1 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân .... Vai trò của cây lúa và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa đối với đời
Trang 1- -
NGUYỄN BÍCH THẢO
HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA
VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Kinh tế n ông nghiệp
Mã số: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Bắc
Thái Nguyên, 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sỹ “Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”, chuyên ngành Kinh
tế nông nghiệp, mã số 60-31-10, đây là công trình của riêng tôi Luận văn đã
sử dụng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin có sẵn đã đƣợc trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu đã đƣợc nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Thảo
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Bắc
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên cùng các đơn vị khác
Để hoàn thành được đề tài, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ và cộng tác của UBND huyện Đồng Hỷ, các cán bộ kỹ thuật, các hộ nông dân sản xuất lúa của huyện Đồng Hỷ
Tôi xin cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi thực hiện tốt bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Tác giả luận văn
Nguyễn Bích Thảo
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân 5
1.1 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế 5
1.1.1 Khái niệm cơ bản và ý nghĩa hiệu quả kinh tế 5
1.1.2 Nội dung, bản chất và phân loại hiệu quả kinh tế 8
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế và vai trò đối với đời sống
người dân 13
1.2 Vai trò của cây lúa và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa đối với đời sống người dân 15
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân 17
1.3.1 Những nhân tố về điều kiện tự nhiên 17
1.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội 20
1.3.3 Nhóm nhân tố kỹ thuật 23
1.4 Tình hình hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên thế giới và ở Việt Nam 25
1.4.1 Tình hình hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở một số nước trên thế giới 25
Trang 51.4.2 Tình hình hiệu quả sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân
ở Việt Nam 26
1.4.3 Tình hình hiệu quả sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân tỉnh Thái Nguyên 28
1.5 Phương pháp nghiên cứu 31
1.5.1 Chọn điểm nghiên cứu 31
1.5.2 Thu thập số liệu 31
1.5.3 Xử lý số liệu 33
1.5.4 Phương pháp phân tích 34
1.5.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 38
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ 38
2.1.2 Nhân khẩu và lao động huyện Đồng Hỷ 46
2.1.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Đồng Hỷ 48
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ 51
2.1.5 Nhân tố kỹ thuật 53
2.1.6 Cơ chế chính sách 55
2.1.7 Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong vấn đề hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 56 2.2 Thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 57
2.2.1 Thực trạng sản xuất lúa của huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên 57
2.2.2 Kết quả, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 68
Trang 62.3 Đánh giá kết quả đạt được 73
2.4 Một số tồn tại cần khắc phục 74
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 76
3.1 Những quan điểm, căn cứ, định hướng, mục tiêu hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 76
3.1.1 Căn cứ hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 76
3.1.2 Định hướng hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 76
3.1.3 Mục tiêu hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 77
3.2 Một số giải pháp về vấn đề hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 78
3.2.1 Giải pháp về thị trường tiêu thụ lúa gạo của huyện Đồng Hỷ 78
3.2.2 Giải pháp mở rộng diện tích, thâm canh tăng năng suất và sản lượng lúa của huyện Đồng Hỷ 79
3.2.3 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn huyện Đồng Hỷ 83
3.2.4 Giải pháp tăng cường vốn đầu tư cho sản xuất lúa của huyện Đồng Hỷ 84
3.2.5 Giải pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa của huyện Đồng Hỷ 86
3.2.6 Các giải pháp về khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 87
3.2.7 Vận dụng tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 97
Trang 8Bảng 2.9: Tình hình đầu tƣ chi phí sản xuất cho 1 ha mô hình
gieo trồng lúa của huyện Đồng Hỷ năm 2008 - 2010 62 Bảng 2.10: Tình hình đầu tƣ cho 1 ha mô hình gieo trồng lúa
khang dân của huyện Đồng Hỷ năm 2008 - 2010 65 Bảng 2.11: Tình hình đầu tƣ cho 1 ha mô hình gieo trồng lúa lai
Bảng 2.12: Kết quả và hiệu quả kinh tế trên 1 ha mô hình sản
xuất lúa khang dân của các hộ năm 2008 - 2010 69 Bảng 2.13: Kết quả và hiệu quả kinh tế trên 1 ha mô hình sản
xuất lúa lai của các hộ năm 2008 - 2010 70
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tình hình biến động năng suất lúa của huyện Đồng
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là ngành sản xuất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển xã hội loài người, và là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, giữ một vị trí hết sức quan trọng Nông nghiệp sản xuất ra những sản phẩm nuôi sống con người mà bất kỳ ngành sản xuất khác không thể thay thế được Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp ngành sản xuất lương thực chiếm vị trí quan trọng quyết định sự thành bại, ấm no hay phồn vinh của nông nghiệp và nông thôn, đôi khi là của toàn bộ nền kinh tế - xã hội của quốc gia Vì vậy việc phát triển sản xuất lương thực không những là quan trọng mà còn là chỗ dựa vững chắc để tạo đà phát triển cho các ngành sản xuất khác trong nền kinh tế quốc dân Ngoài ra lương thực còn là nguồn dự trữ để nhà nước thực hiện chính sách xã hội Từ những ý nghĩa to lớn như vậy Đảng và Nhà nước ta đã lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng tâm cho các thời
kì phát triển của đất nước
Đối với nước ta, sản xuất lương thực chủ yếu và quyết định vẫn là lúa gạo Sản xuất lúa là một sự nghiệp mang tính chiến lược của quốc gia Từ lâu Đảng và nhà nước đã luôn có phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội nông thôn, đặc biệt là sản xuất lúa phù hợp với từng giai đoạn và đặc biệt vấn đề đó đã được thể hiện ngày càng rõ hơn trong các nghị quyết và chính sách của thời kỳ đổi mới
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Đông Bắc, có tổng diện tích tự nhiên 353.101,67 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 83.44% Đa số người dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đất đai xấu, thuỷ lợi khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhất là vùng sâu, vùng xa ở các huyện miền núi cao Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thái Nguyên, có tiềm năng lớn về đất nông lâm nghiệp Cơ cấu kinh tế theo hướng nông - lâm nghiệp của huyện
