1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ

110 650 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè ... DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 Ảnh h

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ KIỀU NGỌC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH

CHẾ BIẾN TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP

TẠI KHẢI XUÂN - THANH BA - PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - năm 2011

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ KIỀU NGỌC

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH

CHẾ BIẾN TỪ PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP

TẠI KHẢI XUÂN - THANH BA - PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Trồng trọt

Mã số: 60.62.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - năm 2011

Thái Nguyên - Năm 2011

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin trích dẫn và tài liệu trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kiều Ngọc

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo giảng dạy, cô giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể, cá nhân và nhân dân địa phương nơi thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

TS Nguyễn Thị Ngọc Bình - Phó trưởng bộ môn Nông Lâm kết hợp -

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Đảng ủy - UBND xã Khải Xuân - Thanh Ba - Phú Thọ

Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2011

Nguyễn Thị Kiều Ngọc

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Danh mục bảng biểu……… i

Danh mục các chữ viết tắt……… iv

MỞ ĐẦU 6

1.Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Mục đích - yêu cầu của đề tài 7

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7

PHẦN 1:TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9

2.1 Cơ sở khoa học xác định biện pháp kỹ bón phân hữu cơ vi sinh cho chè 9

2.2 Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh đến cây chè trên thế giới và ở Việt Nam……… 11

PHẦN 2:VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Vật liệu nghiên cứu 19

2.2 Phạm vi nghiên cứu 19

2.3 Nội dung nghiên cứu 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu 19

PHẦN 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

3.1.Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh phối hợp với các mức đạm khác nhau đến sinh trưởng và chất lượng của chè LDP2 tuổi 5 26

3.1.1 Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến động thái sinh trưởng chiều cao cây và chiều rộng tán chè 26

3.1.2 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè 27

3.1.3 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến tỷ lệ mù xòe, chất lượng nguyên liệu chè 32

3.1.4 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến chất lượng chè: chất lượng sinh hóa, chất lượng cảm quan 34

3.1.5 Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm khác nhau đến sâu bệnh hại chè 37

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.1.6 Hiệu quả kinh tế 40

3.2 Thí nghiệm 2 42

3.2.1 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến động thái sinh trưởng của cây chè 42

3.2.2 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè 43

3.2.3 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến lý tính, hóa tính và vi sinh vật đất trước và sau khi tiến hành thí nghiệm 47

3.2.4 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến tỷ lệ mù xòe, chất lượng nguyên liệu chè 52

3.2.5 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến chất lượng chè: chất lượng sinh hóa, chất lượng cảm quan 54

3.2.6 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến sâu bệnh hại chè 56

3.2.7 Hiệu quả kinh tế 60

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

1 Kết luận 64

2 Đề nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm

khác nhau đến chiều cao cây chè, chiều rộng tán chè

32

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức

đạm khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều dài búp chè

33

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm

khác nhau đến chiều dài búp, các yếu tố cấu thành năng suất chè: Mật độ búp, khối lượng búp

35

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức

đạm khác nhau đến chất lượng nguyên liệu chè

38

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của việc bón các mức đạm khác nhau phối hợp

với phân HCVS đến chất lượng sinh hóa của chè

40

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức

đạm khác nhau đến kết quả thử nếm cảm quan

42

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của bón phân HCVS phối hợp với các mức đạm

khác nhau đến sâu bệnh hại chè

43

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức

đạm khác nhau đến hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân

46

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến

chiều cao cây và chiều rộng tán chè

48

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đếnđộng

thái sinh trưởng búp chè sau bật mầm

49

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến năng

suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè

50

Bảng 3.12 Thành phần hóa học của đất trước và sau khi thí nghiệm 53

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 3.13 Thành phần lý tính đất trước và sau khi thí nghiệm 55 Bảng 3.14 Hoạt động của vi sinh vật trước và sau khi thí nghiệm 56 Bảng 3.15 Độ ẩm đất qua các tháng ở độ sâu 20cm 57 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đên chất

lượng nguyên liệu chè

58

Bảng 3.17 Ảnh hưởng của các công thức bón phân khác nhau đến

thành phần sinh hóa của búp chè

Hình 3.4 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các mức

đạm khác nhau đến năng suất

38

Hình 3.9 Động thái tăng trưởng chiều dài búp 50

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hình 3.10 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến chiều dài búp 51 Hình 3.11 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến mật độ búp 52 Hình 3.12 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến năng suất 53

Hình 3.14 Diễn biến gây hại của bọ xít muỗi 64

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công nghệ EM Công nghệ vi sinh vật hữu hiệu

Viện KHKT NLN MNPB Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi

phía Bắc NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

PHCVSVCN Phân hữu cơ vi sinh vật chức năng

VIETGAP Thực hành sản xuất Nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn

Việt Nam

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam có lịch sử trồng chè lâu đời nhưng cây chè mới chỉ được trồng và phát triển với quy mô lớn từ khoảng 100 năm nay Với đặc điểm là loại cây công nghiệp dài ngày,

dễ trồng và chăm sóc, nhiệm kỳ kinh tế dài 30 - 40 năm, phù hợp với điều kiện tự nhiên

ở các vùng đất dốc của Việt Nam, do vậy cây chè đã trở thành cây công nghiệp mũi nhọn, mang lại giá trị kinh tế cao, tham gia vào thị trường xuất khẩu

Năng suất và chất lượng chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, khí hậu, đất đai, phân bón, kỹ thuật canh tác và công nghệ chế biến Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh chè ở các khâu: chọn tạo đưa giống năng suất cao vào sản xuất, chế độ bón phân, áp dụng kỹ thuật hái, kỹ thuật đốn chè đã giúp cho ngành chè đạt được sự phát triển nhanh chóng về diện tích, năng suất và sản lượng

Ngày nay, mặc dù phân hoá học được coi là yếu tố tiên phong trong việc cải tạo năng suất cây trồng và xu hướng sử dụng phân hoá học ngày càng có chiều hướng gia tăng do sử dụng phân hóa học tiết kiệm thời gian và công lao động song phân hữu cơ vẫn giữ một vai trò quan trọng không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành chè nói riêng, đặc biệt là canh tác chè bền vững Trong nền nông nghiệp cổ truyền của các nước trên thế giới cũng như ở các nước Asian và

ở Việt Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lý hoá học của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ (Koorevaar và cộng sự, 1983) [3] Thực tế sản xuất cho thấy, người trồng chè thường bón phân hữu cơ chủ yếu là phân chuồng kết hợp với phân vô cơ cho chè ở giai đoạn kiến thiết cơ bản, trồng mới và chủ yếu sử dụng phân vô cơ cho chè ở các giai đoạn sản xuất kinh doanh để tiết kiệm thời gian và công lao động, thúc đẩy nhanh quá trình sinh trưởng của búp mới, tăng năng suất Mặc dù đã nhận thức được vai trò của phân hữu cơ vi sinh trong việc nâng cao năng suất , cải thiện độ phì của đất , song ở Việt Nam cho đến nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế Vì vậy, việc tìm

ra các giải pháp thay thế một phần phân hóa học và tận dụng phế phụ phẩm nông

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

nghiệp tại chỗ đang là một xu hướng mới được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Do đó xây dựng quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn là một trong những hướng nghiên cứu của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc Dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Bình - Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“ Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phế phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè LDP 2 tuổi 5 tại Khải Xuân - Thanh Ba - Phú Thọ ”

2 Mục đích - yêu cầu của đề tài

- Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh khác nhau

đến khả năng sinh trưởng, năng suất của cây chè

- Đánh giá ảnh hưởng của các công thức bón phân hữu cơ vi sinh được sản xuất

từ phụ phẩm nông nghiệp đên chất lượng búp chè nguyên liệu và chè thành phẩm

- Xác định được diễn biến loài sâu hại chính gây hại trên giống chè LDP2

- Xác định được thành phân lý hóa tính của đất trước và sau khi tiến hành thí nghiệm

- Xác định được công thức cho hiệu quả kinh tế cao nhất

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Nghiên cứu các biện pháp bón phân hữu cơ vi được sản xuất từ phụ phẩm nông nghiệp sẽ là cơ sở khoa học để xác định mức bón phân hữu cơ vi sinh hợp lý cho giống chè LDP2 tuổi 5

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình sử dụng phân hữu cơ vi sinh cho giống chè LDP2, phục vụ cho sản xuất chè an toàn tại tỉnh Phú Thọ

- Kết quả nghiên cứu góp phần củng cố cơ sở khoa học và thực tiễn, phục vụ canh tác bền vững trên đất dốc, bảo vệ và cải tạo đất

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học xác định biện pháp kỹ bón phân hữu cơ vi sinh cho chè 1.1.1 Cơ sở khoa học của kỹ thuật bón phân cho chè

