạt giả thiết, điều kiện mong muốn: giá, giá mà

Ví dụ: Giá ông đi tù 10 năm, có phải cả nhà sung sướng không

- Câu điều kiện diễn đạt điều kiện không mong muốn: ngộ, lỡ, nhỡ, ngộ nhỡ

Ví dụ: Nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì bỏ mẹ tôi

Trang 17

- Cặp “hễ thì” được dùng để diễn đạt quan hệ điều kiện-hệ quả, như một điều kiện có tính tất yếu, có tính quy luật

Ví dụ: Cái giống nhà quê chúng mày, hễ thấy tiền là y như tối mắt lại

Nguyễn Chí Hoà (2008- Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản) đưa ra các cách phân loại câu điều kiện sau:

- Câu điều kiện tất nhiên: Khi những điều kiện của hành động được người nói xem như một nhân tố có thực, những nhân tố này được phản ánh bằng các động từ ở thể trần thuật, chúng được hiểu là câu biểu hiện điều kiện tất nhiên Mệnh đề chính có thể dùng “sẽ”, có thể không dùng “sẽ”, mệnh đề phụ ít khi dùng các từ chỉ thời gian‟ Ví dụ: Nếu mày còn như thế nữa, tao sẽ cho mày một trận đòn

- Câu điều kiện giả định: Trong câu điều kiện giả định, vế chính nêu ra

sự kiện hoặc tình huống, vế phụ nêu ra giả thiết:

+ Trừ phi A mới B: Trừ phi trời sập tôi mới đi

+ Có A thì mới B: Có làm thủ tục mới biết khó khăn làm sao

+ Giá A thì B: Giá mà tôi có nhiều tiền thì hay biết mấy

+ A mà B thì mới C: Anh mà đi thì tôi sẽ ở lại

- Câu điều kiện phản ánh điều kiện không có thật: Phản ánh sự tồn tại không có thật, có thể dùng trong hiện tại và tương lai:

Ví dụ: Nếu anh ấy ở đây ngay bây giờ, anh ấy sẽ giúp chúng ta

- Câu điều kiện không có từ nối, có ý nghĩa điều kiện dạng tường thuật:

Ví dụ: Em yêu anh em sẽ khổ - > Nếu em yêu anh thì em sẽ khổ

Em khổ em chịu -> Nếu em khổ thì em chịu

- Câu điều kiện không có từ nối, có ý nghĩa điều kiện dạng mệnh lệnh

Ví dụ: Yêu nhau hẵng lấy không trái khoáy lắm

Có thực mới vực được đạo

Trang 18

Cách phân loại câu điều kiện của Nguyễn Chí Hoà có phần tương đồng với cách phân loại của tác giả Hoàng Trọng Phiến (1980), tuy nhiên cách phân loại này chính tác giả cũng tự nhận xét là chưa bao quát hết tính đa dạng, phong phú của câu điều kiện

Lê Thị Minh Hằng phân loại như sau:

Câu điều kiện điển hình và câu điều kiện không điển hình 1 Câu điều kiện giả định bao gồm 2 loại, một là câu điều kiện phản định phản thực, loại cầu này vế chính và vế phụ đều là những sự tình trái với hiện thực Hai là câu điều kiện giả định giả thiết Trong loài câu này, vế chính

và vế phụ là có thể trở thành sự thật 2 Câu điều kiện phi giả định cũng bao gồm hai tiểu loại, một là câu điều kiện phi giả định tất yếu, hai là câu điều kiện phi giả định tập quán

Nguyễn Khánh Hà phân loại như sau:

Nguyễn Khánh Hà (2009) áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, thông qua thông kê phân tích, phân loại câu điều kiện theo kiểu câu Việc phân loại được tiến hành như các bước sau:

(1) Lấy tiêu chí xác định câu điển mẫu làm căn cứ để xác định các kiểu câu thuộc phạm trù câu điều kiện tiếng Việt;

(2) Loại bỏ những kiểu câu không đạt bất kỳ tiêu chí nào;

(3) Lập danh sách những câu đạt tiêu chí theo các mức độ khác nhau; (4) Phân bậc các câu theo mức độ đáp ứng tiêu chí câu điều kiện điển mẫu

Nguyễn Khánh Hà đi theo những bước như trên, đã phân loại câu điều kiện như sau:

Trang 19

Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các kiểu câu thuộc phạm trù câu điều kiện tiếng Việt[12]:

Đặc điểm nhóm Tên nhóm Kiểu kết cấu trong nhóm

thì B

- Nhƣợc bằng A (thì) B

Trang 20

(9) B, miễn là A - B, miễn là A - B, miễn sao A -B, miễn là

A - B, với điều kiện là A

- B, trừ phi A (11)A bằng

không/kẻo B

-[A]kẻo B -[A]bằng không/kẻo B

2 Nhóm kết cấu

có cặp từ hô ứng

- Phải A mới B (13) A bao nhiêu B

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÂU ĐIỀU KIỆN TIẾNG HÁN

1.2.1 Khái niệm câu ghép điều kiện tiếng Hán

Khái niệm câu ghép được Vương Ứng Vỹ “Văn pháp tiếng Hán thực dụng” (1920) đưa ra, ông cho rằng bất kỳ 2 câu đơn trở lên nào ghép với nhau đều tạo thành câu ghép Người đầu tiên đưa ra khái niệm chính xác nhất là Lưu Phục, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Trung” (1920) chỉ ra rằng: “Bất kỳ hai hoặc 2 phân câu hợp thành câu gọi là câu ghép”, những câu không có hình thức như thế là câu đơn

Việc xác định khái niệm về thuật ngữ này và cách sử dụng đối lập của câu đơn đã kết thúc trạng thái mơ hồ khí xác định thuật ngữ này trước kia, hơn nữa nó còn có tác dụng lớn trong việc xác định lý luận ổn định về câu

