ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN TIẾN ĐẠT NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ BÃI THẢ ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LAI F1 ♂ RI x ♀ SASSO VÀ GÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NÔN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TIẾN ĐẠT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ BÃI THẢ
ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LAI F1 (♂ RI x ♀ SASSO)
VÀ GÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NÔNG HỘ TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TIẾN ĐẠT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ BÃI THẢ
ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT CỦA GÀ LAI F1 (♂ RI x ♀ SASSO)
VÀ GÀ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NÔNG HỘ TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT
Mã số: 60 62 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Thị Thuý Mỵ
Thái Nguyên - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào Mọi sự giúp đỡ đều được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Nguyễn Tiến Đạt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thuý
Mỵ - Phó trưởng khoa Chăn nuôi Thú y, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên và PGS TS Trần Thanh Vân – Trưởng ban Sau đại học, Đại học Thái nguyên Các thầy cô đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Chăn nuôi thú y, Bộ môn Sinh hóa - Viện khoa học sự sống, tập thể các thầy cô giáo Khoa chăn nuôi thú y, UBND xã Quyết Thắng, UBND xã Phúc Xuân, các hộ nông dân 2 xã trên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn mọi người thân trong gia đình và toàn thể bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi về cả vật chất và tinh thần
để tôi yên tâm hoàn thành nhiệm vụ
Tôi xin trân trọng gửi tới các Thầy, Cô giáo trong hội đồng chấm luận văn lời cảm ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất./
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 09 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Tiến Đạt
Trang 5LỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng số liệu kết quả thí nghiệm của luận văn v
Danh mục các sơ đồ, đồ thị và biểu đồ của luận văn vii
Danh mục các ảnh minh hoạ của luận văn vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Cơ sở của khoa học về khả năng sinh trưởng 3
1.1.1.1 Khái niệm về sinh trưởng 3
1.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm 6
1.1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt 12
1.1.1.4 Cơ sở khoa học của tiêu tốn thức ăn 16
1.1.1.5 Sức sống và khả năng kháng bệnh 17
1.1.2 Ảnh hưởng của bãi thả đến gà thịt 19
1.1.2.1 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tỷ lệ nuôi sống 19
1.1.2.2 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến sinh trưởng 20
1.1.2.3 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả tiêu tốn thức ăn 22
1.1.2.4 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến hiệu quả kinh tế 23
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 24
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
Trang 61.2.1.1 Tình hình chăn nuôi và nghiên cứu gà thả vườn 24
1.2.1.2 Nghiên cứu về lai tạo 26
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 28
1.2.3 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của giống gà Sasso 29
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 31
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 31
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 31
2.2 Nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 34
2.2.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu 34
2.2.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 34
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 39
3.2 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả khả năng sinh trưởng 41
3.2.1 Sinh trưởng tích lũy 41
3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối 44
3.2.3 Sinh trưởng tương đối 46
3.2.4 Hệ số sinh trưởng 48
3.3 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến khả năng chuyển hóa thức ăn 50
3.3.1 khả năng tiêu thụ thức ăn 50
3.3.2 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 52 3.3.3 Tiêu tốn năng lượng trao đổi Kcal (ME), Protein thô (CP) cho 1kg tăng
Trang 7khối lƣợng 55
3.3.3.1 Tiêu tốn năng lƣợng trao đổi Kcal (ME) 55
3.3.3.2 Tiêu tốn Protein thô (CP) 57
3.3.4 Tiêu hóa protein hữu hiệu 59
3.4 Chỉ số sản xuất (PI), chỉ số kinh tế (EN) 61
3.4.1 Chỉ số sản xuất (PI) 61
3.4.2 Chỉ số kinh tế (EN) 64
3.5 Khả năng sản xuất thịt của gà thí nghiệm 64
3.5.1 Năng suất thịt 64
3.5.2 Thành phần hoá học của thịt 66
3.6 Sơ bộ hạch toán kinh tế 67
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
I Tài liệu tiếng việt 71
II Tài liệu tiếng anh 78
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG CỦA LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 33
Bảng 2.2 Giá trị dinh dưỡng của thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 33
Bảng 2.3 Lịch sử dụng vaccine 34
Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của gà thí nghiệm 42
Bảng 3.2a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 44
Bảng 3.2b Sinh trưởng tích luỹ của gà lai F1 (Ri x Sasso) và gà địa phương theo mật độ bãi thả 45
Bảng 3.3a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 48
Bảng 3.3b Sinh trưởng tuyệt đối của gà lai F1 (Ri x Sasso) và gà địa phương theo mật độ bãi thả 49
Bảng 3.4a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm 52
Bảng 3.4b Sinh trưởng tương đối của gà thí nghiệm theo mật độ bãi thả 53 Bảng 3.5a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến hệ số sinh trưởng của gà thí nghiệm 55
Bảng 3.5b Hệ số sinh trưởng của gà lai (Ri x Sasso) và gà địa phương theo mật độ bãi thả 56
Bảng 3.6a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm 69
Bảng 3.6b Tiêu thụ thức ăn của lai F1(Ri x Sasso) và gà địa phương theo mật độ bãi thả 60
Bảng 3.7a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tiêu tốn thức ăn cộng dồn của gà thí nghiệm 62
Trang 9Bảng 3.7b Tiêu tốn thức ăn cộng dồn của gà lai F1(Ri x Sasso) và gà địa
phương theo mật độ bãi thả 63
Bảng 3.8a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tiêu tốn năng lượng/ kg tăng khối lượng 66
Bảng 3.8b Tiêu tốn năng lượng/kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm theo mật độ bãi thả 67
Bảng 3.9a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tiêu tốn Protein (CP)/ kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm 69
Bảng 3.9b Tiêu tốn Protein (CP)/ kg tăng khối lượng của gà thí nghiệm theo mật độ bãi thả 70
Bảng 3.10a Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tiêu hóa protein hữu hiệu của gà thí nghiệm 72
Bảng 3.10b Tiêu hóa protein hữu hiệu của gà lai F1(Ri x Sasso) và gà địa phương theo mật độ bãi thả 73
Bảng 3.11 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 75
Bảng 3.12 Chỉ số kinh tế của gà thí nghiệm 75
Bảng 3.13 Kết quả mổ khảo sát gà F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) 80
Bảng 3.14 Thành phần hoá học cơ ngực và cơ đùi của gà lai F1 (Ri xSasso) 81
Bảng 3.15: Sơ bộ hoạch toán kinh tế (đ/kg tăng khối lượng) 84
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ CỦA LUẬN VĂN Đồ thị 3.1 Sinh trưởng tích luỹ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 47
Biểu đồ 3.2 Tiêu tốn thức ăn của gà thí nghiệm 64
Biểu đồ 3.3 Chỉ số sản xuất của gà thí nghiệm 76
Biểu đồ 3.4 Chỉ số sinh trưởng của gà thí nghiệm 77