Cây chè Việt Nam chủ yếu được trồng đồi núi có địa hình dốc là chính, nên đất

bị xói mòn lớn, làm trôi lớp đất màu mỡ, nước không được giữ lại, dẫn đến thiếu nước trầm trọng trong mùa khô sau đó Việc lạm dụng phân bón hóa học dẫn đến chất lượng sản phẩm thu được không cao Tuy bước đầu đã nhận thức được vai trò của phân bón hữu cơ vi sinh trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất, song ở Việt Nam nói chung đặc biệt là khu vực trung du, miền núi Phía Bắc cho đến nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế Mặt khác, chè là cây công nghiệp dài ngày, sản phẩm là búp chè chỉ chiếm 8-13% sinh khối của cây, lại phải thu hái nhiều lần trong 1 năm, mặt khác năng suất chè của ta chưa cao, cho nên

so với những cây công nghiệp dài ngày khác như cà phê, cao su thì nhu cầu dinh dưỡng của cây chè không lớn Với năng suất 2 tấn búp khô trên 1ha/năm, chè lấy đi

từ đất trung bình là 80kg N, 23 kg P2O5, 48kg K2O và 16 kg CaO Tuy nhiên ngoài hàm lượng búp chè được hái hàng năm, chè còn được đốn cành, chặt cây và mang

đi khỏi vườn, cho nên tổng lượng các chất dinh dưỡng chè lấy đi khỏi đất là 144 kg

N, 71 kgP2O5, 62kg K2O , 24kg MgO và 40 kg CaO

Như vậy, việc bón phân cân đối, đúng tỷ lệ và liều lượng làm cho năng suất chè tăng 14-20%, với hệ số lãi là 2,8-3,9 lần Bón phân đúng còn làm tăng hàm lượng tanin thêm 2,0-6,5%, chất hoà tan tăng 1,5-3,5% và hương vị chè được cải thiện

1.1.2 Vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển của cây chè

Xu hướng sử dụng phân bón cho chè chủ yếu vẫn là 3 nguyên tố đa lượng chính

N, P, K Một số nước còn quan tâm tới 2 nguyên tố bán đa lượng là Mg và S Dạng phân bón cho chè thường là phân phối hợp theo một số tỷ lệ nhất định, phù hợp điều

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

kiện đất đai và năng suất búp chè của từng vùng nhằm tăng hiệu suất sử dụng của từng loại phân bón Đồng thời bón phân cân đối phần nào có ảnh hưởng tốt phẩm chất chè Vai trò cụ thể của một số nguyên tố dinh dưỡng đối với chè như sau:

Đạm (N): là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè Lân (P): là thành phần của phophatides, axit nucleic, protein… quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất

và lượng đượng hòa tan và tanin, tăng chất lượng chè

Thiếu lân: lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thụ đạm kém Chè thiếu lân trầm trọng sẽ bị trụi cành, năng suất thấp và chất lượng kém

Kali (K): hoạt hóa enzym liên quan đến quang hợp, tổng hợp hydratcacbon, protein, điều chỉnh pH và nước ở khí khổng Giúp cây cứng chắc, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, rét và hạn, giảm khô lá và rụng lá già, tăng năng suất và tăng

độ ngọt, độ đậm trong chè búp

Thiếu kali: cây sinh trưởng chậm, mép và chóp lá có màu xám hay nâu nhạt sau khô dần, lá già rụng sớm, lá non ngày càng nhỏ, dễ bị sâu bệnh Búp thưa, vỏ cây có màng trắng bạc, cây chậm ra búp, năng suất thấp, chè kém ngọt, chất lượng giảm Magiê (Mg): cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit nucleic, thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc

và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè khô

Thiếu magiê: xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, năng suất thấp, chất lượng chè khô giảm Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzymes-carbonic-anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây Thúc đẩy sinh trưởng, phát

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

triển, tăng năng suất và chất lượng chè Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, số búp ít

Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè

Molypđen (Mo): là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, năng suất và chất lượng chè Theo định nghĩa: Phân bón hữu cơ vi sinh vật (tên thường gọi: phân hữu cơ vi sinh) là sản phẩm được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản Phân hữu cơ vi sinh vật không gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản

1.2 Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh đến cây chè trên thế giới và ở Việt Nam 1.2.1 Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh trên thế giới

Quá trình khai hoang trồng mới chè đã phá vỡ hầu hết thực bì trên bề mặt đất Qua 4 năm từ lúc khai hoang trồng mới đến hết giai đoạn kiến thiết cơ bản đất bị lộ thiên, dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, sự tổn thất

về chất hữu cơ càng rõ rệt Chuyển sang giai đoạn kinh doanh, chế độ canh tác hiện hành đã làm giảm đáng kể lượng mùn trong đất Phân tích đất tại điểm cố định sau khi trồng chè cho thấy: Hàm lượng mùn của đất hoang là 2,83%, sau 7 năm trồng chè còn 2,09%, sau 11 năm trồng chè giảm 0,73%

Như vậy, cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng và phát triển Ngoài các bộ phận thu hoạch ra, trong các sản phẩm phụ cũng chứa đựng các chất dinh dưỡng

mà cây trồng lấy từ đất Sau mỗi vụ thu hoạch, cây trồng lại để lại cho đất một lượng lớn các phụ phẩm hữu cơ Thông qua các quá trình chuyển hoá vật chất trong đất mà các sản phẩm này trở thành nguồn dinh dưỡng đáng kể cho cây trồng vụ sau

Theo cuốn Thực vật cận lợi chí của tác giả Tôn Phúc Bảo và tuyển tập Lư Sơn vật sản chí cảo của tác giả Mẫu Bá Bình (1930), (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ) đều nói

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

rằng phân hữu cơ là những phân bón chủ yếu của vườn chè đương thời, trong đó khô dầu là tốt nhất Và cũng theo đây, các giới học giả nói chung đều gọi phân hữu

cơ là phân bón thế hệ 1 của các vườn chè Trung Quốc [10]

Theo F Roule (1934), (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ ) cho thấy trong quy trình canh tác với cây chè, người Châu Âu thường hay vùi phân xanh ở đồi chè nhằm tạo lượng phân hữu cơ

Ấn độ, Trung Quốc, Cu Ba là những vùng trồng mía lớn trên thế giới cũng có cách thức trả lại ngọn mía và lá mía cho đất để làm dinh dưỡng cho vụ sau thông qua kỹ thuật ủ tạo phân hữu cơ Van Dillewijn (1952) phân tích thấy bộ phận ngọn

và lá mía chiếm 62 % N, 50 % P2O5 và 55 % K2O trong tổng số của bộ phận thu hoạch Như vậy có nghĩa nếu trả lại ngọn lá mía bón lại cho vụ sau thì cung cấp một lượng dinh dưỡng tương đối lớn cho cây [37]

Theo tài liệu của Đỗ Ngọc Quỹ , Kooevaar và cộng sự (1983) nhận thấy rằng: nền nông nghiệp cổ truyền của các nước trên thế giới, các nước Asian và ở Việt Nam, phân hữu cơ không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng với hàm lượng vốn có của nó mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các đặc tính lý hoá học của đất thông qua vai trò của vật chất hữu cơ

Từ năm 1992- 1997, Quỹ Kellogg, W.K tài trợ thử nghiệm bón phân hữu cơ được bổ xung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus, Pseudomonas có khả năng phân giải lân , kali tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của Srilanca và nhận thấy năng suất chè tăng từ 9- 14 % so với đối chứng có bón phân hữu cơ và tăng 17 % so với đối chứng không sử dụng loại phân bón này [31]

Ngoài ra, sử dụng phế phụ phẩm còn tiết kiệm được 50 % lượng phân bón hoá học, giảm chi phí cho người dân trong sản xuất Heman và Cs (Viện nghiên cứu Khoa học Nông nghiệp, trường đại học Banaras Hindu của Ấn Độ, (1992) cũng thừa nhận ảnh hưởng của vùi phụ phẩm nông nghiệp đến năng suất cây trồng ở vùng khô hạn của Ấn Độ Sinh khối tăng 25,3 % và năng suất hạt tăng 9,2 % so với công thức đối chứng [30]

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Viện lân và Kali của Canada (1995) xác nhận 80 % tổng số kali cây lấy đi nằm trong xác bã cây Nếu các xác bã thực vật này được hoàn lại cho đất đã canh tác thì chúng sẽ cung cấp một lượng kali đáng kể cho các cây trồng vụ sau

Ở các nước Canada và Mỹ, sản phẩm hữu cơ sau khi thu hoạch thông thường được trả lại trực tiếp hoặc qua một thời gian ủ làm cho chúng bị phân huỷ hoặc bán phân huỷ, bằng cách đó làm tăng hiệu quả sử dụng của cây trồng Lai (1997) đã cho thấy rằng lượng phụ phẩm nông nghiệp tạo ra phụ thuộc vào đặc tính của từng loại cây trồng Ước tính về phụ phẩm nông nghiệp cho thấy lúa có thể cho từ 3,5- 4,5 tấn / ha, ngô khoảng 2,7- 3,2 tấn/ ha, đậu tương 0,8- 1,0 tấn/ ha, lúa mạch 2,6- 3,3 tấn/ ha