Trang 21

ghép tiếng Hán Vương Lực “ Ngữ pháp Trung Quốc hiện đại” định nghĩa câu ghép: “ những câu được hình thành từ việc ngắt nghỉ câu khi đọc được gọi

là câu ghép” [43] ông là người đầu tiên chỉ ra đặc trưng quan trọng trong khi đọc phải ngừng nghỉ của câu ghép Lã Thúc Tương chú ý đến vấn đề kết cấu nội bộ của câu ghép, trong “ Sơ lược ngữ pháp Trung Quốc”(1947) ông đã tiến hành phân tích và miêu tả sâu hơn Ông lấy kết từ để giải thích hiện tượng câu ghép, ông chỉ ra kết từ và kết hợp kết từ có thể gọi là “sự kết hợp của cấu tạo”, cũng có thể là “sự kết hợp của quan hệ”, loại sau chính là câu ghép Cũng về câu ghép Lê Cẩm Hy “Ngữ pháp tiếng Hán hiện đại” nhắc đến

“câu phạm vi” chỉ ra rằng, từ chủ ngữ của câu thêm một phạm vi, chính là một loại phương pháp và điều kiện để hạn chế câu Căn cứ vào câu để phân ra

3 loại: một là điều kiện trong phạm vi (điều kiện tích cực); hai là điều kiện ngoài phạm vi (điều kiện tiêu cực); ba là câu vô điều kiện mà trong câu có phó từ, đại từ nghi vấn, hình dung từ

1.2.2 Những nghiên cứu về từ liên kết

Từ liên kết là sự đánh dấu hình thức và đánh dấu quan hệ ngữ nghĩa logic quan trọng của câu ghép, các sách nghiên cứu đến từ liên kết cũng tương đối nhiều

Vương Duy Hiền thảo luận tác dụng của từ liên kết từ góc độ ngữ nghĩa; nghiên cứu về từ ghép của Hạnh Phú Nghĩa chú trọng đến tác dụng khống chế

ý nghĩa, tổng kết khái quát từ liên kết đến quan hệ của câu ghép bao gồm các tác dụng “hiển thị, chuyển hóa, cường điệu”

Kim Triệu Tử (năm 1922) “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Trung” cho rằng” từ liên kết phân thành hệ từ, liên từ, giới từ”, đây chính là khái niệm sớm nhất đề cập đến vấn đề thành phần liên kết Sau này, những khái niệm có liên quan còn có: “quan hệ từ” của Lê Cẩm Hy (năm 1924), “liên kết từ” của

Trang 22

Vương Lực (năm 1943), “từ ngữ liên kết” của Chu Đức Hy (1982), “ từ ngữ quan hệ” của Hạnh Phúc Nghĩa (1985), “thành phần liên kết” của Liêu Thu Trung (1986), “ngữ liên hệ logic” của Hoàng Quốc, “từ ngữ quan hệ” Trương Tân Vinh (1995), “từ ngữ liên quan” của Mạc Triệu (1997)

Đới Mộc Kim, Hoàng Giang Hải (1988) cho rằng “hư từ có tác dụng liên kết trong tổ hợp đơn vị trong các cấp độ ngôn ngữ gọi là từ liên kết”, bao gồm từ và đoản ngữ

Vương Duy Hiền (1940) và một số tác giả khác đã phân biệt chính xác thành phần liên kết và từ ngữ liên kết, họ chỉ ra rằng “từ liên kết- thông thường là chỉ liên từ, phó từ, và một số đoản ngữ biểu thị quan hệ ngữ nghĩa logic đặc chỉ, những đoản ngữ đó đã trở thành những đoản ngữ cố định”

Hạnh Phú Nghĩa (2001) chỉ ra “từ ngữ quan hệ câu phức là phân câu liên kết, đánh dấu quan hệ tương hỗ, hình thành nên đặc điểm chung của một số tổ hợp câu, không có mốc đánh dấu rõ ràng, do đó cũng không có phạm vi rõ ràng"

Trương Bân (2001) lại cho rằng “cái gọi là từ liên kết, thực ra không thuộc loại từ ngữ nào cả, mà là tên gọi một thành phần nào đó trong câu, gọi

là thành phần liên kết sẽ phù hợp hơn với thực tế”

Ngoài ra, Lã Thúc Tương (1980), Chu Đức Hy (1982) trình bày vai trò của từ liên kết trong câu ghép tiếng Hán Lã Thúc Tương phân vị trí của

từ liên kết câu ghép ra thành 3 loại: Từ liên kết của vế phía trước có thể sử dụng chung với từ liên kết của vế sau, cũng có thể sử dụng độc lập; Từ liên kết vế trước và vế sau sử dụng chung, đồng thời từ liên kết của vế sau có thể

sử dụng độc lập, trong trường hợp thông thường từ liên kết vế trước và vế sau có thể sử dụng hô ứng Chu Đức Hy tiến hành phân thành 2 loại: hoặc chỉ có thể xuất hiện ở vế trước, hoặc chỉ có thể xuất hiện ở vế sau Những

Trang 23

chuyên đề nghiên cứu riêng về từ liên kết còn có Lã Thúc Tương (1989), Cảnh Sỹ Tuấn (1995), Trương Nghi Sinh (1996), Vương Vỹ Lệ, Triệu Kính (2000), Hạnh Phú Nghĩa (2001) Họ đã có những phân tích kỹ lưỡng và tường tận về câu ghép

Về các nghiên cứu câu ghép điều kiện tiếng Hán cũng không có nhiều, chủ yếu có một số công trình sau: Dương Vĩnh Tuyền “ phân tích cách dùng

từ biểu thị liên kết điều kiện” Trần Thục Mai “Mạn đàm về từ liên kết trong câu ghép điều kiện”, Trương Học Thành “quan hệ cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của “Nếu A, thì B” Ngũ Nhân Nghĩa “mạn đàm sự khác biệt trong kết cấu của câu “nếu thì” Trương Giai Am “Trừ phi” và phân tích ngữ nghĩa của mẫu câu này” Ngô Gia Lân “Bàn về chỉ có mới” Hoàng Hiểu Đông

“phân tích ngữ nghĩa của câu Bất luận A, cũng/đều B” Vương Bội Vân “phân tích mẫu câu chỉ có P, thì Q”

1.2.3 Phân loại câu điều kiện và câu ghép

Kim Triệu Tử “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Trung (năm 1922) phân loại câu ghép thành câu phức chính phụ và câu phức hằng phân

Lê Cẩm Hy “Ngữ pháp tiếng Hán hiện đại” đã tiến hành phân tích một cách rất chi tiết, liệt kê từng liên từ mà các câu ghép có thể sử dụng

Vương Lực “Ngữ pháp tiếng Trung hiện đại” (năm 1940) chia câu ghép thành câu lập và câu chính phụ

