Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun lươn và sự tồn tại của ấu trùng có sức gây bệnh trong phân trâu bò ở ngoại cảnh ..... Sự tồn tại của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong phâ
Trang 1PHẠM VĂN HIỂU
NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN LƯƠN (STRONGYLOIDOSIS)
Ở TRÂU, BÒ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẠM VĂN HIỂU
NGHIÊN CỨU BỆNH GIUN LƯƠN (STRONGYLOIDOSIS)
Ở TRÂU, BÒ TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG THUỘC TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60.62.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ TRUNG CỨ
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Văn Hiểu
Trang 4Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp của mình Em xin trân trọng cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa chăn nuôi Thú y cùng toàn thể cán bộ, giảng viên trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ em, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn tốt nghiệp
- Với lòng biết ơn chân thành em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đỗ Trung Cứ, PGS.TS Nguyễn Thị Kim Lan đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp
đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Văn Hiểu
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các ký hiệu viết tắt iv
Danh mục bảng biểu v
Danh mục hình vi
Danh mục ảnh vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Giun lươn ký sinh ở trâu bò 4
1.1.2 Bệnh giun lươn ở trâu bò 9
1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn 20
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 27
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 27
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 27
2.1.4 Vật liệu nghiên cứu 27
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
Trang 62.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn trâu bò tại một số
địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 28
2.2.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở trâu bò 28
2.2.3 Sử dụng thuốc tẩy giun lươn cho trâu bò và đề xuất biện pháp phòng bệnh 29
2.3 Bố trí thí nghiệm và phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn trâu bò tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 29
2.3.2 Bố trí điều tra, phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh 30
2.3.3 Bố trí và phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng của trâu bò bị bệnh giun lươn 32
2.3.4 Bố trí xét nghiệm và phương pháp xét nghiệm máu của trâu bò nhiễm giun lươn ở mức độ nặng 33
2.3.5 Bố trí thí nghiệm và phương pháp đánh giá hiệu lực tẩy giun lươn của thuốc (Vimectin, Levamisole, Benvet 600) cho trâu bò ở 3 huyện thị thành tỉnh Thái Nguyên 33
2.3.6 Đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh giun lươn trâu bò 35
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀO THẢO LUẬN 38
3.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn trâu bò tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên 38
3.1.1 Tình hình nhiễm giun lươn ở trâu bò 38
3.1.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh 48
3.1.3 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun lươn và sự tồn tại của ấu trùng có sức gây bệnh trong phân trâu bò ở ngoại cảnh 51
Trang 73.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở trâu bò 54
3.2.1 Theo dõi triệu chứng lâm sàng của trâu bò bị bệnh giun lươn 54
3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở trâu bò bình thường và tiêu chảy 55
3.2.3 Sự thay đổi một số chỉ tiêu huyết học của trâu bò bình thường và trâu bò bị bệnh giun lươn 57
3.3 Sử dụng thuốc tẩy giun lươn cho trâu bò và đề xuất biện pháp phòng trị 63
3.3.1 Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun lươn cho trâu bò 63
3.3.2 Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn đối với trâu bò 65
3.4 Đề xuất một số biện pháp phòng bệnh giun lươn cho trâu bò 68
3.4.1 Tẩy giun lươn cho trâu bò 68
3.4.2 Xử lý phân trâu bò để diệt trứng và ấu trùng giun lươn 69
3.4.3 Vệ sinh chuồng nuôi cho trâu bò 70
3.4.4 Cải tạo đồng cỏ, bãi chăn thả 70
3.4.5 Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng trâu bò 70
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT Ký hiệu chữ viết tắt Nội dung chữ viết đầy đủ
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn tại một số địa phương 38
Bảng 3.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo tuổi trâu bò 42
Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn theo mùa vụ 44
Bảng 3.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở trâu và ở bò 47
Bảng 3.5 Sự ô nhiễm trứng giun lươn ở chuồng trâu bò 48
Bảng 3.6 Sự ô nhiễm trứng giun lươn ở đất xung quanh chuồng nuôi 49
Bảng 3.7 Sự ô nhiễm trứng giun lươn ở bãi chăn thả 50
Bảng 3.8 Sự phát triển của trứng giun lươn trong phân trâu bò 52
Bảng 3.9 Sự tồn tại của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong phân trâu bò 53
Bảng 3.10 Tỷ lệ trâu bò nhiễm giun lươn có triệu chứng lâm sàng 55
Bảng 3.11 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở trâu bò bình thường và tiêu chảy 56
Bảng 3.12 Sự thay đổi hồng cầu, bạch cầu và hàm lượng huyết sắc tố của trâu bò khỏe và trâu bò bị bệnh giun lươn 58
Bảng 3.13 Sự thay đổi công thức bạch cầu của trâu bò bị bệnh giun lươn 61
Bảng 3.14 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun lươn cho trâu bò trên diện hẹp 64
Bảng 3.15 Hiệu lực của một số thuốc tẩy giun lươn cho trâu bò trên diện rộng 66
Bảng 3.16 Độ an toàn của thuốc tẩy giun lươn đối với trâu bò 67
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Giun lươn Strongyloides papillosus 5
Hình 1.2 Sơ đồ vòng đời giun lươn ở trâu bò 8
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn tại một số địa phương ở Thái Nguyên 40
Hình 3.2 Biểu đồ cường độ nhiễm giun lươn tại một số địa phương ở Thái Nguyên 42
Hình 3.3 Đồ thị tỷ lệ nhiễm giun lươn theo lứa tuổi trâu bò 43
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn trâu, bò theo mùa vụ 45
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở trâu và ở bò 47
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun lươn ở trâu bò bình thường và tiêu chảy 56
Hình 3.7 Biểu đồ sự thay đổi số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng huyết sắc tố của trâu bò bị bệnh giun lươn 60
Hình 3.8 Biểu đồ sự thay đổi công thức bạch cầu của trâu bò bị bệnh giun lươn 61
Trang 11DANH MỤC ẢNH
Ảnh 1 Hai mẹ con trâu mắc bệnh giun lươn