Christian Brun và cs (2000) cũng cho thấy nếu phân hữu cơ (làm từ phân người,

gia súc và cây xanh ) có bổ xung thêm Baciluus Subtilus, Lactobacillus Rhammossus bón cho chè thì chất hoà tan trong chè tăng từ 47,31 % (chỉ bón phân hữu cơ) lên 51,01 % [26]

Thí nghiệm so sánh giữa hiệu lực phân bón hữu cơ và phân bón hữu cơ vi sinh cho chè vùng Pritchard của Phil Renfrow và Jim Evans (2000) nhận thấy: sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh cho hiệu quả hơn hẳn so với phân bón hữu cơ

Theo kết quả nghiên cứu của trung tâm Bảo vệ Nguồn lợi tự nhiên - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 2002, hàm lượng các phụ phẩm nông nghiệp có khác nhau đối với các nhóm cây trồng khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại cây trồng

Do vậy, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ cho các cây trồng là một giải pháp đúng đắn nhằm tận dụng nguồn hữu cơ sẵn có Tuy nhiên việc lựa chọn các loại phụ phẩm nông nghiệp cũng cần quan tâm đến hàm lượng dinh dưỡng và thời gian phân huỷ sau vùi Trong trường hợp sản xuất cây phân xanh, để sử dụng tối đa nguồn dinh dưỡng, chúng ta cần tính toán thời điểm thu hoạch hợp lý, khi khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng đạt ngưỡng tối đa

Chương trình: “sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh cho nông nghiệp hữu cơ” của Philipin (2003) đã tổng kết và ghi nhận hiệu quả tăng năng suất chè trong các công thức có dùng phân bón hữu cơ vi sinh hơn là chỉ sử dụng phân bón hữu cơ [24]

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Thí nghiệm của Karthikeyan ở vùng Assam- Ấn Độ, Vân Nam - Trung Quốc, Java - Indonexia khẳng định hiệu quả phối trộn giữa phân bón hữu cơ với Mycorrhiza, Trichoderma để tạo phân hữu cơ vi sinh làm tăng năng suất chè 12 - 16

% so với chỉ sử dụng riêng phân hữu cơ [29]

Theo Zakhtop và Sevich thì việc bón phân hữu cơ có tác dụng chống xói mòn đất rất tốt (giảm 40,4% so với không bón) vì phân bón thúc đẩy cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, tạo độ che phủ nhiều hơn Khi bón phân, đất có kết cấu tốt hơn, khả năng ngấm vào đất tốt hơn, thúc đẩy vi sinh vật hoạt động, góp phần cải tạo các tính chất của đất

Kết quả điều tra của Zhen va cộng sự (2005) tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc cho thấy tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ủ thành phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp đã tăng dần Khoảng 77 % nông dân sử dụng 60 % phụ phẩm của cây trồng vụ trước cho cây trồng vụ sau, 18 % hộ nông dân sử dụng 90 % sản phẩm phụ cho cây trồng vụ sau [3]

Tại Brazil, Nghiên cứu dài hạn về ảnh hưởng của việc sử dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp trên đất phiến thạch Diekow và cộng sự (2005) sau 17 năm đã chỉ ra rằng, trong công thức luân canh với sử dụng tối đa nguồn hữu cơ từ thân lá ngô và cây họ đậu đã làm tăng hàm lượng cácbon trong tầng đất mặt (0- 17,5 cm) 24 % và đạm tổng số tăng 15 % và hàm lượng kali dễ tiêu cũng tăng 5 % so với đối chứng.Tại Úc, thí nghiệm được tiến hành đối với cây lúa mỳ, trên đất đỏ thoái hoá thuộc vùng Warialda phía Bắc của bang New South Wales ghi nhận năng suất tăng 5-6 % khi vùi phụ phẩm [27]

Như vậy, sự đa dạng về chủng loại phế phụ phẩm cây trồng có thể cho phép nông dân lựa chọn những loại phế phụ phẩm khác nhau Và cho thấy sản phẩm phụ cây trồng như lúa mỳ, rơm rạ, bã mía và các cây phân xanh đều có thể sử dụng như một loại phân bón hữu cơ và mang lại những hiệu quả kinh tế đáng kể thông qua việc cải tạo độ phì đất và năng suất cây trồng Đặc biệt trong điều kiện các nước đang phát triển để đảm bảo việc bền vững và duy trì độ phì đất thông qua nguồn hữu cơ tại chỗ là điều hết sức cần thiết

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Cây chè cũng vậy, lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng trong canh tác chè trên đất dốc Quá trình đi lại, chăm sóc và cạn kiệt chất hữu cơ đã làm cho đất chặt cứng, không thuận lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển Vì vậy các biện pháp cải tạo lý tính đất làm tăng khả năng giữ nước và lưu thông chất dinh dưỡng của đất chè được coi là quan trọng hơn cải thiện hoá tính và những chỉ tiêu hoá tính được quy định bởi lý tính của đất

Người Pháp đã thử nghiệm nhiều loại phân hữu cơ và qua các kết quả nghiên cứu cho thấy phân hữu cơ có tác dụng lâu bền và cải tạo đất chè nghèo mùn Bên cạnh việc sử dụng phân trâu , phân bò, cây chè còn có thể được bón bằng phân xanh

và phân hữu cơ nhân tạo theo kinh nghiệm của Châu Âu và đã được áp dụng tại một

số nước trồng chè như: Ấn Độ, Srilanca và Indônêxia

Các đồn điền trồng chè ở Châu Âu, việc sản xuất phân bón hữu cơ là rất khó khăn vì nguyên liệu để sản xuất phân hữu cơ là không sẵn có Trước đây, các nhà trồng trọt phương Tây chưa bao giờ nghĩ đến biện pháp sản xuất phân bón hữu cơ nhân tạo Chỉ gần đây, Trạm nghiên cứu Rothamsted ở nước Anh mới bắt đầu nghiên cứu kinh nghiệm của người Trung Quốc và Nhật Bản khi chế tạo phân hữu

cơ nhân tạo

Tại Srilanca và Indonêxia người trồng chè nhận thấy phân hoá học chỉ có tác dụng khi đất trồng chè có nhiều mùn Sản xuất phân hữu cơ nhân tạo chất lượng tốt, bằng nguyên liệu và phương tiện tại chỗ có thể thay thế phân chuồng và giảm bớt phân hoá học bón cho chè [32], [33]

Trong công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp nhiệt đới” Angladette khuyến cáo nông dân trồng chè nên tận dụng nguồn phân xanh tại chỗ để sản xuất phân hữu cơ bón cho chè Điều này làm tăng dự trữ mùn cho đất, tăng độ xốp, tăng khả năng hút nước, khả năng đệm của đất và số lượng vi sinh vật trong đất

Ở Ấn Độ, Jha đã phối trộn nấm cộng sinh Mycorrhiza với phân hữu cơ sản xuất từ rơm rạ thành phân bón hữu cơ vi sinh bón cho chè đã thấy tỷ lệ bệnh trên chè giảm

12 %, năng suất tăng 13 %, đặc biệt ở những vùng khô hạn năng suất tăng 18 % so với đối chứng [29]

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Do vậy, cần tăng cường cung cấp nguồn chất hữu cơ ổn định và bổ xung thêm một số chủng vi sinh vật thuộc: Mycorrhiza, Trichoderma, Bacillus, Pseudomonas một cách tương đối là con đường trọng yếu để tăng năng suất và chất lượng chè Giải quyết nguồn chất hữu cơ cho nương chè kinh doanh bằng biện pháp khả thi nhất là sử dụng các nguồn tại chỗ: Cành lá chè đốn hàng năm, chất xanh từ cây che bóng mát họ đậu, cỏ dại trên nương chè và ven đường lộ, rơm rạ, thân lõi ngô, phế phụ phẩm nhà máy tinh bôt sắn, bồm cẫng chè

Hàng năm, theo ước tính trên thế giới lượng phế phụ phẩm tạo ra từ sản xuất lúa

là 1017 triệu tấn Chỉ riêng Mỹ, lượng rác thải nông nghiệp hàng năm đã là 4 tỷ tấn

Đã có nhiều biện pháp sử lý rác thải nông nghiệp như: đốt, chôn lấp, ủ phân hữu cơ

vi sinh Ở Austrlia, Pháp, Indonexia, Malaysia, Miến Điện, Philppine, Tây Ban Nha

và Thái Lan phụ phẩm nông nghiệp thường được đem đốt Các nước Mỹ, Đức, Italia xử lý bằng cách chôn vùi chiếm 60 - 80 % [3]

Bên cạnh việc sử dụng nguồn rác thải nông nghiệp để làm nhiên liệu, trong nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp sản xuất silic đa số lượng rác thải còn lại được đốt bỏ không sử dụng