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên đàn gà đang diễn ra rất phức tạp ở nước ta Phương thức chăn nuôi gà chủ yếu là chăn thả tự do, nhỏ lẻ, không đảm bảo an toàn sinh học, thường xuyên xảy ra dịch bệnh, gây tổn thất nặng nề về kinh tế Để giải quyết vấn đề này, chủ trương của Nhà nước là chuyển đổi phương thức chăn nuôi tự do, nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi bán chăn thả, chăn nuôi tập chung, có kiểm soát, theo hướng an toàn sinh học
Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam Thái Nguyên
là tỉnh có điều kiện về khí hậu, đất đai thuận lợi cho chăn nuôi gà Hiện nay, chăn nuôi gà bán chăn thả đang phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, theo điều tra
sơ bộ tại 5 xã miền tây của thành phố Thái Nguyên cho thấy chăn nuôi gà chủ yếu là chăn nuôi theo kinh nghiệm truyền thống, chăn thả tự do, thiếu kiểm soát về dịch bệnh, không thực hiện quy trình tiêm vaccine phòng bệnh cho gà, nguy cơ xảy ra và bùng phát dịch bệnh là rất cao Mặt khác, giống gà được nuôi nhiều nhất chủ yếu là gà địa phương, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế thấp Muốn chăn nuôi gà có hiệu quả bền vững, hạn chế tối đa dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh môi trường, cần xây dựng quy trình chăn nuôi gà bán chăn thả
theo hướng “sạch từ con giống đến quá trình chăn nuôi”
Trong chăn nuôi gà bán chăn thả, mật độ bãi thả có vai trò quan trọng Mật độ bãi thả có liên quan đến sự tìm kiếm thức ăn và nước uống trong tự nhiên, tới khả năng vận động của gà thịt để thịt gà săn chắc và thơm ngon phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng Mật độ bãi thả thấp, gà ít vận động, tiêu hao năng lượng giảm, tập chung vào tích lũy thịt Mật độ bãi thả cao, hạn chế
Trang 11sự nhiễm bẩn, tạo môi trường sống thuận lợi cho gà, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trên bãi chăn thả, gà vận động nhiều làm tăng chất lượng thịt Vì vậy, mật độ bãi thả có ảnh hưởng tới sức sản xuất, lợi nhuận của nhà chăn nuôi Khi chăn nuôi các giống gà thả vườn cần chú ý đến những đặc điểm sinh lý của gà để từ đó điều chỉnh các chỉ tiêu kĩ thuật cho phù hợp, để gia cầm thích nghi được với những thay đổi của nhiệt độ môi trường Gà càng lớn, lượng khí độc và độ nhiễm bẩn trong chuồng càng cao, trong khi đó lượng oxy yêu cầu càng nhiều, vì vậy hệ thống thông thoáng trong chuồng nuôi và mật độ bãi thả cần đảm bảo
Để đánh giá ảnh hưởng của mật độ bãi thả khác nhau tới sinh trưởng của
gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso), xây dựng quy trình chăn nuôi gà bán chăn thả theo hướng an toàn sinh học trong nông hộ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến khả năng sản xuất thịt
của gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) và gà địa phương trong nông hộ tại Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
- Ảnh hưởng của mật độ bãi thả khác nhau đến khả năng sản xuất thịt và hiệu quả kinh tế của gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) nuôi tại nông hộ của thành phố Thái Nguyên
- Xây dựng mô hình chăn nuôi gà theo hướng an toàn sinh học trong nông hộ, giúp người dân phát triển chăn nuôi gà, tăng hiệu quả kinh tế tại thành phố Thái Nguyên
- Kết quả của đề tài cung cấp số liệu khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Xác định được mật độ bãi thả thích hợp cho gà F1 (Ri x Sasso) nuôi trong nông hộ, phát triển chăn nuôi gà bền vững theo hướng an toàn sinh học
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Cơ sở của khoa học về khả năng sinh trưởng
1.1.1.1 Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính
là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32])
Chamber (1990) [63], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lượng, số lượng
và các chiều đo Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là
sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích luỹ nước, không có sự phát triển của thân, mô, cơ
Sự tăng trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ) Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Theo Phùng Đức Tiến (1996) [46], trong quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32] cho biết: theo
Trang 13Driesch.H, 1990 thì sự tăng thể khối của cơ thể là do các tế bào trong cơ thể tăng về số lượng và kích thước Theo tài liệu của Chambers.J.R, 1988 [65] thì Mozan (1997) định nghĩa sinh trưởng là tổng hợp sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da
Ganer (1992) cho rằng sinh trưởng trước hết là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [32])
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành Để có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers.J.R, 1988 [65])
Theo Johanson.L, 1972 [17] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra theo trình tự như sau:
Hệ thống tiêu hóa, nội tiết Hệ thống xương Hệ thống cơ bắp mỡ Thực tế nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô cơ, một phần rất ít dùng lưu giữ cho cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều
để nuôi hệ thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ dinh dưỡng để cấu tạo mỡ
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42-45% khối lượng cơ thể Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm) Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà
Trang 14mái đạt 467g (Ngô Giản Luyện, 1994 [26])
Qua những nghiên cứu cho thấy cơ sở sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sinh sản và tế bào phát triển Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản suất đều được hoàn chỉnh dần trong suốt quá trình sinh trưởng Các đặc tính này tuy là một sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ, nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường
Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần trong khoảng thời gian của các độ tuổi
Khi nghiên cứu về sinh trưởng người ta thường sử dụng một cách đơn giản và cụ thể một số chỉ tiêu để đánh giá sự sinh trưởng của gia cầm:
- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích
cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (T.C.V.N.2.39,1977 [48]) sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng Parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
- Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên về khối lượng, kích
thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N.2.40, 1977 [49]) Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol Gà còn non có sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi
- Đường cong sinh trưởng: Là đường cong biểu thị sinh trưởng của gia
súc, gia cầm nói chung
Theo tài liệu của Chamber.J.R, 1988 [65] đường cong sinh trưởng của gà
Trang 15thịt có 4 đặc điểm chính gồm 4 pha:
+ Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở
+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất
+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính
Trần Long, 1994 [28] khi nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy các dòng đều phát triển theo đúng qui luật sinh học Đường cong sinh trưởng của 3 dòng có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác nhau: sinh trưởng cao ở 7-8 tuần tuổi đối với gà trống và 6 -7 tuần tuổi đối với gà mái
1.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như giống, giới tính, tốc độ mọc lông, khối lượng bộ xương, dinh dưỡng và các điều kiện chăn nuôi, sức khoẻ
* Ảnh hưởng của dòng giống đến khả năng sinh trưởng
Các dòng trong một giống, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng
Theo tài liệu tổng hợp của Chambers.J.R, 1988 [65] có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ
Trang 16Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [33] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian
và BE88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống gà khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g, 2423,28g và 2305,14g
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [15] thì sự sai khác về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng từ 13-38%
Marco A.S (1982) [80], cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng
là từ 0,4 - 0,5 Theo Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [1], hệ số di truyền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau Hệ số di truyền về khối lượng ở 3 tháng tuổi là 0,26 - 0,5 Kushner (1974) [21], cho biết hệ số di truyền về khối lượng sống của gà ở 1, 2 và 3 tháng tuổi tương ứng là 0,33, 0,46 và 0,43 Cook và cộng sự (1956) [66] xác định hệ số di truyền về khối lượng cơ thể lúc 6 tuần tuổi là 0,5
Các nghiên cứu trên đây cho biết, đặc tính di truyền của dòng, của giống
là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và cho thịt của gà broiler Đồng thời còn chỉ ra giới hạn mà mỗi dòng, mỗi giống có thể đạt được Điều này giúp người chăn nuôi có thể đầu tư thâm canh hợp lý để đạt năng suất cao nhất
* Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông đến khả năng sinh trưởng
Tính biệt cũng có ảnh hưởng rõ rệt tới khối lượng cơ thể: gà trống nặng cân hơn gà mái từ 24-32% (Jull M A, 1923) [77] Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, được qui định không phải do hormon sinh học mà do các gen liên kết với giới tính Sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm (Chambers.J.R, 1988 [65] )
North.M.O, 1990 [82] kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 2 tuần tuổi là 5%, 3 tuần tuổi >11%, 5
Trang 17tuần tuổi >17%, 6 tuần tuổi > 20%, 7 tuần tuổi > 23%, 8 tuần tuổi > 27 %
Ảnh hưởng của tính biệt đối với khả năng sinh trưởng và cho thịt của gà broiler có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Ở các nước công nghiệp, người ta nuôi gà broiler tách riêng trống, mái Việc này, làm tăng độ đồng đều trong đàn và thuận lợi cho việc giết mổ tự động Nuôi tách riêng trống, mái sẽ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, tăng khối lượng nhanh, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, làm cho gà trống không lấn át gà mái, giảm gà bị trầy, xước (Đặng Hữu Lanh và ctv, 1999) [22]
Theo tài liệu tổng hợp của Kushner.K.F, 1969 [20] thì tốc độ mọc lông
có quan hệ chặt chẽ với sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh
và đều hơn gà mọc lông chậm
Hayer và cộng sự (1970) [73], đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có quan hệ ngược chiều với gen liên kết giới tính quy định tốc độ mọc lông Siegel và Dumington (1978) [90], cho rằng những alen quy định mọc lông nhanh phù hợp với tăng trọng cao
* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng
Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới tốc độ sinh trưởng Các chất dinh dưỡng gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần có tầm quan trọng và
ý nghĩa riêng Đặc biệt quan trọng là protein, năng lượng, tỷ lệ năng lượng/protein, các chất khoáng và vitamin các loại Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [25], cho rằng để phát huy được khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu, với đầy đủ các chất dinh dưỡng, được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng
Trần Công Xuân, 1995 [56] cho biết cùng tổ hợp lai broiler Ross - 208
và Ross - 208 V3 nuôi ở 9 lô với 3 mức năng lượng và 3 mức Protein cho khối lượng ở 8 tuần tuổi khác nhau rõ rệt
Trang 18Bùi Đức Lũng và cộng sự (1992) [24], nghiên cứu bổ sung khoáng và vitamin vào khẩu phần nuôi gà Hybro HV85 cho thấy: khối lượng ở 7 tuần tuổi tăng 85,3g so với lô đối chứng
Như vậy, để đạt năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt
để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì một trong những vấn đề căn bản
là lập ra những khẩu phần nuôi dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở tính toán nhu cầu axit amin cho từng giai đoạn Ngoài ra, khả năng sinh trưởng của gia cầm còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi và thú y phòng bệnh…
* Ảnh hưởng của độ tuổi
Cũng như các loài vật nuôi khác, quá trình sinh trưởng, phát dục của gia cầm từ khi mới nở đến khi già và chết chịu sự chi phối của quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn; quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều…
Trong độ tuổi từ mới nở đến 60 ngày, quá trình sinh trưởng của gà chia làm 3 giai đoạn:
- Từ mới nở đến 10 ngày: gà con chưa điều tiết được thân nhiệt, chưa có
sự khác nhau về sinh trưởng giữa con trống và con mái, cơ xương mềm yếu,
gà ít vận động, buồn ngủ, phản ứng với ngoại cảnh kém, gà có tốc độ sinh trưởng nhanh
- Từ 11 đến 30 ngày, gà sinh trưởng rất nhanh, có sự khác biệt rõ rệt giữa con trống và con mái về tốc độ sinh trưởng, màu sắc lông và các đặc điểm thứ cấp Gà chuyển hoá thức ăn tốt, cơ quan điều tiết thân nhiệt đã hoàn thiện
- Từ 31 đến 60 ngày: khối lượng của gà tăng nhanh gấp nhiều lần so với lúc mới nở, các phản xạ về thức ăn, nước uống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đã được củng cố bền vững Gà con kết thúc quá trình thay lông tơ bằng lông vũ
Trang 19Đào Văn Khanh (2002) [19], nghiên cứu trên gà Tam Hoàng nuôi vụ hè
ở Thái Nguyên cho biết, gà Tam Hoàng có sinh trưởng tương đối ở tuần 1 là cao nhất (83,25%), sau đó giảm dần, tuần 2 là 62,38% và tuần 3 còn 52,41%
* Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường đến khả năng sinh trưởng
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc biệt là giai đoạn gà con Với gà con nhiệt độ ngày thứ nhất cầm đảm bảo 32-
340C; ngày thứ 2-7 là 300C; tuần thứ hai là 260C; tuần thứ 3 là 220C; tuần thứ
4 là 200C Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [25] thì nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà sau 3 tuần tuổi là 18-200
C
Nhiệt độ môi trường cao ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler Do vậy, tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trường Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì tiêu thụ thức ăn cũng khác nhau Theo Herbert.G.J và cộng sự, 1983 [74] thì khi nhiệt độ chuồng nuôi với gà sau 3 tuần tuổi thay đổi 10C tiêu thụ năng lượng của gà mái biến đổi tương đương 2 Kcal ME
Thông thường, khi nhiệt độ môi trường cao, khả năng thu nhận thức ăn của gia cầm giảm, chính vì vậy chăn nuôi gia cầm trong điều kiện khí hậu của nước ta phải tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào nhiệt độ từng giai đoạn mà điều chỉnh thức ăn và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp Trong điều kiện khí hậu nước ta thì gà broiler nuôi vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10 -15% theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận,1993 [25]
* Ảnh hưởng của ẩm độ và độ thông thoáng đến khả năng sinh trưởng
Ẩm độ là một trong những yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng của gia cầm Khi ẩm độ trong chuồng tăng sẽ dẫn dến tiểu khí hậu chuồng nuôi bị thay đổi, chất độn chuồng dễ ẩm ướt, nấm mốc phát triển, NH3 sinh ra nhiều làm ảnh hưởng bất lợi đối với vật nuôi Các yếu tố này làm tổn thương hệ hô hấp của gà, tăng khả năng nhiễm cầu trùng, mẫn cảm
Trang 20với bệnh Newcastle và các bệnh đường ruột khác, làm giảm khả năng sinh trưởng của gà
Ing J E M Whyte (1995) [76] qua nghiên cứu đã khuyến cáo về thành phần tối đa của các chất khí trong chuồng nuôi gia cầm như sau:
NH3 = 1,01g/m3, H2S = 0,002g/m3, CO2 = 0,35g/m3
Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm như ở nước ta, thông thoáng chuồng nuôi đóng vai trò quan trọng, nó giúp cho việc giảm ẩm độ chuồng nuôi, tăng cường lượng khí O2, thải khí CO2, qua đó hạn chế các bệnh tật
* Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng đến khả năng sinh trưởng
Chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và năng suất
đẻ trứng của gà Gà rất nhạy cảm với ánh sáng, mỗi giai đoạn gà cần chế độ chiếu sáng khác nhau Theo khuyến cáo của hãng Arbor Acres Farms Inc,
1993 [60]:
+ Với gà broiler giết thịt sớm 38-42 ngày thì thời gian chiếu sáng là: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ, cường độ chiếu sáng 20 lux, từ ngày thứ 4 đến kết thúc thì thời gian chiếu sáng 23/24 giờ
+ Với gà broiler nuôi dài ngày (giết thịt ở 42, 49, 56 ngày tuổi) thì chế
độ chiếu sáng như sau: ngày thứ 1: 24/24h; ngày thứ 2: 20/24h; ngày thứ 3 đến ngày thứ 15: 12/24h; ngày thứ 19-22: 14/24h; ngày thứ 23-24: 18/24h; ngày thứ 25 đến kết thúc thì thời gian chiếu sáng: 24/24h Cường độ chiếu sáng 3 ngày đầu là 20 lux, từ ngày thứ 4 đến kết thúc giảm dần còn 5 lux Lewis và cộng sự (1992) [78], cho biết các giống khác nhau thì tác động của thời gian chiếu sáng cũng cần khác nhau, đặc biệt vào các tuần tuổi 9, 12,
15 Từ 9 tuần tuổi nếu tăng độ chiếu sáng sẽ làm phát dục sớm
* Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng
Mỗi giai đoạn sinh trưởng, mỗi phương thức nuôi đều có qui định mật độ nuôi nhất định
Trang 21Mật độ chuồng nuôi cao thì chuồng gà nhanh bẩn, gà chen nhau, nồng độ khí độc NH3, CO2, H2S … và quần thể vi sinh vật sinh ra trong chuồng gà cao, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và sức khỏe của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm bệnh tật, tỷ lệ chết cao, làm giảm hiệu quả kinh tế Nhưng nếu mật
độ chuồng nuôi thấp, lãng phí diện tích, gà có nhiều khoảng trống để tăng cường hoạt động dẫn đến khả năng sinh trưởng giảm, chi phí khác trên đầu gà (khấu hao chuồng trại, nhân công …) cao, đi đến giảm hiệu quả chăn nuôi Nguyễn Hữu Cường và Bùi Đức Lũng, 1996 [4] làm thí nghiệm trên gà broiler BE11, V35, AV35 từ 1-49 ngày tuổi nuôi trên nền chuồng có đệm lót với sự khác nhau về mật độ nuôi nhốt, tác giả đã khuyến cáo:
+ Vào mùa hè mật độ nuôi tối ưu đối với gà broiler BE11, V35, AV35 là
8 con/m2
+ Vào mùa đông mật độ nuôi tối ưu đối với gà broiler BE11, V35, AV35
là 10 con/m2
1.1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng cho thịt
Khả năng cho thịt của gà broiler cũng là chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi
gà thịt Khả năng cho thịt của gà broiler chính là khả năng tạo nên khối lượng
hệ cơ ở độ tuổi giết thịt đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
Khả năng cho thịt của gà broiler được tính trên 2 góc độ là năng suất thịt
và chất lượng thịt
* Năng suất thịt
Năng suất thịt được biểu thị bằng tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ các phần nạc, mỡ,
da Thông thường ở gà broiler tính tỷ lệ thịt đùi, tỷ lệ thịt ngực, tỷ lệ mỡ bụng Năng suất thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, vệ sinh thú y và phương thức chăn nuôi Ngô Giản Luyện, 1994 [26] khi nghiên cứu 3 dòng gà Hybro HV85, mổ khảo sát ở 42 ngày tuổi đã kết luận tỷ lệ thân thịt con trống V1>V5>V3
Trang 22(P<0,05), con mái V1>V5>V3 (P<0,001) Trong cùng một dòng, tỷ lệ thân thịt con trống lớn hơn con mái từ 1-2%
Chambers.J.R, 1988 [65] cho rằng giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực, cánh, chân hay phần thịt ăn được
Phạm Hiền Lương, 1997[27] khi nghiên cứu một số tính năng sản xuất của
gà Tam Hoàng đều cho kết quả tỷ lệ thịt ngực của con mái cao hơn con trống Nghiên cứu của Cầm Ngọc Liên, 1997 [23] cho kết quả tỷ lệ thịt đùi của
gà trống cao hơn gà mái còn tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống
Năng suất thịt còn liên quan chặt chẽ đến khối lượng sống Theo Ricard.F.H và Rouvier, 1967 [84] thì mối tương quan giữa khối lượng sống
và khối lượng thịt xẻ rất cao, thường là 0,9 Còn tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng mỡ bụng thấp hơn, thường từ 0,2-0,5
Nguyễn Thị Hải, 1999 [7] khi nghiên cứu năng suất thịt gà Kabir đã chỉ
ra rằng tỷ lệ thịt ngực gà mái cao hơn gà trống, nhưng tỷ lệ thịt đùi gà trống lại cao hơn gà mái
Theo Chambers (1990) [63], giữa các dòng luôn có sự khác nhau về di truyền năng suất thịt xẻ, hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực, cánh, chân hay phần thịt ăn được (không xương) và từng phần thịt, xương, da
Ngô Giản Luyện (1994) [26], khi khảo sát năng suất thịt của 3 dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro cho thấy giữa các dòng có sự sai khác nhau rõ rệt Trong cùng một dòng: tỷ lệ thân thịt gà trống cao hơn gà mái và thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống
Nguyễn Văn Thiện, Hoàng Phanh (1999) [39], nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà Mía cho biết, nhìn chung tỷ lệ thân thịt, thịt đùi, thịt lườn gà Mía cao hơn ở gà Ri
Trang 23BouWkamp (1973) (dẫn theo Phạm Thị Minh Thu, (1996) [41]), nghiên cứu so sánh tỷ lệ thịt xẻ và các phần thịt trên đàn gà thương phẩm, đã khẳng định rõ sự sai khác các chỉ tiêu trên giữa các công thức lai, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa thịt xẻ với năng suất thịt gà Newhamshire
Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, Lê Thị Nga (2000) [59], nghiên cứu lai kinh tế giữa gà Kabir và Lương Phượng hoa cho thấy tỷ lệ thân thịt 72,4 – 72,32%; tỷ lệ thịt đùi 20,64 – 21,43%; tỷ lệ thịt ngực 20,68 – 20,8%
Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc, Nguyễn Đăng Vang và cộng sự (1997) [57], mổ khảo sát gà Tam Hoàng và gà Ri lúc 15 tuần tuổi cho biết tỷ
lệ thịt đùi + thịt ngực/thân thịt ở gà Tam Hoàng là 45 - 54% và 43% ở gà Ri
* Thành phần hóa học của thịt
Chất lượng thịt được phản ánh qua thành phần hoá học của thịt và có sự khác nhau giữa các dòng, giống Chất lượng thịt thường được đánh giá qua hàm lượng vật chất khô, tỷ lệ protein, lipit, khoáng tổng số…Vật chất khô thể hiện độ chắc của thịt, protein thể hiện giá trị dinh dưỡng, mỡ thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên vị đậm đà Giá trị của thịt còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như hàm lượng và tỷ lệ các axit amin, hàm lượng vitamin, khoáng
đa vi lượng, các hoạt chất sinh học… Ngoài ra các chất có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người như cholesterol cũng được xem xét
Theo Proudman J A và cộng sự (1970) [83], những dòng gà Plymouth trắng khi cho ăn tự do và mổ khảo sát lúc 6 tuần tuổi, phân tích thịt cho thấy nhóm sinh trưởng nhanh tỷ lệ nước 68,1%, protein 20,7%, mỡ 6,9% và khoáng 3% Còn nhóm sinh trưởng chậm cho tỷ lệ tương ứng là 69,8%; 20,6%; 4,8% và 3,1%
Theo tài liệu của Chamber (1990) [63], tốc độ sinh trưởng có tương quan
âm với tỷ lệ mỡ (-0,39) và tương quan dương với phần trăm protein (0,53) với
độ ẩm 0,32 và khoáng tổng số (0,14)
Trang 24Theo Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và cộng sự (1999) [58], thịt gà Tam Hoàng 882 nuôi đến 13 tuần tuổi, ở con trống thịt ngực có tỷ lệ protein 24,13%; mỡ 0,38% và khoáng tổng số 1,26%, thịt đùi có tỷ lệ protein 20,07%; mỡ 1,37% và khoáng tổng số 1,08% Đối với con mái thịt ngực có các giá trị tương ứng là 24,72%; 0,306% và 1,31%, thịt đùi có các giá trị tương ứng là 20,91%; 1,673% và khoáng tổng số 1,26%
Nguyễn Văn Hải và cộng sự (1999) [9], cho biết: thịt gà Ri có tỷ lệ protein 21,45%, mỡ thô 1,5%, khoáng tổng số 1,37%, sắt 3,9mg/100g và hàm lượng các axit amin như sau: alanin 1,334%, arginin 1,261%, axits aspartic 1,857%, axit glutamic 2,784%, glyxin 0,819%, histidin 0,853%, izolơxin 0,949%, lơ xin 1,557%, lyzin 1,903%, methionin 0,452%, phenylanin 0,842%, prolin 0,984%, serin 0,871%, threonin 1,006%, tyrozin 0,664%, valine 1,007%
Ngoài việc thông qua thành phần hoá học của thịt còn có thể đánh giá chất lượng thịt dựa vào sự ảnh hưởng của chế biến và nuôi dưỡng đến cảm quan (màu sắc, tính chất mềm, mùi vị) Theo Newbold (1996) [81], khi con vật chết do hao tổn về máu và thiếu ôxy, mô cơ tiếp tục sản sinh ATP từ kho chứa glycogen bằng con đường phân hủy yếm khí glycogen Axit lactic được tạo ra tích tụ lại gây giảm pH của thịt cho đến khi hết glycogen, lúc đó pH thường giảm thấp nhất (5,4)
Chất lượng thịt còn được đánh giá qua độ tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng (Sonaiya,1990 [91]) Theo Touraille
và cộng sự (1981) [92], cho biết giảm tuổi giết mổ đã làm thay đổi đặc điểm cảm quan của thịt
Theo Ricard F H và Touraille C (1988) [85], khi cả hai giới tính được nuôi cùng điều kiện tối ưu cho sự sinh trưởng, con trống đạt thành thục về tính khoảng (14 tuần tuổi), sớm hơn con mái và mùi vị thịt của chúng cũng khá hơn
Trang 25Grey T C và cộng sự (1986) [72], cho rằng khi mà cả protein và năng lượng tập chung trong chế độ ăn của gia cầm giảm đi, thịt có vẻ mềm hơn ở những gia cầm lớn nhanh nhưng dai hơn ở những gia cầm lớn chậm
Flphadil A A và cộng sự (1996) [69], cho rằng những điều kiện nuôi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng thịt, sự tăng mật độ tạo nên những vết trên
da Theo Ricard F H và cộng sự (1986) [86], sự tăng mật độ làm thay đổi sự sinh trưởng và hình dáng ngực, nhưng không làm thay đổi thuộc tính của thịt
Xu thế hiện nay là nâng cao năng suất chất lượng thịt và giảm bớt mỡ…Việc nghiên cứu thời gian và tuổi xuất chuồng giết mổ của gà luôn là vấn đề cần thiết, vì nó liên quan đến thị hiếu người tiêu dùng và giá thành sản phẩm
1.1.1.4 Cơ sở khoa học của tiêu tốn thức ăn
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng, vì tăng trọng là một chức năng chính của quá trình chuyển hoá thức ăn, hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn là hiệu suất giữa thức ăn trên kilôgam tăng trọng
Trong chăn nuôi thức ăn thường chiếm 70% giá thành sản phẩm, do vậy thức ăn/1 đơn vị sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Theo Phùng Đức Tiến (1996) [46], hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn đã được Chambers (1984) [64], xác định
là - 0,5 - 0,9 Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp từ (- 0,2) đến (- 0,8) Box và Bohren (1954) [62], Willson (1969) [94], đã xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu qủa chuyển hoá thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = + 0,5
Đối với gia cầm nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi, giai đoạn đầu tiên tiêu tốn thức ăn thấp, giai đoạn sau cao hơn Phương pháp áp dụng là tính mức tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng
Trang 26Trần Công Xuân, Hoàng Văn Lộc và cộng sự (1999) [58], cho biết, gà Tam Hoàng khi nuôi thịt đến 15 tuần tuổi tiêu tốn 3,609 kg thức ăn/kg tăng trọng Gà Tam Hoàng Jiang Cun tiêu tốn 3,652 - 3,911 kg thức ăn/kg tăng trọng
Đoàn Xuân Trúc, Nguyễn Huy Đạt và cộng sự (1999) [51], cho biết tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà AA, ISA - MPK và BE88 khi nuôi đến
7 tuần tuổi tương ứng 2,09; 2,06 và 2,13kg Ngoài ra tiêu tốn thức ăn còn phụ thuộc vào tính biệt, điều kiện thời tiết khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khoẻ của đàn gia cầm
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng có liên quan đến tính biệt, biện pháp nuôi dưỡng và những tác động kỹ thuật Do vậy, để hạ thấp tiêu tốn thức
ăn cần thực hiện cho gia cầm ăn theo nhu cầu đặc điểm sinh lý, cải thiện khả năng tăng trọng, giảm thời gian nuôi vỗ béo kết hợp với quy trình chọn lọc
Từ các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm cho thấy; khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm nói chung, của gà broiler nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Trong đó, các yếu cơ bản là đặc điểm di truyền của giống, của dòng, tuổi, tính biệt, thức
ăn, biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng, … Do đó, muốn nâng cao năng suất, chất lượng thịt gia cầm không được coi nhẹ yếu tố nào, các nghiên cứu trên đây là
cơ sở khoa học cho người chăn nuôi có biện pháp tổng hợp nhằm không ngừng nâng cao khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm với mục đích vừa có năng suất cao, vừa có chất lượng tốt hợp thị hiếu người tiêu dùng
1.1.1.5 Sức sống và khả năng kháng bệnh
Hiện nay, ngoài các yếu tố như dinh dưỡng, giống, kỹ thuật thì vấn đề nhiễm bệnh của đàn gia cầm là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi ở nông hộ
Gia cầm rất mẫn cảm với bệnh tật, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh
và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác Đặc biệt bệnh truyền
Trang 27nhiễm làm tiêu tốn tiền mua vác-xin, tiêm phòng và các biện pháp thú y khác (Gavora.J.S, 1990 [71])
Trong cơ thể gia cầm có một hệ thống đáp ứng miễn dịch hoàn hảo, khi kháng nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra những cơ chế để tiêu diệt kháng nguyên
Có 2 cơ chế chính đó là đáp ứng miễn dịch dịch thể do tế bào Limpho B đảm nhiệm và đáp ứng miễn dịch tế bào có sự tham gia của tế bào LimphoT Nếu cơ thể gia cầm khoẻ mạnh thì khả năng đáp ứng miễn dịch cao có nghĩa
là sức sống và khả năng kháng bệnh tốt, đây là yếu tố quan trọng giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả cao
Theo tài liệu của Ngô Giản Luyện, 1994 [26] mối liên quan của chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu đối với sự sống và năng suất được Kotris và cộng sự tại viện thú y Matxcova (1988) khi nghiên cứu xác định số lượng bạch cầu trong máu gà Hybro cho thấy: những mái có số lượng bạch cầu cao ở độ tuổi 60 và
110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao
Thông thường người ta xác định tỷ lệ nuôi sống theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau, gà con từ 0-56 ngày hoặc 63 ngày; gà dò từ 57 hoặc 64 ngày đến 119 ngày; gà hậu bị từ 120 đến 161 ngày và gà đẻ từ 162 đến 252 ngày hoặc hết 448 ngày
Theo Gavora.J.S, 1990 [71]) khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh
Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thì con lai sẽ thừa hưởng có tính chất trội khả năng này, nghiên cứu về vấn đề đó Fairfull, 1990 [69] cho biết: ưu thế lai về sức sống là rất cao, dao động từ 9 -24% Sức sống cao còn phụ thuộc vào yếu tố mầm bệnh hoặc các dạng vi sinh
Trang 28vật gây bệnh khác.v.v
Robertson.A và Lerner.I.M, 1949 [87] khẳng định: Hệ số di truyền về tỷ
lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng giống và giới tính, ngoài
ra còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố môi trường Một trong những biện pháp nâng cao sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm đó là sử dụng rộng rãi gia cầm lai
Theo Horn P, 1978 [75] cho rằng con lai giữa 3 dòng gà Plymouth có ưu thế lai so với dòng thuần về tỷ lệ nuôi sống
1.1.2 Ảnh hưởng của bãi thả đến gà thịt
1.1.2.1 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến tỷ lệ nuôi sống
Trong chăn nuôi gà thịt mật độ bãi thả có vai trò khá quan trọng Nếu mật độ chuồng nuôi cao, không có bãi thả thì chuồng nhanh bẩn, gà chen nhau, hàm lượng khí NH3, CO2 trong chuồng cao, làm giảm khả năng thu nhận thức ăn, ảnh hưởng tới độ đồng đều của đàn gà, làm tăng tỷ lệ chết, dễ gây bệnh dịch cho gà làm chất lượng thịt không ngon, làm giảm hiệu quả kinh
tế trong chăn nuôi Gà càng lớn, lượng khí độc và độ nhiễm bẩn trong chuồng càng cao, trong khi đó lượng oxy yêu cầu càng nhiều, vì vậy hệ thống thông thoáng trong chuồng nuôi và mật độ bãi thả cần đảm bảo Khi chăn nuôi gà thả vườn, môi trường nuôi thông thoáng, gà được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, vận động làm tăng sức khoẻ của gà, tăng sức đề kháng, giảm sự mẫn cảm với mầm bệnh xung quanh, hạn chế bệnh tật
Nguyễn Văn Đại, 2000 [5] khi nghiên cứu về gà lai F1 (Trống Mía x Mái Kabir) nuôi nhốt và bán nuôi nhốt cho thấy, gà thí nghiệm bán nuôi nhốt
có tỷ lệ nuôi sống cao hơn gà nuôi nhốt là 2,66% Theo tác giả, tỷ lệ nuôi sống của gà bán nuôi nhốt cao hơn tỷ lệ nuôi sống của gà nuôi nhốt là do gà
có vườn chăn thả tiếp xúc nhiều với không khí thoáng đãng, ánh sáng mặt trời, chạy nhảy nhiều do đó sức khoẻ được nâng cao
Trang 29Theo kết quả nghiên cứu của Bế Kim Thanh, 2002 [37] khi so sánh ảnh hưởng của các mật độ bãi thả khác nhau đến tỷ lệ nuôi sống của gà Sasso và Lương Phượng, cho biết: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm ở 4 mật độ bãi thả khác nhau (1 m2
/con, 2 m2/con, 3m2/con, 4 m2/con) là tương đương nhau, đạt 96 – 99% Mật độ bãi thả khác nhau không ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm
Hoàng Thị Hồng Nhung, 2008 [34] khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của phương thức nuôi khác nhau đến gà Sasso cho biết: Tỷ lệ nuôi sống của gà Sasso nuôi bán chăn thả cao hơn tỷ lệ nuôi sống của gà nuôi nhốt trong cùng mùa vụ, tỷ lệ nuôi sống của gà Sasso nuôi nhốt là 96,44 - 96,89%, tỷ lệ nuôi sống của gà bán nuôi nhốt là 97,11 - 97,44%
Theo Nguyễn Thị Hải, 2009 [8], khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của giống gà Sasso lông màu nuôi tại miền Bắc Việt Nam cho biết: Tỷ lệ nuôi sống của gà bán nuôi nhốt tương đương với tỷ lệ nuôi sống của gà nuôi nhốt
Gà Sasso thích nghi cả phương thức nuôi nhốt và bán nuôi nhốt với điều kiện của Thái Nguyên
Theo Nguyễn Quang Thiệu và cs, 1996 [40], khi so sánh phương thức chăn nuôi gà ta thả vườn với chăn nuôi gia công gà công nghiệp trong điều kiện nông thôn miền Đông Nam Bộ cho biết: Tỷ lệ chết của gà nuôi gia công cao hơn gà thả vườn Tỷ lệ chết của gà nuôi gia công trung bình là 7,26%, tỷ
lệ chết của gà thả vườn là 6,1% Tỷ lệ chết của gà nuôi gia công tăng vọt sau các đợt nuôi, nguyên nhân là mức độ tích luỹ mầm bệnh cao
1.1.2.2 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến sinh trưởng
Mật độ bãi thả có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng của gà Nếu mật độ bãi thả càng lớn, gà vận động càng nhiều, sử dụng nhiều năng lượng cho vận động hơn là sản xuất thịt Tuy nhiên, tốc độ sinh trưởng của gà bán chăn thả chậm hơn gà nuôi nhốt, nên thời gian nuôi thường kéo dài, khi
Trang 30giết mổ gà đã thành thục, gà vận động nhiều sẽ làm nâng cao chất lượng thịt
gà, thịt gà săn chắc, ít mỡ và thơm ngon hơn, phù hợp với khẩu vị của người tiêu dùng Việt Nam (Đoàn Xuân Trúc, 1999 [50])
Với phương thức nuôi thả vườn, Lê Thanh Hải và cộng sự, 1995 [6] cho biết: Với mô hình nuôi thả vườn thì diện tích chăn thả thích hợp cho gà từ 4 –
5 m2/con Từ ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt và mật độ bãi thả tới sinh trưởng của gia cầm, vậy thì phương thức nuôi cũng ảnh hưởng tới sinh trưởng của gia cầm
Nghiên cứu về gà lai F1 (Trống Mía x Mái Kabir) nuôi nhốt và bán nuôi nhốt tại Thái Nguyên, Nguyễn Văn Đại, 2000 [5] cho biết: Giai đoạn từ 1 - 8 tuần tuổi, không có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa 2 phương thức nuôi
Từ 9 - 12 tuần tuổi, lô nuôi nhốt có khối lượng cao hơn lô bán nuôi nhốt Ở 12 tuần tuổi, khối lượng gà nuôi nhốt đạt 1851,24 g, khối lượng gà bán nuôi nhốt đạt 1785,77 g Sinh trưởng tuyệt đối của gà ở phương thức bán nuôi nhốt thấp hơn gà nuôi nhốt Tác giả khẳng định khối lượng cơ thể đã chịu ảnh hưởng bởi phương thức nuôi khác nhau
Theo Bế Kim Thanh, 2002 [37] khi nghiên cứu về gà Sasso và gà Lượng Phượng nuôi ở các mật độ bãi thả khác nhau cho biết: Khi mật độ bãi thả tăng lên từ 1 m2/con đến 4m2
/con, sinh trưởng tích luỹ của gà có xu hướng giảm xuống, tuy nhiên sự sai khác không có ý nghĩa thống kê Cụ thể ở 77 ngày tuổi, ở lô I (mật độ bãi thả 1 m2/con) gà Sasso đạt 2379,66g, gà Lượng Phượng đạt 2215,50g Ở lô II (mật độ bãi thả 2m2/con) gà Sasso đạt 2359,66g, gà Lượng Phượng đạt 2191,83g Ở lô III (mật độ bãi thả 3m2
Trang 3118,81g Tuy nhiên sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê Sinh trưởng tuyệt đối của gà Sasso nuôi nhốt là 29,78 g/con/ngày, của gà Sasso bán nuôi nhốt là 29,48 g/con/ngày, sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê
Kết quả nghiên cứu của Trần Thanh Vân và cộng sự, 2007 [54] về gà Sasso khả năng sản xuất của gà Sasso thương phẩm cho biết: Sinh trưởng tuyệt đối của gà Sasso ở 2 lô thí nghiệm tăng dần đến 7 tuần tuổi rồi sau đó giảm dần Bình quân từ mới nở đến 10 tuần tuổi, con trống lô nuôi nhốt tăng 40,20 g/con/ngày, con mái tăng 34,16 g/con/ngày Còn ở lô bán nuôi nhốt con trống tăng 36,86 g/con/ngày và con mái 32,58 g/con/ngày
1.1.2.3 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả tiêu tốn thức ăn
Trong chăn nuôi chi phí thức ăn chiếm 70 - 80% giá thành sản phẩm Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như giống, môi trường sống, phương thức nuôi … Phương thức nuôi khác nhau ảnh hưởng trực tiếp tới tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà Mật độ bãi thả càng cao,
gà tiêu hao nhiều năng lượng để vận động hơn, lượng thức ăn thu nhận của gà tăng lên để đáp ứng nhu cầu năng lượng của gà
Theo Nguyễn Thị Hải, 1999 [7], khi nghiên cứu về gà Kabir tại Thái Nguyên cho biết: tiêu tốn thức ăn ở 2 phương thức nuôi nhốt và bán nuôi nhốt lần lượt là 2,85 kg và 3,06 kg
Theo Nguyễn Văn Đại, 2000 [5] cho biết: tiếu tốn thức ăn của gà lai F1 (Trống Mía x Mái Kabir) ở phương thức nuôi nhốt là 2,82 kg, ở phương thức bán nuôi nhốt là 2,99 kg Sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê
Theo Bế Kim Thanh, 2002 [37] cho biết: tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho 1kg tăng khối lượng của gà Sasso có xu hướng tăng dần khi mật độ bãi thả tăng dần Tiêu tốn thức ăn của gà thí nghiệm ở lô I (mật độ bãi thả 1m2
/con)
là 2,65kg, ở lô II (mật độ bãi thả 2m2/con) là 2,73kg, ở lô III (mật độ bãi thả 3m2/con) là 2,71kg, ở lô VI (mật độ bãi thả 4m2
/con) là 2,76kg
Trang 32Hoàng Thị Hồng Nhung, 2008 [34] khi nghiên cứu về gà Sasso cho biết: Ở cùng một mùa vụ thì gà nuôi bán chăn thả có tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cao hơn nuôi nhốt (sai khác này cũng có ý nghĩa thống kê rõ với
độ tin cậy 95%) Vì trong phương thức bán chăn thả gà phải tiêu tốn nhiều năng lượng cho vận động hơn trong phương thức nuôi nhốt Cụ thể khi kết thúc thí nghiệm ở 9 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn cộng dồn tính chung cho phương thức nuôi nhốt là 2,26 kg; bán nuôi nhốt là 2,33 kg Tiêu tốn thức ăn tính chung cho vụ Xuân - Hè là 2,25 kg, vụ Thu - Đông là 2,32 kg
1.1.2.4 Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến hiệu quả kinh tế
Mật độ bãi thả có ảnh hưởng tới sức sản xuất, lợi nhuận của nhà chăn nuôi Trong chăn nuôi gà, thức ăn quyết định rất nhiều đến hiệu quả kinh tế, bên cạnh đó trình độ chăm sóc, nuôi dưỡng và các yếu tố khác như giá cả thị trường, nhu cầu tiêu dùng, môi trường chăn nuôi cũng là một trong những yếu tố góp phần làm tăng, giảm giá trị của sản phẩm chăn nuôi Mật độ bãi thả khác nhau ảnh hưởng tới sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, chất lượng thịt, cho nên mật độ bãi thả khác nhau cũng có ảnh hưởng lớn chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng, giá bán gà và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi gà
Nguyễn Văn Đại, 2000 [5] nghiên cứu về gà lai F1 (Trống Mía x Mái Kabir) nuôi nhốt và bán nuôi nhốt tại Thái Nguyên cho biết: Khối lượng gà bán nuôi nhốt thấp hơn gà nuôi nhốt, chi phí cho 1 kg gà xuất bán của gà bán nuôi nhốt cao hơn gà nuôi nhốt, nhưng giá bán gà bán nuôi nhốt cao hơn gà nuôi nhốt, cho nên gà bán nuôi nhốt có hiệu quả kinh tế cao hơn gà nuôi nhốt
từ 1000 – 2000đ/kg
Theo kết quả nghiên cứu của Bế Kim Thanh, 2002 [37] cho biết: Giá chi phí trực tiếp cho 1kg gà thịt có xu hướng tăng dần theo chiều tăng của mật độ bãi chăn thả
Trang 33Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Hồng Nhung, 2008 [34] trên
gà Sasso cho kết quả tương đương Gà Sasso nuôi nhốt có chi phí trực tiếp cho 1kg thịt cao hơn phương thức bán nuôi nhốt Cụ thể, chi phí trực tiếp/1kg thịt ở phương thức nuôi nhốt là 29297,60 đ/kg, ở phương thức bán nuôi nhốt
là 27091,88 đ/kg
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải, 2009 [8] cho biết: Ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hải Dương, chí phí trực tiếp cho 1 kg khối lượng gà Sasso ở lô nuôi nhốt thấp hơn lô bán nuôi nhốt là 737 - 815 đ/kg Tuy nhiên hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào giá bán của từng địa phương, từng
thời gian khác nhau
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1.1 Tình hình chăn nuôi và nghiên cứu gà thả vườn
Chăn nuôi gà ở nước ta có từ ngàn xưa với chăn nuôi hộ gia đình qui mô nhỏ, phương thức chăn thả tự do các giống gà nội cho hiệu quả kinh tế không cao Mỗi vùng có từng giống gà khác nhau như gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía, gà Tầu Vàng Những năm gần đây, dịch bệnh xảy ra thường xuyên khó kiểm soát Phương thức chăn thả tự do trong các nông hộ làm cho việc kiểm tra khống chế mầm bệnh càng khó khăn hơn
Trong chiến lược phát triển ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta, đến năm
2010 gà chăn thả truyền thống vẫn chiếm 60-65% Điều đó chứng tỏ rằng chăn nuôi gà thả vườn vẫn được chú trọng
Theo Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn, Đoàn Xuân Trúc, 1998 [12]: Các giống gà trong nước hoặc nhập từ nước ngoài có thể sống và cho sản phẩm trong điều kiện môi trường chăn nuôi tự nhiên và chăn thả ở vườn, đồi, ruộng lúa màu vừa thu hoạch để gà kiếm ăn là chủ yếu gọi chung là gà thả vườn
Trang 34Hiện nay 75-80% chăn nuôi gà ở nước ta là sử dụng các giống ở địa phương Chăn nuôi gà chăn thả với các giống truyền thống địa phương cũng không ngừng phát triển và hiệu quả ngày càng tăng bởi các giống địa phương
đã được đầu tư để bảo tồn quĩ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng suất Nguyễn Đăng Vang, Trần Công Xuân và cộng sự, 1999 [52] đã nghiên cứu khả năng sản xuất của gà Ri cho kết quả đến 17 tuần tuổi gà trống đạt 1569,03g, gà mái đạt 1082,67g; tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là 113 ngày; giai đoạn 19-32 tuần tuổi tiêu tốn 3,06kg thức ăn/10 quả trứng
Cũng các tác giả trên đã nghiên cứu khả năng sản xuất của gà Đông Tảo cho biết: tỷ lệ nuôi sống giai đoạn hậu bị cao (98,33-99,17%); lúc 22 tuần tuổi
gà trống nặng 2530,26g, gà mái nặng 1989,37g; giai đoạn 23-58 tuần tiêu tốn 4,14kg thức ăn/10 quả trứng
Nghiên cứu về xu hướng gà thả vườn, Đặng Thị Hạnh, 1999 [10] nhận xét: vài ba năm trở lại đây chăn nuôi giống gà địa phương và cả một số giống
gà thảvườn mới được lai tạo hay nhập nội, phát triển khá mạnh vì cho hiệu quả kinh tế cao Nhiều hộ nông dân giàu lên nhờ chăn nuôi gà Trong những năm tới, gà vườn tiếp tục khẳng định chỗ đứng của mình trong nền nông nghiệp bền vững
Những năm gần đây, nhiều giống gà thả vườn lông màu, dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, khả năng sinh sản tốt, thịt thơm ngon đã được nhập vào nước ta và được người chăn nuôi ưa chuộng như gà Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir, Sasso đồng thời cũng được các nhà khoa học chăn nuôi quan tâm nghiên cứu
Theo Phạm Thị Hiền Lương, 1997 [27] khi nghiên cứu về gà Tam Hoàng với phương thức chăn nuôi bán thâm canh tại các nông hộ cho biết: tỷ
lệ nuôi sống đạt 95-96% Từ tuần 3-15 tỷ lệ nuôi sống đạt 100%; khối lượng
cơ thể 8 tuần tuổi đạt 760g, 15 tuần tuổi đạt 1617g; thịt gà rắn chắc, thơm
Trang 35ngon đậm đà phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng; màu sắc lông, da, chân được người Việt Nam ưa chuộng; gà thích hợp với mọi phương thức chăn nuôi đặc biệt là nuôi bán chăn thả ở nông hộ
Đào Văn Khanh, 2001 [18] nghiên cứu về gà Kabir với phương thức nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên cho thấy: Gà thịt Broiler giống Kabir có khả năng thích nghi tốt với điều kiện nuôi khí hậu Thái Nguyên, tỷ lệ nuôi sống đạt khá cao từ 95,83% - 99,50%, tiêu tốn thức ăn 1 kg thịt thấp, lúc 63 ngày tuổi con trống hết 2,21-2,29 kg, con mái hết 2,26-2,60, khối lượng cơ thể lúc 63 ngày tuổi đạt được mức từ 1895,09 đến 1946,5 g (con trống) và 1533,09 đến 1643,83 (con mái)
Theo Nguyễn Văn Thưởng, Trần Thanh Vân, 2004 [42] khi nghiên cứu
về về gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Kabir) và F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng) nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên cho thấy rằng tỷ lệ nuôi sống cao, đến 11 tuần tuổi đạt 99%, khả năng sinh trưởng và cho thịt đến 77 ngày tuổi đạt cao hơn trung bình bố mẹ: Khối lượng sống 1708,52-1716,63 gam
1.2.1.2 Nghiên cứu về lai tạo
Sản lượng cao của các giống gà hướng trứng, tăng trọng nhanh, tầm vóc lớn của các giống gà hướng thịt, khả năng sử dụng thức ăn tốt của các dòng gà gần đây đã trở thành nổi tiếng trên thế giới không thể tách rời khỏi sự lai tạo và sử dụng ưu thế lai
Sự tăng về sức sống, độ lớn, sức sinh sản, tốc độ phát triển, khả năng chống đỡ với bệnh tật và những thay đổi của khí hậu thời tiết biểu hiện ở cơ thể lai so với cơ thể bố mẹ, kết quả của sự kết hợp giữa các giao tử của bố, mẹ
ở cơ thể con lai được gọi là ưu thế lai
Tạ An Bình, Nguyễn Hoài Tao, 1969 [2] đã nghiên cứu các công thức lai kinh tế: gà Mía x Ri; gà chọi x Ri; Đối chứng Với Ri x Ri, kết quả cho thấy cả
2 công thức lai con lai có khối lượng cơ thể, hiệu quả chuyển hóa thức ăn đều
Trang 36tốt hơn so với gà Ri thuần
Tạ An Bình, 1973 [3] tiếp tục nghiên cứu các công thức lai: Plymouth x Ri; Cornish x Ri, cho thấy khối lượng cơ thể con lai trong các công thức trên
ở giai đoạn 60, 90, 120 ngày tuổi đều ngiêng về phía bố và có ưu thế lai cao hơn so với gà Ri thuần
Từ năm 1975-1985, Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao, 1985 [45] đã nghiên cứu công thức lai: Rhode Island x Ri Hải Dương cho ra con lai Rhoderi, qua 4 thế hệ chọn lọc có năng suất trứng cao hơn gà Ri và gà Rhode Island, tốc độ phát triển của con lai vượt hẳn so với con thuần trong điều kiện nuôi dưỡng trung bình
Trần Đình Miên, 1981 [31] khi nghiên cứu ưu thế lai giữa gà địa phương với gà nhập nội trong công thức lai trên kết luận gà lai Rhoderi có năng suất trứng cao hơn gà Ri 27%, thấp hơn gà Rhode Island 27,8%
Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc, Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thanh Sơn,