Ảnh 2: Thí nghiệm theo dõi sự phát triển và khả năng tồn tại của trứng và ấu
trùng giun lươn trong phân trâu bò ở ngoại cảnh
Ảnh 3 Ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh
Ảnh 4 Mẫu máu trâu bò bị bệnh giun lươn
Ảnh 5 Xét nghiệm các chỉ tiêu huyết học bằng máy Celltac F
Ảnh 6 Mẫu phân trâu bò lấy tại các địa phương về xét nghiệm
Ảnh 7 Mẫu phân bò thu thập tại huyện Đồng Hỷ nhiễm giun lươn nặng Ảnh 8 Trứng giun lươn sau khi theo phân ra ngoại cảnh
Ảnh 9 Một số mẫu cỏ, mẫu đất bề mặt, mẫu cặn nền chuồng
Ảnh 10 Ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh
Ảnh 11 Ấu trùng giun lươn chết ở ngày thứ 15 (x100)
Ảnh 12 Xét nghiệm tìm trứng giun lươn bằng phương pháp Fullerborn
Trang 12
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi trâu bò trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có
từ lâu đời và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước Châu Á, Viễn Đông và Trung cận Đông Trâu, bò là những con vật gắn bó mật thiết với người nông dân, có ý nghĩa lớn trong sản xuất nông nghiệp, nhất là những nơi trồng lúa nước Ross Cokrill W (1982) [36] đã nhận xét: “Con trâu là một con vật có tiềm năng vượt bậc, xét về mặt năng suất, ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thì có thể không thua kém và thậm chí trội hơn cả những loài gia súc khác Tiềm năng này có lẽ cũng có ở những vùng khí hậu ôn hòa của thế giới”
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Chăn nuôi với nhiều phương thức phong phú, đa dạng đã giải quyết tốt công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu, nhất là khi chúng ta vừa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
Việt Nam là nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở vùng nông thôn, đời sống của nông dân phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Trâu bò có vai trò rất lớn trong sản xuất nông nghiệp và đời sống Ngày nay, với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, nhà nước đã đầu tư rất lớn vào cơ khí hóa nông nghiệp, nhưng vấn đề này còn gặp nhiều khó khăn do đặc thù sản xuất nông nghiệp của nước ta vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, địa hình phức tạp, độ dốc lớn, ruộng bậc thang nhiều, người dân đã quen sử dụng sức kéo của trâu bò là chính Hơn nữa, ở nông thôn cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, các nông hộ không có vốn đầu tư lớn cho sản xuất nông nghiệp, trâu bò vẫn là nguồn sức kéo chính, có hiệu quả và rẻ tiền
Trang 13Chăn nuôi trâu bò cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, đồng thời là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp phân hữu cơ cho ngành trồng trọt Để đáp ứng được nhu cầu thị trường, trong những năm gần đây chăn nuôi trâu bò
ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng
Một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển chăn nuôi là nảy sinh vấn
đề dịch bệnh, trong đó có các bệnh ký sinh trùng Việt Nam ở vào khu vực nhiệt đới có gió mùa, lại có những vùng mang tính chất á nhiệt đới và ôn đới,
là một sinh cảnh thuận tiện cho sự sinh sống và phát triển của những sinh vật bậc thấp có hại cho người, vật nuôi… trong đó có giun sán, gồm rất nhiều loài Việt Nam có khu hệ ký sinh trùng động vật phong phú và đa dạng, gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài ra, có một số bệnh ký sinh trùng ở gia súc còn lây nhiễm sang người, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và làm ô nhiễm môi trường sinh thái Trong các bệnh ký sinh trùng ở trâu bò, bệnh giun lươn
(Strongyloidosis) gây nhiều tác hại cho chăn nuôi trâu bò Bệnh gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sức khỏe của gia súc, từ đó ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi
và gây thiệt hại về kinh tế Giun lươn gây tác hại chủ yếu ở gia súc non, nhất là
bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi Có những đàn bê còi cọc, suy nhược, có tỷ lệ chết
nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm giun lươn trâu bò ở Đông Nam Á khá cao: ở Thái Lan là 26,57% (Phocharoen C và cs, 1999) [55], ở Myanmar là 7,4% (Lay
K K và cs, 2007) [49]
Trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu về tình hình nhiễm giun lươn và vai trò của giun lươn trong hội chứng tiêu chảy ở lợn
Trang 14con, ngựa, dê Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về bệnh giun lươn ở trâu, bò còn rất ít
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc có nghề chăn nuôi trâu, bò khá phát triển Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, đến năm 2009 Thái Nguyên có 96.700 con trâu, 43.800 con bò Tuy nhiên, do nhận thức của người dân còn hạn chế nên vấn đề phòng chống bệnh giun lươn chưa được chú ý Vì vậy, chưa có quy trình phòng trị bệnh hiệu quả
Từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho đàn trâu bò Để góp phần làm đầy đủ hơn những thông tin về bệnh giun lươn và có cơ sở khoa học đề xuất quy trình phòng trừ bệnh giun lươn ở trâu
bò, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh giun lươn
(Strongyloidosis) ở trâu, bò tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên
và biện pháp phòng trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp
phòng trị bệnh giun lươn cho trâu bò
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu bệnh giun lươn ở trâu bò của một số huyện, thành, thị của tỉnh Thái Nguyên, làm cơ sở khoa học đề xuất biện pháp phòng trị có hiệu quả, đảm bảo sức khỏe của đàn trâu bò, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun lươn ở trâu bò tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên, về khả năng tồn tại và phát triển của trứng và ấu trùng giun lươn
ở môi trường ngoại cảnh, về một số đặc điểm bệnh lý và lâm sàng của bệnh
- Ý nghĩa thực tiễn: đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh một cách hiệu quả, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Giun lươn ký sinh ở trâu bò
1.1.1.1 Vị trí của giun lươn trâu bò trong hệ thống phân loại
Bệnh giun lươn do giun tròn thuộc họ Strongyloididae (bộ phụ Rhabditata) gây nên Trong đó loài Strongyloides papillosus ký sinh và gây
bệnh giun lươn ở trâu bò (Nguyễn Thị Lê và cs 1996) [17]
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [32], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], giun lươn ở trâu bò có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942
Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933
Họ Strongyloididae Chitwood et MeInstosch, 1934 Giống Strongyloides Grassi, 1879