Phân hữu cơ vi sinh được hầu hết các nước trên thế giới sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và cải tạo độ phì nhiêu của đất Để làm phân hữu cơ nhìn chung mất khoảng từ 6 - 8 tháng

Trong quá trình sản xuất phân bón hữu cơ của nhiều quốc gia, vào công đoạn tạo thành phẩm người ta thường bổ sung thêm một số chủng vi sinh vật đã được phân lập và tuyển chọn kỹ Các chủng vi sinh vật thường được bổ sung vào là các chủng có hoạt tính : Phân giải lân, cố định Nitơ, sinh các chất kích thích sinh trưởng thực vật, đối kháng nấm bệnh các chủng vi sinh vật được bổ sung vào sẽ tăng cường khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây, tăng khả năng kháng bệnh

1.2.2 Tình hình nghiên cứu phân hữu cơ vi sinh ở Việt Nam

Việt Nam có lịch sử trồng chè từ rất lâu nhưng mới được chú trọng với quy mô lớn và tập trung khoảng 100 năm trở lại đây Điều kiện đất đai và khí hậu nước ta rất thích hợp cho cây chè phát triển , 2/3 diện tích đất là đất đồi núi , đặc biệt ở vùng

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

núi cao có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tạo nên những giống chè đặc sản nổi tiếng Trong quá trình canh tác thì người dân đã biết tận dụng các cành chè sau đốn

để tủ gốc cho chè (ép xanh)

Từ những năm 1968 - 1975, Trại thực nghiệm chè Phú Hộ tiến hành thực nghiệm phân bón trên 8000 m2

chè sản xuất kinh doanh, giống chè Trung du 8 - 15 tuổi tại Phú Hộ, Hợp tác xã Đồng Tâm (Ninh Dân - Thanh Ba - Phú Thọ) và nông trường chè Văn Lĩnh, không bón phân chuồng mà thay vào ép xanh cành lá chè đốn hàng năm vào tháng 1 cộng với 800 kg sunfat đạm và 100 kg clorua kali Kết quả làm năng suất bình quân trong 8 năm đạt 800 kg bup chè/ha Bón ép xanh bằng cành lá già và cỏ Stilo cũng làm năng suất chè tăng 13,9 - 24,2 % Độ xốp tăng 5 %,

độ mịn (0 - 20 cm) tăng 0,3 % ở khu ép xanh bằng cành lá chè già Độ xốp đất tăng 8,7 % và mùn tăng 0,84 - 3,87 % ở khu ép xanh bằng cỏ Stilo Tốt nhất là ép xanh bằng ½ cỏ Stilo + ½ cành lá chè già, sản lượng chè tăng 3,19 - 16,4 %, độ ẩm tăng 3

- 5 % Kết quả thí nghiệm cho thấy: các nguồn phụ phẩm đều có thể sử dụng để bón cho chè và hiệu quả tăng năng suất chè đáng kể, cải thiện lý hoá tính đất chè rõ rệt Cành lá chè đốn tốt hơn cây phân xanh xen giữa hàng chè [15]

Kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ năm 1981 - 1984 cho thấy tổng sinh khối phần đốn hàng năm ở nương chè kinh doanh phụ thuộc vào loại hình năng suất Để sử dụng có hiệu quả lượng cành lá chè đốn hàng năm (1981 - 1987) ở Phú Hộ đã triển khai nghiên cứu nội dung này trên chè kinh doanh tuổi 7 - 12 Kết quả cho thấy làm tăng đáng kể lượng mùn trong đất [15]

Năm 1996 - 1997, Viện nghiên cứu chè đã sử dụng toàn bộ cành lá chè đốn hàng năm, cây cỏ dại quanh đồi và trên nương chè ủ với vôi, supe lân cải thiện tốt chế độ mùn và năng suất chè tăng 8 - 10 %

Năm 1996 - 1997 kết quả nghiên cứu ở Trại chè Phú Hộ cho thấy: Cứ 2 hàng chè đào rãnh rộng 25 cm, sâu 25 cm vào trung tuần tháng 12 hàng năm rồi bỏ phân chuồng, nguyên liệu đốn chè cuối vụ, cỏ dại đưa vào rãnh, vùi toàn bộ lân, bón magie 20 kg/ha, lấp đất phía gốc chè cao hơn giữa hàng 5 - 7 cm, năm sau đào rãnh

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

ở hàng bên cạnh theo chu kỳ luân phiên 2 năm đã làm tăng đáng kể khả năng giữ ẩm của đồi chè kinh doanh, nương chè đủ ẩm cho thu hoạch búp ở cả những tháng khô hạn [15] Biện pháp bón thẳng nguồn vật liệu hữu cơ có sẵn và chưa qua xử lý có mang lại hiệu quả tăng năng suất và bước đầu nâng cao độ phì nhiêu đất, tăng độ ẩm nhưng sử dụng nhiều năm (từ 3 năm trở lên ) sẽ dẫn đến tăng mật độ nấm bệnh đối với nương chè Bởi khi sử dụng phương thức bón phân hữu cơ cho chè như vậy chỉ đáp ứng được nhu cầu cung cấp chất hữu cơ cho đất, cải thiện được một phần lý tính đất nhưng mối quan hệ giữa vi sinh vật - đất - thực vật chưa được cải thiện một cách

đáng kể, vì vậy Nguyễn Văn Sức và cs (2003) bắt đầu thử nghiệm đánh giá hiệu lực

của 3 loại phân bón hữu cơ vi sinh là: phân HCVS Cầu Diễn, Fitohocmon và phân HCVS Sông Gianh Kết quả thí nghiệm cho thấy việc thay thế 30 % lượng phân khoáng bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả tốt nhất [23]

Nguyễn Thị Ngọc Bình (2005) đã thử nghiệm phân lân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho cây chè Trung du trồng tại Tân Cương, Thái Nguyên cho thấy khi thay thế 50 % theo giá trị đầu tư phân bón hóa học bằng phân hữu cơ vi sinh cho hiệu quả kinh tế cao nhất [1]

Cũng theo TS Nguyễn Thị Ngọc Bình: phế phụ phẩm nông nghiệp ở nước ta chủ yếu bao gồm: Vỏ trấu, lõi ngô, bã mía, mùn cưa, vỏ dừa, bã thải nhà máy đường, nhà máy sắn, tổng sản lượng phế thải sinh khối hàng năm ở nước ta có thể đạt 8 – 11 triệu tấn, trong đó riêng công nghiệp mía đường khoảng 2,5 - 3 triệu tấn

bã mía, 0,25 - 0,3 triệu tấn mùn mía Công nghiệp cà phê mỗi năm tạo ra khoảng 0,2

- 0,25 triệu tấn vỏ cà phê Vùng Tây Bắc có tới 55.000 - 60.000 tấn mùn cưa từ việc khai thác và chế biến gỗ Tính riêng vỏ sắn thải ra từ các nhà máy sắn đóng trên địa bàn 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang mỗi năm lần lượt là: 4.500; 11.000 và 2.200 tấn Ngoài ra còn có, một số cây tạo nguồn phân xanh tốt như : Đậu mèo (năng suất trên 20 tấn/ha, đến lúc ra hoa tạo lớp thảm dày đạt trên 35 tấn/ha), Muồng hoa vàng lá tròn (năng suất 30 - 40 tấn/ha), keo giậu , cỏ Lào, các loại cỏ sinh khối lớn và các phế thải nông nghiệp như rơm rạ , cỏ và các cây hoang dại khác

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

như: Tế, guột, cỏ Lào, cúc quỳ là nguồn nguyên liệu sạch, thích hợp cho việc làm phân ủ hữu cơ sinh học [3]

Ngay từ những năm 60, các nhà khoa học Việt Nam đã bắt tay vào nghiên cứu phân bón hữu cơ sử dụng cho cây trồng, các phương pháp truyền thống trong sản xuất phân ủ được áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao độ phì nhiêu của đất trồng Song đến tận đầu những năm 90, phân bón vi sinh vật mới chính thức được đưa vào chương trình nghiên cứu cấp nhà nước và kéo dài cho đến nay Phân hữu cơ sinh học từ nguồn phế thải giàu xenluloza đã được nghiên cứu và triển khai tương đối thành công tại một số nhà máy mía đường như Lam Sơn, Thanh Hoá, và một số đơn vị chế biến, xử lý rác thải thành phố (Cầu Diễn, Hà Nội), tuy nhiên cũng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, hoặc thử nghiệm, chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế Việc bổ sung vi sinh vật có ích vào sản phẩm hữu cơ sau khi ủ đã được quan tâm nghiên cứu, nhưng chưa được áp dụng rộng rãi [21]

Trong những năm gần đây, có nhiều đề tài nghiên cứu xử lý rác thải bằng biện pháp sinh học Nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu phương pháp tuyển chọn các chủng vi sinh vật có hoạt tính phân giải các chất khó phân giải và phù hợp với môi trường của bể tủ rác, tạo chế phẩm phù hợp và thử nghiệm trong thực tế cho thấy vừa rút ngắn thời gian xử lý, vừa tăng số lượng và chất lượng mùn rác thu được [1], [2], [7], [19], [20], [21]

