1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc

120 674 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tính trạng của một giống được hình thành, ngoài các yếu tố di truyền, tác động của con người thì các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, thức ăn, phương thức chăn nuôi …

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

–––––––––––––––––––––

PHẠM THANH VŨ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI HÌNH

THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG THỨC NUÔI ĐẾN KHẢ NĂNG

THƯƠNG PHẨM TẠI VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

––––––––––––––––––––––

PHẠM THANH VŨ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LOẠI HÌNH

THỨC ĂN VÀ PHƯƠNG THỨC NUÔI ĐẾN KHẢ NĂNG

THƯƠNG PHẨM TẠI VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI

Mã số: 60.62.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG ĐỨC TIẾN

TS NGUYỄN THỊ THUÝ MỴ

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã dược chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Phạm Thanh Vũ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân thành cảm ơn tới TS Phùng Đức Tiến, TS Nguyễn Thị Thuý Mỵ là những người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y và khoa Sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các cán bộ, nhân viên Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương và phòng phân tích - Viện chăn nuôi Quốc gia đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu, học tập và bảo vệ luận văn

Tôi xin cảm ơn sự tạo điều kiện và giúp đỡ về nhân lực, vật lực và thời gian của Đảng uỷ - BGH trường Cao đẳng KT-KT Vĩnh Phúc và các hộ nông dân xã Bình Định - Yên Lạc đã hợp tác giúp đỡ tôi thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự động viên, giúp đỡ vô hạn của gia đình và bạn bè, đồng nghiệp… đã góp phần to lớn để tôi hoàn thành thí nghiệm và luận văn

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 05 năm 2010

Học viên

Phạm Thanh Vũ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC BẢNG V

MỞ ĐẦU .1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1 Đặc điểm sinh vật học của vịt 3

1.1.2 Cơ sở khoa học về các tính trạng sản xuất 5

1.1.3 Cơ sở khoa học về sinh trưởng 7

1.1.4 Cơ sở khoa học về năng suất, chất lượng thịt 13

1.1.5 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 15

1.1.6 Cơ sở khoa học về khẩu phần ăn 17

1.1.7 Cơ sở khoa học về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh 18

1.1.8 Cơ sở khoa học của phương thức chăn nuôi 20

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 22

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thề giới 22

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 30

Trang 6

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Địa điểm, thời gian thí nghiệm 30

2.2 Nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi 30

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 30

2.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu 30

2.2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 31

2.2.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 33

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 37

3.1 Tỷ lệ nuôi sống của vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi 37

3.2 Khả năng sinh trưởng 39

3.2.1 Sinh trưởng tích lũy 39

3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm 44

3.2.3 Sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm 48

3.2.4 Hệ số sinh trưởng 53

3.3 Khả năng sử dụng và chuyển hóa thức ăn 55

3.3.1 Lượng thức ăn tiêu thụ của vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi 55

3.3.2 Khả năng chuyển hóa thức ăn 57

3.4 Chỉ số sản xuất PI (Performance-Index) 67

3.5 Chỉ số kinh tế (EN - Economic Number) 69

3.6 Khả năng sản xuất thịt của vịt thí nghiệm 70

3.6.1 Năng suất thịt 70

3.6.2 Thành phần hóa học của thịt xẻ 73

3.7 Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt broiler 73

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76

1 Kết luận 76

2 Đề nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

SO SÁNH THỐNG KÊ 87

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số lượng vịt trên thế giới năm 2001 - 2007 23

Bảng 1.2 Sản lượng thịt vịt trên thế giới năm 2001 - 2007 23

Bảng 1.3 Số lượng đầu con thủy cầm năm 2001 - 2006 26

Bảng 1.4: Sản lượng thịt thủy cầm giai đoạn 2003 - 2005 26

Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 32

Bảng 2.2: Tỷ lệ thức ăn phối trộn cho vịt thương phẩm 32

Bảng 2.3: Giá trị dinh dưỡng có trong 1kg thức ăn của vịt thí nghiệm 33

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống cộng dồn của vịt thí nghiệm (n=3 đàn) 37

Bảng 3.2 Khối lượng cơ thể vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi 40

Bảng 3.2a Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến sinh trưởng tích lũy của vịt thí nghiệm 41

Bảng 3.2b Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tích lũy của vịt thí nghiệm 42

Bảng 3.3a Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm 45

Bảng 3.3b: Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm 46

Bảng 3.4a Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm 50

Bảng 3.4b: Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm 52

Bảng 3.5a Hệ số sinh trưởng cộng dồn của vịt thí nghiệm theo phương thức chăn nuôi 54

Bảng 3.5b Hệ số sinh trưởng cộng dồn của vịt thí nghiệm theo thức ăn 54

Bảng 3.6b: Khả năng thu nhận thức ăn của vịt thí nghiệm theo phương thức nuôi 57

Bảng 3.7a Tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm theo loại hình thức ăn 58

Trang 8

Bảng 3.7b: Tiêu tốn thức ăn cộng dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm

theo phương thức nuôi 59

Bảng 3.8a Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến tiêu tốn protein cộng dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm 61

Bảng 3.8b: Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến tiêu tốn protein cộng dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm 62

Bảng 3.9a Tiêu hóa protein hữu hiệu của vịt thí nghiệm theo loại hình thức ăn 63

Bảng 3.9b Tiêu hóa protein hữu hiệu của vịt thí nghiệm theo phương thức nuôi 63

Bảng 3.10a Tiêu tốn ME cộng dồn cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệm theo loại hình thức ăn 65

Bảng 3.10b Tiêu tốn ME cho tăng khối lượng của vịt thí nghiệmtheo phương thức nuôi 66

Bảng 3.11a Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến chỉ số sản xuất của vịt thí nghiệm (chung đực, cái;) 68

Bảng 3.11b Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến chỉ số sản xuất của vịt thí nghiệm (chung đực, cái) 68

Bảng 3.12a: Chỉ số kinh tế của vịt thí nghiệm theo loại hình thức ăn 69

Bảng 3.12b Chỉ số kinh tế của vịt thí nghiệm theo phương thức chăn nuôi 70

Bảng 3.13: Kết quả mổ khảo sát vịt thí nghiệm ở 56 ngày tuổi 71

Bảng 3.14: Thành phần hóa học thịt xẻ ở dạng tươi của vịt thí nghiệm ở 56 ngày tuổi 73

Bảng 3.15: Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt thương phẩm 74

Trang 9

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi vịt ở Việt Nam có truyền thống lâu đời gắn liền với nghề trồng lúa nước, cơ cấu đàn vịt chủ yếu là các giống vịt địa phương Trong 10 năm gần đây, do yêu cầu đổi mới về công nghệ giống nên các giống vịt năng suất trứng cao như; Khakicampell, Layer CV 2000 đạt 270 - 290 quả/mái/năm, các giống vịt chuyên thịt cao sản của thế giới như; Super M, Super M2 đã được nhập vào Việt Nam, chọn lọc nâng cao qua nhiều thế hệ và chúng đã nhanh chóng thích nghi với điều kiện khí hậu của nước ta Vì vậy, tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi gia cầm đạt tới 7,6%/năm giai đoạn 1990 - 2003 Tăng trưởng giai đoạn 2000 - 2003 đạt 8,6%/năm

về số lượng đầu con, trong đó đàn thuỷ cầm tăng 94%, tổng đàn thuỷ cầm năm 2003 đạt 68,8 triệu con (trong đó vịt 54 triệu con, ngan 14 triệu con và ngỗng đạt 0,8 triệu con), chăn nuôi vịt nước ta được tổ chức nông lương thế giới (FAO) xếp thứ 2 thế giới chỉ sau Trung Quốc [3]

Vịt Super M2 dòng ông có năng suất trứng 164 - 170 quả/mái/46 tuần đẻ, dòng bà có năng suất trứng 181 quả/mái/46 tuần đẻ [58], vịt bố mẹ có năng suất trứng đạt 202,6 quả, tỷ lệ phôi 92,7%, tỷ lệ nở 81,4% [58], con thương phẩm nuôi đến 49 ngày đạt 3,15kg, tỷ lệ nuôi sống đạt 98,67%, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,35kg [58] Tuy nhiên, các dòng vịt này còn hạn chế về năng suất

Để nâng cao năng suất và đáp ứng nhu cầu thị trường, tháng 10 năm 2006 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương đã nhập vịt Super M3 ông, bà một giới tính từ Hãng Cherry Valley Vương quốc Anh Đây là dòng vịt có năng suất thịt, trứng cao vượt trội so với các dòng vịt Super M2 Năng suất trứng 238 - 263quả/mái/48 tuần đẻ, tỷ lệ phôi 85%, tỷ lệ nở 62 - 64% Vịt thương phẩm nuôi đến 47 ngày tuổi có khối lượng trung bình 3,66kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,18kg, tỷ lệ nuôi sống 97% [58]

Các tính trạng của một giống được hình thành, ngoài các yếu tố di truyền, tác động của con người thì các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, thức ăn, phương thức chăn nuôi … có ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính sinh trưởng, sinh sản, các chỉ tiêu sản xuất của giống đó

Chăn nuôi thuỷ cầm nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng ở nước ta hiện nay vẫn mang tính tận dụng, nuôi vịt chạy đồng, phân tán Do đó, một số khâu trong kỹ

Trang 10

thuật chăn nuôi thuỷ cầm còn hạn chế, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, gây ô nhiễm môi trường, không an toàn vệ sinh phòng dịch Chính vì vậy, phải định hướng cho người chăn nuôi theo các phương thức chăn nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái, đồng thời đảm bảo phát triển bền vững

Từ lâu nay các nghiên cứu về giống, thức ăn dinh dưỡng, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh… còn đơn lẻ, đặc biệt trong những năm qua dịch cúm gia cầm xảy ra hàng năm gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho người chăn nuôi Để ngăn chặn, hạn chế sự lây lan dịch cúm gia cầm xảy ra trên đàn vịt và nâng cao hiệu quả chăn nuôi vịt, đồng thời đáp ứng nhu cầu của xã hội về sản phẩm thịt vịt an toàn, chất lượng cao, nước ta đã hạn chế chăn nuôi vịt theo phương thức chăn thả chạy đồng

Nhằm góp phần đánh giá ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức chăn nuôi đến khả năng sinh trưởng và để có cơ sở khoa học về khả năng sản xuất, làm nguyên liệu để lai tạo và hoàn thiện qui trình chăn nuôi vịt đảm bảo tính bền

vững, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và

phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt CV Super M 3 thương phẩm tại Vĩnh Phúc”

1.2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá khả năng sản xuất của vịt Super M3 thương phẩm nuôi nhốt khô (không có ao hồ), bằng thức ăn viên và thức ăn đậm đặc phối trộn nguyên liệu tại Vĩnh Phúc

- Đánh giá khả năng sản xuất của vịt Super M3 thương phẩm nuôi có ao hồ, bằng thức ăn viên và thức ăn đậm đặc phối trộn với nguyên liệu tại Vĩnh Phúc

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Đặc điểm sinh vật học của vịt

Decarville, Decroutte, 1985, [7], Thummabood, 1990, [82], sau khi nghiên cứu đều đưa ra kết luận: Vịt nhà có nguồn gốc từ vịt trời đầu xanh (Anas platyrhynchos) Loài vịt trời hiện nay (là tổ tiên của vịt nhà) đang sinh sống ở hầu hết các châu lục, nhưng tập chung ở Bắc bán cầu Đó là loài chim ham ăn, hay bay, hay kiếm mồi ở chỗ đầm lầy, chúng ăn những thức ăn hạt, củ, quả, giun, sên, côn trùng, cá, ếch, nhái… kích thước dài thân của chúng 45 - 55cm, cân nặng 700 - 1400g, tầm vóc con đực lớn hơn con cái Vịt trời thuộc loại đơn giao và kết đôi trong màu sinh sản Thịt vịt cổ xanh không béo bằng thịt vịt nhà nhưng nó có mùi vị đặc biệt gần giống thịt chim rừng Vịt trời hoang dã rất dễ thuần hoá và được thuần hoá độc lập ở nhiều nước Sự thuần hoá vịt được tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau, trong thời gian dài và điều kiện môi trường hết sức khác nhau, nên các giống vịt hiện nay có kích thước, hình dáng và màu lông khác nhau

Theo Nguyễn Văn Thiện, 1996 [40], cho biết vị trí sắp xếp của vịt nhà trong

hệ thống của giới động vật như sau:

- Giới (Kingdom): Animal

- Ngành (Phylum): Aves

- Bộ (Order): Anseriformes

- Họ (Family): Anatidea

- Chủng (Genus): Anas

- Loài (Species): Anas platyrhynchos

Hiện nay số lượng các giống vịt rất lớn có khoảng 50 giống Dựa trên quan điểm về kinh tế, Nguyễn Thị Bạch Yến trích dẫn của Abakumov, 1977 và Neumeister,

1972, [48] đã chia các gống vịt nhà ra làm 3 loại:

- Vịt hướng trứng: mục đích để sản xuất trứng

- Vịt hướng thịt: mục đích để sản xuất thịt

- Vịt kiêm dụng (trứng - thịt, thịt - trứng): để sản xuất trứng và thịt

Trang 12

Các giống vịt thuộc họ Anatidea được con người quan tâm đến nhằm các mục đích như chăn nuôi, săn bắn, làm cảnh Trong chăn nuôi gia cầm các giống vịt

đã được khai thác mức độ nhiều hay ít (Decarville, Decroutte, 1985, [7])

Khác với các loài gia cầm khác, vịt có khả năng thích ứng rộng rãi đối với môi trường sống và có khả năng sử dụng chất thải một cách tuyệt vời và nhờ có các tiềm năng sinh học đặc biệt của nó Cũng nhờ có tiềm năng đó mà vịt có khả năng

kỳ diệu về việc kiếm mồi trong tự nhiên (Khajarern, 1990, [66])

Khi theo dõi hoạt động của hai đàn vịt chăn thả, Farrell, 1985, [56] cho biết vịt sử dụng hơn 10h/ngày cho các hoạt động, trong đó hơn 50% thời gian sử dụng cho việc tìm kiếm thức ăn và di chuyển ít nhất 7 km mỗi ngày

Hetzel và Gunawan, 1984, [60] đã tính toán lượng thức ăn cần cung cấp cho vịt nuôi chăn thả tự nhiên trên các cánh đồng sau khi thu hoạch trong giai đoạn vịt

đẻ, thấy mỗi vịt ăn được 70 g gạo lật, mà theo tính toán vịt chăn thả có tỷ lệ đẻ 48 % cần 178 g/ngày Điều này có nghĩa là vịt tự kiếm được lượng thức ăn tự nhiên, quy đổi tới 108 g thức ăn trên ngày

Theo Setioko, E vans và Raharjo, 1985, [78], cho biết khi phân tích thành phần chứa trong diều của vịt sau khi chăn thả cho kết quả: Hạt thóc 77 %, Ốc (còn lại) 17 %, côn trùng 1 %, ếch, nhái nhỏ 0,2 % và động vật giáp xác 0,1 %

Ở Indonesia, vịt nuôi truyền thống những đàn nhỏ 15 - 30 con, thì thức ăn chủ yếu là đồ thừa thải ra từ nhà bếp và các loại thức ăn khác kiếm được từ gia đình, không bao giờ mua thức ăn Còn đàn đông 30 - 100 con, được chăn thả bởi đàn ông có kinh nghiệm (Sabrani M, Mulzdi A and Kusnadi U, 1985, [79])

Bulbule, 1985, [52] cho biết, người dân Ấn Độ nuôi vịt với số lượng đàn từ

100 - 1000 con, tỷ lệ đực/cái =1/25 vẫn cho phôi tốt Năng suất trứng nuôi chăn thả đạt trên 200 quả/mái/năm, thức ăn chủ yếu là nhặt thóc rơi vãi, chỉ khi giáp vụ mới cho ăn

Vịt Deshi được nuôi chăn thả ở Ấn Độ, chúng tự kiếm mồi ở cánh đồng hoặc ven bờ sông, đêm đến vịt được quây ngay ở trên cánh đồng hay bờ sông Mùa vịt đẻ trứng cũng là mùa thu hoạch, vịt ăn hoàn toàn bằng thóc rơi rụng ngoài đồng (Rama Krishnam, 1996, [70]) Nhờ khả năng tìm kiếm thức ăn của vịt mà nó giúp làm sạch nước ao, vịt ăn ốc nên làm giảm bệnh, đặc biệt bệnh sán lá gan ở trâu bò (Sathe,

1995, [77]

Trang 13

Nuôi vịt ở các nước Châu Á nói chung, không chỉ là tận dụng khả năng tìm kiếm thức ăn tự nhiên mà còn là sự tương tác phát triển vật nuôi, cây trồng khác Đặc biệt là tương tác: vịt - lúa; vịt - cá, thế mạnh nghề cổ truyền của các nước văn minh lúa nước đem lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao năng suất của các đối tượng tham gia tương tác kết hợp (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1997, [42])

Chính nhờ các khả năng trên mà vịt dễ thích ứng với các điều kiện chăn nuôi ở môi trường mới và điều kiện khí hậu khác nhau, vịt vẫn cho năng suất sản phẩm cao

1.1.2 Cơ sở khoa học về các tính trạng sản xuất

Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của một giống gia súc, gia cầm trong điều kiện chăn nuôi cụ thể thực chất là nghiên cứu đặc điểm di truyền và ảnh hưởng của những tác động xung quanh đến các tính trạng đó Theo quan điểm di truyền học, hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như; sinh trưởng, sinh sản, cho thịt, cho sữa, cho lông, cho trứng… đều là các tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng (thường gọi là các tính trạng đo lường) như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng sữa, sản lượng trứng, khối lượng trứng… (Nguyễn Ân và cộng sự, 1993 [1])

Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau về mức độ giữa các cá thể rõ nét hơn các là sự sai khác về chủng loại Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo Các tính trạng số lượng được qui định bởi nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp mới được biểu hiện hoàn toàn

Theo Nguyễn Văn Thiện, 1995 [39], ở các tính trạng số lượng thì giá trị kiểu hình cũng do kiểu gen và sai lệch môi trường qui định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu Các gen tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen Khác với tính trạng chất lượng, tính trạng

số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố, các tác động của ngoại cảnh, tuy nhiên các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó

sẽ phát huy hoặc kìm hãm cho vịêc biểu hiện các hoạt động của gen Tóm lại, các tính trạng số lượng được qui định bởi nhiều kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, được biểu thị theo công thức sau;

Trang 14

P = G + E Trong đó: P; là giá trị kiểu hình (Phenotypic value)

G; là giá trị kiểu gen (Genotypic value) E; là sai lệch môi trường (Environmental deviation) Nhưng giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và

át gen nên được biểu thị theo công thức sau;

G = A + D + I Trong đó: G; là giá trị kiểu gen

A; là giá cộng gộp (Additive value) D; là sai lệch trội (Dominance deviation) I; là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation) Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống

Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cũng có vai trò quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường thực nghiệm D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác giữa các gen Chúng là cơ sở của việc lai giống

Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường,

có 2 loại môi trường chính

- Sai lệch môi trường chung (Genneral Environmental deviation - Eg) là sai

lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên và không cục bộ như; thức ăn, khí hậu…

Do vậy, đó là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một cơ thể

- Sai lệch môi trường riêng (Special Environmental deviation - Es) là sai lệch

do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc trong một giai đoạn nào đó trong cuộc đời con vật Loại yếu tố này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý… gây ra Do đó, nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể có biểu thị như sau:

Trang 15

P = A + D + I + Eg + Es Trong đó:

- P; là giá trị kiểu hình (Phenotypic value)

- A; là giá cộng gộp (Additive value)

- D; là sai lệch trội (Dominance deviation)

- I; là giá trị sai lệch tương tác hay sai lệch át gen (Interaction deviation)

- Eg; là sai lệch môi trường trung (General enviromental deviation)

- Es; là sai lệch môi trường riêng (Special enviromental deviation)

Như vậy, năng suất giống vật nuôi phụ thuộc vào yếu tố di truyền và ngoại cảnh Vật nuôi nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ, nhưng sự thể hiện khả năng

đó ở kiểu hình lại phụ thuộc vào ngoại cảnh môi trường sống như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý Đây là cơ sở để tạo lập điều kiện ngoại cảnh thích hợp nhằm củng cố và phát huy khả năng di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là gia cầm

Khi quan sát các tính trạng số lượng (cân, đo, đếm…) người ta thường xác định các tham số sau;

+ Số trung bình của các tính trạng (X)

+ Hệ số biến dị (CV%)

+ Hệ số di truyền của các tính trạng (h2

) + Hệ số lặp lại của các tính trạng (Rs)

+ Hệ số tương quan giữa các tính trạng (r)

1.1.3 Cơ sở khoa học về sinh trưởng

Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19], cho biết theo Driesch H,

1990, thì sự tăng thể tích và khối lượng cơ thể là do các tế bào trong cơ thể đều tăng

về số lượng và kích thước, theo Slec F, 1898, sự sinh trưởng bao giờ cũng phải có quá trình phân chia tế bào, tăng thể tích và các chất giữa tế bào, trong đó hai quá trình đầu là quan trọng nhất Gatner, 1992, cho rằng quá trình sinh trưởng, trước hết

là kết quả của phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống Theo tài liệu của Chambers, 1990 [53] thì Mozan, 1977, định nghĩa sinh trưởng là tổng sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, da, xương

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Tuy có khi tăng khối lượng mà không phải tăng trưởng (chẳng hạn béo mỡ,

Trang 16

chủ yếu là tích nước không có sự phát triển của mô cơ) Sinh trưởng thực chất là sự tăng khối lượng, số lượng các chiều của các tế bào mô cơ Quá trình sinh trưởng phải thông qua 3 quá trình:

- Phân chia tế bào để lấy số lượng tế bào

- Tăng thể tích tế bào

- Tăng thể tích giữa các tế bào

Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] cho biết; Midedorpho (1867) là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, ông cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi

* Khái niệm sinh trưởng

Theo Chambers, 1990 [53] cho rằng; sinh trưởng là quá trình sinh lý, sinh hóa phức tạp, duy trì từ khi phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành Để

có được số đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng

Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] (dẫn của Ganer (1992)) cho biết sinh trưởng trước hết là kết quả phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống Từ đó đã khái quát: sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở di truyền

từ đời trước Hay nói cách khác : Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ

do đồng hóa và dị hóa, chính là sự tích lũy dần dần các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ và khối lượng tích lũy các chất phụ thuộc vào tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh trưởng (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19])

Sinh trưởng của con vật được tính từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi đã trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai (gia súc), đối với gia cầm là giai đoạn trong trứng và giai đoạn sau khi nở

Johanson, 1972 [12] cho rằng cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô diễn ra theo trình tự như sau;

+ Hệ thống tiêu hoá, nội tiết

+ Hệ thống xương

+ Hệ thống cơ bắp

+ Mỡ

Trang 17

Trong thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt ở giai đoạn đầu của sự sinh trưởng thì thức ăn, dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển của xương, mô

cơ, một phần rất ít dùng lưu giữ trong cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ, xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích lũy dinh dưỡng để cấu tạo mỡ

Trong các tổ chức cấu tạo cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất (42 - 45 % khối lượng cơ thể) Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái (phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm)

Khối lượng cơ thể thường được theo dõi theo từng tuần tuổi và đơn vị tính là kg/con hoặc g/con Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng

Khối lượng cơ thể ở từng thời kỳ là thông số để đánh giá sự sinh trưởng một cách đúng đắn nhất, song lại không chỉ ra được sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần trong khoảng thời gian của cấc độ tuổi

Tất cả các đặc tính của gia súc, gia cầm như ngoại hình, thể chất, sức sản xuất đều không phải đã có sẵn trong tế bào Các bộ phận hình thành trong quá trình sinh trưởng là thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu còn do tác động của môi trường

* Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh đến khi trưởng thành Do vậy, việc xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải dễ dàng Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản và thực tế, đó là khả năng sinh trưởng theo 3 hướng là: chiều cao, thể tích và khối lượng (Chambers, 1990, [53])

Khối lượng cơ thể: về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp, tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein Do vậy, có thể lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gia súc, gia cầm Khối lượng cơ thể gia súc, gia cầm là những tính trạng di truyền số lượng Sinh trưởng có khả năng di truyền cao và liên quan chặt chẽ với những đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng giống và từng cá thể gia cầm

Trang 18

Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] cho rằng, sinh trưởng là cường độ tăng các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định Trong chăn nuôi gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu để mô tả sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối

- Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát Sinh trưởng tuyệt đối thường được tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn ( T.C.V.N 2, 39 -

77 [24])

- Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (T.C.V.N 2, 40 - 77 [25]), đơn vị tính là % Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng Hypebol Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần tuổi

Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992 [19] cho biết có mối quan hệ ở

cơ thể gia cầm giữa sinh trưởng và một số tính trạng liên quan Mối liên quan giữa sinh trưởng và tốc độ mọc lông đã được xác định, cũng có mối liên quan giữa sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Trong chọn giống vật nuôi hiện nay để đánh giá khả năng sinh trưởng, người

ta sử dụng các phương pháp đơn giản và thực tế như;

- Kích thước các chiều đo: kích thước và khối lượng xương có tầm quan trọng lớn đối với khối lượng cơ thể và hình dáng con vật, quan hệ giữa khối lượng thân, tốc độ lớn và chiều dài đùi, chiều dài xương ngực với chất lượng giết thịt có tầm quan trọng đặc biệt Kích thước các chiều đo có liên quan rõ rệt với khối lượng

cơ thể, độ dài chân có liên quan đến tính biệt

- Tốc độ sinh trưởng: là cường độ tăng các chiều cơ thể trong khoảng thời gian nhất định

- Đường cong sinh trưởng: đường cong sinh trưởng biểu thị sinh trưởng của gia súc, gia cầm nói chung Theo Chambers, 1990 [53] đường cong sinh trưởng của gia cầm thịt gồm 4 pha chính như sau:

+ Pha sinh trưởng tích lũy tăng tốc nhanh sau khi nở

+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất

+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gia cầm trưởng thành

Trang 19

Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về đường cong sinh trưởng

Theo Knizetova, Hyanck, Knize và Roubicek, 1991, [69], cho biết đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối lượng mà còn làm rõ

về mặt chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, giống, giới tính

Nguyễn Đăng Vang, 1983 [46] khi nghiên cứu về đường cong sinh trưởng của ngỗng Rheinland từ sơ sinh đến 77 ngày tuổi thấy hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia cầm nói chung

- Tiêu tốn thức ăn: tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng phản ánh quá trình chuyển hóa thức ăn để sinh trưởng Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của vịt nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

* Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

- Giống, dòng: có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự, 1994 [12], cho biết; sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm là rất lớn Thuỷ cầm có tốc độ sinh trưởng cao trong những tuần đầu tiên, ở tuổi giết thịt 7-8 tuần tuổi đối với vịt nhà, 9 tuần đối với ngỗng, 10-11 tuần đối với ngan, chúng có thể đạt 70-80% khối lượng trưởng thành, trong khi đó gà chỉ đạt 40% Jaap và Morris, 1937, [65], đã phát hiện những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi của gà con ở các bố mẹ khác nhau Những nghiên cứu trước đây cho biết có 2 hoặc 4 gen chính Nhiều tác giả cho rằng có nhiều hơn 15 cặp gen qui định tốc độ sinh trưởng Như vậy các tác giả đã chứng tỏ sự khác biệt về tốc độ sinh trưởng do di truyền mà cơ sở

di truyền là do gen, ít nhất có 1 gen về sinh trưởng liên kết giới tính (Phùng Đức Tiến, 1996 [34])

Theo tác giả Chambers, 1990 [53], có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển cơ thể gia cầm Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng tới nhóm tính trạng,

có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng đơn lẻ

Ở vịt hầu như các giống hướng trứng nhẹ hơn các giống hướng thịt tới 2 lần Nguyễn Song Hoan, 1993, [8], cho biết, vịt Anh Đào ở 75 ngày tuổi đạt khối lượng

Trang 20

cơ thể 1417 - 1570 g, còn theo Hoàng Văn Tiệu, 1993, [35], thì ở 60 ngày tuổi đạt 1,8 kg Trong khi đó vịt cỏ ở 75 ngày tuổi đạt 1025,28 g - 1042,1g (Lê Xuân Đồng, Nguyễn Thượng Trữ, 1988, [5]; Lê Xuân Đồng, 1994 [4])

- Tính biệt: có ảnh hưởng đến sinh trưởng, các loài thuỷ cầm khác nhau thì

có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con đực lớn nhanh hơn con cái Theo Phùng Đức Tiến, 1996, [34] dẫn của Jull, 1923, cho biết; gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32 % Theo Phạm Quang Hoán và cộng sự, 1994, [9]; Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993, [15] thì khối lượng gà trống và gà mái Broiler V135 có

sự sai khác nhau từng tuần tuổi Những sai khác này cũng được biểu hiện ở cường

độ sinh trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh học mà do các gen liên kết giới tính Tuy nhiên, sự sai khác về mặt sinh trưởng còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng phát triển nhanh so với các dòng phát triển chậm

Hoàng Toàn Thắng, 1996, [38] đã khuyến cáo đối với người chăn nuôi gia cầm lấy thịt, để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi cần nuôi tách trống mái

- Tốc độ mọc lông theo Kushner, 1974, [13] cho rằng có quan hệ chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng

Theo Siegel và Dumington, 1978 [76] thì những alen quy định tốc độ mọc lông phù hợp với tăng khối lượng cao

- Chế độ dinh dưỡng; có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ sinh trưởng và ảnh hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng Chembers, 1990 [53] cho biết; sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức

độ dinh dưỡng Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác

Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993, [16], thì với gia cầm để phát huy được khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu đầy đủ chất dinh dưỡng

và cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cho chúng còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm hóa sinh không mang theo nghĩa dinh dưỡng nhưng có kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt

Trang 21

Nguyễn Thị Thúy Mỵ, 2006 [20] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng và protein khác nhau cùng với tỷ lệ ME/CP khác nhau để tìm ra khẩu phần ăn hợp lý, nhằm phát huy tối đa đến khả năng sinh trưởng của ngan Pháp nuôi tại Thái Nguyên

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô khác nhau gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô này với mô khác Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng đến sinh trưởng mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng

- Điều kiện môi trường chăm sóc nuôi dưỡng

Khả năng sinh trưởng của gia cầm chịu ảnh hưởng rất lớn của yếu tố môi trường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khẩu phần ăn đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng, chăm sóc quản lý chu đáo sẽ có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng nâng cao năng suất chăn nuôi

Điều kiện môi trường như; nhiệt độ, ẩm độ, chế độ chiếu sáng, mật độ nuôi nhốt, nước uống Theo Knust, Pingel và Lengerken, 1996, [67] cho biết khi nhiệt độ cao (300C) ảnh hưởng đến sinh trưởng của vịt, làm giảm thức ăn ăn vào, kết quả là khối lượng sống giảm và tỷ lệ mỡ của thịt sẽ thấp Nhiệt độ cao có tác động âm tính đến chất lượng thịt (tỷ lệ ăn được giảm, chất lượng cơ kém)

Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993, [16] sau khi nghiên cứu đã đưa ra khuyến cáo: với vịt nuôi quảng canh mật độ tối đa 30 vịt/ha mặt nước

Lewis, Perry và Morris, 1992, [71] cho biết các giống khác nhau bị tác động của thời gian chiếu sáng cũng khác nhau đặc biệt ở các tuần tuổi 9, 12, 15 Từ 9 tuần tuổi nếu tăng thời gian chiếu sáng sẽ làm phát dục sớm

1.1.4 Cơ sở khoa học về năng suất, chất lượng thịt

Sức sản xuất thịt là một trong những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật hết sức quan trọng của gia cầm Khả năng sản xuất thịt là khả năng tạo nên khối lượng cơ ở độ tuổi khi mà đem giết thịt cho hiệu quả kinh tế cao nhất Khả năng cho thịt được biểu hiện ít nhất trên 2 góc độ là năng suất thịt và chất lượng thịt

- Năng suất thịt biểu thị bằng khối lượng sống, tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ các bộ phận như nạc, mỡ, da… còn chất lượng thịt biểu hiện bằng thành phần hoá học (tỷ lệ vật chất khô - thể hiện độ chắc của thịt, protein - thể hiện giá trị dinh dưỡng, mỡ - thể hiện độ béo của thịt, khoáng - tạo nên độ đậm đà…), cấu trúc

và kích thước sợi cơ, độ mềm, độ ướt và độ ngon của thịt…

Trang 22

Năng suất thịt cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức chăn nuôi, vệ sinh thú y…

Tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Tương tự như vậy, năng suất của các thành phần thân thịt

là tỷ lệ phần trăm của các phần so với thân thịt và năng suất của cơ là tỷ lệ phần trăm của cơ so với thân thịt

Theo Chambers, 1990 [53] tỷ lệ các phần thân thịt như sau: Khối lượng sống của gia cầm 100 % thì khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64 % (trong đó thịt 52 %

và xương là 12 %); phủ tạng chiếm khoảng 6 %; máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17 % và tỷ lệ hao hụt khi giết mổ chiếm 13 %

Mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao thường là 0,9, còn tương quan giữa khối lượng sống và mỡ bụng thì thấp hơn thường 0,2 - 0,5 (dẫn theo Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [21])

Chambers, 1990, [53], thì các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác di truyền về năng suất thịt xẻ, hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực và từng phần thịt, da, xương

Theo Decarville, Decroutte, 1985, [7], tỷ lệ thịt xẻ phụ thuộc vào tính biệt, vịt Bắc Kinh con đực là 60,3 %, con cái 61 %

Mối quan hệ di truyền giữa cấu trúc cơ thể và khối lượng cơ thể là 0,5, với tổng số móc hàm là 0,45, tỷ lệ thịt ngực là 0,6 Khả năng di truyền được ước tính cho cấu trúc cơ thể dao động từ 0,3-0,5, Vereijken, 1992, [83] Theo Kosba, et al,

1995, [68] cho biết hệ số di truyền tuyệt đối của thịt xẻ như sau: Hệ số di truyền theo bố (h2

S)= 0,19 - 0,22; hệ số di truyền theo mẹ (h2D)= 1,02 - 1,09; hệ số di truyền theo cả bố - mẹ (h2

S+D)= 0,60 - 0,66

Knust, Pinge, 1996 [67], cho biết thành phần của thịt xẻ bị ảnh hưởng của môi trường khá lớn, khi nhiệt độ môi trường cao thì tỷ lệ mỡ của thịt xẻ thấp, tỷ lệ

ăn được giảm, chất lượng cơ kém

Thành phần của thịt xẻ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền Các giống vịt cao sản (đặc biệt nuôi nhốt) có khối lượng cơ thể, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn vịt địa phương nuôi truyền thống Thành phần thịt xẻ có thể được thay đổi bởi nhiều cách khác nhau trong đó có chọn lọc (Abdelsamie and Farrell, 1985, [50])

Trang 23

Touraille C và cộng sự, 1981 [80] cho biết ở tất cả các giống gia cầm, tuổi giết mổ và tính biệt có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất thịt Nhìn chung tỷ lệ thân thịt chỉ tăng đến một độ tuổi nhất định nào đó Tỷ lệ thân thịt của gia cầm trống và mái cũng khác nhau Rất nhiều nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thân thịt ở gia cầm hướng thịt tăng lên theo tuổi, tuổi gia cầm càng cao thì tỷ lệ này càng cao Mặt khác, khi tuổi gia cầm càng tăng, tỷ lệ thịt đùi, lườn càng tăng và tuổi giết mổ gia cầm còn ảnh hưởng đến độ ngon của thịt

Chất lượng thịt phụ thuộc vào thành phần hoá học của thịt Thành phần hóa học của thịt gồm: protein, lipid, đường, vitamin, men, khoáng, nước So với thịt gia súc, thịt gia cầm có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn do đó độ đồng hóa khi

sử dụng thịt gia cầm cũng cao hơn thịt gia súc

Các giống gia cầm khác nhau thì thành phần hoá học của thịt cũng khác nhau Hetzel, 1983, [59], khi so sánh thành phần hoá học thịt xẻ của vịt Bắc Kinh, Alabio, F1 (BK x A), F1 (Ngan x Alabio) thấy rằng: Tỷ lệ vật chất khô và mỡ của thịt xẻ cao nhất ở con lai F1(BK x Alabio) = 47,8 % và 31,7 % Nhưng tỷ lệ protein lại cao nhất ở con lai F1(Ngan x Alabio) = 15 %

Hetzel và Simon, 1983, [61], khi so sánh 3 giống vịt địa phương với vịt Khaki Cambell đến 16 tuần tuổi thấy; tỷ lệ sinh trưởng khác nhau rất nhỏ, tỷ lệ mỡ khác nhau chút ít Vịt Bali và Tegal có tỷ lệ mỡ thấp hơn Alabio và Khaki Cambell Theo Chambers, 1990, [53], tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (-0,32), hệ số di truyền về thành phần hoá học của thịt xẻ như sau; nước 0,38, protein 0,47, mỡ 0,48, khoáng 0,25 Ngoài yếu tố di truyền giống, dòng, thành phần hoá học thịt xẻ ở vịt còn chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố môi trường, thức ăn, bệnh tật (Helzel, 1983, [59])

1.1.5 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn

Khoa học ngày nay đã chứng minh mối lên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng với duy trì sự sống và năng suất của vật nuôi Nhu cầu về dinh dưỡng của gia cầm bằng tổng nhu cầu duy trì và nhu cầu sản xuất Dinh dưỡng một là quá trình sinh học nhằm duy trì cơ thể và không ngừng đổi mới những chất tạo nên cơ thể Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi vịt nói riêng, việc tạo ra giống mới có năng suất cao thì chưa đủ mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng phù hợp với đặc tính sinh lý, phù hợp với mục đích sản xuất của từng giống, dòng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi

Trang 24

Gia cầm cũng giống như tất cả các loài vật nuôi khác, chúng đều là các sinh vật tự dưỡng, không có khả năng tổng hợp các chất hữu cơ cần thiết cho sự sống như: protein, gluxit, lipid… từ những chất vô cơ đơn giản như sinh vật dị dưỡng Nhu cầu về các chất hữu cơ này của cơ thể gia cầm chỉ có thể được đáp ứng thông qua thức ăn nhờ quá trình tiêu hóa, hấp thu của hệ tiêu hóa

Trong chăn nuôi ngoài việc tạo ra con giống mới có năng suất cao thì các nhà chăn nuôi cần phải chú ý đến nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, cân bằng đầy đủ các chất dinh dưỡng phù hợp với đặc tính sinh vật học của gia cầm và phù hợp với mục đích sản xuất của từng giống, dòng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cơ thể

mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế Để đánh giá về vấn đề này người ta đưa ra chỉ tiêu “tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng”

Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng và luôn là mối quan tâm kinh tế lớn nhất của các nhà chăn nuôi, vì chi phí thức ăn thường chiếm tới 70 % giá thành sản phẩm Vì vậy, hiệu suất giữa thức ăn/kg tăng khối lượng hay thức ăn/kg trứng hoặc 10 quả trứng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

Đối với gia súc, gia cầm thức ăn ăn vào một phần để duy trì cơ thể, một phần dùng để tăng khối lượng và cho sản phẩm (trứng hoặc lông…) Mặt khác, khi quá trình đồng hoá và dị hoá tốt tức là khả năng trao đổi chất tốt thì hiệu quả sử dụng thức ăn cho tạo sản phẩm sẽ cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp

Bằng thực nghiệm đã chứng minh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như; giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khỏe của đàn gia cầm

Fox và Bohren, 1954, [57], Willson, 1969 [86] xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1- 4 tuần tuổi là r = 0,5

Hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao được Chambers, 1984 xác định là (0,5 - 0,9), còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm từ -0,2 đến -0,8 (dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996, [34]) Porodman và cộng sự (1970), Pym (1979) cho biết ở những giống gia cầm có tốc độ tăng khối lượng cao thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn đối với gia cầm sinh sản

Trang 25

Willson, 1969 [86] xác định hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng

cơ thể và hiệu quả chuyển hóa thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = -1 đến +1 Hiệu quả

sử dụng thức ăn liên quan chặt chẽ đến sinh trưởng

Khả năng chuyển hóa protein thức ăn của gia cầm mái cho hoạt động duy trì

cơ thể, sản xuất nói chung và tạo trứng nói riêng là 55 % Do vậy, gà đẻ 100 % cần nhu cầu là tạo trứng 8,9 g protein cho tạo trứng (Ivy và Gleaves, 1976, [64])

Theo Morris và Wasserman, 1971, [11] thì chỉ có 80 % năng lượng của thức

ăn được gia cầm hấp thu, trong đó 25 % ME được hấp thu dùng cho tạo trứng

Tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm của gia cầm nuôi thịt phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, độ tuổi, giai đoạn đầu tiêu tốn thức ăn thấp, giai đoạn sau tiêu tốn thức

ăn cao hơn Ngoài ra còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu thời tiết và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khoẻ của đàn gia cầm, đặc biệt mức độ cân bằng các chất dinh dưỡng trong thức ăn

Sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn thấp luôn là mục tiêu của nhiều công trình nghiên cứu về lai tạo giống gia cầm

1.1.6 Cơ sở khoa học về khẩu phần ăn

Pan, Tai, Chen, 1978, [73], Yang, 1980, [84] tiến hành thí nghiệm các mức protein và năng lượng ở 3 giai đoạn 0 - 4 tuần tuổi, 5 - 12 tuần tuổi và 13 - đẻ trên vịt Tsaiya trắng cố định 2 mức ME là 10,87 và 11,71 MJ/kg còn CP (%): 19 - 17 -

15, 17 - 15 - 13, 15 - 13 - 11 Kết quả ở các mức CP khác nhau không làm thay đổi tăng khối lượng của vịt, tuy nhiên lô có ME cao hơn thì hiệu quả chuyển hóa thức

Như vậy, các mức CP và ME của vịt hậu bị không ảnh hưởng tới năng suất

đẻ và khối lượng trứng của vịt giai đoạn sinh sản

Ngoài yếu tố về CP và ME, các nguyên tố khoáng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng cho sản phẩm của vịt Trong đó quan trọng hang đầu phải kể đến

là Canxi Wu, 1978 [87] cho biết: Ca tối thiểu cho vịt giai đoạn 0 - 3 tuần tuổi là

Trang 26

0,58 % để đảm bảo cho sinh trưởng, Phospho tổng số = 0,64 %; phospho dễ tiêu hóa (Pav) = 0,34 % Qua thí nghiệm tác giả kết luận: ở mức Ca từ 0,6 - 1,2 % và Pav từ 0,33 - 0,65 % cho sinh trưởng của vịt là giống nhau

1.1.7 Cơ sở khoa học về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh

Sức sống của gia cầm cũng là tính trạng di truyền số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể Trong cùng một giống sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau trong cùng một dòng cũng có sự khác nhau nhưng nằm trong giới hạn nhất định của phẩm giống

Sức sống của vật nuôi được xác định bởi khả năng chống chịu bệnh tật, khả năng thích nghi và những ảnh hưởng của môi trường Sức sống thể hiện ở tỷ lệ nuôi sống cao trong các giai đoạn từ sơ sinh cho đến lúc giết thịt và tỷ lệ nuôi sống của vịt con thường phụ thuộc vào sức sống của đàn bố mẹ Vịt mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với vịt mái đẻ kém Ngoài ra, mức giao phối cận huyết cũng làm cho tỷ lệ nuôi sống ở đời con giảm Theo Lê Xuân Đồng và Nguyễn Thượng Trữ,

1998, [5], tuổi vịt bố mẹ quá già, quá non, đầu vụ đẻ, cuối vụ đẻ, tỷ lệ ấp nở thấp đều ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống cũng như sinh trưởng của vịt con

Tỷ lệ sống của gia cầm con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm, ở giai đoạn phôi sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở một giai đoạn so với số cá thể ở giai đoạn trước Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do sự có mặt của các gen nửa gây chết, nhưng phần lớn là do tác động của môi trường (Brandschm, Bichel, 1978 [6]) Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ sinh phòng bệnh và tiêm phòng đầy đủ, kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh

ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi xứ lạnh

Theo Khajarern và Khajarern, 1990, [66], xét về khả năng thích nghi điều kiện sống của gia súc, gia cầm nói chung bị thay đổi như thay đổi về thức ăn, thời tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, sinh vật và vi sinh vật… thì vịt là loài vật nuôi có khả năng thích ứng rộng rãi hơn đối với môi trường sống nhờ tiềm năng sinh học đặc biệt

Hill, Dikerson và Kempster, 1954 [62] đã tính toán được hệ số di truyền sức sống là 0,06 Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau Hệ số di truyền sức kháng bệnh là 0,25

Trang 27

Hệ số di truyền về tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thường phụ thuộc vào dòng, giống, giới tính Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu… (Roberson và Lemer, 1949 [82])

Trong công tác lai tạo, khi dùng những giống, dòng có sức sống cao thì con lai sẽ thừa hưởng, có tính trạng trội khả năng này Fairful, 1990, [56] cho biết ưu thế lai về sức sống là rất cao (9-14 %), sức sống cao còn phụ thuộc vào yếu tố mầm bệnh hoặc các dạng vi sinh vật gây bệnh khác

Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng 90

% nhưng cũng có những dòng tỷ lệ nuôi sống có thể lên tới 98 - 99 % Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tiến, Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, 2005 [32] cho biết tỷ lệ nuôi sống từ 0 - 140 ngày tuổi của các dòng gà chuyên thịt HE-Ross 208 đạt từ 95 - 98 %

Lê Viết Ly, 1995, [17] cho biết, động vật thích nghi tốt, thể hiện ở các đặc trưng: giảm khối lượng thấp nhất trong quá trình trực tiếp tiếp xúc với stress, sức sinh sản cao, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp

Ngoài các yếu tố giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc thì sức sống và khả năng sinh trưởng phát triển của gia cầm chịu tác động trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng và chiếu sáng Những yếu tố này tác động gây ảnh hưởng xấu tới sức đề kháng của cơ thể, dễ gây hiện tượng stress làm giảm sức sống của gia cầm Trong điều kiện tự nhiên của nước ta, các yếu tố này tác động lần lượt ở các mức độ khác nhau tại những vùng địa lý khác nhau Do vậy, để

có sức sống cao đòi hỏi gia cầm phải có sự thích nghi với điều kiện sống

Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm, Ngô Giản Luyện, 1994 [14] trích dẫn của Johansson (1972), Marco và cộng sự (1982) cho biết sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở cơ thể động vật chống lại các ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như các ảnh hưởng khác của dịch bệnh

Nhờ có bộ lông không thấm dầu, nước mà vịt có khả năng chịu đựng với các điều kiện thời tiết lạnh ẩm và ngay trong điều kiện rất nóng vịt cũng có khả năng chịu đựng được và cho sản phẩm tốt Nhờ có khả năng này mà các giống vịt đã cho năng suất sản phẩm cao trong điều kiện khí hậu khác nhau

Trang 28

Ngày nay ngoài việc tiếp tục chọn lọc cá thể các dòng có sức miễn kháng cao, người ta còn chú trọng đến nghiên cứu theo dõi các tập tính bẩm sinh của con vật về sính sản, sinh trưởng, kiếm ăn… để cải tiến cách chăm sóc, nuôi dưỡng, khai thác con vật, đảm bảo chất lượng sản phẩm ngày càng tốt hơn Điều đó cũng thể hiện qua các biện pháp nuôi dưỡng theo kiểu nuôi nhốt hay chăn thả, theo cách làm sạch môi trường chuồng trại và xung quanh, theo các nội quy đảm bảo an toàn khi nhập, khi nuôi cũng như khi xuất Đó đều là những việc làm cần thiết bổ trợ thêm tính miễn kháng cho con vật, ngăn ngừa được những stress gây hậu quả có hại cho con vật và cho chất lượng sản phẩm, tạo thêm được điều kiện để tăng cường độ miễn kháng (Johanson, 1972, [12])

Ngoài các yếu tố như dinh dưỡng, giống, kỹ thuật thì vấn đề nhiễm bệnh của gia cầm cũng là yếu tố cơ bản dẫn đến thất bại trong chăn nuôi Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và tỷ lệ chất cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm

Mặc dù vịt có khả năng thích nghi cao với vùng rộng lớn của thế giới, nhưng theo Nott, 1992, [72] thì vịt có thể mắc các bệnh truyền nhiễm và không truyền nhiễm sau:

- Bệnh do virus: Bệnh Viêm gan do virus (D.V.H)

Bệnh Viêm ruột do virus (D.V.E)

- Bệnh do vi khuẩn: Bệnh Tụ huyết trùng

Bệnh Tụ cầu khuẩn Bệnh Salmonella

- Bệnh do nấm: Aspergilosis và Mycotoxicosis

Như vậy, dựa trên sơ sở những khả năng thích ứng đặc biệt của vịt đối với các điều kiện môi trường khác nhau cho phép các nhà chăn nuôi phán đoàn kết quả về khả năng tồn tại, phát triển và cho sản phẩm của các giống vịt nhập nội từ nước ngoài

1.1.8 Cơ sở khoa học của phương thức chăn nuôi

Từ khi dịch cúm gia cầm bùng phát năm 2003 đã có nhiều cuộc hội thảo về phòng chống cúm gia cầm và phương thức chăn nuôi để tìm ra các giải pháp hạn chế dịch bệnh song song đồng thời nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ trên các lĩnh vực; di truyền chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng

Trang 29

nuôi và vệ sinh thú y phòng bệnh … Ở các nước phát triển như Pháp, Anh các lĩnh vực về dinh dưỡng thức ăn cho vịt không ngừng hoàn thiện và cải tiến, sản xuất thức ăn cân bằng, đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết đáp ứng nhu cầu sinh lý của từng độ tuổi Thú y phòng bệnh đạt được nhiều tiến bộ từ khử trùng tiêu độc, đến các loại dược phẩm và vaccin phòng được các bệnh chính cho vịt

Phương thức chăn nuôi cũng có nhiều nghiên cứu và thay đổi, kết hợp phương thức chăn nuôi công nghiệp có các trang thiết bị hiện đại với chăn nuôi truyền thống được ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật giúp chăn nuôi vịt phát triển mạnh

mẽ Còn ở các nước đang phát triển, chăn nuôi vịt nặng về phương thức chăn thả tự nhiên, quảng canh, tận dụng do đó năng suất chăn nuôi thấp, giá thành sản phẩm cao, thú y chưa được quan tâm, dịch bệnh còn gây nhiều thiệt hại, đặc biệt trong tình hình của dịch cúm gia cầm hiện nay

Theo Nguyễn Đức Trọng, 2003 [44] chăn nuôi thủy cầm nước ta theo các phương thức sau;

- Chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ: Phương thức này là nghề truyền thống có từ lâu đời chiếm khoảng 18 %, giống nuôi chủ yếu là vịt cỏ, vịt bầu, vịt lai ngan, ngan, ngỗng năng suất không cao nhưng chất lượng thịt, trứng thơm ngon phù hợp với thị hiếu và phục vụ nhu cầu thực phẩm tại chỗ, thường xuyên, hàng ngày cho người dân Với đặc điểm chủ yếu là tận dụng các điều kiện tự nhiên sẵn có, thức ăn thừa, phụ phẩm trong nông nghiệp Phương thức này được nuôi chủ yếu trong các nông

hộ có ao, hồ kết hợp với chuồng nhốt hoặc nuôi nhốt ngay trên ao, hồ, tuy giá thành thấp nhưng rủi ro cao, dịch bệnh nhiều, hiệu quả kinh tế bấp bênh Tuy nhiên, phương thức này phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế của nhiều hộ gia đình, là hình thức kinh tế tự cung, tự cấp Trong tương lai phương thức chăn nuôi này vần còn tồn tại trong các hộ gia đình vùng trung du và miền núi

- Chăn nuôi vịt chạy đồng: Đây là hình thức chăn nuôi chủ yếu của nghề chăn nuôi vịt ở nước ta, chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, ước tính chiếm khoảng 64% sản lượng đầu con và cũng là nghề truyền thống lâu đời của người nông dân Việt Nam Giống chủ yếu là các giống vịt tàu, vịt lai và các giống cao sản Đây là hình thức chăn nuôi hàng hóa, giá thành rẻ nhất nhưng cũng là nguyên nhân phát tán mầm bệnh lớn nhất Trong phương thức nuôi này, đặc biệt quan tâm đến chăn nuôi vịt chạy đồng, thả vịt ở ngoài sông suối, phương thức này người chăn

Trang 30

nuôi tận dụng được nguồn thức ăn chủ yếu ở ngoài đồng vào vụ gặt và thức ăn có sắn ở tự nhiên, đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi Thực tế qua hai năm bùng phát dịch cúm, phần lớn dịch phát từ những đàn vịt chăn thả tự do, chạy đồng Tại Đồng bằng sông Cửu Long vịt thường được nuôi chạy từ cánh đồng này sang cánh đồng khác hoặc theo kênh, rạch từ tỉnh này sang tỉnh khác làm phát tán mầm bệnh theo đàn lớn không kiểm soát được Đây là vấn đề đặc thù của ngành chăn nuôi vịt thả đồng gắn liền với sự lây lan dịch cúm gia cầm ở nước ta nên cần được

tổ chức lại để phòng chống dịch cúm gia cầm

- Chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp: Phương thức chăn nuôi công nghiệp mới phát triển khoảng 10 năm trở lại đây, ước tính đạt khoảng 9-10 % trong tổng đàn và chủ yếu ở các tỉnh phía Nam với quy mô còn nhỏ bé Các giống nuôi cơ bản là giống công nghiệp cao sản như; Super M, C.V Layer 2000, Khakicampbell, ngan Pháp R51, R71 Phương thức nuôi này chủ yếu là nuôi nhốt trên nền hoặc trên sàn, sử dụng thức ăn công nghiệp Hình thức nuôi này tuy an toàn dịch bệnh nhưng đòi hỏi đầu tư lớn, giá thành cao nên chưa phát triển nhiều trong chăn nuôi

và khó cạnh tranh được với vịt chăn thả Thực tế cho thấy, từ năm 1995 đến nay, chăn nuôi vịt công nghiệp phát triển chậm, cần có giải pháp tích cực để thúc đẩy mạnh phương thức nuôi này

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thề giới

Nhiều nước trên thế giới đã rất quan tâm đến nghề chăn nuôi vịt, năm 1970 thịt vịt chiếm 3,3 % và năm 2005 thịt vịt tăng 4,2 % so với thịt gia cầm Từ năm

1996 đến 2005 sản xuất thịt gia cầm tăng 30,73 %, trong đó thịt vịt tăng 68,3 % Trên toàn thế giới sản xuất thịt vịt đã tăng liên tục từ năm 2001 đến năm 2007 với bình quân 4,13 % (Sing Hwa Hu, 2007, [88])

Từ cuối năm 2004 đến nay, mặc dù dịch cúm gia cầm vẫn đang xảy ra ở các nước Châu Á và một số nước Đông Âu nhưng số lượng vịt vẫn tăng dần Trong 10 nước sản xuất thịt vịt lớn nhất của thế giới năm 2007 thì phần lớn là các nước Châu

Á, dẫn đầu là Trung Quốc chiếm 69,44 %, Malaysia: 2,81 %, Việt Nam: 2,52 %, Thái lan 2,15 % Có 4 nước đứng đầu thế giới về sản xuất trứng vịt đó là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Philippin chiếm 96,73 % số lượng trứng vịt trên thề giới (FAO, 2007)

Trang 31

Bảng 1.1 Số lƣợng vịt trên thế giới năm 2001 - 2007

T Quốc 1.483.642 1.595.862 1.731.790 1.763.115 2.034.456 2.038.620 2.088.890 Thai Lan 26.449 62.000 48.000 56.543 56.670 56.600 56.600 Malaysia 70.000 20.275 31.390 39.240 41.150 41.700 42.800

T Quốc 1.965.908 2.087.655 2.230.538 2.262.323 2.607.588 2.680.948 2.746.140 Thai Lan 105.000 93.000 72.000 84.814 85.005 85.000 85.000 Malaysia 68.767 52.716 81.619 102.024 107.000 108.000 111.000

Nguồn: FAO, 2008

Có được kết quả như vậy là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trên các lĩnh vực: Di truyền chọn giống, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y phòng bệnh, phương thức chăn nuôi Từ những năm 1920 vịt Khakicampbell, vịt chạy nhan Ấn Độ là những giống được chọn lọc cho năng suất trứng cao Các giống vịt cho năng suất thịt cao như vịt Anh Đào Hugary, Tiệp Khắc Hiện nay, các giống vịt siêu thịt Super M, Super M2, Super M3; vịt siêu thịt Super Hearvy; vịt siêu trứng

CV Layer 2000 do hãng Cherry Valley của Vương Quốc Anh tạo ra Vịt Star 57, Star 76, M15 do hãng Grimau Frères Cộng hòa Pháp tạo ra

Powell, 1984, [75] làm thí nghiệm trên vịt nuôi nhốt đã đưa ra kết luận: Tương tác kiểu gen và môi trường là không lớn vì các giống, dòng vịt nuôi ở chính nơi tạo ra chúng và các nước nhập nội đều có sức sản xuất tương đương nhau Vịt

Trang 32

có khả năng sử dụng chất thải một cách tuyệt vời và đồng thời cũng là loài vật nuôi

có khả năng kỳ diệu về việc tìm kiếm mồi Tiềm năng này giúp vịt dễ dàng thích ứng với các điều kiện chăn nuôi và quy trình nuôi dưỡng ở môi trường mới

Farrel, 1985, [55] làm thí nghiệm so sánh giữa vịt nuôi nhốt và chăn thả với

gà nuôi nhốt đã cho kết luận: ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường ở các nước nóng

ẩm với vịt có thể nói là không lớn, vì vịt có khả năng tự điều chỉnh cơ thể Vịt chỉ bị stress khi nuôi nhốt mà sự thông thoáng và trao đổi khí kém Thêm nữa vịt là loài thủy cầm có sức chống chịu rất đặc biệt đối với bệnh tật, đồng thời vịt còn có thể sử dụng ốc sên, côn trùng làm thức ăn để sống và cho sản phẩm Với đặc điểm quí này, giúp vịt có khả năng thích ứng cao đối với những tác động của vi sinh vật và sinh vật trong các điều kiện môi trường khác nhau Chính nhờ khả năng thích ứng rộng rãi với các điều kiện thay đổi của môi trường mà các giống vịt cao sanrcos khả năng cho năng suất cao ở những môi trường khác nhau Hai giống vịt của nước Anh là C.V Super M và L2 nuôi trong điều kiện nóng nực ở Mỹ, Singapore vẫn cho năng suất tương đương ở Anh (Powell, 1985, [74]) Ở Thái Lan, vịt Cherry Valley nhập nội từ Vương quốc Anh đã trở thành giống vịt thịt quan trọng nhất, được nuôi phổ biến nhất và cho năng suất cao nhất ở đất này (Thummbood, 1992, [81])

Bird, 1985, [51], cho biết vịt Cherry Valley của Anh nuôi ở Úc, Trung Quốc, Singapore đều có tính năng sản xuất tốt như ở bản quốc Theo Yeong, 1992, [85] thì

ở Malaysia việc nhập nội vịt con từ công ty Cherry Valley (Vương quốc Anh), Stegel (Úc) và Legarth (Đan Mạch) để sản xuất vịt thịt là công việc thông thường trong sản xuất đại trà Ba giống vịt của Anh nuôi ở Liên Xô cũ vẫn cho năng suất trứng khá cao: 160 - 200 quả/mái/năm tương đương năng suất ở Anh Vịt Bắc Kinh nhập từ Trung Quốc đã đạt được năng suất rất cao và phát triển đàn rất mạnh ở Thổ Nhĩ Kỳ (Ahmet, 1992, [49])

Epym và cộng sự, 1979 [54] cho biết; dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho sinh trưởng mà còn cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng Do vậy, để có năng suất cao trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì vấn đề cơ bản phải lập ra những khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối, trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi

Phương thức chăn nuôi cũng có nhiều thay đổi, kết hợp phương thức chăn nuôi công nghiệp có các trang thiết bị hiện đại với chăn nuôi truyền thống được ứng

Trang 33

dụng tiến bộ kỹ thuật giúp cho chăn nuôi vịt phát triển mạnh mẽ Nhưng ở các nước đang phát triển, chăn nuôi vịt vẫn còn nặng về phương thức chăn thả tự nhiên, do đó năng suất chăn nuôi còn thấp, dịch bệnh còn gây thiệt hại nhiều, đặc biệt trong tình hình dịch cúm gia cầm hiện nay

Theo Narin Thongwittya, 2007 [89], ở Thái Lan trước dịch cúm gia cầm năm

2004 tồn tại 4 hệ thống chăn nuôi vịt

- Hệ thống chuồng khép kín đảm bảo an toàn sinh học cao: Các giống nuôi thịt; Vịt Bắc Kinh và vịt Cherry Valley được nuôi chuồng khép kín từ 5.000 - 6.000 con/chuồng Vịt được nuôi lấy thịt thời gian 50 - 56 ngày theo hệ thống cùng vào, cùng ra

- Hệ thống chuồng mở: Hệ thống này là tốt với cả hai giống vịt thịt và vịt trứng bởi vì nó không tốn kém như hệ thống chuồng kín

- Hệ thống chạy đồng: Hầu hết là vịt lấy trứng như Khakicampbell, vịt địa phương, vịt lai Tuy nhiên, có một số nhỏ vịt thịt Sau 7 - 21 ngày úm, vịt mái tơ, vịt lấy trứng được đưa đến ruộng lúa, chúng ăn thóc trên cánh đồng, sau đó được đưa về khô nuôi nhốt, nhưng một số đàn vịt vẫn giữ lại ở trên đồng để giảm chi phí sản xuất

- Hệ thống nông hộ: Vịt Bắc Kinh, vịt Cherry Valley và vịt lai được tiếp tục nuôi ở nông hộ trong khu làng xã cùng với gia súc khác Ước tính có khoảng 1 - 1,5 triệu vịt được nuôi trong nông hộ

Sau khi xảy ra dịch cúm gia cầm, hệ thống chăn nuôi vịt chưa có sự thay đổi, nhưng biện pháp kiểm soát AI được tiến hành chặt chẽ Trước khi đưa vịt tới khu giết mổ, 60 mẫu phân của đàn được chọn để phân lập virus Tại khu giết mổ, thêm

60 mẫu nữa được chọn cùng đàn để phân lập virus Vào cuối chu kỳ 50 - 60 ngày, mỗi nhà nuôi vịt cần phải dọn sạch sẽ, tẩy uế và để trống chuồng ít nhất 21 ngày Sau 3 - 4 tuần bắt đầu nuôi vịt 01 ngày tuổi và chu kỳ lại được lặp lại, nhưng cứ 3 tháng lại phân tích mẫu 1 lần

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việt Nam là một nước có số lượng vịt đứng thứ hai thế giới Điều đó chứng

tỏ nghề chăn nuôi vịt ở nước ta phát triển khá mạnh mẽ và đóng góp một phần không nhỏ vào thu nhập của người chăn nuôi

Trang 34

Bảng 1.3 Số lƣợng đầu con thủy cầm năm 2001 - 2006

Đơn vị tính: triệu con

So với năm trước (%)

Số lượng

So với năm trước (%)

Số lượng

So với năm trước (%)

57,9 63,6 68,9 59,0 89,9 59,9 101,5 62,6 104,5

Nguồn: Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp& PTNT, 2007

Từ năm 2001 - 2003 tổng đàn thủy cầm nước ta tăng từ 57,9 lên 68,9 triệu con Nhưng đến năm 2004 là 59 triệu con, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm có

xu hướng bùng phát mạnh trên đàn thủy cầm nên Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo gắt gao thực hiện không cho phép ấp nở, tăng đàn thủy cầm trong hai năm từ 4/2/2005 đến 28/2/2007 Đến năm 2007 tổng đàn thủy cầm đã hơn 68 triệu con (Báo Lao Động số

280 ngày 1/12/2007)

Từ nhiều năm nay, chăn nuôi vịt mang lại nhiều việc làm và là nguồn kinh tế quan trọng của hàng triệu hộ nông dân, nhiều trang trại đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long (24,6 triệu con) và đồng bằng sông Hồng (17,6 triệu con), hai vùng đồng bằng này số lượng vịt chiếm 61,1 % tổng đàn cả nước (Đinh Xuân Tùng,

Nguồn: Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp& PTNT, 2007

Năm 2006 số lượng trang trại chăn nuôi gia cầm có 2.837 chiếm 16% so với tổng số trang trại toàn quốc, trong đó chăn nuôi vịt là 668 trang trại Các trang trại chăn nuôi phát triển chưa theo quy hoạch, đầu tư và phân bố không đều trên các vùng sinh thái

Tác giả Bùi Bá Bổng cho biết: trước đây, Cục chăn nuôi - Bộ NN&PTNT đã đưa ra 5 phương thức chăn nuôi thủy cầm, đó là nuôi nhốt trên ao, hồ có sàn; nuôi trong ao, hồ có kiểm soát; nuôi nhốt trong vườn cây có chuồng; nuôi nhốt trong

Trang 35

chuồng có sân chơi và nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng Tuy nhiên, các địa phương phía Nam, nhất là ở ĐBSCL, sau khi đã thử nghiệm các phương thức nuôi trên đều không khả thi Đa số người nuôi vịt là dân nghèo Việc nuôi thủy cầm đã không tận dụng được lượng lúa rơi vãi (khoảng 10-15 % sau thu hoạch), nên bà con không có lãi (Báo Nông thôn số 162 ra ngày 15/8/2006)

Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia đã nêu một trong những nguyên nhân chính khiến cho vịt trở thành "kho" lưu giữ virus cúm gia cầm, đã được các nhà khoa học xác định là do tình trạng người nuôi thả vịt không có kiểm soát Trên cơ sở đó, từ năm 2004, Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên đã bắt đầu nghiên cứu các mô hình chăn nuôi vịt theo kiểu mới Theo Nguyễn Đức Trọng- Giám đốc Trung tâm cho biết: "Tập quán chăn nuôi vịt chính của nông dân là phải có nước (để vịt bơi, lội) Phương thức này mặc dù vẫn hiệu quả, nhưng trong điều kiện hiện nay lại rất khó kiểm soát dịch bệnh" Vì thế, trước mắt các nhà khoa học mới dừng ở mức thí điểm mô hình là chính

Mặc dù vịt là loài thủy cầm nhưng nuôi vịt theo phương thức nuôi khô hoàn toàn không cần nước bơi lội chỉ cần nước uống, có 3 phương thức nuôi trên khô: nuôi nhốt trong chuồng, nuôi nhốt trong chuồng và có sân chơi, nuôi nhốt trong vườn cây Nếu nuôi vịt trên khô sẽ giảm được chi phí và không ảnh hưởng chất lượng sản phẩm cả thịt và trứng, vẫn đảm bảo được năng suất Nuôi khô giảm được chi phí từ 20-30 g thức ăn/quả trứng so với nuôi có nước bơi lội mà không có thức

ăn để tận dụng, đồng thời những nơi có vườn thì có thể nuôi khô trên vườn nhưng phải quây lại không thả tự do Đến nay phương thức nuôi nhốt trên khô không cần nước bơi lội áp dụng cho các vùng sinh thái khác nhau đều phù hợp Trong điều kiện hiện nay dịch cúm gia cầm luôn đe dọa thì phương thức nuôi trên khô là một phương thức nuôi cần được áp dụng để đảm bảo cho an toàn dịch bệnh, tránh lây lan, công tác phòng bệnh cũng thuận lợi, kiểm soát tốt được dịch bệnh, giảm được ô nhiêm môi trường Những vùng có tập quán nuôi vịt theo cổ truyền thì nên ứng dụng theo 2 phương thức nuôi có nước bơi lội: Nuôi nhốt trên ao, nuôi nhốt trong ruộng lúa (Lê Hồng Mận, 2007 [18]

Theo số liệu của Đinh Xuân Tùng, 2008, [43] phương thức chăn nuôi vịt ở nước ta khi dịch cúm gia cầm xẩy ra đã có sự thay đổi: Phương thức bán thả rông trước khi dịch cúm gia cầm là 59 %, sau dịch là 10 % Nuôi nhốt trên cạn có rào

Trang 36

quây trước khi dịch cúm gia cầm là 4%, sau dịch là 10 % Nuôi nhốt có ao hồ trước khi dịch cúm gia cầm 37 % và sau dịch là 72 %

Có một lựa chọn mà người chăn nuôi trong vùng áp dụng là phương thức nuôi vịt nhốt hoàn toàn Người chế biến và tiêu dùng an tâm với sản phẩm từ phương thức nuôi này do vịt được nuôi trong điều kiện có kiểm soát, nhất là trong tình hình dịch cúm gia cầm vẫn còn tồn taịh và phát triển trên đàn gia cầm ở nhiều địa phương hiện nay Vịt chạy đồng trước khi bán cũng được áp dụng phương thức nuôi nhốt vỗ béo khi mà vịt chưa đủ độ giết thịt và cũng cải thiện được chất lượng thân thịt

Ở nước ta trong những năm qua cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vịt

Lê Xuân Đồng, Phạm Văn Trượng và cộng tác viên 1988, Hoàng Văn Tiệu và cộng tác viên 1982, 1990; Nguyễn Song Hoan 1993, Lê Thanh Hải các công trình nghiên cứu chủ yếu là lai kinh tế giữa các giống vịt Cỏ, Bầu, Vịt Anh Đào của Hungary, Anh Đào Tiệp Khắc, Zsárvás Hungary, vịt Bắc Kinh Trung Quốc

Hoàng Văn Tiệu và ctv, 2002 [37] cho biết Vịt CV Supe M, giữ được ổn định năng suất thịt sau 11 năm chọn lọc nuôi giữ và phát triển Tỷ lệ nuôi sống cao: trên 95%; khối lượng giết thịt nuôi công nghiệp 56 ngày tuổi hoặc nuôi bán công nghiệp 70 - 75 ngày tuổi đạt 3 - 3,4 kg/con (Vịt hướng thịt trước đây đạt 2,5 kg trở xuống); tỷ lệ thịt xẻ: 72 %; tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng: Nuôi công nghiệp là 2,7 - 2,8 kg thức ăn tương đương với chỉ tiêu tiên tiến của thế giới, nuôi bán công nghiệp là 2,2 kg thức ăn, tốt hơn rất nhiều so với nuôi vịt chăn thả ở khu vực Tuổi đẻ của vịt bố mẹ là 25 tuần đạt tiêu chuẩn của Anh là nơi cung cấp giống vịt này; năng suất trứng đã nâng cao và đạt 200 - 220 quả/mái/67 tuần tuổi, cao hơn năng suất trứng nuôi tại Anh từ 8 - 20 quả/mái/67 tuần, do công tác chọn lọc và cải tiến quy trình nuôi dưỡng

Nếu so với các giống vịt trước đây (chỉ đạt 140 - 150 quả/mái/40 tuần đẻ) thì vịt CV Super M năng suất trứng đã tăng hơn 45 - 90 % Tỷ lệ phôi đạt trên 90 % Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng 4,0 - 4,5 kg thức ăn tương đương với thế giới Tỷ

lệ nở: Trong những năm đầu do chưa có quy trình ấp phù hợp, tỷ lệ nở chỉ đạt 26 -

50 % sau khi nghiên cứu thành công đã đưa ra quy trình phù hợp và đạt được tỷ lệ

nở trên 85 % phôi, cao hơn ở Anh (nơi tạo ra giống vịt này) là 3 - 5 %

Trang 37

Thành công của công trình là từ giống vịt ông bà CV Super M của Anh đã chọn lọc, nuôi giữ và tạo ra được các dòng vịt giống cho Việt Nam và nó đã làm thay đổi cơ bản cơ cấu của ngành chăn nuôi vịt thịt, trong 11 năm qua và hiện nay Việt Nam cơ bản không phải nhập vịt bố mẹ với giá cao từ nước ngoài

Theo Phạm Văn Trượng và cộng sự, 1994, [45] kết quả mổ khảo sát trên giống vịt cỏ ở 70 ngày tuổi: tỷ lệ thân thịt đạt 69 %, tỷ lệ thịt đùi 16 %, tỷ lệ thịt ức 7,3 %, tỷ lệ này theo kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Đồng, 1994, [4] là 7,6 % và 15,13 %

Kết quả mổ khảo sát vịt đực C.V Super M ở 56 ngày tuổi có tỷ lệ thịt ngực

là 15,5 %, còn tỷ lệ thịt đùi 12,45 % (Lương Tất Nhợ, 1997, [22]

Năm 1990 và 1991 dưới sự tài trợ của chương trình Phát triển Liên hợp Quốc (UNDP) và sự giúp đỡ của FAO, nước ta đã nhập các dòng trống và dòng mái vịt hướng thịt CV Super M Đây là các dòng vịt hướng thịt được đánh giá là có năng suất cao Vịt bố mẹ có năng suất trứng 190 - 195 quả/mái/năm, cao hơn các giống vịt thịt trước đây như vịt Anh Đào 30 - 35 % Vịt thịt nuôi đến 56 - 70 ngày tuổi 3,0

- 3,2 kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,7 - 2,9 kg Vịt Khakicampbell,

CV Layer 2000 cũng được nhập vào nước ta có năng suất trứng 250 - 270 quả/mái/năm, khối lượng trứng 65 - 77 g/quả Vịt CV Super M, M2, M2 cải tiến đã được nghiên cứu nuôi giữ chọn tạo có năng suất trứng/mái/năm: 180 - 220 quả, Vịt nuôi thịt đến 56 - 70 ngày tuổi 3,0 - 3,4kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,6 - 2,8 kg Do có năng suất chất lượng cao, con giống đã được sản xuất chấp nhận và ngày càng tăng về số lượng

Ngoài các công trình nghiên cứu về chọn tạo, nuôi thích nghi giống mới nhập nội, đã có một số công trình nghiên cứu về phương thức nuôi đối với vịt Khakicampbell, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng vịt, quy trình thú y phòng trị bệnh trên vịt, quy trình ấp nở trứng vịt của các tác giả Phạm Văn Trượng, Hoàng Văn Tiệu, Nguyễn Đức Trọng, Nguyễn Hồng Vỹ, Hoàng Thị Lan, Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Ngọc Liên, Phùng Đức Tiến, Nguyễn Ngọc Dụng

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu trên vịt thương phẩm Super M3 từ 1-56 ngày tuổi Đàn vịt thương phẩm Super M3 được lấy từ đàn vịt bố mẹ tại Trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình - Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương Nuôi nhốt khô và nuôi nhốt có

ao hồ, bằng thức ăn viên và đậm đặc trộn nguyên liệu

2.1.2 Địa điểm, thời gian thí nghiệm

- Địa điểm: Vịt thí nghiệm được nuôi ở các hộ gia đình tại xã Bình Định - Yên Lạc - Vĩnh Phúc

- Thời gian: từ tháng 01/2008 - 02/2009

2.2 Nội dung, phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Ảnh hưởng của phương thức nuôi đến sức sản xuất thịt của vịt Super M3.

- Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến sức sản xuất thịt của vịt Super M3.

2.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu

- Tỷ lệ nuôi sống của vịt qua các tuần tuổi

- Khả năng sinh trưởng

+ Sinh trưởng tích lũy

+ Sinh trưởng tương đối

+ Sinh trưởng tuyệt đối

+ Hệ số tốc độ sinh trưởng

- Khả năng chuyển hóa thức ăn

+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng

+ Tiêu tốn protein thô (CP) g/kg tăng khối lượng

+ Tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME) kcal/kg tăng khối lượng

+ Tỷ số hiệu dụng protein

Trang 39

+ Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng (đ/kg)

- Năng suất và chất lượng thịt

+ Khối lượng thân thịt

Sơ đồ công nghệ tạo vịt thương phẩm

Ông bà: Trống dòng X Mái dòng Trống dòng X Mái dòng ông A ông B bà C bà D

Con thương phẩm: Thương phẩm ABCD

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh (3 lần nhắc lại), đồng đều về yếu tố giống, tính biệt (chọn đực, cái ở 1 ngày tuổi), thức ăn, qui trình nuôi dưỡng giữa các lô Kết quả thí nghiệm là trung bình của 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ 2.1

Trang 40

nguyên liệu Proconco

C20 + nguyên liệu

Thức ăn cho vịt như sau:

- Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh: dùng thức ăn viên của hãng proconco

+ Giai đoạn 0 - 21 ngày tuổi dùng thức ăn C662

+ Giai đoạn 22 - xuất bán dùng thức ăn C663

Thức ăn phối trộn: dùng thức ăn đậm đặc C20 phối trộn với ngô, cám gạo, lúa dựa trên phần mềm UTRALMIC, theo công thức;

Bảng 2.2: Tỷ lệ thức ăn phối trộn cho vịt thương phẩm

TT Nguyên liệu Tỷ lệ thức ăn phối trộn (%)

Từ 0 - 21 ngày tuổi Từ 22 ngày - xuất bán

Ngày đăng: 05/10/2014, 02:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ,(1993), Di truyền học động vật, Nxb nông nghiệp - tr.86 - 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ
Nhà XB: Nxb nông nghiệp - tr.86 - 198
Năm: 1993
2. Nguyễn Văn Ban, Lê Xuân Thọ, Đặng Hữu Lanh (1994), Một số kết quả bước đầu về tổ hợp lai kinh tề vịt Cỏ x vịt Khakicambell nuôi theo phương thức chăn thả, Hội thảo nghiên cứu và phát triển chăn nuôi vịt.Viện chăn nuôi quốc gia. Sở Nông nghiệp Thanh Hóa, trang 71-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả bước đầu về tổ hợp lai kinh tề vịt Cỏ x vịt Khakicambell nuôi theo phương thức chăn thả
Tác giả: Nguyễn Văn Ban, Lê Xuân Thọ, Đặng Hữu Lanh
Năm: 1994
3. Nguyễn Ngọc Dụng, Hoàng Văn Tiệu và ctv (2006). Chọn lọc nâng cao khả năng sản xuất của vịt CV Super M dòng ông, dòng bà nuôi tại Trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình, tiến bộ KHKT năm - VCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn lọc nâng cao khả năng sản xuất của vịt CV Super M dòng ông, dòng bà nuôi tại Trạm nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dụng, Hoàng Văn Tiệu và ctv
Năm: 2006
4. Lê Xuân Đồng, (1994) Nghiên cứu một số đặc điểm của giống vịt Cỏ và khả năng nhân thuần hai nhóm vịt Cỏ màu lông trắng, cánh sẻ, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện KHKTNN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm của giống vịt Cỏ và khả năng nhân thuần hai nhóm vịt Cỏ màu lông trắng, cánh sẻ
5. Lê Xuân Đồng, Nguyễn Thượng Trữ, (1988) Kỹ thuật chăn nuôi vịt con, Nxb nông nghiệp, trang 9 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi vịt con
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
6. Brandsch and Biilchel H, (1978). Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống gia cầm, Nguyễn Chí Bảo dịch, Nxb Khoa học và kỹ thuật, trang 7, 129-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống gia cầm
Tác giả: Brandsch and Biilchel H
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
7. Decarville.H, De Croutte.A (1985), Ngan - vịt. Người dịch: Đào Hữu Thanh, Dương Công Thuận, Mai Phụng, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngan - vịt
Tác giả: Decarville.H, De Croutte.A
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1985
8. Nguyễn Song Hoan, (1993), Một số đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của vịt Anh Đào, Bầu và vịt lai F 1 (Bầu x Anh Đào), nuôi theo phương thức chăn thả tại Thanh Hóa, Luận án PTS khoa học sinh học, trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của vịt Anh Đào, Bầu và vịt lai F"1" (Bầu x Anh Đào), nuôi theo phương thức chăn thả tại Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Song Hoan
Năm: 1993
9. Phạm Quang Hoán, Nguyễn Kim Anh và cộng sự (1994), Nghiên cứu sử dụng cám ép để thay ngô trong thức ăn hỗn hợp của gà Broiler, Thông tin khoa học và kỹ thuật gia cầm số, trang 361 - 400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng cám ép để thay ngô trong thức ăn hỗn hợp của gà Broiler
Tác giả: Phạm Quang Hoán, Nguyễn Kim Anh và cộng sự
Năm: 1994
10. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Trường Đại học Nông -Lâm Thái Nguyên, trang 127 - 183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Năm: 1998
11. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, (1994), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp - trang 104, 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - trang 104
Năm: 1994
12. Johanson L, (1972), Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật, tập 1-2, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Tạ Toàn, Trần Đình Long dịch, Nxb KHKT, trang, 31- 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật
Tác giả: Johanson L
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1972
13. Kushner K. F, (1974), Các cơ sở di truyền học của sự lựa chọn giống gia cầm, Tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp. Phần thông tin khoa học nước ngoài, trang 222 - 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ sở di truyền học của sự lựa chọn giống gia cầm
Tác giả: Kushner K. F
Năm: 1974
14. Ngô Giản Luyện (1994),Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro nuôi trong điều kiện Việt Nam, Luận án PTS, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, trang 8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng năng suất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5 giống gà thịt cao sản Hybro nuôi trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giản Luyện
Năm: 1994
15. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993), Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao, Nxb nông nghiệp, trang 21, 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao
Tác giả: Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1993
17. Lê Viết Ly (1995), Sinh lý thích nghi, Sinh lý gia súc (Hoàng Văn Tiến chủ biên), Giáo trình Cao học Nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, trang 246-283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý thích nghi
Tác giả: Lê Viết Ly
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
18. Lê Hồng Mận, Hoàng Văn Tiệu, Trần Công Xuân, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thiện (2007), Sổ tay chăn nuôi gia cầm bền vững, Hiệp hội chăn nuôi gia cầm Việt Nam, Nxb Thanh Hóa, trang 148 - 150 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chăn nuôi gia cầm bền vững
Tác giả: Lê Hồng Mận, Hoàng Văn Tiệu, Trần Công Xuân, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thiện
Nhà XB: Nxb Thanh Hóa
Năm: 2007
19. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992), Chọn giống và nhân giống gia súc, Nxb nông nghiệp - trang 40 - 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường
Nhà XB: Nxb nông nghiệp - trang 40 - 116
Năm: 1992
20. Nguyễn Thị Thúy Mỵ, (2006), Nghiên cứu xác định khẩu phần có mức năng lượng và protein tối thiểu được bổ sung L-Lysin và DL-Methionine để nuôi ngan pháp lấy thịt tại Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên, trang 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xác định khẩu phần có mức năng lượng và protein tối thiểu được bổ sung L-Lysin và DL-Methionine để nuôi ngan pháp lấy thịt tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Năm: 2006
21. Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997), Khảo sát, so sánh khả năng sản xuất của gà Broiler 49 ngày tuổi thuộc các giống AA, Avian, BE nuôi vụ hè tại Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp, ĐHNL Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát, so sánh khả năng sản xuất của gà Broiler 49 ngày tuổi thuộc các giống AA, Avian, BE nuôi vụ hè tại Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Mỵ
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Số lƣợng vịt trên thế giới năm 2001 - 2007 - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 1.1. Số lƣợng vịt trên thế giới năm 2001 - 2007 (Trang 31)
Bảng 1.3. Số lƣợng đầu con thủy cầm năm 2001 - 2006 - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 1.3. Số lƣợng đầu con thủy cầm năm 2001 - 2006 (Trang 34)
Sơ đồ công nghệ tạo vịt thương phẩm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Sơ đồ c ông nghệ tạo vịt thương phẩm (Trang 39)
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 2.3: Giá trị dinh dƣỡng có trong 1kg  thức ăn của vịt thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 2.3 Giá trị dinh dƣỡng có trong 1kg thức ăn của vịt thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 3.2. Khối lƣợng cơ thể vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi  (chung đực, cái;) - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.2. Khối lƣợng cơ thể vịt thí nghiệm qua các tuần tuổi (chung đực, cái;) (Trang 48)
Bảng 3.2a. Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến sinh trưởng tích lũy của vịt  thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.2a. Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến sinh trưởng tích lũy của vịt thí nghiệm (Trang 49)
Bảng 3.2b. Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tích lũy  của vịt thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.2b. Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tích lũy của vịt thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 3.3a. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm  (chung đực, cái) - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.3a. Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm (chung đực, cái) (Trang 53)
Bảng 3.3b: Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm  (chung đực, cái) - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.3b Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tuyệt đối của vịt thí nghiệm (chung đực, cái) (Trang 54)
Bảng 3.4a. Ảnh hưởng của loại hình  thức ăn đến sinh trưởng tương đối  của vịt thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.4a. Ảnh hưởng của loại hình thức ăn đến sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 3.4b: Ảnh hưởng của phương  thức chăn nuôi đến sinh trưởng tương  đối của vịt thí nghiệm - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.4b Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi đến sinh trưởng tương đối của vịt thí nghiệm (Trang 60)
Bảng 3.5a. Hệ số sinh trưởng cộng  dồn của vịt thí nghiệm   theo phương thức chăn nuôi - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.5a. Hệ số sinh trưởng cộng dồn của vịt thí nghiệm theo phương thức chăn nuôi (Trang 62)
Bảng 3.6a. Khả năng thu nhận thức ăn của vịt thí nghiệm theo thức ăn - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.6a. Khả năng thu nhận thức ăn của vịt thí nghiệm theo thức ăn (Trang 64)
Bảng 3.6b: Khả năng thu nhận thức ăn  của vịt thí nghiệm theo phương thức  nuôi - nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình thức ăn và phương thức nuôi đến khả năng sản xuất thịt của vịt cv super m3 thương phẩm tại vĩnh phúc
Bảng 3.6b Khả năng thu nhận thức ăn của vịt thí nghiệm theo phương thức nuôi (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w