Loài Strongyloides papillosus Wedl, 1856
1.1.1.2 Đặc điểm hình thái, kích thước các loài giun lươn ở trâu bò
Strongyloides papillosus ký sinh ở ruột non trâu, bò và nhiều loài nhai
lại khác
Đặc điểm cấu tạo giun lươn Strongyloides papillosus:
Theo Skrjabin K I và cs (1963) [37] thì Strongyloides papillosus là
loài giun tròn hình sợi chỉ, rất nhỏ dài 3,5 - 6 mm, và rộng 0,05 - 0,06 mm Thưc quản dài 0,65 - 0,80 mm Hậu môn nằm cách mút đuôi là 0,55 - 0,70
Trang 16mm Âm hộ hình lỗ ngang có môi lồi ra, ở cách mút đuôi khoảng 1,2 - 2 mm Trứng dài 0,04 - 0,06 mm, rộng 0,02 - 0,025 mm
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17]; Phan Địch Lân và cs (2002)
[15], loài Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:
- Con đực chưa được mô tả
- Con cái: cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042 - 0,078 mm Lỗ miệng có 4 môi: 1 môi lưng, 1 môi bụng, 2 môi bên Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm, chỗ rộng nhất 0,024 - 0,054 mm Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm, hai bên có các mấu lồi cutin Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục, 1 buồng chạy về phía trước cơ thể, cách gốc thực quản 0,051 - 0,425 mm thì quay lại, buồng trứng còn lại hướng
về phía sau cơ thể, cách mút đuôi 0,085 - 0,340 mm thì vòng lại Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Tử cung chứa 4 -
75 trứng Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036 mm, trong trứng có ấu trùng
1: Phần giữa thân giun cái 2: Đuôi giun cái
3: Giun cái sống tự do 4: Trứng
Hình 1.1 Giun lươn Strongyloides papillosus
(Nguồn: Phạm Văn Khuê và cs 1996) [6]
Trang 171.1.1.3 Vòng đời của giun lươn
Vòng đời của giun lươn không cần ký chủ trung gian
Theo Phạm Xuân Dụ giun cái trong cơ thể bê đẻ trứng có ấu trùng, trứng theo phân ra ngoài sau 5 - 6 giờ (mùa Hè) trứng phát triển thành ấu trùng hình gậy, sau từ 2 - 3 ngày ấu trùng hình gậy phát triển thành ấu trùng hình sợi có khả năng cảm nhiễm (chu kỳ trực tiếp); hoặc sống tự do ngoài môi trường tự nhiên, giun cái thụ tinh và đẻ trứng, 5 - 6 giờ sau trứng nở thành ấu trùng hình gậy, sau từ 1 - 2 ngày thành ấu trùng hình sợi có khả năng cảm nhiễm Ấu trùng hình sợi xâm nhiễm vào cơ thể bê qua da hoặc theo đường tiêu hóa, rồi theo máu, lâm ba vào phổi, lên hầu, xuống ruột Ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành sau khi xâm nhập từ 6 - 8 ngày; một số ấu trùng theo đại tuần hoàn và tiểu tuần hoàn đến phổi rồi về ruột Trong quá trình di hành, ấu trùng gây tác động cơ giới và tiết độc tố gây viêm phổi; giun lươn ký sinh dưới tầng biểu bì ruột gây viêm ruột, ỉa chảy
Skalinxki E I (1955) cho biết, khi gây nhiễm ấu trùng có sức gây bệnh
Strongyloides papillosus qua da cừu non, dê con, thì sau 30 phút đã phát hiện
thấy ấu trùng trong tế bào dưới da, trong thịt và trong mô mỡ Vào ngày thứ 3 thì thấy những ấu trùng trong phổi, đến ngày thứ 4 thấy sâu trong niêm mạc ruột non (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25]
Miachin P P (1960) còn cho rằng, ấu trùng cảm nhiễm Strongyloides
papillosus có thể chui qua da vào cơ thể ký chủ không đặc hiệu, nhưng ở ký
chủ này chúng không phát triển đến giai đoạn thành thục (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25]
Theo Railliet, những trứng có vỏ dày không nở ở ngoại giới thì các ký chủ phải nuốt trứng đã có ấu trùng, trái lại trứng giun lươn có vỏ mỏng, nở được ở ngoại cảnh thì ấu trùng sống tự do và xâm nhập vào cơ thể ký chủ theo
Trang 18thức ăn, nước uống, hoặc chui qua da (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25]
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết, vòng đời của
Strongyloides papillosus như sau: trứng được bài xuất ra bên ngoài cùng với
phân của động vật nhiễm bệnh Ở nhiệt độ thích hợp, sau 4 - 13 giờ nở ra ấu trùng hình gậy Sự phát triển tiếp theo của ấu trùng theo con đường trực tiếp hoặc gián tiếp
Khi phát triển trực tiếp, ấu trùng hình gậy ở môi trường bên ngoài lột
Gia súc có thể nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm cùng thức ăn, nước uống Cũng có thể nhiễm do ấu trùng xâm nhập qua da lành vào máu, đến phổi, lên họng rồi nuốt xuống ruột non Ở ruột non, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành Từ khi vào ký chủ đến khi thành giun trưởng thành cần 5 - 10 ngày
Tuổi thọ của giun ở gia súc khoảng 5 - 9 tháng
Phạm Sỹ Lăng và cs 2006 [13] cho biết: giun sống trong hoặc dưới lớp niêm mạc của ruột non Giun cái ký sinh và sinh sản đơn tính Giun đực và giun cái sống tự do thực hiện giao cấu ngoài ký chủ Sự cảm nhiễm của vật chủ do nuốt phải ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III và ấu trùng này chui qua
da Sau khi vào cơ thể súc vật cái mang thai, ấu trùng có thể di hành trong máu, qua nhau thai gây nhiễm cho bào thai trước khi sinh Ký sinh trùng còn
có thể xâm nhập vào gia súc sơ sinh qua bú sữa đầu
Ấu trùng sau khi xâm nhập vào máu cũng về phổi, đi vào các phế nang, gây ho và tiết dịch Chúng phát triển trong cơ thể vật chủ đến trưởng thành
Trang 19mất khoảng 9 ngày Sự phát triển của chúng theo 2 con đường: một là vòng đời đơn tính do giun cái trưởng thành đẻ trứng trong cơ thể vật chủ mà không cần thụ tinh Trứng thải qua phân ra ngoài, rồi phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn III Trong phát triển vòng đời hữu tính, giun trưởng thành đẻ trứng ở ruột non, trứng ra ngoài nở ra ấu trùng và phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm Các ấu trùng này phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chúng có thể sống tự do ngoài cơ thể vật chủ Trứng được thụ tinh của nhóm này sẽ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm và được vật chủ nuốt vào cơ thể Giai đoạn này thực hiện khoảng 10 ngày
Nguyễn Phước Tương (2002) [30] cho biết: trứng giun lươn khi được bài
xuyên qua da vào cơ thể và gây bệnh giun lươn cho trâu bò
Êu trïng g©y nhiÔm
♀ x
♂
Giun l-¬n ký sinh
Êu trïng g©y
Trang 20Hình 1.2 Sơ đồ vòng đời giun lươn ở trâu bò
Êu trïng giun l-¬n
Trang 211.1.1.4 Sức đề kháng của giun lươn
Sức đề kháng là khả năng chống lại những tác nhân ngoại cảnh tác động đến sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trứng và ấu trùng giun lươn Việc nghiên cứu về sức đề kháng của trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh,
có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học bệnh giun lươn, đồng thời là cơ sở khoa học để đề ra những biện pháp phòng trị bệnh giun lươn ở trâu bò
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17] cho biết: trứng giun lươn bị diệt nhanh trong hố ủ phân nhiệt sinh học Vào mùa hè nhiệt độ cao, ấu trùng và
C
Theo Kaufmann J (1996) [46], dưới tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ Ở trong nước hoặc trong môi trường có độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng, nếu ẩm độ thấp, khô ráo thì sau 6 - 7 giờ ấu trùng bị chết
Ấu trùng Strongyloides papillosus phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ
250 C và độ ẩm cao, cho nên Strongyloides papillosus lây nhiễm mạnh cho
động vật nhai lại non ở những vùng nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới (Chandrawathani P và cs, 1998) [38]
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 500 C và – 90 C trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [10], điều kiện nóng, ẩm là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển của giun sán, của trứng và ấu trùng
C
1.1.2 Bệnh giun lươn ở trâu bò
1.1.2.1 Những thiệt hại kinh tế do bệnh giun lươn gây ra
Bệnh ký sinh trùng ở gia súc, gia cầm nói chung và bệnh ký sinh trùng
Trang 22không làm cho gia súc chết đột ngột (trừ trường hợp cá biệt) Song chúng đã gây tác hại nghiêm trọng đối với cơ thể vật chủ, làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển của trâu, bò làm cơ thể gầy còm, thiếu máu, khả năng tăng trọng giảm, số lượng và chất lượng thịt giảm, dẫn đến năng suất chăn nuôi giảm
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], phương thức sống ký sinh của giun sán đã làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa từ đó gây viêm ruột ỉa chảy Tác hại của chúng không chỉ là chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ
mà còn tác động lên vật chủ bằng độc tố, đầu độc vật chủ, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho các bệnh khác kế phát
Chu Thị Thơm và cs (2006) [27] cho rằng: những bệnh ký sinh trùng, nhất là những bệnh giun sán thường gây bệnh mãn tính cho vật nuôi, làm sinh trưởng phát dục bị đình tốn, tăng trọng kém, tiêu tốn thức ăn tăng, tốn công chăm sóc, gây trở ngại đặc biệt cho việc vỗ béo gia súc
1.1.2.2 Dịch tễ học bệnh giun lươn
Qua theo dõi nhiều năm ở các nông trường quốc doanh miền Bắc Việt Nam, Phạm Xuân Dụ đã ghi được những nhận xét sau đây: giun lươn gây tác hại chủ yếu ở gia súc non, nhất là bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi
Theo Miachin P P (1960), cừu và dê có thể là những vật mang trùng suốt đời còn bê chỉ trong vòng một năm tuổi
Trâu, bò từ 2 năm tuổi trở lên đã có sức chống đỡ khá với các loài giun tròn, những bệnh do giun tròn gây ra không nặng, nhưng chúng là nguồn tàng trữ và truyền bệnh nguy hiểm cho gia súc non
Theo Phạm Xuân Dụ, bê thải trứng giun lươn Strongyloides papillosus
sớm nhất là 13 ngày sau khi đẻ, bê từ 1 - 4 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất
Bê bị nhiễm bệnh nhiều nhất vào những tháng nóng ẩm, mưa nhiều (tháng 5,
6, 7) Tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm cao thường gặp ở những nơi bãi chăn lầy
Trang 23lội, chuồng trại ẩm ướt, thiếu vệ sinh Trong 2 năm 1971, 1972, ở một nông trường, số bê bị bệnh cao nhất là vào tháng 6 (44 con và 24 con), số bê bị bệnh thấp nhất là vào tháng giêng (9 con và 7 con) Ở nhiệt độ 25 - 300
C, trứng phát triển thành ấu trùng hình gậy sau 2 giờ, thành ấu trùng hình sợi sau
72 giờ (trích theo Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978) [25]
Tác giả cũng cho rằng: ở những vùng đất xốp, ẩm thì thuận tiện cho những giun sán phát triển qua đất như giun lươn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], bệnh giun lươn thấy nhiều
ở súc vật non, súc vật lớn có nhiễm ấu trùng gây nhiễm nhưng khó phát triển thành giun trưởng thành Gia súc già yếu cũng có thể mắc bệnh
Viện thú y quốc gia (2002) [33] cho biết: bệnh giun lươn phần lớn xảy ra
ở bê dưới 5 tuần tuổi, ấu trùng nhiễm qua sữa non hoặc xuyên qua da trong điều kiện ẩm ướt
Như vậy, động vật non đang trong thời kỳ sinh trưởng mạnh dễ bị bệnh
và bệnh phát triển nhanh hơn, nặng hơn so với động vật trưởng thành Động vật trưởng thành và động vật già yếu nhiễm nhẹ và ít hơn, tuy nhiên chúng là những động vật mang trùng, là nguồn bệnh nguy hiểm đối với động vật non
1.1.2.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh giun lươn
Đường bài xuất mầm bệnh:
Trâu bò mắc bệnh, sau một thời gian ấu trùng giun lươn phát triển thành giun trưởng thành, đẻ trứng (trong trứng đã có ấu trùng) theo phân ra ngoài
ngoại cảnh Vì vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên, bắt đầu quá
trình phát triển để tạo thành ấu trùng có sức gây bệnh
Đường xâm nhập vào cơ thể:
Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết: bệnh lây nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian, ấu trùng
có sức gây nhiễm xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua 2 con đường:
Trang 24- Qua da: ấu trùng có sức gây bệnh chui qua da xâm nhập vào cơ thể vật chủ
- Qua đường tiêu hoá: do ăn phải thức ăn nước uống có chứa ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh
Ngoài ra, giun lươn có thể xâm nhập vào cơ thể vật sơ sinh qua bú sữa đầu
Vị trí gây bệnh: giun lươn ký sinh và gây bệnh ở ruột non ký chủ
Quá trình sinh bệnh: ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng, giun
lươn còn gây tác hại nặng nề cho trâu bò
- Tác hại cơ giới: ấu trùng chui qua da, qua mạch máu phổi, các phế nang, làm tổn thương tổ chức cơ quan, gây viêm phổi Giun trưởng thành sống trong niêm mạc ruột non gây viêm ruột, rối loạn tiêu hoá
- Tác hại mang trùng: ấu trùng có thể mang vi khuẩn Salmonella và E coli từ bên ngoài, qua da ký chủ vào cơ thể ký chủ, gây bệnh ghép với bệnh ký sinh trùng
- Tác hại do tiết độc tố: độc tố là những sản phẩm mà giun bài tiết ra làm cho ký chủ trúng độc, gầy còm, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá
- Tác động truyền bệnh: ấu trùng giun lươn chui vào niêm mạc ruột gây tổn thương, phá vỡ phòng tuyến thượng bì Khi ấu trùng giun lươn xuyên qua
da để lại các vết đỏ trên da, tạo điều kiện cho các vi khuẩn từ môi trường ngoài xâm nhập vào cơ thể gây nên các bệnh ghép với ký sinh trùng
1.1.2.4 Triệu chứng và bệnh tích bệnh giun lươn
* Triệu chứng:
Triệu chứng lâm sàng của bệnh thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi con vật, số lượng giun ký sinh Ở trâu bò trưởng thành không thấy biểu hiện triệu chứng lâm sàng, nhưng khi kiểm tra phân mới thấy trâu bò nhiễm giun lươn Thực tế