Tuy nhiên, các chế phẩm vi sinh vật cũng chỉ mới được áp dụng xử lý rác thải sinh hoạt, chưa được áp dụng nhiều trong việc xử lý chất thải nông nghiệp cũng như đưa ra mô hình xử lý phù hợp cho các loại chất thải nông nghiệp Do vậy, việc nghiên cứu và tuyển chọn các chủng giống vi sinh vật cũng như xây dựng mô hình

xử lý rác thải nông nghiệp làm phân bón hữu cơ chất lượng cao là cần thiết

Kết quả thực hiện chương trình công nghệ sinh học KHCN - 02: “Nghiên cứu

và áp dụng công nghệ sinh học trong sản xuất phân bón vi sinh - hữu cơ từ nguồn phế thải hữu cơ rắn” xác định được quy trình chế biến phân hữu cơ vi sinh có hoạt tính sinh học cao

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Giai đoạn 1996 - 2000 và 2001 - 2005, trong quá trình triển khai các đề tài KHCN cấp nhà nước về phân bón vi sinh vật, các cán bộ khoa học, Viện khoa học

kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu xử lý một số nguyên liệu

và phế thải giàu hợp chất cacbon thành các chất hữu cơ đơn giản sử dụng làm cơ chất cho sản xuất phân bón hữu cơ sinh học trên nền chất không mang khử trùng Viện công nghệ sinh học và công nghệ thực phẩm, Đại học Bách Khoa Hà Nội năm 1999 - 2000 đã thực hiện đề tài: “Công nghệ xử lý một số phế thải nông sản chủ yếu (lá mía, vỏ thải cà phê, rác thải nông nghiệp) thành phân bón hữu cơ sinh học” thuộc chương trình công nghệ sinh học KHCN - 02 - 04 B Kết quả của đề tài

đã đề xuất được công nghệ xử lý lá mía thành phân hữu cơ sinh học với thời gian ngắn (còn 30 % so với bình thường bằng chế phẩm vi sinh vật), xây dựng được công nghệ xử lý rác thải nông nghiệp bằng bộ chế phẩm vi sinh vật Emuni, hoàn thiện được công nghệ xử lý vỏ cà phê thành phân hữu cơ vi sinh bằng bộ chế phẩm Mcrocom Đào Châu Thu và cs (2003) (Thuộc trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp bền vững thuộc trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã hợp tác với khoa sinh học và kinh tế Nông nghiệp, Đại học Udine, Italia (2003 - 2005) tiến hành đề tài: “Sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ rác thải hữu cơ sinh hoạt và phế thải nông nghiệp để dùng làm phân bón cho rau sạch vùng ngoại ô thành phố” bước đầu cho kết quả khả quan Năng suất rau được giữ vững, hàm lượng các kim loại nặng trong rau giảm 18 - 24 % so với đối chứng [19]

Hiện nay, nước ta có 2 nhà máy xử lý hiếu khí rác thải sinh hoạt làm phân bón (Cầu Diễn - Hà Nội và Việt Trì - Phú Thọ) Trong nước cũng đã có nhiều dây truyền sản xuất phân hữu cơ vi sinh đồng bộ Các dây truyền này thường sản xuất phân vi sinh từ mùn mía, than bùn [3]

Tại huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang , Nguyễn Mỹ Hoa và cs (2008) đã đánh giá chất lượng phân hữu cơ vi sinh được ủ từ nguồn phế thải thực vật nông thôn , kết luận: Phân hữu cơ - vi sinh do nông dân sản xuất tại nhà từ các nguồn dư thừa thực vật ở nông thôn như: rơm rạ, bèo tây, cỏ vườn có bổ xung vi sinh vật đảm bảo chất lượng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [7]

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Tuy bước đầu đã nhận thức được vai trò của phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh trong việc nâng cao năng suất, cải thiện độ phì của đất, song ở Việt Nam nói chung đặc biệt là khu vực trung du, miền núi Phía Bắc cho đến nay mức độ ứng dụng loại phân bón này còn hết sức hạn chế Người nông dân, nhất là đồng bào dân tộc miền núi chưa thực sự được thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam về phân bón hữu cơ vi sinh Nói cách khác chúng ta mới chỉ sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh trong nhà máy hoặc một vài cơ sở sản xuất lớn, giá thành sản xuất còn cao, việc chuyên chở tới vùng sâu, vùng xa còn có nhiều hạn chế Người nông dân trồng chè khu vực trung du - miền núi phía Bắc có rất ít cơ hội để tiếp xúc và sử dụng loại phân bón này

Chúng ta đã xây dựng được quy trình sản xuất phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh

từ bùn - bã mía, vỏ cà phê, rơm rạ, vật liệu chất xanh,…tuy nhiên với vỏ củ, bã sắn trong công nghiệp sản xuất tinh bột sắn thì vẫn chưa có một quy trình cụ thể Trong khi đó hàng năm các nhà máy sắn của 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang thải

ra khoảng 17.700 tấn vỏ sắn, 84.600 tấn bã sắn Vỏ củ sắn chủ yếu là được đốt còn

bã sắn thì chôn lấp trong các ao hồ xung quanh khu vực của nhà máy Rõ ràng lượng phụ phẩm này hiện chưa được sử dụng một cách hợp lý, gây ô nhiễm môi trường, lãng phí tài nguyên thiên nhiên [3]

Để khuyến khích, tạo điều kiện cho người nông dân nghèo, các đối tượng thiệt thòi trong xã hội sử dụng hữu cơ vi sinh, giảm thiểu mức đầu tư trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, trong khuôn khổ kinh phí từ Chương trình Nông nghiệp Hướng tới Khách hàng của Dự án: “Khoa học Công nghệ Nông nghiệp vốn vay của ADB” Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Miền núi Phía Bắc phối hợp với Viên Thổ nhưỡng Nông hóa thực hiện

đề tài: “Nghiên cứu chuyển giao kỹ thuật chế biến phân hữu cơ vi sinh từ phế phụ

phẩm nông nghiệp phục vụ sản xuất chè an toàn”

Đề tài đã đánh giá hàm lượng N, P2O5 và K20 tổng số trong phế phụ phẩm vỏ bã sắn, thân cây ngô và một số phụ phẩm khác lựa chọn nguyên liệu, lựa chọn các

thông số của quy trình ủ tạo phân hữu cơ thực nghiệm quy trình ủ tạo phân hữu cơ,

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Đánh giá độ chín và an toàn của phân ủ hữu cơ, thông qua nghiệm thu cấp cơ sở

quy trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm vỏ, bã sắn Các kết quả nghiên

cứu thử nghiệm từ 2009 đến 2011 đề tài kết luận: với lượng 3 tấn bã sắn, 2 tấn vỏ sắn; 1,5 tấn phân xanh (kích cỡ 10 – 15cm); 0,2 tấn phân gia súc; 10 kg supe lân + 1

kg urê + 1 kg kali + 1 kg đường; 1 kg chế phẩm Compost + 1 lit dung dịch khử mùi

EM sau 35 – 40 ngày ủ và đảo trộn thì phế phụ phẩm sẽ chuyển thành phân hữu cơ Khi bổ sung thêm 1 kg chế phẩm vi sinh vật gốc thì có thể tạo thành 3-3,5 tấn phân hữu cơ vi sinh thành phẩm với chất lượng đảm bảo theo TCN [3].Giới thiệu tóm tắt

quy trình sản xuất phân HCVS của Viện KHKT NLN MNPB:

Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu, dụng cụ

Mặt bằng: 200 m2

Dụng cụ, nguyên liệu: 3 tấn bã sắn, 2 tấn vỏ sắn; 1,5 tấn phân xanh (kích cỡ 10 – 15cm); 0,2 tấn phân gia súc; 10 kg supe lân + 1 kg urê + 1 kg kali + 1 kg đường;

Chế phẩm gốc 1 (1 kg chế phẩm Compost Marker chứa vi sinh vật phân giải xenlulo); Chế phẩm gốc 2 (vi sinh vật hữu ích: phân giải chất hữu cơ, phân giải

lân, sinh chất kích thích sinh trưởng thực vật, đối kháng bệnh…)

Bước 2: Phối trộn, xử lý, sản xuất phân bón hữu cơ

7 ngày), bổ sung nước để luôn đạt độ ẩm

35 – 40%)

Phân hữu

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bước 3: Phối trộn, sản xuất phân hữu cơ vi sinh:

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHẦN 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Giống chè LDP2 tuổi 5, năng suất điều tra trước khi tiến hành thí nghiệm đạt 5 tấn/ha

- Phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp, quy trình chế biến của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đã được nghiệm thu tháng 05/2010