1989 [29] nghiên cứu lai giữa các dòng trong bộ giống gà Plymouth Rock để tạo con lai thương phẩm cho thịt cao sản đã đưa ra kết luận: Khối lượng cơ thể con lai ở 56 ngày tuổi đạt từ 1482g- 1610g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 2,463- 2,561kg Cũng các tác giả trên tiến hành lai tạo giữa gà Leghorn và gà Goldline với gà Rhoderi cho thấy khối lượng cơ thể của con lai không có ưu thế lai so với gà Rhoderi, song năng suất trứng lại cao hơn với
ưu thế lai 12-15%
Bùi Quang Tiến, 1987 [43] nghiên cứu lai tạo gà nuôi lấy thịt từ các dòng Plymouth Rock và gà Rhoderi (TĐ9 x Rhoderi), (TĐ8 x Rhoderi) cho biết: các con lai có khả năng tăng khối lượng cao, ở 56 ngày tuổi con lai TĐ9-Rhoderi đạt 1221g (trống) và 1164g (mái), còn con lai TĐ8-Rhoderi đạt 1136g (trống) và 950g (mái)
Trần Công Xuân, 1994 [55] cũng nghiên cứu tổ hợp lai gà Leghorn và gà
Trang 37Goldline với gà Rhoderi đã cho kết quả tương tự
Lê Hồng Mận, Đoàn Xuân Trúc, Trần Long, 1992 [30] nghiên cứu công thức lai 3 máu giống gà thịt HV85: V115, V135 và V153 kết luận: Ưu thế lai thể hiện ở một số tính trạng như tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ gà loại I cao nhất ở con lai V135 (79,28%) và thấp nhất ở con lai V153 (69,09%), nhưng so với bố mẹ thì
cả 3 công thức đều cao hơn và cho ưu thế lai rõ rệt
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong những năm gần đây, xu hướng chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã
có sự thay đổi Chăn nuôi theo phương thức nuôi nhốt công nghiệp đang giảm mạnh tại các nước phương Tây do hậu quả nặng nề về môi trường và xã hội Roberts J A, 1991 [87] nghiên cứu khả năng sinh trưởng và di truyền của gà chăn thả cho thấy, nuôi gà chăn thả thì đầu tư thấp, sản phẩm của chúng cung cấp tiêu dùng tại chỗ trong gia đình và được bán buôn trở thành nguồn thu nhập
Theo Lewis N.J, Hurnik J.K, 1990 [79] thì sự vận động của gà ảnh hưởng chủ yếu đến sức sản xuất của đàn gà, vì nó liên quan đến sự đi kiếm thức ăn và nước uống và đến việc sử dụng thức ăn đó
Van P Horne , 1991 [93] khi chăn nuôi gà ở mật độ cao thì hàm lượng
NH3, CO2, H2S được sinh ra trong chất độn chuồng cao, ảnh hưởng đến tăng khối lượng gà và làm tăng tỷ lệ chết của gà
Dinu.M và Tureu.D, 1965 [68], Dickenson.G.E, 1973 [67] cho biết gà lai hướng thịt có tốc độ mọc lông nhanh và khả năng cho thịt cao hơn so với dòng thuần
Năm 1967, Trạm nghiên cứu thực nghiệm Bajsogala (thuộc nước cộng hoà Litva) đã tạo gà lai Starbro - 4 (MNOP broiler) từ 4 dòng: 2 dòng Cornick
M, N và 2 dòng Plymouth O, P Theo Horn.P, 1978 [75] con lai giữa 3 dòng
gà Plymouth có ưu thế lai so với dòng thuần về tỷ lệ nuôi sống
Trang 38Chambers.J.R và Lin, 1988 [65] cho biết sự chuyển hoá thức ăn ở gà lai hướng thịt nuôi vỗ béo cũng có ưu thế lai tương đối cao, từ 7-16% khi tính toán ở một độ tuổi nhất định
Fairfull.R.W, 1990 [70] cho biết ưu thế lai về sức sống rất cao, dao động 9- 24% và không phải con lai nào cũng thể hiện ưu thế lai Đối với gà lai thịt tăng khối lượng nhanh là điều quan trọng Ở gà lai hướng thịt, ưu thế lai về thể trọng bằng 0 1 tuần tuổi, nhưng tăng dần từ 2-10% ở 8-10 tuần tuổi, ưu thế lai rất quan trọng khi nuôi gà broiler vỗ béo đến ngày giết thịt vào khoảng
42 hoặc dưới 42 ngày
Avorinde.K.L, 1991 [61] đã kết luận con lai giữa gà nhập nội và gà Sao của Nigeria có hiệu quả sử dụng thức ăn cao hơn gà địa phương 20,4-24,2%, song thấp hơn gà nhập nội
Hiện nay, ngoài các yếu tố như dinh dưỡng, giống, kỹ thuật, thì vấn đề nhiễm bệnh của đàn gia cầm là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi ở nông hộ
Gia cầm rất mẫm cảm với bệnh tật, khi mắc bệnh thường lay lan rất nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác Đặc biệt bệnh truyền nhiễm làm tiêu tốn tiền mua vaccine, tiên phòng và các biện pháp thú y khác (Gavora.J.S, 1990 [71])
Robertson.A và Lerner.I.M, 1949 [87] khẳng định: Hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng giống và giới tính, ngoài ra còn phụ thuốc rất nhiều vào yếu tố môi trường
1.2.3 Nguồn gốc, đặc điểm, tính năng sản xuất của giống gà Sasso
Gà Sasso do hãng Sasso (Selection Avicole de La sarthe et du Sud Ouset) của Pháp tạo ra Mục tiêu của hãng là nhân giống, chọn lọc, lai tạo và cung cấp các tổ hợp lai gà thịt lông màu có thể nuôi thâm canh thả vườn Gà Sasso có khả năng thích nghi cao, dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức đề
Trang 39kháng tốt, chất lượng thịt thơm ngon, giữ được hương vị vốn có của các dòng
gà địa phương
Hiện nay hãng đưa ra 18 dòng gà giống với mục đích sử dụng khác nhau: Dòng nặng cân hay nhẹ cân; lông đỏ, đen, xám hoặc trắng; da vàng hoặc trắng, chân đen; xám hoặc vàng; trụi cổ hay có lông cổ Các dòng được sử dụng rộng rãi như dòng ông là X44 và X44N, T55 và T55N, T77 và T77N, T88 và T88N, X40 Về dòng mái, hãng Sasso có 6 dòng nhằm đáp ứng các yêu cầu sử dụng: Lùn hoặc chắc khoẻ, nặng cân hay nhẹ cân, tự phân biệt giới tính hay không phân biệt giới tính Trong đó có 2 dòng được sử dụng rộng rãi như dòng bà hiện nay là 2 dòng mái SA31 và SA51 (Sasso, France, 2002 [89]) Gà Sasso được ưa chuộng tại hơn 30 nước trên thế giới, trong đó được nuôi nhiều nhất ở Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Thuỵ Sỹ, Nhật, Malayxia và
gà SA31 đã được nhập vào nước ta từ 4 năm trở lại đây Ở Việt Nam, xí nghiệp gà giống thịt dòng thuần Tam Đảo – Vĩnh Phúc và Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc đã nhập dòng ông bà và bố mẹ SA31L để tạo ra gà thịt
từ Công ty Sasso của Pháp năm 2002 Gà SA31 được hãng Sasso chọn tạo vào năm 1985, để sản xuất gà Broiler nuôi bán công nghiệp Có 3 loại gà SA31: Bình thường, nặng cân, mini (lùn) Gà SA31 có lông màu đỏ hoặc nâu
đỏ, có sức chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt, thích nghi với môi trường nhiệt đới nóng ẩm Do gà SA31 mang gen lặn hoàn toàn về màu sắc lông, nên toàn bộ số gà lông màu broiler sản xuất ra đều mang đặc điểm ngoại hình của dòng bố (về màu chân, màu lông, có lông cổ hay không có lông cổ)
Gà Sasso bước đầu nuôi thử nghiệm ở Việt Nam đã cho kết quả rất khả quan, đáp ứng được các yêu cầu về tốc độ sinh trưởng cũng như khả năng thích nghi chống đỡ bệnh tật và đặc biệt được thị trường Việt Nam chấp nhận Trong tương lai đây sẽ là giống gà được nuôi phổ biến ở Việt Nam
Trang 40
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu trên gà lai (♂ Ri x ♀ Sasso) và gà địa phương nuôi thịt với mật độ bãi thả là 2, 3, 4 m2
/con
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 06/2009 đến tháng 06/2010
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Thực hiện ở các nông hộ thuộc 2 xã Quyết Thắng, Phúc Xuân, TP Thái Nguyên
2.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của mật độ bãi thả đến khả năng sản xuất thịt của gà lai F1 (♂ Ri x ♀ Sasso) và gà địa phương nuôi ở mật độ bãi thả là 2, 3, 4 m2
/con
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi gà ở các mật độ bãi thả khác nhau
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
* Gà thí nghiệm
- Gà địa phương: Chúng tôi thu mua trứng tại các nông hộ của 5 xã phía Tây của thành phố Thái Nguyên Sau đó, trứng đưa về ấp nở cùng ngày với
gà lai (Ri x Sasso)
- Gà Ri lai Sasso lấy tại cơ sở giống
* Số lượng gà thí nghiệm
Gà Địa phương: 50 gà/ lô x 3 (diện tích bãi thả) x 3 lô = 450 con
Gà lai (Ri x Sasso) 50 gà/ lô x 3 (diện tích bãi thả) x 3 lô = 450 con Tổng là 18 hộ và 900 con gà thí nghiệm
Thí nghiệm dược bố trí theo phương pháp phân lô, đảm bảo đồng đều về các yếu tố như : Tính biệt, thức ăn, quy trình nuôi dưỡng