đã thấy sự có mặt của giun lươn ở những trâu bò hoàn toàn khoẻ mạnh
Trang 25Theo dõi những bê có giun lươn từ 20 - 90 ngày tuổi đều thấy có triệu chứng viêm phổi (ho), viêm ruột (ỉa chảy) hoặc kết hợp cả viêm ruột và viêm phổi Một số bê có sức khỏe tốt và ít trứng giun lươn trong phân thì không phát bệnh Bê 1 - 2 tháng tuổi thường phát bệnh nặng nhất; qua tuổi đó thì tuy
có giun lươn trong cơ thể, nhưng bệnh không phát hay phát nhẹ, (Trịnh Văn Thịnh, 1977) [24]
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [25] giun lươn gây tác hại chủ yếu
ở gia súc non, nhất là bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi, những đàn bê còi cọc, suy nhược, có tỷ lệ chết cao (có khi 20 - 50%)
Gia súc bị mắc bệnh do giun tròn gây ra có biểu hiện gầy yếu, ăn uống kém, da và niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu, viêm ruột, tiêu chảy ở mức độ trung bình, không liên tục (Phạm Ngọc Thạch, 1998) [20]
Viện thú y quốc gia (2002) [33] cho biết: bò bị bệnh giun lươn có các biểu hiện lâm sàng như ỉa chảy gián đoạn, giảm thể trọng, ăn kém, ho, gầy mòn, đôi khi bê chết đột ngột
* Bệnh tích:
Theo Skrjabin K I và cs (1963) [37], khi mổ khám trâu bò bị bệnh giun lươn thấy xác chết gầy còm, nhợt nhạt, da chỗ nếp gấp thường bị chàm, đôi khi có nước rỉ trong xoang bụng Hạch lâm ba màng treo ruột sưng to Niêm mạc ruột và dạ dày đỏ, có nhiều nốt xuất huyết nhỏ
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [25], bệnh tích thể hiện rõ ở gia súc non, ở gia súc trưởng thành và gia súc già bệnh tích không rõ
Khi mổ khám những con vật bị bệnh giun lươn do gây nhiễm, thấy những điểm tụ huyết ở tổ chức dưới da, ở cơ Ở phổi cũng có nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày ruột, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét
Trang 26Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9] cho biết, bệnh tích của bệnh giun
lươn như sau: dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có
nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm
mạc ruột có những điểm tụ huyết, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ
Viện thú y quốc gia (2002) [33] đã mô tả bệnh tích của trâu bò bị bệnh
giun lươn như sau: xuất huyết ở phổi, viêm ruột xuất huyết hoặc viêm cata ở
nơi giun di hành, dị ứng, thối chân, giun trưởng thành rất nhỏ trong niêm mạc
ruột non Quan sát mô bệnh học thấy tá tràng bị ăn mòn và niêm mạc khô, có
sự thâm nhiễm bạch cầu ở ruột non, viêm cata ruột non, phổi xung huyết
1.1.2.5 Chẩn đoán bệnh giun lươn
Việc chẩn đoán bệnh giun lươn ở trâu bò có thể dựa vào tình hình dịch
tễ, triệu chứng lâm sàng của bệnh, xét nghiệm mẫu phân trâu bò và kiểm tra bệnh tích
* Với trâu bò còn sống:
Để chẩn đoán có thể căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và đặc điểm dịch
tễ của bệnh
Những triệu chứng lâm sàng cần chú ý là: trâu bò bỏ ăn, gầy yếu, lông
xù, ỉa chảy, ho
Về đặc điểm dịch tễ học, cần căn cứ vào lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ,
tình trạng vệ sinh thú y Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào những đặc điểm nói
trên để chẩn đoán thì sẽ không chính xác Bởi vì các bệnh ký sinh trùng
thường có những triệu chứng lâm sàng tương tự nhau (rối loạn tiêu hóa, ăn
uống kém, thể trạng gầy, da khô, lông xù…) Vì vậy, để chẩn đoán chính xác
bệnh giun lươn phải tiến hành xét nghiệm phân tìm trứng giun lươn Có rất
nhiều phương pháp xét nghiệm như: Darling, Fullerborn, Cherbovick, đếm
trứng giun lươn trên buồng đếm Mc Master
Phương pháp Fullerborn là phương pháp dùng để xét nghiệm phân tìm
trứng Strongyloides papillosus ở trâu bò
Trang 27Nguyên lý của phương pháp này dựa trên sự chênh lệch về tỉ trọng của dung dịch muối NaCl bão hòa (d = 1,18) lớn hơn tỷ trọng của trứng giun lươn,
do đó trứng giun sẽ nổi lên trên, ta có thể tìm thấy trứng giun lươn dưới kính hiển vi (độ phóng đại x 100)
Dung dịch muối bão hòa được pha bằng cách: lấy 1 lít nước sôi, cho
380 gam muối NaCl vào (hoặc đun sôi nước, cho từ từ muối vào), khuấy đều đến khi muối không tan được nữa, khi để nguội trên mặt có lớp muối kết tinh
là được Lọc qua vải màn hoặc bông, bỏ cặn
Cách xét nghiệm như sau: lấy 5 – 10 gam phân cho vào một cốc nhỏ, dùng đũa thủy tinh nghiền nát, vừa nghiền vừa đổ nước muối bão hòa vào, khoảng 40 – 50 ml, lọc qua lưới thép bỏ cặn, nước lọc được đổ vào ống thủy tinh sao cho đầy đến miệng, đậy phiến kính sạch lên cho tiếp xúc với mặt nước, để khoảng 15 phút rồi lấy phiến kính ra soi trên kính hiển vi tìm trứng giun lươn
Phương pháp Darling cũng có thể dễ dàng chẩn đoán bệnh giun lươn: nguyên lý chung là lợi dụng sự chênh lệch về tỷ trọng giữa dung dịch NaCl bão hòa và trứng giun lươn, đồng thời lợi dụng lực li tâm để phân li trứng giun lươn ra khỏi phân Sau đó dùng vòng thép vớt váng phía trên, ta sẽ thu được trứng giun lươn
Ngoài ra, phương pháp Cherbovick với dung dịch sulfat magie bão hòa cũng được sử dụng làm nổi trứng
Có thể dùng phương pháp đếm trứng giun lươn trên buồng đếm Mc Master để xác định số trứng giun lươn/ gam phân
Phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc Master gồm các bước sau:
- Bước 1: cân 4 gam phân vào cốc thủy tinh, thêm nước lã sạch (khoảng
100 – 150 ml), khuấy tan phân, lọc bỏ cặn bã thô Nước lọc để lắng trong 1 - 2 giờ, gạn bỏ nước, giữ lại cặn
Trang 28- Bước 2: cho 56 ml dung dịch nước muối bão hoà, khuấy đều cho tan cặn Trong khi đang khuấy, lấy công tơ hút hút 1 ml dung dịch phân nhỏ đầy hai buồng đếm Mc Master, để yên 5 phút rồi kiểm tra dưới kính hiển vi (độ phóng đại 10 x 10)
Đếm toàn bộ số trứng trong những ô của hai buồng đếm, rồi tính theo công thức sau:
Số trứng/ 1 gam phân = Tổng số trứng ở hai buồng đếm x 60
4 (Tổng số trứng ở hai buồng đếm là số trứng có trong 1 ml dung dịch phân)
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) [9], chẩn đoán bệnh do
Strongyloides bằng phương pháp Fullerborn là phương pháp đơn giản và
hiệu quả Nhưng cần nhớ rằng trứng Strongyloides nở ra ấu trùng hình gậy
rất nhanh (sau 3 - 4 giờ), vì vậy phân thải ra ngoài quá 5 giờ thì không những cần phải soi phân tìm trứng mà còn phải tìm cả ấu trùng theo phương pháp Baerman
* Với trâu bò chết:
Đối với nhiều bệnh giun sán, phương pháp chẩn đoán sau khi con vật chết là chính xác nhất Việc chẩn đoán bệnh giun lươn chủ yếu là soi phân tìm trứng thì mới được kết quả chính xác
1.1.2.6 Phòng trị bệnh giun lươn cho trâu bò
* Phòng bệnh:
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, có rất nhiều hóa dược được dùng để điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hóa nói chung và bệnh giun lươn nói riêng Tuy nhiên, theo quan điểm của Skrjabin K I và cs (1963) [37], muốn thanh toán bệnh giun sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động Dùng tất cả mọi phương pháp vật lý (ánh sáng, nhiệt độ), cơ giới, hóa học
Trang 29(thuốc), sinh vật học để tiêu diệt giun sán trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu trùng, giun sán trưởng thành)
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], đã vận dụng học thuyết Skrjabin đưa ra biện pháp phòng chống bệnh giun sán Tác giả cho rằng, biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun lươn là phòng chống tổng hợp, nghĩa là
ở những vùng sinh thái nhất định, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát triển của trứng ở môi trường ngoài ký chủ
Bowman D D (1996) [37] cho biết: biện pháp tẩy giun trước khi gia súc trưởng thành có tác dụng phòng bệnh rất tốt Hầu hết các tác giả đều cho rằng: Phenothiazin có tác dụng ức chế giun trưởng thành đẻ trứng và tẩy cả giun non, nên dùng mang tính chất phòng bệnh
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [16], việc phòng bệnh giun lươn cho trâu, bò gồm: diệt trùng ở động vật gồm các nội dung như chẩn đoán bệnh chính xác, xác định quy mô diệt trùng, định kỳ tẩy giun… diệt trùng ở phân bằng ủ nóng sinh vật học; diệt trùng bằng cách luân phiên chăn thả gia súc và
tổ chức vệ sinh nơi uống nước
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [13], việc phòng bệnh gồm các vấn
đề sau:
- Thực hiện đầy đủ biện pháp vệ sinh thú y như giữ chuồng trại sạch sẽ, khô ráo, thông thoáng để hạn chế sự tồn tại của ấu trùng giun lươn Bãi chăn thả cũng cần giữ khô ráo, định kỳ sử dụng thuốc diệt trùng: dung dịch NaOH 3% để diệt ấu trùng
- Ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng một trong các loại hoá dược đặc hiệu tẩy dự phòng trước khi sinh
- Thực hiện ủ phân để diệt trứng giun
Trang 30Các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp sau để phòng trừ giun lươn cho trâu, bò:
+ Định kỳ dùng thuốc tẩy giun
+ Tập trung phân ủ để diệt trứng và ấu trùng
+ Không chăn thả, làm chuồng ở nơi ẩm thấp
+ Không cho trâu bò uống nước bẩn, nước tù đọng
*Điều trị:
Điều trị bệnh giun lươn cho súc vật rất khó khăn, vì giun nằm sâu dưới lớp niêm mạc ruột nên thuốc tác dụng yếu Nên dùng thuốc đặc hiệu để tẩy giun, ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, tiêu độc nơi có bệnh Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và vitamin cho con vật ốm, giữ vệ sinh thức
ăn nước uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi
Trịnh Văn Thịnh (1977) [23] cho rằng: để công tác điều trị các bệnh giun sán bằng thuốc hóa học đạt kết quả mong muốn Dùng Ditiazinin có hiệu lực rõ rệt với giun lươn và giun tóc
Theo Nguyễn Phước Tương (1994) [28], Levamisol có hoạt lực rộng đối với giun tròn, trong đó có giun lươn Thuốc có khả năng làm tê liệt và tăng sự co bóp của ruột nên hiệu quả điều trị cao Thiabendazol liều 50 mg/
Kg TT, hiệu quả đạt 60 – 80% Mebendazol: liều 5 – 7 mg/ Kg TT Hiệu quả đạt 96 – 100%
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [17], đã khuyến cáo rằng, để tẩy giun đạt hiệu quả cần biết một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán chính xác bệnh, sau đó tẩy cho những con vật bị nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy cho cả đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được Tốt nhất là nên tẩy vào mùa Xuân (tháng 3 - 4 ) và mùa Thu (tháng 8 -
Trang 319) Sau khi tẩy phải nhốt trâu, bò trong chuồng 3 - 5 ngày để tập trung phân ủ, diệt mầm bệnh, sau 15 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc
+ Đối với ấu trùng tự do ngoài tự nhiên: không cho ấu trùng vào cơ thể ký chủ bằng cách: cách ly con ốm, tiêu độc dụng cụ chuồng nuôi và xung quanh chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [11]: các loại thuốc như Mebendazol, Thiabendazol có tác dụng hiệu quả với giun lươn trâu bò
Hoàng Tích Huyền và cs (1998) [4] cho biết, Thiabendazol có hiệu lực
tốt với giun tròn, trong đó có giun lươn (Strongyloides papillosus) Thuốc có
tác dụng đặc hiệu ức chế sự phát triển của trứng và ấu trùng giun trong cơ thể động vật Thiabendazol còn ức chế sự tiết acetylcholinesterase, cản trở giun tròn di chuyển
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9], điều trị bệnh giun lươn ở
bò, dê, bê, cừu dùng Thiabendazol liều 66 mg/ Kg TT, trộn thức ăn hoặc cho vào nước uống thành nhũ tương
Nguyễn Phước Tương và cs (2000) [29] cho biết: dùng Haloxon (dẫn xuất của lân hữu cơ) có hiệu lực tốt với các bệnh giun tròn trong đó có
Strongyloides papillosus với liều 40 mg/ Kg TT (liều không quá 20 g/ con)
Mebeldazol có hiệu lực thấp hơn với strongyloides so với các bệnh giun tròn
khác, liều 10 mg/ Kg TT Nemafax bột được dùng để diều trị bệnh giun lươn
đường ruột Strongyloides ở trâu bò với liều 17,5 - 25 ml/ 50Kg TT cho uống
bằng cách hòa 250 g Nemafax bột vào 1 lít nước sạch, khuấy kỹ để thu được nhũ tương 14% Thiophanat
Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12] cho biết, Mebendazol có tác dụng tẩy hầu hết với giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa trong đó có giun lươn trâu bò, liều 10 - 15 mg/ Kg TT, Thiabendazol có tác dụng với giun lươn liều 60 - 100 mg/ Kg TT
Trang 32Theo Phạm Đức Chương và cs (2003) [1], có thể dùng Fenbendazole liều 3 mg/ Kg TT/ ngày, dùng trong 3 ngày, có hiệu lực 81% đối với giun lươn Ivermectin dùng liều cho uống 0,2 mg/ Kg TT hoặc tiêm dưới da đạt hiệu lực 97 – 100% đối với các dạng trưởng thành và ấu trùng của giun lươn
và nhiều loại giun tròn khác
Theo Bùi Thị Tho (2003) [26], Mebendazol có tác dụng tốt với giun lươn trâu bò, với liều 10 mg/ Kg TT Albendazol dùng với liều 7,5 mg/ Kg TT
có tác dụng với bệnh giun lươn trâu bò Oxfendazol có tác dụng tốt với giun lươn trâu bò khi sử dụng ở liều 66 mg/ Kg TT
Theo tác giả thì Thiabendazol làm rối loạn tập hợp các vi ống, ức chế tiết acetylcholinesterase, cản trở giun lươn di chuyển, dùng liều 100 mg/ Kg
TT, có thể tăng lên 300 - 400 mg/ Kg TT cũng chưa có biểu hiện độc
Theo Phạm Khắc Hiếu (2009) [2], các Benzimidazol như Albendazol, Fenbendazol có tác dụng tốt với giun tròn khi cho uống
1.2 Tình hình nghiên cứu về bệnh giun lươn