Đặc điểm và thành phần dinh dưỡng của phân HCVS bao gồm: Độ ẩm 26%; Hàm lượng hữu cơ 24%; Hàm lượng N tổng số 3,8%; Số lượng vi sinh vật phân giải lân 8,7x107cfu/g; vi sinh vật phân giải xenllulo 2,1x108

cfu/g; vi sinh vật đối kháng 7,2x106cfu/g; sinh chất kích thích sinh trưởng thực vật 9,6x106

cfu/g

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08 năm

2010 đến tháng 08 năm 2011

- Địa điểm: thí nghiệm được bố trí tại xã Khải Xuân - Thanh Ba - Phú Thọ

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân HCVS chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng của chè LDP2 tuổi 5

2.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân HCVS chế biến từ phụ phẩm nông nghiệm đến lý tính, hóa tính, hàm lượng vi sinh vật trong đất và độ ẩm đất

2.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân HCVS chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến tình hình sâu bệnh hại

2.3.4 Xác định được công thức bón phân HCVS hiệu quả nhất cho giống chè LDP2 tuổi 5

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.4.1.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ vi sinh thay thế các mức đạm khác nhau đên sinh trưởng và chất lượng chè

Thí nghiệm đƣợc bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 5 công thức với 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi lần nhắc lại là 56 m2

- Công thức 1: 100N + 33P2O5 + 33K2O (Quy trình của Bộ NN&PTNT - Đối chứng)

- Công thức 2: 100N + 33P2O5 + 33K2O + phân bón HCVS 10 tấn/ha

- Công thức 3: 75N + 33P2O5 + 33K2O + phân bón HCVS 10 tấn/ha

- Công thức 4: 50N + 33K20 + 33 P205 + phân bón HCVS 10 tấn/ha

- Công thức 5: 25N + 33P2O5 + 33K2O + phân bón HCVS 10 tấn/ha

2.4.1.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân HCVS thay thế 50% lượng đạm quy trình đến sinh trưởng và chất lượng chè

Thí nghiệm đƣợc bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 5 công thức với 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi lần nhắc lại là 56 m2

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Công thức thí nghiệm 2

- Công thức 1: 100N + 33P2O5 + 33K2O(Quy trình của Bộ NN&PTNT - Đối chứng)

- Công thức 2: 50N + 33K20 + 33 P205 + phân bón HCVS 5 tấn/ha

- Công thức 3: 50N + 33K20 + 33 P205 + phân bón HCVS 10 tấn/ha

- Công thức 4: 50N + 33K20 + 33 P205 + phân bón HCVS 15 tấn/ha

- Công thức 5: 50N + 33K20 + 33 P205 + phân bón HCVS 20 tấn/ha

Ghi chú:

Năng suất theo điều tra trước khi sử dụng phân bón đạt 5 tấn/ ha Theo mức

khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: 20N/ tấn sản phẩm, bón theo tỷ lệ 3:1:1

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu hình thái và sinh trưởng

Chiều cao cây (cm)

Mỗi ô thí nghiệm lấy 5 cây đại diện cho ô theo phương pháp chéo 5 điểm

Thời gian đo: Theo dõi 2 lần/năm sau sau khi đốn (tháng 2) và khi kết thúc thí nghiệm (tháng 8)

Phương pháp đo: Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của cây Chiều cao cây là trung bình của các lần đo

Chiều rộng tán (cm)

Mỗi ô thí nghiệm chọn 5 cây để đo đếm theo phương pháp chéo 5 điểm

Thời gian đo: Theo dõi 2 lần/năm sau khi đốn (tháng 2) và khi kết thúc thí nghiệm (tháng 8)

Phương pháp đo: Đo điểm rộng nhất và hẹp nhất của tán chè sau đó lấy giá trị trung bình Chiều rộng tán là trung bình của các lần đo

Động thái sinh trưởng búp

Thời điểm theo dõi: Vào các đợt búp, từ khi cây bắt đầu bật mầm đến khi hái, định kỳ 5 ngày theo dõi một lần

Cách theo dõi: Cố định búp theo dõi, đo từ gốc búp tới đỉnh sinh trưởng của búp

Chiều dài búp(cm): Chiều dài búp là chiều dài từ điểm giữa lá 2 và lá 3 đến

đỉnh sinh trưởng búp

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Mỗi công thức thí nghiệm lấy 150 g mẫu Đo chiều dài 15 búp được lấy ngẫu nhiên, thực hiện 03 lần nhắc Chiều dài búp là bình quân chiều dài một búp của 03 lần nhắc lại

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu cấu thành năng suất

Mật độ búp (búp/m 2

): Dùng khung vuông kích thước 25 x 25 cm đếm số búp

đủ tiêu chuẩn hái (tại 5 điểm theo đường chéo góc của ô thí nghiệm)

Khối lượng búp một tôm hai lá (g)

+ Thời điểm theo dõi: Khi hái búp

+ Cách theo dõi: Hái mỗi điểm theo dõi 30 búp một tôm hai lá (hoặc một tôm ba lá), chia làm 3 lần cân, mỗi lần 10 búp, tính giá trị trung bình

Năng suất thực thu (tấn/lứa/ha)

2.4.4 Các chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu

Xác định tỷ lệ bánh tẻ: Lấy mẫu của lô búp theo phương pháp đường chéo 5

điểm

Phương pháp xác định: Dùng phương pháp xác định bấm bẻ để xác định độ non già của búp chè Mỗi lần nhắc cân 50g mẫu thực hiện bấm bẻ số búp của mẫu Đối với cuống bẻ ngược từ cuống hái đến đỉnh búp, đối với lá bấm bẻ từ cuống lá đến đầu lá, phần bấm bẻ có xơ gỗ là phần bánh tẻ có trong lượng P1, phần non có trọng lượng P2 (trong đó: P1 +P2=50g)

Tỷ lệ (%) búp bánh tẻ = P1:50x100

Tỷ lệ (%) búp non = P2:50x100

- Căn cứ vào tỷ lệ bánh tẻ để đánh giá phẩm cấp búp theo từng công thức

Tiêu chuẩn chè đọt tươi được quy định như sau (theo TCVN 1053-71):

Tỷ lệ bánh tẻ (%) 0- 10% 11- 20% 21- 30% >30%

Tỷ lệ các thành phần búp TB là bình quân lần lượt các giá trị ở 3 lần nhắc lại

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu

Các chỉ tiêu sinh hóa

+ Phân tích hàm lượng tanin theo LeWenthal với K = 0,582 (1964)

+ Xác định hàm lượng chất tan (HCT) theo Vonronxop V E (1946)

+ Xác định hàm lượng đường khử theo Betrand

+ Xác định hàm lượng axitamin theo V.R.Papove (1966)

+ Xác định hàm lượng đạm tổng số theo Kjeldal với K = 1,42

Chế biến chè xanh thử nếm cảm quan

Xếp loại như sau: Mức tốt 18,2 - 20 điểm; mức khá 15,2 - 18,1 điểm; mức đạt 11,2 - 15,2 điểm; mức kém 7,2 - 11,2 điểm; mức hỏng 0 - 7,2 điểm

2.4.6 Phương pháp điều tra sâu hại chính

Điều tra Rầy xanh

Trên mỗi công thức chọn 5 điểm chéo góc mỗi điểm điều tra 5 khay, dùng khay nhôm kích thước 35x25x5cm có tráng dầu hoả, để nghiêng 450

ở dìa tán, đập mạnh

3 đập rồi đếm rầy trong khay và tính trung bình con trên khay theo công thức:

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Cách tính: Mật độ rầy xanh (con/khay) = Tổng số rầy xanh điều tra

Tổng số khay điều tra

 Điều tra Bọ cánh tơ

Trên mỗi công thức chọn 5 điểm chéo góc mỗi điểm chọn ngẫu nhiên 25 búp (1 tôm 2-3 lá) cho vào túi ni lông đem về phòng đếm Mật độ bọ cánh tơ được tính theo công thức:

Cách tính: Mật độ bọ cánh tơ (con/búp) = Tổng số bọ cánh tơ điều tra

 Điều tra Bọ xít muỗi

Trên mỗi công thức điều tra 5 điểm chéo góc mỗi điểm hái 25 búp mang về phòng nghiên cứu và tính tỷ lệ % búp bị hại theo công thức:

Cách tính: Tỷ lệ búp bị hại (%) = Số búp bị hại

Tổng số lá điều tra (25 lá)

2.4.7 Xác định các chỉ tiêu lý tính, hóa tính trong đất trước và sau thí nghiệm

Phân tích vi sinh vật phân giải xenlulô và các loài vi sinh vật có ích khác

Mỗi lần nhắc lại theo dõi 3 điểm theo đường chéo Mẫu được lấy theo chiều vuông góc với mặt đất với lượng 200g/mẫu Mẫu lấy xong được đựng trong túi đựng mẫu và bảo quản trong phích lạnh Số lượng vi sinh vật được tính theo phương

pháp thạch bằng (trên môi trường thạch)