Trang 11chiếm tỷ trọng cao Trong đó sản xuất lúa gạo chiếm diện tích khá lớn và quyết định nhiều đến thu nhập và đời sống của các hộ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vậy thực trạng sản xuất lúa và hiệu quả sản xuất lúa của huyện như thế nào? Vị trí? Vai trò của nó? Sự phát triển đó có bền vững và có hiệu quả không? Đây là những vấn đề cấp thiết đặt ra cần phải được nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn Cần phải xem cái gì đạt được, cái gì chưa đạt, cái gì mạnh, cái gì yếu Từ đó có giải pháp hữu hiệu phát huy thế mạnh
và hạn chế mặt yếu nhằm làm cho sản xuất lúa phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa của huyện được nhanh và vững chắc
Xuất phát từ đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
và vai trò đối với đời sống người dân ở huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần thiết thực triển khai chiến
lược phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu bao trùm của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng sản xuất lúa, hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở
huyện Đồng Hỷ đề ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất
lúa góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho nông dân tại huyện Đồng Hỷ
- tỉnh Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa về cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề hiệu
quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân
- Phân tích đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò của nó đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ từ năm
2008 - 2010
Trang 12- Đề ra định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng
Hỷ trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề về sản xuất lúa, hiệu quả kinh
tế sản xuất lúa và vai trò đối với người dân nông thôn, các hộ, cộng đồng và các vùng nông thôn trên địa bàn huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2008 - 2010
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Đồng Hỷ -
tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về hiệu quả sản xuất lúa là rất rộng,
vì vậy luận văn chỉ tập trung phân tích thực trạng sản xuất của một số giống lúa tại địa phương, so sánh hiệu quả kinh tế sản xuất một số giống lúa, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là công trình lý luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Là tài liệu giúp huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trong thời gian tới
- Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ Có ý nghĩa thiết thực cho quá trình phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối
Trang 13với đời sống người dân huyện Đồng Hỷ và đối với các địa phương có điều kiện tương tự
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân
Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
và vai trò đối với đời sống người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT LÚA VÀ VAI TRÒ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN
1.1 Một số vấn đề lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.1 Khái niệm cơ bản và ý nghĩa hiệu quả kinh tế
1.1.1.1 Một số quan điểm cơ bản về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát
từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế [17]
Xuất phát từ nhiều giác độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế
- Trước đây, người ta coi hiệu quả kinh tế là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế Ngày nay, quan điểm này không còn phù hợp, bởi vì nếu cùng một kết quả xuất nhưng hai mức chi phí khác nhau thì hiệu quả sẽ khác nhau, nhưng theo quan điểm này chúng có cùng một hiệu quả
- Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành”
và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động hay tăng hiệu quả” Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu
cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội" [9]
- Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng
“Hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã
Trang 15hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ” [9]
- Một số quan điểm khác lại cho rằng, hiệu quả được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản phẩm đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra
là giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối quan hệ so sánh này được xem xét về cả hai mặt (so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối) Như vậy, một hoạt động sản xuất nào đó đạt được hiệu quả cao chính là đã đạt được mối quan hệ tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
- Có quan điểm lại xem xét, hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa mức độ biến động của kết quả sản xuất và mức độ biến động của chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Việc so sánh này có thể tính cho số tuyệt đối và số tương đối Quan điểm này có ưu việt trong đánh giá hiệu quả của đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, tức là hiệu quả kinh tế của phần đầu tư thêm
- Theo ý kiến của một số nhà kinh tế khác thì những quan điểm nêu trên chưa toàn diện, vì mới nhìn thấy ở những góc độ và khía cạnh trực tiếp Vì vậy, khi xem xét hiệu quả kinh tế phải đặt trong tổng thể kinh tế - xã hội, nghĩa là phải quan tâm tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như nâng cao mức sống, cải thiện môi trường…
Như vậy, hiệu quả kinh tế trong sản xuất là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất và trình độ của mọi hình thái kinh tế - xã hội Ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, quan niệm về hiệu quả kinh tế cũng khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của từng đơn vị sản xuất Tuy nhiên, mọi quan niệm về hiệu quả kinh tế sản xuất đều thể hiện một điểm chung nhất Đó là tiết kiệm nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa Đối với ngành sản xuất nông nghiệp thì hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp là tổng hợp các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá để sản xuất ra sản phẩm
Trang 16nông nghiệp Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra Khi xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp phải tính đến việc sử dụng đất đai, các nguồn dự trữ vật chất lao động trong nông nghiệp, tức là phải sử dụng đến các nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp Các tiềm năng này bao gồm vốn sản xuất, lao động và đất đai
Để đánh giá hiệu quả kinh tế chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, phải biểu hiện trên các góc độ khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau theo không gian - thời gian - số lượng - chất lượng:
- Về mặt không gian: Khi xét hiệu quả kinh tế không nên xét một mặt, một lĩnh vực mà phải xét trong mối quan hệ hữu cơ hợp lý trong tổng thể chung
- Về mặt thời gian: Sự toàn diện của hiệu quả kinh tế đạt được không phải xét ở từng gian đoạn mà phải xét trong toàn bộ chu kỳ sản xuất
- Về mặt số lượng: Hiệu quả kinh tế phải thể hiện mối tương quan thu, chi theo hướng giảm đi hoặc tăng thêm
- Về mặt chất lượng: Hiệu quả kinh tế phải đảm bảo sự cân đối hợp lý giữa các mặt kinh tế, chính trị, xã hội