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nước ta, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm, là điều kiện rất thuận lợi cho trứng và ấu trùng giun lươn phát triển ở ngoại cảnh Bệnh giun lươn là một bệnh có tỷ lệ nhiễm khá cao ở trâu, bò, dê, cừu, bê, thỏ,
gây thiệt hại về kinh tế cho các hộ chăn nuôi
Ở vùng nửa đồi núi tỉnh Ninh Bình (rừng quốc gia Cúc Phương và nông trường Phùng Thượng), Phan Địch Lân và cs (1974) đã phát hiện thấy
Strongyloides papillosus ở trâu
Đào Hữu Thanh (1975) [21] điều tra bệnh ký sinh trùng ở một số cơ sở
chăn nuôi thuộc 5 khu vực khác nhau thấy trâu bò nhiễm Strongyloides và
nhiều loại giun tròn khác
Qua theo dõi nhiều năm ở các nông trường quốc doanh miền Bắc Việt Nam, Phạm Xuân Dụ nhận xét: giun lươn gây tác hại chủ yếu ở gia súc non,
Trang 33nhất là bê nghé từ 1 - 6 tháng tuổi Có những đàn bê còi cọc, suy nhược, có tỷ
lệ chết cao (có khi 20 – 50%)
Trâu, bò từ 2 năm tuổi trở lên đã có sức chống đỡ khá với các loài giun tròn, những bệnh do giun tròn gây ra không nặng, nhưng chúng là nguồn truyền bệnh nguy hiểm cho gia súc non
Tỷ lệ nhiễm Strongyloides ở bê 1 - 6 tháng tuổi là 60,12%; bê 7 - 12
tháng tuổi là 12%; bê 13 - 24 tháng tuổi là 11%; trên 24 tháng tuổi là 2%
Phạm Xuân Dụ (1971 - 1974) theo dõi bệnh giun lươn trên 130 bê từ sơ sinh đến sáu tháng tuổi tại một nông trường thấy: bê thải trứng giun lươn theo phân sớm nhất là 13 ngày sau khi đẻ; bê từ 1 - 4 tháng tuổi có tỷ lệ cảm nhiễm
và cường độ cảm nhiễm cao nhất Tỷ lệ bê cảm nhiễm giun lươn cao hơn giun đũa Theo dõi bê từ 20 - 90 ngày tuổi, thấy có 6 con bị ỉa chảy, 5 con bị ỉa chảy kết hợp viêm phổi và 1 con viêm phổi Tác giả thấy tình hình nhiễm một
số loài giun tròn như sau: giun lươn 12/ 12, giun đũa 5/ 12, giun tóc 4/ 12 Trứng của các loài giun tròn khác chỉ thấy ở bê từ 52 ngày tuổi trở lên Một số
bê có sức khỏe tốt, và số lượng trứng giun lươn thấp trong phân, thì không thấy phát bệnh Tỷ lệ phát bệnh cao nhất ở bê từ 1 - 2 tháng tuổi, sau đó tỷ lệ nhiễm giun vẫn cao nhưng tỷ lệ phát bệnh giảm (dẫn theo Trịnh Văn Thịnh và
cs, 1978) [25]
Phan Địch Lân (1985) [14] cho biết, tỷ lệ nhiễm giun lươn ở trâu Murra nuôi tại Phùng Thượng qua các năm như sau:
Năm 1978 tỷ lệ nhiễm giun lươn là 4,5%
Năm 1979 tỷ lệ nhiễm giun lươn là 8%
Năm 1980 tỷ lệ nhiễm giun lươn là 10%
Năm 1981 tỷ lệ nhiễm giun lươn là 12%
Năm 1982 tỷ lệ nhiễm giun lươn là 18%
Tỷ lệ nhiễm giun lươn ở trâu Murra nuôi ở hợp tác xã Trực Chính và
Trang 34Trâu dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 35%
Trâu dưới 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 25%
Trâu trưởng thành tỷ lệ nhiễm là 12%
Nguyễn Thị Kim Lan và cộng sự (1997) [7] cho biết: tỷ lệ nhiễm
Strongyloides papillosus ở dê là 12,8%, trong đó cường độ nhiễm nặng và rất
nặng chiếm 23,1%
Dê nhiễm Strongyloides papillosus tăng từ 1 – 4 tháng tuổi đến 5 – 8
tháng tuổi (22,5% - 23,2%), từ 9 tháng tuổi trở đi tỷ lệ nhiễm giun giảm dần, tương ứng: Giai đoạn 9 – 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 17%, giai đoạn 13 – 24 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 17,8%, giai đoạn trên 24 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm là 10,2% (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1997) [8]
Viện thú y quốc gia (2002) [34] cho rằng tỷ lệ nhiễm giun lươn ở dê và loài nhai lại ở miền Bắc nước ta là 24,5%
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Hovorka J và cs (1975) [42] cho biết, sử dụng Fenbendazole với liều
5 mg/ Kg TT để tẩy cho trâu bò nhiễm Strongyloides papillosus đạt hiệu
quả 100%
Điều tra xác định tỷ lệ nhiễm theo mùa vụ của giun sán đường tiêu hóa
ở bò sữa Maine, Yazwinski T A và cs (1975) [63] kết luận: tỷ lệ nhiễm
Strongyloides papillosus ở bò là 64,6%, tỷ lệ nhiễm cao nhất vào tháng 5 - 6
và thấp nhất vào tháng 1 – 2
Theo Horchner F và cs (1978) [41], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng
đầu sau khi sinh ở vùng Đông Nam Thái Lan tới 30% do Strongyloides
papillosus và Neoascaris vitulorum
Theo Usanakorkul S (1987) khoảng 10 – 30% nghé ở Thái Lan bị chết trước khi chúng cai sữa bởi nguyên nhân là ký sinh trùng (dẫn theo Lê Thị Thanh Nhàn, 2008) [19]
Trang 35Panchadcharam và cs (1988) [54], dùng thuốc Oxfendazol và
Ivermectin trên 75 bê bị nhiễm Strongyloides papillosus thấy hiệu lực đạt
trên 80%
Sattawaphaet W (1989) [57] cho trâu, bò uống một liều duy nhất
Thiophanate là 50 mg/ Kg TT, hiệu lực tẩy Strongyloides papillosus đạt
90,8 – 96,3%
Nikitin V F (1990) [52] cho biết: tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus
ít xảy ra ở bê 13 - 15 ngày tuổi, nhiễm nhiều ở bê 1 - 2 tháng tuổi trở lên
Trong trường hợp bê bị nhiều bệnh nhiễm trùng thì tỷ lệ nhiễm Strongyloides
papillosus là 31,2% cho bê từ 1 - 2 tháng tuổi Trong trường hợp bê bị một
bệnh nhiễm trùng tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus là 9,1%.
Tassi P và cs (1990) [59] cho biết: sử dụng Ivermectin trên 34 bê được
gây nhiễm Strongyloides papillosus bằng cách tiêm dưới da với liều 0,2 mg/
Kg TT cho hiệu quả điều trị 99%
Taira N và cs (1991) [58] cho biết: 152 bê bị chết ở 3 trang trại phía
Nam Nhật Bản, xét nghiệm phân thấy nhiễm Strongyloides papillosus nặng,
kèm theo những tổn thương ở mô phổi do sự di hành của ấu trùng Tác giả sử dụng Thiabendazole hoặc Ivermectin để điều trị bệnh thì không còn thấy bê bị chết nữa
Zhang xie Hongliao Yiqiang (1991) [64] nghiên cứu vòng đời của
Strongyloides ở trâu tại Quảng Tây Trung Quốc thấy có chu kỳ sống tự do và
chu kỳ một ký chủ Chu kỳ sống tự do gián tiếp phát triển, trứng giun phát triển thành ấu trùng và thành ấu trùng có sức gây bệnh, sau đó phát triển thành giun đực và giun cái trưởng thành Chu kỳ phát triển trực tiếp, trứng phát triển
thành ấu trùng rồi thành ấu trùng có sức gây bệnh Strongyloides phát triển
thành con cái trưởng thành mất ít nhất 8 ngày sau khi nhiễm
Trang 36Islam F M S (1992) [43] nghiên cứu tỷ lệ nhiễm các loài ký sinh trùng
ở trâu tại Bangladesh kết quả cho thấy trâu mắc tới 14 loài giun tròn, trong đó
tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus từ 14,8% - 21,6%
Tsuji N và cs (1992) [60] tiến hành gây nhiễm Strongyloides papillosus
cho 8 bê kết quả thấy 6 bê bị chết sau 11 - 16 ngày gây nhiễm với các biểu hiện nhịp tim tăng, rung tâm thất Các tác giả kết luận rằng bê bị nhiễm nặng
bị chết do tim ngừng đập đột ngột
Ura S và cs (1992) [61] tiến hành gây nhiễm cho 4 bê với số lượng
Strongyloides papillosus khác nhau thấy: tần số hô hấp tăng lên, nhiệt độ cơ
thể gần như bình thường, chỉ có 1 bê thấy tăng nhẹ sau 2 - 3 ngày gây nhiễm
Jones R M và cs (1993) [45] nghiên cứu trên 634 trâu bò ở khắp Bắc
Mỹ và châu Âu để đánh giá hiệu quả của Doramectin với Strongyloides
papillosus và các loại giun tròn khác Tác giả sử dụng liều 200 mg/ Kg TT
Doramectin cho hiệu quả đạt 99,6% với Strongyloides papillosus và nhiều loại
giun tròn khác
Nakanishi và cs (1993) [51] tiến hành kiểm tra sinh hóa, huyết học và
thay đổi mô học của 9 bê sau gây nhiễm Strongyloides papillosus Kết quả 6
bê chết đột ngột với liều gây nhiễm cao, còn 3 con sống với liều gây nhiễm
thấp hơn Các chỉ số huyết học của bê nhiễm Strongyloides papillosus thay
đổi không rõ rệt ngoại trừ số lượng bạch cầu ái toan tăng lên Một trong 4 con giảm đường huyết sau khi chết
Sangvaraond A và cs (1993) [56] nghiên cứu mẫu phân của 192 bê bản
địa từ 1 – 6 tháng tuổi thấy tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus là 19,8%
Nakamura Y và cs (1998) [50] cho rằng: bê và cừu nhiễm
Strongyloides papillosus ở cường độ nặng có biểu hiện bị ngừng tim do rung
thất nhưng trước đó nhịp tim tăng nhanh liên tục Dùng Ivermectin điều trị
Trang 37cho bê và cừu nhiễm giun lươn thấy, sau khi dùng nhịp tim tăng nhanh và giảm dần sau 10 giờ, sau đó lại tăng nhanh và biến mất sau 39 giờ điều trị
Phocharoen C và cs (1999) [55] nghiên cứu sự ô nhiễm của trứng giun lươn trên 143 con bê và bò sữa thấy: tỷ lệ nhiễm là 26,57% Các gia súc đã được tẩy trước đó 4 tháng bởi Albendazole đã ít bị ô nhiễm trứng hơn so với nhóm không được điều trị Các chuyên gia khuyến cáo nên tẩy giun cho bê 4 tháng một lần
Ribeiro M G (2000) [53] kiểm tra phân của 106 bê nghé ở giai đoạn 3 – 45 ngày tuổi tại Brazil, trong đó có 48 con bị tiêu chảy và 58 con không bị tiêu chảy, kết quả cho thấy: có 40/48 con bị tiêu chảy thấy nhiễm
Strongyloides papillosus (chiếm tỷ lệ 83,33%) và 49/58 con không bị tiêu
chảy thấy nhiễm Strongyloides papillosus (chiếm tỷ lệ 84,48%) Strongyloides
papillosus là ký sinh trùng phổ biến nhất ở bê nghé, xảy ra ở tuần tuổi đầu
tiên Tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở tuần tuổi thứ 4 (chiếm 50%)
Kulisic Z và cs (2003) [47] kiểm tra phân của bê từ sơ sinh đến 6 tháng
tuổi ở Serbia thấy: tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus là 24,83%, trong đó,
tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở lứa tuổi 1 – 2 tháng tuổi (> 40%), tiếp đến là lứa tuổi
4 – 6 tháng tuổi (> 30%) và thấp nhất là lứa tuổi dưới 1 tháng tuổi (khoảng 17%) Tác giả phát hiện thấy bê thải trứng ở ngày tuổi thứ 18 sau khi sinh
Jiménez - Rocha A E (2007) [44] tiến hành khảo sát kiểm tra tình hình nhiễm ký sinh trùng đường tiêu hóa tại 2 trang trại bò thịt ở Costa Rica, kết
quả cho thấy: tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus ở hai trang trại lần lượt là
29,8% và 31,7% Tác giả nhận xét tuổi gia súc và lượng mưa có ảnh hưởng
đến tỷ lệ nhiễm Strongyloides papillosus ở bò
Theo Kvac M và cs (2007) [48], tỷ lệ và cường độ nhiễm Strongyloides
papillosus trên các đàn bò ở cao nguyên của Nam Bohemia (Cộng hòa Séc)
Trang 381902 mẫu phân có 4,3% mẫu dương tính, cường độ nhiễm bình quân 5000 trứng, cũng tìm thấy trứng giun lươn ở những bê bị chết đột ngột và không có dấu hiệu lâm sàng trước khi chết Thay đổi bệnh lý ở phổi gây ra do sự di hành của ấu trùng với biểu hiện như có u hạt viêm mủ và bạch cầu ái toan tăng lên trong quá trình viêm
Lay K K (2007) [49] phân tích 690 mẫu phân trâu bò từ 6 vùng khác
nhau thấy: tỷ lệ nhiễm Strongyloides là 7,4%, tỷ lệ nhiễm cao nhất ở bê 5 tuần tuổi (15%) Các tác giả nghi ngờ Strongyloides papillosus có thể truyền qua
nhau thai, quan sát thấy những trang trại dùng Ivermectin thì tỷ lệ nhiễm
Trang 39CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian và vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trâu bò các lứa tuổi ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên
- Bệnh giun lươn ở trâu, bò
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa bàn triển khai đề tài: Thị xã Sông Công, TP Thái Nguyên, huyện Đồng Hỷ
Chúng tôi lựa chọn 3 huyện, thành, thị của tỉnh Thái Nguyên để thực hiện đề tài nghiên cứu dựa trên các cơ sở sau:
+ Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi ở phía Bắc có tổng đàn trâu bò tương đối lớn
+ Ba địa phương trên có phương thức chăn nuôi đa dạng, vừa chăn nuôi theo quy mô tập trung, vừa có hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ ở các hộ gia đình
- Địa điểm xét nghiệm: phòng thí nghiệm khoa chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trung tâm huyết học và truyền máu – Bệnh viện đa khoa Thái Nguyên
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: tháng 10/ 2010 đến tháng 9/ 2011
2.1.4 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu phân tươi của trâu bò các lứa tuổi
- Mẫu cặn nền chuồng, mẫu đất bề mặt xung quanh chuồng nuôi, mẫu đất bề mặt, mẫu nước đọng ở bãi chăn thả trâu bò
Trang 40- Mẫu máu (để xác định sự thay đổi một số chỉ số huyết học)
- Dung dịch muối NaCl bão hoà, kính hiển vi quang học có hệ thống màn hình
- Buồng đếm Mc Master, máy ly tâm và một số dụng cụ thí nghiệm khác
- Thuốc điều trị bệnh giun lươn: Vimectin, Levamisole, Benvet 600
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh giun lươn trâu, bò tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên
* Tình hình nhiễm giun lươn ở trâu, bò
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn tại một số địa phương
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo tuổi trâu bò
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở trâu và bò
* Nghiên cứu trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh
- Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở ngoại cảnh
+ Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở chuồng nuôi
+ Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở đất xung quanh chuồng nuôi + Sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun lươn ở bãi chăn thả
- Sự phát triển của trứng giun lươn ở ngoại cảnh
+ Sự phát triển của trứng giun lươn trong phân trâu bò
+ Sự tồn tại của ấu trùng giun lươn có sức gây bệnh trong phân trâu bò
2.2.2 Nghiên cứu bệnh giun lươn ở trâu bò
- Tỷ lệ trâu bò nhiễm giun lươn có triệu chứng lâm sàng của bệnh giun lươn
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun lươn ở trâu bò khỏe và trâu bò tiêu chảy
- Một số chỉ tiêu huyết học của trâu bò bình thường và trâu bò bị bệnh giun lươn