Chỉ tiêu lý tính đất

+ Độ ẩm đất: được tính theo khối lượng đất khô kiệt

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

W(%) = x100

Pdk

Pn , trong đó: W là độ ẩm đất (%), Pn là khối lượng nước chứa trong mẫu đất (g), Pđk là khối lượng đất khô sấy ở 105o

(g) + Dung trọng đất: được tính theo công thức D =

V

P , trong đó: D là dung trọng đất (g/cm3), P là trọng lượng đất tự nhiên trong ống trụ có thể tích 100cm3

được sấy khô tuyệt đối (g) và được lấy theo chiều vuông góc với mặt đất lấy mẫu ở trạng thái

tự nhiên, V là thể tích ống đóng (cm3

) + Tỷ trọng đất: được xác định bằng công thức

d =

1

P

P , trong đó: d là tỷ trọng đất (g/cm3), P là trọng lượng thể rắn của đất trong thể tích cố định không có khoảng hổng không khí (g), P1 là trọng lượng nước

có cùng thể tích ở 4o

C + Độ xốp đất: được tính bằng công thức sau

P(%) = (1 - D d ) x 100, trong đó: P là độ xốp của đất, D là dung trọng đất, d là

tỷ trọng đất

Chỉ tiêu hoá tính đất; phân tích hàm lượng N,P,K tổng số và dễ tiêu trong đất

+ Phân tích đạm tổng số theo phương pháp Kjeldahl

+ Phân tích lân dễ tiêu theo phương pháp Oniani

+ Phân tích kali dễ tiêu theo phương pháp quang kế

+ Phân tích OM theo phương pháp Walkey- Black

2.4.8 Tính hiệu quả của từng công thức bón phân bón

- Lợi nhuận (RVAC) được tính bằng tổng thu nhập (GR) trừ đi tổng chi phí (TC): RVAC = GR – TC

- Tỷ suất lãi toàn phần = (GR – TC)/TC (%)

2.4.9 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập sẽ được tổng hợp, hiệu chỉnh bằng Excel sau đó xử

lý bằng phần mềm thống kê sinh học IRRISTAT 5.0

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh thay thế các mức đạm khác nhau đến sinh trưởng và chất lượng của chè LDP 2 tuổi 5

3.1.1 Ảnh hưởng của bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác nhau đến động thái sinh trưởng chiều cao cây và chiều rộng tán chè

Chiều cao cây được quy định bởi bản chất di truyền của giống và chịu tác động của yếu tố kỹ thuật, trong đó yếu tố phân bón đóng vai trò quan trọng Chiều cao của cây chè sinh trưởng tốt chứng tỏ khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây chè tốt và đảm bảo

yêu cầu kỹ thuật

Chiều rộng của tán chè là một chỉ tiêu ảnh hưởng đến diện tích của tán chè, qua

đó nó phản ánh mức độ rộng hẹp của không gian chứa búp Việc tăng chiều rộng tán

sẽ làm cho diện tích mặt tán tăng, từ đó làm tăng số lượng búp và là cơ sở cho năng suất cao Mặt khác, tán rộng tạo ra không gian thông thoáng về ánh sáng tạo điều kiện cho búp chè sinh trưởng và phát triển tốt, tăng trọng lượng búp Kết quả nghiên

cứu về động thái sinh trưởng của cây chè được thể hiện trong bảng 3.1:

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác nhau

đến chiều cao cây chè, chiều rộng tán chè Công thức

Ghi chú: *: Giá trị cao hơn và sai khác so với đối chứng ở độ tin cậy 95%

**: Giá trị thấp hơn và sai khác với đối chứng ở độ tin cậy 95%

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

 Chiều cao cây (cm)

Số liệu bảng 3.1 cho thấy: Các công thức bón phân HCVS có chiều cao cây khác nhau và không sai khác so với CT1(Đ/C) CT3 có chiều cao cây tăng nhiều nhất (3,5cm); CT2, CT4, CT5 mức độ tăng trưởng chiều cao cây chênh lệch không nhiều dao động từ 2,3 - 3,1cm Mức tăng trưởng ít nhất ở CT4 là 2,3cm Điều này có thể nói lên việc bón thay thế 25% lượng đạm và kết hợp phân HCVS thì chiều cao cây chè vẫn có tốc độ tăng trưởng bình thường

 Chiều rộng tán (cm)

Số liệu bảng 3.1 cho thấy: Các công thức bón phân khác nhau cho kết quả chiều rộng tán khác nhau CT3 có mức tăng chiều rộng tán sai khác với CT1 (Đ/C) ở độ tin cậy 95% với mức tăng 13,2 cm Các công thức còn lại có chiều rộng tán tại thời điểm kết thúc thí nghiệm dao động từ 137,5 - 138,7cm Giống như chiều cao cây do cây chè là cây lâu năm, cùng với thời gian tiến hành thí nghiệm kéo dài qua thời kỳ chè ngủ nghỉ và đốn nên mức độ tăng trưởng bề rộng tán chè là chưa nhiều

3.1.2 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác nhau đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè

3.1.2.1 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác nhau đến động thái tăng trưởng chiều dài búp chè

Mật độ búp và khối lượng búp là hai chỉ tiêu quan hệ tới năng suất Chiều dài búp có quan hệ với khối lượng búp , trong cùng một giống khi điều kiện canh tác khác nhau sẽ ảnh hưởng tới chiều dài búp , sự tăng trưởng của chiều dài búp là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới khối lượng búp Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành theo dõi động thái tăng trưởng búp chè Các kết quả được thể hiện trong bảng 3.2 và hình 3.1

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác

nhau đến động thái tăng trưởng chiều dài búp chè

5 ngày

10 ngày

15 ngày

20 ngày

25 ngày

30 ngày

35 ngày

40 ngày TB CT1 0,86 1,34 0,92 1,91 2,10 2,00 1,89 2,75 1,72

Ghi chú: *: Giá trị cao hơn và sai khác so với đối chứng ở độ tin cậy 95%

**: Giá trị thấp hơn và sai khác với đối chứng ở độ tin cậy 95%

Số liệu bảng 3.2 cho thấy: Các công thức bón phân khác nhau có tốc độ tăng trưởng chiều dài búp khác nhau Trong đó CT2 có tốc độ tăng trưởng cao nhất (trung bình sau 5 ngày đạt 1,83 cm) sai khác với các công thức CT3, CT4, CT5 ở độ tin cậy 95% và không sai khác với CT1(Đ/C) - có tốc độ tăng trưởng trung bình sau 5 ngày đạt 1,72 cm

Hình 3.1: Động thái tăng trưởng chiều dài búp

0 2 4 6 8 10 12 14 16

5 ngày 10

ngày

15 ngày

20 ngày

25 ngày

30 ngày

35 ngày

40 ngày

(cm)

CT1 CT2 CT3 CT4 CT5

3.1.2.2 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác nhau đến chiều dài búp, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất chè

Yếu tố cấu thành năng suất chè bao gồm mật độ búp và khối lượng búp Ở cây chè, đối tượng thu hoạch chính là búp (tôm và 2 - 3 lá non) vì vậy mật độ búp càng cao sẽ là

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

cơ sở cho năng suất cao và ngược lại Cũng như mật độ búp, khối lượng búp có ảnh hưởng quyết định đến năng suất Trong trường hợp mật độ búp ít biến động thì khối lượng búp càng cao sẽ cho năng suất càng cao Tuy nhiên, mật độ búp là yếu tố nhạy cảm (phụ thuộc vào nhiều yếu tố), có độ biến động lớn Chiều dài búp và khối lượng búp có mối tương quan mật thiết với nhau, khối lượng búp lớn hay nhỏ là do chiều dài búp quyết định Chiều dài búp có ảnh hưởng theo chiều hướng tích cực đối với năng suất búp thu hoạch nhưng lại có ảnh hưởng tiêu cực đối với chất lượng nguyên liệu chế biến chè xanh Chiều dài búp càng lớn thì sản lượng búp càng cao nhưng chất lượng nguyên liệu búp càng giảm Kết quả nghiên cứu về các yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất chè được thể hiện trên trong bảng 3.3:

Bảng 3.3 : Ảnh hưởng của bón phân HCVS thay thế các mức đạm khác nhau đến

năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất Công

Ghi chú: *: Giá trị cao hơn và sai khác so với đối chứng ở độ tin cậy 95%

**: Giá trị thấp hơn và sai khác với đối chứng ở độ tin cậy 95%

 Chiều dài búp(cm)

Chiều dài búp thể hiện khả năng sinh trưởng của búp Búp sinh trưởng khỏe thì chiều dài búp lớn, búp nhanh được thu hoạch, năng suất búp cao Búp sinh trưởng yếu thì chiều dài búp ngắn, búp nhanh mù xòe, năng suất giảm Kết quả nhiểu nghiên cứu kết luận khối lượng búp và chiều dài búp thường có tương quan rất chặt với nhau Vì vậy những búp chè có chiều dài búp lớn thường có khối lượng búp lớn