Lã Thúc Tương, Chu Đức Hy trong “Bài giảng tu từ ngữ pháp”, chia câu ghép thành 10 loại: song hành, thay thế, tỷ lệ, so sánh kém, nhân quả, điều kiện, vô điều kiện, nhượng bộ, giả thiết “Tóm tắt hệ thông ngữ pháp dạy phổ thông trung học” (bản dùng thử) phân loại câu ghép thành 8 loại: câu

Trang 24

ghép đẳng lập, nối tiếp, lựa chọn, chuyển ý, nhân quả, giả thiết, điều kiện, mục đích

Vu Trí Thuần “Hệ thống tu từ và ngữ pháp mới” phân câu ghép thành

10 loại: đẳng lập, liên quan, tăng tiến, lựa họn, giải thích, nhân quả, chuyển ý, điều kiện, mục đích

Hạnh Phúc Nghĩa “Nghiên cứu câu ghép tiếng Hán”, gọi câu ghép chính phụ, câu liên hợp truyền thống là hệ thống nhất phân, gọi câu đẳng lập, chuyển ý, nhân quả là hệ thống nhị phân

Trong vấn đề câu ghép và câu điều kiện, Lê Cẩm Hy “Ngữ pháp tiếng Trung hiện đại”, Trương Trí Công “Kiến thức Hán ngữ”, Hoàng Bá Vinh

“Hán ngữ hiện đại” phân 2 loại câu ghép thành 2 loại không giống nhau Còn Vương Lực “Tóm lược ngữ pháp tiếng Hán”, Đinh Thanh Thụ “Bài giảng ngữ pháp tiếng Hán hiện đại”, Hồ Dụ Thục “Hán ngữ hiện đại” xếp câu ghép giả thiết vào câu điều kiện Luận văn của chúng tôi cũng đồng ý với quan điểm và

sẽ tiến hành nghiên cứu dựa trên quan điểm này

Hiện nay, cách phân loại câu điều kiện tiếng Hán có 2 khuynh hướng: một là phân loại theo phương pháp tam phân; Hai là phân loại theo phương pháp lưỡng phân

Khuynh hướng tam phân chia câu điều kiện thành 3 tiểu nhóm:

1 Nhóm điều kiện đầy đủ

2 Nhóm điều kiện thiết yếu

3 Nhóm vô điều kiện

Những học giả giữ quan điểm này chủ yếu có: Hoàng Bác Vinh, Hồ Dụ Thục, Lâm Tường My

Trang 25

Khuynh hướng lưỡng phân chia câu điều kiện thành 2 tiểu nhóm:

1 Câu điều kiện đầy đủ

2 Câu điều kiện thiết yếu

Những kết từ sử dụng chủ yếu là “只要 就”;“只有 才”;Riêng

“无论 都”có ý nghĩa vô điều kiện bị đưa vào câu phức nhượng bộ Những học giả giữ quan điểm này có: Hạnh Phúc Nghĩa

1.3 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN

1.3.1 Lý luận ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

So sánh là một phương pháp cơ bản trong nghiên cứu và nhận thức sự vật của con người, cũng là một phương pháp cơ bản của nghiên cứu ngôn ngữ Nếu nói nhiệm vụ căn bản của ngôn ngữ là một hiện tượng nào đó đối với ngôn ngữ có thể thêm vào sự trình bày chi tiết, thì việc trình bày chi tiết chính

là cần phải tiến hành phân tích đối chiểu các biểu hiện của hiện tượng đó (Halmannl 1980) Do đó, về bản chất mà nói, ngôn ngữ học đối chiếu là một loại so sánh, so sánh các đặc điểm không giống nhau của các nhánh ngôn ngữ,

từ đó làm chúng ta có thể xác định được vị trí của ngôn ngữ học đối chiếu trong hệ thống ngôn ngữ, đồng thời liên hệ với nghiên cứu các loại ngôn ngữ khác nhau Thuật ngữ “Ngôn ngữ học đối chiếu” là của một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học người Mỹ đưa ra vào năm 1941, thuật ngữ gốc ông sử dụng là

“contrastive analysis”, thuật ngữ này đã được giới nghiên cứu ngôn ngữ tiếp nhận.Nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Triệu Nguyên Nhiệm đã từng nói: “lý luận ngôn ngữ học đối chiếu thực tế là sự so sánh ngôn ngữ học, cũng là kết luận khoa học của các công trình nghiên cứu ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới”, ngôn ngữ học đối chiếu được hình thành từ lý luận ngôn ngữ kết cấu chủ nghĩa và tiếng nước ngoài, nó vận dụng một loại nguyên lỹ để tiến

Trang 26

hành phân tích 2 hoặc 2 loại ngôn ngữ trở lên Có một vị học giả đã định nghĩa về ngôn ngữ học đối chiếu như sau:” ngôn ngữ học đối chiếu là một phân nhánh của ngôn ngữ học, nhiệm vụ của nó là nghiên cứu so sánh 2 loại hoặc 2 loại ngôn ngữ trở lên, miêu tả sự giống và khác giữa nó, đặc biệt là sự khác nhau, đồng thời kết quả nghiên cứu của nó sẽ được ứng dụng sang một lĩnh vực khác.”

1.3.2 Một số nguyên tắc và phương pháp

Là một nhánh độc lập của ngôn ngữ, ngôn ngữ học đối chiếu đang ở trong quá trình tự hình thành Đối tượng, quan niệm, phạm vi còn chưa được định hình rõ, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu đối chiếu nên căn cứ vào các nguyên tắc và phương pháp thực tế như sau:

- Nguyên tắc đối chiếu đồng đại

Nghiên cứu đối chiếu là một loại nghiên cứu đồng đại, khi nghiên cứu bắt buộc phải tuân theo nguyên tắc đồng đại, không được so sánh các hiện tượng ngôn ngữ không đồng đại

- Nguyên tắc đối chiếu đồng ngữ

Ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp, bao gồm nhưng chức năng ngữ thể khác nhau, các ngôn ngữ khác nhau sẽ có các lựa chọn khác nhau, các quy tắc

và quy phạm của đơn vị tổ chức, sử dụng ngôn ngữ Cần phải tách rời ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, đối chiếu ngôn ngữ viết với ngôn ngữ viết, đối chiếu ngôn ngữ nói với ngôn ngữ nói, đối chiếu ngôn ngữ cùng một ngữ hệ

- Nguyên tắc kết hợp ứng dụng đối chiếu với lý luận đối chiếu

Nghiên cứu đối chiếu có thể có tính chất lý luận, cũng có thể có tính chất ứng dụng, trong đó, đối chiếu ứng dụng chủ yếu để phục vụ giảng dạy, do đó quá trình đối chiếu và miêu tả sao cho đơn giản thuận lợi cho giáo viên và học

Trang 27

sinh sử dụng Đồng thời nghiên cứu đối chiếu lý luận nên có quan hệ mật thiết với thực tế, liên hệ mật thiết với việc dạy học

- Phương pháp thống kê số lượng

Trong các công trình nghiên cứu trước đây, có tác giả chỉ chú trọng miêu tả định tính mà ít, chỉ có số thống kê định lượng Để đảm bảo tính khách quan, khoa học, theo chúng tôi phải trên cơ sở phân tích, thống kê ngữ liệu để đưa ra các nhận định khoa học

1 4 TIỂU KẾT

Như vậy, chúng tôi đã chỉ ra khái niệm, phân loại và tình hình nghiên cứu câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán một cách cụ thể và chi tiết Qua đó chúng ta có thể thấy một số điểm như sau:

1 Về câu điều kiện Trong thời gian gần đây các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc và Việt Nam đã chú ý nhiều hơn đến câu điều kiện và tiếp cận nó dưới nhiều góc độ khác nhau Sự nghiên cứu của câu điều kiện tiếng Hán được bắt đầu tương đối sớm và đã được khảo sát từ nhiều góc độ khác nhau Còn câu điều kiện tiếng Việt suốt một thời gian dài trở về trước dài vẫn chưa được giới ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Tuy vậy thời gian gần đây các nhà ngôn ngữ học và Việt Nam đã chú ý nhiều hơn đến câu điều kiện và tiếp cận nó dưới nhiều góc độ khác nhau

2 Về cách phân loại: Câu điều kiện tiếng Việt được phân loại theo các góc độ ngữ nghĩa, ngữ dụng, hình thức câu Còn câu điều kiện tiếng Hán chủ yếu phân loại theo ngữ nghĩa

Trang 28

CHƯƠNG 2 CẤU ĐIỀU KIỆN “NẾU A THÌ B” TRONG TÁC PHẨM

“BÁU VẬT CỦA ĐỜI” BẢN TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN

2.1 KHẢO SÁT CÂU ĐIỀU KIỆN “NẾU A THÌ B” TRONG TÁC PHẨM “BÁU VẬT CỦA ĐỜI”

2.1.1 Giới thiệu tác phẩm “Báu vật của đời”

Báu vật của đời (nguyên tác tiếng Hoa: Phong nhũ, phì đồn - tức Vú to,

mông nẩy) khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi tráng của đất nước Trung Hoa thông qua số phận của các thế hệ trong gia đình Thượng Quan Tác giả là Mạc Ngôn Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh năm 1955 tại Cao Mật, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Do Cách mạng Văn hóa, ông phải nghỉ học khi đang học dở tiểu học và phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn Năm 1976, ông nhập ngũ Năm 1984, trúng tuyển vào khoa văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm

1986 Năm 1988, ông lại trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh Năm 1991 tốt nghiệp với học vị thạc sĩ Hiện ông là sáng tác viên bậc Một của Cục Chính trị

- Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Nhà văn Mạc Ngôn từng được thế giới biết đến qua tác phẩm “Cao lương đỏ” Bộ phim cùng tên do đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tác phẩm này

đã đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Canner năm 1994

Truyện dài “Báu vật của đời” (nguyên tác tiếng Hoa: Phong nhũ phì đồn) được xuất bản vào tháng 9 năm 1995 và ngay trong năm ấy tác phẩm này được trao giải thưởng cao nhất về truyện Tác phẩm đó đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng [16]

“Báu vật của đời” khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi tráng của đất nước Trung Hoa thông qua số phận của các thế hệ trong gia đình Thượng Quan

Trang 29

Từ những số phận khác nhau, lịch sử được tiếp cận dưới nhiều góc độ, tạo nên sức sống, sức thuyết phục nghệ thuật của tác phẩm Có nhiều con đường để cảm thụ tác phẩm văn chương, vì vậy trước một hiện trượng văn học xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau âu cũng là điều bình thường, thậm chí còn làm phong phú thêm đời sống văn học

Tác phẩm được chuyển sang tiếng Việt với chất lượng tốt, giữ được đầy

đủ tinh thần văn bản nhờ tay dịch lão luyện, tinh tế của dịch giả Trần Đình Hiến, người đã có gần 50 năm gắn bó với các tác phẩm văn học Trung Hoa Qua bản dịch của ông, những “Cống long tu” (Lão xá), “Gieo mầm tình yêu” (Từ Hoài Trung) của những năm 60, đến những Khát vọng (Trịnh Vạn Long

và Lý Hiểu Minh), “Cây hợp hoan” (Trương Hiền Lượng) của những năm 90

đã đến với độc giả Việt Nam đầy đủ, trọn vẹn Đó là chưa kể hàng ngàn trang dịch khác chưa được xuất bản, trong đó có hai tập “Cao lương đỏ” mà ông dịch từ năm 1993 chỉ do ham thích chứ không từ yêu cầu xuất bản

2.1.2 Hình thức nhóm câu phức điều kiện “nếu A thì B” trong tác phẩm “Báu vật của đời”

Hình thức phổ biến của nhóm kiểu câu này là nếu A thì B, ví dụ:

(1) Nếu nó không là hồ ly tinh, thì tại sao với tài thiện xạ như trại trưởng Long từng nổi tiếng trong đội biệt động, lại bắn không trúng

đội bộc phá

Loại câu có cả hai cặp liên từ "nếu", " thì" là câu phổ biến nhất trong

nhóm câu nếu A thì B Ngoài loại câu này, một hình thức khác cũng khá phổ

biến là “Nếu A, B” Ví dụ:

(4) Nếu ông ta quyết tâm sửa chữa sai lầm, chúng tôi vui lòng gọi ông

ta là đồng chí

Nhóm nếu A thì B có một kiểu câu là "nếu như thì", kiểu câu này cũng

có xuất hiện trong tác phẩm" Báu vật của đời" Như câu sau:

Trang 30

(5) Nếu như trước đó chỉ một thoáng chị nhìn Kim Đồng, thì sẽ không xảy ra bi kịch

Trong một số trường hợp, vế chính đứng trước vế phụ , khi đó kết cấu

có hình thức B nếu A hoặc B, nếu A Ví dụ:

(6) Đám phụ nữ trách móc, rạp mình xuống mà kéo cối, lịch kịch lịch kịch lúc nhanh lúc chậm, mồ hôi ròng ròng, bụng sôi ùng ục đầy những hơi là hơi, bụng trương lên, không dám đánh trung tiện nếu Mặt Rỗ có ở đấy

2.1.3 Thống kê các mẫu câu điều kiện xuất hiện trong tác phẩm

“Báu vật của đời”

Như trên đã liệt kê một loạt cách phân loại câu điều kiện của các tác giả

đi trước Chúng tôi thống nhất đi theo cách phân loại của tác giả Nguyễn Khánh Hà Sau đây sẽ là bảng thống kê cụ thể tần suất và tỉ lệ xuất hiện của các mẫu câu điều kiện trong tác phẩm “ Báu vật của đời”:

Bảng 2.1 Bảng thống kê cụ thể tần suất và tỉ lệ xuất hiện của các mẫu câu điều kiện trong tác phẩm “ Báu vật của đời”

STT Kiểu câu Số câu xuất

hiện

Tỷ lệ % xuất hiện Ghi chú

Trang 31

Trong suốt quá trình khảo sát các mẫu câu điều kiện, chúng tôi rất phân vân có nên phân tích tất cả các mẫu câu điều kiện hay không, vì như thế nội dung và phạm vi nghiên cứu quá rộng Chính vì lý do đó chúng tôi quyết định

sẽ phân tích sâu mẫu câu điều kiện “nếu A thì B” trong tác phẩm này trên 3 phương diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng và chỉ ra điểm khác và giống của mẫu câu điều kiện này trong 2 ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán

Trong tác phẩm “Báu vật của đời”, nhóm câu điều kiện "nếu A thì B"

có số lượng nhiều nhất, cho nên, luận văn này chủ yếu khảo sát kiểu câu điều kiện "nếu A thì B"

2.2 ĐẶC ĐIỂM CÚ PHÁP CỦA CÂU ĐIỀU KIỆN “NẾU A THÌ B” TIẾNG VIỆT TRONG TÁC PHẨM “BÁU VẬT CỦA ĐỜI”

Chu Đức Hy đã chỉ ra “mục đích cuối cùng của nghiên cứu ngữ pháp là tìm hiểu rõ quan hệ đối ứng giữa hình thức và ý nghĩa ngữ pháp.” Để đạt được mục tiêu này, có thế xuất phát từ hình thức hoặc xuất phát từ ý nghĩa để tiến hành nghiên cứu Chương này chúng tôi sẽ chú trọng nghiên cứu đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các câu điều kiện “nếu A thì B” xuất hiện trong tác phẩm “Báu vật của đời”

Trong quá trình tìm hiểu và phân tích cấu trúc ngữ pháp câu tiếng Viêt, chúng tôi thấy quan điểm tương đối mới của Nguyễn Hồng Cổn về việc phân

tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt, ông chỉ ra “Trong Việt ngữ học hiện

đang tồn tại hai quan niệm bất đồng về việc phân tích cấu trúc cú pháp của

cú và câu tiếng Việt: phân tích theo quan hệ chủ-vị hay phân tích theo quan

hệ đề - thuyết Sự bất đồng này kéo theo những hệ lụy nhất định, gây khó khăn cho việc việc dạy và học tiếng Việt như một bản ngữ và như một ngoại ngữ.” Và trong kết luận của mình ông đưa ra quan điểm riêng của mình như

sau “Tóm lại, khác với hai quan niệm phân tích cấu trúc chủ-vị và cấu trúc

đề-thuyết đối lập nhau, xuất phát từ quan điểm cấu trúc-chức năng, chúng tôi

Trang 32

cho rằng cần phân biệt trong tiếng Việt hai kiểu cấu trúc cú pháp của hai đơn vị khác biệt nhau về mặt cấu trúc-chức năng: Cấu trúc chủ-vị là cấu trúc của cú hay mệnh đề (clause), đơn vị cú pháp có chức năng cơ bản là biểu hiện các sự tình, gắn với chức năng biểu hiện của ngôn ngữ Còn cấu trúc đề-thuyết là cấu trúc cú pháp của câu, đơn vị cú pháp có chức năng cơ bản là truyền đạt một thông báo, gắn liền với chức năng giao tiếp của ngôn ngữ Hai kiểu cấu trúc này nên được coi là bổ sung cho nhau chứ không

loại trừ nhau trong hệ thống cú pháp tiếng Việt Theo hướng tiếp cận này,

việc phân tích cú pháp tiếng Việt đáp ứng được sự thỏa đáng trên cả hai

phương diện loại hình và phổ niệm ngôn ngữ.”

Từ những quan điểm đã được phân tích rất cụ thể trong bài viết của ông, chúng tôi cũng hết sức đồng tình, và xét thấy câu điều kiện “nếu A, thì B” của tiếng Việt nếu đi theo hướng phân tích cú pháp “chủ-vị” thì sẽ đạt được kết quả cao hơn Sau đây là một số phân tích cụ thể của chúng tôi:

2.2.1 Chủ ngữ của câu điều kiện “nếu A thì B”

Trong 130 câu điều kiện của "Báu vật của đời" , có 59 câu là có chủ ngữ tương đồng và có 51 câu là chủ ngữ không tương đồng

A Chủ ngữ tương đồng

Trong những câu điều kiện có chủ ngữ tương đồng thì có những hiện tượng như sau:

a) Vế chính và vế phụ đều xuất hiện chủ ngữ

(7) Nếu cho tôi về thật thì tôi cũng không về, trừ phi em đi cùng tôi! (8) Nếu như tôi chuyển nét mặt từ nhăn nhó sang giận dữ hoặc nghiêm nghị, nếu như tôi mọc thêm đôi cánh, thì tôi là thiên sứ

(9) Nếu như lúc nãy tôi tự tiện múc cháo ăn, bà tỏ ra khiếm nhã thì tôi lờ

đi không trả

Trang 33

Chủ ngữ của những câu ví dụ như trên toàn tương đồng Chủ ngữ của câu (7), (8), (9) là "tôi", vế chính và vế phụ đều xuất hiện chủ ngữ "tôi", chúng ta có thể hiểu rằng chủ ngữ của hai mệnh đề là một

là một câu điều kiện có chủ ngữ tương đồng Trong câu (11) “Nếu ông Lượng quay lại thì có thể cho ông giữ chức đại đội phó đại đội bộc phá” Vế phụ có chủ ngữ rõ ràng là "ông Lượng", mà vế chính cũng xuất hiện "ông", nhưng mà "ông" không đứng ở vị trí chủ ngữ, thông qua khảo sát toàn câu, chúng ta có thể biết được chủ ngữ của vế chính là người nói, nếu bổ sung chủ ngữ của vế chính vào, thì câu(11) sẽ là "Nếu ông Lượng quay lại thì chúng ta

có thể cho ông giữ chức đại đội phó đại đội bộc phá"

c) Chủ ngữ của vế chính và vế phụ bị tỉnh lược hoàn toàn

(12) Nếu đã hết cách thì về nhà với mẹ

Chủ ngữ vế chính và vế phụ của câu (12) bị giản lược chủ ngữ, song phân tích toàn câu, thì có thể thấy rằng vế chính và vế phụ có tính liên tục, đều đang nói về một người, tức là "con của người nói", cho nên chúng ta có thể khẳng định chủ ngữ của vế chính và vế phụ là một

Trang 34

B Chủ ngữ không tương đồng

Câu điều kiện có chủ ngữ không tương đồng có 79 câu, chiếm 60% câu điều kiện trong "Báu vật của đời", Câu điều kiện có chủ ngữ không tương đồng tương đối nhiều hơn câu điều kiện có chủ ngữ tương đồng, những câu điều kiện có chủ ngữ không tương đồng cũng có thể tổng kết những quy luật như sau:

b) Vế phụ có nhưng vế chính bị tỉnh lược chủ ngữ

(16) Thủ trưởng yên tâm, nếu bè vỡ thì cứ chặt chín ngón tay của tôi đi!

Chủ ngữ vế điều kiện của câu (16) là "bè", chủ ngữ vế chính là chủ ngữ giản lược Thông qua phân tích toàn câu chúng ta thấy: người nói đang khẳng định với “thủ trưởng” là chiếc bè rất chắc chắn, “nếu bè vỡ” thì “thủ trưởng

cứ chặt chín ngón tay của tôi đi”->có thể hiểu được chủ ngữ bị giản lược là

"thủ trưởng"

c) Chủ ngữ của cả hai vế đều bị tỉnh lược

Khi chủ ngữ không tương đồng, hai vế câu phức điều kiện tiếng Việt có thể dùng chủ ngữ riêng mình, cũng có thể giản lược một chủ ngữ, tuy vậy không thể giản lược 2 chủ ngữ như câu chủ ngữ tương đồng Vị trí chủ ngữ có thể ở đầu câu, cũng có thể ở giữa câu

Trang 35

2.2.2 Trật tự cú pháp câu của câu điều kiện “nếu A thì B”

Câu điều kiện “nếu A thì B” có hai loại hình thức kết cấu theo trật tự giữa hai vế câu: 1 Vế điều kiện + vế chính

2 Vế chính + vế điều kiện Loại 1 là loại câu điều kiện phổ biến nhất, trong 130 câu ngữ liệu chúng

ta đang khảo sát, thì có 128 câu thuộc loại hình 1, chỉ có 2 câu là thuộc loại hình 2 Lý do tại sao loại hình 1 được sự dụng phổ biến hơn loại hình 2 nhiều như thế? Giới ngôn ngữ thế giới có 2 quan điểm giải thích:

1) Quan điểm từ góc độ xử lý lời nói, loại giải thích này chủ yếu là do 2.1 ông Comrie (1986:84-85) nêu ra Comrie cho rằng do tiêu chí của câu điều kiện thường xuất hiện ở vế điều kiện mà không phải ở vế chính, cho nên

vế điều kiện mang tiêu chí để trước vế chính không có tiêu chí, những câu có ngữ nghĩa phi sự thật nếu có tiêu chí chuyển đạt, thì có thể tránh khỏi vế câu

bị lý giải thành câu sự thật Từ góc độ xử lý lời nói của người nhận lý giải những quan điểm trên đều có một số vấn đề: nếu những giải thích như trên là chắc chắn, thì có nghĩa là nếu tiêu chí của câu điều kiện xuất hiện trong vế chính mà phi vế điều kiện, thì vế chính thì phải nằm trước vế điều kiện, tuy nhiên vẫn không có đủ các bằng chứng để hỗ trợ các suy luận như vậy

2) Quan điểm từ góc độ tri nhận, loại giải thích này là do ông Greenberg (1966:103) đưa ra, ông cho rằng" Trong quan hệ điều kiện, tuy quan hệ giá trị chân lý (truth-value) của nó thường bị các nhà logic dùng trật tự "Chứa hàm-

bị chứa hàm" trong ngôn ngữ tự nhiên biểu tượng hóa, có nghĩa là họ cho rằng khuynh hướng của vế điều kiện để trước là sự phản ánh có tính Cụ tượng (iconicity) của trật tự tư duy logic của con người

Trên đây quan điểm của các ngôn ngữ học, chúng ta hãy thử phân tích nguyên nhân đó bằng ngữ liệu câu điều kiên “nếu A thì B” trong "Báu vật của đời" theo quan điểm của riêng mình

Trang 36

Thông qua phân tích những câu điều kiện “nếu A thì B” trong "Báu vật của đời", chúng ta có thể thầy tính so sánh của các câu điều kiện bắt nguồn từ tính giả thiết của nó (contrastivity) Khi chúng ta nói ra một vế điều kiện, thì

vế chứa hàm sự tồn tại của một số khả năng phát sinh khác mà đối ứng với nó Tính so sánh của vế câu này bắt nguồn từ tính giả thiết của nó, loại tính giả thiết này có thể là một giả thiết phản thực với sựu thật quá khứ/thường lý hiện

tại như ví dụ: Cô gái đó cực kỳ xinh đẹp, nếu không bị mù, thì sẽ lấy vua, trở

thành hoàng hậu

Trong câu này vế điều kiện biểu hiện một tình hình trái với sự thật,

mà câu chính thì dẫn đến một khả năng khác, cũng có thể là một loại giả định của tương lai, ví dụ câu (17) Nếu con mắc tội thì có nghĩa là số phận con phải tội đó

Vế điều kiện một khả năng có thể xảy ra, là giả thiết Bất cứ là loại nào,mỗi câu điều kiện đều từ việc lựa chọn từ tập hợp trong thế giới khả năng Loại lựa chọn này là của người nói lựa chọn sau khi tiến hành đối chiếu các loại hình trong thế giới khả năng Cụ thể đến chân thực trong hoàn cảnh giao tiếp, khi người nói sử dụng câu điều kiện, tính so sánh của vế câu điều kiện khiến cho người nói đầu tiên phải đưa ra vài kết quả lựa chọn sau khi tự lựa chọn từ thế giới khả năng đó, thông báo cho người nghe tình hình của việc lựa chọn trong thế giới khả năng đó, từ đó đạt đến mục đích giao tiếp hiệu quả;

Từ góc độ người nghe, anh ta cũng hy vọng từ khi bắt đầu đã biết được người nói giao tiếp từ thế giới khả năng nào trong phạm vi lựa chọn Nguyên tắc giao tiếp này dẫn đến kết quả trực tiếp, chính là về mặt trật tự câu vế điều kiện cần đứng trước vế kết quả

Trật tự của hai vế câu của câu điều kiện khác nhau sẽ dẫn tới ngữ nghĩa của câu điều kiện có gì khác nhau? Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban đã có kết luận liên quan như sau:

Trang 37

+ Trong kiểu câu này, khi vế phụ đứng trước vế chính thì sẽ tạo ra quan

hệ điều kiện/giả thiết hệ quả

Chúng ta có thể chứng minh kết luận trên bằng các ngữ liệu khác

Ví dụ: (18) Nếu như rau dại không mọc kịp thời, thì quá nửa người dân trong thôn đã chết đói

(19) Nếu ông Lượng quay lại thì có thể cho ông giữ chức đại đội phó đại đội bộc phá

Câu (18) vế điều kiện đưa ra một điều kiện giả thiết "Rau dại không mọc kịp thời" nếu hiện tượng này xảy ra, sẽ dẫn tới kết quả là "quá nửa người dân trong thôn đã chết đói " Trong câu (19), vế điều kiện nêu ra một điều kiện" ông Lượng quay lại", nếu đáp ứng được điều kiện này thì sẽ có thể có kết quả trong vế chính"có thể cho ông giữ chức đại đội phó đại đội bộc phá "

+ Nếu trật tự thay đổi ngược lại, tức là vế chính đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc – điều kiện/giả thiết, và trong trường hợp này không được dùng từ “thì” đứng đầu vế chính nữa

Chúng ta có thể đưa ra 2 câu điều kiện " Nếu A thì B" có vế điều kiện để sau để chứng minh những kết luận trên

Ví dụ: (20) Ánh mắt họ chợt lóe lên, có người chớp một cái, người hai cái, người ba cái, người bốn năm cái, người nhiều nhất không quá chín cái Những ánh mắt lạ lùng đó là do sự có mặt của chị Lai Đệ, nếu như chị đúng như lời chính ủy Tưởng, là một nửa của Sa Nguyệt Lượng trong công tác chỉ huy bộ đội

(21) Cậu phải giữ mồm giữ miệng, không được khai là ngủ với cô ta, nếu như cậu còn sống sau trận lũ này!

Câu (20) câu chính đang kể một sự việc" Những ánh mắt lạ lùng đó là

do sự có mặt của chị Lai Đệ" Mà việc được xảy ra dưới giả thiết " nếu như chị đúng như lời chính ủy Tưởng, là một nửa của Sa Nguyệt Lượng trong công tác chỉ huy bộ đội.", quan hệ giữa 2 vế câu thì là quan hệ sự việc – giả thiết

Trang 38

Câu (21) trong vế điều kiện kể một sự việc "Cậu phải giữ mồm giữ miệng không được khai là ngủ với cô ta", vế điều kiện sau thì là đưa ra một điều kiện

"nếu như cậu còn sống sau trận lũ này!" Quan hệ giữa 2 vế câu thì là quan hệ

sự việc – điều kiện

2.2.3 Ngữ nghĩa của câu điều kiện “nếu A thì B”

2.2.3.1 Đặc trưng ngữ nghĩa của câu điều kiện “nếu A thì B ”

Đặc trưng ngữ nghĩa còn gọi là thành phần ngữ nghĩa, đặc trưng ngữ nghĩa của câu ghép bao gồm ý nghĩa quan hệ từ, cũng chính là đặc trưng ngữ nghĩa bao hàm trong các kết từ Dưới đây, chúng ta hãy phân tích đặc trưng ngữ nghĩa của câu điều kiện nhóm “nếu A thì B” từ góc độ tính giả thuyết và tính điều kiện

1 Tính giả thuyết

Giả thuyết là một loại giả định hoặc có thể nói là tạo thành một phán đoán khả năng, làm cho những tình huống được nói đến nằm trong một thế giới khả năng trở thành hiện thực Thế giới khả năng có tính tương đối với thế giới hiện thực, quan hệ của đôi bên cũng có sự khác biệt Đầu tiên là tính tất yếu là khả năng, từ đây cho thấy không có thế giới khả năng thì không có thế giới hiện thực; ngược lại, khả năng lại phải lấy hiện thực làm căn cứ, từ đó suy ra không có thế giới hiện thực thì sẽ không tồn tại thế giới khả năng Đặc trưng cơ bản của giả thuyết là người nói tin vào những tình huống đang nói đến mà họ tạo ra trong thế giới khả năng đều là thật, nhưng trong thế giới hiện thực chưa chắc là thật Giả thuyết có thể phân thành hai loại cơ bản là giả thuyết khả năng và giả thuyết phản thực

a) Giả thuyết khả năng

Đặc điểm cơ bản của giả thuyết khả năng là: thứ nhất, những tình huống được nói đến trong câu trong thời điểm nói chưa thành hiện thực, có đặc trưng tương lai; thứ hai, người nói không chỉ cho rằng những tình huống được nói

Trang 39

đến đó là thực trong thế giới khả năng, mà còn cũng có thể có thực trong thế giới hiện thực, nhưng không thể xác định được những tình huống đó cuối cùng có thật trong thế giới hiện thực hay không

(17) Nếu ông đưa đến ngày mồng Bốn tháng Chạp thì tôi thưởng cho ông thêm một khoản nữa, khoản này là

(18) Nếu đã hết cách thì về nhà với mẹ

Trong câu (17) "đưa đến"chưa thành sự thật trong lúc nói chuyện, có đặc trưng thời tương lai, và "hết cách" trong câu (18) có thể là thật trong thế giới khả năng, có thể là sự thật trong thế giới hiện thực, nhưng mà "về nhà với mẹ" chưa được xác định, có thể xảy ra, cũng có thể không xảy ra, như loại câu phức trên thì là có giả thuyết khả năng

b) Giả thuyết phản thực

Đặc điểm cơ bản của giả thuyết phản thực là: thứ nhất, những tình huống được nói đến trong câu tại thời điểm nói hoặc trước đó đã xảy ra, có đặc trưng quá khứ; thứ hai, người nói không chỉ cho rằng những tình huống được nói có thật trong thế giới khả năng mà còn cho rằng trong thế giới thực vốn dĩ cũng

có khả năng là thật; thứ ba, tình huống được nói đến trong câu chỉ có ở thế giới khả năng mới là thật, còn trong thế giới hiện thực dù là quá khứ, hiện tại hay tương lai đều không thể có thật

(19) Nếu như trước đó chỉ một thoáng chị nhìn Kim Đồng, thì sẽ không xảy ra bi kịch

Trong câu 19 "trước đó chỉ một thoáng chị nhìn Kim Đồng" có thể là thật trong thế giới khả năng, trong thế giới cũng có thể là hiện thực, nhưng mà

do một nguyên nhân nào đó, nó chưa trở thành hiện thực trong thế giới hiện thực, đấy thì là đặc trưng giả thuyết phản hiện thực

Trang 40

2 Tính điều kiện

Căn cứ là nguyên nhân nội bộ quyết định sự tồn tại, phát triển của sự vật, căn nguyên vận động và mâu thuẫn căn bản cố hữu của nội bộ sự vật; điều kiện là yếu tố bên ngoài tác động và ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của sự vật Hai điều này quan hệ mật thiết và tác động qua lại Căn cứ

có tác dụng quyết định căn bản hoặc tác dụng chủ yếu trong sự phát triển của sự vật, căn cứ khác nhau quyết định đặc trưng khác nhau và tính khả năng phát triển khác nhau của sự vật Điều kiện chỉ có thể thông qua căn cứ mới có tác dụng Trên thực tế tính điều kiện chính là điều kiện sản sinh kết quả nào đó là điều kiện gì

Từ quan hệ ngữ nghĩa giữa các mệnh đề, tính điều kiện của câu phức điều kiện chủ yếu thể hiện ở điều kiện tất nhiên, điều kiện giả định, nhìn từ quan hệ ngữ nghĩa giữa các phân câu tính điều kiện của nhóm câu điều kiện

“nếu A thì B” gồm 2 loại, một là câu điều kiện có điều kiện giả thuyết, hai là câu điều kiện có điều kiện đủ Lý thuyết "điều kiện đủ" do nhà ngôn ngữ Van der Auwera nêu ra và được xem là cơ sở cho sự phân tích các quan hệ này Theo Van der Auwera, mệnh đề điều kiện A là điều kiện đủ của mệnh đề chính B trong lĩnh vực nội dung (hay thế giới thực)

(22) Nếu như ông tuôn ra một tràng tiếng Tây và giơ tay ra hiệu, có thể các đội viên sẽ lặng lẽ rút lui, mà dù không nói tiếng Tây, ông chỉ nói vài câu tiếng Trung Quốc với giọng lơ lớ, các đội viên cũng không dám ngang ngược (23) Nếu ông Lượng quay lại thì có thể cho ông giữ chức đại đội phó đại đội bộc phá

Câu (22) là câu điều kiện có điều kiện giả thiết, tức là "ông tuôn ra một tràng tiếng tây và giơ tay ra hiệu" có khả năng dẫn đến "đội viên sẽ lặng lẽ rút

lui, mà dù không nói tiếng Tây", câu (23) là câu điều kiện có điều kiện đầy

đủ, tức là "ông Lượng quay lại" là điều kiện đầy đủ sẽ dẫn đến kết quả "cho

Ngày đăng: 05/10/2014, 02:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1  Bảng  thống  kê  cụ  thể  tần  suất  và  tỉ  lệ  xuất  hiện  của  các  mẫu câu điều kiện trong tác phẩm “ Báu vật của đời” - khảo sát câu điều kiện tiếng việt nếu a thì b trong tác phẩm báu vật của đời
ng 2.1 Bảng thống kê cụ thể tần suất và tỉ lệ xuất hiện của các mẫu câu điều kiện trong tác phẩm “ Báu vật của đời” (Trang 30)
Bảng  2.2    Bảng  đối  chiếu  hình  thức  câu  điều  kiện  tiếng  Việt  và  tiếng Hán - khảo sát câu điều kiện tiếng việt nếu a thì b trong tác phẩm báu vật của đời
ng 2.2 Bảng đối chiếu hình thức câu điều kiện tiếng Việt và tiếng Hán (Trang 48)
Bảng 3.2 Tỷ lệ sai của kiểu câu có cặp từ “nếu..., thì...”, “chỉ có...,  mới....” và “chỉ cần..., thì...”: - khảo sát câu điều kiện tiếng việt nếu a thì b trong tác phẩm báu vật của đời
Bảng 3.2 Tỷ lệ sai của kiểu câu có cặp từ “nếu..., thì...”, “chỉ có..., mới....” và “chỉ cần..., thì...”: (Trang 58)
Bảng  3.3  Tỷ  lệ  mắc  lỗi  sai  của  cặp  từ  “  Cho  dù..,  đều”  và  “  dù  rằng....., vẫn....” - khảo sát câu điều kiện tiếng việt nếu a thì b trong tác phẩm báu vật của đời
ng 3.3 Tỷ lệ mắc lỗi sai của cặp từ “ Cho dù.., đều” và “ dù rằng....., vẫn....” (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w