1.1.1.2 Ý nghĩa hiệu quả kinh tế
Phát triển kinh tế theo chiều rộng tức là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như tăng diện tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và kỹ thuật mới,
mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm nhiều xí nghiệp, tạo ra nhiều mặt hàng mới, mở rộng thị trường… Phát triển kinh tế theo chiều sâu nghĩa là xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh
áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyên môn hoá, hợp tác hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực Theo nghĩa này, phát triển kinh tế theo chiều sâu là nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 17Phát triển kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của mọi nền kinh tế và mọi đơn vị sản xuất kinh doanh Nhưng ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp và ở mỗi thời kỳ sự kết hợp này có sự khác nhau Theo quy luật chung của các nước, cũng như các doanh nghiệp là ở thời kỳ đầu của sự phát triển thường tập trung để phát triển theo chiều rộng, sau khi có tích luỹ thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu
Lý do chủ yếu cần phải chú trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu là:
- Do sự khan hiếm nguồn lực (thiếu vốn, đất đai, tài nguyên thiên nhiên sẽ cạn…) làm hạn chế phát triển theo chiều rộng Sự khan hiếm này càng trở nên căng thẳng trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu của xã hội hoặc thị trường
- Sự cần thiết xây dựng, đổi mới và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội hoặc của doanh nghiệp Muốn vậy cần thiết phải phát triển kinh
tế theo chiều sâu mới tích luỹ nhiều vốn
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế trong từng doanh nghiệp, từng ngành, từng địa phương và từng quốc gia là rất cần thiết và có ý nghĩa rất lớn Cụ thể:
- Tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có
- Thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, thực hiện tốt công nghiệp hoá, hiện đại hoá
- Đẩy nhanh sự phát triển kinh tế
- Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động
1.1.2 Nội dung, bản chất và phân loại hiệu quả kinh tế
1.1.2.1 Nội dung hiệu quả kinh tế
Nội dung của hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể được hiểu như sau:
- Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học, kỹ thuật, quản lý…) để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn
Trang 18- Trong sản xuất kinh doanh luôn luôn có mối quan hệ giữa sử dụng yếu tố đầu vào (chi phí) và đầu ra (sản phẩm), từ đó chúng ta mới biết được hao phí cho sản xuất là bao nhiêu? Loại chi phí nào? Mức chi phí như vậy có chấp nhận không? Mối quan hệ này được xem xét ở từng sản phẩm, dịch vụ và cho cả doanh nghiệp
- Hiệu quả kinh tế gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể trong sản xuất kinh doanh, ở những điều kiện lịch sử cụ thể
Kết quả và hiệu quả kinh tế là hai phạm trù kinh tế khác nhau, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối liên hệ mật thiết giữa mặt chất và mặt lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả thể hiện khối lượng, qui mô của một sản phẩm cụ thể và được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, tuỳ thuộc vào từng trường hợp Hiệu quả là đại lượng được dùng để đành giá kết quả
đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bao nhiêu? Mức chi phí cho 1 đơn vị kết quả có chấp nhận được không? Song, hiệu quả và kết quả phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đặc điểm của từng ngành sản xuất, qui trình công nghệ, thị trường… Do đó, khi đánh giá hiệu quả cần phải xem xét tới các yếu tố đó để có kết luận cho phù hợp
- Tính toán hiệu quả kinh tế gắn liền với việc lượng hoá các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (sản phẩm) của từng sản phẩm, dịch vụ của từng công nghệ trong điều kiện nhất định
Các doanh nghiệp với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Do vậy, hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất Việc lượng hoá hết và cụ thể các yếu tố này
để tính toán hiệu quả kinh tế thường gặp nhiều khó khăn (đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp) Chẳng hạn:
- Đối với yếu tố đầu vào: Trong sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, tài sản cố định (TSCĐ) được sử dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, trong
Trang 19nhiều năm nhưng không đồng đều Mặt khác, giá trị thanh lý và sửa chữa lớn khó xác định chính xác, nên việc tính khấu hao TSCĐ và phân bố chi phí để tính hiệu quả chỉ có tính chất tương đối
Một số chi phí chung như chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, trạm, trường…), chi phí thông tin, khuyến cáo khoa học kỹ thuật cần thiết phải hạch toán vào chi phí, nhưng trên thực tế không tính toán cụ thể và chính xác được
Sự biến động của giá cả và mức độ trượt giá ở trên thị trường gây khó khăn cho việc xác định chính xác các loại chi phí sản xuất
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng thuận lợi và khó khăn cho sản xuất, nhưng mức độ tác động là bao nhiêu, đến nay vẫn chưa có phương pháp nào xác định chuẩn xác, nên cũng ảnh hưởng tới tín dụng, tính đủ các yếu tố đầu vào
- Đối với các yếu tố đầu ra:
Trên thực tế chỉ lượng hoá được kết quả thể hiện bằng vật chất, có kết quả thể hiện dưới dạng phi vật chất như tạo công ăn việc làm, khả năng cạnh tranh trên thị trường, tái sản xuất mở rộng, bảo vệ môi trường… thường không thể lượng hoá ngay được và chỉ biểu lộ hiệu quả sau một thời gian dài vậy thì việc xác định đúng, đủ lượng kết quả này cũng gặp khó khăn
1.1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận
Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Hiểu kết quả hoạt động sản
Trang 20xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm, Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường - tiền tệ Vấn đề được đặt ra là: hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả
1.1.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là: Nâng cao cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị và xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân tức là đã đạt hiệu quả về mặt xã hội
Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh tế
xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không thể
Trang 21có được Cũng có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để có kết luận chính xác
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối (phép chia) mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối (phép trừ) và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối
Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả kinh tế đạt được và lượng chi phí bỏ ra thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) với lượng chi phí bỏ ra
Hiệu quả về kinh tế xã hội thể hiện mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất và
nó được đánh giá đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định, từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế
Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành:
Trang 22- HQKT theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, Trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế theo những ngành hẹp hơn
- HQKT quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội
- HQKT theo vùng lãnh thổ là xét riêng cho từng vùng, từng tỉnh, từng huyện,
- HQKT doanh nghiệp là xem xét riêng cho doanh nghiệp, vì doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục tiêu cao nhất, nên nhiều hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu quả của quốc gia
- Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất và sản xuất dịch vụ
Căn cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào sản xuất, có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành từng loại như:
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị
- Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng,
- Hiệu quả áp dụng các biện pháp khoa học và quản lý
1.1.3 Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế
Khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu HQKT phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Phải đảm bảo tính thống nhất, thể hiện ở nội dung các chỉ tiêu và phương pháp xác định, tính toán
- Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống, bao gồm chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và chỉ tiêu bổ sung
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ sản xuất cây lúa nói riêng
Xét về mặt nội dung hiệu quả kinh tế có mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, nó so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra Kết quả kinh tế phản ảnh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh, còn hiệu
Trang 23quả kinh tế là tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi phí bỏ ra để có kết quả đó (là mối quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí của nền sản xuất)
- Chỉ tiêu tổng quát phản ảnh hiệu quả kinh tế:
Q – Kết quả sản xuất thu đƣợc
K – Chi phí nguồn lực
∆Q – Phần tăng lên của kết quả
∆K – Phần tăng lên của chi phí
Chỉ tiêu này có thể tính theo hiện vật, hoặc tính theo giá trị (tiền) Vấn đề cần thống nhất cách xác định Q và K để tính toán hiệu quả kinh tế
* Q có thể được biểu hiện là:
- Tổng giá trị sản xuất (GO)
- Tổng giá trị gia tăng (VA)
- Chi phí biến đổi (VC)
- Chi phí trung gian (IC)
- Chi phí lao động (LĐ)
- Phần tăng lên của chi phí (∆K)
Bảng 1.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế
Kết quả SX
Trang 24Phương pháp xác định kết quả sản xuất Q và chi phí sản xuất K nêu trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện
cụ thể nhất định vận dụng cho thích hợp
Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết sức phức tạp, vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ tiêu trên, cần quan tâm đến một số chỉ tiêu khác như:
- Năng suất đất đai:
ND = GO(N)/D(CT)
Trong đó: GO(N) - Giá trị sản xuất ngành trồng trọt
D(CT) - Diện tích đất canh tác sử dụng trong ngành trồng trọt Trong quá trình đánh giá, phân tích không chỉ đơn thuần phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế, mà phải chứ ý đến hiệu quả xã hội như mức sống dân cư, vấn đề việc làm, nâng cao dân trí, gớp phần xóa đói giảm nghèo, Đồng thời phải chú ý đến hiệu quả môi trường sinh thái như giảm gây ô nhiễm môi trường, bảo vệ nguồn nước, Trên cơ sở phát triển một nền môi trường bền vững [4]
Ngoài ra, hiệu quả kinh tế trong kinh doanh còn sử dụng một số chỉ tiêu:
- Doanh thu (TR):
+ Doanh thu = Số lượng sản phẩm tiêu thụ x Giá đơn vị sản phẩm
+ Tổng chi phí tiêu thụ (TC) = Giá vốn hàng bán + Chi phí tiêu thụ
- Tổng lợi nhuận (TPr):
TPr = TR – TC
- Doanh lợi:
Doanh lợi (%) = Vốn sử dụng trong sản xuất kinh doanh Tổng lợi nhuận x 100
1.2 Vai trò của cây lúa và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa đối với đời sống người dân
Lúa là một trong ba cây lương thực chủ yếu bao gồm lúa mì, ngô và lúa gạo Sản phẩm chính của cây lúa là gạo làm lương thực Từ gạo có thể nấu cơm, chế biến thành rất nhiều các loại món ăn khác
Trang 25Trong lúa gạo có đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác, ngoài ra còn có các Vitamin nhóm B và một số thành phần khác
- Về tinh bột: Là nguồn cung cấp chủ yếu Calo Giá trị nhiệt lượng của lúa là
3594 Calo/g, trong đó hàm lượng amyloza trong hạt quyết định đến độ dẻo của gạo
- Prôtêin: Chiếm 6 - 8% thấp hơn so với lúa mỳ và các loại cây khác Giống lúa có hàm lượng prôtêin cao nhất là 12,84% và thấp nhất là 5,25%
- Lipít: Ở lúa lipít thuộc loại trung bình, phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo
- Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhóm B như B1, B2, B6…Vitamin B1 là 0,45 mg/100hạt Từ những đặc điểm của cây lúa và giá trị của nó, lúa gạo được coi là nguồn thực phẩm, dược phẩm có giá trị và được tổ chức dinh dưỡng quốc tế gọi là "Hạt gạo là hạt của sự sống"
Với giá trị dinh dưỡng của hạt kết hợp với việc chọn tạo giống có năng suất cao, phẩm chất tốt thì lúa gạo ngoài việc sử dụng làm lượng lương thực là chủ yếu thì các sản phẩm phụ của lúa còn sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực khác nhau [20]
Các sản phẩm phụ của cây lúa như:
- Tấm: sản xuất tinh bột, rượu cồn, Axê tôn, phấn mịn và thuốc chữa bệnh
- Cám: Dùng để sản xuất thức ăn tổng hợp; sản xuất vi ta min B1 để chữa bệnh tê phù, chế tạo sơn cao cấp hoặc làm nguyên liệu xà phòng
- Trấu: sản xuất nấm men làm thức ăn gia súc, vật liệu đóng lót hàng, vật liệu độn cho phân chuồng, hoặc làm chất đốt
- Rơm rạ: được sử dụng cho công nghệ sản suất giầy, các tông xây dựng, đồ gia dụng (thừng, chão, mũ, giầy dép), hoặc làm thức ăn cho gia súc, sản xuất nấm
Như vậy, ngoài hạt lúa là bộ phận chính làm lương thực, tất cả các bộ phận khác của cây lúa đều được con người sử dụng phục vụ cho nhu cầu cần thiết, thậm chí bộ phận rễ lúa còn nằm trong đất sau khi thu hoạch cũng được cày bừa vùi lấp làm cho đất tơi xốp, được vi sinh vật phân giải thành nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây trồng vụ sau [20]
Trang 26Lúa là một trong những cây lương thực chính, nuôi sống con người và gia súc Sản xuất cây lương thực phát triển sẽ đảm bảo sự cường thịnh về mặt kinh tế của đất nước Các nhà kinh tế đều cho rằng điều kiện tiên quyết cho sự phát triển là phải tăng cung lương thực cho nền kinh tế quốc dân, bằng việc phát triển sản xuất hoặc nhập khẩu Vì vậy phát triển mạnh sản xuất lương thực nói chung, sản xuất lúa nói riêng có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế cũng như đối với nông nghiệp
Sản xuất lương thực nói chung và lúa gạo nói riêng là cơ sở của sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác, có tác dụng to lớn đối với sự công nghiệp hóa đất nước Nó còn có ý nghĩa to lớn đối với việc củng cố về tăng cường khả năng quốc phòng, tăng nguồn dự trữ quốc gia về phòng chống thiên tai [14]
Không một hoạt động kinh tế nào nuôi sống nhiều người và hỗ trợ nhiều hộ gia đình bằng việc sản xuất lúa gạo Lúa gạo đóng vai trò cốt lõi trong việc phát triển của rất nhiều quốc gia, nhưng cũng gây nhiều tác động đến môi trường vì diện tích trồng lúa chiếm hơn 10% đất trồng trọt của trái đất Việc sản xuất lúa gạo nuôi sống gần một nửa hành tinh mỗi ngày, cung cấp hầu hết thu nhập chính cho hàng triệu hộ gia đình ở vùng quê nghèo khổ Bằng cách cung cấp cho nông dân trồng lúa những sự lựa chọn và kỹ thuật mới người ta đã giúp nông dân tăng gia sản xuất,
và như vậy lúa gạo đã giúp cho thế giới được nuôi dưỡng, có công ăn việc làm và ổn định
Từ đó có thể thấy sản xuất lúa gạo và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa
là những vấn đề hết sức cần thiết và có nhiều tác động tích cực đến đời sống người dân
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân
1.3.1 Những nhân tố về điều kiện tự nhiên
- Đất đai: Là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng, đất đai là nhân tố quan trọng không thể thay thế được, là điều kiện tiên quyết cho việc mở rộng quy mô sản xuất
Trang 27Quy mô diện tích canh tác nếu quá lớn thì sẽ không đủ khẳ năng đầu
tư, dẫn đến sản xuất kém hiệu quả; nếu quy mô diện tích canh tác quá ít thì giá trị tăng thêm sẽ không cao, không đảm bảo đủ lương thực để cải thiện đời sống Quy mô diện tích canh tác phải phù hợp với khả năng đầu
tư trong quá trình sản xuất
- Nước: Cây lúa sống trong ruộng nước, là cây cần và ưa nước điển hình nên
từ “lúa nước” bao giờ cũng gắn liền với cây lúa Ở nước ta đại bộ phận ruộng lúa đều tưới ngập nước, tuy nhiên cũng có những giống lúa có khả năng chịu hạn (lúa cạn, lúa nương ) sinh trưởng hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời, nhưng năng suất không cao bằng lúa nước Lại có những giống lúa chịu được nước sâu, ở vùng Ðồng Tháp Mười những giống lúa cổ truyền có thể chịu ngập sâu đến 3 mét
Nước là thành phần chủ yếu của cây lúa, nếu lấy 100g lá lúa tươi đem sấy thì lượng lá khô chỉ còn lại 12g (còn 88g là lượng nước bốc hơi), đem phần lá khô đốt cháy hoàn toàn thì lượng tro còn lại là 1,5g Với 88% trọng lượng cây lúa, nước là thành phần chủ yếu và cực kỳ quan trọng đối với đời sống cây lúa Nước là điều kiện để thực hiện các quá trình sinh lý trong cây lúa, đồng thời cũng là môi trường sống của cây lúa, là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu được đối với cây lúa
Nước là một trong những nguồn vật liệu thô để chế tạo thức ăn, vận chuyển thức ăn lên xuống trong cây, đến những bộ phận khác nhau của cây lúa Bên cạnh
đó lượng nước trong cây lúa và nước ruộng lúa là yếu tố điều hòa nhiệt độ cho cây lúa cũng như quần thể, không gian ruộng lúa Nước cũng góp phần làm cứng thân
và lá lúa, nếu thiếu nước thân lá lúa sẽ khô, lá lúa bị cuộn lại và rủ xuống, còn nếu cây lúa đẩy đủ nước thì thân lá lúa sẽ đứng, bản lá mở rộng [20]
- Nhiệt độ: Cây lúa xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên điều kiện khí hậu nóng ẩm
là điều kiện thuận lợi cho cây lúa phát triển Lúa là loại cây ưa nóng, để hoàn thành chu kỳ sống, cây lúa cần một lượng nhiệt nhất định Trong điều kiện trồng lúa ở
Trang 28nước ta, thường những giống ngắn ngày cần một lượng tổng tích ôn là 2.500 - 3.0000C, giống trung ngày từ 3.000-3.5000C, giống dài ngày từ 3.500 - 4.5000
C Trong quá trình sinh trưởng, nếu nhiệt độ cao cây lúa nhanh đạt được tổng nhiệt độ cần thiết thì sẽ ra hoa và chín sớm hơn, tức là rút ngắn thời gian sinh trưởng Nếu nhiệt độ thấp thì ngược lại Ðối với vụ chiêm xuân ở nước ta, các giống lúa ngắn ngày là những giống mẫn cảm với nhiệt độ (giống cảm ôn) nên thời gian sinh trưởng dễ biến động theo nhiệt độ hàng năm và theo mùa vụ cấy sớm hay muộn, vì vậy việc dự báo khí tượng trong vụ chiêm xuân cần phải được coi trọng và chú ý theo dõi để bố trí cơ cấu mùa vụ cho thích hợp, tránh để trường hợp khi lúa trỗ gặp rét Với vụ mùa thì điều kiện nhiệt độ tương đối ổn định nên thời gian sinh trưởng của các giống lúa cấy trong vụ mùa ít thay đổi [20]
- Ánh sáng: Cũng giống như yếu tố nhiệt độ, cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới nên nó là cây ưa sáng và mẫn cảm với quang chu kỳ (độ dài ngày) Giống như đại
đa số các cây trồng khác, cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quang hợp và tạo năng suất lúa Ðặc biệt với một số giống lúa địa phương trung và dài ngày, chu kỳ chiếu sáng có tác động đến quá trình làm đòng, ra hoa (gọi là những giống có phản ứng quang chu kỳ hay là giống cảm quang)
Về cường độ ánh sáng do bức xạ mặt trời chiếu xuống mặt đất thì ánh sáng
mà ta nhìn thấy được là loại ánh sáng có tác dụng cho quá trình quang hợp của cây lúa Cường độ ánh sáng thay đổi theo vĩ độ địa lý, theo thời gian trong năm và thời gian trong ngày Trong ngày, cường độ ánh sáng đạt cực đại vào khoảng 11-13 giờ trưa, còn ở thời điểm 8-9 giờ sáng và 15-16 giờ chiều thì cường độ ánh sáng chỉ bẳng 1/2 thời điểm cực đại trong ngày Trong năm, với các tỉnh phía Nam và Nam Trung bộ thì cường độ ánh sáng phân bổ đồng đều không có biến đổi nhiều, riêng đối với các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ thì cường độ ánh sáng khá đầy đủ trong
vụ mùa, riêng vụ đông xuân thì giai đoạn mạ, cấy và đẻ nhánh thời tiết thường âm
Trang 29u, rét kéo dài, cường độ ánh sáng không đầy đủ, đến tháng 4-5 trở đi có nắng ấm và ánh sáng tương đối đầy đủ nên lúa xuân bắt đầu sinh trưởng thuận lợi
Về thời gian chiếu sáng (độ dài ngày): thời gian chiếu sáng và bóng tối trong một ngày đêm (gọi là quang chu kỳ) có tác dụng rõ rệt đến quá trình phân hóa đòng
và trỗ bông Nếu không có điều kiện chiếu sáng phù hợp thì cây lúa không thể ra hoa kết quả được Nếu các cây trồng hàng nãm phân chia làm 3 loại theo đặc tính phản ứng quang chu kỳ (loại phản ứng ánh sáng dài ngày, loại phản ứng ánh sáng ngắn ngày và loại phản ứng trung tính với ánh sáng) thì cây lúa thuộc nhóm cây ngày ngắn, chỉ đòi hỏi thời gian chiếu sáng dưới 13 giờ/ngày Với thời gian chiếu sáng từ 9-10 giờ/ngày có tác dụng rõ rệt đối với việc xúc tiến quá trình làm đòng, trỗ bông của cây lúa Tuy nhiên mức độ phản ứng với quang chu kỳ còn phụ thuộc vào giống và vùng trồng Ở nước ta, một số giống lúa mùa địa phương có phản ứng rất rõ với quang chu kỳ, đem các giống này cấy vào cụ chiêm xuân lúa sẽ không ra hoa Thường các giống lúa ngắn ngày có phản ứng yếu hoặc không phản ứng với quang chu kỳ thì có thể gieo cấy vào mọi thời vụ trong năm [20]
1.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội
- Thị trường tiêu thụ: Trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường có ý nghĩa sống còn đối với mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh, mỗi nhà sản xuất Bởi lẽ trong kinh tế thị trường nhà sản xuất cung cấp hàng hóa dịch vụ, bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mình có, vì mục tiêu lợi nhuận Do vậy đòi hỏi các cơ sỏ sản xuất phải trả lời đúng chính xác ba vấn đề cơ bản của một tổ chức kinh tế đó là sản xuất, kinh doanh cái gì? Sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai?
Có như vậy, cơ sỏ sản xuất kinh doanh mới có thể thu được kết quả và hiệu quả kinh tế cao, mới tồn tại và đúng vững trên thương trường Như vậy, trước khi quyết định sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu kỹ thị trường, nắm vững dung lượng thị trường, nhu cầu thị trường và môi trường kinh doanh sẽ tham gia [2]
Trang 30Trong nông nghiệp, do yêu cầu của thị trường, giá cả sản phẩm là đòi hỏi tất yếu để lựa chọn cơ cấu cây trồng để đạt lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao nhất Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Chức năng của thị trường là thực hiện sản phẩm và thừa nhận lao động làm ra sản phẩm cân đối cung cầu và kích thích nâng cao hiệu quả của sản xuất
Trong mối giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế nhu cầu về sản phẩm có những đòi hỏi khác nhau Khi nền kinh tế phát triển còn thấp, thu nhập của các tâng lớp dân cư còn hạn hẹp thì yêu cầu của thị trường về chất lượng chưa cao,
mà chủ yếu là đáp ứng về mặt số lượng và giá cả sản phẩm Khi thu nhập càng tăng, nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng thay đổi theo hướng vừa tăng về số lượng, chất lượng và giá cả lúa này có tính cạnh tranh cao Đặc biệt là thị trường xuất khẩu thì yêu cầu về chất lượng sản phẩm lại càng khắt khe và nghiêm ngặt, tuy vậy nếu ta đáp ứng được các quy định, yêu cầu đó thì kết quả và hiệu quả kinh tế thu được sẽ rất cao
- Chi phí trung gian: Nếu tốc độ tăng chi phí trung gian tăng nhanh hơn tốc độ tăng năng suất, làm lãng phí vốn đầu tư cho sản xuất lúa, cũng như cho ngành nông nghiệp Kết quả không chỉ như thế mà còn làm cho đất đai ngày càng hoang hoá, bạc màu, mất cân bằng sinh thái Như thế là làm tổn hại đến khả năng sản xuất trong tương lai, là vi phạm sự phát triển nông nghiệp bền vững Trước thực trạng này, yêu cầu đặt ra là, là phải mua sắm thêm tư liệu sản xuất, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, chon các loại giống
có phẩm chất tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Do đó, phải tạo điều kiện thuận lợi một cách toàn diện để khắc phục cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan Có như vậy mới tăng năng suất, tăng giá trị sản xuất, tăng giá trị tăng thêm, mục đính cuối cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện và nâng cao đời sống cho bà con
- Giá cả: Trong kinh tế thị trường giá luôn thay đổi đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất cây lúa Giá cả đầu ra là một trong số các nhân tố có
Trang 31ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người trồng lúa Hiệu quả kinh tế cao hay thấp phụ thuộc vào giá cả trên thị trường Giá các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc BVTV, vốn sản xuất và lao động, có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển sản xuất, hình thành giá cả sản phẩm, là nhân tố trực tiếp làm thay đổi trạng thái sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, gây tác động lớn đến kết quả và hiệu quả kinh tế Nếu giá các yếu tố chi phí đầu vào thấp, nhưng giá bán thóc gạo ra thị trường cao sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Ngược lại, nếu giá bán cao, nhưng giá các yếu tố chi phí cũng cao thì thu nhập người trồng lúa cũng sẽ bị giảm đáng kể
- Vốn: Vốn là yếu tố quan trọng để tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất nông nghiệp Vốn giúp cho các hộ sản xuất có điều kiện thâm canh, tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, trên cơ sở đó có điều kiện giảm chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế Phát triển trồng lúa ở Đồng hỷ hiện nay vẫn đang thiếu nhiều vốn, do vậy muốn phát triển nhanh về diện tích, năng suất trồng lúa phải có sự hỗ trợ của nhà nước về vốn như: cho vay với lãi suất ưu đãi, trợ giá cây giống, phân bón Ngoài ra cần mở ra và đẩy nhanh bảo hiểm vật nuôi giúp các hộ nông dân sản xuất lúa khi gặp rủi ro như thiên tai, dịch bệnh,
- Lao động: Lao động là yếu tố quyết định đối với mỗi quá trình sản xuất Việc trồng và chăm sóc lúa cũng đòi hỏi tốn nhiều công sức của người lao động do những hạn chế về phương tiện kỹ thuật phục vụ cho sản xuất Lao động đối với sản xuất lúa không đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, nhưng cũng cần có hiểu biết về cây lúa, nắm bắt được thời vụ, nhu cầu dinh dưỡng của cây, lượng phân bón, phòng chống sâu bệnh hại, thời kỳ thu hoạch, đặc biệt là phải có kinh nghiệm sản xuất,nnhững yếu tố này cũng có tác động lớn đến hiệu quả sản xuất
Ngoài những yếu tố trên ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa còn một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đó là: Chính sách vĩ
mô của nhà nước về vốn, đất đai, chính sách phát triển nông nghiệp, Đặc biệt là
Trang 32chính sách hỗ trợ vốn cho người nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng chính sách khuyến nông, khuyến lâm, có tác động tích cực để phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa
Điều kiện bảo quản cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức nảy mầm của hạt giống Nếu bảo quản không tốt, sức nảy mầm của hạt thóc có thể giảm nhiều chỉ trong vài tháng sau khi thu hoạch Nhưng nếu bảo quản tốt, đặc biệt là trong điều kiện khô lạnh (trong kho lạnh dướI 150C thì thóc giống có thể để qua 1 - 2 năm vẫn có sức nảy mầm tốt [20]
- Thời vụ cây trồng: Cây lúa ở miền Bắc thông thường được trồng vào hai vụ trong năm đó là vụ Đông xuân và vụ mùa Tuy nhiên vào vụ Đông xuân cây có điều kiện phát triển tốt hơn do thời tiết thuận lợi cho việc trồng cây, cây nhanh bén rễ và ra mầm, cây đạt tỷ lệ sống cao hơn Còn vụ mùa thời tiết thay đổi thất thường, mưa nhiều, nắng nóng dễ gây ngập úng hoặc khô hạn, cây khó phát triển, năng suất lúa sẽ giảm
- Phân bón: Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh dưỡng cần thiết, không thể thiếu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa bao gồm: Đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, sắt, kẽm, đồng, magiê, mangan, mô-líp-đen, bo, silic, lưu huỳnh và các-bon, ô-xy, hyđrô Tất cả các chất trên đây (trừ các-bon, ô-xy, hyđrô) phân bón đều có thể cung cấp được Có nhiều chất dinh
Trang 33dưỡng khoáng mà cây lúa cần, nhưng 3 yếu tố dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn là: Đạm, lân và kali là những chất cần thiết cho những quá trình sống diễn ra trong cây lúa Các nguyên tố khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất, nếu thiếu thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà bón bổ sung
Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, nó cần thiết cho suốt quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch Cùng với các yếu tố năng lượng khác, phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: Tinh bột, chất đường, chất béo, prôtêin… Ngoài ra chúng còn giữ vai trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không
có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn tại
Phân bón cho lúa chứa những chất dinh dưỡng quan trọng cần thiết cho cây lúa phát triển, các loại dinh dưỡng này cần phải thường xuyên bổ sung cho cây lúa Trong đất luôn tồn dư một lượng dinh dưỡng nhất định nhưng lượng dinh dưỡng từ đất thường không đủ cho cây lúa phát triển để đạt hiệu quả, hiệu suất cao nhất về năng suất, chất lượng khi thu hoạch Người ta bổ sung dinh dưỡng cho cây lúa bằng cách bón các loại phân bón vào đất hoặc phun lên lá các loại phân bón khác nhau, vào các giai đoạn khác nhau để đạt được kết quả sản xuất cao nhất [21]
- Phòng trừ sâu bệnh: Cần phải phòng trừ sâu bệnh kịp thời Khi phát hiện các loại sâu bệnh thì cần xem xét kỹ lưỡng để chọn các loại thuốc trừ sâu cho phù hợp và phun đúng liều lượng, không ảnh hưởng đến chất lượng thóc khi thu hoạch
- Thu hoạch và bảo quản: Cần thu hoạch lúa đúng thời điểm để tránh ảnh hưởng đến chất lượng thóc gạo Tước khi thu hoạch cần ước lượng sản lượng thu được để có kế hoạch thu hái, vận chuyển và tiêu thụ Lúa sau khi thu hoạch về cần đạp tuốt để tách riêng hạt thóc Nơi đập tuốt lúa phải được lót bạt, hoặc tực tiếp ở sân phơi, nhưng phải sạch rác, sạn và không được lẫn với giống khác Sau khi lúa
đã phơi khô, quạt sạch trấu, hạt lép, đóng vào bao để bảo quản trong kho chuyên dụng Kho bảo quản phải được khử trùng, dọn sạch trước khi cất trữ Ở các hộ gia
Trang 34đình nên cho thóc vào bồ, thùng phi hoặc thùng tôn đặt ở nơi khô ráo, thoáng mát Thường xuyên kiểm tra ẩm mốc, mọt và chuột Nếu bị dịch hại và ẩm mốc cần phải xử lí ngay
- Đổi mới công nghệ sản xuất: Công nghệ là một hệ thống các kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin, hoặc công nghệ là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu
tố đầu vào và sản lượng đầu ra bằng vật chất nhất định Đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức sao cho nâng cao được năng lực sản xuất có thể làm ra sản phẩm nhiều hơn với một số lượng đầu vào như trước hoặc có thể làm ra một lượng sản phẩm như cũ với khối lượng đầu vào ít hơn
1.4 Tình hình hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở một số nước trên thế giới
Không một hoạt động kinh tế nào nuôi sống nhiều người và hỗ trợ nhiều gia đình bằng việc sản xuất lúa gạo Lúa gạo đóng vai trò cốt lõi trong việc phát triển của rất nhiều quốc gia, đất trồng lúa chiếm 11% đất trồng trọt của trái đất Việc sản xuất lúa gạo nuôi sống gần một nửa hành tinh mỗi ngày, cung cấp hầu hết thu nhập chính cho hàng triệu nông dân trên toàn thế giới Lúa dùng để nuôi sống gia đình và bám chặt lấy cuộc sống của người dân Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ khoảng 90% lượng gạo toàn thế giới, 10% lượng gạo còn lại được trồng trọt và tiêu thụ tại các nước Châu Phi và Châu Mỹ Lúa gạo là nguồn cung cấp năng lượng lớn nhất cho con người, bình quân 180 - 200 kg gạo/ người/ năm tại các nước châu
Á , khoảng 10 kg/ người/ năm tại các nước châu Mỹ [20]
Thống kế của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008) cho thấy, có 114 nước trồng lúa, trong đó 18 nước có diện tích trồng lúa trên trên 1.000.000 ha tập trung ở Châu Á, 31 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng 100.000 ha -
Trang 351.000.000 ha Trong đó có 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha đứng đầu là Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), El Salvador (7,9 tấn/ha) Thống kế của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008) còn cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã gia tăng
rõ rệt từ năm 1961 đến 1980 Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng chậm, tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức 155,1 triệu ha Từ năm 2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 159 triệu ha cao nhất kể từ năm 1995 tới nay
Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất lúa bình quân trên thế giới cũng tăng khoảng 1,4 tấn/ha trong vòng 24 năm từ năm 1961 đến 1985, đặc biệt sau cuộc cách mạng xanh của thế giới vào những năm 1965-1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày, không quang cảm, mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Đến những năm 1990 dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc,
Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) Từ năm 1990 trở đi đến tại thời điểm hiện nay năng suất lúa thế giới liên tục được cải thiện đạt 4,3 tấn/ha năm 2008, tuy nhiên chỉ bằng phân nửa năng suất của Ai Cập (9,7 tấn/ha) nước đứng đầu thế giới
1.4.2 Tình hình hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân ở Việt Nam
Việt Nam là nước đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Thành tựu cây lúa đạt được như vậy chính là nhờ Chính phủ, Bộ NN-PTNT chú trọng đầu tư thỏa đáng cho sản xuất nông nghiệp đồng thời ban hành cơ chế chính sách về đất đai, sản xuất, nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ, tín dụng Trong đó vùng ĐBSCL thực hiện có hiệu qủa việc chuyển đổi mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống lúa, phát triển các loại giống lúa mới kết hợp với lai tạo giống lúa mới tạo
Trang 36điều kiện đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất hơn 1,2 tấn/ha và nâng cao chất lượng lúa gạo xuất khẩu
Diện tích trồng lúa của Việt Nam năm 2010 đạt 7,51 triệu ha, tăng 1,35% so với năm 2009 Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 44,6 triệu tấn, tăng 1,27 triệu tấn (2,95%) so với năm 2009; trong đó sản lượng lúa đạt xấp xỉ 40,0 triệu tấn, tăng 1,05 triệu tấn (2,7%) [1]
Bảng 1.2: Diện tích, sản lượng lương thực có hạt ở Việt Nam từ 2008 - 2010
(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê Việt Nam [15])
Mặc dù hầu hết các địa phương đều phải đối mặt với hạn hán, thiếu nước tưới đầu năm, lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong quý III, sâu bệnh diễn biến phức tạp gây thiệt hại nặng ở một số tỉnh, nhưng tính chung cả nước năm 2010 sản xuất lúa cả ba vụ đều được mùa Sản lượng lúa năm 2010 tăng khá so với năm 2009 do tăng cả năng suất và diện tích gieo trồng Diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 7,51 triệu ha, năng suất lúa cả năm đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha (1,53%) so với năm trước
Sản xuất lúa gạo của Việt Nam hiện nay đang chuyển dần từ coi trọng năng suất là chính sang coi trọng cả năng suất và chất lượng Các chương trình sản xuất
Trang 37lúa tiên tiến nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng năng suất, chất lượng lúa gạo, tăng hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người trồng lúa, sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên đất, nước do Bộ Nông nghiệp và PTNT phát động đang được các địa phương triển khai tích cực và đông đảo nông dân hưởng ứng thực hiện
Nghề trồng lúa không những cung cấp đủ lương thực hàng ngày cho người dân Việt Nam, mà còn giúp người dân nâng cao đời sống thông qua xuất khẩu gạo Chính sánh thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu gạo đã đem lại lợi ích cho người sản xuất lúa và là công cụ hữu ích trong việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam Sản xuất lương thực, đặc biệt là sản xuất lúa gạo tăng nhanh và liên tục, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, đồng thời lượng gạo hàng hóa dành cho xuất khẩu ngày càng nhiều, tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, đồng thời đóng góp tích cực vào duy trì an ninh lương thực của khu vực và thế giới
1.4.3 Tình hình hiệu quả kinh tế sản xuất lúa và vai trò đối với đời sống người dân tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong năm 2010, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh, kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (theo giá so sánh) đạt 2.452 tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2009 Sản lượng lương thực có hạt đạt 414.950 tấn, tăng 1,89% so với năm 2009 Trong đó sản lượng lúa đạt 339.770 tấn, chiếm 81,88% tổng sản lượng lương thực có hạt Diện tích trồng cây lương thực có hạt toàn tỉnh năm 2010 đạt 87.621 ha, tăng 0,51% so với năm 2009, trong đó diện tích trồng lúa chiếm 79,59%
Trang 38Bảng 1.3: Diện tích, sản lượng lương thực có hạt ở Thái Nguyên từ 2008 - 2010
(Nguồn số liệu: Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên [3])
Nhìn chung diện tích lúa Thái Nguyên biến động không nhiều, năm 2008 diện tích lúa đạt 89.463 ha, đến năm 2009, diện tích lúa tăng 1,41%, nhưng đến năm 2010 diện tích gieo trồng lại giảm đi so với năm 2009 là 0,12% Tuy nhiên, bình quân diện tích lúa qua 3 năm vẫn tăng nhẹ 0,64% Diện tích lúa vụ Đông xuân
có xu hướng giảm, nguyên nhân là do đất nông nghiệp của Thái Nguyên chủ yếu là đất dốc, cùng với hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện, không những khó khăn trong việc mở rộng diện tích mà còn khó khăn trong việc thâm canh tăng vụ
Năm 2009, do diện tích trồng lúa tăng lên nên sản lượng và năng suất tăng, nhưng năm 2010, mặc dù diện tích gieo trồng có giảm, nhưng sản lượng lúa vẫn đạt ở mức 339.770 tấn/năm, năng suất lúa tăng 0,27% so với năm 2009 Đây là những biến đổi theo chiều hướng tích cực Tỉnh đã biết vận dụng các phương pháp kỹ thuật vào gieo trồng, đồng thời đã đưa vào nghiên cứu và trồng thử nghiệm các giống lúa mới có năng suất cao
Trang 39Thái Nguyên đã xây dựng thành công các vùng sản xuất lúa giống nguyên chủng tại huyện Đại Từ và huyện Phổ Yên giai đoạn 2008 - 2010, nhằm đảm bảo nông dân tham gia dự án tự sản xuất được giống lúa tốt, đúng tiêu chuẩn, đảm bảo chất lượng được kiểm soát chặt chẽ, tạo vùng sản xuất giống trong dân Đến năm
2010 đáp ứng 40% nhu cầu giống lúa thuần cho sản xuất trên địa bàn nhằm tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và an ninh lương thực Góp phần giải quyết việc làm, nhất là các hộ nông dân bị mất đất do khai thác quặng đa kim của dự án Núi Pháo ở Đại Từ, đường giao thông quốc lộ 3 tại Phổ Yên, góp phần tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, nâng cao đời sống cho nông dân Xây dựng mô hình chuyển đổi một số cơ cấu mùa vụ và giống lúa sản xuất trong vụ mùa tại 2 xã Linh Sơn và Nam Hoà huyện Đồng Hỷ Đã chuyển đổi được 50 ha diện tích lúa mùa muộn sang trồng lúa mùa sớm, tạo điều kiện tăng thêm diện tích cây vụ đông
là 46 ha cây ngô Xây dựng mô hình chọn lọc và thâm canh giống lúa nếp cổ Thầu dầu chất lượng cao quy mô 2 ha tại xã Úc Kỳ, sản xuất được giống nếp Thầu dầu theo tiêu chuẩn cơ sở để mở rộng diện tích, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế huyện Phú Bình Xây dựng mô hình thâm canh lúa lai VL20 và HYT 83 năng xuất, chất lượng cao tại Phú Lương với quy mô là 20 ha được thực hiện trong 2 vụ với 100 hộ tham gia Các dự án KHCN đã đưa vào các kỹ thuật canh tác mới trong thâm canh lúa nhằm nâng cao năng xuất, sản lượng lương thực và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích [22]
Như vậy có thể thấy cây lúa có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển cây lương thực trên địa bàn tỉnh Trước thực trạng đất đai nhất là diện tích đất trồng lúa ngày một bị thu hẹp phục vụ cho sản xuất công nghiệp, để đảm bảo mục tiêu ổn định lương thực, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất trên 1 đơn vị diện tích, trong nhiều năm trở lại đây các ngành chức năng và chính quyền các địa phương rất quan tâm đến việc đưa các giống lúa mới có ưu thế nổi trội về năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế vào sản xuất
Trang 40Với những định hướng cụ thể như vậy, tin rằng sản xuất lúa nói chung và sản xuất lúa lai nói riêng ở Thái Nguyên sẽ thu được kết quả tốt, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn an ninh lương thực, thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho huyện Đồng Hỷ về điều kiện tự nhiên, điều kiện KT-XH, điều kiện sản xuất lúa và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện và một số điểm khác Chọn 3 xã làm điểm nghiên cứu
từ 3 vùng của huyện, những xã này có thể đại diện cho từng vùng và cho huyện
- Xã Tân Long ở vùng Bắc, có 5.431 người dân, diện tích đất nông nghiệp là 601,87 ha chiếm 14,63% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó diện tích đất trồng lúa là 465 ha
- Xã Nam Hòa ở vùng giữa, có 9.454 người dân, diện tích đất nông nghiệp là 1.259,3 ha chiếm 50,88% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó diện tích trồng lúa chiếm 828,7
- Xã Văn Hán ở vùng Nam, có 9.700, diện tích đất nông nghiệp 2.471,29 ha chiếm 37,75% tổng diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó diện tích đất trồng lúa là 625 ha
Các điểm nghiên cứu này có diện tích trồng lúa lớn, có nhiều hộ gia đình trồng lúa giỏi và có hiệu quả cao qua nhiều năm Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở mỗi điểm nghiên cứu có những thuận lợi và khó khăn nhất định cho sự phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của huyện
1.5.2 Thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp là số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn, đó chính là số liệu đã qua xử lý, tổng hợp Để thu thập số liệu thứ cấp, tiến hành ghi chép các số liệu có sẵn từ sổ sách, văn bản, tài