Số liệu cột 2 bảng 3.3 cho thấy: các công thức bón phân khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến chiều dài búp chè Trong đó, CT2 có sự sai khác chắc chắn

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

với CT1 (Đ/C) ở độ tin cậy 95% với chiều dài búp trung bình 7,06 cm Còn lại CT3, CT4, CT5 đều có chiều dài búp thấp hơn CT1 (Đ/C), trong đó CT3 không có sự sai khác so với CT1 (Đ/C), CT4 và CT5 có sự sai khác với CT1(Đ/C) ở độ tin cậy 95% Kết quả phân tích bước đầu cho thấy thay thế 25% phân đạm bằng 10 tấn phân HCVS cho kết quả chiều dài búp tăng hơn so với chỉ bón phân vô cơ Kết quả thể hiện ở hình 3.2:

5.5 6 6.5 7

7.5

(cm)

Hình 3.2: Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các

mức đạm khác nhau đến chiều dài búp

 Mật độ búp (búp/ m 2

)

Khả năng sinh trưởng mạnh hay yếu của cây chè được thể hiện qua chỉ tiêu mật độ búp Cây sinh trưởng phát triển mạnh sẽ có khả năng bật búp mạnh Do vậy, mật độ búp

có tương quan chặt với năng suất chè, mật độ càng cao sẽ cho năng suất chè cao

Số liệu cột 3 bảng 3.3 cho thấy: Các công thức bón phân khác nhau cho mật độ búp khác nhau CT2, CT3, CT4 có mật độ búp cao hơn và sai khác với CT1(Đ/C) ở độ tin cậy 95%, trong đó CT2 có giá trị trung bình mật độ búp lớn nhất đạt 128,99 búp/m2

CT5 có mật độ búp thấp hơn và sai khác với CT1(Đ/C) ở độ tin cậy 95% Mật độ búp trung bình ở các công thức thí nghiệm được thể hiện trên hình 3.3:

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

0 50 100

Khối lượng búp 1 tôm 2 lá (gam)

Số liệu cột 4 bảng 3.3 cho thấy các công thức bón phân khác nhau cho khối lượng búp khác nhau CT2 và CT3 có khối lượng trung bình búp một tôm hai lá tương đương nhau và cao hơn CT1(Đ/C) chắc chắn ở độ tin cậy 95% trong đó CT3

có khối lượng trung bình 1 búp cao nhất (0,64g); CT4 và CT5 có khối lượng trung bình 1 búp tương đương nhau và thấp hơn CT1(Đ/C) chắc chắn ở độ tin cậy 95%

 Năng suất (tấn/8 lứa/ha)

Năng suất chè là mục đích hàng đầu trong sản xuất chè Ngoài yếu tố di truyền của giống, thì năng suất chè chịu ảnh hưởng chặt chẽ bởi mức độ thâm canh, đặc biệt là việc bón phân Bón phân với liều lượng và tỷ lệ thích hợp là một biện pháp quan trọng nhằm nâng cao năng suất chè

Số liệu cột 5 bảng 3.3 cho thấy: Các công thức bón phân khác nhau cho năng suất khác nhau CT2, CT3, CT4 có NSTT cao hơn hẳn CT1(Đ/C) với mức tin cậy 95%, trong đó CT3 cho năng suất trong 8 lứa hái cao nhất (đạt 7,53 tấn/ha), CT2 (đạt 7,23 tấn/ha) CT5 cho năng suất thấp hơn và không sai khác với đối chứng Kết quả cho thấy: khi thay thế lần lượt 25%, 50% lượng đạm ở công thức đối chứng bằng 10 tấn phân HCVS thì không làm suy giảm năng suất của chè; tuy nhiên nếu giảm lượng đạm nhiều hơn 25% thì năng suất thực thu sẽ có chiều hướng giảm đi Đối với những công thức có bón phân vô cơ kết hợp với bón phân HCVS đã giúp cho quá trình hút dinh dưỡng của cây được dễ dàng hơn, thay thế 25% và 50% lượng đạm quy trình bằng 10 tấn phân HCVS cho năng suất cao hơn đáng kể

Ngày đăng: 05/10/2014, 02:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Phạm Văn Toản và ctv(2005), “ Nghiên cứu công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật mới, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng cho một số vùng sinh thái”, báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Nhà nước KC.04.04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật mới, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng cho một số vùng sinh thái
Tác giả: Phạm Văn Toản, ctv
Nhà XB: báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Nhà nước KC.04.04
Năm: 2005
23. Nguyễn Văn Sƣ́c và cộng sƣ̣ (2003). Thử nghiệm đánh giá hiệu lực của ba loại phân bón hữu cơ vi sinh là: Cầu Diễn. Fitohoocmon. và Sông Gianh.TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm đánh giá hiệu lực của ba loại phân bón hữu cơ vi sinh là: Cầu Diễn. Fitohoocmon. và Sông Gianh
Tác giả: Nguyễn Văn Sƣ́c, cộng sƣ̣
Nhà XB: TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
Năm: 2003
25. Bell L.C and Edwards D.G. (1989). The role of aluminum in acid soil infertility, Soil management under humid conditions in Asia and Pacific, IBSRAM proceedings, No5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soil management under humid conditions in Asia and Pacific
Tác giả: Bell L.C and Edwards D.G
Năm: 1989
26. Christian Bruns and Christian Schüler (2000), Suppressive effects of yard waste compost amended growing media on soilborne plant pathogens in organic horticulture University of Kassel, International Rural Development and Environmental Protection Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suppressive effects of yard waste compost amended growing media on soilborne plant pathogens in organic horticulture
Tác giả: Christian Bruns, Christian Schüler
Nhà XB: University of Kassel
Năm: 2000
27. Diekow (2005), “Tea somaclones with high yield and quality potential”, International symposium on innovation in tea science and sustainable development in tea industry, pp. 317- .haisit, T., et al (2005) - Effect soil moisture and temperature on decomposition rates of some waste materials from agriculture and agro-industry Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tea somaclones with high yield and quality potential
Tác giả: Diekow
Nhà XB: International symposium on innovation in tea science and sustainable development in tea industry
Năm: 2005
28. Erangelista P.P., Urriza G.I.P ect (1999). Effeect of organic matter, lime and phosphorus fertilizers on acis upland soil. ACIAR project 9414 annual report, Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of organic matter, lime and phosphorus fertilizers on acis upland soil
Tác giả: Erangelista P.P., Urriza G.I.P
Nhà XB: ACIAR project 9414 annual report
Năm: 1999
22. Trung tâm Nghiên cứu và phát triển vùng, Bộ Khoa học và Công nghệ (2008), Sổ tay chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi Vùng Tây Bắc Khác
24. Agricultural Resources Management Research Division (2003) – Organic inputs & Technologies. PCARRD, Los Baủos, Philippine Khác
29. FNCA Biofertilizer Project Group (2006) – Biofertilizer manual. Forum for Nuclear Coooperation in Asia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm: - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm: (Trang 29)
Hình 3.1: Động thái tăng trưởng chiều dài búp - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.1 Động thái tăng trưởng chiều dài búp (Trang 37)
Hình 3.3: Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.3 Ảnh hưởng của việc bón phân HCVS phối hợp với các (Trang 40)
Hình 3.5: Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.5 Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ (Trang 47)
Hình 3.6: Diễn biến gây hại của bọ xít muỗi - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.6 Diễn biến gây hại của bọ xít muỗi (Trang 48)
Hình 3.7: Diễn biến gây hại của nhện đỏ - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.7 Diễn biến gây hại của nhện đỏ (Trang 48)
Hình 3.8: Diễn biến gây hại của rầy xanh - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.8 Diễn biến gây hại của rầy xanh (Trang 49)
Hình 3.9: Động thái tăng trưởng chiều dài búp - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.9 Động thái tăng trưởng chiều dài búp (Trang 53)
Hình 3.10: Ảnh hưởng của các công thức  bón phân đến chiều dài búp - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.10 Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến chiều dài búp (Trang 54)
Hình 3.11: Ảnh hưởng của các công thức - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.11 Ảnh hưởng của các công thức (Trang 55)
Hình 3.12: Ảnh hưởng của các công thức - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.12 Ảnh hưởng của các công thức (Trang 56)
Hình 3.13: Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.13 Diễn biến gây hại của bọ cánh tơ (Trang 66)
Hình 3.14: Diễn biến gây hại của bọ xít muỗi - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.14 Diễn biến gây hại của bọ xít muỗi (Trang 67)
Hình 3.15: Diễn biến gây hại của nhện đỏ - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.15 Diễn biến gây hại của nhện đỏ (Trang 68)
Hình 3.16: Diễn biến gây hại của rầy xanh - nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ vi sinh chế biến từ phụ phẩm nông nghiệp đến sinh trưởng và chất lượng của giống chè ldp2 tuổi 5 tại khải xuân - thanh ba - phú thọ
Hình 3.16 Diễn biến gây hại của rầy xanh (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm