1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tóm tắt luận án kiểu truyện con vật tinh ranh trong truyện dân gian việt nam và thế giới

27 800 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 266,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong kiểu truyện này, nhân vật chính – một con vật nhỏ bé nhưng tinh ranh thường sử dụng mưu mẹo để đánh lừa, chơi khăm hoặc giúp đỡ các nhân vật khác.. Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứ

Trang 1

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

- Thư viện trường Đại học Văn Hiến Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

MỞ ĐẦU0.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam và thế giới, kiểu truyện con vật tinh ranh là một trong những kiểu truyện quen thuộc và tiêu biểu Trong kiểu truyện này, nhân vật chính – một con vật nhỏ bé nhưng tinh ranh thường sử dụng mưu mẹo để đánh lừa, chơi khăm hoặc giúp đỡ các nhân vật khác Đây là kiểu truyện mà tính duy lý chiếm

ưu thế Kiểu truyện còn hấp dẫn bởi tính nhân văn và ý nghĩa thẩm mỹ Tuy hướng

nghiên cứu theo kiểu truyện đã xuất hiện từ lâu nhưng đến nay, kiểu truyện này vẫnchưa được nghiên cứu một cách thấu đáo, chuyên sâu Do vậy, chúng tôi chọn nghiên

cứu đề tài Kiểu truyện con vật tinh ranh trong truyện dân gian Việt Nam và thế giới để

có cái nhìn hệ thống về kiểu truyện, qua đó giúp ta có “cái nhìn tham chiếu” đầy đủ,sáng tỏ về giá trị nội dung và hình thức của kiểu truyện

0.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

0.2.1.Việc tập hợp các truyện kể của kiểu truyện giúp ta thấy được sự phân bố,

sự phổ biến của kiểu truyện trên phạm vi toàn cầu, cũng như thấy được diện mạo, đặcđiểm, đặc trưng của nó bên cạnh những kiểu truyện khác

0.2.2 Nghiên cứu kết cấu, nhân vật, hệ thống motif,… để làm nổi rõ nét đặctrưng của kiểu truyện, thấy được những đặc trưng trong truyện dân gian những khu vực,quốc gia, châu lục khác

0.2.3 Việc đối chiếu Bảng tra cứu A – T với kiểu truyện vừa khẳng định tính ứng dụng của Bảng tra cứu, vừa góp phần bổ sung một số type truyện của Việt Nam cũng

như của một số nước mà công trình trên chưa “phủ sóng” đến

03 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những truyện dân gian thỏa mãn hai tiêu chí:

Nhân vật chính là loài vật và chúng phải có tính cách tinh ranh Dựa vào 103 tuyển tập

truyện kể, chúng tôi tập hợp được 512 truyện thuộc kiểu truyện

0.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.4.1 Phương pháp thống kê - phân loại: Nhờ phương pháp thống kê giúp

thấy được sự phân bố của kiểu truyện và để tiến hành phân loại các truyện kể

Trang 3

0.4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp: để phân tích kết cấu, nhân vật và

một số motif để tìm ra được bản chất và đặc trưng của kiểu truyện

0.4.3 Phương pháp so sánh – loại hình: giúp chúng tôi thấy được những tương

đồng và dị biệt về nhân vật, kết cấu, motif,… giữa các dân tộc, đất nước, khu vực, châulục Phương pháp này sẽ được vận dụng cách đặc biệt trong chương V – chương so sánh

đối chiếu các type trong Bảng tra cứu A – T với các type trong kiểu truyện

0.4.4 Phương pháp lịch sử - địa lý: Phương pháp lịch sử - địa lý nhằm mô tả

mô hình kết cấu của type truyện và các motif

0.4.5 Phương pháp mô hình hóa: Trên cơ sở những phân tích, khảo sát về tên

gọi, các dạng kết cấu, chúng tôi mô hình hóa thành các công thức, sơ đồ

0.5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

0.5.1 Luận án phác họa chân dung kiểu truyện, là tiền đề giúp các nhà khoa họctìm hiểu, nghiên cứu truyện loài vật nói chung – một tiểu loại vốn ít được quan tâmnghiên cứu cả ở Việt Nam và thế giới

0.5.2 Việc so sánh kiểu truyện của các nước, các khu vực, châu lục để phát hiệngiá trị độc đáo riêng biệt cũng như nét chung mang tính toàn cầu của kiểu truyện

0.5.3 Việc luận án dành Chương 5 để so sánh, đối chiếu với Bảng tra cứu A – T

sẽ cung cấp thêm tư liệu cho các nhà nghiên cứu folklore Việt Nam đang và sẽ thực hiệnviệc xây dựng Bảng chỉ dẫn về hệ thống type và motif truyện dân gian Việt Nam

0.6 KẾT CẤU LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 5 chương

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.

- Chương 2: Kết cấu của kiểu truyện con vật tinh ranh.

- Chương 3: Nhân vật của kiểu truyện con vật tinh ranh.

- Chương 4: Một số motif thường gặp của kiểu truyện con vật tinh ranh.

- Chương 5: Kiểu truyện con vật tinh ranh và Bảng tra cứu A – T.

Trang 4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ

LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SƯU TẦM, BIÊN DỊCH VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Về tình hình sưu tầm, biên dịch các tập truyện

Về tình hình sưu tầm trong nước: Sau CMT8, hoạt động sưu tầm, biên dịch trở

thành một hoạt động mang tính khoa học Bên cạnh các công trình sưu tầm truyện cổ

người Việt còn có các tuyển tập truyện cổ của các dân tộc anh em Một số công trình

xuất hiện khá nhiều truyện kể của kiểu truyện đang khảo sát như: Truyện cổ dân gian các dân tộc Việt Nam; Truyện cổ các dân tộc thiểu số miền Nam (2 tập); Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập); bộ Tổng tập Văn học dân gian người Việt (19 tập, 20 quyển); và bộ Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (23 tập),

Về công tác biên dịch: Từ những năm 60 của thế kỷ trước, công tác biên dịch

truyện cổ của các nước anh em cũng bắt đầu được chú ý Liên quan đến đề tài nghiên cứu, bản dịch sớm nhất là Truyện dân gian Lào (1962), Truyện dân gian Trung Quốc

(1963),… Từ những năm 80 - 90, công việc biên dịch càng được đẩy mạnh Có thể kể

đến những công trình nổi tiếng như: Truyện cổ Grim, Truyện cổ dân gian Bêlôrútxia, Truyện dân gian Nga, Truyện kể dân gian châu Phi, và bộ tuyển tập Truyện cổ năm châu, tuyển tập Kho tàng truyện cổ thế giới cũng như tuyển tập về các nước trong khu

vực Đông Nam Á của Ngô Văn Doanh Gần đây, một số tác giả biên soạn, tuyển chọntruyện kể theo theo nhân vật, trong đó chúng tôi quan tâm đến một số tập truyện loài vật

1.1.2 Về tình hình nghiên cứu

1 Bảng chỉ dẫn về các kiểu truyện [203] chia truyện kể thành 5 cụm lớn trong đó

có cụm Truyện cổ tích động vật; trong phần này hai tác giả lại phân cấp và gọi tên các type truyện từ 1 – 69 là tiểu nhóm “con vật thông minh” (the clever animal) Trong Mục lục các motif của văn học dân gian [205], Thompson sắp xếp các motif thành 23 chương, trong đó chương K - Deceptions là tập hợp các motif nói về mánh lừa dối, mưu

mẹo,… Hai công trình này hướng đến mục đích “tra cứu” (index) nên chưa có cái nhìntoàn diện về kiểu truyện này

Trang 5

2 Bài Phân loại truyện kể về kẻ ranh mãnh ở châu Phi [209] bàn về việc phân loại; Còn bài viết Mưu mẹo: những nguyên tắc tra cứu [207] lại đưa ra những tiêu chí để

tra cứu các truyện kể về con vật tinh ranh Hướng tiếp cận này giúp người đọc dễ tra cứu(index) về hệ thống mưu mẹo trong truyện kể Khảo sát truyện kể châu Phi, Kốtlia chorằng truyện loài vật của châu lục này đã “hoàn toàn phát triển và định hình rõ rệt, vớiđặc điểm riêng của mình, với một cụm chủ đề, với các kiểu nhân vật chính” [94, tr 29]

3 Nôvicôva chú ý đến tính hai mặt của con vật tinh ranh Trước đó, khi nghiên

cứu về truyện cổ tích loài vật, Propp cho rằng trung tâm của truyện cổ tích loài vật “lànhững con vật khôn ngoan” và thường là “kẻ chiến thắng nhờ ưu thế vượt trội đó củamình” [210, tr 307]

4 Nói về con can - chi (mang, hươu, hoẵng) trong truyện kể Mã Lai – Inđônêxia,Đức Ninh cho rằng đó “là con vật nhỏ bé nhưng thông minh, lanh lợi, nhanh nhẹn Đây

là hình tượng nhân vật đại diện cho trí thông minh của nhân dân” [136, tr 92]

5 Nguyễn Tấn Đắc phát hiện ra ở kiểu truyện con vật tinh ranh đặc điểm “khôngcòn có yếu tố thần kỳ nào cả, mà chỉ có trí tuệ Trí tuệ dân gian đã bịa ra hay nói đúnghơn đã sáng tạo ra tình huống oái ăm, lắt léo, khó gỡ, những “tình huống câu đố”, rồi trítuệ dân gian lại tự mình gỡ giải những tình huống đó một cách bất ngờ, dễ dàng, gâyhứng thú đặc biệt cho người nghe” [44, tr 392]

6 Ở Việt Nam, Chu Xuân Diên – trong Từ điển văn học – bộ cũ đã khái quát về

truyện loài vật là “có sự kết hợp những điều quan sát hiện thực về các con vật với trítưởng tượng nhân cách hóa giới tự nhiên” [125, tr 453] Năm 1990, giáo trình của LêChí Quế và Hoàng Tiến Tựu đều xem truyện cổ tích loài vật là một tiểu loại Lê Chí Quếcho rằng kết cấu của kiểu truyện này là “sự chiến thắng của con vật bé hơn với con vậtlớn hơn không phải bằng sức lực mà bằng trí” [149, tr 117] Trong khi đó, Lê TrườngPhát cũng nhận thấy rằng “nhân vật con thỏ nổi tiếng tinh khôn, hiểu biết về nhiều lĩnhvực trong truyện của các dân tộc thiểu số, nhất là ở các dân tộc miền núi Trường sơn vàcác dân tộc Khơ me Nam Bộ, Chăm…” [140, tr 61] Năm 2002, Phạm Thu Yến cũng

cho rằng: việc nghiên cứu "đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thể loại này chưa được đầu tư đúng mức” [200, tr 84]

7 Trong bài Dẫn luận truyện cổ tích các dân tộc thiểu số Việt Nam – Nguyễn Thị

Yên đã có những nhận định mang tính tổng kết đầu tiên về tiểu loại này trong kho tàng

truyện cổ các dân tộc thiểu số Việt Nam Nhà nghiên cứu chú ý đến tính đối lập giữa con

vật thông minh và các đối thủ Còn Nguyễn Thị Huế khi giới thiệu về tiểu loại này đãcho rằng đây là kiểu truyện “không có nhân vật lý tưởng, không có kết thúc có hậu,không có công thức và mang tính chất hiện thực” [74, tr 33]

Trang 6

8 Năm 2005, trong công trình Kiểu truyện con thỏ tinh ranh trong truyện cổ Việt Nam [40], chúng tôi đã phác thảo chân dung về kiểu truyện ở Việt Nam Thỏ - nhân vật

chính của kiểu truyện, luôn chủ động đánh lừa, chơi khăm các nhân vật to lớn, có sứcmạnh hơn nó Phần thắng lợi trong những lần “chạm trán” thường thuộc về thỏ

9 Bên cạnh nội dung chính là các bản kể, một số tập truyện còn có các nhận

định, khái quát rất đáng quý qua các lời giới thiệu Có thể kể đến lời giới thiệu của Huỳnh Ngọc Trảng [174], của Y Thi [161], của Võ Quang Nhơn [164],…

10 Từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng thế

giới đã được chuyển dịch sang tiếng Việt, trong đó, phải kể đến các công trình như Thi pháp của huyền thoại, Tuyển tập V Ia Propp, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,…

Về phía các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước, bên cạnh các bộ giáo trìnhvăn học dân gian, thời gian này cũng xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu, nhiều

chuyên luận như: Truyện cổ tích người Việt – đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif, Văn học dân gian - mấy vấn đề phương pháp luận và thể loại,… Gần đây, các nhà nghiên cứu có xu hướng tìm hiểu, nghiên cứu theo hệ đề tài, kiểu truyện Một số công trình tiêu biểu như: Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á, Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam, Tóm lại, những công trình nghiên cứu đi trước đã giúp chúng tôi rất

nhiều trong quá trình thực hiện đề tài, cả ở những điều đã được giải quyết và những gì

mà các tác giả chưa đề cập đến, chưa làm thỏa mãn người đọc

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.2.1 Tinh ranh - tên gọi của kiểu truyện/kiểu nhân vật chính

Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu folklore đã có nhiều cách định danh khácnhau về kiểu nhân vật/kiểu truyện con vật tinh ranh A Aarne gọi tập hợp các type

truyện này là truyện con vật thông minh (the clever animal) [203] S Thompson gọi tập hợp các motif này là "deception" [205] với ý nghĩa là trò lừa dối, mưu mẹo gian dối,

mánh khóe lừa bịp Khái niệm này cũng được D Paulme sử dụng Kốtlia lại sử dụngkhái niệm “láu cá” A Dundes đưa ra hai khái niệm "trompeur" (kẻ lừa đảo) và

"trickster" (kẻ ranh mãnh) để so sánh nhân vật này trong truyện kể châu Phi và châu Mĩ

C Braymond gọi đây là kiểu truyện “mưu mẹo” (ruse) [207] Ở Việt Nam, các nhànghiên cứu đã đề xuất các khái niệm khác nhau như: thông minh [149, tr 117], tinhkhôn, láu lỉnh [47, tr 10],… Nhìn chung, các khái niệm “thông minh”, "tinh khôn" mang

ý nghĩa đề cao, ngợi khen; các khái niệm “trò lừa dối”, “mưu mẹo gian dối”, “mánhkhóe lừa bịp” hay “láu cá”, “ranh mãnh”, “lừa đảo”, “bịp bợm” lại mang ý nghĩa phêphán Do vậy, các khái niệm này chưa làm thỏa mãn những điều mà chúng tôi “ngộ”

Trang 7

được về kiểu nhân vật đang khảo sát Chúng tôi đề xuất sử dụng khái niệm tinh ranh vớinghĩa là “ranh mãnh và khôn ngoan” [157, tr 789] Khái niệm này diễn tả tương đối trọnvẹn tính “hai mặt” của nhân vật chính trong kiểu truyện.

1.2.2 Kết cấu và kết cấu truyện kể dân gian

Kết cấu bao gồm bố cục, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tácphẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện; nghệthuật trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện… sao cho tác phẩm trở thành một

chỉnh thể nghệ thuật Kết cấu truyện kể dân gian thường ở dạng đơn tuyến và có tính tuyến tính Cốt truyện của truyện kể dân gian thường thông qua các sự kiện và motif.

Các truyện dân gian có dung lượng ngắn, kết cấu truyện sáng rõ và hoàn chỉnh

1.2.3 Nhân vật và nhân vật truyện kể dân gian

Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất, là công cụ, phương tiện để tác giả thể hiện tư

tưởng, chủ đề của tác phẩm Các nhân vật trong truyện kể đều là nhân vật chức năng.

Nhân vật này có đặc điểm, phẩm chất cố định, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại vàhoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong việc phảnánh đời sống Nhân vật truyện kể dân gian tồn tại chủ yếu qua hành động, được nhận

diện qua hành động Kiểu nhân vật tinh ranh được hình thành trên cơ sở tư duy tiền duy

lý của con người đã phát triển đến một mức độ nhất định

1.2.5 Kiểu truyện

Aarne là người đầu tiên sử dụng khái niệm “type” Ở Việt Nam, trước đây, một

số nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ tương đương như “dạng truyện”, “dạngthức”, Sau này, các nhà nghiên cứu thống nhất sử dụng thuật ngữ type (típ truyện) –kiểu truyện khi nói đến nội dung này Theo Thompson "type là những cốt kể (narratives)

có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng Dù đơn giản hay phức tạp, truyệnnào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem là một type” [dẫn theo 42, tr.11]

1.2.6 Bảng tra cứu A – T

Trang 8

Từ thực tế nghiên cứu, Aarne đã nhận thấy việc tập hợp văn bản truyện kể gặpnhiều khó khăn Do vậy, cùng với sự giúp đỡ của một số đồng nghiệp, ông tiến hành sắp

xếp lại các tài liệu này Ban đầu, Bảng tra cứu A - T có tên là Verzeichnis der Marchentypen Nội dung bao gồm các truyện kể của Phần Lan và một phần của các

nước Bắc Âu Sau đó, Thompson đã sửa chữa và mở rộng, đưa vào nghiên cứu truyệndân gian các nước Nam châu Âu, Đông Nam châu Âu và Ấn Độ Chính vì có sự đónggóp chung như vậy nên người ta đã ghép tên của hai nhà bác học để đặt tên cho công

trình Từ năm 1961, công trình có tên là The Types of the Folktale (A Classification and Bibliography) – dịch: Các type truyện dân gian – phân loại và thư mục Ngày nay, Bảng tra cứu đã trở một tài liệu có tính công cụ đối với giới nghiên cứu văn hóa dân gian –

cách riêng là giới nghiên cứu văn học dân gian

1.3 SỰ PHÂN BỐ, PHÂN LOẠI KIỂU TRUYỆN

1.3.1 Sự phân bố

Tuy mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng kiểu truyện này có mặt ở hầu khắp cácchâu lục, đất nước, dân tộc, ở nhiều địa phương khác nhau trong cũng như ngoài nước.Các khu vực xuất hiện nhiều truyện kể của kiểu truyện là Châu Phi, Nga và các nướcĐông Âu, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á Thống kê truyện kể theo từng châu lục theo tỷ

lệ tăng dần, chúng ta có trình tự sau:

- Châu Úc và châu Đại Dương có 10 truyện kể, chiếm 2%

- Châu Mỹ có 19 truyện kể, chiếm 4%;

- Châu Phi có 73 truyện kể, chiếm 14%;

- Châu Âu có 77 truyện kể, chiếm 15%;

- Châu Á xuất hiện nhiều truyện kể nhất: 333 truyện kể, chiếm 65%

Ở Việt Nam, chúng tôi tập hợp được 144 truyện (chiếm 43% của châu Á và 28%thế giới), tập trung nhiều ở các dân tộc Khơ me, Mạ, Ê Đê, Cơ Ho, Chăm,… Sự phân bốnày chứng tỏ truyện kể về kiểu truyện con vật tinh ranh rất phổ biến Mỗi truyện củatừng dân tộc, quốc gia đều chứa đựng nội dung phong phú và đều có dáng vẻ riêng, songchúng cũng có những nét tương đồng trong cách kết cấu, trong sự lặp đi lặp lại hoặc sựphái sinh của các tình tiết Do vậy, chúng tôi thực sự có thể tiến hành nghiên cứu nhữngtruyện kể này với tư cách là một tập hợp những cốt truyện của một đề tài độc lập

1.3.2 Sự phân loại

Vận dụng lý thuyết của trường phái Lịch sử - Địa lý, Aarne đã phân loại truyệndân gian theo type và motif Cách phân loại này rất tiện lợi cho việc lập các bảng tracứu, là cơ sở để đối chiếu truyện kể các nước với nhau Propp thì cho rằng truyện cổ tích

về loài vật có hai dạng: “Dạng thứ nhất là những truyện được coi là hoàn chỉnh, đầy đủ

Trang 9

các yếu tố như “thắt nút, cao trào, mở nút” và nhóm còn lại là các truyện tồn tại “nhưmột quy luật, không bao giờ trùng lặp với bất kỳ cốt truyện nào khác, tồn tại như một tácphẩm riêng biệt, có nghĩa là trở thành một type độc lập trong thể loại truyện cổ tích về

loài vật” [210, tr 310] Paulme mã hóa, đặt A là thành công cao trào và D là thất bại thoái trào hoàn toàn và dấu cộng (+) là mưu mẹo thành công, dấu trừ (-) là mưu mẹo thất bại, dấu (0) là không có mưu mẹo rồi phân chia các truyện kể thành sáu loại khả

-năng cho sườn chính của một câu chuyện về kẻ bịp bợm:

A+ Mưu mẹo của kẻ bịp thành công; A- Mưu mẹo đối phương thất bại

D+ Mựu mẹo đối phương thành công; D- Mưu mẹo kẻ bịp thất bại

Ao Thành công mà không có mưu mẹo; Do Thất bại mà không có mưu mẹoMột truyện đơn giản nhất là sự kết hợp của hai tình tiết, hai mã hóa trên Về lýthuyết, có 36 khả năng diễn ra nhưng thực tế có nhiều loại không bao giờ xuất hiện nhưdạng mã hóa: Do Do hay D- D-

Tiếp thu các luận điểm của Nôvicôva, Lê Trường Phát “phân lập nội dung thànhnhững môtíp, tức thành những chi tiết mang ý nghĩa chủ đề” [140, tr 64] và “lập sơ đồkết cấu cốt truyện bằng cách căn cứ vào những tình tiết hợp thành truyện” [sđd, tr 65]

Ở kiểu phân loại thứ 2, theo ông có những hình thức kết cấu như: kết cấu đơn tiết, kếtcấu đa tình tiết và hình thức kết cấu xâu chuỗi Cách phân loại này cũng được Phạm ThuYến tiếp thu [200, tr 87 - 88]

Trước đây, dựa vào đặc trưng của mưu mẹo, chúng tôi cũng đã phân loại kiểutruyện con vật tinh ranh thành nhóm truyện trợ thủ và nhóm truyện chơi khăm

Bài viết Mưu mẹo: những nguyên tắc tra cứu [207] của Braymond ít nhiều chịu

ảnh hưởng cách phân loại của Paulme Braymond phân loại dựa vào mục đích mà cáibẫy (mưu mẹo) hướng đến, theo đó, mưu mẹo có hai mục tiêu chính: lừa để mà lừa(hoặc vì một mục tiêu không xác định) và lừa để đạt các mục tiêu như cải thiện số phậncủa mình (hay người cùng phe) hoặc để tự bảo vệ mình (hay người cùng phe)

Chúng tôi cho rằng khi phân loại phải bám vào đặc điểm nổi trội của kiểu truyện

là các mưu mẹo Nhưng mưu kế này được con vật tinh ranh dùng cho nhiều kiểu nhân vật với nhiều mục đích khác nhau; và ứng với từng mục đích của mưu mẹo thì đặc điểm

nhân vật, các chủ đề, motif cũng có nhiều thay đổi Xét về một khía cạnh khác, chúng ta

thấy, các mưu mẹo vừa hướng đến chủ thể - con vật tinh ranh, vừa hướng cả về khách thể - đối thủ và các nhân vật khác Mưu kế hướng về chủ thể thể hiện trong hành động

tự vệ cũng như trong việc đánh lừa đối thủ để thủ lợi cho bản thân Mưu kế hướng về khách thể cũng chia thành hai nhóm: một nhóm đứng ra bảo vệ cho nhân vật nạn nhân

Trang 10

(trợ thủ); nhóm còn lại nhằm mục đích chơi khăm đối thủ - các con vật khác Tựu trung, mưu mẹo hướng đến bốn mục đích là: tự vệ, thủ lợi, chơi khăm và trợ thủ

Tự vệ Chủ thể

Thủ lợi

Mưu kế

Chơi khăm Khách thể

Trợ thủ

Về số lượng nhân vật, ở nhóm truyện tự vệ, nhóm truyện thủ lợi và nhóm truyện chơi khăm thường có nhân vật tinh ranh và nhân vật đối thủ tham gia vao diễn tiến truyện Trong nhóm truyện trợ thủ, ngoài hai nhân vật trên, có thêm nhân vật nạn nhân.

Trong truyện dân gian châu Phi còn có nhân vật trợ thủ tư tế Như vậy, kiểu truyện nàygồm có nhân vật tinh ranh, nhân vật đối thủ, nhân vật nạn nhân và nhân vật trợ thủ tư tế

Chúng tôi xem các đặc điểm trên như là những tiêu chí để phân loại kiểu truyện con vật tinh ranh thành bốn nhóm chính:

- Nhóm truyện tự vệ: có 168 truyện, chiếm 33%

- Nhóm truyện thủ lợi: có149 truyện, chiếm 29 %

- Nhóm truyện chơi khăm: có 77 truyện, chiếm 15 %

- Nhóm truyện trợ thủ: có 118 truyện, chiếm 23%

Tiểu kết

Kiểu truyện con vật tinh ranh là kiểu truyện mà tính duy lý chiếm ưu thế, nó chi

phối quá trình hình thành cốt truyện, xây dựng nhân vật Nhân vật chính thường sử dụngcác mưu kế để đánh lừa, chơi khăm hoặc giúp đỡ các nhân vật khác Tuy được biết đếnkhá sớm (1865), tình hình sưu tầm, biên dịch cũng nhiều, nhưng đến nay kiểu truyện nàyvẫn chưa được nghiên cứu một cách thấu đáo Từ 103 tập truyện, tuyển tập truyện,chúng tôi tập hợp được 512 truyện kể Kiểu truyện này xuất hiện ở hầu khắp các châulục, dân tộc, đất nước,… trong đó xuất hiện nhiều nhất là các khu vực như châu Phi, Nga

và các nước Đông Âu, khu vực Đông Nam Á,… Căn cứ vào các mưu mẹo, mục đích

mưu mẹo, số nhân vật tham gia vào diễn tiến truyện, các motif, chủ đề,… các truyện kể

được chia thành bốn nhóm: nhóm tự vệ, nhóm thủ lợi, nhóm chơi khăm và nhóm trợ thủ.

Trang 11

Liên quan và để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi lần lượt giới thiệu một số

khái niệm như tinh ranh, kết cấu, nhân vật, motif, kiểu truyện, Bảng tra cứu A - T…

Trang 12

CHƯƠNG 2 KẾT CẤU CỦA KIỂU TRUYỆN CON VẬT TINH RANH

2.1 VỀ TÊN GỌI CỦA TRUYỆN

Tên gọi của truyện tuân thủ hai yêu cầu tối thiểu của việc đặt tên là ít trùng lặp (để phân biệt truyện này với truyện khác và để khỏi lẫn lộn) và phải có quan hệ với chủ

đề của kiểu truyện ở một phạm vi, mức độ nhất định.

2.1.1 Cách gọi tên theo mối quan hệ của các nhân vật: Tên truyện là tên gọi

mối quan hệ của nhân vật chính với các nhân vật khác trong truyện Công thức của cáchgọi tên này như sau:

2.1.2 Cách gọi tên theo công việc mà nhân vật tinh ranh thực hiện: Tên

truyện là tên sự việc chủ yếu mà con vật tinh ranh thực hiện Công thức khái quát của

cách gọi tên này là:

2.1.3 Cách gọi tên theo tính cách của nhân vật: Tên truyện là tên nhân vật

chính cộng với tính từ chỉ tính cách, phẩm chất của nhân vật Công thức của dạng gọitên này là:

2.1.4 Cách gọi tên theo kiểu giải thích nguyên nhân: Tên truyện là những câu

hỏi về một đặc điểm nào đó của con vật tinh ranh hoặc các con vật khác

2.1.5 Cách gọi tên theo tên nhân vật tinh ranh: Tên truyện gồm một cấu tố

cấu thành, đó là tên của con vật tinh ranh hoặc tên loài của con vật tinh ranh

2.2 CÁCH MỞ ĐẦU TRUYỆN

Phổ biến nhất là mở đầu bằng cụm từ ngày xửa ngày xưa Cách mở đầu này mở

ra “trường cổ tích”, mời gọi người nghe nhập cuộc để cùng tưởng tượng, sáng tạo

Truyện của châu Mỹ, CU&CĐD thời gian nghệ thuật còn được đẩy lùi đến cái “thuở ban đầu” hay “khi tạo lập ra trái đất” Cách mở đầu này mang âm hưởng thần thoại, là dấu vết cho thấy sự giao thoa thể loại Truyện dân gian châu Phi có cách mở đầu bằng thông báo về nạn đói Không gian truyện là khu rừng, cánh đồng Liền sau phần trên,

dân gian trực tiếp dẫn vào truyện, giới thiệu trực tiếp tính hình, đặc điểm của nhân vật

Tên nhân vật chính + Tên công việc (+ Tên nhân vật bị chơi khăm/được giúp đỡ) Tên nhân vật chính + “và” + Tên các nhân vật khác

Tên nhân vật chính + Tính từ chỉ tính cách của nhân vật

Trang 13

2.3 KẾT CẤU CỦA CÁC NHÓM TRUYỆN

2.3.1 Kết cấu nhóm truyện tự vệ

Nhân vật tinh ranh phải đối mặt với những thử thách, do vậy nó dùng mưu trí để

tự vệ Sơ đồ nhóm truyện tự vệ như sau: Bị đe dọa bởi nhân vật đối thủ/gặp tai họa  Nhân vật tinh ranh dùng mưu kế để tự vệ.

2.3.2 Kết cấu của nhóm truyện thủ lợi

2.3.2.1 Dạng xác định chủ sở hữu Có miếng mồi/quyền lợi nhưng chưa xác

định, chưa có chủ nhân Nhân vật tinh ranh dùng mưu mẹo để giành quyền sở hữu Sơ

đồ kết cấu như sau: Miếng mồi/quyền lợi chưa xác định chủ sở hữu  Nhân vật tinh ranh và nhân vật đối thủ cạnh tranh miếng mồi/quyền lợi  Nhân vật tinh ranh giành được bằng mưu mẹo.

2.3.2.2 Dạng giành giật quyền sở hữu Miếng ăn/quyền lợi thuộc sở hữu của

đối thủ hoặc sở hữu chung Nhân vật tinh ranh dùng mưu kế để giành miếng ăn/quyền

lợi Sơ đồ kết cấu như sau: Miếng mồi/quyền lợi thuộc sở hữu chung/sở hữu của đối thủ  Nhân vật tinh ranh dùng mưu mẹo và cướp được miếng mồi/giành được quyền lợi.

2.3.2.3 Dạng hợp tác… bất công Nhân vật tinh ranh và đối thủ hợp tác sản

xuất Nhân vật tinh ranh khéo léo gợi ý cho đối thủ chọn phần không ăn được Nó giành

được phần có lợi Kết cấu như sau: Nhân vật tinh ranh và đối thủ thỏa thuận hợp tác sản xuất  Cùng nhau canh tác  Phân chia hoa lợi: Nhân vật tinh ranh hưởng lợi; Nhân vật đối thủ thất bại.

2.3.2.4 Dạng tái lập quyền sở hữu Nhân vật tinh ranh đang sở hữu miếng

ăn/quyền lợi nhưng bị nhân vật đối thủ cướp mất  Nhân vật tinh ranh dùng mưu

kế để giành lại quyền sở hữu

2.3.3 Kết cấu của nhóm truyện chơi khăm

2.3.3.1 Dạng chơi khăm đơn giản là: Nhân vật tinh ranh xuất hiện và dùng

mưu kế để chơi khăm đối thủ

2.3.3.2 Dạng chơi khăm bằng sự lôi cuốn Nhân vật tinh ranh đưa “miếng mồi”

làm cho nhân vật đối thủ thèm muốn được sở hữu Khi nhân vật đối thủ sử dụng thì cũng

đồng nghĩa với việc nó bị chơi khăm Sơ đồ kết cấu như sau: Nhân vật tinh ranh đưa miếng mồi  Nhân vật đối thủ ước ao được sở hữu/sử dụng  Nhân vật đối thủ bị chơi khăm

2.3.3.3 Dạng “kẻ thứ ba bị lừa” có hai nhân vật đối thủ cùng tham gia vào diễn

tiến truyện Để chơi khăm đối thủ, nhân vật tinh ranh phải lừa thêm “kẻ thứ ba”; và vô

tình “kẻ thứ ba” giúp nhân vật tinh ranh đạt được mục đích Kết cấu như sau: Nhân vật

Ngày đăng: 04/10/2014, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w